TRANG THÔNG TIN VỀ NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN Tên đề tài luận án: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ GIÁO DỤC DINH DƯỠNG CHO BÀ MẸ NHẰM GIẢM SUY DINH DƯỠNG TRẺ EM DƯỚI 24 THÁNG TUỔI TẠI SÓC SƠN, HÀ NỘI (20102011) Chuyên ngành : Vệ sinh xã hội học và Tổ chức y tế. Mã số : 62 72 01 64 Họ và tên NCS : Họ và tên người hướng dẫn : Tên cơ sở đào tạo: Học viện Quân y. Tóm tắt những đóng góp mới của luận án: 1. Đã xác định được tỷ lệ suy dinh dưỡng các thể nhẹ cân, thấp còi và gầy còm của trẻ em dưới 24 tháng tuổi ở 6 xã của huyện Sóc Sơn (Hà Nội) năm 2010 là 7,8%, 19,1% và 3.9%, đều thấp hơn trung bình toàn quốc và đã ở mức thấp theo phân loại của Tổ chức Y tế thế giới. Đồng thời đã xác định, ngay ở một huyện ngoại thành Hà Nội, kiến thức, thực hành phòng chống SDD, đa dạng hoá bữa ăn, chăm sóc trẻ ốm, vệ sinh cá nhân của bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi vẫn còn nhiều hạn chế. 2. Can thiệp giáo bằng giáo dục truyền thông tích cực đã làm thay đổi rõ rệt kiến thức, thực hành đa dạng hoá bữa ăn, chế biến thức ăn bổ sung và phòng chống SDD ở các bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi. Sau 12 tháng can thiệp, tỷ lệ suy dinh dưỡng cả 3 thể đều giảm, chỉ số hiệu quả can thiệp đối với suy dinh dưỡng thể gầy còm là 74,2%, thể nhẹ cân là 41,6% và thể thấp còi là 32,8%. CÁN BỘ HƯỚNG DẪN 1 CÁN BỘ HƯỚNG DẪN 2 NGHIÊN CỨU SINH ĐẶT VẤN ĐỀ Suy dinh dưỡng do thiếu protein năng lượng (proteinenergy malnutrition PEM) ở Việt Nam thường chỉ được gọi là suy dinh dưỡng (SDD). Suy dinh dưỡng hiện vẫn đang là vấn đề có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Trong báo cáo năm 2000), Uỷ ban thường trực Dinh dưỡng của Liên hợp quốc và Viện nghiên cứu chính sách thực phẩm quốc tế (ACCSCNIFPRI) đã cho biết có khoảng 185 triệu trẻ dưới 5 tuổi (34%) bị SDD thấp còi tại các nước đang phát triển 65,102. Báo cáo năm 2005 của ACCSCNIFPRI cho thấy vẫn còn khoảng 178 triệu trẻ < 5 tuổi (32%) bị thấp còi tại các nước đang phát triển 64. Theo FAOWHO đến năm 2012 tỷ lệ thiếu dinh dưỡng trên toàn thế giới đã giảm, nhưng vẫn còn 162 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng mãn tính (thấp còi), 51 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng cấp tính (gầy còm); thiếu dinh dưỡng là nguyên nhân tiềm ẩn lớn nhất của tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi, gây ra 45% của tất cả tử vong trẻ em trên thế giới ngày nay 84. Ở Việt Nam, tuy tình trạng thiếu dinh dưỡng đã thuyên giảm rõ rệt với tốc độ nhanh, nhưng tỷ lệ SDD vẫn còn cao, đặc biệt là SDD thấp còi và có sự chênh lệch rất đáng kể theo các vùng địa lý. Trong thời gian gần đây, cùng với sự phát triển kinh tế xã hội và bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng kể trong việc cải thiện tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe của nhân dân. Hầu hết các mục tiêu của Chiến lược Quốc gia về Dinh dưỡng 20012010 55 đã đạt và vượt chỉ tiêu đề ra. Tỷ lệ SDD nhẹ cân ở trẻ dưới 5 tuổi đã giảm tương đối nhanh và liên tục so với năm 1985 và 2000. Tại kỳ họp thường niên lần thứ 35 của Ủy ban thường trực về Dinh dưỡng Liên hợp quốc tổ chức tại Hà Nội (32008), UNICEF và WHO đã đánh giá Việt Nam là một trong số ít quốc gia đạt mức giảm SDD gần với Mục tiêu Thiên niên kỷ 11,55,59. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn phải đương đầu với những thách thức lớn về dinh dưỡng. Trong khi tỷ lệ SDD thấp còi của trẻ em dưới 5 tuổi vẫn còn cao, nhất là ở các vùng nghèo, thì tình trạng thừa cân béo phì và một số bệnh mạn tính không lây liên quan đến dinh dưỡng đang có xu hướng gia tăng, đó là gánh nặng kép về dinh dưỡng. Trong bối cảnh đó, Chiến lược Quốc gia Dinh dưỡng 20112020 với tầm nhìn đến 2030 56 đã được Thủ Tướng Chính phủ phê duyệt, đã và đang được triển khai trên toàn quốc. Tại Hà Nội, cũng như tình trạng chung toàn quốc, tỷ lệ SDD nhẹ cân giảm khá nhanh từ mức SDD thấp theo phân loại của Tổ chức Y tế thế giới (18,7% năm 2001) xuống mức rất thấp (8,6% năm 2011). Trong khi đó tỷ lệ SDD thấp còi hầu như không giảm mà còn gia tăng (15,6% năm 2001, 17,8% năm 2011). Sóc Sơn là một huyện nghèo của Hà Nội, tỷ lệ SDD trẻ em còn cao, do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có trình độ dân trí và kiến thức, thực hành dinh dưỡng của các bà mẹ còn hạn chế 17,46. Do đó, trong những năm qua nhiều giải pháp can thiệp phòng chống SDD đã được triển khai, trong đó giải pháp quan trọng là xây dựng và triển khai một mô hình thí điểm chỉ can thiệp bằng giáo dục truyền thông. Trong bối cảnh đó, đề tài “Đánh giá hiệu quả giáo dục dinh dưỡng cho bà mẹ nhằm giảm suy dinh dưỡng trẻ em dưới 24 tháng tuổi tại Sóc Sơn, Hà Nội (20102011)” được thực hiện. Mục tiêu của đề tài là: 1. Mô tả tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ dưới 24 tháng tuổi và kiến thức, thực hành về phòng chống suy dinh dưỡng của bà mẹ tại 6 xã của huyện Sóc Sơn (2010). 2. Đánh giá hiệu quả giải pháp can thiệp nâng cao kiến thức, thực hành về phòng chống suy dinh dưỡng của các bà mẹ tại 3 xã của huyện Sóc Sơn (2010 2011).
Trang 1TRANG THÔNG TIN VỀ NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN Tên đề tài luận án:
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ GIÁO DỤC DINH DƯỠNG CHO BÀ MẸ
NHẰM GIẢM SUY DINH DƯỠNG TRẺ EM DƯỚI 24 THÁNG TUỔI
TẠI SÓC SƠN, HÀ NỘI (2010-2011) Chuyên ngành : Vệ sinh xã hội học và Tổ chức y tế
Họ và tên NCS :
Họ và tên người hướng dẫn :
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Quân y.
Tóm tắt những đóng góp mới của luận án:
1 Đã xác định được tỷ lệ suy dinh dưỡng các thể nhẹ cân, thấp còi và gầy còm của trẻ em dưới 24 tháng tuổi ở 6 xã của huyện Sóc Sơn (Hà Nội) năm 2010 là 7,8%, 19,1% và 3.9%, đều thấp hơn trung bình toàn quốc và đã ở mức thấp theo phân loại của Tổ chức Y tế thế giới
Đồng thời đã xác định, ngay ở một huyện ngoại thành Hà Nội, kiến thức, thực hành phòng chống SDD, đa dạng hoá bữa ăn, chăm sóc trẻ ốm, vệ sinh cá nhân của bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi vẫn còn nhiều hạn chế
2 Can thiệp giáo bằng giáo dục truyền thông tích cực đã làm thay đổi rõ rệt kiến thức, thực hành đa dạng hoá bữa ăn, chế biến thức ăn bổ sung và phòng chống SDD
ở các bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi
Sau 12 tháng can thiệp, tỷ lệ suy dinh dưỡng cả 3 thể đều giảm, chỉ số hiệu quả can thiệp đối với suy dinh dưỡng thể gầy còm là 74,2%, thể nhẹ cân là 41,6% và thể thấp còi là 32,8%
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN 1 CÁN BỘ HƯỚNG DẪN 2 NGHIÊN CỨU SINH
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Suy dinh dưỡng do thiếu protein năng lượng (protein-energymalnutrition - PEM) ở Việt Nam thường chỉ được gọi là suy dinh dưỡng(SDD) Suy dinh dưỡng hiện vẫn đang là vấn đề có ý nghĩa sức khỏe cộngđồng ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Trong báo cáo năm2000), Uỷ ban thường trực Dinh dưỡng của Liên hợp quốc và Viện nghiêncứu chính sách thực phẩm quốc tế (ACC/SCN/IFPRI) đã cho biết có khoảng
185 triệu trẻ dưới 5 tuổi (34%) bị SDD thấp còi tại các nước đang phát triển[65],[102] Báo cáo năm 2005 của ACC/SCN/IFPRI cho thấy vẫn còn khoảng
178 triệu trẻ < 5 tuổi (32%) bị thấp còi tại các nước đang phát triển [64] TheoFAO/WHO đến năm 2012 tỷ lệ thiếu dinh dưỡng trên toàn thế giới đã giảm,nhưng vẫn còn 162 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng mãn tính (thấpcòi), 51 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng cấp tính (gầy còm); thiếudinh dưỡng là nguyên nhân tiềm ẩn lớn nhất của tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi,gây ra 45% của tất cả tử vong trẻ em trên thế giới ngày nay [84]
Ở Việt Nam, tuy tình trạng thiếu dinh dưỡng đã thuyên giảm rõ rệt vớitốc độ nhanh, nhưng tỷ lệ SDD vẫn còn cao, đặc biệt là SDD thấp còi và có sựchênh lệch rất đáng kể theo các vùng địa lý Trong thời gian gần đây, cùng với
sự phát triển kinh tế xã hội và bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, ViệtNam đã đạt được những kết quả đáng kể trong việc cải thiện tình trạng dinhdưỡng và sức khỏe của nhân dân Hầu hết các mục tiêu của Chiến lược Quốcgia về Dinh dưỡng 2001-2010 [55] đã đạt và vượt chỉ tiêu đề ra Tỷ lệ SDDnhẹ cân ở trẻ dưới 5 tuổi đã giảm tương đối nhanh và liên tục so với năm 1985
và 2000 Tại kỳ họp thường niên lần thứ 35 của Ủy ban thường trực về Dinhdưỡng Liên hợp quốc tổ chức tại Hà Nội (3/2008), UNICEF và WHO đã đánhgiá Việt Nam là một trong số ít quốc gia đạt mức giảm SDD gần với Mục tiêuThiên niên kỷ [11],[55],[59]
Trang 3Tuy nhiên, Việt Nam vẫn phải đương đầu với những thách thức lớn vềdinh dưỡng Trong khi tỷ lệ SDD thấp còi của trẻ em dưới 5 tuổi vẫn còn cao,nhất là ở các vùng nghèo, thì tình trạng thừa cân - béo phì và một số bệnh mạntính không lây liên quan đến dinh dưỡng đang có xu hướng gia tăng, đó làgánh nặng kép về dinh dưỡng Trong bối cảnh đó, Chiến lược Quốc gia Dinhdưỡng 2011-2020 với tầm nhìn đến 2030 [56] đã được Thủ Tướng Chính phủphê duyệt, đã và đang được triển khai trên toàn quốc.
Tại Hà Nội, cũng như tình trạng chung toàn quốc, tỷ lệ SDD nhẹ cângiảm khá nhanh từ mức SDD thấp theo phân loại của Tổ chức Y tế thế giới(18,7% năm 2001) xuống mức rất thấp (8,6% năm 2011) Trong khi đó tỷ lệSDD thấp còi hầu như không giảm mà còn gia tăng (15,6% năm 2001, 17,8%năm 2011) Sóc Sơn là một huyện nghèo của Hà Nội, tỷ lệ SDD trẻ em còncao, do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có trình độ dân trí và kiếnthức, thực hành dinh dưỡng của các bà mẹ còn hạn chế [17],[46] Do đó, trongnhững năm qua nhiều giải pháp can thiệp phòng chống SDD đã được triểnkhai, trong đó giải pháp quan trọng là xây dựng và triển khai một mô hình thíđiểm chỉ can thiệp bằng giáo dục truyền thông
Trong bối cảnh đó, đề tài “Đánh giá hiệu quả giáo dục dinh dưỡng cho bà mẹ nhằm giảm suy dinh dưỡng trẻ em dưới 24 tháng tuổi tại Sóc Sơn, Hà Nội (2010-2011)” được thực hiện.
Mục tiêu của đề tài là:
1 Mô tả tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ dưới 24 tháng tuổi và kiến thức, thực hành về phòng chống suy dinh dưỡng của bà mẹ tại 6 xã của huyện Sóc Sơn (2010).
2 Đánh giá hiệu quả giải pháp can thiệp nâng cao kiến thức, thực hành về phòng chống suy dinh dưỡng của các bà mẹ tại 3 xã của huyện Sóc Sơn (2010 - 2011).
Trang 4CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ SUY DINH DƯỠNG
Tình trạng dinh dưỡng được định nghĩa là tập hợp các đặc điểm chứcphận, cấu trúc và hoá sinh phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơthể Tình trạng dinh dưỡng của cá thể là kết quả của ăn uống và sử dụng cácchất dinh dưỡng của cơ thể [6],[7],[34] Cơ thể sử dụng các chất dinh dưỡng
có trong thực phẩm không những phải trải qua quá trình tiêu hoá, hấp thu, màcòn phụ thuộc vào các yếu tố khác như sinh hoá, sinh lý trong quá trìnhchuyển hoá [34] Việc sử dụng thực phẩm phụ thuộc vào tình trạng sức khoẻcủa cá thể Tình trạng dinh dưỡng tốt phản ánh sự cân bằng giữa thức ăn, ănvào và tình trạng sức khoẻ Khi tình trạng dinh dưỡng không tốt (thiếu hoặcthừa dinh dưỡng), là cơ thể bị suy dinh dưỡng và có vấn đề về sức khoẻ [2]
Tình trạng dinh dưỡng của một quần thể dân cư được thể hiện bằng tỷ
lệ của các cá thể bị tác động bởi các vấn đề dinh dưỡng Tình trạng dinhdưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi thường được coi là đại diện cho tình hình dinhdưỡng và thực phẩm của một cộng đồng Đôi khi người ta cũng lấy tình trạngdinh dưỡng của phụ nữ tuổi sinh đẻ làm đại diện Các tỷ lệ trên phản ánh tìnhtrạng dinh dưỡng của toàn bộ quần thể dân cư ở cộng đồng đó, và có thể sửdụng để so sánh với số liệu của các cộng đồng khác, các quốc gia, khu vựchoặc toàn cầu [34] Tháng 12/2000 Liên hợp quốc đã thông qua các Mục TiêuThiên Niên Kỷ, trong đó có mục tiêu giảm 1/3 tỷ lệ SDD vào năm 2015 so vớinăm 1990
SDD do thiếu protein - năng lượng gồm 3 thể [6],[7],[34]: nhẹ cân(underweight - cân nặng/tuổi thấp), thấp còi (stunting - chiều cao/tuổi thấp) vàgầy còm (wasting - cân nặng/chiều cao thấp) Bệnh hay gặp ở trẻ em dưới 5tuổi với các mức độ khác nhau do cơ thể thiếu protein - năng lượng và các vi
Trang 5chất dinh dưỡng Trước kia, thuật từ “Suy dinh dưỡng - Malnutrition” thườngđược sử dụng để chỉ các thể thiếu dinh dưỡng rất nặng (Marasmus hoặcKwashiorkor) hay gặp trong các bệnh viện nhi khoa Tuy nhiên, SDD do thiếuprotein - năng lượng bao gồm tất cả các thể thiếu dinh dưỡng vừa, nặng và rấtnặng Thuật ngữ “Suy dinh dưỡng” chỉ tình trạng phát triển thể chất không bìnhthường (abnormal status), có liên quan đến cả thiếu hoặc thừa dinh dưỡng Ănuống vượt quá mức nhu cầu dẫn đến thừa dinh dưỡng biểu hiện là thừa cân - béophì Do vậy, khi nói đến SDD là bao hàm cả thiếu và thừa dinh dưỡng [6],[7].
SDD thể thấp còi là biểu hiện của thiếu dinh dưỡng kéo dài mạn tính[16] Nguyên nhân thấp còi thường do trẻ bị thiếu các chất dinh dưỡng cầnthiết trong thời gian dài phối hợp với điều kiện vệ sinh nghèo nàn, mắc cácbệnh nhiễm trùng nhiều lần và thiếu sự chăm sóc cần thiết
1.1.1 Thực trạng và diễn biến suy dinh dưỡng trên thế giới và Việt Nam
1.1.1.1 Thực trạng suy dinh dưỡng một số vùng trên thế giới
Theo đánh giá của WHO, châu Phi và châu Á vẫn là những vùng có tỷ
lệ cao (châu Phi 33,8% và châu Á 29,9% vào năm 2005) [125] Tỷ lệ thấpnhất thuộc vùng châu Mỹ La tinh và Carribe, chỉ có khoảng gần 10% trẻ emdưới 5 tuổi bị thấp còi [117], [125]
Có khoảng 32,5% trẻ em dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển bị thấpcòi Có sự cải thiện đáng kể từ năm 1980, tỷ lệ giảm thấp còi bình quânkhoảng 0,73%/năm trong vòng 20 năm qua [118], [119], [125] Ước tính vàonăm 2005 tỷ lệ thấp còi chung ở tất cả các nước đang phát triển khoảng 29%.Mức giảm mạnh nhất xảy ra ở châu Á và châu Mỹ Latinh và Carribe, mặc dùmức độ suy dinh dưỡng là khác nhau giữa 2 vùng Tỷ lệ ở châu Á giảm từ52,2% năm 1980 xuống 34,4% vào năm 2000 và 29,9% vào năm 2005, trongkhi ở Châu Mỹ Latinh và Carribe mức giảm từ 25,6% xuống 12,6% và 9,3%
từ 1980 đến 2005 Từ 1980 đến 2000, ước tính số lượng trẻ em bị thấp còi đãkhoảng 6,2 triệu trẻ, ít hơn so với chu kỳ 2000-2005 [125]
Trang 6Ở Đông Nam Châu Á ước tính có khoảng 32,8% trẻ thấp còi năm 2000tương đương với khoảng 19 triệu trẻ Mức giảm vùng này vào khoảng 0,98%/năm, giảm khoảng 20% từ 1980 đến 2000 (từ 52,4% xuống 32,8%) Nếu mứcgiảm này tiếp tục duy trì đến năm 2005, số lượng trẻ thấp còi sẽ giảm khoảng
Từ năm 1980 đến 2000, thấp còi giảm từ 32,7% xuống 20,2% Mức giảm xảy
ra cả ở tỷ lệ và số lượng, ước tính tiếp tục giảm với mức khoảng 0,63%/năm
Châu Mỹ Latinh và Carribe ước tính giảm thấp còi từ 25,6% năm 1980xuống còn 12,6% năm 2000 Xu hướng giảm dự báo sẽ tiếp tục với mức0,65%/năm và tỷ lệ sẽ xuống 9,3% năm 2005 Mức giảm thấp còi rất khácnhau giữa các tiểu vùng Carribe, Trung Mỹ và Nam Mỹ: 0,54%; 0,10%; và0,79%/năm Số lượng trẻ thấp còi ở Trung Mỹ thay đổi rất ít trong vòng 20năm qua, trong khi ở Nam Mỹ đã giảm từ 8,4 xuống 3,2 triệu trẻ cùng kỳ[117],[125]
Từ năm 1960 của thế kỷ trước trở lại đây, đã có 846 cuộc điều tra dinhdưỡng trong đó có 412 cuộc điều tra quốc gia từ 138 nước và 434 cuộc điềutra dưới quốc gia từ 155 nước và vùng lãnh thổ đang phát triển Số liệu cáccuộc điều tra trên đã giúp so sánh mức độ, khuynh hướng và phân bố địa lý vềsuy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi trên thế giới Sự phân bố về tỷ lệ thấp còi ở
Trang 7các nước đang phát triển gần đây ở các mức thấp, trung bình, cao và rấtcao(<20%, 20–29%, 30–39%, và 40% theo thứ tự) cho thấy tỷ lệ thấp còi rấtcao ở nhiều nước thuộc tiểu vùng Sahara, Trung Nam Á và Đông Nam Á [94].Hầu hết các nước thuộc Châu Mỹ La tinh và Carribe có mức thấp hoặc trungbình.
Theo phân tích của WHO và một số tác giả, năm 2008) có khoảng 40%quốc gia vẫn có tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi cao trên 40%, trong đó 23 nướcthuộc Châu Phi, 16 nước châu Á và 1 ở châu Mỹ Latinh Công bố năm 2000của Judit Katona Apte, Ali Mokdad (Liên Hợp Quốc) cho thấy tỷ lệ SDD nóichung tại Bắc Triều Tiên rất cao, riêng thấp còi xếp vào hàng các quốc gia có
tỷ lệ trên 40% Ngoài ra, WHO còn cho biết trên thế giới có 52 nước có tỷ lệthấp còi dưới 20%, trong đó số nước thuộc châu Mỹ Latinh và Carribe là 17,châu Á là 16, châu Âu là 11 và Châu Phi là 4 Có 36 nước với tỷ lệ thấp còitrên 20% tương đương với 90% tổng số trẻ thấp còi trên toàn thế giới ChâuPhi (có 21 nước), ít hơn châu Á, nhưng xét về số lượng trẻ thấp còi châu Phichiếm 61% tổng số vì dân số của những nước này lớn Ấn Độ có tỷ lệ thấp còirất cao 51% tương đương với 61 triệu trẻ, chiếm 34% tổng số trẻ thấp còi toànthế giới Điều đáng quan tâm là tỷ lệ thấp còi đều cao nhất ở nhóm nghèo nhấttrong các nước này [77],[78],[92],[107]
Kết quả phân tích các dữ liệu đại diện từ những cuộc điều tra của 39quốc gia thuộc các nước đang phát triển [67],[82],[83] đã cho thấy giá trịtrung bình Z-scores chiều cao theo tuổi ở trẻ sơ sinh giữa các nước Châu Phi,Châu Á và Châu Mỹ La tinh rất giống nhau và đường biểu diễn nằm rất sátvới trung bình của quần thể tham khảo Z-score trung bình ở cả ba vùng giảm
rõ rệt từ sơ sinh cho đến 24 tháng và tiếp tục giảm chậm hơn cho đến khi trẻ 3tuổi Mức giảm ở Châu Mỹ La tinh và Carribe khoảng 1,25 SD, trong khi ởChâu Phi và Châu Á, là 2SD Tuy nhiên, ở tất cả các vùng giá trị Z-scores
Trang 8trung bình chiều cao theo tuổi của trẻ 24 tháng tuổi có sự khác biệt có ý nghĩa
so với quần thể tham chiếu NCHS
Biểu đồ 1.1 Xu hướng tăng trưởng chiều cao ở trẻ < 5 tuổi theo vùng
* Nguồn: theo Manoff R.K (1985) [98]
Một phát hiện quan trọng là khuynh hướng chậm tăng trưởng tương đốigiống nhau ở các nước đang phát triển, không chỉ trong một khu vực mà trênphạm vi toàn cầu [76],[95] Tổ chức Y tế Thế giới [116],[117] đã khẳng địnhrằng thấp còi vẫn là một vấn đề y tế cộng đồng quan trọng của nhiều nước vàtiếp tục cản trở sự phát triển thể chất, tinh thần và sự sống còn của trẻ Nhìnchung tỷ lệ thấp còi đều giảm ở các nước đang phát triển, nhưng ở một sốnước tỷ lệ thấp còi vẫn tăng hoặc một số nơi vẫn duy trì ở tỷ lệ cao Nhữngkết quả này chỉ ra rằng các can thiệp phòng ngừa suy dinh dưỡng cần đượctriển khai ở các thời kỳ sớm nhất vì có hiệu quả tốt nhất Do đó, Lancetkhuyến nghị các can thiệp đặc biệt được nhấn mạnh ở giai đoạn bào thai vàgiai đoạn từ sơ sinh đến 24 tháng tuổi [79]
1.1.1.2 Tình hình suy dinh dưỡng ở Việt Nam
Ở Việt Nam, suy dinh dưỡng do thiếu protein năng lượng (protein energy malnutrition - PEM) vẫn còn là một thách thức quan trọng đối với sức
-Châu Phi Châu Á Mỹ La tinh & Caribê
Tháng tuổi
Trang 9khỏe cộng đồng và phát triển kinh tế xã hội Từ thập kỷ 80 về trước, các thểsuy dinh dưỡng nặng như Kwashiorkor, Marasmus khá phổ biến, gặp cả trongbệnh viện và ngoài cộng đồng [16] Gần đây, các thể này đã trở nên hiếm gặp.Hiện nay SDD chủ yếu là thể nhẹ và thể vừa, biểu hiện là trẻ bị nhẹ cân, gầycòm và thấp còi Tỷ lệ SDD thể nhẹ cân (cân nặng/tuổi thấp) từ 51% năm
1985, giảm xuống 33,8% năm 2000, và giảm mạnh chỉ còn khoảng 19,9%năm 2008 Tỷ lệ SDD thể gầy còm năm 2000 (cân nặng/chiều cao thấp) là8,6%, giảm xuống còn dưới 5% năm 2008 [50],[54],[62] Tỷ lệ suy dinhdưỡng thể thấp còi (chiều cao/tuổi thấp) ở trẻ dưới 5 tuổi đã giảm từ 56,5%năm 1990 xuống còn 36,5% năm 2000, giảm khoảng 20% trong vòng mộtthập kỷ và cũng có xu hướng giảm nhanh hơn ở độ SDD nặng hơn như đốivới SDD thể nhẹ cân (Biểu đồ 1.2) Năm 2008, tỷ lệ này còn 32,6%, tuy vậyhiện vẫn là một mức cao theo tiêu chuẩn đánh giá của WHO Tỷ lệ SDD cả 3thể có thể giảm nhanh và mạnh như vậy là nhờ sự tăng trưởng kinh tế ổn định
và đảm bảo an ninh lương thực thực phẩm quốc gia Việc nâng cao nhận thức
và sự quan tâm của toàn xã hội cũng như thực hiện có hiệu quả chương trìnhmục tiêu quốc gia phòng chống SDD trẻ em
SDD nhẹ cân SDD thấp còi
Biểu đồ 1.2 Diễn biến suy dinh dưỡng trẻ em Việt Nam dưới 5 tuổi
từ 1985 đến 2010
*Nguồn: Viện Dinh dưỡng quốc gia-UNICEF, 2011 [60]
Trang 10Các nghiên cứu ở nước ta đã chỉ ra rằng: ở nhóm trẻ dưới 6 tháng tuổi
cả 3 thể SDD (nhẹ cân, thấp còi và gầy còm) đều rất thấp, sau đó tăng nhanhvào thời kỳ 6-24 tháng tuổi - thời kỳ trẻ có nguy cơ bị SDD cao nhất do trẻ ănsam, cai sữa, khả năng miễn dịch tự nhiên giảm, dễ mắc các bệnh truyềnnhiễm hơn Thời gian này các bà mẹ bắt đầu đi làm, ít thời gian chăm sóc concũng là lý do dẫn đến SDD [55]
Biểu đồ 1.3 Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em <5 tuổi (2000-2010) tại Việt Nam
*Nguồn: Viện Dinh dưỡng quốc gia, 2011 [60]
Trong giai đoạn 2001-2010, tình trạng dinh dưỡng của người dân ViệtNam nói chung và của bà mẹ, trẻ em nói riêng đã được cải thiện rõ rệt, đặcbiệt là khi Chiến lược quốc gia về Dinh dưỡng được triển khai trên toàn quốc[55] Tỷ lệ SDD thể nhẹ cân (cân nặng/tuổi) ở trẻ em dưới 5 tuổi giảm mạnh
từ 31,9% năm 2001 xuống còn 22,9% vào năm 2005, tính chung cả nước mỗinăm trung bình giảm khoảng 1,5% và chỉ còn 17,5% vào năm 2010 [55],[60].Thành tựu giảm SDD liên tục và bền vững của Việt Nam đã được các tổ chứcquốc tế thừa nhận và đánh giá cao Tuy nhiên, theo kết quả Tổng điều tra
2010 thì có sự chênh lệch khá lớn về SDD giữa các vùng miền (Biểu đồ 1.4)
và vẫn còn 20/63 tỉnh thành có tỷ lệ SDD nhẹ cân trên 20% - là mức cao theophân loại của WHO
Trang 11Bắc trung bộ và duyên hải miền Trung
Tây Nguyên Đông Nam Bộ Đồng bằng sông
Cửu Long
Biểu đồ 1.4 Tỷ lệ suy dinh dưỡng nhẹ cân của trẻ em <5 tuổi theo vùng
*Nguồn: Viện Dinh dưỡng quốc gia-UNICEF, 2011 [60]
Tương tự SDD nhẹ cân, tỷ lệ thể thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi đã giảmđáng kể từ 43,3% năm 2000 xuống còn 29,3% năm 2010 [55] Tuy vậy, tỷ lệSDD thấp còi còn cao và tình trạng SDD trẻ em còn có sự khác biệt lớn giữacác vùng miền Theo kết quả Tổng điều tra dinh dưỡng 2010 thì có đến 31tỉnh có tỷ lệ SDD thấp còi trên 30% và còn 2 tỉnh tỷ lệ SDD thấp còi ở trẻdưới 5 tuổi ở mức rất cao (>40%)
Tỷ lệ SDD thấp còi ở trẻ em ở các vùng miền núi phía Bắc, Bắc Trung
bộ và Tây Nguyên còn rất cao so với trung bình cả nước cũng như so với cácvùng khác Mức giảm trung bình SDD thấp còi trong 15 năm qua (1995-2010)
là khoảng 1,3%/năm Ước tính đến 2010, nước ta còn khoảng 1,3 triệu trẻ emdưới 5 tuổi SDD nhẹ cân và khoảng 2,1 triệu trẻ em SDD thấp còi Diễn biếnSDD thấp còi cho thấy tuy có giảm mạnh trong thập kỷ 1990 nhưng nhữngnăm sau 2005 giảm rất chậm
Trang 120 10 20 30 40 50 60 70
*Nguồn: Viện Dinh dưỡng quốc gia-UNICEF, 2011 [60]
Đồng thời các nghiên cứu còn cho thấy tỷ lệ SDD nói chung và thấp còinói riêng ở nông thôn/ngoại thành đều cao hơn so với thành thị
Biểu đồ 1.6 Tình trạng dinh dưỡng trẻ em Việt Nam từ 2000 đến 2013
*Nguồn: website Viện Dinh dưỡng (cập nhật ngày 26/03/2014).
Biểu đồ 1.6 thống kê tổng hợp về suy dinh dưỡng nhẹ cân và thấp còitrẻ em dưới 5 tuổi Việt Nam từ 2000 đến 2013
Trang 131.1.2 Tình hình suy dinh dưỡng tại Hà Nội
Cũng như tình trạng chung trên toàn quốc, tại Hà Nội tỷ lệ SDD cânnặng/tuổi giảm khá nhanh từ mức SDD thấp theo phân loại của WHO (năm2001: 18,7%) xuống mức rất thấp (năm 2011: 8,6%) Trong khi đó, tỷ lệ SDDchiều cao/tuổi hầu như không giảm mà còn gia tăng (15,6% năm 2001, 17,8%năm 2011) Điểm đáng quan tâm là tỷ lệ SDD cân nặng/tuổi đã giảm tươngđối thấp, nhưng có sự chênh lệch khác xa giữa các quận nội thành và ngoạithành một cách rõ rệt Một số quận nội thành tỷ lệ SDD xuống thấp <10%,trong khi đó tại các xã thuộc các huyện ngoại thành Hà Nội, những huyệnnghèo hiện nay vẫn có xã tỷ lệ SDD trẻ em còn ở mức cao và rất cao theophân loại của WHO
Bảng 1.1 Tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em < 5 tuổi ở thành phố Hà Nội
( 2001-2013) Năm cân nặng/tuổi SDD chiều cao/tuổi SDD Cân nặng/chiều cao SDD
Trang 14Sóc Sơn là một huyện thuộc vùng Tây bắc Hà Nội, là nơi có tỷ lệ suydinh dưỡng hiện cao hơn nhiều so với mặt bằng chung của thành phố Đây làmột huyện nghèo, xa trung tâm thành phố, điều kiện kinh tế xã hội còn nhiềukhó khăn, lạc hậu Sau 11 năm triển khai chương trình phòng chống SDD, tỷ
lệ SDD thể cân nặng/ tuổi đã giảm tương đối nhanh, nhưng hiện tỷ lệ SDDthấp còi ở trẻ <5 tuổi vẫn đang ở mức cao và thuyên giảm rất chậm
1.2 SUY DINH DƯỠNG TRẺ EM DƯỚI 5 TUỔI: PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ,
NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ
1.2.1 Phương pháp đánh giá và nhận định tình trạng dinh dưỡng ở trẻ
em dưới 5 tuổi
1.2.1.1 Phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi
Cách đơn giản và chính xác nhất là thường xuyên theo dõi cân nặng vàchiều cao của trẻ em Ba chỉ số nhân trắc thường được sử dụng để đánh giá tìnhtrạng dinh dưỡng của trẻ em gồm: cân nặng theo tuổi (CN/T), chiều cao theo tuổi(CC/T) và cân nặng theo chiều cao (CN/CC) so với quần thể tham chiếu Muốnnhận định các kết quả về nhân trắc, cần phải chọn một quần thể để so sánh.Không nên coi quần thể tham chiếu là chuẩn standard), nghĩa là tiêu chuẩn mongmuốn mà chỉ là cơ sở để đưa ra các nhận định để thuận tiện cho các so sánhtrong nước và quốc tế, vì trẻ dưới 5 tuổi, nếu được nuôi dưỡng hợp lý và điềukiện sống hợp vệ sinh thì khả năng phát triển giữa các chủng tộc không khácnhau [6],[34]
Trong những năm 1980 của thế kỷ trước, có nhiều tài liệu tham khảocủa Hoa Kỳ, Canada, Đan Mạch, Phần Lan, Thuỵ Điển và Vương quốc Anhđược đưa ra xem xét để lựa chọn làm quần thể tham chiếu Tổ chức Y tế thếgiới đã đề nghị lấy quần thể NCHS của Hoa Kỳ làm tham chiếu NCHS tuychưa đáp ứng được đầy đủ các tiêu chuẩn quốc tế, nhưng là một trong nhữngquần thể đáp ứng được nhiều tiêu chuẩn hơn Theo thang phân loại của WHO,những trẻ có các chỉ số nhân trắc (CN/T, CC/T và CN/CC) từ -2 SD đến
Trang 15+2SD là có tình trạng dinh dưỡng tốt [120],[121]
* Cân nặng theo tuổi thấp – Suy dinh dưỡng thể nhẹ cân (underweight)
Những trẻ có CN/T dưới 2 độ lệch chuẩn (<-2SD) so với quần thể thamchiếu là bị SDD thể nhẹ cân Từ đó có thể chia thêm các mức độ sau đây:
Từ -2SD đến -3SD: SDD thể nhẹ cân độ I (vừa)
Từ <-3SD đến - 4SD: SDD thể nhẹ cân độ II (nặng)
<- 4SD: SDD thể nhẹ cân độ III (rất nặng)
* Chiều cao theo tuổi thấp – Suy dinh dưỡng thể thấp còi (stunting)
Thường lấy các điểm ngưỡng chiều cao theo tuổi như sau:
Từ - 2SD đến +2SD: Bình thường;
<-2SD đến <-3SD: SDD thể thấp còi vừa; và
<-3SD: SDD thể thấp còi nặng
* Cân nặng theo chiều cao thấp – Suy dinh dưỡng thể gầy còm (wasting)
Các điểm ngưỡng giống như 2 chỉ tiêu CN/T và CC/T trên Khi có 2 chỉtiêu CC/T và CN/CC đều thấp hơn ngưỡng đề nghị thì đứa trẻ vừa bị SDDthấp còi, vừa bị SDD gầy còm
Qua hai thập kỷ sử dụng tài liệu tham khảo NCHS để đánh giá tìnhtrạng dinh dưỡng, các nhà nghiên cứu cho rằng NCHS chưa phù hợp, nhất làvới những trẻ được nuôi bằng sữa mẹ Năm 1995, Tổ chức Y tế thế giới đã đềnghị xây dựng tài liệu tham khảo quốc tế mới đại diện cho cả 5 Châu lục Đến
2005, WHO đã tổ chức xây dựng một quần thể có thể đại diện cho trẻ emđược nuôi bằng sữa mẹ thuộc các chủng tộc trên thế giới và khuyến nghị sửdụng làm quần thể chuẩn để đánh giá phân loại tình trạng dinh dưỡng [111],[116]
1.2.1.2 Nhận định ý nghĩa sức khỏe cộng đồng về suy dinh dưỡng trẻ em
Theo WHO, đối với suy dinh dưỡng thấp còi và suy dinh dưỡng nhẹ cân:
- Khi SDD dưới 10%, cộng đồng được coi là có SDD rất thấp;
- Khi tỷ lệ SDD dưới 20%, cộng đồng được coi là có SDD thấp;
Trang 16- Khi tỷ lệ SDD 20-29%, được coi là có SDD trung bình;
- Khi tỷ lệ SDD 30-39% là có SDD cao và trên 40% là rất cao
Khoa học dinh dưỡng đã chứng minh rằng 2 năm đầu tiên của cuộc đời
là thời kỳ tăng trưởng cao nhất sau khi sinh và do đó rất nhạy cảm với các yếu
tố bất lợi Trẻ thấp còi ở thời kỳ này ít có cơ hội đạt chiều cao bình thường khitrưởng thành hoặc đòi hỏi thời gian dài qua nhiều thế hệ Tăng trưởng kém làbiểu hiện của nghèo đói, thiếu dinh dưỡng và kém phát triển Nhiều yếu tố cóảnh hưởng đến tăng trưởng như tầng lớp xã hội, vùng đô thị và nông thôn,vùng địa lý, dịch vụ y tế, môi trường, nhà ở và vệ sinh kém [16]
1.2.2 Nguyên nhân và hậu quả của suy dinh dưỡng
1.2.2.1 Nguyên nhân của suy dinh dưỡng
UNICEF (1998)[117] đã đưa ra mô hình nguyên nhân hậu quả suy dinhdưỡng Một số tổ chức khác cũng đưa ra mô hình riêng, hoặc phát triển môhình mới dựa trên mô hình của UNICEF Nhưng hiện tại, mô hình nguyênnhân hậu quả suy dinh dưỡng của UNICEF vẫn được sử dụng rộng rãi nhất
* Nguyên nhân trực tiếp
+ Ăn uống không hợp lý (thiếu ăn về số lượng hoặc ăn uống kém chất lượng, kể cả sữa mẹ và thức ăn bổ sung)
Sữa mẹ và thức ăn bổ sung đóng vai trò quan trọng đối với thời điểm mắc và thể loại suy dinh dưỡng Quan niệm sai lầm của người mẹ hoặc gia
đình trong chăm sóc dinh dưỡng, thai sản, nuôi con bằng sữa mẹ và ăn bổsung là những nguyên trực tiếp Trẻ không được bú sữa mẹ, hoặc bú chainhưng số lượng sữa không đủ, dụng cụ không đảm bảo vệ sinh đều có thể dẫnđến suy dinh dưỡng Khi cho ăn bổ sung muộn, như ở một số nước châu Phi,các trường hợp suy dinh dưỡng nặng thường xảy ra vào năm thứ hai Cho ăn
bổ sung quá sớm, hoặc cho trẻ ăn thức ăn đặc quá muộn, số lượng không đủ
và năng lượng, protein thấp
Trang 17- Kiểm soát nguồn lực và
tự quyết của người CS
- Tình trạng sức khoẻ, thể chất tinh thần nguời CS.
-Giáo dục truyền thông
Nguồn lực Y tế:
- Dịch vụ CS y tế
- Cung cấp nước sạch
- Vệ sinh môi trường
Cấu trúc chính trị - kinh tế - xã hội.
Các nguồn tiểm năng (Môi trường, công nghệ, con người)
Nguyên nhân tiềm tàng
Nguyên nhân cơ bản
Trang 18Kết quả tổng điều tra dinh dưỡng 2009-2010 [56] và các nghiên cứugần đây tại Việt Nam cũng chỉ ra rằng một trong những nguyên nhân của tìnhtrạng suy dinh dưỡng, thiếu vi chất là khẩu phần ăn trẻ em dưới 5 tuổi cònthiếu về số lượng và kém về chất lượng.
Bảng 1.2 Mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị
trong khẩu phần trẻ 24-59 tháng theo nhóm tuổi và theo thể suy dinh dưỡng
do đó làm giảm hấp thu, đặc biệt các vi chất, làm cho kháng nguyên và các vikhuẩn đi qua nhiều hơn Nhiễm trùng làm tăng hao hụt các chất dinh dưỡng,trẻ ăn kém hơn do giảm ngon miệng Người ta ước đoán rằng nhiễm trùng ảnhhưởng đến 30% sự giảm chiều cao ở trẻ Tỷ lệ SDD có thể dao động theo mùa
và thường cao trong những mùa có các bệnh nhiễm khuẩn lưu hành ở mức cao(tiêu chảy, viêm hô hấp, sốt rét, sởi và các bệnh ký sinh trùng)
* Nguyên nhân tiềm tàng/quan trọng của SDD
Nguyên nhân tiềm tàng/quan trọng của SDD được xác định gồm mất an
Trang 19ninh thực phẩm hộ gia đình [75] mà chủ yếu là thiếu năng lượng và các chấtdinh dưỡng so với nhu cầu khuyến nghị [10], các yếu tố sự bất cập trong dịch
vụ chăm sóc bà mẹ, trẻ em, kiến thức của người chăm sóc trẻ, yếu tố chăm sóccủa gia đình, các vấn đề nước sạch, vệ sinh môi trường và tình trạng nhà ởkhông đảm bảo, mất vệ sinh Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, các vấn đề vềchăm sóc bà mẹ, trẻ em hoàn toàn có thể được giải quyết bằng đẩy mạnh giáodục truyền thông nâng cao kiến thức và thay đổi hành vi của bà mẹ/ngườichăm sóc nói riêng và các cộng đồng dân cư nói chung [28]
* Nguyên nhân cơ bản của SDD
Nguyên nhân cơ bản của SDD được xác định là cấu trúc chính trị - kinh
tế - văn hoá - xã hội, các nguồn tiềm năng (môi trường, công nghệ, conngười), trong đó tình trạng đói nghèo, lạc hậu về các mặt phát triển nói chung,bao gồm cả mất bình đẳng về kinh tế, đặc biệt, khủng hoảng kinh tế
Trong quá trình phát triển kinh tế hiện nay của các nước đang phát triển,khoảng cách giàu nghèo ngày càng gia tăng, tác động đến xã hội ngày càngsâu sắc Tổng điều tra dinh dưỡng Việt Nam (năm 2000 và 2009) đã chỉ rayếu tố kinh tế góp phần quan trọng liên quan đến dinh dưỡng [11] Trung bìnhcác hộ phải dành từ 40-60% kinh phí để chi tiêu cho ăn uống, tỷ lệ cao nhất là
ở vùng Tây Bắc và các xã nghèo (64%), làm giảm các khoản chi tiêu chochăm sóc y tế, giáo dục và các nhu cầu khác, ảnh hưởng nhiều đến chất lượngđời sống và việc chăm sóc con cái [39],[16] Số liệu từ các cuộc điều tra nhânkhẩu học và y tế của 11 nước cho thấy, tỷ lệ thấp còi nhóm trẻ thuộc tầng lớpnghèo cao gấp đôi nhóm thuộc tầng lớp giàu [1]
Kết quả các cuộc tổng điều tra dinh dưỡng 1999-2000 và 2009-2010của Viện Dinh dưỡng quốc gia cho thấy, các yếu tố sinh thái địa lý và kinh tế
- xã hội cũng ảnh hưởng quan trọng đến tình trạng dinh dưỡng trẻ em
Bảng 1.3 Tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi trẻ em theo vùng sinh thái
Đơn vị tính: tỷ lệ %
Trang 20*Nguồn: Viện dinh dưỡng –UNICEF(2011)[60].
Bảng 1.3 cho thấy sự phân bố SDD thấp còi ở nước ta không đồng đềugiữa các vùng sinh thái Nhiều địa phương miền núi tỷ lệ SDD cao hơn hẳnvùng đồng bằng Trong khu vực đồng bằng thì tỷ lệ SDD ở nông thôn cũngcao hơn thành thị Ở tất cả các vùng, trẻ em của các hộ làm nông nghiệp đều
có tỷ lệ SDD cao hơn có ý nghĩa (p<0,05); những hộ thiếu ăn có tỷ lệ SDDcao hơn hẳn những hộ không bị thiếu ăn các hộ gia đình phải dành từ 40-60%kinh phí chi tiêu để dùng cho ăn uống, tỷ lệ cao nhất là ở vùng Tây Bắc và các
xã nghèo (64%)
Chi tiêu cho ăn uống càng nhiều thì các khoản chi tiêu cho chăm sóc y
tế, giáo dục và các nhu cầu khác sẽ giảm đi, ảnh hưởng nhiều đến chất lượngđời sống và việc chăm lo cho con cái Thu nhập thấp làm cho chất lượng bữa
ăn không đảm bảo đầy đủ chất dinh dưỡng, dẫn đến SDD trẻ em
Trong nghiên cứu của Lê Danh Tuyên 2005 [52].[53], có tới 47% trẻ bịSDD thấp còi ở nhóm hộ nghèo lương thực thực phẩm Tỷ lệ này ở nhóm hộnghèo nhất giữa hai khu vực nông thôn và thành thị đều cao như nhau (47,1%
và 46,8%), trong khi đó tỷ lệ này có sự khác biệt khá rõ trong nhóm hộ giàu(24,2% và 9,2%)
Mức sống, tình hình an ninh thực phẩm, trình độ văn hoá bố mẹ, đặcđiểm hộ gia đình, tỷ lệ sinh và khoảng cách sinh, tập tục văn hoá… khác nhautheo vùng địa lý và khí hậu cũng như thiên tai Điều này rõ ràng có ảnh hưởng
Trang 21đến tình trạng dinh dưỡng trẻ em Trẻ sống ở vùng Tây nguyên, vùng núi phíaBắc, Bắc Trung bộ có xác suất bị SDD cao hơn (ví dụ ở Tây Nguyên xác suất
có thể tới 43%) [52]
1.2.2.2 Hậu quả của suy dinh dưỡng
Suy dinh dưỡng nói chung, đặc biệt là thấp còi, để lại những hậu quả rõrệt và nặng nề về phát triển trí tuệ, hành vi khả năng học hành của trẻ, khảnăng lao động đến tuổi trưởng thành, các bệnh mạn tính và ảnh hưởng đến thế
hệ kế tiếp SDD ở giai đoạn sớm, nhất là trong bào thai có mối liên quan vớimọi thời kỳ của vòng đời [71] Hầu hết những trẻ có cân nặng sơ sinh thấp bịsuy dinh dưỡng ngay trong năm đầu sau sinh Những trẻ này có nguy cơ tửvong cao hơn so với bình thường và khó có khả năng phát triển bình thường
Những trẻ thấp còi và nhẹ cân thường sẽ trở thành những người trưởngthành có tầm vóc nhỏ bé, năng lực sản xuất kém hơn so với người bìnhthường Bên cạnh đó, các bệnh mạn tính như tim mạch, đái tháo đường, rốiloạn chuyển hoá ở người trưởng thành có thể có nguồn gốc từ suy dinhdưỡng bào thai [63],[66],[70] Vì thế, phòng chống SDD bào thai hoặc trongnhững năm đầu tiên sau khi ra đời có một ý nghĩa rất quan trọng trong chu kỳvòng đời Hầu hết những trẻ có cân nặng sơ sinh thấp đều bị SDD (nhẹ cânhoặc thấp còi) ngay trong những năm tháng đầu tiên sau sinh và có nguy cơ tửvong cao hơn hẳn và rất khó có khả năng theo kịp phát triển như những trẻsinh ra bình thường
- Suy dinh dưỡng ảnh hưởng đến tầm vóc chiều cao khi trưởng thành Chiều cao của mẹ và chế độ dinh dưỡng nghèo nàn trong thời kỳ mangthai làm tăng nguy cơ chậm phát triển bào thai, cân nặng, chiều dài sơ sinhthấp và ảnh hưởng đến kích thước cơ thể khi trưởng thành [93] Một số nghiêncứu triển khai ở các nước có thu nhập thấp và trung bình cho thấy chiều caocủa người trưởng thành có mối quan hệ thuận chiều với cân nặng và chiều cao
Trang 22sơ sinh Mỗi cm chiều cao sơ sinh có sự kết hợp với sự tăng 0,7-1cm chiềucao khi trưởng thành.
- Suy dinh dưỡng ảnh hưởng đến nhận thức và phát triển trí tuệ
Các nghiên cứu cho thấy ảnh hưởng dài hạn của SDD nặng khi còn bé,đặc biệt là thấp còi đối với phát triển cả tầm vóc [86] và trí tuệ [87],[88] Cómối liên quan giữa chậm phát triển chiều cao, vòng đầu lúc 2 tuổi với sự thànhđạt về học tập của phụ nữ khi trưởng thành Thấp còi lúc 2 tuổi đã làm trẻ đihọc chậm, phải thi lại nhiều và tỷ lệ bỏ học cao, chậm tiến bộ trong học tập, tỷ
lệ tốt nghiệp cấp 1 và cấp 2 giảm Khác biệt chiều cao lúc 3 tuổi khoảng 3-4
cm có liên quan với việc lên lớp sau này
Có bằng chứng cho thấy sự liên quan giữa thấp còi với khả năng nhậnthức, học tập hiện tại và tương lai ở trẻ em thuộc những nước thu nhập thấphoặc trung bình Các nghiên cứu dọc cũng cho thấy thấp còi lúc còn nhỏ ảnhhưởng tiêu cực đến nhận thức và khả năng học tập khi đến trường
- Suy dinh dưỡng làm tăng gánh nặng bệnh tật và tử vong
SDD thể vừa và nhẹ thường gặp và có ý nghĩa sức khoẻ quan trọng vìngay cả suy dinh dưỡng nhẹ cũng làm tăng gấp đôi nguy cơ bệnh tật và tửvong ở trẻ em [36],[104]
Bảng 1.4 Nguy cơ tử vong đối với thấp còi theo nguyên nhân
<-3 SD (95%CI)
-3 đến <-2SD (95%CI)
-2SD đến <-1SD (95%CI)
>-1SD (95%CI)
(2,6-6,4)
1,6(1,3-3,2)
1,2
Trang 23phổi (1,5-6,7) (0,9-2,1) (0,6-1,6)
(0,9-4,9)
1,0(0,4-2,1)
- Suy dinh dưỡng ảnh hưởng đến trẻ sơ sinh của thế hệ sau
SDD ở giai đoạn sớm, đặc biệt là trong thời kỳ bào thai có mối liên hệvới mọi thời kỳ của đời người [63],[66],[71] Những phụ nữ đã từng bị suydinh dưỡng trong thời kỳ trẻ em hoặc vị thành niên đến khi trưởng thành sẽtrở thành bà mẹ bị SDD Bà mẹ bị SDD thường dễ đẻ con yếu, cân nặng sơsinh thấp
- Ảnh hưởng đến khả năng làm việc và thu nhập khi trưởng thành
Nghèo đói vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả của sự chậm phát triển vàđầu tư cho dinh dưỡng trẻ em được coi như là một chiến lược phát triển kinh
tế Dinh dưỡng cho trẻ tốt hơn sẽ cải thiện nhận thức và học hành Dinhdưỡng và vóc dáng lúc nhỏ có tác động đến thu nhập khi trưởng thành do cơthể thấp bé, giảm khả năng lao động trong những công việc đòi hỏi thểlực[114] Đối với Việt Nam, theo tính toán của ngân hàng thế giới, các bệnh
Trang 24suy dinh dưỡng đã làm giảm khoảng 2,4% mức gia tăng GDP hàng năm nếuchỉ tính đơn thuần đến lý do làm giảm năng suất lao động Nếu tính đến cảkhả năng làm giảm sút về tri thức do suy dinh dưỡng trong thời kỳ thơ ấuhoặc do chi phí cho chăm sóc nuôi dưỡng, thì riêng suy dinh dưỡng thể thấpcòi đã làm giảm 5% GDP hàng năm Những thiệt hại về kinh tế do suy dinhdưỡng chủ yếu là vì năng suất lao động kém ở người trưởng thành do đã từng
bị SDD
1.3 GIÁO DỤC TRUYỀN THÔNG CẢI THIỆN KIẾN THỨC, THỰC HÀNH DINH DƯỠNG CỦA BÀ MẸ, PHÒNG CHỐNG SUY DINH DƯỠNG CHO CON
1.3.1 Một số khái niệm cơ bản về thông tin, giáo dục, truyền thông
Thông tin (information) là những tin tức, thông điệp được cá nhân, tổ
chức (nguồn thông tin) phổ biến qua sách báo, công văn, tập huấn, tivi, đàiphát thanh… gửi tới người nhận mà không cần quan tâm tới phản ứng của họ(đặc trưng của thông tin là tính một chiều)
Tuyên truyền là một hình thức đưa/chuyển tải các thông tin một chiều
lặp đi lặp lại nhiều lần dưới nhiều hình thức khác nhau, về cùng một chủ đề vàtrong một thời gian nhất định, nhằm thuyết phục đối tượng chấp nhận những ýtưởng, quan điểm hay hành vi nào đó [9],[43],[58] Nhược điểm lớn nhất của
tuyên truyền là mang tính áp đặt thiếu dân chủ và có thể gây ra các định hướng sai lầm trong suy nghĩ và hành động của những đối tượng nhận tin
Giáo dục (Education): Thuật từ giáo dục ở đây mang ý nghĩa hướng
dẫn, tập huấn nâng cao kiến thức, chia sẻ kinh nghiệm và kỹ năng thực hành.Giáo dục còn mang ý nghĩa giảng dạy với các loại hình: giảng dạy chính quytheo phương pháp truyền thống (các thầy/giảng viên lên lớp, học sinh/sinhviên ngồi nghe - lấy người thầy là trung tâm), giảng dạy tích cực (thảo luận vàthực hành - lấy học sinh/sinh viên làm trung tâm), giáo dục thường xuyên vàgiáo dục từ xa
Trang 25Truyền thông (Communication): Truyền thông là một quá trình giao
tiếp, chia sẻ, trao đổi thông tin giữa người truyền thông tin và những ngườinhận nhằm đạt mục tiêu cuối cùng là nâng cao nhận thức/kiến thức, thay đổithái độ và hành vi theo hướng có lợi [49] Nói cách khác, đó là một quá trìnhtác động qua lại liên tục giữa 2 người hay nhiều người để cùng chia sẻ cácthông tin, ý kiến, thái độ, tình cảm, kỹ năng, tạo nên sự hiểu biết lẫn nhau vềnhững vấn đề cùng quan tâm và dẫn đến những thay đổi hành vi của các đối
tượng Đặc trưng quan trọng của truyền thông là tính hai chiều và nhiều chiều
thông qua ngôn ngữ có lời và không lời [9],[14],[43]
1.3.2 Truyền thông thay đổi hành vi (Behavior Change Communication)
* Khái niệm về hành vi dinh dưỡng và sức khỏe
Hành vi được định nghĩa là những việc làm hoặc thói quen hàng ngày
mà người ta làm có ảnh hưởng tốt hoặc xấu đến sức khỏe và dinh dưỡng.Hành vi sức khỏe chịu ảnh hưởng của các yếu tố sinh thái, môi trường, xã hội,văn hóa, kinh tế và chính trị [51],[91]
Mỗi hành vi đã được xác định là sự biểu hiện của một hợp phần gồmkiến thức, thái độ, niềm tin và thực hành
Hành vi = Kiến thức + Thái độ + Niềm tin + Thực hành
* Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả truyền thông thay đổi hành vi
Kết quả truyền thông thay đổi hành vi chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tốkhác nhau như sinh thái, môi trường, kinh tế, văn hóa, chính trị, các dịch vụ
xã hội, thể chất tâm lý, tình cảm, kiến thức và kỹ năng [108],[110]
* Những điều kiện để có hành vi tốt
Muốn có hành vi sức khỏe tốt cần phải hiểu biết đầy đủ về hành vi, cóniềm tin và thái độ tích cực, có mong muốn thay đổi, có kỹ năng để thực hiện
Trang 26và sự hỗ trợ của gia đình và xã hội để duy trì hành vi lâu dài [98].
Do hành vi là một phần của văn hóa cộng đồng nên cần phát hiện ảnhhưởng của hành vi đến sức khỏe như thế nào, những hành vi nào có lợi, hoặc cóhại, vô hại để quyết định lựa chọn những giải pháp cải thiện hành vi theo hướng
có lợi cho sức khỏe Các giải pháp đó [9],[14],[58], thường được áp dụng trongcác chương trình can thiệp giáo dục truyền thông về dinh dưỡng và sức khỏe cóthể bao gồm khuyến khích các hành vi có lợi vốn có, thay đổi dần các hành vi cóhại bằng các hành vi mới có lợi cho sức khỏe và tác động một cách hợp lý đốivới các hành vi không có lợi nhưng lại vô hại cho sức khỏe
* Quá trình thay đổi hành vi sức khoẻ
Quá trình thay đổi hành vi con người nói chung và hành vi sức khoẻ nóiriêng là rất khó khăn và phức tạp [109] Việc thay đổi một hành vi sức khoẻthường dựa trên cơ sở con người luôn mong muốn được khoẻ mạnh sống lâuhơn là bị ốm đau - tàn tật chết trẻ Đã có nhiều mô hình và lý thuyết [110]diễn giải quá trình thay đổi hành vi
Quá trình thay đổi hành vi:
Giai đoạn 1 Giai đoạn 2 Giai đoạn 3 Giai đoạn
Làm thử Chấp nhận
và duy trì
* Giáo dục truyền thông tích cực
"Giáo dục truyền thông tích cực" về bản chất là phương pháp giáo dụctruyền thông có sự tham gia của cộng đồng [69],[97],[99]
1 Xác định và mô tả vấn
đề
2 Phân tích vấn đề
3 Nhận dạng và chọn đối tượng
Trang 27Sơ đồ 1.2 Các giai đoạn truyền thông tích cực
* Nguồn: FAO Corporate Document Respository (2007)[69]
* Ứng dụng giáo dục truyền thông tích cực trong dinh dưỡng
Có 2 loại phương pháp là truyền thông trực tiếp và truyền thông giántiếp Phối hợp cả 2 loại phương pháp đó là cách làm tốt nhất, và tất cả đềuphải sử dụng các phương tiện truyền thông để minh họa [85],[118],[119]
+ Truyền thông trực tiếp:
Truyền thông trực tiếp là quá trình tương tác mặt đối mặt giữa ngườivới người bằng ngôn ngữ có lời và ngôn ngữ không lời giữa người làm truyềnthông với đối tượng nhằm giúp đối tượng thay đổi hành vi dinh dương và sức
khoẻ Truyền thông trực tiếp đã được thừa nhận là phương pháp có hiệu quả nhất để giúp đối tượng thay đổi hành vi [58] Đối tượng của truyền thông trực
tiếp có thể là một người hay một nhóm người Một số hình thức truyền thôngtrực tiếp hay sử dụng trong dinh dưỡng: Thăm và hướng dẫn tại hộ gia đình,
Tổ chức các buổi nói chuyện, Thảo luận nhóm, Sinh hoạt câu lạc bộ, Hướngdẫn thực hành, Tư vấn, Hội thi, …
Tư vấn dinh dưỡng là hình thức giáo dục truyền thông phối hợp trựctiếp và gián tiếp Đó là một quá trình giao tiếp, tác động giữa người làm tư vấn
và đối tượng cần được hỗ trợ nhằm giúp họ hiểu rõ hơn vấn đề dinh dưỡng mà
họ đang quan tâm cần giải quyết và giúp họ tự tự quyết định chọn giải pháp thíchhợp, khả thi nhất để từ đó thay đổi hành vi của bản thân Như vậy, người làm tư
6 Công bố/Phản hồi
5 Triển khai và đánh giá
4 Xây dựng chiến lược truyền thông
Toàn
bộ quá trình
tham
gia
Trang 28vấn chỉ có thể giúp đỡ, hướng dẫn đối tượng chứ không thể làm thay họ [90] Cónhiều hình thức tư vấn dinh dưỡng: Tư vấn trực tiếp (mặt đối mặt); Tư vấn quađiện thoại Dù tư vấn theo cách nào cũng thực hiện đúng 4 bước chủ yếu là:Giúp đối tượng nhận rõ vấn đề của họ; Giúp đối tượng hiểu đúng các nguyênnhân của vấn đề đó; Động viên đối tượng đưa ra được các giải pháp cho vấn đềđó; Và, giúp đối tượng chọn giải pháp tối ưu [105].
+ Truyền thông gián tiếp:
Đây là phương pháp truyền thông qua phương tiện thông tin đại chúng[40] như: TV, đài phát thanh, sách, báo, tạp chí, tranh ảnh khẩu hiệu
1.4 CÁC CAN THIỆP PHÒNG CHỐNG SUY DINH DƯỠNG
1.4.1 Các giải pháp phòng chống suy dinh dưỡng trên thế giới
Theo WHO [101], The Lancet [107], UNICEF (2008 )[115] và một số tácgiả khác [75], toàn cầu tập trung vào 3 nhóm giải pháp chính:
- Nhóm giải pháp thứ nhất: Tăng lượng dinh dưỡng ăn vào (cả chất
lượng và số lượng), bao gồm các hoạt động: bổ sung năng lượng và proteincho phụ nữ mang thai, các chiến lược giáo dục và nâng cao nuôi con bằng sữa
mẹ, cải thiện chất lượng cho ăn bổ sung
- Nhóm giải pháp thứ 2: Bổ sung vi chất (vitamin và các khoáng chất),
bao gồm các hoạt động: chiến lược bổ sung sắt, acid folic, vitamin A, cancicho phụ nữ mang thai; bổ sung muối iốt, vitamin A và kẽm cho trẻ
- Nhóm giải pháp thứ 3: Giảm gánh nặng bệnh tật
1.4.2 Các giải pháp phòng chống suy dinh dưỡng ở Việt Nam
Cũng như các nước đang phát triển, còn nhiều vấn đề dinh dưỡng có ý
nghĩa sức khỏe cộng đồng đang tồn tại ở Việt nam Nhiều biện pháp phòng chống suy dinh dưỡng đã được triển khai thực hiện ngay từ khi đất nước đang còn chiến tranh, nhưng hiệu quả còn rất hạn chế do điều kiện chiến tranh và kinh tế còn nghèo Từ thập kỷ cuối của thế kỷ trước cho đến nay,
Việt Nam đã xây dựng và triển khai nhiều chương trình, kế hoạch hành động
Trang 29và chiến lược dinh dưỡng, nhằm từng bước hạ thấp tỷ lệ SDD và tiến tớithanh toán các bệnh/rối loạn do thiếu vi chất dinh dưỡng
1.4.2.1 Chương trình mục tiêu Quốc gia Phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em
Chương trình Mục tiêu Quốc gia phòng chống suy dinh dưỡng Proteinnăng lượng được Chính phủ phê duyệt và bắt đầu triển khai từ năm 1994.Mục tiêu của chương trình là từng bước hạ thấp tỷ lệ SDD protein năng lượngcủa trẻ em xuống mức trung bình theo phân loại của Tổ chức y tế thế giới,thanh toán suy dinh dưỡng mức rất nặng ở tất cả các vùng sinh thái Tổ chức
Y tế thế giới và UNICEF đã đưa ra mục tiêu phấn đấu giảm tỷ lệ suy dinhdưỡng trẻ em xuống 15% vào năm 2015 Một trong các hoạt động phòng
chống suy dinh dưỡng trẻ em chính là thực hiện giáo dục dinh dưỡng bên
cạnh việc tăng cường tạo nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng tại chỗ từ Ao-Chuồng, triển khai các kỹ thuật chế biến, bảo quản nông sản, thực phẩm ởquy mô hộ gia đình, hướng dẫn chế biến trong bữa ăn và thức ăn bổ sung hợp
Vườn-lý, đưa nội dung giáo dục dinh dưỡng vào trường học
1.4.2.2 Kế hoạch Hành động Quốc gia Dinh dưỡng 1995-2000
Ngày 16 tháng 9 năm 1995, Thủ tướng Chính phủ có quyết định phêduyệt bản Kế hoạch Hành động Quốc gia về Dinh dưỡng 1996-2000 [54] -Thực chất là văn bản đường lối đầu tiên với các chiến lược chủ đạo về dinhdưỡng ở nước ta Các giải pháp đã có sự đầu tư ưu tiên của nhà nước để thực
hiện các mục tiêu cụ thể như: Đẩy mạnh công tác giáo dục truyền thông và
huấn luyện liên ngành; Cải thiện an ninh thực phẩm hộ gia đình; Phòng chốngSDD trẻ em; Phòng chống các rối loạn do thiếu Iốt
1.4.2.3 Các chương trình phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng
Để thực hiện một trong các mục tiêu Kế hoạch Quốc gia về Dinh dưỡng
là giảm tỷ lệ thiếu vi chất dinh dưỡng, các chương trình phòng chống thiếu vichất dinh dưỡng như thiếu vitamin A và khô mắt, thiếu máu do thiếu sắt, thiếu
I ốt đã và đang được triển khai với các giải pháp chính gồm:
Trang 30- Bổ sung trực tiếp các vi chất như viên nang vitamin A liều cao, viênsắt acid folic, viên đa vi chất, gói đa vi chất
- Truyền thông thay đổi tập quán sản xuất (đa dạng hóa sản phẩm), tậpquán tiêu thụ (đa dạng hóa bữa ăn)
- Tăng cường vi chất vào thực phẩm
- Toàn dân sử dụng muối trộn I ốt
1.4.2.4 Chiến lược Quốc gia về Dinh dưỡng 2001-2010
Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng Việt Nam giai đoạn 2001-2010 [55]với một mục tiêu tổng quát và 5 mục tiêu cụ thể Giảm tỷ lệ suy dinh dưỡngthể thấp còi là một chỉ tiêu trong mục tiêu “giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ
em và bà mẹ” Chỉ tiêu đặt ra trong giai đoạn 2001- 2010 là tỷ lệ suy dinhdưỡng chiều cao theo tuổi ở trẻ em dưới 5 tuổi tính chung cả nước: giảm mỗinăm 1,5% Các giải pháp chiến lược của chiến lược quốc gia dinh dưỡng
2001-2010 gồm: 1) Giáo dục và phổ cập kiến thức dinh dưỡng cho toàn dân,
2) Đảm bảo an ninh thực phẩm ở cấp hộ gia đình, 3) Phòng chống SDDprotein-năng lượng ở trẻ em và bà mẹ (Việt Nam có riêng chương trình mụctiêu quốc gia phòng chống SDD từ 1994, chương trình đã và đang được triểnkhai đến tất cả các xã phường trong cả nước), 4) Phòng chống thiếu vi chấtdinh dưỡng, 5) Phòng chống các bệnh mạn tính liên quan đến dinh dưỡng, 6)Lồng ghép hoạt động dinh dưỡng trong chăm sóc sức khỏe ban đầu,7) Đảm bảo chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm, 8) Theo dõi, đánh giá,giám sát dinh dưỡng, 9) Xây dựng mô hình điểm để rút kinh nghiệm chỉ đạo Nhờ triển khai nhiều giải pháp đồng bộ, sự phối hợp liên ngành và lãnh đạochỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, tình trạng dinh dưỡng của nhândân ta nói chung, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em dưới 5 tuổi nói riêng đã đượccải thiện rõ rệt, nhận thức của người dân về dinh dưỡng hợp lý đã được nângcao [41] Cụ thể là:
* Công tác truyền thông, vận động, giáo dục phổ biến kiến thức, thực hành
Trang 31dinh dưỡng hợp lý cho toàn dân đã đạt được kết quả tốt: Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức
và thực hành dinh dưỡng đúng cho trẻ ốm tăng từ 44,5% năm 2005 lên 67% vàonăm 2009, tỷ lệ nữ thanh niên được huấn luyện về dinh dưỡng và kiến thức làm
mẹ từ 28% năm 2005 đã tăng lên 44% năm 2010, đạt chỉ tiêu đề ra
* Cải thiện rõ rệt tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em và bà mẹ: Từ 2001
-2010 tình trạng dinh dưỡng của người dân Việt Nam nói chung và của bà mẹ,trẻ em nói riêng đã được cải thiện rõ rệt Tỷ lệ SDD nhẹ cân (cân nặng/tuổi) ởtrẻ em dưới 5 tuổi giảm mạnh, tính chung cả nước mỗi năm trung bình giảmkhoảng 1,5%, từ 31,9% năm 2001 xuống còn 25,2% vào năm 2005 và 17,5%vào năm 2010 (vượt chỉ tiêu của Chiến lược đặt ra) Thành tựu giảm SDD liêntục và bền vững của Việt Nam đã được các tổ chức quốc tế thừa nhận và đánhgiá cao Tỷ lệ SDD thể thấp còi (chiều cao/tuổi) ở trẻ em dưới 5 tuổi đã giảmđáng kể từ 43,3% năm 2000 xuống còn 29,3% vào năm 2010 Tuy vậy ViệtNam vẫn còn nằm trong số 36 quốc gia có tỷ lệ SDD thể thấp còi cao trênphạm vi toàn cầu Tỷ lệ thừa cân, béo phì ở trẻ em < 5 tuổi chung toàn quốc là4,8% (thành phố: 5,7%; nông thôn: 4,2%), đạt so với mục tiêu Chiến lược đề
ra là dưới 5% Tỷ lệ trẻ có cân nặng sơ sinh thấp (dưới 2500 gam): năm 2009,
tỷ lệ này là 12,5% Tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn (được thể hiện bằng chỉ
số khối cơ thể, BMI thấp <18,5) ở phụ nữ tuổi sinh đẻ tính chung toàn quốcmỗi năm giảm 1% Theo kết quả điều tra dinh dưỡng năm 2005 và 2009 đượcTổng cục Thống kê công bố cho thấy tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn ở phụ
nữ tuổi sinh đẻ giảm từ 28,5% năm 2000 xuống còn 21,9 % vào năm 2005 và19,6% vào năm 2009 Tính chung từ năm 2000 đến năm 2009 tốc độ giảm là0,98%/năm (xấp xỉ đạt mục tiêu đề ra là 1%)
* Một số chỉ tiêu chưa đạt như mong muốn: Đến năm 2010 tỷ lệ SDDthấp còi (chiều cao/tuổi) ở trẻ em dưới 5 tuổi còn ở mức cao (29,3%); vẫn còn
28 tỉnh có tỷ lệ SDD thể thấp còi cao hơn mức trung bình của cả nước, trong
đó 12 tỉnh có tỷ lệ trên 35% Đây là mức rất cao theo xếp loại của Tổ chức Y
Trang 32tế Thế giới; Tỷ lệ thiếu máu do thiếu sắt ở phụ nữ mang thai tính chung trênphạm vi toàn quốc vẫn còn cao, ở mức 36,5%; Tỷ lệ nuôi con hoàn toàn bằngsữa mẹ còn thấp (4 tháng là 29,3%; 6 tháng là 19,6%), mặc dù tỷ lệ bà mẹnuôi con bằng sữa mẹ đạt 93%; Những vấn đề dinh dưỡng quan trọng đặt racho giai đoạn tiếp theo được thể hiện trong Chiến lược Quốc gia Dinh dưỡng2011-2020 với tầm nhìn đến 2030
1.4.2.5 Chiến lược Quốc gia Dinh dưỡng 2011-2020 với tầm nhìn đến 2030
Mục tiêu chung của Chiến lược Quốc gia Dinh dưỡng Việt nam
2011-2020 [56] là: Đến năm 2011-2020, bữa ăn của người dân được cải thiện, SDD trẻ
em, đặc biệt thể thấp còi giảm mạnh, góp phần nâng cao tầm vóc người Viêt Nam, kiểm soát có hiệu quả thừa cân, béo phì góp phần hạn chế các bệnh mạn tính không lây liên quan đến dinh dưỡng
Các mục tiêu cụ thể gồm:
+ Nâng cao hiểu biết và tăng cường thực hành dinh dưỡng hợp lý
+ Tiếp tục cải thiện về số lượng, nâng cao chất lượng bữa ăn người dân.+ Cải thiện tình trạng dinh dưỡng bà mẹ và trẻ em
+ Cải thiện tình trạng vi chất dinh dưỡng
+ Từng bước kiểm soát có hiệu quả thừa cân - béo phì
+ Nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của mạng lưới dinh dưỡng
Để triển khai có hiệu quả Chiến lược này, Việt Nam đã xây dựng vàđang nỗ lực triển khai các chương trình/dự án “Truyền thông giáo dục, đào tạonguồn nhân lực”, “Phòng chống SDD bà mẹ trẻ em, nâng cao tầm vóc ngườiViệt Nam”, “Phòng chống thiếu vi chất”, “Dinh dưỡng học đường”, “Giám sátdinh dưỡng”, …
Như vậy, tại Việt Nam, đẩy mạnh giáo dục truyền thông dinh dưỡng
luôn được coi là một mục tiêu then chốt, xuyên suốt từ Kế hoạch Hành độngQuốc gia về Dinh dưỡng 1995-2000, đến Chiến lược Quốc gia Dinh dưỡng2001-2010 và Chiến lược Quốc gia Dinh dưỡng 2011-2020 với tầm nhìn đến
Trang 332030, nhằm phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em và cải thiện tăng trưởng chongười Việt Nam Tuy nhiên, cho tới nay, theo đánh giá tổng kết Chiến lượcquốc gia dinh dưỡng 2001-2010 [55], các hoạt động can thiệp truyền thônggiáo dục trong khuôn khổ các chương trình, dự án nêu trên còn nặng về hìnhthức, mang tính phong trào theo chiến dịch, mà chưa được vận hành bài bản,thường xuyên liên tục, dẫn đến hiệu quả thấp, thiếu tính bền vững
1.4.2.6 Các can thiệp đã và đang triển khai tại Hà Nội
* Nội dung triển khai tại cộng đồng
Thực hiện 8 chăm sóc dinh dưỡng thiết yếu tại các xã/phường: 1) Thựchiện chăm sóc sức khoẻ và dinh dưỡng cho phụ nữ lứa tuổi sinh đẻ, phụ nữ cóthai và cho con bú; 2) Thực hiện nuôi con bằng sữa mẹ; 3) Thực hiện ăn bổsung hợp lý cho trẻ em; 4) Phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng cho trẻ em
và bà mẹ; 5) Thực hiện chăm sóc trẻ ốm; 6) Thực hiện vệ sinh, phòng chốnggiun sán; 7) Theo dõi tăng trưởng trẻ em; 8) Tăng cường tuyên truyền, vậnđộng cộng đồng, phát triển VAC tạo nguồn thực phẩm tại chỗ để cải thiện tìnhtrạng dinh dưỡng bà mẹ, trẻ em
*Các can thiệp ưu tiên tại các xã nghèo có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao
+ Năm 2000, toàn thành phố có 43 xã có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao trên25%, UBND thành phố đã phê duyệt đề án “ Hỗ trợ hoạt động PCSDD tại các
xã SDD cao thuộc 5 huyện ngoại thành Hà Nội”, hoạt động được triển khai 2năm 2001-2003, mỗi xã được trang bị 01 dây truyền máy xay và dụng cụ sảnxuất sữa đậu nành 01 cơ sở nuôi gà đẻ trứng Mỗi trẻ dưới 24 tháng tuổi bịsuy dinh dưỡng dược hỗ trợ đều đặn mỗi tuần 3 cốc sữa và 01 quả trứng Trẻdưới 5 tuổi được tẩy giun Các hoạt động truyền thông, thực hành dinh dưỡngđược tăng cường mở rộng đến đối tượng chăm sóc trẻ khác như : Ông, Bà, côgiáo trường mầm non
+ Năm 2003, Tổ chức Cesvi- Italya triển khai dự án “ Can thiệp tổnghợp phòng chống SDD trẻ em ở 5 huyện ngoại thành Hà Nội”, trong đó có
Trang 34Sóc Sơn Dự án tiếp tục hỗ trợ cho các xã có tỷ lệ SDD cao > 20%, các hoạtđộng truyền thông, tư vấn, hướng dẫn các bà mẹ có con nhỏ, phụ nữ có thai,thanh nữ, giáo dục dinh dưỡng cộng đồng Tổ chức cho vay vốn làm kinh tế
hộ gia đình, phát triển nguồn thực phẩm cải thiện vệ sinh tại hộ gia đình (xây
hố xí hợp vệ sinh)
1.5 NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ CỦA GIÁO DỤC TRUYỀN THÔNG
1.5.1 Nghiên cứu về hiệu quả truyền thông tích cực trên thế giới
Các nghiên cứu thay đổi hành vi đã được triển khai ở trong khu vực vàtrên thế giới cho thấy truyền thông tích cực có hiệu quả thay đổi kiến thứccũng như thực hành sức khỏe và dinh dưỡng của bà mẹ [72],[82],[96] Nhiềunghiên cứu của Smitasiri S [109],[110] đã được thực hiện vào những năm1988-1991 tại Thái Lan Phương pháp truyền thông có sự tham gia của cộngđồng là tiếp thị xã hội với các sản phẩm giàu vitanin A sẵn có tại địa phương.Kết quả cho thấy có sự thay đổi có ý nghĩa về KAP, thực hành tiêu thụ các sảnphẩm giàu vitamin A, sử dụng dầu thực vật để chế biến thực phẩm cũng nhưtình trạng thiếu vitamin A giữa hai nhóm can thiệp và không can thiệp của bà
mẹ và trẻ em dưới 5 tuổi Một nghiên cứu từ 1995-1997 cho thấy sự thay đổi
rõ rệt KAP về lựa chọn sử dụng các loại thực phẩm giàu vitamin A, vitamin C
và Sắt, đã cải thiện tình trạng thiếu máu dinh dưỡng cũng như thiếu Vitamine
A ở phụ nữ tuổi sinh đẻ và trẻ em dưới 5 tuổi Tuy nhiên, hầu như chưa cónghiên cứu nào đánh giá hiệu quả giáo dục truyền thông lên tăng trưởngchiều cao cân nặng và hạ thấp tỷ lệ SDD ở trẻ em dưới 24 tháng tuổi
1.5.2 Những nghiên cứu về hiệu quả của giáo dục truyền thông ở Việt Nam
Ở Việt Nam, đã có nhiều cuộc điều tra Kiến thức, Thái độ, Thực hành(Knowledge - Attitude - Practice: KAP) của người dân về dinh dưỡng và vệsinh thực phẩm [20],[21] Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu mới chỉ dừng lại
ở mức mô tả thực trạng tình hình, chứ ít đi sâu vào nghiên cứu can thiệp đểthay đổi thói quen/hành vi của bà mẹ để chủ động phòng chống SDD trẻ em
Trang 35Một số nghiên cứu can thiệp giáo dục truyền thông cũng đã được tiến hànhnhưng lại thực hiện trên các đối tượng khác nhau với các mục tiêu khác nhau,như Phạm Hoàng Hưng [27] can thiệp bằng giáo dực truyền thông tích cực cảithiện bữa ăn phòng chống thiếu máu trên cả bà mẹ và trẻ em Huỳnh NamPhương [45] can thiệp bằng tiếp thị xã hội phòng chống thiếu máu phụ nữ cóthai Hồ Thu Mai [42] tiến hành can thiệp giáo dục truyền thông tích cực và
bổ sung sắt-folic cải thiện tình trạng dinh dưỡng và thiếu máu của phụ nữ tuổisinh đẻ Lê Anh Tuấn [50] đã tiến hành một nghiên cứu can thiệp truyềnthông trực tiếp để cải thiện kiến thức, thực hành chăm sóc sức khoẻ trẻ emdưới 5 tuổi tại 3 tỉnh Lâm Đồng, Vĩnh Long và Trà Vinh (8/1999 - 12/2001).Phương pháp can thiệp truyền thông duy nhất trong nghiên cứu này là điềuhành các cuộc thảo luận nhóm Kết quả đánh giá sau can thiệp cho thấy đã cócải thiện ý nghĩa về thực hành chăm sóc trẻ của bà mẹ có trẻ dưới 5 tuổi
Gần đây, một số nghiên cứu sử dụng truyền thông tích cực/truyền thông
có sự tham gia của cộng đồng, mô hình can thiệp bằng tiếp thị xã hội có hiệuquả thay đổi có ý nghĩa hành vi bà mẹ trong phòng chống thiếu máu dinhdưỡng Các nghiên cứu can thiệp phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em khác lại
sử dụng các biện pháp bổ sung thực phẩm /tăng cường đa vi chất dinh dưỡngcho các lứa tuổi khác nhau trong thời gian ngắn hơn, như Lê Thị Hợp bổ sung
đa vi chất cải thiện thiếu máu thiếu sắt và một số vi chất khác (vitamin A, kẽm)cho trẻ 6-12 tháng tuổi tại Sóc Sơn; Cao Thị Thu Hương [30] đã can thiệp cho
nhóm trẻ 5-8 tháng tuổi bằng bột dinh dưỡng giầu năng lượng và vi chất dinh
dưỡng trong thời gian 6 tháng; Nguyễn Thanh Hà bổ sung kẽm và đa vi chấtdưới dạng sprinkles trong 6 tháng cho trẻ SDD thấp còi 6-36 tháng tuổi [18];
Vũ Thị Thanh Hương can thiệp bằng gói đa vi chất davita cải thiện tăng trưởngthể lực cho trẻ từ sơ sinh đến 24 tháng tuổi tại Sóc Sơn, Hà Nội [32]
Năm 2009, tổ chức Alive & Thrive là một dự án do quỹ Bill & Melindatài trợ nhằm góp phần giảm tỷ lệ SDD và tử vong của trẻ em thông qua cải
Trang 36thiện thực hành nuôi dưỡng trẻ nhỏ, kết hợp Bộ Y tế, Viện Dinh dưỡng quốcgia, Hội liên hiệp phụ nữ và chính quyền 11 tỉnh tiến hành điều tra đánh giákiến thức, thực hành của người chăm sóc trẻ Kết quả điều tra cho thấy 50,5%
bà mẹ cho trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh Chỉ có 20,2% bà mẹNCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu, thay vì cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6tháng đầu, các bà mẹ lại cho trẻ uống nước, sữa bột và ăn bổ sung trong giaiđoạn này Tỷ lệ tiếp tục NCBSM đến 1 năm tuổi khá cao 79,5% nhưng tỷ lệtiếp tục NCBSM đến 2 tuổi đã giảm xuống chỉ còn 18,2% Chăm sóc khi sinh
có ảnh hướng đến thực hành NCBSM của bà mẹ Cho trẻ ăn các thức ăn khácngoài sữa mẹ trong 3 ngày đầu sau sinh khá phổ biến (75,2%), ngoài ra, nhiều
bà mẹ cai sữa cho trẻ trước 2 tuổi, với các lý do chính là: cảm thấy không đủsữa, phải đi làm, trẻ bỏ bú, và cảm thấy trẻ đủ lớn để cai sữa Tỷ lệ sử dụngsữa bột tăng lên theo tuổi của trẻ: 17% ở trẻ dưới 1 tháng tuổi, 23-25% ở trẻ từ
2 đến 4 tháng tuổi, và 41,9% ở trẻ 5 tháng tuổi Trong điều tra này, chất lượng
và sự đa dạng của thức ăn bổ sung cho trẻ từ 6 đến 23,9 khá cao
So với điều tra năm 2010 của Viện Dinh dưỡng quốc gia, các tỉnh trongđiều tra này có tỷ lệ cao hơn về trẻ có khẩu phần đa dạng (71,6% so với82,6%), trẻ được ăn đủ bữa (85,6% so với 94,4%), và trẻ có khẩu phần đủ bữa
và đa dạng (51,7% so với 70,9%) Tuy nhiên, các thực hành ăn bổ sung cònchưa hợp lý Gần 1/3 (29,1%) trẻ ở độ tuổi này chưa có khẩu phần đủ bữa và
đa dạng Trong khi hầu hết trẻ đang bú mẹ được ăn đủ bữa ăn chính và phụmỗi ngày, thì còn nhiều trẻ không được ăn đủ, đặc biệt là ở trẻ không còn bú
mẹ Hơn nữa, khá ít bà mẹ tuân theo các khuyến nghị về nuôi dưỡng trẻ ốm,điều trị tiêu chảy, tẩy giun và bổ sung vi chất dinh dưỡng
Tỷ lệ thực hành của bà mẹ cho con bú mẹ hoàn toàn thay đổi theo cáctỉnh khác nhau, Khánh Hòa (0,6%), Đà Nẵng (3,5%), Cà Mau (6,5%) và TiềnGiang (11,6%) Với tỷ lệ 36,9%, Quảng Nam có tỷ lệ bú mẹ hoàn toàn cao
Trang 37nhất Tỷ lệ đạt khẩu phần đa dạng cao nhất ở Đà nẵng (91%), các tỉnh có tỷ lệthấp hơn nhiều so với trung bình là Đăklăk (71,1%), Cà Mau (73,7%), Đăk
Nông (76,3%) [4] Nhưng có thể nói, ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào chỉ
sử dụng can thiệp bằng giáo dục truyền thông tích cực dài hạn cho các bà mẹ
có con nhỏ dưới 24 tháng để gián tiếp cải thiện tăng trưởng chiều cao, cân
nặng và hạ thấp tỷ lệ SDD nói chung và SDD thấp còi nói riêng
1.5.3 Một số phương pháp đánh giá thay đổi hành vi
Có nhiều phương pháp đánh giá thay đổi hành vi đã và đang được sử
dụng: Phương pháp định lượng KAP (Knowledge, Attitute, Practice) [50],[40]
dùng đo lường Kiến thức, Thái độ, Thực hành để biết mức độ hoàn thành mụctiêu của truyền thông giáo dục sức khoẻ hoặc các dịch vụ y tế khác
Tuy vậy, việc đo lường bằng điều tra KAP rất khó đảm bảo chính xác vìkiến thức và nhất là thái độ là những khái niệm trừu tượng khó đo lường nên
nhiều tác giả thay thế bằng phương pháp KPC (Knowledge, Practice,
Coverage) KPC đánh giá các chỉ số Kiến thức, Thực hành, Độ bao phủ củacác chương trình cũng như kiến thức và thực hành nuôi con bằng sữa mẹ, dinhdưỡng vệ sinh ở cấp hộ gia đình có bổ sung thêm các phương pháp nhân trắc,điều tra khẩu phần, hoặc các xét nghiệm khi cần thiết [74],[80],[90] đồng thờikết hợp với các phương pháp đánh giá định tính
KPC đã được áp dụng tại nhiều dự án hợp tác với một số tổ chức phichính phủ như Uỷ ban Y tế Hà Lan - Việt Nam, Hội Chữ thập đỏ - Bộ Nôngnghiệp Mỹ - Hội Chữ thập đỏ Việt Nam như một công cụ đánh giá kiến thức
và thực hành nuôi con bằng sữa mẹ, thức ăn bổ sung và tình trạng nước sạch
-vệ sinh [68],[80],[86] Các thông tin số liệu KPC sẽ được sử dụng cho cácnhà hoạch định hoặc quản lý dự án lựa chọn các ưu tiên, xác định các mụctiêu dựa vào kết quả điều tra và đề ra các can thiệp hướng tới đạt được cácmục tiêu đó [100]
Trang 38Các phương pháp định tính như: nghiên cứu các tài liệu/dữ kiện thứ
cấp, quan sát không tham gia, quan sát có sự tham gia (Participatoryobservation), phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm trọng tâm [103]
Đề tài của chúng tôi thực hiện dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn là: canthiệp bằng giáo dục truyền thông dinh dưỡng phối hợp với các hoạt động canthiệp của thành phố Hà Nội và các chương trình quốc gia khác có thể làm thayđổi được thói quen/thực hành chăm sóc dinh dưỡng và sức khỏe cho bàmẹ/người chăm sóc
Khi thói quen/thực hành chăm sóc dinh dưỡng và sức khỏe của bàmẹ/người chăm sóc trẻ thay đổi theo chiều hướng tích cực, bữa ăn của trẻ sẽđược cải thiện, trẻ không/ít bị bệnh tật sẽ tăng trưởng cân nặng, chiều cao tốthơn, và như vậy sẽ gián tiếp giảm được tỷ lệ SDD trẻ em nói chung và thấpcòi nói riêng; Đồng thời, khi các thói quen/thực hành dinh dưỡng và sức khỏehợp lý cũng tác động đến chính bản thân bà các mẹ trước và trong quá trìnhmang thai tiếp theo, giúp cải thiện phát triển bào thai, chủ động phòng chốngsuy dinh dưỡng bào thai và cân nặng sơ sinh thấp
Can thiệp bằng giáo dục truyền thông dinh dưỡng (thay
đổi nhận thức, hành vi) và phát triển cộng đồng phối hợp
các hoạt động can thiệp khác của quốc gia và Hà Nội
Bà mẹ có thói quen dinh dưỡng hợp lý
Bà mẹ có thói quen dinh dưỡng chưa hợp lý
Trang 39Bà mẹThai phụBào thai
Sơ sinh
Sơ đồ 1.3 Giáo dục truyền thông thay đổi thói quen dinh dưỡng
Xu thế chậm tăngtrưởng cân nặng, chiềucao (SDD trẻ em cao)
Cải thiện tăng trưởngcân nặng, chiều cao(SDD trẻ em giảm)
Trang 40CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
+ Trẻ em dưới 24 tháng không bị dị tật bẩm sinh
+ Bà mẹ đang nuôi con dưới 24 tháng tuổi
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
+ Nghiên cứu được tiến hành có chủ đích tại huyện Sóc Sơn thành phố
Hà Nội với các lý do sau:
- Là huyện ngoại thành điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội còn nhiều khókhăn, kinh tế phát triển chậm, tỷ lệ hộ nghèo cao
- Dân số đông, tỷ lệ phát triển dân số cao, số bà mẹ trong độ tuổi sinh đẻ
và trẻ em dưới 60 tháng tuổi cao
- Trình độ dân trí thấp, còn tồn tại nhiều phong tục tập quán lạc hậu
- Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em thể thấp còi cao ( 25% năm 2007) + Tại Sóc Sơn tiến hành chọn 6 xã để nghiên cứu với các tiêu chí sau:
- Có tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em thể thấp còi cao
- Có đội ngũ cán bộ (chuyên trách dinh dưỡng xã, cộng tác viên) nhiệttình và có khả năng tham gia thực hiện đề tài nghiên cứu
- Có điều kiện tương đồng: 1) nhân khẩu học, 2) ít có khả năng bị tácđộng từ các dự án can thiệp dinh dưỡng khác nhau từ các xã lân cận.Kết quả đã chọn được 6 xã sau: Tân Hưng, Xuân Thu, Mai Đình, TiênDược, Minh Phú, Minh Trí
- Trong 6 xã đã chọn tiến hành chọn ngẫu nhiên 3 xã để can thiệp, 3 xãcòn lại làm đối chứng để so sánh hiệu quả can thiệp
Các xã can thiệp gồm: Xuân Thu, Mai Đình, Minh Trí
Các xã đối chứng gồm: Tân Hưng, Tiên Dược, Minh Phú