1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nhận xét về các ưu điểm và biến chứng của kỹ thuật khâu chỉ rút trong phẫu thuật cgm

22 454 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để pháthuy được ưu điểm điều chỉnh NA tốt hơn ở giai đoạn sớm sau phẫu thuật vàhạn chế được biến chứng xẹp tiền phòng sau mổ glôcôm một số tác giả đã cảitiến kỹ thuật khâu vạt củng mạc b

Trang 1

I ĐẶT VẤN ĐỀ

II TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Giải phẫu vùng góc tiền phòng [15]

2.2 Nhãn áp và sự lưu thông thủy dịch [15]

2.3 Sự lưu thông thuỷ dịch sau phẫu thuật cắt bè CGM và

3.1 Đối tượng nghiên cứu

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.3 Nội dung và các chỉ số nghiên cứu

3.3.1 Khám lâm sàng

3.3.2 Phương pháp phẫu thuật

3.3.2.1 Các thì phẫu thuật

3.3.2.2 Kỹ thuật khâu vạt củng mạc bằng mũi chỉ rút

3.3.3 Điều kiện, thời gian rút chỉ khâu vạt củng mạc và

đánh giá kết quả

3.3.3.1 Điều kiện, thời gian rút chỉ

3.3.3.2 Đánh giá tình trạng mắt trước và sau khi rút chỉ

4 4 6

6 6 6 6 6 6 7 8

8 8 9 10 10 10 11

Trang 2

13 14 14 14

14 17 18 19 20 21

Trang 3

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Glôcôm là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây mù vĩnh viễn ởnước ta cũng như trên thế giới Trong bệnh lý glôcôm, tăng nhãn áp (NA) làyếu tố quan trọng gây ra những tổn thương thực thể tại mắt dẫn đến mất chứcnăng thị giác không hồi phục [19] Năm 1968, Cairns J.E đề xuất phươngpháp phẫu thuật cắt bè củng giác mạc (CGM) điều trị glôcôm [3] Để pháthuy được ưu điểm điều chỉnh NA tốt hơn ở giai đoạn sớm sau phẫu thuật vàhạn chế được biến chứng xẹp tiền phòng sau mổ glôcôm một số tác giả đã cảitiến kỹ thuật khâu vạt củng mạc bằng mũi chỉ rút [11],[17] Ở nước ta, đã cómột vài báo cáo về kỹ thuật khâu chỉ rút như nghiên cứu của Nguyễn CườngNam, Diệp Hữu Thắng năm 1997 [1], tuy nhiên các báo cáo này chỉ báo cáo

về kết quả hạ nhãn áp, chưa phân tích cụ thể về hiệu quả và các biến chứngcủa kỹ thuật Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu này nhằm hai mụctiêu sau:

1 Đánh giá hiệu quả của phẫu thuật cắt bè CGM áp dụng kỹ thuật

khâu chỉ rút trong điều trị bệnh glôcôm

2 Nhận xét về các ưu điểm và biến chứng của kỹ thuật khâu chỉ rút

trong phẫu thuật CGM

II TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Giải phẫu vùng góc tiền phòng [15]

Góc tiền phòng được giới hạn bởi phía trước là giác-củng mạc và phíasau là mống mắt-thể mi

 Vòng Schwalbe: là giới hạn của màng Descemet giác mạc tiếp giápvới Trabeculum củng mạc Khi soi góc thấy một đường màu trắng hẹp, hơinhô lên

Vùng bè (Trabeculum): là một dải hình lăng trụ tam giác nằm trong

chiều sâu của rìa củng giác mạc, mặt cắt của vùng bè có hình tam giác, đỉnhquay về phía chu biên của giác mạc, đáy dựa trên cựa củng mạc và thể mi(rộng chừng 0,5-1mm)

 Ống Schlemm: hình vòng, chạy song song với vùng rìa, bao quanhphía ngoài của vùng bè Ống này rộng chừng 0.3-0.5mm được giới hạn bởi

Trang 4

thành trong là thành ngoài của Trabeculum, thành ngoài tiếp giáp với củngmạc, có những ống dẫn từ phần sau ống Schlemm tới đám rối tĩnh mạch củngmạc rối đổ vào hệ thống tĩnh mạch thượng củng mạc và kết mạc.

 Cựa củng mạc: có hình vành khuyên, khi bổ dọc có hình tam giácđỉnh hướng về tiền phòng Cựa củng mạc là chỗ bám của những sợi bè và lànhững sợi dài của cơ thể mi Cựa củng mạc có màu trắng nổi lên rõ rệt giữaTrabeculum màu xám và giải thể mi màu nâu sẫm

 Giải thể mi và chân mống mắt: là phần trước của cơ thể mi bám vàocựa củng mạc, màu sẫm hơn mầu của mống mắt Chân mống mắt dính vàođáy của thể mi ở ngay phía sau cựa củng mạc, phía trước cơ thể mi và vòngđộng mạch lớn của mống mắt Chân mống mắt tạo nên thành trong của góctiền phòng Nếu chân mống mắt bám lùi ra sau thì giải thể mi mở rộng

2.2 Nhãn áp và sự lưu thông thủy dịch [15]

 Nhãn áp: phụ thuộc chủ yếu vào tốc độ sản xuất thuỷ dịch, sự lưuthông thuỷ dịch và áp lực tĩnh mạch thượng củng mạc

Sự lưu thông thuỷ dịch: Phần lớn thuỷ dịch thoát ra khỏi mắt qua

hệ thống vùng bè - ống Schlemm - tĩnh mạch (80%) Khoảng 20% lượng thuỷdịch thoát ra khỏi mắt qua con đường màng bồ đào- củng mạc, không phụthuộc vào áp lực nội nhãn

2.3 Sự lưu thông thuỷ dịch sau phẫu thuật cắt bè CGM và quá trình

hình thành bọng thấm

Có 5 con đường thoát thủy dịch sau phẫu thuật cắt bè củng giác mạc:

- Chảy vào đầu cắt của ống Schlemm

- Tách thể mi, thủy dịch thoát vào khoang thượng hắc mạc

- Thấm qua các kênh nhỏ ở vạt củng mạc

- Thấm qua mô liên kết của vạt củng mạc

- Thấm quanh bờ của vạt củng mạc

2.4 Quá trình liền sẹo của vạt củng mạc sau phẫu thuật cắt bè CGM

Sau phẫu thuật, sự hàn gắn vết thương có thể chia thành 4 giai đoạn

 Giai đoạn tạo kết dính

 Giai đoạn tăng sinh

 Giai đoạn u hạt

 Giai đoạn tổng hợp collagen

2.5 Phẫu thuật cắt bè CGM điều trị bệnh glôcôm (trabeculectomie)

Trang 5

Phẫu thuật này do Cainrs J.E đề ra năm 1968 [3]: Một mảnh củng - giácmạc vùng bè ở dưới vạt củng mạc được cắt đi với mục đích tạo ra một đườngdẫn lưu thủy dịch từ tiền phòng qua lỗ cắt bè CGM ở dưới vạt củng mạc để rangoài nhãn cầu [16] Ưu điểm của phẫu thuật là điều chỉnh NA tốt do giảiquyết được trở lưu ở cả vùng bè và ống Schlemm Tuy nhiên phẫu thuật viênphải cố gắng khâu vạt củng mạc vừa đủ lỏng để cho thủy dịch thoát ra qua rìacủa vạt củng mạc làm hạ NA và vừa phải đủ chặt để ngăn chặn biến chứng

NA mềm, xẹp TP sớm sau mổ

2.6 Các biện pháp giải phóng chỉ sớm sau phẫu thuật lỗ dò

Trên thực tế đã có 2 phương pháp được sử dụng đó là dùng Laser để cắtchỉ và khâu mũi chỉ nơ có thể rút được

2.7 Kỹ thuật khâu chỉ rút

Kỹ thuật khâu chỉ rút được Schaffer áp dụng lần đầu năm 1971 trongphẫu thuật rạch củng mạc (Sclérostomy)[14]

Cũng với nỗ lực nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả của phẫu thuật lỗ

dò, năm 1987 Shin DH đã ứng dụng kỹ thuật của Schaffer để khâu đóng vạtcủng mạc trong phẫu thuật cắt bè CGM [17] Để khắc phục những hạn chếtrong kỹ thuật của Schaffer và Shin, năm 1988 Cohen và Osher [5] đã cải tiến

và công bố kỹ thuật khâu chỉ rút mở qua đường giác mạc trong phẫu thuật cắt

bè CGM Bên cạnh việc hoàn thiện về phẫu thuật các tác giả Kolker và Shincòn đề xuất nhiều kỹ thuật khâu tạo mũi nơ khác đơn giản và dễ thực hiện hơnnhưng vẫn đảm bảo cho đường khâu được chắc chắn [17], điển hình là kỹthuật khâu tạo một mũi nền trước sau đó dùng đầu ngắn của chỉ cuốn mộthoặc hai vòng để tạo nút nơ Kỹ thuật này hiện nay vẫn đang được rất nhiềuphẫu thuật viên sử dụng [8][10]

Hình 1.9 Kỹ thuật khâu mũi nơ khác của Kolker và Shin DH

Trang 6

III ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

3.1.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân: Những bệnh nhân glôcôm nguyên phát có

chỉ định phẫu thuật cắt bè CGM, điều trị tại khoa Glôcôm bệnh viện Mắttrung ương từ tháng 10/2005 đến tháng 7/2006

Tiêu chuẩn loại trừ: glôcôm NA không cao; mắt có kèm viêm nhiễm;

đã có phẫu thuật mắt trước đó; mắt cần mổ phối hợp thể thủy tinh và glôcôm;bệnh nhân không có điều kiện đi lại thăm khám và theo dõi hậu phẫu; bệnhnhân không đồng ý tham gia nghiên cứu

Cỡ mẫu tính theo công thức n = 47

Mỗi bệnh nhân có một bệnh án nghiên cứu theo mẫu thiết kế trước (có phụlục kèm theo)

3.3 Nội dung và các chỉ số nghiên cứu

mở (kính Goldmann 1 mặt gương), soi đáy mắt ghi nhận độ sâu của lõm đĩa,kích thước của lõm đĩa so với kích thước của đĩa thị (C/D), màu sắc của viềnthần kinh và tình trạng mạch máu trung tâm võng mạc (kính Volk) Phân loạigiai đoạn bệnh theo Poliak, dựa chủ yếu vào kết quả thị trường gồm 6 giaiđoạn tiềm tàng, sơ phát, tiến triển, trầm trọng, gần mù và mù

Khám đánh giá toàn trạng của bệnh nhân nhằm phát hiện những bệnhnội khoa, làm các xét nghiệm cơ bản phục vụ cho phẫu thuật

3.3.2 Phương pháp phẫu thuật

3.3.2.1 Các thì phẫu thuật

Trang 7

Tiêm tê cạnh nhãn cầu Lidocain 2% x 6 ml, tra tê bề mặt nhãn cầu Dicain1% Vành mi Cố định cơ trực trên bằng chỉ lanh Phẫu tích tạo vạt kết mạc từrìa giác mạc phía trên Đốt cầm máu Tạo vạt củng mạc hình chữ nhật kíchthước 34 mm, sâu tới 50% bề dầy Dùng kéo Vannas cắt bỏ một mẩu bèCGM vùng rìa kích thước 12 mm, chạy song song với rìa giác mạc để vàotiền phòng Cắt tạo lỗ mống mắt chu biên ở vị trí lỗ dò củng mạc Khâu đóngvạt củng mạc bằng 2 mũi chỉ rút (chỉ 10/0) Kết mạc được đóng lại theo vị trígiải phẫu cũ Tái tạo lại tiền phòng bằng dung dịch Ringer lactat Tiêm cạnhnhãn cầu 0,5ml Gentamyxin 80mg và 0,5ml Dexamethason 4 mg đề phòngnhiễm khuẩn, tra mỡ kháng sinh Oflovid, băng mắt vô trùng

Chăm sóc hậu phẫu: tra Maxitrol, Naclof 4 lần/ngày trong 1-2 tuần Bệnhnhân được khám lại sau phẫu thuật 1 ngày Sau khi ổn định, bệnh nhân xuấtviện và được hẹn khám lại định kỳ 1 tuần, 2 tuần, 3 tuần, 1 tháng, 2 tháng và

3 tháng Ghi nhận các biền chứng gặp trong phẫu thuật, sau phẫu thuật và saurút chỉ khâu vạt củng mạc

3.3.2.2 Kỹ thuật khâu vạt củng mạc bằng mũi chỉ rút

Kim chỉ nylon 10-0 sau khi đi qua vạt củng mạc và củng mạc sẽ được thắtlại tạo mũi chỉ nơ theo kỹ thuật của Kolker (hình 1.9) Tạo một mũi nền trướckhi dùng đầu chỉ ngắn cuốn 1 hoặc 2 vòng làm thành nút nơ và thắt đủ chặt đểchỉ có một lượng thủy dịch nhỏ thoát qua bờ vạt củng mạc Tiếp đó đưa kimlướt qua nền vạt củng mạc, dưới đường rạch kết mạc, và cuối cùng xuyên quavùng rìa ra tới giác mạc

Với kỹ thuật của Kolker đầu chỉ sẽ được cắt và để lại trên bề mặt giác mạc

do đó thường gây kích thích mắt sau mổ Vì vậy trong nghiên cứu của mình,chúng tôi cải tiến thêm một đường khâu nhỏ dấu đầu chỉ xuống dưới vạt kếtmạc Đường khâu này tạo thành một quai chỉ nằm dẹt trên bề mặt giác mạctránh gây cộm mắt đồng thời sau này có thể dễ dàng dùng kim gẩy nhẹ ra, tìmlại đầu chỉ để rút khi cần

Trang 8

Hình 2.2 Khâu dấu đầu chỉ xuống dưới vạt kết mạc (Đào Thị Lâm Hường,

Cát Vân Anh)

3.3.3.Điều kiện, thời gian rút chỉ khâu vạt củng mạc và đánh giá kết quả

3.3.3.1 Điều kiện, thời gian rút chỉ

Chỉ định rút chỉ:

- NA tăng sớm sau phẫu thuật hoặc NA điều chỉnh nhưng ở mức độ cao vẫn

có khả năng gây tổn hại đến thị trường (>14mmHg)[18]

- Bọng thấm dẫn lưu không tốt (xơ, dính) hoặc không tạo được bọng thấm(kết mạc mỏng áp sát bề mặt củng mạc)

 Điều kiện để tiến hành rút chỉ:

- TP phải đủ sâu (V.H  1/4 so với chiều dầy GM)

- Xoa nhẹ vùng mép mổ 5 phút mà bọng thấm vẫn không tốt hơn

- Không có dò sẹo bọng: Seidel (-)

- Không có biến chứng, viêm nhiễm tại mắt

 Thời điểm rút chỉ:

Đầu chỉ được dấu dưới vạt KM

Quai chỉ nằm trên bề mặt GM

Trang 9

Chúng tôi dựa theo thời gian liền sẹo của củng mạc để chia làm 3 giaiđoạn tiến hành rút chỉ: 7 - 10 ngày, 11 - 14 ngày, 15 - 21 ngày.

Mũi chỉ thứ hai được rút sau mũi chỉ thứ nhất vài ngày đến 1 tuần, cả haimũi chỉ sẽ được lấy đi hết trước ngày thứ 21 để tránh dính và đứt vì thời điểmnày các tổ chức bào và sợi collagen đã xuất hiện để hình thành sẹo xơ

3.3.3.2 Đánh giá tình trạng mắt trước và sau khi rút chỉ

 Trước rút chỉ

- Nhãn áp: Chúng tôi lựa chọn 3 mốc NA để đánh giá như sau: < 14

mmHg, 14 – 17,5 mmHg, > 17,5 mmHg [18][2] Mức nhãn áp được điềuchỉnh <14mmHg và không quá mềm (>6mmHg) chính là mức NA mà chúngtôi mong muốn đạt được sau rút chỉ [6][9]

- Tình trạng bọng thấm: Chúng tôi đánh giá về chức năng của bọng thấm

theo các nhóm như sau: + Không tạo bọng dẫn lưu, + Bọng thấm dẹt , +Bọng thấm khá, + Bọng thấm tốt Ngoài ra, chúng tôi còn đánh giá độ lanrộng, gồ cao và tình trạng xơ của bọng thấm

- Đánh giá về độ sâu tiền phòng:

1 V.H >1/2 chiều dầy giác mạc 2 V.H 1/4 chiều dầy giác mạc

3 Mống mắt dính mặt sau giác mạc-

Còn TP ở trung tâm

4 Mống mắt và thể thủy tinh áp sát mặt sau giác mạc- TP xẹp hoàn toàn

 Sau rút chỉ

Sau mỗi lần rút chỉ mắt bệnh nhân được đo lại NA sau đó 20-30 phút đểđánh giá mức độ NA được điều chỉnh sau rút chỉ, kiểm tra lại về độ sâu TP,tình trạng bọng thấm đặc biệt là độ gồ cao và lan rộng của bọng thấm

3.4 Xử lý số liệu: bằng phương pháp thống kê y học theo chương trình SPSS

10.05 của tổ chức WHO So sánh các giá trị trung bình bằng test T Student)

(T-IV KẾT QUẢ

Nghiên cứu được tiến hành trên 61 mắt của 55 bệnh nhân, 17 nam(31%), 38 nữ (69%), tuổi trung bình là 60,1  6,67, trong đó 98,2% ở độ tuổitrên 40

Về hình thái bệnh: tỷ lệ glôcôm góc đóng chiếm tới 86.88% (53 mắt),glôcôm góc mở chỉ có 8 mắt (13,12%)

Trang 10

Đa số mắt có thị lực dưới 3/10 (83,61%), trong đó 15 mắt có thị lực rấtthấp dưới Đnt 3m (chiếm 24,6%) 4 mắt không đo được thị trường do thị lựcquá kém chỉ còn ST(+) (chiếm 6.56%) 9 mắt chưa có biến đổi thị trường(chiếm 14.75%) Về tình trạng đáy mắt: 8 mắt có tổn hại đĩa thị giác > 7/10(chiếm 13.12%), trong đó 4 mắt có teo lõm đĩa thị toàn bộ.

Tỷ lệ tiền phòng nông trước mổ chiếm tới 37.7%

4.1 Hiệu quả điều trị bệnh glôcôm của phẫu thuật cắt bè CGM áp

dụng kỹ thuật khâu chỉ rút

4.1.1 Kết quả về nhãn áp

Bảng 4.1 Mức NA sau phẫu thuật 3-5 ngày và trước rút chỉ (mmHg)

Sau phẫu thuật cắt bè CGM áp dụng kỹ thuật khâu chỉ rút mức NA

trung bình của 61 mắt nghiên cứu là 14,95 mmHg

Bảng 4.2 Mức NA điều chỉnh sau rút mũi chỉ đầu tiên (mmHg)

Thời điểm rút

mũi chỉ đầu

tiên sau PT

Số mắt

NA trước rút mũi 1

NA sau rút mũi 1

Tỷ lệ % điều chỉnh NA

Tỷ lệ NA điều chỉnh trung bình sau rút mũi chỉ đầu tiên là

24.59%.Thời điểm rút chỉ trong vòng 7-10 ngày sau mổ có tác dụng điều chỉnh NA tốt nhất (với % NA điều chỉnh trung bình là 33.05%)

Bảng 4.3 Mức NA điều chỉnh sau rút mũi chỉ thứ 2 (mmHg)

T/điểm rút mũi chỉ

thứ 2 sau PT

Số mắt

NA trước rút mũi thứ 2

NA sau rút mũi thứ 2

% NA điều chỉnh

Trang 11

Mức NA trung bình sau phẫu thuật là 14.95 mmHg, sau khi rút hết chỉ

Thị trường của 17 mắt được cải thiện rõ rệt (27.87%), không có mắt nào

bị tổn hại thị trường tiếp tục sau mổ 3 tháng

4.1.3 Kết quả về thực thể tại mắt

4.1.3.1 Kết quả về bọng thấm

Trang 12

Bảng 4.7 Kích thước bọng thấm thay đổi sau rút chỉ

Nhận xét: Bọng thấm thay đổi kích thước rõ rệt sau rút mũi chỉ thứ

nhất, độ gồ cao và lan rộng của bọng thấm đều tăng trung bình trên 30%

Bọng thấm khá

Bọng thấm tốt Nhóm

Nhận xét: sau phẫu thuật 1 tháng tỷ lệ bọng thấm khá và tốt chiếm đa số

86.67%, còn ở nhóm khâu chỉ cố định tỷ lệ này chỉ là 60% Sự khác biệt nàygiữa 2 nhóm có ý nghĩa thống kê với p<0.01 Tình trạng bọng thấm ở hainhóm tại thời điểm sau 3 tháng không thay đổi nhiều so với kết quả sau rútchỉ 1 tháng

4.1.3.2 Kết quả về độ sâu tiền phòng

Bảng 4.10 Đánh giá độ sâu TP sau rút chỉ (ước lượng theo Van-Herick)

Trang 13

Độ sâu TP Trước Sau Trước Sau

Nhận xét : Sau phẫu thuật 100% trường hợp tiền phòng được tái tạo tốt

(V.H  1/4 so với chiều dầy GM)

Bảng 4.11 Độ sâu TP ở 2 nhóm so sánh (ước lượng theo Van-Herick)

Nhận xét: 2 trường hợp ở nhóm khâu chỉ cố định sau phẫu thuật có tiền

phòng nông sau mổ (V.H <1/4 so với chiều dầy GM), biến chứng này khônggặp ở bất kỳ giai đoạn nào sau phẫu thuật ở nhóm khâu chỉ rút

Nhận xét : Phần lớn các mũi chỉ đầu tiên được rút dễ dàng trong vòng

14 ngày đầu sau mổ

Bảng 4.13 Tình trạng khi tiến hành rút mũi chỉ thứ 2

Tình trạng

Thời điểm

Số mắt

Trang 14

Nhận xét: trong số 48 mắt được tiến hành rút mũi chỉ thứ 2 trong 15-21

ngày sau mổ có 14,5% số mũi khi rút bị đứt chỉ

4.2.2 các biến chứng phẫu thuật

Nhận xét: Hiện tượng đứt chỉ gặp ở 7 mắt khi rút mũi chỉ thứ 2 ở tuần

thứ 3 sau mổ, 4 mắt sau mổ có đục thể thủy tinh (chiếm 6,55%)

Theo kết quả ở bảng 4.1, NA trung bình sau mổ 3-5 ngày của nhóm mắtnghiên cứu là 14.95  2.43 mmHg trong đó phần lớn số mắt có mức NA điềuchỉnh sau mổ < 14mmHg (chiếm 65.57%) 22.95% mắt có mức NA trongkhoảng 14 - 17.5 mmHg Sau phẫu thuật 7 mắt có NA vẫn ở mức cao >17.5mmHg cần chỉ định rút chỉ sớm Dựa vào thời gian liền sẹo của củng mạc,chúng tôi phân chia thành 3 giai đoạn để tiến hành rút chỉ được thuận lợi, an

Trang 15

toàn và hiệu quả đó là: từ 7-10 ngày, 11-14 ngày và 15-21 ngày sau phẫuthuật, các mũi chỉ thường được rút hết trước ngày thứ 21 để tránh dính và đứt

vì ở thời điểm này các tổ chức bào và sợi collagen đã xuất hiện để hình thànhsẹo xơ

Mũi chỉ đầu tiên được rút trong vòng 7-10 ngày sau mổ ở 14 mắt với tỷ

lệ NA điều chỉnh sau rút chỉ cao nhất 33.05% Kết quả này cũng tương tự nhưtrong nghiên cứu của Raina và Tuli, tỷ lệ NA điều chỉnh sau rút chỉ trongvòng 5-10 ngày đầu là 34.8%  4.9% Hiệu quả điều chỉnh NA giảm dần khirút chỉ vào các thời điểm muộn hơn do quá trình liền sẹo của củng mạc đượchoàn thiện dần Tỷ lệ NA điều chỉnh sau rút chỉ từ 11-14 ngày đối với mũi thứnhất là 25.43%, đối với mũi thứ hai chỉ còn là 14.64%, kết quả này của chúngtôi so với kết quả của Raina và Tuli có phần cao hơn (16.5% 11.5%) [13][20] Từ kết quả ở bảng 4.2 và bảng 4.3 chúng tôi có biểu đồ sau:

7-10 ngµy 11-14 ngµy 15-21 ngµy 7-10 ngµy 11-14 ngµy 15-21 ngµy

Sau rót mòi 1 Sau rót mòi 2

% NA ®iÒu chØnh

Biểu đồ 5.1: So sánh hiệu quả với NA giữa 2 lần rút chỉ

So sánh giữa hai lần rút chỉ, chúng tôi nhận thấy tỷ lệ NA điều chỉnhtrung bình sau rút mũi chỉ đầu cao hơn nhiều so với khi rút mũi chỉ 2 (24.59%

so với 9.19%) Như vậy, mũi chỉ đầu khi được rút sẽ cho hiệu quả điều chỉnh

NA tốt nhất đặc biệt là ở thời điểm 7-10 ngày sau mổ Để đảm bảo an toàn,mũi chỉ hai được rút sau mũi chỉ đầu vài ngày đến một tuần tuy nhiên tácdụng điều chỉnh NA sau rút mũi hai rất hạn chế (rút chỉ mũi hai vào thời điểm15-21 ngày tỷ lệ NA điều chỉnh chỉ còn 8.03%), chủ yếu mũi chỉ này được lấy

đi trước ngày 21 là để tránh dính và đứt

Trong nghiên cứu này, theo kết quả ở bảng 4.4, sau khi rút hết chỉ mức

NA được điều chỉnh sau 1 tháng trung bình là 11.29 mmHg, có xu hướng tăngdần theo thời gian nhưng sau 3 tháng NA vẫn được duy trì ổn định ở mức antoàn <14mmHg (13.44 mmHg) Ở thời điểm sau mổ 6 tháng, kết quả NA ghi

Ngày đăng: 11/11/2014, 22:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.2. Khâu dấu đầu chỉ xuống dưới vạt kết mạc (Đào Thị Lâm Hường, - nhận xét về các ưu điểm và biến chứng của kỹ thuật khâu chỉ rút trong phẫu thuật cgm
Hình 2.2. Khâu dấu đầu chỉ xuống dưới vạt kết mạc (Đào Thị Lâm Hường, (Trang 8)
Bảng 4.1.  Mức NA sau phẫu thuật 3-5 ngày và trước rút chỉ (mmHg) - nhận xét về các ưu điểm và biến chứng của kỹ thuật khâu chỉ rút trong phẫu thuật cgm
Bảng 4.1. Mức NA sau phẫu thuật 3-5 ngày và trước rút chỉ (mmHg) (Trang 10)
Bảng 4.6.  Biến đổi thị trường sau mổ 3 tháng ở nhóm nghiên cứu - nhận xét về các ưu điểm và biến chứng của kỹ thuật khâu chỉ rút trong phẫu thuật cgm
Bảng 4.6. Biến đổi thị trường sau mổ 3 tháng ở nhóm nghiên cứu (Trang 11)
Bảng 4.7.  Kích thước bọng thấm thay đổi sau rút chỉ - nhận xét về các ưu điểm và biến chứng của kỹ thuật khâu chỉ rút trong phẫu thuật cgm
Bảng 4.7. Kích thước bọng thấm thay đổi sau rút chỉ (Trang 12)
Bảng 4.11.  Độ sâu TP ở  2 nhóm so sánh (ước lượng theo Van-Herick) - nhận xét về các ưu điểm và biến chứng của kỹ thuật khâu chỉ rút trong phẫu thuật cgm
Bảng 4.11. Độ sâu TP ở 2 nhóm so sánh (ước lượng theo Van-Herick) (Trang 13)
Bảng 4.12. Tình trạng khi tiến hành rút chỉ mũi 1 - nhận xét về các ưu điểm và biến chứng của kỹ thuật khâu chỉ rút trong phẫu thuật cgm
Bảng 4.12. Tình trạng khi tiến hành rút chỉ mũi 1 (Trang 13)
Bảng 4.14.  Tỷ lệ biến chứng - nhận xét về các ưu điểm và biến chứng của kỹ thuật khâu chỉ rút trong phẫu thuật cgm
Bảng 4.14. Tỷ lệ biến chứng (Trang 14)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w