1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Thuyết trình Mĩ thuật Việt Nam cận đại và hiện đại từ 1885 đến 1945

66 8K 14

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 7,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mĩ thuật Việt Nam cận đại và hiện đại từ 1885 đến 1945Nhóm 15Nguyễn Thị Hằng Trần Quang Chung Lưu Phương AnhTrần Thúy NhungMĩ thuật cận đại I Mĩ thuật Việt Nam từ thế kỉ XIX đến 1930Tác phẩm của Lê Văn Miến, 68x97cm, được xem là tác phẩm sơn dầu đầu tiên của Việt NamTác phẩm bình vănChân dung cụ TúVẻ lam lũ của người nông dân không được lột tả, mà chủ yếu là con người trong các sinh hoạt nhàn nhã, hoặc các trò chơi dân gian nhẹ nhàng, lặng lẽ.Các tác phẩm tiêu biểu của ông như: “Chơi ô ăn quan”, “Rửa rau cầu ao”, “Đi chợ”, “Lên đồng”, “Bé cho chim ăn”… Bên cạnh những mảng tranh sinh hoạt ca ngợi những vẻ đẹp con người nhất là người phụ nữ, ở thời kì này mảng tranh phong cảnh cũng khá thành công Những cảnh đẹp của đất nước đã được các họa sĩ đưa vào trong các sáng tác của mình Tiêu biểu như: “Thuyền trên sông Hương” Tô Ngọc Vân, sơn dầu1935 “ Gió mùa hạ” Phạm Hậu, sơn mài 1940 “ Cổng thành Huế” Nguyễn Đỗ Cung, bột màu 1941Tóm lại: So sánh với mĩ thuật phong kiến ta thấy rõ mĩ thuật ở thời kì này đã có những bước chuyển biến rõ rệt về nội dung, chủ đề, đề tài sáng tác. Mĩ thuật đã đi sâu diễn tả những hoạt động cuộc sống đời thường như rửa rau, đi chợ, ngắm hoa, soi gương, đi hội chùa… Các nghệ sĩ đã tìm thấy cảm hứng sáng tạo hiện thực từ nông thôn đến thành thị và cả trong gia đình Nội dung được các nghệ sĩ diễn tả thành công nhất chính là vẻ đẹp của người phụ nữ trong các sinh hoạt gia đình Bên cạnh đó mảng tranh phong cảnh cũng được xem là khá thành công Tuy vậy ở bước đầu đổi mới các nghệ sĩ vẫn không tránh khỏi những hạn chế nhất định (mĩ thuật chưa diễn tả hết mọi mặt cuộc sống phong phú đa dạng. Hình ảnh người phụ nữ luôn được thi vị hóa, lãng mạn hóa…chất lam lũ người nông dân chưa được diễn tả…)2 Sự đổi mới về chất liệu, kĩ thuật Một trong những nguyên nhân làm cho hội họa thời kì này phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng chính là do sự phát triển của chất liệu Ngoài những chất liệu truyền thống (như phẩm màu, mực nho, hoặc các màu được chế từ tự nhiên cây, lá, hoa, quả…), đến thời kì này các họa sĩ Việt Nam còn biết đến các chất liệu như sơn dầu, bột màu, thuốc nước, phấn màu. Kĩ thuật truyền thống có chạm khắc gỗ, sơn ta. Đến thời kì này với sự có mặt trường CĐ Mĩ thuật Đông Dương các nghệ sĩ đã biết đến kĩ thuật khắc đồng, khắc kẽm. Ở đây ta chỉ đi sâu vào các chất liệu chính: sơn dầu, sơn mài, lụa, khắc gỗ và các tác phẩm tiêu biểu về các chất liệu đó Ở châu Âu, sơn dầu được biết đến từ thế kỉ XIV Ở Việt Nam, sơn dầu được biết đến do hai nguồn Một là từ các họa sĩ học từ Pháp trở về (Lê Văn Miến, Nam Sơn, Nguyễn Văn Thọ) Hai là từ phương thức đào tạo mĩ thuật của trường CĐ Mĩ thuật Đông Dương Chính cuộc triển lãm tranh sơn dầu của Joseph Inguimberty (giảng viên người Pháp) năm 1929 đã hấp dẫn cuốn hút các họa sĩ Việt Nam về khả năng diễn tả, biểu đạt của chất liệu này. Chính Inguimberty đã truyền lại kĩ thuật vẽ sơn dầu cho các họa sĩ Việt NamNhưng nhìn chung tranh sơn dầu Việt Nam có sự kết hợp, dung hòa giữa lối vẽ mềm mại, nhẹ nhàng của chất liệu lụa quen thuộc với lối vẽ sơn dầu mạnh mẽ, rõ ràng về độ đậm nhạt, hình khối, ánh sáng… Bằng cách này hay cách khác, các họa sĩ VN với bút pháp của mình đã khai thác thế mạnh của kĩ thuật sơn dầu và tạo ra một cách vẽ tranh sơn dầu của người VN Tóm lại: Sơn dầu là một chất liệu mới mẻ trong thời kì này. Nhưng có thể nói Tranh sơn dầu VN có đầy đủ phẩm chất như tranh sơn dầu châu Âu cộng thêm chất nhẹ nhàng, tinh tế, mềm mại theo cách vẽ và cảm nhận thẩm mĩ của người Việt Bằng các tác phẩm của mình, các nghệ sĩ VN đã khẳng định được tài năng hội họa của họ trên chất liệu sơn dầu. Các nghệ sĩ đã chứng minh có thể tạo ra những tác phẩm hội họa mang đậm chất dân tộc truyền thống bằng một chất liệu châu Âu

Trang 1

Mĩ thuật Việt Nam cận đại và hiện đại

Trang 2

Mĩ thuật cận đại

I- Mĩ thuật Việt Nam từ thế kỉ XIX đến 1930

Trang 3

Tác phẩm bình văn

Tác phẩm của Lê Văn Miến, 68x97cm,

được xem là tác phẩm sơn dầu đầu tiên của Việt Nam

Chân dung cụ Tú

Trang 4

Về hội họa, ở cuối thế kỷ XIX hầu như chưa có gì đáng kể ngoài một người VN sang Pháp học trở về đó là họa sĩ Lê Văn Miến (1874-1943 )

Hiện viện bảo tàng mĩ thuật VN vẫn lưu giữ hai tác phẩm của ông Đó là bức Bình văn vẽ năm1905 và bức Chân dung cụ Tú Mền (1898 ) Đây là những tác phẩm tranh sơn dầu đầu tiên ở VN

Bố cục và ánh sáng bức Bình văn vẽ theo kỹ thuật sơn dầu cổ điển châu Âu,

nhưng nó được vẽ với gam màu nâu đậm đà, đặc biệt phương Đông và đặc biệt Việt Nam, qua thời gian, bức tranh trở nên tối thẫm, càng gây cảm giác cổ kính vừa giản dị, vừa kỳ

ảo

Trang 5

 Ngoài ra còn có một họa sĩ nữa làm nghề trang trí sân khấu cũng để lại tác phẩm có giá trị trong

thời kỳ này là họa sĩ Thang Trần Phềnh

Phạm Ngũ Lão -

1923 - Thang Trần Phềnh

Trang 6

Các tác phẩm trên tuy chưa là tác phẩm nổi tiếng của nền hội họa cận đại VN nhưng

sự có mặt của chúng đã mở ra một lối vẽ mới, một chất liệu mới, tạo nên một bước ngoặc lớn trong nền hội họa dân tộc

Các tác phẩm này còn đặt dấu chấm hết cho giai đoạn nghệ thuật khuyết danh trước đó

Họa sĩ Lê Văn Miến, Thang Trần Phềnh và một số họa sĩ khác như Nam Sơn- Nguyễn Văn Thọ… đã có công

mở đường,khai phá cho một lối vẽ sơn dầu hoàn toàn hiên thực sinh động và giản dị, phù hợp với công chúng yêu nghệ thuật VN

Sự ra đời của trường cao đẳng mĩ thuật Đông Dương năm 1925 đã có ảnh hưởng lớn đến nền mỹ thuật VN

Nhiều thế hệ đầu tiên được đào tạo đã sớm trở thành những tài năng và có nhiều đóng góp cho mỹ thuật nước nhà giai đoạn sau

Trang 7

II - Đặc điểm và tình hình Mĩ thuật giai đoạn

1930-1945

Việt Nam cũng như thế giới có nhiều biến động lớn về xã hội

Văn học nghệ thuật cũng biến đổi theo Sự đấu tranh giữa hai xu hướng nghệ thuật lãng mạn và nghệ thuật hiện thực ngày càng rõ nét

Tư tưởng nghệ thuật vị nhân sinh cũng dần dần thay cho quan niệm cũ (nghệ thuật vị nghệ thuật )

- Khóa sinh viên đầu tiên của trường Cao đẳng Mĩ thuật Đông Dương ra trường

cộng với các họa sĩ học từ Pháp trở về…

hoạt động mĩ thuật trở thành phong trào sôi nổi Nhiều cuộc triển lãm cá nhân, triển lãm nhóm được tổ chức

Trang 8

Ví dụ:

- Triển lãm tranh tượng khóa đầu tiên ở nhà triển lãm Đinh Tiên Hoàng

- Triển lãm cá nhân của Nguyễn Phan Chánh

- Một số họa sĩ như Nam Sơn, Lê Văn Đệ, Lê Phổ tham gia

phòng triển lãm cùng các họa sĩ Pháp năm 1930

- Những bức tranh lụa của Nguyễn Phan Chánh như “Chơi

ô ăn quan”, “Lên đồng” đã được báo Pháp giới thiệu

- Ngoài ra liên tục những năm 1932, 1934, 1935, 1937 ta có tranh gởi đi Ro-ma (Ý); Brúc-xen (Bỉ); Pari (Pháp) và Xan Phran-xi-xcô (Mĩ)

- Triển lãm nhóm các họa sĩ năm 1939

Trang 9

“Chơi ô ăn quan” “Lên dồng”

- Những bức tranh lụa của Nguyễn Phan Chánh như “Chơi

ô ăn quan”, “Lên đồng” đã được báo Pháp giới thiệu

Trang 10

-Tranh của các họa sĩ Việt Nam đã được thế giới biết đến Hội họa Việt Nam đã dần hình thành một chân dung mới Mặc dù chưa phải đã hoàn thiện

-Với sự có mặt của trường CĐ Mĩ thuật Đông Dương, các họa sĩ đã được đào tạo theo hệ thống căn bản cộng với

sự tác động của nghệ thuật tạo hình châu Âu đã đưa mĩ thuật Việt Nam vào quỹ đạo của nghệ thuật thế giới

Những tác phẩm mĩ thuật thành công đã khẳng định điều mà khi mở trường Pháp không muốn Đó là người Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành nghệ sĩ tạo hình chứ không phải chỉ là những

người thợ khéo tay

- Cũng bắt đầu từ đây, kiến trúc, điêu khắc, hội họa không còn tồn tại trong một tổng thể thống nhất, các loại hình nghệ thuật này đã tồn tại độc lập Lực lượng sáng tác chuyên nghiệp được hình thành và có vị trí quan trọng trong xã hội Nhiều tổ chức

mĩ thuật được thành lập và đi vào hoạt động

Trang 11

-Riêng điêu khắc phát triển chậm hơn Một tác giả như Vũ Cao Đàm, Phạm Gia Giang, Vũ Văn Thu…đã có nhiều cố gắng trong chuyển hướng

sáng tác theo phong cách hiện thực Các tác phẩm mang tính hiện thực nổi bật trong thời kì này như: “ Thiếu nữ cài lược ” (thạch cao-1931),

“ Người Việt Nam đội mũ tê” của Vũ Cao Đàm; “Chân dung nhà sư” (gỗ-1940) của Vũ Văn Thu; “Hạnh Phúc”-1938 của Phạm Gia Giang…

- Bên cạnh các hoạt động sáng tác mĩ thuật còn có hoạt động viết bài nghiên cứu phê bình mĩ thuật Các nghệ sĩ như Tô Ngọc Vân, Nguyễn Đỗ

Cung đã thường bày tỏ quan điểm nghệ thuật của mình trên các tạp chí, báo…

Trang 12

III- Những nét mới trong Mĩ thuật Việt Nam giai đoạn 1885- 1945

III - Những nét mới trong Mĩ thuật Việt Nam giai đoạn 1885- 1945

1- Sự thay đổi trong nội dung chủ đề, đề tài sáng tác

1 - Sự thay đổi trong nội dung chủ đề, đề tài sáng tác

2- Sự đổi mới về chất liệu, kĩ thuật

2 - Sự đổi mới về chất liệu, kĩ thuật

Trang 13

Mĩ thuật phong kiến

Phục vụ cho giai cấp thống trị

(tầng lớp vua,chúa)

Phục vụ cho những nhu cầu, mơ ước của người dân lao động

Tôn giáo, cung đình Cuộc sống con người, cảnh vật đất nước

- Các tác phẩm mang nội dung tôn giáo chiếm một vị trí quan trọng

-Hình ảnh về con người bình thường chỉ xuất hiện trong chạm khắc gỗ đình làng, trong tranh dân gian

1- Sự thay đổi trong nội dung chủ đề, đề tài sáng tác

1 - Sự thay đổi trong nội dung chủ đề, đề tài sáng tác

Trang 14

Những tác phẩm đó, các nghệ sĩ dân gian cũng chỉ muốn nói lên những mong muốn, những khát vọng về hạnh phúc, lứa đôi, gia đình…là chính

Mĩ thuật không đi sâu diễn tả mọi mặt của cuộc sống đời thường như trong thời kì này

Đối tượng chính của mĩ thuật thời kì này là những con người với sinh hoạt đời thường hàng ngày như như ngắm hoa, soi gương, rửa rau, đi chợ, đi hội chùa…được các tác giả khai thác đưa vào trong tác phẩm Các họa sĩ, nhà điêu khắc tìm thấy nguồn cảm hứng sáng tạo trong hiện thực cuộc sống ở nông thôn, thành thị, trong gia đình…

Đây là điểm đổi mới căn bản của mĩ thuật thời kì này

Nội dung chủ đề, đề tài sáng tác được mở rộng.

Trang 15

Tuy vậy

Ở buổi đầu đổi mới, các nghệ sĩ không tránh khỏi những hạn chế nhất định Mĩ thuật cũng chưa diễn tả hết mọi mặt của cuộc sống phong phú và đa dạng

Các tác phẩm chỉ dừng lại ở một số đối tượng và hoạt động trong xã hội

Nội dung, đề tài được coi là thành công

- Vẻ đẹp của người phụ nữ trong các sinh hoạt gia đình

Đây có thể coi là nội dung thành công nhất ở giai đoạn này

Đó là vẻ đẹp mềm mại, nhẹ nhàng, duyên dáng và kín đáo của người phụ nữ Việt Nam

Tiêu biểu phải kể đến là các tác phẩm của Tô Ngọc Vân, Nguyễn Gia Trí, Trần Văn Cẩn, Phạm Hậu, Nguyễn Đỗ Cung…

Trang 16

Vẻ lam lũ của người nông dân không được lột tả, mà chủ yếu là con người trong các sinh hoạt nhàn nhã, hoặc các trò chơi dân gian nhẹ nhàng, lặng lẽ.Các tác phẩm tiêu biểu của ông như: “Chơi ô ăn quan”, “Rửa rau cầu ao”, “Đi chợ”, “Lên đồng”,

“Bé cho chim ăn”…

Trang 17

- Bên cạnh những mảng tranh sinh hoạt ca ngợi những vẻ đẹp con người nhất là người phụ nữ, ở thời kì này mảng tranh phong cảnh cũng khá thành công

Những cảnh đẹp của đất nước đã được các họa sĩ đưa vào trong các sáng tác của mình

Tiêu biểu như:

“Thuyền trên sông Hương”- Tô Ngọc Vân, sơn dầu-1935

“ Gió mùa hạ”- Phạm Hậu, sơn mài- 1940

“ Cổng thành Huế”- Nguyễn Đỗ Cung, bột màu- 1941

Trang 18

Thuyền trên sông Hương

Tô Ngọc Vân Sơn dầu- 1935

Cổng thành Huế

Nguyễn Đỗ Cung Bột màu 1941

Trang 19

- Các nghệ sĩ đã tìm thấy cảm hứng sáng tạo hiện thực từ nông thôn đến thành thị và cả trong gia đình

- Nội dung được các nghệ sĩ diễn tả thành công nhất chính là vẻ đẹp của người phụ nữ trong các sinh hoạt gia đình

- Bên cạnh đó mảng tranh phong cảnh cũng được xem là khá thành công

- Tuy vậy ở bước đầu đổi mới các nghệ sĩ vẫn không tránh khỏi những hạn chế nhất định

(mĩ thuật chưa diễn tả hết mọi mặt cuộc sống phong phú đa dạng

Hình ảnh người phụ nữ luôn được thi vị hóa, lãng mạn hóa…chất lam lũ người nông dân chưa được diễn tả…)

Trang 20

2- Sự đổi mới về chất liệu, kĩ thuật

2 - Sự đổi mới về chất liệu, kĩ thuật

Trang 21

Một trong những nguyên nhân làm cho hội họa thời kì này phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng chính là do sự phát triển của chất liệu

Ngoài những chất liệu truyền thống (như phẩm màu, mực nho, hoặc các màu được chế từ tự nhiên cây, lá, hoa, quả…), đến thời kì này các họa sĩ Việt Nam còn biết đến các chất liệu như sơn dầu, bột màu, thuốc nước, phấn màu

Kĩ thuật truyền thống có chạm khắc gỗ, sơn ta Đến thời kì này với sự có mặt trường CĐ Mĩ thuật Đông Dương các nghệ sĩ đã biết đến kĩ thuật khắc đồng, khắc kẽm

Ở đây ta chỉ đi sâu vào các chất liệu chính: sơn dầu, sơn mài, lụa, khắc gỗ và các tác phẩm tiêu biểu về các chất liệu đó

Sơn dầu

Trang 22

Ở châu Âu, sơn dầu được biết đến từ thế kỉ XIV

Ở Việt Nam, sơn dầu được biết đến do hai nguồn

Một là từ các họa sĩ học từ Pháp trở về

(Lê Văn Miến, Nam Sơn, Nguyễn Văn Thọ)

Hai là từ phương thức đào tạo mĩ thuật của trường CĐ Mĩ thuật Đông Dương

Chính cuộc triển lãm tranh sơn dầu của Joseph Inguimberty (giảng viên người Pháp) năm 1929 đã hấp dẫn cuốn hút các họa sĩ Việt Nam về khả năng diễn tả, biểu đạt của chất liệu này

Chính Inguimberty đã truyền lại kĩ thuật vẽ sơn dầu cho các họa sĩ Việt Nam

Các họa sĩ Việt Nam mỗi người có một cách tiếp cận khác nhau với sơn dầu, vì vậy tranh của họ cũng được thể hiện với nhiều bút pháp đa dạng

Có họa sĩ vẽ một cách nuột nà, trau chuốt

có họa sĩ vẽ một cách tút tát bằng các nét bút phóng khoáng…

Trang 23

Nhưng nhìn chung tranh sơn dầu Việt Nam có sự kết hợp, dung hòa giữa lối vẽ mềm mại, nhẹ nhàng của chất liệu lụa quen thuộc với lối vẽ sơn dầu mạnh mẽ, rõ ràng về độ đậm nhạt, hình khối, ánh sáng…

Bằng cách này hay cách khác, các họa sĩ VN với bút pháp của mình đã khai thác thế mạnh của kĩ thuật sơn dầu và tạo ra một cách vẽ tranh sơn dầu của người VN

Nhiều tác giả thành công trong chất liệu sơn dầu như:

Tô Ngọc Vân ( TF “Thiếu nữ bên hoa huệ”, “Hai thiếu nữ và em bé”…)

Trần Văn Cẩn, TF “Em Thúy”

Lưu Văn Sìn, TF “Việt Bắc”

Ngoài ra còn một số họa sĩ khác như

Trang 24

* Tóm lại:

- Sơn dầu là một chất liệu mới mẻ trong thời kì này Nhưng có thể nói Tranh sơn dầu VN có đầy đủ phẩm chất như tranh sơn dầu châu Âu cộng thêm chất nhẹ nhàng, tinh tế, mềm mại theo cách vẽ và cảm nhận thẩm mĩ của người Việt

- Bằng các tác phẩm của mình, các nghệ sĩ VN đã khẳng định được tài năng hội họa của họ trên chất liệu sơn dầu

- Các nghệ sĩ đã chứng minh có thể tạo ra những tác phẩm hội họa mang đậm chất dân tộc truyền thống bằng một chất liệu châu Âu

* Sơn mài

“Sơn mài” là sự phát triển từ “sơn ta” thông qua một kĩ thuật mài

Có thể nói chính kĩ thuật mài đã tạo nên đặc điểm riêng biệt cho chất liệu này

Trong thời kì mĩ thuật cổ, các nghệ nhân đã dùng sơn ta để vẽ tranh hay làm đồ thờ cúng như: hoành phi, câu đối, hương án, mâm bồng; làm đồ dân dụng như: quả tráp, thúng, ấm, giỏ…

Trang 25

Nói chung là chất liệu sơn ta được dùng trong mĩ nghệ thực dụng, mang tính trang trí nhiều hơn là nghệ thuật

Từ kĩ thuật sơn ta mĩ nghệ đến kĩ thuật vẽ tranh sơn mài là quá trình tìm tòi của các họa sĩ VN trong những năm 1930, 1935

Lúc đầu các họa sĩ chỉ dùng kĩ thuật cổ truyền khi vẽ như là: rắc bột vàng, bột bạc, gắn vỏ trai, vỏ trứng…

Về sau các họa sĩ như Trần Quang Trân, Mai Trung Thứ đã thử mài, tạo cho tranh bề mặt nhẵn, phẳng

Nhận thấy hiệu quả thẩm mĩ do kĩ thuật sơn mài, các họa sĩ trường Mĩ thuật Đông dương đã say mê sáng tác tranh sơn mài còn hơn cả tranh sơn dầu

* Đặc điểm chất liệu sơn mài:

Nếu chất liệu sơn dầu hấp dẫn ở khả năng tả chất, tả khối, ở bảng màu rất phong phú, ở chất màu dẻo quánh, trong suốt thì

chất liệu sơn mài lại có vẻ lộng lẫy, sang trọng, có bảng màu đậm đà, thắm thiết trên nền đen sâu thẳm, nền đỏ son rực rỡ

Trang 26

Chính vẻ đẹp lung linh, lộng lẫy mà trang nhã, thâm trầm có ở tranh sơn mài đã hấp dẫn các họa sĩ và người thưởng thức

Rất nhiều họa sĩ đã say mê sáng tác tranh sơn mài như:

Nguyễn Gia Trí, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Tường Lân, Nguyễn Tiến Chung, Phạm Đức Cường, Phạm Hậu, Lê Quốc Lộc…

Một trong những họa sĩ thành công trong chất liệu sơn mài trước 1945 là Nguyễn Gia Trí (1908-1993)

Các tác phẩm tiêu biểu của ông thời kì này như “Thiếu nữ bên cây phù dung”, “thiếu nữ trong vườn”…

Thế giới sơn mài của ông vừa thực vừa mông lung, phản ánh trong đó niềm khát khao vô tận, một cái đẹp ma lực…

Cùng với các tác phẩm của Nguyễn Gia Trí thì tác phẩm “ Gió mùa hạ”- Phạm Hậu cũng rất thành công (tác phẩm hiện trưng bày ở Bảo tàng Mĩ thuật VN)

Trang 27

Ngoài ra các họa sĩ khác cũng có những tác phẩm sơn mài thành công như Nguyễn Tường Lân với “Ngày xuân trảy

hội”, Lê Quốc Lộc với “Hội chùa”, Trần Quang Trân với “Bờ ao”…

Lụa là chất liệu quen thuộc trong hội họa Á Đông cũng như hội họa cổ VN

Các nghệ sĩ từ những thế kỉ trước đã khá thành thạo về kĩ thuật vẽ trên lụa

Một số tranh lụa được biết đến trước đó như

tranh chân dung Nguyễn Trãi, chân dung Phan Huy Ích, chân dung Phùng Khắc Khoan…

Đến thời kì này,

ở trường CĐ Mĩ thuật Đông Dương đã có nhiều sinh viên chọn thể hiện bài thi tốt nghiệp bằng chất liệu lụa Chính họa sĩ Tác-đi-ơ đã sưu tầm tranh lụa Trung Quốc, tranh khắc gỗ Nhật Bản cho sinh viên tham khảo

Trang 28

Do vậy cùng với sự phát triển tranh sơn dầu, tranh sơn mài, tranh lụa thời kì này cũng được nhiều họa sĩ chú ý đến

Họa sĩ nổi bật trong việc thể hiện trên chất liệu lụa giai đoạn này là Nguyễn Phan Chánh (1892-1984).

Tranh của ông có cái gì đó êm dịu, thong thả, mộc mạc của nông thôn VN

Các tác phẩm của ông như “chơi ô ăn quan”, “Rửa rau cầu ao”, “Lên đồng”, “Bé cho chim ăn”…

đã chứng tỏ ông là một họa sĩ tài năng

Tiếp thu những thành nghệ thuật phương Tây, ông đã tìm cho mình con đường sáng tạo theo lối tạo hình phương Đông, và lại thấm đượm sâu đậm tâm hồn dân tộc

Ngoài Nguyễn Phan Chánh còn nhiều họa sĩ khác cũng vẽ lụa và để lại nhiều tác phẩm thành công như:

Tác phẩm “Em bé và hoa”- “ Thiếu nữ bên cửa sổ”- Họa sĩ Mai Trung Thứ

Tác phẩm “Tâm tình”- Họa sĩ Lê Phổ

Trang 29

Tác phẩm “Bức thư” – Họa sĩ Tô Ngọc Vân

Tác phẩm “Thiếu nữ và hoa cúc”- Nguyễn thị Nhung…

* Khắc gỗ

Phát huy truyền thống tranh Đông Hồ,

các nghệ sĩ ta đã phát triển chất liệu này ở một số đề tài sinh hoạt và phong cảnh…

Tiêu biểu như tác phẩm “Gội đầu”- 1943- Trần Văn Cẩn

Đặc biệt phải kể đến là tác phẩm “Bến thuyền sông Hồng”- An

Sơn- Đỗ Đức Thuận

(tp hiện lưu giữ ở Bảo tàng Mĩ thuật Hà Nội)

Trang 30

 Toàn bộ tranh thể hiện một gam màu nâu, với nhiều sắc độ ấm áp, đậm đà càng tăng thêm vẻ thâm trầm

đậm chất dân tộc

 Các dáng người với đôi quang gánh nặng trĩu trên vai lặng lẽ, lầm lũi gợi ta sự vất vả, nặng nhọc của những

người phụ nữ trên bến sông trước đây

 Hai yếu tố đặc trưng của đồ họa, nét và mảng đã được tác giả khai thác bằng thủ pháp tương phản

 Những nét phong phú dày đặc, đan xen gợi cảm giác đông vui

 Đối lập lại là những mảng màu diễn tả đoàn người gánh nặng nối nhau dàn hàng ngang trên bờ gợi cảm giác yên bình, tĩnh lặng

 Tác giả đã khéo sắp xếp những mảng màu theo dao động hình sin không đều đặn, phá thế với nhiều mảng song song ở đáy tranh tạo nên

sự phong phú và sinh động cho bố cục tranh

 “Bến thuyền sông Hồng” cho ta thấy một thể loại tranh khắc gỗ hiện đại không giống

như tranh dân gian (Đông Hồ, Hàng Trống)

 Tranh cho thấy có sự kết hợp những nét dân tộc truyền thống với lối tạo hình hiện

đại, khoa học

Trang 31

- Mĩ thuật thời này tiếp cận mĩ thuật Pháp, mĩ thuật châu Âu mở ra một hướng đi mới cho lịch sử mĩ thuật

- Một nền nghệ thuật tạo hình hiện thực đang được hình thành với sự phát triển bước đầu của chất liệu, thể loại, kĩ thuật, bút pháp

- Một đội ngũ sáng tác mang tính chuyên nghiệp cũng được hình thành và đã sáng tác nhiều tác phẩm có giá trị

- Mặc dù có sự khởi đầu khá thành công, nhưng cũng không tránh khỏi những hạn chế tất yếu

Mĩ thuật đã diễn tả được nhiều mặt của cuộc sống, nhưng chỉ mới dừng lại ở ngưỡng cửa nội thất (gia đình)

chưa diễn tả được những vấn đề lớn mang tính cách mạng, thời đại, chưa đến được với đông đảo quần chúng lao động

* Tóm lại

Trang 32

Mĩ THU T VI T NAM TH I HI N Đ I (t năm 1945 đ n nay) Ậ Ệ Ờ Ệ Ạ ừ ế

• 1 .9 năm kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954)

Đây là giai đoạn thay đổi quan niệm nghệ thuật của các họa sĩ, đua nghệ thuật gắn với những biến động của dân tộc Các họa sĩ đã từ bỏ phong cách nghệ thuật lãng mạn bằng những tác phẩm đầy tính chiến đấu lạc quan Hình thành nền nghệ thuật cách mạng kháng chiến.

-Cách mạng tháng 8 thành công, đưa đất nước vào kỉ nguyên độc lập – tự do – hạnh phúc, hướng mĩ thuật Việt Nam vào nhân sinh quan cách mạng

Những bức tranh cổ động như:

Ngày đăng: 11/11/2014, 16:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w