KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ GIẢM TẢI RỦI RO HOẠT ĐỘNGTRONG KINH DOANH TÀI CHÍNH TIỀN TỆ Rủi ro hoạt động, còn được gọi là rủi ro tác nghiệp hay rủi ro vận hành, là loại rủi ro có mặt trong hầ
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết
Xu hướng tự do hoá, toàn cầu hóa kinh tế và quốc tế hoá các luồng tài chính đã làm thay đổi căn bản hệ thống các trung gian tài chính tại Việt Nam Với sự phát triển đa dạng của các công cụ tài chính đã giúp các tổ chức trung gian tài chính dễ dàng tiếp cận hơn với các nguồn tài chính và các tổ chức này cũng có nhiều cơ hội hơn trong việc đưa ra các sản phẩm mới Hoạt động kinh doanh tài chính, tiền tệ trở nên phức tạp hơn và mức
độ rủi ro cũng tăng lên nhiều hơn
Khi nhắc đến các khía cạnh rủi ro trong hoạt động kinh doanh tài chính, tiền tệ tại Việt Nam các nhà quản lý hay các học giả thường đề cập nhiều đến khía cạnh về rủi ro tín dụng, khía cạnh rủi ro thanh khoản hay khía cạnh rủi ro thị trường mà thường ít đề cập đến khía cạnh về rủi ro hoạt động Chỉ đến khi liên tục xuất hiện những vụ việc liên quan đến tác nghiệp trong những năm gần đây mà hậu quả là làm một số tổ chức trung gian tài chính lớn tại Việt Nam thua lỗ, thất thoát nhiều tỷ đồng thì khía cạnh rủi ro hoạt động bắt đầu được nhìn nhận và quan tâm dưới một góc độ mới
Trên thế giới, những vụ rủi ro hoạt động trong kinh doanh tài chính tiền tệ đã trở thành những bài học xương máu cho các tổ chức trung gian tài
chính Những ví dụ điển hình có thể kể đến như: Vụ Ngân hàng Barings vào giữa thập kỷ 90 chỉ trong 7 ngày bay hơi 1tỷ USD, tương đương tích lũy trong suốt 250 năm thành lập, do những quyết định sai lầm của Nicolas Leeson – phụ trách chi nhánh Barings tại Sigapore- đặt cược quá cao vào chỉ số chứng khoán Nikkei của Nhật Bản; Vụ Ngân hàng Liên minh Ailen (AIB) với hơn 1000 chi nhánh và văn phòng đại diện hoạt động toàn cầu, với tổng tài sản 76,6 tỷ USD vào thời điểm năm 2000, đã mất 691
Trang 2triệu USD dưới tay một nhân viên bộ phận Treasury – Rusnak – kẻ đã nhiều lần vượt hạn mức kinh doanh ngoại hối trong suốt 4 năm từ 1997 đến 2001 Vụ Nhà băng lớn thứ hai của Pháp Societe Generale thất thoát 4,9 tỷ euro (7,15 tỷ USD) do Jerome Kerviel là nhân viên môi giới đã làm lạc hướng các nhà đầu tư trong suốt năm 2007, làm giả mạo tài liệu và xâm nhập hệ thống máy tính bất hợp pháp để thực hiện lại các giao dịch tương lai vốn đã bị hủy bỏ Đây được coi là một trong những vụ thất thoát
đầu tư lớn nhất trong lịch sử ngành ngân hàng
Vậy rủi ro hoạt động trong kinh doanh tài chính tiền tệ là gì mà lại ghê gớm như vậy?
Rủi ro hoạt động không phải là loại rủi ro mới, nó tồn tại song hành cùng sự ra đời của các trung gian tài chính Theo nghiên cứu của Ủy ban Basel thì các rủi ro hoạt động trong kinh doanh tài chính tiền tệ đã làm các
tổ chức trung gian tài chính mất đi từ 5%-10% lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh
Các tổ chức trung gian tài chính tại Việt Nam hiện nay đang không ngừng nỗ lực nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng, tăng cường mở rộng dịch vụ kinh doanh,…nỗ lực hướng tới việc tăng tỷ trọng từ các hoạt động dịch vụ Điều này đồng nghĩa với việc các tổ chức trung gian tài chính tại Việt Nam càng đối mặt nhiều hơn với các hiểm họa từ rủi ro hoạt động Vì vậy, việc phát hiện sớm và ngăn chặn kịp thời rủi ro hoạt động đang là một trong những vấn đề mà các tổ chức trung gian tài chính Việt Nam đặc biệt quan tâm
Xuất phát từ những vấn đề vấn đề trên tác giả đã chọn chuyên đề
“KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ GIẢM TẢI RỦI RO HOẠT ĐỘNG TRONG KINH DOANH TÀI CHÍNH TIỀN TỆ” không ngoài mục đích
Trang 3tìm hiểu những kinh nghiệm quốc tế về giảm tải rủi ro họat động trong kinh doanh tài chính tiền tệ nhằm làm kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc giảm thiểu rủi ro hoạt động trong kinh doanh tài chính tiền tệ tại Việt Nam
2 Mục tiêu nghiên cứu của Chuyên đề
Kinh nghiệm quốc tế về giảm tải rủi ro họat động trong kinh doanh tài chính tiền tệ nhằm làm kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc giảm thiểu rủi ro hoạt động trong kinh doanh tài chính tiền tệ tại Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi
Đối tượng nghiên cứu: Các tổ chức trung gian tài chính quốc tế
Phạm vi nghiên cứu: Kinh nghiệm quốc tế về giảm tải rủi ro họat động trong kinh doanh tài chính tiền tệ nhằm làm kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc giảm thiểu rủi ro hoạt động trong kinh doanh tài chính tiền
tệ tại Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện chuyên đề, những phương pháp sau sẽ được sử dụng:
Phương pháp tổng hợp
Phương pháp thống kê
Phương pháp duy vật biện chứng
Phương pháp so sánh
5 Kết cấu của chuyên đề
Trang 4 Nội dung chuyên đề
Tài liệu tham khảo
Trang 5KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ GIẢM TẢI RỦI RO HOẠT ĐỘNG
TRONG KINH DOANH TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
Rủi ro hoạt động, còn được gọi là rủi ro tác nghiệp hay rủi ro vận hành, là loại rủi ro có mặt trong hầu hết các hoạt động của ngân hàng nhưng lại khó lường nhất Trong những năm qua, các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam và trên thế giới đã phải gánh chịu những tổn thất không nhỏ do rủi ro hoạt động, ảnh hưởng rất lớn đến
uy tín và tài sản của NHTM
Trong bối cảnh cạnh tranh, hội nhập; công nghệ ứng dụng trong ngân hàng ngày càng hiện đại và đặc biệt trong giai đoạn khủng hoảng tài chính hiện nay, ngành ngân hàng cần phải cải cách mạnh mẽ để tăng cường quản trị rủi ro hoạt động Ủy ban Basel đã đưa vấn đề rủi ro hoạt động vào nội dung sửa đổi Basel II Hiện nay, nhiều ngân hàng trên thế giới đã áp dụng các biện pháp hiện đại để quản trị rủi ro hoạt động Các biện pháp này có thể áp dụng cho các NHTM Việt Nam Đó là ý tưởng chủ đạo của bài viết
này.
RỦI RO HOẠT ĐỘNG: CÁC THÀNH PHẦN VÀ KHUNG QUẢN TRỊ
Rủi ro hoạt động (RRHĐ) luôn hiện hữu hầu như trong tất cả các giao dịch và hoạt động của NHTM Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng, “rủi ro hoạt động là rủi ro gây ra tổn thất do các nguyên nhân như con người, sự không đầy đủ hoặc vận hành không tốt các quy trình, hệ thống; các sự kiện khách quan bên ngoài RRHĐ bao gồm cả rủi ro pháp lý nhưng loại trừ về rủi ro chiến lược và rủi ro uy tín”.(2) Rất nhiều vụ RRHĐ nổi tiếng xảy ra gần đây trên thế giới và ở Việt Nam như vụ rủi ro tại Ngân hàng Societe Generale của Pháp năm 2008 làm thiệt hại 4,9 tỷ EUR Hoặc
vụ việc nhân viên điểm giao dịch của một NHTM nhà nước giả mạo chữ ký khách hàng “thụt két” tới 24 tỷ đồng Tổ trưởng tổ kế toán một điểm giao dịch một NHTM cổ phần biển thủ 7 tỷ đồng cá độ bóng đá Cán bộ kho quỹ một NHTM cổ phần rút ruột 1,28 tỷ đồng và 8 nghìn USD trái phiếu là tài sản cầm cố của khách hàng để chơi chứng khoán Thanh toán viên chọn nhầm loại tiền từ VND thành AUD Khách hàng chuyển 4 triệu VND bị hạch toán thành 4 triệu AUD (tương đương 48,5 tỷ VND) (3)
Ủy ban Basel đã nhấn mạnh trong Basel II về vấn đề RRHĐ và quản trị RRHĐ của các NHTM bên cạnh hai loại rủi ro truyền thống là rủi ro tín dụng và rủi ro thị trường (4 Nguyên nhân có thể gây ra RRHĐ như con
Trang 6người (nhân viên gian lận, cố ý làm sai, NHTM mất hoặc thiếu nhân lực chủ chốt); quy trình (văn bản hợp đồng không đầy đủ, thiếu hướng dẫn; việc tuân thủ nội bộ và bên ngoài kém; sản phẩm quá phức tạp hoặc tư vấn tồi), hệ thống (đầu tư công nghệ không phù hợp, lỗi tích hợp từ vận hành hệ thống, lỗ hổng an ninh hệ thống) Và các yếu tố bên ngoài (các hành vi tội phạm, việc sử dụng nguồn lực bên ngoài không hợp lý, thảm họa, cơ sở hạ tầng chung kém) RRHĐ có thể mang lại những tổn thất rất lớn cho NHTM như: các trách nhiệm pháp lý gây ra cho NHTM, tài sản hoặc uy tín của NHTM bị tổn thất hay mất mát, giảm vốn kinh doanh hay mất vốn, giảm lợi nhuận …
RRHĐ được thể hiện thông qua việc: gian lận nội bộ, gian lận từ bên ngoài, thiệt hại về tài sản, lỗi hệ thống… Vì vậy, từ các nguyên nhân và ảnh hưởng của RRHĐ, NHTM phải thiết lập kế hoạch ngăn ngừa, giảm thiểu RRHĐ Các sự kiện RRHĐ cần được phân tích kỹ lưỡng nguyên nhân
và ảnh hưởng, cũng như các tổn thất và đưa vào cơ sở dữ liệu của NHTM làm cơ sở cho việc quản trị RRHĐ trong tương lai
Hình 1 Mối quan hệ giữa các thành phần của rủi ro hoạt động
Nguồn: Basel Committee on Banking Supervision (2001)
Quản trị RRHĐ trong những năm gần đây đã trở thành một hoạt động quan trọng đối với các NHTM Mức độ hiện đại hóa đòi hỏi các NHTM phải dựa vào công nghệ tự động ngày càng phức tạp; phát triển đa dạng hơn các sản phẩm; xu hướng toàn cầu hóa, cạnh tranh, mở rộng quy
mô, tham gia vào hoạt động mua lại, sáp nhập, hợp nhất Quản trị rủi ro
Trang 7hoạt động là quá trình tổ chức tín dụng tiến hành các hoạt động tác động đến rủi ro hoạt động, bao gồm việc thiết lập cơ cấu tổ chức, xây dựng hệ thống các chính sách, phương pháp quản lý rủi ro hoạt động để thực hiện quá trình quản lý rủi ro đó là xác định, đo lường, đánh giá, quản lý, giám sát và kiểm tra kiểm soát rủi ro hoạt động nhằm bảo đảm hạn chế tới mức thấp nhất rủi ro xảy ra.(5) Quản trị RRHĐ hiệu quả nghĩa là rủi ro xảy ra trong mức độ dự đoán trước và NHTM có thể kiểm soát được
Nhiều ngân hàng trên thế giới đang thực hiện quản trị RRHĐ bằng cách sử dụng khung quản trị rủi ro theo gợi ý của Ủy ban Basel II như sau (hình 2)
Hình 2: Khung quản trị rủi ro hoạt động cơ bản
Nguồn: KPMG International 2007 6
Thành phần chủ chốt của khung quản trị RRHĐ là một tập hợp các tiêu chuẩn RRHĐ cốt lõi cung cấp hướng dẫn về cơ sở kiểm soát và đảm bảo môi trường hoạt động Các khung được bổ sung với các công cụ khác nhau nhưng đều có các thành phần chính: xác định chiến lược rủi ro (CLRR), xây dựng cấu trúc quản trị, phân định luồng báo cáo, kiểm soát tự đánh giá, quản lý sự kiện rủi ro, các chỉ số đo lường rủi ro chính (KRIs) và chương trình giảm thiểu rủi ro
Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng cũng đã tổng kết 4 vấn đề chính bao hàm 10 nguyên tắc vàng trong quản trị RRHĐ và khuyến nghị các ngân hàng cần thực hiện như sau:
Vấn đề thứ nhất: Tạo ra môi trường quản trị rủi ro phù hợp, gồm 3 nguyên tắc:
Trang 8- Nguyên tắc 1: Hội đồng quản trị nên được biết rõ các khía cạnh chính của ngân hàng RRHĐ là loại rủi ro cần được quản lý, đánh giá xem xét định kỳ dựa trên khung quản lý RRHĐ Khung này cần phải cung cấp một định nghĩa tổng thể cho toàn ngân hàng về RRHĐ, cũng như các nguyên tắc, cách xác định, đánh giá, giám sát, kiểm soát và giảm thiểu rủi ro
- Nguyên tắc 2: Hội đồng quản trị phải bảo đảm rằng khung quản trị RRHĐ của ngân hàng là tùy thuộc vào hiệu quả và toàn diện của kiểm toán nội bộ bởi nhân viên thành thạo, được đào tạo và hoạt động độc lập Kiểm toán nội bộ không nên trực tiếp chịu trách nhiệm về quản lý RRHĐ
- Nguyên tắc 3: Quản lý cấp cao phải có trách nhiệm triển khai thực hiện các khung quản lý RRHĐ được phê duyệt của Hội đồng quản trị Khung phải được triển khai thực hiện nhất quán trong toàn bộ hệ thống ngân hàng
và tất cả các nhân viên nên hiểu rõ trách nhiệm của mình với việc quản lý RRHĐ Lãnh đạo cấp cao cũng nên chịu trách nhiệm về việc phát triển các chính sách, quy trình và thủ tục để quản lý RRHĐ trong tất cả các sản phẩm, các hoạt động, quy trình và hệ thống ngân hàng
Vấn đề thứ hai: Quản trị rủi ro: xác định, đánh giá, giám sát, kiểm soát, gồm 4 nguyên tắc:
- Nguyên tắc 4: Các ngân hàng cần xác định và đánh giá RRHĐ trong tất cả các rủi ro hiện có trong tất cả sản phẩm, hoạt động, quy trình và hệ thống của ngân hàng Cần phải tuân thủ đầy đủ các thủ tục thẩm định trước khi giới thiệu sản phẩm mới, thực hiện các hoạt động, quy trình và hệ thống
- Nguyên tắc 5: Các ngân hàng nên thực hiện một quy trình để thường xuyên giám sát mức độ ảnh hưởng và tổn thất do RRHĐ gây ra Cần có báo cáo thường xuyên cho lãnh đạo cấp cao và Hội đồng quản trị để hỗ trợ chủ động quản lý RRHĐ
- Nguyên tắc 6: Các ngân hàng nên có chính sách, quy trình và thủ tục để kiểm soát và đưa ra chương trình giảm thiểu rủi ro Các ngân hàng nên xem xét lại theo định kỳ các ngưỡng rủi ro và chiến lược kiểm soát và nên điều chỉnh hồ sơ RRHĐ cho phù hợp bằng cách sử dụng các chiến lược thích hợp với rủi ro tổng thể và rủi ro đặc trưng
- Nguyên tắc 7: Ngân hàng cần phải có kế hoạch duy trì kinh doanh đảm bảo khả năng hoạt động liên tục, hạn chế tổn thất trong trường hợp rủi ro xảy ra bất ngờ
Vấn đề thứ ba: Vai trò của cơ quan giám sát, được thực hiện thông qua hai nguyên tắc:
Trang 9- Nguyên tắc 8: Cơ quan giám sát ngân hàng nên yêu cầu tất cả các ngân hàng phải có một khung quản trị RRHĐ hiệu quả để xác định, đánh giá, giám sát và kiểm soát/giảm thiểu RRHĐ như là một phần của phương pháp tiếp cận tổng thể để quản lý rủi ro
- Nguyên tắc 9: Cơ quan giám sát phải chỉ đạo trực tiếp hoặc gián tiếp thường xuyên, độc lập đánh giá chính sách, thủ tục và thực tiễn liên quan đến những RRHĐ của ngân hàng Người giám sát phải đảm bảo rằng có những cơ chế thích hợp cho phép họ biết được sự phát triển của ngân hàng
Vấn đề thứ tư: Vai trò của việc công bố thông tin, gồm một nguyên tắc:
- Nguyên tắc 10: Các ngân hàng cần phải thực hiện công bố đầy đủ và kịp thời thông tin để cho phép những người tham gia thị trường đánh giá cách tiếp cận của họ để quản lý RRHĐ
Nếu thực hiện đúng và đủ các nguyên tắc trên, phù hợp với điều kiện thực
tế của ngân hàng, công tác quản trị RRHĐ của ngân hàng sẽ đi theo chuẩn mực và thực hiện được mục tiêu mà ngân hàng dự kiến.(7)
Trên đây là khung cơ sở và các nguyên tắc quản trị RRHĐ, tùy vào khả năng và mức độ vận dụng, các NHTM có thể phát triển thành các mô hình khác nhau về quy mô và mức độ phức tạp cũng như thời gian thực hiện Điều này được thể hiện trong kinh nghiệm của một số NHTM trên thế giới
KINH NGHIỆM QUẢN TRỊ RỦI RO HOẠT ĐỘNG CỦA MỘT
SỐ NHTM TRÊN THẾ GIỚI
Rất nhiều ngân hàng trên thế giới đã áp dụng các biện pháp quản trị RRHĐ ngay sau khi Basel II có hiệu lực Nhiều ngân hàng ở Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản, Australia đã áp dụng cách tiếp cận đo lường hiện đại AMA (Advanced Measurement Approach) Kết quả nghiên cứu do Ủy ban Basel thực hiện đối với 121 ngân hàng tại 17 quốc gia cho đến hết năm 2008 đã kết luận rằng vốn RRHĐ của các ngân hàng sử dụng AMA thấp hơn các ngân hàng không sử dụng AMA (10,8% so với 12-18%).(8)
Hơn 50% ngân hàng Tây Ban Nha đã thực hiện đổi mới hoạt động và tổ chức nhằm mục tiêu quản trị RRHĐ như: thành lập một bộ phận riêng biệt chuyên về RRHĐ, đổi mới hệ thống báo cáo và áp dụng công nghệ hiện đại.(9)
Một số ngân hàng sử dụng tối đa nguồn lực từ bên ngoài để quản trị RRHĐ, như ING Group thuê IBM để quản trị RRHĐ, Citibank sử dụng phần mềm CLS (continuous linked settlement) Citibank thực hiện quản trị
Trang 10RRHĐ theo các tiêu chuẩn và chính sách rủi ro và kiểm soát trên cơ sở tự đánh giá rủi ro Hoạt động của các phòng ban, đơn vị kinh doanh được xác định, đánh giá thường xuyên; từ đó các quyết định điều chỉnh và sửa đổi hoạt động để giảm thiểu RRHĐ được đưa ra Các hoạt động này được tài liệu hóa và công bố trong ngân hàng Các chỉ số đo lường rủi ro chính được xác định kỹ lưỡng và cụ thể – và đấy là điều kiện để Citibank thực hiện quản trị RRHĐ.(10)
Khung quản trị RRHĐ cũng được vận dụng một cách linh hoạt cho phù hợp với điều kiện của từng quốc gia, từng ngân hàng Ngân hàng DBS (Singapore) đã cụ thể hóa khung quản trị trên như sau:
Các RRHĐ được phân tích trên hai giác độ: tần suất xuất hiện và mức độ tác động Từ đó, DBS xác định cách thức tổ chức và xây dựng các chương trình giảm thiểu các mức RRHĐ như: kiểm soát nội bộ, bảo hiểm quốc tế Tại DBS, các công cụ và kĩ thuật quản trị RRHĐ được sử dụng như kiểm soát tự đánh giá, quản lý sự kiện, phân tích rủi ro và báo cáo
BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
Thông qua các nguyên tắc của Ủy ban Basel II, và thực tiễn thành công cũng như thất bại của nhiều ngân hàng trên thế giới về quản trị RRHĐ, bài học kinh nghiệm cho các NHTM Việt Nam nhằm tăng cường quản trị RRHĐ được tổng kết lại như sau:
Thứ nhất, áp dụng triệt để 4 vấn đề chính với mười nguyên tắc vàng
về quản trị RRHĐ theo ủy ban Basel (như đã đề cập ở phần đầu bài viết).
Để thực hiện 10 nguyên tắc này, cả NHTM và Ngân hàng Nhà nước đều phải vào cuộc Ngân hàng Nhà nước cần đảm bảo nguyên tắc 8-9 và giám sát nguyên tắc 10
Đối với NHTM, tất cả các cấp từ hội đồng quản trị, ban tổng giám đốc, và tất cả các nhân viên đều phải nhận thức được tầm quan trọng của RRHĐ Hội đồng quản trị phải thuê tư vấn xây dựng khung quản trị RRHĐ phù hợp cho ngân hàng của mình và môi trường kinh doanh Trong đó, hai vấn đề chủ chốt cần được đầu tư là: Xây dựng và hoàn thiện chiến lược cho quản trị RRHĐ, và hoàn thiện cấu trúc quản trị RRHĐ, đặc biệt là cấu trúc
tổ chức Chiến lược quản trị RRHĐ thường bao gồm các vấn đề sau đây: (i) xác định RRHĐ và nhận biết các nguyên nhân gây RRHĐ, (ii) mô tả hồ sơ rủi ro (ví dụ: các rủi ro chính của các quy trình quản lý phụ thuộc vào quy
mô, sự phức tạp của hoạt động kinh doanh); (iii) Mô tả về các trách nhiệm quản lý rủi ro hoạt động vào tổng thể quản lý rủi ro nói chung của ngân hàng