Tuy nhiên, lưu ý rằng hầu hết các tổ chức cần phải thực hiện một số hàng tồn kho, quan trọng hơn, mang hàng tồn kho trong thực tế có thể cho phép một tổ chức giảm chi phí trong một phạm
Trang 1BÀI TẬP NHÓM 6
QUẢN LÝ CHUỖI CUNG CẤP TOÀN CẦU
Giáo viên giảng dạy: TS Nguyễn Văn Nghiễn
Danh sách học viên nhóm 6:
Bùi Xuân Tiệp Nguyễn Thị Hoàng Trang Phạm Thanh Tình
Vũ Mạnh Triều Hoàng Văn Trình Nguyễn Thị Thương
Trang 2CHƯƠNG 6 QUẢN LÝ HÀNG TỒN KHO TRONG CHUỖI CUNG ỨNG
MỤC TIÊU
Hiểu được tầm quan trọng của sự phối hợp hàng tồn kho trong chuỗi cung ứng
Đánh giá được vai trò và tầm quan trọng của hàng tồn kho trong nền kinh tế
Hiểu được những lý do chính về việc dự trữ hàng tồn kho
Thảo luận các loại chi phí liên quan đến hàng tồn kho và mối quan hệ của chúng đến việc ra quyết định về dự trữ hàng tồn kho của doanh nghiệp
Hiểu được cách phân loại các danh mục hàng tồn kho
Thảo luận, đánh giá hiệu quả các doanh nghiệp trong việc quản lý hàng tồn kho của họ
TÌNH HUỐNG CỦA MICROS AND MORE
"HTK, HTK, HTK, Tôi phát ốm và mệt mỏi khi suốt ngày phải nghe những lời phàn nàn về mức độ hàng tồn kho và những khoản chi phí liên quan đến việc dự trữ hàng tồn kho" Jim Gatto càu nhàu, giám đốc điều hành và là người đồng sáng lập Micros and More "Tôi phải làm gì đây?" Chúng ta cần HTK để cho việc lắp ráp máy tính và chúng ta cần HTK để đáp ứng yêu cầu dịch vụ khách hàng của chúng tôi Tôi biết rằng, có quá nhiều HTK sẽ làm tăng giá hàng hóa khi bán ra, điều này có nghĩa là giá cả sẽ cao hơn hay lợi nhuận biên thấp hơn Kể từ đó, các bài báo về máy tính Dell được xuất bản trên tờ Business Week chỉ ra rằng,
họ quay vòng hàng tồn kho 15 lần 1 năm và họ mong đợi sẽ đạt đến 75 vòng, một số người xung quanh đây có cái nhìn chê bai định hướng của tôi Tôi không thể dùng cây đũa thần để biến hết hàng tồn kho đi rồi lại làm chúng xuất hiện khi tôi cần được Lần đầu tiên chúng tôi thiếu các linh kiện cho một trong những máy tính mà chúng tôi lắp ráp trong nhà máy hay chúng tôi cũng không thể giao các linh kiện để sửa chữa những máy tính mà chúng tôi đã bán cho Penn State hay Raytheon, tôi như bất động trong hình nộm Dường như tôi trở lên bất lực Trong những ngày này, tôi cảm thấy như là vật tế thần của tất cả mọi người.
Jim Gatto ở trong văn phòng một mình, bởi vậy không ai nghe được cuộc độc thoại của anh Jim quá nhạy cảm về những lời nhận xét được đưa ra trong cuộc họp Ban giám đốc, khi
kế toán trưởng của Miros và More,Terry Edwards xem xét những dữ liệu tài chính hiện tại Lớn giọng nhất là Dr Roy Buck, một giáo sư đã về hưu từ Penn State và cũng là cổ đông chính Ông ấy là người đã phân phát báo Business Week trong nhiều tháng nay và nói đi nói lại về vấn đề dư thừa HTK Vấn đề ở đây là rất nhiều thành viên trong Ban giám đốc, đặc biệt
là Tiến sĩ Buck không hiểu được vai trò của HTK trong 1 doanh nghiệp Đối với họ, HTK là một chi phí mà làm tăng giá bán của hàng hóa bán ra Nó nên để ở mức tối thiểu và loại bỏ nếu Micros and More tiếp tục tăng trưởng và có lợi nhuận
Doanh nghiệp cổ phần hóa vào năm 1995 và bán cổ phiếu thông qua các doanh nghiệp môi giới địa phương Nó trở thành cổ phiếu hấp dẫn và đã thu hút khá nhiều nhà đầu tư Hội đồng của họ bao gồm các cổ đông lớn như Tiến sĩ Buck và cả những giám đốc doanh nghiệp địa phương như chủ tịch khu vực của ngân hàng Mellon Ralph papa và nhà phát triển bất động sản Ed Friedman
Bối cảnh hiện tại
Trang 3Micros and More đã đa dạng hóa dòng sản phẩm và mở rộng đối tương khách hàng để tiếp tục gia tăng thị phần Sản lượng bán hàng đã đạt được ngưỡng 10 tỷ đô la trong năm
2000 Điều này đã luân chuyển vốn từ một khoản vay lớn ở ngân hàng Mellon thành đầu tư xây dựng nhà máy và nhà kho mới ở Clearfield, Pennsylvania, với hy vọng để bán máy tính tới Walmart, nơi mà có 1 nhà kho lớn gần Clearfield Đây là tầm nhìn phát triển kinh doanh bước sang một nấc thang mới.
Bối cảnh doanh nghiệp
Micros and More được thành lập năm 1985 ở Houtzadle, Pennsyl Vania bởi 2 người bạn có những kinh nghiệm bổ sung cho nhau và có những sở thích tương đồng trong kinh doanh Jim Gatto đã hoàn thành một khóa học về khoa học máy tính năm 1982 ở Penn State
và đã làm việc ở FishKill, New York, Doanh nghiệp máy điện toán IBM của Hoa Kỳ Terry Edwards từng học chuyên ngành tài chính ở Đại học Clarion và đã từng làm việc cho ngân hàng Mellon ở Pittsburgh trong nhiều năm nơi mà anh chuyên về hỗ trợ các doanh nghiệp địa phương nhỏ với nghiệp vụ ngân hàng và các vấn đề tài chính liên quan.
Jim và Terry đã có cuộc đối đầu nhau trong trận đấu bóng đá và đấu vật ở trường trung học và họ trở thành bạn của nhau từ đó Họ làm việc cùng nhau trong suốt hè cho một doanh nghiệp xây dựng đường quốc lộ sau khi tốt nghiệp trung học Họ duy trì liên lạc trong suốt thời gian học đại học và những công việc đầu tiên của mình Trong kỳ nghỉ Giáng sinh năm 1984, họ đã đi uống bia cùng nhau và bàn về việc muốn làm việc cho chính họ Cả 2 đều đam mê với công nghệ máy tính và họ muốn bắt đầu với doanh nghiệp máy tính riêng của mình tại trung tâm Pennsylvania Họ góp vốn, vay mượn từ nhiều nguồn khác nhau và bắt đầu hoạt động tại một nhà máy dệt may cũ ở Houtzdale, Pennsylvinia Tầm nhìn kinh doanh của
họ là cung cấp máy tính theo yêu cầu cho sinh viên các trường đại học và các doanh nghiệp nhỏ, cung cấp phần mềm đáp ứng nhu cầu của những khách hàng lẻ, cung cấp dịch vụ khách hàng, mà họ xác định rằng nó vượt quá sự mong đợi của bất kỳ ai.
Với sự may mắn và làm việc chăm chỉ, doanh nghiệp đã phát triển và thành đạt với con
số đáng kể từ năm 1985 đến năm 1995 Nhà máy ở Houtsdale đã được mở rộng và có gần 200 nhân công ở đây Họ đã chuyển trụ sở chính của họ đến trường đại học State Pennsylvinia bởi
vì gần Penn State và sự mọc lên của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở khu vực lân cận Penn State đã thiết lập một khu nghiên cứu để bảo trợ và giúp đỡ các doanh nghiệp nhỏ Research Park chính là nơi mà Micros and More đặt những văn phòng đầu tiên ở đó.
Sự suy thoái năm 2000 là một bước ngoặt cho Micros and More Ngành công nghệ máy tính cũng bị cuốn vào dòng xoáy này Sự cạnh tranh giữa các nhà sản xuất lớn hơn về quy mô
và tài chính càng trở lên khắc nghiệt Máy tính đã trở thành hàng hóa và được chào bán
Doanh nghiệp máy tính đang đối mặt với khả năng lợi nhuận biên giảm Và một nhu cầu thiết thực là cắt giảm chi phí để duy trì sản lượng bán ở mức giá cạnh tranh.
Jim Gatto nhận ra rằng, là một giám đốc điều hành, ông ấy đóng một vai trò quan trọng cho sự tồn tại của doanh nghiệp Hàng tồn kho chắc chắn là một trong những mục tiêu trọng tâm cần xem xét không chỉ là vấn đề quản lý kiểm soát hàng tồn kho mà còn mối quan
hệ của chúng với những yếu tố khác và khách hàng trong toàn bộ chuỗi cung ứng của doanh nghiệp Khi bạn đọc chương này, bạn hãy cân nhắc đến những thách thức của Jim Gatto Giả
sử bạn phải giúp ông ta hiểu được vai trò cũng như tầm quan trọng của HTK Ông ấy cũng cần có sự hiểu biết sâu sắc về các khoản chi phí liên quan đến HTK.
Trang 4LỜI GIỚI THIỆU
Tầm quan trọng của hàng tồn kho
Như đã trình bày trong chương 1, việc quản lý hiệu quả hàng tồn kho trong chuỗi cung ứng là một trong những nhân tố quan trọng dẫn đến thành công, trong chương 2 một trong những định nghĩa đề cập đến quản lý hậu cần là “quản lý hàng tồn kho là sự vận động hay là ngừng nghỉ” Hàng tồn kho là một tài sản trên bảng cân đối của doanh nghiệp, đảm nhận vai trò quan trọng bởi vì chiến lược của các hãng là giảm đầu tư vào TSCĐ như nhà xưởng, nhà kho, nhà văn phòng và các máy móc thiết bị Việc giảm đầu tư vào các tài sản cố định thông qua thuê từ đó làm ảnh hưởng đến việc gia tăng các chi phí Kết quả cuối cùng là các khoản mục tài sản trên bảng cân đối kế toán giữ một vị trí khá quan trọng, đặc biệt là hàng tồn kho
Tác động đến tài sản
Sự thay đổi hàng tồn kho ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận ròng trên tài sản (ROA) Tỷ suất lợi nhuận ròng trên tài sản là một chỉ số tài chính quan trọng từ trong và ngoài Giảm hàng tồn kho thường cải thiện tỷ suất lợi nhuận ròng trên tài sản, là một con số tích cực về hiệu suất cho các nhà đầu tư hiện tại và tiềm năng Sự đối ngược này hiển nhiên đúng khi đầu
tư hàng tồn kho tăng lên nếu không bù đắp được sự gia tăng doanh thu Ngay từ phần đầu chương, Jim Gatto của Micros and More cũng đang phải đối mặt với vấn đề này Khi lượng bán suy giảm, hàng tồn kho tăng lên, là một con dao hai lưỡi vào lợi nhuận, có nghĩa là doanh
số bán hàng thấp hơn và chi phí nhiều hơn, nhưng nó cũng có một tác động tiêu cực vào tỷ suất lợi nhuận ròng ROA - hay nói cách khác, ROA giảm
Cân bằng cung - cầu
Thách thức nữa đối với vấn đề quản lý hàng tồn kho là cân đối giữa cung hàng tồn kho
và cầu đối với hàng tồn kho Nói cách khác doanh nghiệp cũng muốn có đủ hàng tồn kho để đáp ứng nhu cầu của khách hàng nhưng lại không muốn có quá nhiều hàng tồn kho vì liên quan đến chi phí cho nó, đủ nhưng không quá nhiều đó là mục tiêu của doanh nghiệp Chương này và chương sau sẽ thảo luận về bản chất và vai trò của hàng tồn kho trong chuỗi cung ứng chỉ ra được những thách thức gặp phải trong vấn đề cung ứng và quản lý chuỗi cung ứng Trọng tâm chính của chương này đó là vấn đề quản lý hàng tồn kho hiệu quả, các khoản chi phí liên quan đến hàng tồn kho cũng như vấn đề phân loại chúng
HÀNG TỒN KHO TRONG NỀN KINH TẾ
Hàng tồn kho liên quan đến GDP
Trong suốt 2 thập kỷ qua (1980 và 1990) hàng tồn kho là tâm điểm chú ý của các doanh nghiệp Phải thừa nhận rằng, các doanh nghiệp dự trữ quá nhiều hàng tồn kho và kết quả là chi phí cho sản xuất hàng hóa, dịch vụ đã tăng lên Như thực tế hàng tồn kho của các Doanh nghiệp của Nhật được công khai hóa rất tốt Đầu những năm 1970, doanh nghiệp ô tô Ford ước tính, họ đang dự trữ nhiều hơn khoảng 15 lần hàng tồn kho so với tồn kho của Toyota, đây
là một bất lợi trong cạnh tranh Trong suốt những năm 1990, Định hướng quản lý chuỗi cung ứng đã chú ý đến tầm quan trọng của việc giảm thiểu hàng tồn kho trong chuỗi cung ứng để giảm các chi phí ở cuối chuỗi cung ứng
Những kết quả của việc "tấn công" vào chi phí hàng tồn kho có thể được chứng minh từ thông tin cung cấp trong bảng 6-1, cho thấy chi phí hàng tồn kho liên quan với tổng sản phẩm quốc dân từ năm 1985 đến 2000 Như bạn chờ đợi, mức độ và giá trị hàng tồn kho tăng lên cùng với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, được đo lường bởi tổng sản phảm quốc dân (GDP) Tuy nhiên vấn đề quan trọng là liệu tổng chi phí hàng tồn kho trong nền kinh tế có
Trang 5tăng với tỷ lệ tương ứng với sự tăng trưởng nền kinh tế Tỉ lệ tăng thấp rõ ràng chỉ ra sự cái tiến tích cực rong việc giảm cấp độ hàng tồn kho Cột 2 cho thấy tổng giá trị của hàng tồn kho
ở doanh nghiệp mỗi năm từ 1985 đến 2000 Cột 3 cho thấy tỷ lệ chi phí dự trữ hàng tồn kho mỗi năm, phản ánh tỷ lệ lãi suất và các nhân tố khác đã được thảo luận Cột 4 là kết quả của cột 2 nhân với cột 3 Cột 5 là tổng sản phẩm quốc dân GDP Cột 6 là chi phí dự trữ hàng tồn kho cũng như % GDP
Nếu chúng ta so sánh năm 1985 với năm 2000, chúng ta sẽ thấy có một sự thay đổi đáng kế, % hang tồn kho trên GDP giảm từ 5,4 xuống còn 3,8%, trong khi chi phí dự trữ hàng tồn kho tăng từ 227 tỷ lên 377 tỷ, nói một cách tương đối thì những chi phí này đã giảm một cách đáng kể Kết luận lại, những nỗ lực để giảm thiểu hàng tồn kho đã thành công Thật dễ dàng để thấy rằng, đã có những giai đoạn thăng trầm Ví dụ năm 1988 là 4,9% đến năm 1989
là 5,2% Tương tự cũng có một sự gia tăng từ năm 1994 - 1995 (3,8% - 4,1%) và từ 1999 -
2000 (3,6% - 3,8%) với sự tăng lên trong chi phí dự trữ hàng tồn kho Trong khi xu hướng lại giảm dần, những thay đổi từ năm này sang năm cho thấy nhiều doanh nghiệp phải đối mặt với các yếu tố biến động
Sự sụt giảm tương đối trong hàng tồn kho
Sự tập trung của chúng ta chắc chắn theo đúng hướng, rõ ràng giảm chi phí dự trữ hàng tồn kho - một số liệu tích cực cho nền kinh tế và các tổ chức kinh doanh nói chung Như đã nêu, các khoản chi phí liên quan đến hàng tồn kho sẽ nằm trong giá của sản phẩm và dịch vụ
Sự giảm trong chi phí hàng tồn kho, đặc biệt là nếu không có sự suy giảm trong dịch vụ khách hàng có lợi đối với cả người bán và người mua
Nhu cầu hàng tồn kho
Như đã được thảo luận ở chương 2, không chỉ những khoản chi phí liên quan đến việc
dự trữ hàng tồn kho giảm xuống trong suốt 15 năm trước mà còn cả chi phí vận chuyển tương
Trang 6đối cho hàng tồn kho cũng giảm Tác động kết hợp của hàng tồn kho và sự vận chuyển trong nền kinh tế những năm 1990 đã là một nhân tố tích cực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phồn thịnh, giúp cho các doanh nghiệp của Mỹ có khả năng cạnh tranh cao hơn.
Tiếp tục xu hướng giảm lượng hàng tồn kho rõ ràng là quan trọng, khung phân tích chuỗi cung ứng mà chúng tôi đã thảo luận dẫn đến hiệu quả cao hơn của hàng tồn kho Tuy nhiên, lưu ý rằng hầu hết các tổ chức cần phải thực hiện một số hàng tồn kho, quan trọng hơn, mang hàng tồn kho trong thực tế có thể cho phép một tổ chức giảm chi phí trong một phạm vi liên quan, ví dụ như hậu cần hoặc sản xuất Khái niệm chi phí chi phí cơ hội(sự cân bằng các yếu tố khác nhau để đạt được sự kết hợp tốt nhất/tổng thể) được thảo luận trong Chương 2 có liên quan đến việc đánh giá sự cần thiết dự trữ hàng tồn kho Phần tiếp theo tìm hiểu những lý
do chính mà các doanh nghiệp thực hiền hàng tồn kho và việc cân bằng các yếu tố khác nhau
để đạt được sự kết hợp tốt nhất trong chi phí;
Quay vòng hàng tồn kho
Nghĩ đến quay vòng hàng tồn kho như là một thước đo các sản phẩm của một doanh nghiệp tốt như thế nào trên thị trường cũng như vấn đề quản lý hàng tồn kho tốt như thế nào Điều này được hiểu là số lần trong một năm các doanh nghiệp cũng như các nhà bán lẻ và nhà sản xuất có thể bán hoặc sử dụng toàn bộ hàng tồn kho nguyên liệu thô hoặc thành phẩm Doanh nghiệp càng có thể quay vòng được hàng tồn kho bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu Lý
do rất đơn giản: Các doanh nghiệp muốn chuyển đổi hàng hóa và vật liệu vào tiền mặt càng nhanh càng tốt Ngoài ra, chi phí vào hàng tồn kho tốn rất nhiều tiền, cả về vốn trong các sản phẩm tồn kho và các chi phí liên quan đến kho hàng, vì thế, doanh nghiệp muốn đẩy hàng tồn kho của nó ra khỏi cửa nhanh hơn, lợi nhuận trên đầu tư hàng tồn kho cao hơn và dòng chảy tiền mặt của nó tốt hơn
Ông Andy Chatha, một nhà phân tích của tập đoàn tư vấn ARC"Bất cứ khi nào bạn dự trữ hàng tồn kho, nó có nghĩa là nguồn lực của bạn không tạo ra dòng chảy tiền mặt", một nhà
tư vấn sản xuất trong Dedham, Massachusetts cũng nói "lý tưởng nhất, bạn muốn có hàng tồn kho bằng không, nếu bạn muốn tối đa hóa dòng tiền” Ông Chacha cho hay số lượng trung bình quay vòng hàng tồn kho thay đổi rất nhiều bởi ngành công nghiệp và các doanh nghiệp trong phân đoạn ngành công nghiệp Ví dụ, tỷ lệ này là đặc biệt quan trọng trong các ngành công nghiệp phải đối mặt với giá cả đáng kể và áp lực cạnh tranh, lợi nhuận thấp, và tỷ lệ lỗi thời nhanh chóng Chúng bao gồm các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp ô tô, điện tử tiêu dùng, và máy tính, cộng với các nhà bán lẻ của tất cả các loại, các nhà phân tích Các doanh nghiệp trong các lĩnh vực có tỷ lệ hàng tồn kho có doanh thu cao, vì chi phí giữ hàng hoá trong siêu cạnh tranh, nhanh chóng phát triển các khu vực có thể là không thể chấp nhận được cao Một số doanh nghiệp như máy tính Dell được xem như có nhiều chuyên gia là một trong những nhà lãnh đạo trong quản lý hàng tồn kho có tỷ lệ doanh thu là khoảng 30-40 lần mỗi năm
Ông David Monroe, một nhà phân tích tại Tập đoàn Nghiên cứu PlantWide, phía Bắc Billerica, nhà tư vấn sản xuất có trụ sở tại Massachusetts cho hay các doanh nghiệp được hưởng lợi từ cải thiện quay vòng hàng tồn kho, thậm chí với khối lượng tương đối hoặc sản phẩm phát triển chậm, bởi vì các cùng yếu tố chi phí mà các doanh nghiệp với các sản phẩm phát triển nhanh Ông cũng nói "thực tế, các ngành công nghiệp duy nhất không phải lúc nào cũng là trong hàng không vũ trụ và quốc phòng," sự cần thiết phải duy trì lượng tồn kho các mặt hàng trong thời gian dài hơn thời gian là một phần của mô hình kinh doanh bởi vì tỷ lệ lỗi thời thấp hơn,
Trở nên tốt hơn ở mọi thời đại
Trang 7Một nghiên cứu được công bố trong tháng 12 năm 1999 bởi doanh nghiệp quản lý Pittiglio, Rabin, Todd, & McGrath ở Waltham, Massachusetts, cho thấy rằng các doanh nghiệp
Mỹ đã cải thiện đáng kể quay vòng hàng tồn kho của họ trong những năm qua Theo báo cáo, vòng quay hàng tồn kho của Mỹ tăng hơn 12% từ năm 1994 đến 1998 với trung bình 5,4 lượt hàng năm Báo cáo cũng chỉ ra trong cùng thời gian, trung bình tiền mặt, và số ngày trả tiền cho nguyên liệu và nhận được thanh toán cho các sản phẩm cải thiện bằng 10% đến 100 ngày
Báo cáo cho biết điều chỉnh vòng quay hàng tồn kho là cách để giải quyết giảm lợi nhuận và làm chậm tăng trưởng hàng năm Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp lớn của Mỹ cũng đã đầu tư hàng triệu đô la trong vài năm qua để tự động hóa quy trình quản lý hàng tồn kho của
họ bằng cách sử dụng các công cụ quản lý chuỗi cung ứng phức tạp
Ông Monroe cho hay ,việc chuyển đổi liên tục từ các mô hình sản xuất dự báo truyền thống tới mô hình linh hoạt hơn như nhu cầu xây dựng, trinh tự xây dựng và sản xuất dòng chảy cũng đang thay đổi cái cách mà cách nhìn của các doanh nghiệp vào hàng tồn kho Việc nhấn mạnh một chuỗi cung ứng tích hợp đầy đủ có nghĩa là hàng tồn kho hầu như không tốn nhiều thời gian không sử dụng
Nguồn: Jaikumar Vijayan, Computerworld, Framingham, Mass (7 tháng 5, 2001)
Việc tiếp tục tập trung vào việc giảm mức độ hàng tồn kho rõ ràng là quan trọng và khung chuỗi cung ứng mà chúng ta đang thảo luận dẫn đến hiệu quả tồn kho bổ sung Tuy nhiên, cần phải chú ý lại là hầu hết các doanh nghiệp cần dự trữ một số hàng tồn kho, quan trọng hơn dự trữ hàng tồn kho còn cho phép các doanh nghiệp giảm chi phí ở phạm vi liên quan khác như vận chuyển hay sản xuất Khái niệm chi phí đánh đổi được trao đổi ở chương 2
đề cập việc đánh giá nhu cầu của dự trữ hàng tồn kho Phần tiếp theo sẽ đưa ra lý do chính mà các doanh nghiệp cần dự trữ hàng tồn kho và chi phí đánh đổi
HÀNG TỒN KHO TRONG CÁC DOANH NGHIỆP - CƠ SỞ HỢP LÝ CHO HÀNG TỒN KHO
Doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng
Như đã nêu trước đó, hàng tồn kho đóng một vai trò kép trong doanh nghiệp Hàng tồn kho không những ảnh hưởng đến chi phí bán hàng mà giúp đáp ứng đơn hàng (dịch vụ khách hàng)
Bảng 6-2 chỉ ra tổng hậu cần cho nền kinh tế và chỉ ra rằng chi phí dự trữ hàng tồn kho trung bình khoảng 35% tổng chi phí hậu cần cho các doanh nghiệp Doanh nghiệp sản phẩm tiêu dùng và các nhà bán buôn và bán lẻ là một phần của kênh phân phối đang phải đối mặt với một thách thức đặc biệt trong việc giữ hàng tồn kho ở mức chấp nhận được,
Trang 8bởi vì khó khăn trong việc dự đoán nhu cầu và mong muốn của khách hàng về sản phẩm có sẵn nào Cả hai về các yếu tố này trở nên trầm trọng thêm bởi sự gia tăng của dòng sản phẩm của họ.Ví dụ, nếu Kimberly-Clark ước tính và dự báo nhu cầu cho tã dùng một lần trong quý đầu tiên của năm tiếp theo là 5 triệu tá tã, họ sẽ phải giảm có số này bằng đơn vị phân loại hàng hóa tồn kho SKU, dựa trên màu sắc/thiết kế, loại bao gói, thiết kế Do đó, sẽ có hơn một nghìn đơn vị tồn trữ khác nhau (SKU) mà yêu cần cần dự báo riêng và mức độ tồn kho an toàn Sở thích của người tiêu dùng có thể thay đổi nhanh chóng điều này làm cho mức tồn kho trở lên đặc biết để có thể đáp ứng được yêu cầu dịch vụ của khách hàng Để minh họa mặt chi phí của những thách thức, giả định rằng Kimberly-Clark dự kiến để thực hiện một hàng tồn kho trung bình hàng tháng trong quý đầu tiên của năm là 500.000 chục tã (hãy nhớ rằng nó sẽ được sản xuất mỗi ngày tại các nhà máy khác nhau của nó) Nếu mỗi tá tã có giá trị tại $ 5,00, giá trị của hàng tồn kho sẽ là $ 2.500.000 ($ 5 × 500.000) Nếu chi phí của nó mang hàng tồn kho (được giải thích chi tiết hơn) là 20%, đồng đô la chi phí của nó mang giá trị tồn kho sẽ là
$ 500.000 trên một cơ sở hàng năm (Hãy nhớ rằng, điều này là chỉ dành cho tã,không phải tất cả các sản phẩm giấy của Kimberly-Clark) Nếu hàng tồn kho trung bình thay đổi 600.000 tá, điều này sẽ dẫn đến một $ 100.000 chi phí hàng tồn kho Nếu tăng trong hàng tồn kho trung bình không kèm theo sự gia tăng doanh số bán hàng, sau đó Kimberly-Clark sẽ phải đối mặt với một mức lợi nhuận giảm Hy vọng rằng, điều này dã chỉ ra rằng việc quản lý hàng tồn kho là một yếu tố quan trọng cho thành công trong nhiều doanh nghiệp Đáng ngạc nhiên, có lẽ, nhiều doanh nghiệp đã phản ứng những thách thức, như được chỉ ra bởi các dữ liệu vĩ mô trong phần trước và có giảm mức hàng tồn kho trong khi vẫn duy trì mức độ dịch
vụ khách hàng phù hợp.Khả năng của họ để đạt được các mục tiêu song sinh của hàng tồn kho thấp hơn (hiệu quả), xét duyệt cá nhân dịch vụ khách hàng (hiệu quả) được dựa trên một số yếu tố thảo luận trong chương này và chương tiếp theo Một điểm khởi đầu tốt đẹp là một sự
Trang 9hiểu biết của lý do tại sao các doanh nghiệp thường phải để hàng tồn kho và việc đánh đổi và các mối quan hệ.
Tồn kho chu kỳ
Tiết kiệm cùng lô hoặc tồn kho chu kỳ thường xuất phát từ ba nguồn - mua lại, sản xuất, và / hoặc vận chuyển Quy mô nền kinh tế thường gắn liền với tất cả ba nguồn và điều này dẫn đến việc tích lũy hàng tồn kho chưa được sử dụng hoặc bánluôn - có nghĩa là sẽ có tồn kho chu kỳ hoặc hàng tồn kho sẽ được sử dụng hết hoặc bán ở một thời điểm nào đấy
Trong phạm vi tiếp nhận hoặc mua bán , điều này chả có gì lạ để có một lịch trình của giá cả phản ánh số lượng mua, đó là, đơn giá thấp hơn cho số lượng nhiều.Giảm giá mua cũng được phổ biến cho các mặt hàng tiêu dùng cá nhân; ví dụ: hộp xà phòng lớn hay ngũ cốc thường được bán với một mức giá thấp hơn cho mỗi ounce Khi chúng tôi mua hộp lớn hơn, chúng tôi có chu kỳ tồn khõ Những gì chúng tôi không sử dụng luôn, nó sẽ được lưu trữ Khi các doanh nghiệp mua nguyên liệu, vật tư, đặc biệt là trong nền kinh tế toàn cầu của chúng ta,
họ thường được chào giảm giá cho số lượng lớn hơn Logic đánh đổi đã được đề cập cho thấy rằng các khoản tiết kiệm giảm giá phải được so sánh với chi phí thực hiện việc tồn kho bổ sung Điều này sẽ được phân tích cụ thể trong chương tới Mặc dù khung phân tích có sẵn để phân tích chiết khấu thương mại, có những trường hợp hai doanh nghiệp chỉ tập trung vào các khoản tiết kiệm giá và điều chỉnh giảm giá so với chi phí hàng hóa bổ sung
Giảm cước vận chuyển
Hình thức giảm giá xảy ra trong dịch vụ hậu cần Các doanh nghiệp hậu cần thường chào giá giảm cho nhập hàng với số lượng lớn Trong ngành vận chuyển ôto, một ví dụ phổ biển là giá sẽ thấp cho vận chuyển cả 1 xe tải Các doanh nghiệp hậu cần tiết kiệm chi phí trong việc giao nhận và phí xếp dỡ , những chi phí này phản ánh vào giá cước cho người chở hàng Gía của trọng lượng hậu cần xe tải chỉ là một ví dụ cho vận chuyển loại động cơ; có số lượng giảm giá bổ sung có sẵn Số lượng lô hàng lớn hơn để điều chỉnh cho việc giảm giá có tác dụng tương tự như số lượng mua nhiều cụ thể là tồn kho chu kỳ Yêu cầu đánh đổi là như nhau Liệu tiết kiệm chi phí nhiều hơn có bù đắp chi phí dự trữ thêm hàng tồn kho?
Điều này cần lưu ý là cách tiết kiệm trong giá mua và tiết kiệm chi phí hậu cần có thể
bù nhau Đó là , khi các doanh nghiệp mua với số lượng lớn nguyên liệu thô hoặc vật tư, họ có thể vận chuyển số lượng lớn hơn kết quả là giảm giá hậu cần Vì vậy, họ thường xuyên nhận đuowcj 2 giá giảm cho cùng một mặt hàng mua, điều này có thể làm cho việc đánh giá đánh đổi là tích cực, tuy nhiên, điều này vẫn cần được phân tích Như đã được thảo luận, một trong những thách thức lớn cho các doanh nghiệp là không thể tính toán chi phí hậu cần chính xác
Tiết kiệm sản xuất
Tiết kiệm cùng loại hàng thứ ba liên quan với sản xuất hoặc chế tạo Nhiều doanh nghiệp nhận ra rằng chi phí sản xuất của họ trên một đơn vị đã giảm đáng kể khi họ phải sản xuất lâu cho cùng một sản phầm Duy trì sản xuất kéo dài hay cùn một lô sẽ dẫn đến tồn kho chu kỳ cho đến khi chúng được bán Như trước đây, doanh nghiệp chỉ tính toán kéo dài sản xuất để giảm chi phí cho từng một đơn vị mà không đánh giá chi phí dự trữ hàng tồn kho của mình, điều này có thể là cao cho hàng thành phẩm Thêm vào đó, là mối quan tâm đến sự lỗi thời của hàng thành phẩm Hầu hết các doanh nghiệp trải qua tồn kho chu kỳ ngay cả khi họ không sản xuất bởi vì mua lại hoặc sức mua của nhà cung cấp Rõ ràng, tồn kho chu kỳ có thể mang lại lợi ích lâu dài như các phân tích đã được tiến hành tới chi phí điều chỉnh hàng tồn kho
Sự bất định/ mức tồn kho an toàn
Lý do cho sự bất định
Trang 10Tất cả các doanh nghiệp thường phải đối mặt với sự bất định phát sinh từ nhiều nguyên nhân Về phía nhu cầu hoặc từ phía khách hàng khi mà luôn luôn không có sự chắc chắn về bao nhiêu khách hàng sẽ mua và khi nào Dự báo nhu cầu là một tiếp cận thông thường để giúp giải quyết cho sự không chắc chắn nhưng điều này không bao giờ hòan toàn chính xác Xét về nguồn cung cấp, không thể chắc chăn là điều gì sẽ cần từ phía người mua hàng hay từ phía người cùng cấp và mất bao lâu để đáp ứng xong đơn đặt hàng Sự bất định có thể phát sinh từ hậu cần về việc giao hàng đáng tin cậy Kết quả của sự không chắc chắn thường là giống nhau: các doanh nghiệp tích lũy tồn kho an toàn để giúp mình chống lại sự không chắc chắn, các thách thức và phân tích khác nhau cho tồn kho an toàn hơn cho tồn kho chu kỳ; tồn kho an toàn là rất phức tạp và đầy thách thức để quản lý cho nhiều doanh nghiệp Như Jim Gatto đã phải kêu lên trong trường hợp của Micros and More, nếu dây chuyền sản xuất ngưng trệ vì sự thiếu hụt nguồn cung cấp hoặc một khách hàng lớn không được giao hàng , nó sẽ phát sinh vấn đề Việc phân tích sự đánh đổi là thích hợp và có thể được thực hiện bằng cách sử dụng các công cụ thích hợp (sẽ được thảo luận sau) để đánh giá rủi ro và thước đo chi phí hàng tồn kho Thêm vào đó, các doanh nghiệp ngày nay đang dùng một phương pháp tiếp cận chủ động hơn để giảm sự bất định như đã chỉ ra ở chương I và Chuơng II như là sử dụng sức mạnh của thông tin để giảm sự không chăc chắn và kết quả là, nhu cầu cho tồn kho an toàn Bạn có thể nhớ lại điều này trước đây rằng thông tin là một thay thế cho hàng tồn kho Điều này sẽ được thảo luận chi tiết hơn ở chương sau, có nghĩa là một cuộc cách mạng thông tin vì công nghệ bây giờ đã có để truyền thông tin với chất lượng lạc hậu hay tiên tiến trong một chuỗi cung ứng Sự cộng tác trong việc chia sẻ thông tin trong một số chuỗi cung ứng đã có kết quả đáng kể trong việc giảm hàng tồn kho / chi phí và thực sự cải thiện dịch vụ cùng một lúc Hợp tác lập kế hoạch và yêu cầu dự báo (CPFR) là một ví dụ tuyệt vời của phương pháp tiếp cận như vậy Tinh vi mã vạch, thẻ RF, EDI, Internet, và như vậy có doanh nghiệp cho phép làm giảm sự không chắc chắn.Tuy nhiên, điều này không phải là có thể loại bỏ sự không chắc chắn hoàn toàn, vì thế, các công cụ phân tích vẫn cần để làm thước đo cho sự đánh đổi.
Thời gian / Quản trị vận chuyển và tồn kho bán thành phầm
Thời gian kết hợp với vận chuyển, ví dụ, từ ngưới bán hàng tới nhà máy sản xuất, Cần
có thời gian để lắp ráp hoặc sản xuất ra một sản phẩm phức tạp (ô tô hay máy tính) Có nghĩa
là, ngay cả trong khi hàng hoá, vật liệu đang vận chuyển, có là chi phí hàng tồn kho liên quan đến khoảng thời gian Thời gian càng dài, chi phí càng cao
Thời gian cho tồn kho trong quá trình vận chuyển (trong và / hoặc ngoài nước) và hàng tồn kho bán thành phẩm được đánh giá trong điều kiện đánh đổi phù hợp.Điều này sẽ được thảo luận trong chương sau, các lựa chọn thay thế hậu cần có sẵn để vận chuyển hàng hóa có thể có thời gian vận chuyển khác nhau cũng như sự khác biệt mức độ dịch vụ, ví dụ như độ tin cậy và thiệt hại Cước/giá phải trả cho các hãng hậu cần thường phản ánh sự khác biệt dịch vụ
Ví dụ, dịch vụ hậu cần hàng không nhanh nhất và đáng tin cậy nhất, nhưng mức giá của dịch
vụ hậu cần hàng không cao hơn hẳn so với phương tiện động cơ hoặc dịch vụ đường sắt Nếu giao hàng qua đêm từ London, Anh, tới thành phố New York nhưng việc vận chuyển cần 8-
10 ngày, liệu cước sẽ cao hơn không bởi tiết kiệm chi phí tồn kho ? Thời gian vận chuyển càng lâu thì cước hàng hậu cần tồn kho càng cao và mà có lẽ là chi phí liên quan đến dịch vụ khách hàng Điều này có thể đánh giá đựoc sự đánh đổi và đưa ra quyết định hợp lý
Hàng tồn kho bán thành phẩm trong quá trình được kết hợp với chế tạo/sản xuất Số lượng hàng tồn kho đáng kể có thể được tích lũy trong các cơ sở sản xuất, đặc biệt là trong hoạt động lắp ráp như ô tô và máy tính Thời gian kéo dài của hàng tồn kho bán thành phẩm nằm ở chỗ cơ sở đang trong quá trình sản xuất bao gồm lắp ráp một sản phẩm cụ thể đuợc đánh giá một cách cẩn thận trong mối quan hệ với các kĩ thuật lập kế hoạch và thực tế sản xuất hay lắp ráp/công nghệ
Một số các cơ sở hoạt động chỉ từ 4 -6 giờ với nguyên liệu chờ sản xuất, trong khi những cơ sở khác có thể mất đến 10 -15 giờ với nguyên liệu chờ sản xuất Sự khác nhau rõ rệt
Trang 11trong chi phí dự trữ hàng tồn kho như theo hai ví dụ này Một lần nữa, việc đánh giá lựa chọn
sứ đánh đổi vẫn nên được tiến hành
Tồn kho theo mùa
Tính mùa vụ có thể xảy ra ở cảng trong nước của hệ thống hậu cần của một doanh nghiệp hoặc phía đầu nước ngoài hoặc cả hai Thông thường, các doanh nghiệp đang phải đối mặt với mùa vụ cung cấp và / hoặc nhu cầu cần phải tính toán cẩn thận bao nhiêu hàng hóa họ nên cần dự trữ Các doanh nghiệp chế biển sản phẩm nông nghiệp là một ví dụ điển hình của mùa vụ cung cấp trong nước, họ có thể phải mua các sản phẩm nông nghiệp "thô" trong suốt mùa thu hoạch Bởi vì loại hàng này mau hỏng nên việc chế biến tiến hành trong thời gian ngắn Nhu cầu cho các sản phẩm đã được chế biến (đóng hộp, đông lạnh, vv) là ổn định trong suốt cả năm.Vì vậy, các sản phẩm thành phẩm thường được lưu trữ cho đến khi nó được bán Các thay thế khác có thể là để lưu trữ nguyên vật liệu “thô” trong một số trường hợp, ví dụ, ngũ cốc như lúa mì, lúa mạch đen, lúa mạch, hạt ca cao Đôi khi, vận chuyển là nguyên nhân gây ra mùa vụ ,đặc biệt là nếu vận chuyển nước được sử dụng Sông, hồ có thể đóng băng ở phần phía bắc của bán cầu, điều này có thể làm gián đoạn việc vận chuyển nguyên vật liệu chính gây ra một nhu cầu tích lũy của hàng tồn kho trong thời gian dịch vụ bị gián đoạn Ngành công nghiệp thép đã phải đối mặt với vấn đề này trong quá khứ với việc vận chuyển quặng sắt qua Great Lakes hoặc xuống St Lawrence Seaway
Nhiều doanh nghiệp đang phải đối mặt với mùa vụ cho nhu cầu sản phẩm của họ, nhưng một số các doanh nghiệp khác nhu cầu theo mùa đáng kể, ví dụ, thẻ Hallmark và Hershey Foods Các doanh nghiệp này có thể đạt 60% doanh thu hàng năm của họ trong một khoảng thời gian từ 10 đến 14 tuần Có năng lực sản xuất để đáp ứng cao nhu cầu với năng lực nhàn rỗi nhiều phần còn lại của năm có thể không rất hiệu quả Các doanh nghiệp với mùa vụ quan trọng như vậy thường tìm thấy nó hiệu quả hơn sử dụng các nhà máy nhỏ hơn và sản xuất các sản phẩm trước nhu cầu, mà rõ ràng có nghĩa là tích tụ của hàng tồn kho Chi phí sản xuất (chi phí đơn vị) được đánh đổi với chi phí dự trữ hàng tồn kho để quyết định khi sự cân bằng thích hợp giữa năng lực sản xuất và không gian lưu kho
Hàng tồn kho dự đoán
Một lý do thứ năm cho hàng tồn kho phát sinh khi doanh nghiệp dự kiến một số sự kiện bất thường ví dụ, đình công, tăng giá đáng kể, sự thiếu hụt lớn nguồn cung cấp do thời tiết hoặc tình trạng bất ổn chính trị, v v Trong tình huống như vậy, các doanh nghiệp có thể tích lũy hàng tồn kho để "tự bảo hiểm" chống lại các sự kiện bất thường này Một lần nữa, một phân tích nên được thực hiện để đánh giá các rủi ro, xác suất, và chi phí hàng tồn kho Rõ ràng, phân tích là khó khăn hơn trong hoàn cảnh như vậy, vì mức độ không chắc chắn Tuy nhiên, việc sẵn có kỹ thuật phân tích giúp giảm nhẹ những thách thức này, sẽ được thảo luận trong chương kế tiếp
Tóm tắt dự trữ hàng tồn kho
Hầu hết các doanh nghiệp phải tích lũy một số mức độ của hàng tồn kho Có nhiều lý
do tốt để tích lũy như vậy Trong thực tế, chi phí dự trữ hàng tồn kho có thể được bù đắp nhiều hơn bởi tiết kiệm trong các lĩnh vực khác Nguyên tắc cơ bản là quyết định để tích lũy nhu cầu hàng tồn kho cần phải được đánh giá bằng cách sử dụng một khuôn khổ đánh đổi Ngoài ra năm lý do đã đựoc thảo luận, có những lý do khác để tích lũy hàng tồn kho chẳng hạn như duy trì các nhà cung cấp hoặc các nhân công Ví dụ, trong thời gian khi nhu cầu bị giảm, một doanh nghiệp có thể tiếp tục mua từ một số nhà cung cấp để duy trì mối quan hệ và / hoặc để giữ nhân công bằng cách sản xuất ra hàng tồn kho Một lần nữa, một đánh giá của sự đánh đổi là cần thiết Như đã thảo luận, một số khu vực chức năng trong hầu hết các doanh nghiệp
có lợi ích hoặc cổ phần trong quyết định xem có dự trữ và các vấn đề liên quan đến thời
Trang 12gian và địa điểm Phần tiếp theo xem xét một số các quan điểm trái ngược của các phạm vi chức năng.
Tầm quan trọng của hàng tồn kho đối với các chức năng khác của doanh nghiệp
Như đã thảo luận ở Chương 2, hậu cần đối ngược với phạm vi chức năng khác như marketing và sản xuất Nền tảng cho việc phân tích tầm quan trọng của hàng tồn kho trong hệ thống hậu cần, chúng ta kiểm tra hậu cần như thế nào và liên quan đến các lĩnh vực kinh doanh khác đề cập đến hàng tồn kho:
• Tiếp thị mong muốn đạt được mức độ dịch vụ khách hàng cao và bổ sung các hàng
tồn kho đảm bảo đáp ứng nhu cầu khách hàng đầy đủ và nhanh chóng nhất có thể
• Sản xuất thường muốn duy trì sản xuất lâu dài và chi phí thu mua hàng hàng ở mức
thấp nhất cũng như các mặt hàng sản xuất theo mùa sớm nhằm giảm thiểu chi phí sản xuất và tránh thanh toán quá hạn
• Tài chính mong muốn hàng tồn kho ở mức thấp để tăng doanh thu hàng tồn kho, giảm
thuê tài sản, và nhận được trả lại vốn cao về tài sản Các báo cáo trước đã chỉ ra rất rõ ràng tại sao các phạm vi chức năng khác quan tâm đến hàng tồn kho Ngoài ra, mục tiêu phạm vi tài chính rõ ràng là có thể xung đột với mục tiêu tiếp thị vàsản xuất Một cuộc xung đột đôi khi xảy ra giữa marketing và sản xuất, mặc dù lợi ích tồn kho cao mức độ của cả hai phạm vi Việc kéo dài sản xuất có thể gây ra sự thiếu hụt của một sốsản phẩm cần thiết bằng cách tiếp thị để đáp ứng nhu cầu của khách hàng Ví dụ, nhà sản xuất muốn tiếp tục sản xuất 1 sản phẩm lên đến 5000 chiếc tại một thời điểm khi mà marketing cần một sản phẩm khác hiện đang cung cấp trong thời gian ngắn
Nhiều doanh nghiệp mong muốn sử dụng một tổ chức hậu cần để giải quyết các cuộc xung đột mục tiêu hàng tồn kho Hàng tồn kho có một ảnh hưởng quan trọng vào hậu cần và trong rất nhiều các tổ chức hậu cần thì hàng tồn kho là một hoạt động ưu tiên Những giám đốc hậu cần
ở một vị trí xuất sắc để đánh giá được sự đánh đổi, không chỉ ở các phạm vi hậu cần khác mà còn các phạm vi chức năng đã được thảo luận ở đây Trong một số trường hợp, điều này gần như có thể là vai trò của một trọng tài viên
Quản lý hàng tồn kho hợp lý và kiểm soát các ảnh hưởng đến khách hàng, nhà cung cấp, và các phòng ban chức năng chính của tổ chức Mặc dù có nhiều lợi thế khi để có hàng tồn kho trong một hệ thống hậu cần, chi phí dự trữ hàng tồn kho là một chi phí lớn, và hệ thống hậu cần cần phải làm giảm mực độ hàng tồn kho
CHI PHÍ HÀNG TỒN KHO
Chi phí hàng tồn kho là quan trọng bởi vì ba lý do: một là chi phí hàng tồn kho thể hiện cấu thành quan trọng của tổng chi phí hậu cần ở nhiều doanh nghiệp Thứ hai,mức hàng tồn kho một doanh nghiệp duy trì tại các điểm trong hệ thống hậu cần của nó sẽ ảnh hưởng đến mức độ dịch vụ doanh nghiệp có thể cung cấp cho khách hàng của mình Thứ ba, chi phí quyết định đánh đổi trong hậu cần thường xuyên phụ thuộc và ảnh hưởng đến chi phí hàng tồn kho
Phần này cung cấp thông tin cơ bản liên quan đến chi phí quản lý hậu cần nên xem xét khi đưa ra quyết định chính sách hàng tồn kho Các loại chi phí chính bao gồm chi phí dự trữ hàng tồn kho, chi phí đặt hàng, chi phí vượt quá hàng tồn kho, và chi phí vận chuyển hàng tồn kho
Trang 13Chi phí vốn
Đôi khi được gọi là chi phí lãi suất hoặc chi phí cơ hội, loại chi phí tập trung theo giá vốn đã gắn liền với chi phí hàng tồn kho một doanh nghiệp (tương phản sử dụng vốn trong một số cách tài chính hiệu quả khác) Nói cách khác, "Giá trị tiềm ẩn của việc có vốn cột trong hàng tồn kho là gì, thay vì sử dụngnó cho một số dự án đáng giá khác? "Chi phí vốn là cầu thành lớn nhất trong chi phí dự trữ hàng tồn kho Doanh nghiệp thường thể hiện nó như là một
tỷ lệ phần trăm của giá trị đồng đô la của hàng tồn kho Doanh nghiệp nắm giữ Ví dụ, một chi phí vốn thể hiện là 20% giá trị sản phẩm của $ 100 tương đương với một chi phí vốn của $ 100
× 20 phần trăm, hoặc $ 20 Tương tự như vậy, nếu giá trị sản phẩm là $ 300, sau đó chi phí vốn là $ 60 Trong thực tế, xác định một số lượng chấp nhận được để sử dụng cho chi phí vốn không nhỏnhiệm vụ Trong thực tế, hầu hết các doanh nghiệp thấy rằng việc xác định chi phí vốn có thể là một nghệ thuật hơn một khoa học Một cách tính chi phí vốn cho hàng tồn kho ra quyết địnhđòi hỏi phải xác định tỷ lệ rào cản của doanh nghiệp, tỷ lệ lợi nhuận tối thiểu dự kiến của đầu tư mới Bằng cách này, doanh nghiệp có thể đưa ra quyết định hàng tồn kho trong nhiều cùng một cách như nó quyết định chi tiền cho quảng cáo, xây dựng các nhà máy mới, hoặc thêm thiết bị máy tính mới
Ví dụ, giả định rằng giá trị trung bình của hàng tồn kho của doanh nghiệp là 300.000 $.Hàng tồn kho này là một tài sản vốn cho doanh nghiệp, giống như một máy tính hoặc bất kỳ vốn đầu tư khác Do đó, nếu doanh nghiệp căn cứ chi phí vốn của nó trên một tỷ lệ 15% trở ngại, sau đó chi phí vốn là $ 45,000 ($ 300,000 x 15%) mỗi năm Phương pháp xác định giá trị hàng tồn kho là rất quan trọng với chi phí vốn chính xác định và sau đó là quan trọng để xác định chi phí tổng thể thực hiện hàng tồn kho Theo Stock và Lambert, "chi phí cơ hội của vốn được áp dụng chỉ đầu tư trong hàng tồn kho Đây là biến trực tiếp chi phí phát sinh lên đến điểm mà tại đó hàng tồn kho được tổ chức tại lưu trữ "2 Vì vậy, việc thực hành kế toán thường được chấp nhận trị giá hàng tồn kho với chi phí sản xuất đầy đủ được phân bổ là không thể chấp nhận trong quyết định hàng tồn kho vì tăng hoặc giảm mức độ kiểm kê tài chính ảnh hưởng đến phần thay đổi giá trị hàng tồn kho và không phải là phần cố định chi phí được phân
bổ Bao gồm chi phí hậu cần hàng hóa giá trị hàng tồn kho, tuy nhiên, phù hợp với lời khuyên này, và các doanh nghiệp nên bao gồm các phép đo chi phí như vậy bất cứ khi nào có thể
Một đề nghị cuối cùng về chủ đề của chi phí vốn là để cho chính xác, tính toán toàn diện của các yếu tố cấu thành lên chi phí Mặc dù đôi khi nó là hấp dẫn, khuynh hướng sử dụng trung bình ngành công nghiệp hoặc các con số tỷ lệ phần trăm được tìm thấy trong sách giáo khoa (chẳng hạn như 25%) không những gây hiểu nhầm mà còn đưa kết quả không chính xác cao
Chi phí không gian lưu trữ.
Chi phí không gian lưu trữ bao gồm các chi phí giao nhận kết hợp với vận chuyển sản phẩm vào và ra cho hàng tồn kho, cũng như chi phí lưu trữ như tiền thuê nhà, sưởi ấm, và thắp sáng Chi phí này có thể khác nhau từ nơi này đến nơi khác.Ví dụ, các doanh nghiệp thường có thể dỡ các nguyên liệu thô trực tiếp từ tàu hoả và lưu trữ chúng bên ngoài, trong khi hàng hóa thành phẩm cần được giao nhận cẩn thận và cơ sở vật chất lưu trữ phức tạp hơn
Chi phí không gian lưu trữ có liên quan đến mức độ mà họ tăng hoặc giảm hàng tồn kho Vì vậy, các doanh nghiệp nên bao gồm chi phí khác nhau hơn là chi phí cố định khi ước tính chi phí không gian cũng như chi phí vốn Có lẽ chúng ta có thể làm rõ vấn đề bằng cách
sử dụng tương phản kho công cộng với việc sử dụng kho riêng Khi một doanh nghiệp sử dụng kho bãi công cộng, hầu như tất cả các xử lý và chi phí lưu trữ khác nhau trực tiếp với độ lớn của hàng tồn kho lưu trữ Kết quả là, các chi phí liên quan đến các quyết định liên quan đến hàng tồn kho Khi một doanh nghiệp sử dụng kho riêng, tuy nhiên, nhiều chi phí không gian lưu trữ (như khấu hao xây dựng) được cố định và như vậy, không có liên quan đến chi phí dự trữ hàng tồn kho
Trang 14Chi phí dịch vụ hàng tồn kho
Một thành phần khác của chi phí dự trữ hàng tồn kho bao gồm bảo hiểm và thuế Tùy thuộc vào giá trị sản phẩm và chủng loại, rủi ro mất mát và hư hỏng có thể yêu cầu đóng bảo hiểm cao Ngoài ra, nhiều nước áp thuế vào giá trị hàng tồn kho, đôi khi trên một cơ sở hàng tháng Mức độ tồn kho cao dẫn đến chi phí thuế cao có thể là đáng kể trong việc xác định địa điểm cụ thể nơi mà sản phẩm hàng tồn kho của các doanh nghiệp Bảo hiểm và các loại thuế
có thể khác nhau đáng kể từ sản phẩm này đến sản phẩm kia , và các doanh nghiệp phải xem xét điều này khi tính toán chi phí dự trữ hàng tồn kho
Chi phí rủi ro hàng tồn kho
Yếu tố cầu thành nên chi phí dự trữ hàng tồn kho phản ánh khả năng rất thực tế rằng giá trị
đồng vốn hàng tồn kho có thể giảm vì lý do ngoài kiểm soát của doanh nghiệp Ví dụ, hàng hoá, dự trữ trong kho cho một thời gian có thể trở nên lỗi thời và giảm về giá trị Ngoài ra, thời trang may mặc có thể nhanh chóng giảm giá trị ngya sau khi mùa bán hàng qua đi Hiện tượng này cũng xảy ra với trái cây tươi và rau quả khi chất lượng bị suy giảm hoặc giá giảm Các sản phẩm khác cũng phải đối mặt với những rủi ro tương tự, mặc dù mức độ rủi ro thì khác nhau Một ví dụ điển hình là sản phẩm giá trị cao như máy tính và thiết bị ngoại vi hoặc các chất bán dẫn, có vòng đời sản phẩm tương đối ngắn Trong trường hợp như vậy, chi phí lỗi thời hoặc khấu hao có thể là rất quan trọng
Bất kỳ tính toán các chi phí rủi ro hàng tồn kho bao gồm chi phí với lỗi thời, hư hỏng, mất cắp, và các rủi ro khác cho sản phẩm dự trữ tồn kho những nguy cơ đó sẽ ảnh hưởng đến hàng tồn kho Mức độ tồn kho sẽ kéo theo các rủi ro ảnh hưởng đến giá trị hàng tồn kho và chi phí dự trữ
Tính toán chi phí dự trữ hàng tồn kho
Tính toán chi phí dự trữ hàng tồn kho cho một sản phầm cụ thể trong hàng tồn kho liên quan đến ba bước Đầu tiên là xác định giá trị của mặt hàng đó được lưu trữ trong hàng tồn kho Theo thực hành kế toán truyền thống, ba phương pháp đã được công nhận bao gồm giá trị hàng tồn kho trên cơ sở (FIFO) first-in/first-out, last-in/first-out (LIFO) cơ sở, hoặc chi phí trung bình Thước đo giá trị phù hợp nhất cho việc đưa ra quyết định hàng tồn kho là chi phí của hàng hoá bán ra hoặc chi phí sản xuất của sản phẩm hiện nay vào các cơ sở hậu cần của doanh nghiệp Một lần nữa, điều này là bởi vì tăng hoặc giảm mức hàng tồn kho ảnh hưởng đến chỉ có phần thay đổi của giá trị hàng tồn kho và không phải là phần cố định
Bước thứ hai là để đo lường mỗi thành phần chi phí cá nhân thực hiện như là một tỷ lệ phần trăm của giá trị sản phẩm và thêm tỷ lệ phần trăm thành phần với nhau để đo lường chi phí hàng tồn kho mang Như vậy, chi phí thực hiện được thể hiện như là một tỷ lệ phần trăm của giá trị sản phẩm Trong tính toán không gian lưu trữ, dịch vụ hàng tồn kho, chi phí rủi ro,
nó có thể hữu ích khi tính toán các chi phí theo đồng đô la và sau đó chuyển đổi số liệu tỷ lệ phần trăm
Bước cuối cùng là nhân tổng chi phí dự trữ (như là một tỷ lệ phần trăm của giá trị sản phẩm) bởi giá trị của sản phẩm Các biện pháp chi phí mang hàng năm cho một số tiền cụ thể của hàng tồn kho
Ví dụ: Giả sử rằng một doanh nghiệp sản xuất đĩa cứng cho máy tính cá nhân với chi
phí sản xuất biến $ 100 cho mỗi đơn vị Danh sách bảng 6-3 Thực hiện các thành phần chi phí như là một tỷ lệ phần trăm của giá trị sản phẩm Chi phí hàng năm mang theo một đĩa cứng duy nhất trong hàng tồn kho được tính như sau:
$ 100 × 25% = $ 25 mỗi năm
Trang 15Bản chất của chi phí dự trữ
Mặt hàng với chi phí dự trữ về cơ bản nên sử dụng cùng một dự toán chi phí dự trữ trên một đồng đô la hàng tồn kho Tuy nhiên, vật dụng bị lỗi thời nhanh chóng hoặc các mục yêu cầu phục vụ để ngăn chặn suy giảm có thể yêu cầu dự toán chi phí riêng biệt Ước tính thực hiện chi phí cho mỗi đồng đô la hàng tồn kho thể hiện như là một tỷ lệ phần trăm của hàng tồn kho giá trị dự trữ trong năm sẽ phản ánh như thế nào thực hiện chi phí thay đổi với hàng tồn kho giá trị Bảng 6-4 cho thấy rằng, cũng như tăng tồn kho trung bình (tức là, như các hàng tồn kho tăng cấp độ), hàng năm thực hiện tăng chi phí, và ngược lại trong khác từ, chi phí thực hiện là thay đổi và là tỷ lệ thuận với số lượng đơn vị hàng tồn kho trung bình hoặc hàng tồn kho giá trị trung bình
Đặt hàng/Chi phí thiết lập
Một chi phí thứ hai ảnh hưởng đến tổng chi phí hàng tồn kho là chi phí đặt hàng hoặc chi phí thiết lập Chi phí đặt hàng đề cập đến chi phí hàng cho hàng tồn kho bổ sung và không bao gồm các giá thành hoặc chi phí của bản thân sản phẩm Chi phí thiết lập đề cập cụ thể hơn các chi phí của thay đổi hoặc sửa đổi một quá trình sản xuất hoặc lắp ráp để tạo điều kiện thuận lợi cho cho dòng sản phẩm, ví dụ
Chi phí đặt hàng
Các chi phí liên quan đến đặt hàng hoặc hàng tồn kho thì đều cố định và có các yếu tố khác nhau Các yếu tố cố định đề cập đến chi phí của hệ thống thông tin, cơ sở vật chất, và
Trang 16công nghệ sẵn có cho hoạt động đặt hàng Chi phí cố định này vẫn liên tục liên quan đến số lượng đơn hàng đã đặt Ngoài ra còn có một số chi phí khác nhau liên quan đến số lượng đơn đặt hàng được đặt cho hàng tồn kho nhiều Một số loại hoạt động có thể chịu trách nhiệm cho các chi phí này bao gồm (1) xem mức độ hàng tồn kho; (2) chuẩn bị và xử lý đơn đặt hàng (3) chuẩn bị và xử lý các báo cáo nhận được, (4) kiểm tra hàng tồn kho trước khi đặt hàng tồn kho (mặc dù hoạt động này cần được giảm thiểu như là một phần của cam kết quản lý chất lượng toàn diện và "làm đúng ngay từ lần đầu tiên") và (5) chuẩn bị và xử lý thanh toán Trong khi một số người và quá trình đóng một vai trò quan trọng đến sự tồn tại , chúng trở nên quan trọng khi xem xét tới tòab bộ hoạt động liên quan đến đặt và nhận đơn hàng.
Chi phí thiết lập
Chi phí thiết lập sản xuất có thể được rõ ràng hơn so với chi phí đặt hàng hoặc mua lại.Chi phí thiết lập phát sinh mỗi khi một doanh nghiệp thay đổi dây chuyền sản xuất để sản xuất một mặt hàng khác nhau cho hàng tồn kho Phần cố định chi phí thiết lập có thể bao gồm việc sử dụng của các thiết bị vốn cần thiết để thay đổi trên cơ sở sản xuất, trong khi các chi phí biến có thể bao gồm chi phí nhân phát sinh trong quá trình sửa đổi hoặc thay đổi dây chuyền sản xuất Bản chất của Chi phí
Bản chất của chi phí
Tách các phần đơn đặt hàng chi phí thiết lập cố định và biến cần thiết Đúng như tính toán nên nhấn mạnh phần biến của hàng tồn kho chi phí vốn, tính toán đơn đặt hàng và chi phí thiết lập nên nhấn mạnh biến phần các chi phí này Như được thảo luận trong Chương 7, nhấn mạnh điều này trở thành trung tâm phát triển chiến lược hàng tồn kho có ý nghĩa Khi tính toán chi phí đặt hàng hàng năm, các doanh nghiệp thường bắt đầu với chi phí hoặc phí liên kết với nhau để cá nhân hoặc thiết lập Tương ứng, số lượng hàng năm của các đơn đặt hàng hoặc các thiết lập ảnh hưởng đến tổng chi phí để mỗi năm, con số này tỉ lệ nghịch với kích thước hàng cá nhân hoặc số lượng các đơn vị sản xuất (sản xuất chạy chiều dài) trong một thiết lập đơn giản hoặc chuyển đổi Bảng 6-5 cho thấy mối quan hệ chung
Như chúng ta có thể thấy trong Bảng 6-5, kết quả thường xuyên đặt hàng trong các khách hàng đặt một số lượng lớn các đơn đặt hàng nhỏ hơn mỗi năm Kể từ khi đơn đặt hàng lớn và nhỏ phải chịu các chi phí biến của việc đặt một đơn đặt hàng, tổng chi phí để hàng năm
sẽ tăng liên quan trực tiếp đến số lượng đơn đặt hàng mỗi năm Miễn là doanh số bán hàng hàng năm và nhu cầu vẫn như nhau, tổng số hàng năm đơn đặt hàng hoặc thiết lập chi phí liên quan trực tiếp đến số thứ tự hoặc các thiết lập mỗi năm và sẽ tỉ lệ ngịch với kích thước chiều dài hàng cá nhân hoặc khả năng sản xuất cá nhân