Khái niệm thị trường OTC Thị trường OTC là thị trường không có trung tâm giao dịch tập trung, đó là mộtmạng lưới các nhà môi giới và tự doanh chứng khoán mua bán với nhau và với các...
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BÀI TẬP THẢO LUẬN
MÔN: THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Đề tài số 7:
Trình bày những vấn đề cơ bản về thị trường chứng khoán phi tập trung Liên hệ thực tiễn Việt Nam.
Trang 36 Mục tiêu và xu hướng hiện nay
II So sánh thị trường OTC với các thị trường khác
1 So sánh thị trường OTC với thị trường chứng khoán tập trung
2 So sánh thị trường OTC với thị trường chứng khoán tự do
III Một số thị trường OTC trên thế giới
1 Thị trường OTC Mỹ
2 Thị trường OTC Nhật Bản
3 Thị trường OTC Hàn Quốc
IV Thực trạng thị trường OTC ở Việt Nam hiện nay
Trang 4THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN PHI TẬP TRUNG (OTC)
Thị trường giao dịch chứng khoán phi tập trung OTC có ảnh hưởng rất lớn tới thị
trường chứng khoán Việt Nam nói riêng và cả nền kinh tế nói chung
Thị trường OTC đã trải qua ba giai đoạn phát triển:
Giai đoạn phát triển sơ khai
- Thế kỷ 15, tại Châu Âu, thời kỳ sơ khai của thị trường chứng khoán
- Người mua và người bán giao dịch trực tiếp với nhau tại các “Quầy”của tổ chức phát hành, các tổ chức chức tài chính hoặc ngoài trời, từ đóphát sinh thuật ngữ OTC (over the counter)
- Người mua và người bán cũng có thể đạt được thỏa thuận thông quacông ty môi giới nhưng tính chất của giao dịch vẫn là mang tính chấtsong phương
Giai đoạn phát triển cận đại
- Các bên mua bán và tổ chức trung gian sư dụng điện thoại để chia sẻthông tin thị trường
- Các tổ chức trung gian đã hình thành mạng lưới giao dịch qua điệnthoại để phát huy tối đa vai trò môi giới
- Các tổ chức tự doanh bắt đầu hoạt động và đóng vai trò của một nhàtạo lập thị trường
- Tính chất giao dịch song phương vẫn được duy trì
Dưới góc độ quản lý, do cách thức giao dịch song phương (không phải đaphương như SGDCK) nên thị trường OTC được xem là không “sàn” Tuynhiên vẫn có tính chất giao dịch đa phương nhất định vì người mua và
Trang 5người bán đều có sự tham khảo thông tin giá cả từ nhiều bên trước khiquyết định.
Giai đoạn phát triển hiện đại
- Ứng dụng Internet và công nghệ thông tin vào giao dịch OTC
- Giao dịch thỏa thuận trên phạm vi toàn cầu, 24/24
- Phát triển sàn giao dịch OTC trên mạng Thị trường OTC này còn gọi
là “Sàn môi giới điện tử” (electronic brokering plaform)
- Tính chất giao dịch song phương truyền thống được biến đổi qua môhình
- giao dịch đa phương, khớp lệnh tự động vào báo giá mua bán cho tấtcả
- các bên, họ tự do yết giá và quyết định giao dịch
- Các tổ chức hoạt công ty vận hành thị trường chỉ đóng vai trò môigiới,
- không tham gia tự doanh
- Có một tổ chức trung gian lo việc thanh toán bù trừ
Mô hình khác: Sàn tự doanh điện tử (electronic dealing plaform)
- Đơn vị tổ chức sàn không đóng vai trò trung gian mà trực tiếp muabán chứng khoán
- Các yết giá mua và bán chứng khoán chỉ do đơn vị tổ chức (đơn vị tựdoanh) thông báo
- Các thành viên tham gia thị trường quan sát các yết giá và kết quảthực hiện
- Các nhà tổ chức thiết lập thị trường OTC cho riêng họ và họ phải chịumọi rủi ro về thanh toán
2 Khái niệm thị trường OTC
Thị trường OTC là thị trường không có trung tâm giao dịch tập trung, đó là mộtmạng lưới các nhà môi giới và tự doanh chứng khoán mua bán với nhau và với các
Trang 6nhà đầu tư, các hoạt động giao dịch của thị trường OTC được diễn ra tại các quầy (sàngiao dịch) của các ngân hàng và công ty chứng khoán.
3 Phân loại thị trường OTC
Sàn môi giới điện tử : hệ thống giao dịch điện tử, đa phương như Sởgiao dịch
Sàn tự doanh điện tử : kết hợp tính chất 2 loại thị trường tự doanhtruyền thống và sàn môi giới điện tử, đa phương 1 chiều, vai trò tạolập thị trường đầy đủ
4 Đặc điểm cơ bản của thị trường OTC
Tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia mà thị trường OTC có nhữngđặc điểm riêng phù hợp với đặc thù từng quốc gia Phần lớn thị trường OTC trên thếgiới hiện nay chủ yếu được xây dựng theo mô hình thị trường NASDAQ của Mỹ:
Trang 7Hình thức tổ chức thị trường:
Thị trường OTC được tổ chức theo hình thức phi tập trung không có điểm giaodịch mang tính tập trung giữa bên mua và bên bán
Thị trường sẽ diễn ra tại các địa điểm giao dịch của các ngân hàng,công ty CK
và các địa điểm thuận lợi cho người mua ,bán:
- Giao dịch diễn ra ở bất kỳ địa điểm nào:trụ sở CTCK,NHTM, có thểngay tại các địa điểm công cộng như nhà ăn,quán café…
- Có thể giao dịch qua mạng điện tử, mạng điện thoại
- Thị trường OTC có hệ thống công nghệ cao phục vụ, đảm bảo giao dịchthông suốt, nhanh chóng
Thị trường OTC là thị trường sử dụng hệ thống mạng máy tính điện tử diện rộng liên kết tất cả các đối tượng tham gia thị trường Thị trường OTC còn được gọi là thị trường mạng hay thị trường báo giá điện tử
Thành viên của thị trường OTC
Nhà đầu tư và tổ chức đầu tư: tìm hiểu thông tin về doanh nghiệp qua hệ thốngđiện tử
Các công ty môi giới – giao dịch:
- Môi giới: hưởng hoa hồng từ thực hiện giao dịch với khách hàng
- Tự doanh: kinh doanh chứng khoán trên chính tài sản của mình
Nhà tạo lập thị trường:
- Công ty môi giới – giao dịch nắm giữ một số lượng lớn chứng khoánnhất định
- Tăng tính thanh khoản cho chứng khoán
- Liên tục đưa ra giá hỏi mua – chào bán
Chứng khoán giao dịch trên thị trường OTC gồm 2 loại:
Trang 8 Loại 1: Chứng khoán chưa đủ điều kiện niêm yết trên Sở Giao dịch nhưng đápứng các điều kiện về tính thanh khoản và yêu cầu tài chính tối thiểu của thịtrường OTC, trong đó chủ yếu là của công ty vừa và nhỏ, công ty công nghệ cao
và có tiềm năng phát triển
Loại 2: Các loại chứng khoán đã niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán
Mức độ rủi ro cao:
Rủi ro về tính thanh khoản
Rủi ro về thông tin
Cơ chế xác lập giá:
Việc xác lập giá trên thị trường OTC chủ yếu được thực hiện thông qua phươngthức thương lượng và thoả thuận song phương giữa bên mua và bên bán (khácvới phương thức đấu giá tập trung trên Sở giao dịch chứng khoán)
Có nhiều mức giá khác nhau đối với một chứng khoán trong cùng một thờiđiểm
Thị trường OTC chịu sự chi phối của các nhà tạo lập thị trường, đó là các công
ty giao dịch – môi giới
* Các nhà tạo lập thị trường là các tổ chức tài chính được cấp phép, luôn
nắm giữ số lượng cổ phiếu đủ lớn và sẵn sang mua bán nhằm tạo lập thịtrường như nhà kinh doanh chứng khoán
- Nắm giữ cổ phiếu, hưởng lợi tức, chênh lệch giá và các quyền cổ đôngkhác
- Có quyền được miễn giảm thuế và phí giao dịch , quyền nhận thông tin
* Công việc:
- Mua khi chứng khoán tăng và bán khi chứng khoán giảm
- Làm nghiệp vụ ngân quỹ: chuẩn bị đủ tiền để mua và thanh toán
Trang 9- Nghiệp vụ dự trữ cổ phiếu: xác định mức dự trữ phù hợp để tạo lập thịtrường.
* 3 giao dịch cơ bản của nhà tạo lập thị trường:
- Bán chứng khoán trong kho để thu được chênh lệch giá so với giáchứng khoán mua vào trước đó
- Làm vai trò môi giới hưởng hoa hồng với mức đã thỏa thuận trước vớikhách hàng
- Giao dịch kê giá: Mua cổ phiếu của nhà môi giới khác có mức giao dịchthấp nhất để bán lại cho nhà đầu tư với mức giá cao hơn và hưởng chênhlệch
* Yêu cầu đối với nhà tạo lập thị trường:
- Phải có quy mô vốn lớn để đối mặt với nguy cơ không đủ tiền tạo lập thịtrường
- Có năng lực quản lý, giám sát tốt
- Khả năng đa dạng hóa đầu tư cao
- Quan hệ tốt với công chúng và các nhà đầu tư, tổ chức khác
Các nhà tạo lập thị trường đóng vai trò quan trọng trên thị trường OTC.
Họ duy trì tính thanh khoản cho các loại chứng khoán mình đảm trách, thông qua việc nắm giữ một lượng lớn chứng khoán để luôn sẵn sàng mua, bán, giao dịch với khách hàng.
Cơ chế quản lý :
Trang 10Thị trường OTC được quản lý bởi cấp chính phủ và cấp tự quản trên cơ sở phápluật chứng khoán và các luật khác có liên quan (Ủy ban chứng khoán nhà nước– hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán – công ty chứng khoán)
Cấp quản lý Nhà nước: Nhà nước quản lý thông qua cơ chế cấp phép đối vớicác thành viên, quản lý đăng ký và giao dịch, quản lý các thành viên và trungtâm OTC,kiểm soát giao dịch , thông qua pháp luật về CK và các luật có liênquan
Vai trò của chính phủ ngày càng cao để kiểm soát chặt chẽ thị trườngOTC,phát huy tối đa vai trò của thị trường
Cấp tự quản :Thị trường OTC thường hoạt động theo cơ chế tự quản với vaitrò quan trọng của Hiệp hội kinh doanh chứng khoán
Các động lực phát triển
Nhân tố công nghệ - kỹ thuật
Nhu cầu chia sẻ rủi ro và huy động vốn
Nhu cầu quản lý thị trường
Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế
5 Vị trí và vai trò của thị trường OTC
a Vị trí
Trang 11- Thị trường OTC là một bộ phận cấu thành thị trường chứng khoán.
- Thị trường OTC tồn tại và phát triển song song với thị trường chứng khoán
- Thị trường OTC có vị trí quan trọng trong cấu trúc thị trường chứng khoán, hỗtrợ cho thị trường tập trung
b Vai trò
Thị trường OTC đóng một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế và chiếm vị tríquan trọng trong cấu trúc của thị trường chứng khoán:
- Hỗ trợ và thúc đẩy thị trường chứng khoán tập trung phát triển
Bằng các đặc điểm nổi bật trên, thị trường OTC đang tạo ra sức hút lớn với cácdoanh nghiệp, các nhà đầu tư chứng khoán Cổ phiếu của các doanh nghiệp được muabán trao đổi sôi động trên thị trường OTC, ảnh hưởng tới tâm lý nhà đầu tư, từ đó tácđộng đến giao dịch trên thị trường chính thức Mặt khác, giá cổ phiếu trên thị trườngOTC cũng là cơ sở tham khảo cho các doanh nghiệp và các nhà đầu tư khi tham gia
Trang 12giao dịch trên thị trường chứng khoán Chính vì thế, hoạt động của thị trường OTC đã,đang và sẽ tác động lớn tới hoạt động của sàn giao dịch chứng khoán.
- Hạn chế, thu hẹp thị trường tự do, góp phần đảm bảo sự ổn định và lành mạnh của
mở rộng kinh doanh sản xuất Các doanh nghiệp này tham gia thị trường OTC khôngnhững có thể thu hút vốn từ kinh doanh cổ phiểu, mà còn có cơ hội cọ xát, tăng kinhnghiệm trước khi đưa cổ phiếu của doanh nghiệp mình tham gia thị trường chính thức.Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển chính là một vai trò tích cực
mà TT OTC tác động đến sự phát triển của nền kinh tế
- Tạo môi trường đầu tư linh hoạt, thuận lợi cho các nhà đầu tư
Do tính năng động của thị trường, các nhà đầu tư hoạt động trên OTC rất dễ dàngtrong việc giao dịch, truy cập, chia sẻ thông tin Do đó, tiết kiệm thời gian, chi phí màvẫn đảm bảo hiệu quả giao dịch
6 Mục tiêu và xu hướng hiện nay
Trang 13a Mục tiêu hiện nay
- Tạo khả năng tiếp cận tối đa với giao dịch
- Thông tin thị trường tối thiểu
- Hoàn thiện và phát triển hài hòa tất cả các phân mảng thị trường
b Xu hướng hiện nay
- Tăng cường tính tập trung:
Sử dụng mạng điện tử diện rộng
Có một đơn vị quản lý thống nhất (ECN và tài khoản thông qua brokers, 1998)
- Đa dạng hóa phương thức giao dịch:
Khớp giá liên tục
Thỏa thuận gián tiếp (điện tử)
Thỏa thuận trực tiếp
- Tiêu chuẩn hàng hóa phân định cụ thể hơn
- Sáp nhập và liên kết
- Tăng cường vai trò của các nhà tạo lập thị trường
II So sánh thị trường OTC với các thị trường chứng khoán khác
1 So sánh thị trường OTC với thị trường chứng khoán tập trung
tập trungGiống nhau - Đều là thị trường có tổ chức, chịu sự quản lý, giám
dịch
Thương lượng, thỏa thuậngiá là chủ yếu
Đấu giá tập trung
Mức giá đối với
Trang 14Chứng khoán đápứng các điều kiệnniêm yết của Sở giaodịch
Chỉ có 1, đó là cácchuyên gia chứngkhoán của Sở
Trang 15nhau - Chủ yếu áp dụng cơ chế xác lập giá qua thương lượng, thỏa thuận
- Chứng khoán giao dịch phần lớn có tỷ lệ sinh lợi cao, độ rủi ro lớn
- Là thị trường OTC có quy mô toàn cầu, cung cấp niêm yết chứng khoán vàcác dịch vụ khác ở hơn 50 quốc gia và cạnh tranh với sàn giao dịch chứngkhoán NYSE-Euronext để thu hút những công ty niêm yết mới
- Giai đoạn đầu hình thành và phát triển, NASDAQ là sàn giao dịch điện tửđầu tiên trên thế giới và đơn thuần chỉ là hệ thống bảng điện tử niêm yết giá –chưa thực sự kết nối người mua và người bán Tuy nhiên, cùng sự phát triển củathị trường, NASDAQ tiến gần hơn đến một sàn giao dịch chứng khoán theođúng nghĩa khi đưa vào hoạt động hệ thống báo cáo và giao dịch chứng khoán
tự động Các giao dịch trên thị trường NASDAQ được thực hiện thông qua mộtthị trường mở, qua một hệ thống các nhà kinh doanh đa chức năng và qua rấtnhiều nhà tạo lập thị trường cạnh tranh với nhau nhằm giành được các giao dịchcủa từng loại cổ phiếu Năm 1984, NASDAQ cho ra đời Hệ thống đặt lệnh quy
Trang 16mô nhỏ (Small Order Execution System – SOES); năm 1997, Mạng giao tiếpđiện tử (Electronic Communication Network – ECN) được áp dụng; năm 2002,NASDAQ giới thiệu thành công hệ thống giao dịch SuperMontage – hệ thốngniêm yết giá và thực hiện giao dịch chứng khoán có tính thanh khoản và minhbạch cao Đây được xem như trung tâm giao dịch lệnh giới hạn cho tất cả cácchứng khoán niêm yết trên NASDAQ.
Thị trường được tổ chức ở nhiều cấp độ khác nhau bao gồm:
- Thị trường NASDAQ quốc gia NMM (NASDAQ National Market System)
dành cho những cổ phiếu sôi động nhất của NASDAQ
- Thị trường SCM (Nasdaq Small – Cap Market) dành cho những cổ phiếu có
mức vốn hóa thấp, điều kiện niêm yết trên thị trường này chỉ bằng 1/2 đến 1/3
so với yêu cầu của thị trường NMM
- Thị trường OTC NASDAQ (The Nasdaq OTC Electronic Bulletin Board –
OTCBB): thị trường dành cho những cổ phiếu nhỏ được đảm bảo bởi các nhàtạo lập thị trường trên NASDAQ
- Thị trường OTC ngoài Nasdaq dành cho những chứng khoán không được
niêm yết trên Sở giao dịch và thị trường Nasdaq
b) Cơ chế quản lý
Chịu sự quản lý theo hai cấp: cấp nhà nước và cấp tự quản Cấp quản lý nhànước: Ủy ban chứng khoán (SEC) là cơ quan chủ yếu có trách nhiệm điều hànhgiám sát các luật lệ chứng khoán Về cấp tự quản: NASDAQ do Hiệp hội cácnhà kinh doanh chứng khoán quản lý theo luật chứng khoán ban hành năm1933-1934 và được sửa đổi năm 1938
c) Nhà tạo lập thị trường và phương thức giao dịch trên NASDAQ
Về cơ bản thị trường NASDAQ có hai hình thức nhà tạo lập thị trường: bánbuôn và bán lẻ
Trang 17- Nhà tạo lập thị trường bán buôn: những người chỉ giao dịch với nhữngnhà môi giới khác được gọi là môi giới của môi giới Lợi nhuận thu được từkhả năng giao dịch (mua thấp và bán cao)
- Nhà tạo lập thị trường bán lẻ: khá phổ biến dưới dạng các công ty chứngkhoán đảm nhận làm môi giới trong giao dịch
NASDAQ duy trì hai cơ chế giao dịch: các giao dịch khối lượng lớn đượcthực hiện thông qua thương lượng trực tiếp giữa các nhà tạo lập thị trường vàngười môi giới đại diện cho nhà đầu tư; các lệnh nhỏ được thực hiện qua hệthống “Giao dịch lệnh nhỏ” (SOES) Điều này làm cho giá chứng khoán biếnđộng nhịp nhàng và ổn định hơn
2 Thị trường OTC Nhật Bản
o JASDAQ: Được thành lập năm 1991 bởi Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng
khoán Nhật Bản (JSDA), là một thị trường tự động báo giá hệ thống, đượcJSDA trực tiếp quản lý với hình thức thương lượng giá trực tiếp giữa cáccông ty chứng khoán với nhau hoặc giữa công ty chứng khoán với kháchhàng Sau khi luật chứng khoán Nhật Bản được sửa đổi vào năm 1993,JASDAQ được chuyển sang cho Nhà nước quản lý, cơ chế thương lượng giáđược đổi sang cơ chế đấu giá tập trung Chứng khoán giao dịch là chứngkhoán của các công ty vừa và nhỏ, công ty có chất lượng hạng hai và công tycông nghệ cao JASDAQ sử dụng hệ thống giao dịch hỗn hợp, cả khớp lệnh
và yết giá Hệ thống giao dịch và thông tin tự động qua mạng JASDAQ đượcthực hiện theo mô hình NASDAQ gồm: mạng giao dịch và mạng thông tin
o J-Net: Mới được thành lập từ tháng 4/1999, do Sở giao dịch chứng khoán
OSAKA trực tiếp quản lý Các chứng khoán không được niêm yết trên Sởgiao dịch OSAKA và JASDAQ được niêm yết trên J-Net theo phương thứcthương lượng giá J-Net có ưu điểm nổi bật là cung cấp các dịch vụ với giá
rẻ, tốc độ nhanh và thuận tiện, có thể truy cập trực tiếp thông tin thị trường,được đánh giá có tiềm năng tăng trưởng trong tương lai
Trang 183 Thị trường OTC Hàn Quốc
- Ra đời và đi vào hoạt động từ tháng 04/1987, chịu sự kiểm soát trực tiếp củaHiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán Hàn Quốc (KSDA)
- Được xây dựng và hoạt động theo mô hình thị trường NASDAQ, thực hiệngiao dịch qua mạng điện tử Các tổ chức niêm yết trên thị trường phải đáp ứngmột số chỉ tiêu cơ bản như: Vốn chủ sở hữu tối thiểu là 3 tỷ won, Mức vốn hóathị trường tối thiểu 9 tỷ won, Số lượng cổ đông tối thiểu là 500,… Việc đấu giáđược thực hiện theo phương thức đấu lệnh tập trung tương tự như Sở giao dịchchứng khoán
- Các chứng khoán giao dịch trên KOSDAQ bao gồm chứng khoán của công tyđầu tư mạo hiểm, công ty vừa và nhỏ, và quỹ tương hỗ Tiêu chuẩn niêm yết đốivới các công ty vừa và nhỏ chặt chẽ hơn so với các công ty mạo hiểm Từ năm
1997, cổ phiếu của các công ty nước ngoài được phép niêm yết và giao dịch trênKOSDAQ
- Kết hợp hai phương thức giao dịch là đấu giá định kỳ và đấu giá liên tục vớibiên độ dao động giá hàng ngày là +/- 15% so với giá đóng cửa của phiên giaodịch trước đó Từ tháng 3/2000, thị trường KOSDAQ OTC Electronic BulletinBoard chính thức đưa vào hoạt động trên thị trường chứng khoán Hàn Quốc
IV Thực trạng thị trường OTC ở Việt Nam hiện nay
1 Lịch sử ra đời
Ở Việt nam, Luật công ty ra đời vào năm 1990 Kể từ thời điểm này, các công ty
cổ phần bắt đầu được thành lập và hoạt động Nhưng sau đó 10 năm, trung tâmgiao dịch chứng khoán đầu tiên ở Việt nam mới đi vào hoạt động Sau 5 năm khaitrương, tính đến thời điểm tháng 6 năm 2005, mới có 26 công ty chính thức niêmyết tại trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh Hay nói cáchkhác, thị trường chứng khoán Việt Nam ở thời điểm này chỉ phục vụ cho 26 công
Trang 19Nhưng ngoài 26 công ty nêu trên, còn hàng nghìn cổ phiếu của các công tykhác được giao dịch trên thị trường phi tập trung (Over The Counter - OTC)
2 Đặc điểm của thị trường OTC tại Việt Nam
Thị trường OTC ở mỗi nước có những đặc điểm riêng phù hợp với điều kiện
và đặc thù mỗi nước Tuy nhiên hệ thống thị trường OTC trên thế giới hiện nay chủ yếu được xây dựng theo mô hình NASDAQ của Mỹ
Ở Việt Nam, thị trường OTC đã tồn tại song chưa chính thức Các đặc điểm
chính của thị trường OTC tại Việt Nam là:
Các cổ phiếu của công ty đại chúng được giao dịch tự do, vẫn giao dịch,chứng khoán tự phát theo kiểu trao tay qua điện thoại, không được lưu kí,không được thanh toán tập trung, không theo 1 khung pháp lí nào, gây ranhiều bất cập rủi ro cho nhà đầu tư
Không có thông tin rõ ràng về hoạt động kinh doanh của công ty phát hành
Các công ty cổ phần phát hành cổ phiếu vô tội vạ ra công chúng, phát hành
CP giả
Không có biên độ giá, thổi phồng lớn hơn giá trị thực của CP nhiều lần
Không có các cơ quan chức năng theo dõi, kiểm tra, chế tài
Trong 963 tập đoàn công ty và ngân hàng đăng kí là công ty đại chúng vớiUBCKNN, mới chỉ có hơn 360 công ty chính thức niêm yết và giao dịch trênTTCK
Thị trường phi tập trung ở Việt Nam đang tồn tại là một thực thể khách quan Chỉ cóthể nói rằng hoạt động của thị trường này còn manh mún, rời rạc, tổ chức của thịtrường này chưa được chặt chẽ, chưa có người tạo lập và dẫn dắt thị trường chứ khôngthể nói là Việt Nam chưa có thị trường OTC
Thị trường OTC là một tất yếu, là một phần không thể tách rời khỏi một nền kinh tếđang trong giai đoạn chuyển đổi như Việt Nam hiện nay Việc quản lý thế nào là hợp
Trang 20lý để phát huy được tiềm năng và giảm thiểu các nguy cơ tiềm ẩn, chính là bài toánkhó đặt ra không chỉ riêng cho các nhà quản lý thị trường chứng khoán Việt Nam.
3 Tình hình hoạt động của thị trường OTC ở Việt Nam
a Mô hình thị trường
Tháng 6/2004 Bộ tài chính đưa ra thông báo số 136/TB/BTC nêu kết luận của lãnh đạo bộ về mô hình và tổ chức xây dựng thị trường giao dịch chứng khoán Việt Nam Trong đó, định hướng xây dựng trung tâm giao dịch chứng khoán hà Nội thành Trung tâm giao dịch phi tập trung (OTC) đơn giản, gọn nhẹ Theo đó,trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội sẽ phát triển theo 2 giai đoạn:
Giai đoạn 1: từ 2005- 2007: thị trường giao dịch chứng khoán Hà Nội
sẽ tổ chức đấu giá cổ phần, các tài sản chính thức, tổ chức đấu thầu trái phiếu, đồng thời tổ chức giao dịch thứ cấp cho chứng khoán niêm yết theo mô hình OTC đơn giản
Giai đoạn 2: Từ sau năm 2007 sẽ phát triển thị trường giao dịch
chứng khoán Hà Nội thành thị trường chứng khoán phi tập trung OTChoàn chỉnh phù hợp với quy mô phát triển của thị trường chứng khoánViệt Nam
Ngày 8/3/2005 Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội chính thức khai trương hoạt động, đánh dấu 1 bước phát triển mới của thị trường chứng khoán Việt nam
b Quy mô thị trường
Cuối năm 2011, Việt Nam đã có hơn 600.000 công ty được thành lập Tuy
nhiên, mới chỉ có 305 (năm 2012) công ty niêm yết trên Sở giao dịch Chứngkhoán thành phố Hồ Chí Minh và 397 (năm 2012) công ty niêm yết tại Trungtâm giao dịch Chứng khoán Hà Nội, số còn lại giao dịch “lang thang” trên thịtruờng tự do Hiện nay chưa có một thống kê chính thức về quy mô và khốiluợng giao dịch hàng ngày trên thị truờng này Tổng vốn điều lệ của các công
ty này lớn hơn rất nhiều lần khối lượng vốn hoá trên thị trường chính thức
Trang 21Đây chính là nguồn cung của thị trường OTC Hay nói theo cách của một sốngười thường nói là thị trường OTC ở Việt Nam rất nhiều tiềm năng Khôngphải cổ phiếu của tất cả các công ty cổ phần đều được mua bán trao đổithường xuyên mà chỉ có một ít trong số đó được giao dịch Có những loại cổphiếu gần như không bao giờ được giao dịch Đây chính là những cổ phiếu màcác nhà đầu tư có tổ chức, nhất là các quỹ đầu tư rất quan tâm.
c Tình hình thị trường OTC Việt Nam những năm gần đây
Năm 2010
Nếu xem thị trường cổ phiếu tự do (OTC) là cầu nối giữa thị trường
sơ cấp và thị trường niêm yết, thì có thể nói, năm 2010 là năm "sập cầu": Thị trường cổ phiếu tự do (OTC) không chỉ trầm lắng, thị trường
OTC ngày càng bị thu hẹp cả về thanh khoản và giá trị
Hiện chưa có đầu mối nào thống kê giá trị và khối lượng giao dịch trênthị trường OTC, nhưng điều dễ nhận thấy là số cổ phiếu có giao dịch rất
ít Việc đóng cửa giao dịch cổ phiếu OTC tại một số sàn giao dịch doCTCK mở ra trong năm 2010 góp phần hạn chế giao dịch trên thị trường
tự do Chợ cổ phiếu OTC MB tại Liễu Giai (Hà Nội) tan rã tự nguyện saukhoảng thời gian hai năm hoạt động Mặc dù cơ quan quản lý chưa "ratay", nhưng trước một số vụ "nổ" của các môi giới tự do khiến nhà đầu tưmất niềm tin Sau đó, một số CTCK có ý định tổ chức một địa điểm đểcác môi giới, nhà đầu tư trao đổi thông tin mua bán cổ phiếu OTC nhưPSI, VNDirect, nhưng cũng không tồn tại được lâu
Năm 2011
Thị trường 6 tháng đầu năm 2011 không quá bi đát, thậm chí còn sôi
động hơn niêm yết, bởi một số cổ phiếu ngân hàng được mua mạnh nhưTechcombank, VPBank Thị trường bắt đầu “chết” từ giữa tháng 5, cổphiếu doanh nghiệp thì “chết” từ đầu năm nhưng nhóm cổ phiếu ngânhàng trên thị trường OTC đầu năm 2011 giao dịch khá sôi động Một số
Trang 22cổ phiếu ngân hàng như Techcombank có giá khoảng 17.000 - 22.000đồng/cp, VPBank lên 12.000 đồng/cp vào thời điểm quý 1/2011, giáVPBank vào khoảng 7-8 nghìn đồng/cp, giá Techcomabnk khoảng12.000 đồng/cp trong khi giá một số cổ phiếu ngân hàng trên sàn đềugiảm trên 50% như Habubank (HBB) xuống sát 4.000 đồng/cp, SHBxuống 6.000 đồng/cp.
Đến tháng 11/2011, thị trường bắt đầu phân hóa và đánh sập rất nhiều
mã, cầu khách lẻ không xuất hiện Thị trường chính liên tiếp thủng đáykhiến giá OTC bắt buộc phải xuống Trong tiềm thức người bán hàngkhông bao giờ muốn bán rẻ trong khi người mua không muốn mua đắt do
đó dẫn đến tình trạng mất thanh khoản toàn cục trên thị trường OTC.Điểm đặc biệt trên thị trường OTC năm 2011 là không có sóng cổ phiếusắp niêm yết Trước đây các cổ phiếu sắp niêm yết đều được mua bánnhộn nhịp nhưng năm 2011 dường như điều đó không xảy ra
Việc sáp nhập 3 ngân hàng khiến cổ phiếu ngân hàng OTC ngừng hẳn giao dịch
Tháng 11/2011 gần như thị trường OTC ngừng hết các lệnh Từ khi có
thông tin sáp nhập 3 ngân hàng, nhà đầu tư lúc nào cũng trong tình trạng nghingờ ngân hàng nào sẽ sáp nhập do đó ngưng hẳn các lệnh, kể cả nhà đầu tư tổchức Cổ phiếu của ngân hàng Đệ Nhất và Tín Nghĩa không có giao dịch ngay
từ đầu năm, trong khi cổ phiếu của ngân hàng Sài Gòn (SCB) thanh khoảnkhá tốt, nhưng giao dịch không diễn ra tháng sau sáp nhập mà diễn ra khoảngtháng 7/2011
Năm 2011 thị trường gần như không có thanh khoản nếu không có sự
thôn tính Trên thị trường OTC cổ phiếu ngành ngân hàng luôn có tín hiệu M&A tính độ thấp, giống như mua tích lũy, mua đến 4,9% thì ngừng lại rồi bán cho nước ngoài hoặc bán cho cổ đông chiến lược.
4. UpCOM
a Lịch sử hình thành
Trang 23Thị trường UpCom được xây dựng dựa trên nhu cầu phát triển TTCK nóichung tại Việt Nam, có các ý kiến tư vấn của chuyên gia nước ngoài, có khungpháp lý cho thị trường đầy đủ, tạo một cơ chế hoạt động vừa linh hoạt, vừa chặtchẽ, đem lại quyền lợi chính đáng cho doanh nghiệp, bảo vệ lợi ích nhà đầu tư.
Nó được tổ chức và quản lý bởi cơ quan quản lý Nhà nước Cơ sở pháp lý đểvận hành thị trường đã được Chính phủ, Bộ Tài chính, UBCKNN và các đơn vịliên quan xây dựng và ban hành đầy đủ và tương đối hoàn chỉnh Các quyền vàlợi ích hợp pháp của các bên tham gia thị trường được đảm bảo Do đó, rủi rocủa nhà đầu tư khi giao dịch được giảm thiểu một cách tối đa
Khi mới ra đời thị trường này gặp khá nhiều khó khăn và bất cập khiến cho thịtrường này chưa thực sự hấp dẫn Các công ty chứng khoán chưa phát huy đượchết vai trò của mình một phần do chưa đầu tư đúng mức về nguồn lực cho thịtrường UPCOM, một phần do còn cảm thấy rủi ro đối với những chứng khoán
có tính thanh khoản thấp Thanh khoản trên thị trường UPCOM không cao mộtphần do các cổ phiếu giao dịch tại đây ít được nhà đầu tư quan tâm, mặt khác,phương thức giao dịch thỏa thuận điện tử áp cũng là một trong những yếu tốlàm hạn chế việc chuyển nhượng cổ phiếu Tuy nhiên, hiện nay thị trườngUPCOM đang hoạt đông rất sôi động thu hút được sự quan tâm của nhiều doanhnghiệp, công ty Thị trường UPCOM thời gian qua cũng đã có những phát triểnrất đáng ghi nhận, đặc biệt về quy mô thị trường, quy mô giao dịch Các doanhnghiệp trên thị trường UPCOM khá đa dạng về quy mô hoạt động, ngành nghềkinh doanh và trong số đó nhiều doanh nghiệp có kết quả kinh doanh khá khảquan Thị trường UPCOM đã có những phiên giao dịch khá ấn tượng với sựtăng trưởng về khối lượng giao dịch và chỉ số giá toàn thị trường Giá trị giaodịch chứng khoán bình quân tăng từ 4 tỷ đồng/phiên lên 13 tỷ đồng /phiên Đặcbiệt, có phiên giao dịch UPCOM giá trị giao dịch lên tới 86 tỷ đồng
Giao dịch trên thị trường UPCOM có độ an toàn cao hơn Độ an toàn khi giaodịch trên thị trường UPCOM thể hiện ở chỗ nhà đầu tư phải có tiền trong tài
Trang 24khoản mới thực hiện được lệnh mua và phải có chứng khoán trong tài khoản thìmới thực hiện được lệnh bán Đặc biệt, tại thị trường UPCOM, với sự có mặtcủa các công ty chứng khoán với vai trò là tổ chức cam kết hỗ trợ, đơn vị trunggian kết nối giữa nhà đầu tư, công ty với HaSTC, nhà đầu tư sẽ giảm thiểu thờigian tìm kiếm đối tác, giảm thiểu các rủi ro, tiết kiệm chi phí giao dịch, đảm bảocông khai giá và khối lượng giao dịch
Thị trường OTC mà nhà đầu tư thường gọi thực tế là thị trường chợ đen, thịtrường xám Trên thị trường này, giao dịch tự phát, không được thanh toán tậptrung, chứng khoán không được lưu ký, việc mua bán thông qua các nhà môigiới tự do, không được cấp phép nên có nhiều yếu tố rủi ro mà tổ chức pháthành, công ty chứng khoán tổ chức hoạt động giao dịch trên không chịu tráchnhiệm với nhà đầu tư Ngược lại, thị trường UPCOM là thị trường có tổ chức có
sự quản lý của nhà nước, minh bạch thông tin, minh bạch giá cả, thanh toán tậptrung và chứng khoán được lưu ký tập trung tại TT lưu ký chứng khoán trướckhi giao dịch Với thị trường UPCOM, các doanh nghiệp, các nhà đầu tư sẽ cóđược một sân chơi chuẩn với khung pháp lý chặt chẽ, tránh tình trạng bị lừađảo, bị làm giá Đối với thị trường UpCom, nhà đầu tư giao dịch tại công tychứng khoán theo phương thức thỏa thuận Kết quả giao dịch được chuyển qua
hệ thống UpCom để chuyển đến Trung tâm lưu ký chứng khoán thực hiện thanhtoán UPCOM thực hiện theo phương thức giao dịch thỏa thuận nhằm tạo ratính linh hoạt và giao dịch trọn gói Giao dịch trên thị trường UPCOM đượcthực hiện bởi sự thỏa thuận gián tiếp giữa những người bán, người mua thôngqua công ty chứng khoán Nó áp dụng duy nhất hình thức bù trừ đa phương, vớithời hạn thanh toán là T+3 Thời gian giao dịch từ thứ hai đến thứ sáu hàngtuần, từ 8h30 đến 15h00, (thời gian nghỉ từ 11h30 đến 13h30) Trừ các ngàynghỉ theo quy định trong Bộ luật Lao động
UPCOM có chỉ số tổng hợp, được công bố tương tự như VN-Index, Index Trên UPCOM, biên độ giao động giá là +/- 10% (trong khi tại sàn Hà Nội
Trang 25HASTC-là +/- 7%, sàn TPHCM HASTC-là +/-5%) Khi tham gia thị trường UpCom, nhà đầu tư sẽđược nhận các thông tin doanh nghiệp, giá cả, việc thanh toán đảm bảo nhưtrên thị trường niêm yết
b Phương thức giao dịch của UPcom
Điều kiện tham gia thị trường
Đối với các tổ chức phát hành chứng khoán
- Công ty đại chúng có vốn điều lệ trên 10 tỷ đồng và tối thiểu có 100 cổđông sở hữu (Luật CK, điều 25)
- Đã thực hiện lưu kí tại TTLKCK
- Được một công ty chứng khoán thành viên hệ thống đăng kí giao dịchcủa SGDCK Hà Nội cam kết hỗ trợ
Hồ sơ đăng kí giao dịch chứng khoán của công ty đại chúng chưa niêm yếtbao gồm các tài liệu sau:
- Giấy đề nghị đăng kí giao dịch chứng khoán tại TTGDCK
- Hợp đồng cam kết hỗ trợ theo mẫu do TTGDCK quy định, trừ trườnghợp thành viên làm thủ tục đăng kí giao dịch cho chứng khoán của chínhcông ty mình
- Bản công bố thông tin
- Giấy chứng nhận đăng kí lưu kí chứng khoán do TTLKCK cấp
Tổ chức phát hành
(công ty đại chúng)
Công ty chứng khoán
(tổ chức cam kết hỗ trợ)