1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG, TƯƠNG TÁC GIỮA NGHÈO VÀ TÍNH DỄ TỔN THƢƠNG LIÊN QUAN ĐẾN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở KHU VỰC ĐÔ THỊ THÀNH PHỐ CẦN THƠ

92 390 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người nghèo được xem là đối tượng dễ bị tổn thương nhất đối với những tác động của môi trường bên ngoài bởi vì họ có ít nguồn lực và điều kiện để duy trì và thích ứng sinh kế. Bên cạnh các xu thế thay đổi của nền kinh tế như chuyển dịch cơ cấu kinh tế,lạm phát, tăng giá tiêu dùng, đô thị hóa làm di cư lao động từ nông thôn ra thành thị,.. thì thiên tai và các thay đổi bất thường của thời tiết cũng được xem là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm gia tăng nguy cơ tổn thương của người nghèo.Giai đoạn 19932006 hơn 34 triệu trong tổng số 85 triệu người dân Việt Nam đã thoát nghèo nhờ vào các chính sách phát triển, sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế và sự cam kết mạnh mẽ của Chính phủ (DFID, 2008). Theo báo cáo của Bộ LĐTBXH ước tính đến cuối năm 2010, tỷ lệ hộ nghèo cả nước còn 9,5% trong đó, tỷ lệ hộ nghèo ĐBSCL là 7,32%. Đối với thành phố Cần Thơ, theo kết quả điều tra hộ nghèo năm 2010, tỉ lệ hộ nghèo ở Cần Thơ là 7,84% (tương đương với 22,9 nghìn hộ) và hộ cận nghèo chiếm 6,43%, tương đương 18,8 nghìn hộ (Sở Lao động Thương binh và Xã hội thành phố Cần Thơ, 2012). Tuy nhiên, nguy cơ tái nghèo rất cao đối với những hộ gia đình vừa thoát nghèo trong một vài năm trở lại đây do mức sống, thu nhập đang ở gần ngưỡng của chuẩn nghèo mới (nhóm đối tượng có nguy cơ nghèo chủ yếu là do thiếu hụt các nguồn vốn sinh kế như lao động, vốn, quan hệ xã hội,..) nên rất dễ bị tái nghèo nếu gặp phải những “cú sốc” về kinh tế. Đặc biệt, trong bối cảnh các quốc gia đang bịảnh hưởng bởi toàn cầu hóa, hàng loạt những thay đổi của nền kinh tế như chuyển dịch cơ cấu, lạm phát, tăng giá tiêu dùng, đô thị hóa làm di cư lao động từ nông thôn ra thành thị, cộng với các yếu tố khắc nghiệt thời tiết, thay đổi môi trường do tác động của biến đổi khí hậu (Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, 2012) đã trở thành các yếu tố cộng hưởng khiến cho các đối tượng dễ bị tổn thương như người nghèo ở đô thịcàng khó khăn hơn nhất trong điều kiện họ có ít nguồn lực và điều kiện để duy trì và

Trang 1

1

UBND THÀNH PHỐ CẦN THƠ

BAN CHỈ ĐẠO 158 VĂN PHÒNG CÔNG TÁC BĐKH VIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI



PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG, TƯƠNG TÁC GIỮA NGHÈO VÀ TÍNH DỄ TỔN THƯƠNG LIÊN QUAN ĐẾN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở KHU VỰC ĐÔ THỊ

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Cần Thơ, ngày 28 tháng 2 năm 2013

Trang 2

2

Chương 1

MỞ ĐẦU 1.1 Giới thiệu

1.1.1 Đặt vấn đề

Người nghèo được xem là đối tượng dễ bị tổn thương nhất đối với những tác động của môi trường bên ngoài bởi vì họ có ít nguồn lực và điều kiện để duy trì và thích ứng sinh kế Bên cạnh các xu thế thay đổi của nền kinh tế như chuyển dịch cơ cấu kinh tế, lạm phát, tăng giá tiêu dùng, đô thị hóa làm di cư lao động từ nông thôn ra thành thị, thì thiên tai và các thay đổi bất thường của thời tiết cũng được xem là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm gia tăng nguy cơ tổn thương của người nghèo

Giai đoạn 1993-2006 hơn 34 triệu trong tổng số 85 triệu người dân Việt Nam đã thoát nghèo nhờ vào các chính sách phát triển, sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế và sự cam kết mạnh mẽ của Chính phủ (DFID, 2008) Theo báo cáo của Bộ LĐ-TB&XH ước tính đến cuối năm 2010, tỷ lệ hộ nghèo cả nước còn 9,5% trong đó, tỷ lệ hộ nghèo ĐBSCL là 7,32% Đối với thành phố Cần Thơ, theo kết quả điều tra hộ nghèo năm

2010, tỉ lệ hộ nghèo ở Cần Thơ là 7,84% (tương đương với 22,9 nghìn hộ) và hộ cận nghèo chiếm 6,43%, tương đương 18,8 nghìn hộ (Sở Lao động Thương binh và Xã hội thành phố Cần Thơ, 2012) Tuy nhiên, nguy cơ tái nghèo rất cao đối với những hộ gia đình vừa thoát nghèo trong một vài năm trở lại đây do mức sống, thu nhập đang ở gần ngưỡng của chuẩn nghèo mới (nhóm đối tượng có nguy cơ nghèo chủ yếu là do thiếu hụt các nguồn vốn sinh kế như lao động, vốn, quan hệ xã hội, ) nên rất dễ bị tái nghèo nếu gặp phải những “cú sốc” về kinh tế Đặc biệt, trong bối cảnh các quốc gia đang bị ảnh hưởng bởi toàn cầu hóa, hàng loạt những thay đổi của nền kinh tế như chuyển dịch

cơ cấu, lạm phát, tăng giá tiêu dùng, đô thị hóa làm di cư lao động từ nông thôn ra thành thị, cộng với các yếu tố khắc nghiệt thời tiết, thay đổi môi trường do tác động của biến đổi khí hậu (Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, 2012) đã trở thành các yếu

tố "cộng hưởng" khiến cho các đối tượng dễ bị tổn thương như người nghèo ở đô thị càng khó khăn hơn nhất trong điều kiện họ có ít nguồn lực và điều kiện để duy trì và thích ứng sinh kế

1.1.2 Sự cần thiết của nghiên cứu

Thành phố Cần Thơ có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của khu vực đồng bằng sông Cửu Long - Việt Nam và là một trong những địa phương có tốc độ đô thị hoá cao trong thời gian qua và chịu tác động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu, đặc biệt là những tác hại của thiên tai và các thay đổi bất thường của thời tiết Cũng giống như các đô thị đang phát triển khác, bên cạnh những chuyển biến tích cực của nền kinh tế làm diện mạo đô thị ngày càng thay đổi hiện đại hơn, đời sống người dân nói chung được cải thiện hơn, tiến trình đô thị hóa ở Cần Thơ cũng làm xuất hiện một bộ phận

Trang 3

3

người nghèo mất đất nông nghiệp, hoặc một nhóm người dễ bị tổn thương do phải chuyển đổi ngành nghề (những đối tượng bị ảnh hưởng phải di dời tái định cư, mất công ăn việc làm, thay đổi sinh kế, ) Thêm vào đó, sự phát triển của thành phố Cần Thơ đã tạo ra "lực hút" đối với làn sóng di cư lao động (chủ yếu là những người nghèo tìm kiếm việc làm) đến từ các vùng nông thôn lân cận làm gia tăng nhóm đối tượng nghèo và dễ bị tổn thương, gây khó khăn cho quá trình phát triển kinh tế-xã hội của thành phố

Thời gian qua chính quyền thành phố đã có chủ trương huy động mọi nguồn lực giúp các nhóm đối tượng nghèo, cận nghèo và dễ bị tổn thương vươn lên thoát nghèo thông qua các chính sách trợ giúp về phát triển kết cấu hạ tầng, phục vụ sản xuất, đất đai, tín dụng, dạy nghề, tạo việc làm, khuyến nông, tiêu thụ sản phẩm, Tuy nhiên việc giải quyết các chính sách xã hội đối với nhóm đối tượng này vẫn đang là thách thức lớn cho mục tiêu phát triển bền vững và các vấn đề lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của thành phố

Trong điều kiện xuất hiện các biểu hiện tác động của biến đổi khí hậu (nhiệt độ cao, bão/lốc xoáy, ngập lụt, hạn hán, triều cường, sạt lở bờ sông, hoặc các thay đổi bất thường của mùa và thời tiết bất từng năm) khiến cho các nhóm đối tượng người nghèo, cận nghèo và dễ bị tổn thương (bao gồm cả dân bản địa và lao động di cư) phải đối mặt với "khó khăn kép" đó là: vừa phải đối phó với các khó khăn trong tìm kiếm công

ăn việc làm, thu nhập và tiếp cận các dịch vụ xã hội vừa phải ứng phó với tác động của biến đổi khí hậu làm cho tính dễ bị tổn thương (trong đời sống và sinh kế) của nhóm đối tượng này càng trở nên nghiêm trọng hơn

Xuất phát từ tình hình trên, nghiên cứu hiện trạng, tương tác giữa nghèo và tính dễ

bị tổn thương liên quan đến biến đổi khí hậu ở khu vực đô thị thành phố Cần Thơ được thực hiện nhằm hướng đến mục tiêu giảm nhẹ tính dễ bị tổn thương cho cư

dân nghèo, cận nghèo và dễ bị tổn thương ở đô thị làm cơ sở định hướng, đề xuất chính sách trong lập các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và hỗ trợ hiệu quả cho chính quyền và các Sở ngành có liên quan của thành phố Cần Thơ trong các vấn đề về giảm nghèo, giải quyết an sinh xã hội và phát triển kinh tế bền vững

1.1.3 Giải thích và giới hạn phạm vi sử dụng từ ngữ/khái niệm trong nghiên cứu + Người nghèo, cận nghèo và dễ bị tổn thương: trong nghiên cứu này người nghèo

và dễ bị tổn thương (bao gồm cả đối tượng nghèo, cận nghèo theo chuẩn nghèo và lao động nhập cư vào thành phố Cần Thơ) được hiểu là nhóm đối tượng có chất lượng cuộc sống thấp và gặp nhiều hạn chế trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội (chẳng hạn nhà ở tạm bợ, thiếu tiện nghi sinh hoạt, thiếu vốn sản xuất, con em không được đến trường hoặc không có điều kiện học lên cao, không có điều kiện khám chữa bệnh, không tiếp cận được với thông tin xã hội, không có thời gian và điều kiện để vui chơi giải trí, ít tham gia các phong trào địa phương, );

Trang 4

4

+ Dịch vụ xã hội cơ bản: được hiểu là hệ thống cung cấp dịch vụ nhằm đáp ứng

những nhu cầu cơ bản của con người, bao gồm (i) dịch vụ đáp ứng nhu cầu vật chất như nhà ở, ăn uống, vệ sinh ; (ii) dịch vụ y tế như các hình thức khám chữa bệnh, điều dưỡng phục hồi chức năng về thể chất, tinh thần; (iii) dịch vụ giáo dục như học tập nâng cao trình độ, đào tạo kỹ năng nghề nghiệp, ; (iv) dịch vụ về giải trí, hoà nhập tốt hơn với cộng đồng,

+ Biến đổi khí hậu: trong nghiên cứu này, biến đổi khí hậu được hiểu là những thay

đổi liên quan đến khí hậu (nhiệt độ cao, bão/lốc xoáy, ngập lụt, hạn hán, triều cường, sạt lở bờ sông, ) hoặc các thay đổi dị thường (thay đổi mùa, hay thời tiết bất thường

của từng năm) và được gọi chung là thiên tai và các thay đổi bất thường của thời tiết 1.1.4 Câu hỏi nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện nhằm trả lời các câu hỏi:

(i) Đối tượng dễ bị tổn thương ở đô thị gồm những ai? Họ đến từ đâu? Cuộc sống trước đây của họ thế nào? Đời sống và thu nhập hiện tại của họ như thế nào? Họ tiếp cận với các dịch vụ y tế, xã hội ra sao? Có sự khác nhau về mức độ tổn thương giữa các nhóm đối tượng hay không?

(ii) Người nghèo, cận nghèo và dễ bị tổn thương cảm nhận thế nào về diễn tiến/xu hướng phát triển kinh tế-xã hội, đô thị hóa và thiên tai, thời tiết bất thường đang diễn

ra xung quanh họ?

(iii) Có sự tương tác nào giữa các xu hướng phát triển xã hội và BĐKH đến tính dễ bị tổn thương hay không? BĐKH có làm cho vấn đề trở nên nghiêm trọng hơn hay không? Người nghèo, cận nghèo và dễ bị tổn thương mong muốn điều gì để chống chịu/thích ứng trong hiện tại và trong tương lai? Mong muốn thoát nghèo giữa nam và

nữ giới có khác nhau không? Có sự khác biệt về giới liên quan đến nghèo và dễ bị tổn thương hay không?

(iv) Chính quyền địa phương và các ngành chức năng có liên quan đang phải đối mặt với những thách thức nào trong công tác giảm nghèo và dễ bị tổn thương? Cần có những giải pháp, chính sách cụ thể nào để hỗ trợ và nâng cao năng lực ứng phó với

BĐKH của các nhóm đối tượng nghèo, cận nghèo và dễ bị tổn thương?

1.1.5 Khung phân tích lý thuyết

Vấn đề nghiên cứu được tiếp cận trong khuôn khổ khung phân tích lý thuyết của các chuyên gia nghiên cứu về nghèo và biến đổi khí hậu Theo đó, năng lực ứng phó với BĐKH và xây dựng khả năng phục hồi của các đô thị được xem xét trong một tổng thể các yếu tố con người, tác nhân, các hệ thống hạ tầng kỹ thuật của đô thị và mối liên quan của các thể chế xã hội dưới tác động phơi nhiễm của BĐKH; từ đó giúp cải thiện kinh tế - xã hội được tốt hơn (Stephen Tyler and Marcus Moench, 2012)

Trang 5

(iii) Phân tích mối tương quan và năng lực ứng phó, mong muốn sinh kế của của các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương với xu hướng phát triển kinh tế-xã hội, thay đổi bất thường của thời tiết và BĐKH;

(iv) Đề xuất các giải pháp giảm nhẹ tính tổn thương và xây dựng các đề án cụ thể hóa chính sách nâng cao năng lực thích ứng BĐKH của thành phố Cần Thơ

1.3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Các đối tượng nghiên cứu, bao gồm:

CÁC HỆ THỐNG

Bị thiệt thòi

CÁC THỂ CHẾ

XÂY DỰNG KHẢ NĂNG PHỤC HỒI

CÁC TÁC NHÂN Nâng cao năng lực Yếu ớt CÁC HỆ THỐNG Phục hồi

CÁC TÁC NHÂN

XÃ HỘI VÀ KINH TẾ ĐƯỢC CẢI THIỆN

Trang 6

6

+ Con người: cư dân đô thị Cần Thơ và lao động di cư từ các địa phương khác Đặc biệt là nhóm đối tượng nghèo, cận nghèo có chất lượng cuộc sống thấp và gặp nhiều hạn chế trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội

+ Các nhân tố ảnh hưởng đến tính dễ bị tổn thương: hoàn cảnh sống, xu hướng xã hội,

xu hướng kinh tế và BĐKH

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trên phạm vi 05 quận nội ô thành phố Cần Thơ, bao gồm Bình Thủy, Ninh Kiều, Cái Răng, Ô Môn và Thốt Nốt Địa bàn lấy mẫu nghiên cứu được thực hiện tại các phường của các quận nội ô nêu trên; đồng thời thu thập số liệu thứ cấp ở các cấp độ Sở ngành, địa phương

1.4 Nội dung và phương pháp nghiên cứu

1.4.1 Thu thập và nghiên cứu dữ liệu thứ cấp

- Thu thập số liệu thống kê hộ nghèo, cận nghèo của các nguồn Cục Thống kê TPCT,

Sở Lao động - Thương binh và Xã hội TPCT và các quận/huyện, phường/xã (UBND, phòng Lao động - Thương binh và Xã hội) và thông tin về tình hình lao động nhập cư

- Tổng hợp các tài liệu, báo cáo có liên quan đến biến đổi khí hậu (đặc biệt là những tác hại của thiên tai và các thay đổi bất thường của thời tiết, công tác phòng chống lụt bão, thiên tai) và người nghèo và cận nghèo của Việt Nam, ĐBSCL và Cần Thơ để hiểu rõ hiện trạng chung của thành phố (có so sánh quận/huyện, phường/xã/thị trấn)

1.4.2 Phỏng vấn người am hiểu (key informants panel - KIP)

Phỏng vấn các đối tượng là cán bộ quản lý, các nhà hoạch định chính sách cấp Sở ngành, bao gồm:

1 Sở Lao động Thương binh và Xã hội;

2 Sở Y tế;

3 Sở Nội vụ;

4 Sở Giáo dục và Đào tạo;

5 Sở Kế hoạch và Đầu tư;

6 Sở Công Thương;

7 Sở Thông tin và Truyền thông;

8 Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch;

9 Sở Tài nguyên Môi trường;

10 Liên đoàn Lao động thành phố Cần Thơ;

11 Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố Cần Thơ;

Trang 7

7

12 Hội Nông dân Việt Nam thành phố Cần Thơ;

13 Thành Đoàn Cần Thơ;

14 Hội Chữ Thập đỏ thành phố Cần Thơ;

15 Ủy ban Mặt trận Tổ quốc thành phố Cần Thơ;

và 42 phường của 5 quận (Ninh Kiều: 13 phường; Bình Thủy: 8 phường; Cái Răng: 7 phường; Ô Môn: 7 phường, Thốt Nốt: 9 phường)

1.4.3 Đánh giá nhanh có sự tham gia (PRA)

Thảo luận nhóm tập trung (focus group discussion) các cộng đồng có chất lượng cuộc sống thấp và gặp nhiều hạn chế trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội đối với hai nhóm (i) cư dân bản địa của thành phố Cần Thơ và; (ii) người nhập cư vào thành phố Cần Thơ Sử dụng các công cụ:

+ Biểu đồ thời gian và xu hướng (timeline): xác định các mốc thời gian và sự kiện ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến cộng đồng, mức độ ảnh hưởng (i) các sự kiện xảy ra đối với cộng đồng trong thời gian 20 năm trở lại đây; (ii) xu hướng nghề nghiệp, việc làm của cộng đồng, mức độ tiếp cận với việc làm, thu nhập; (iii) ảnh hưởng của diễn biến kinh tế - xã hội đến đời sống của cộng đồng; (iv) ảnh hưởng của các quy hoạch,

dự án quy hoạch, di dời, nếu có; (v) tình trạng tiếp cận dịch vụ giáo dục, y tế và hưởng thụ văn hóa, giải trí, tín ngưỡng; (vi) cảm nhận của cộng đồng về ảnh hưởng của thời tiết như tăng nhiệt độ, sạt lở, ngập lụt, hạn hán, lốc xoáy đến đời sống và sản xuất + Phân loại và xếp hạng (classification and scoring): cộng đồng mô tả đặc điểm các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương, chấm điểm tiêu chí phân loại

+ Lịch mùa vụ/việc làm trong năm (seasonal calendar): tình hình sản xuất, nhu cầu lao động cho sản xuất; ảnh hưởng của thời tiết đến công ăn việc làm

+ Sơ đồ tổ chức cộng đồng (institutional mapping) - biểu đồ Venn: xác định các mối liên kết, vai trò và trách nhiệm của các tổ chức, đoàn thể có ảnh hưởng đến cộng đồng + Cây vấn đề (problem tree): xác định các khó khăn, nguyên nhân và giải pháp để nâng cao năng lực thích ứng với tính dễ bị tổn thương và BĐKH của cộng đồng

1.4.4 Điều tra xã hội học các đối tƣợng nghiên cứu

Sử dụng phương pháp phỏng vấn có cấu trúc đối với các hộ gia đình thuộc nhóm đối tượng nghiên cứu

1.4.5 Phỏng vấn chuyên sâu (deep interview)

Phỏng vấn chuyên sâu hộ gia đình để xây dựng "câu chuyện" điển hình (case-study)

Trang 8

8

1.5 Quy mô chọn mẫu

Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nghiên phân tầng theo địa bàn và nhóm đối tượng nghiên cứu, cụ thể:

+ Phỏng vấn chuyên gia: 30 cán bộ Sở ngành (2 cán bộ x 15 đơn vị) và 84 cán bộ phường (2 cán bộ x 42 phường) của 05 quận nội ô TPCT như đã liệt kê ở Mục 4.2 + Đánh giá nhanh cộng đồng (3 cộng đồng x 5 quận, mỗi cộng đồng 15 người) trên cơ

sở các nhóm đối tượng (i) cư dân bản địa của Cần Thơ và; (ii) người nhập cư

+ Điều tra xã hội học 850 hộ gia đình ta ̣i 05 quận nội ô TPCT (mỗi quận 170 hộ)

+ Phỏng vấn chuyên sâu 15 hộ được chọn từ 850 hộ điều tra xã hội học

1.6 Phương pháp phân tích số liệu

Áp dụng các phương pháp sau đây để phục vụ phân tích các chỉ tiệu/thông số cần thiết phản ánh thực trạng vấn đề nghiên cứu

+ Thống kê mô tả: phân tích nguồn dữ liệu thứ cấp và số liệu điều tra hộ, cụ thể:

- Số trung bình, giá trị nhỏ nhất/lớn nhất, trung vị, mode; phân phối tần số và tần số tích lũy, tần số cộng dồn, để mô tả đặc điểm phân bố của bộ số liệu điều tra

- Phân tích bảng chéo (cross tabulation) để phân tích mối tương quan giữa các tiêu chí/biến số nghiên cứu

+ Phân tích phương sai và so sánh số trung bình của các biến số nghiên cứu

+ Phân tích thừa số (phân tích khám phá nhân tố) để xác định những yếu tố ảnh

hưởng đến tính dễ bị tổn thương, sử dụng mô hình:

Xi = Aij + Ai2F2 + … + AimFm +ViUi

Trong đó:

Xi : biến độc lập thứ i

Aij : hệ số hồi quy bô ̣i của biến độc lập

F : nhân tố chung

Ui : nhân tố duy nhất củ a biến i (nhân tố duy nhất tương quan với những nhân tố khác và với các nhân tố chung ) Các nhân tố chung có sự kết hợp tuyến tính của các biến quan sát Fi = wij + wi2x2 + … + wikxk

Fi : ước lượng nhân tố thứ i

Wi : trọng số hay hệ số điểm nhân tố

K : số biến

Trang 9

9

+ Phân tích hồi quy tương quan đa biến - hàm Binary Logistic: xác định mô hình

tương quan của các biến số bằng mô hình toán:

trong đó:

Y: thu nhập bình quân của hộ gia đình

Xi (i=1 k): biến độc lập ảnh hưởng đến thu nhập

Dj (j=1 k): là các biến phân loại (biến giả)

ε: các biến động không giải thích được trong mô hình

Sử dụng các phần mềm chuyên dụng phân tích thống kê như Excel, SPSS để hỗ trợ phân tích số liệu

Trang 10

10

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG CỦA CƯ DÂN ĐÔ THỊ 2.1 Tổng quan thành phố Cần Thơ

Thành phố Cần Thơ bao gồm 9 đơn vị hành chính là: 5 quận Ninh Kiều, Bình Thủy, Ô Môn, Thốt Nốt, Cái Răng và 4 huyện Vĩnh Thạnh, Cờ Đỏ, Thới Lai, Phong Điền với

85 đơn vị cấp xã phường (44 phường, 5 thị trấn, 36 xã)

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Thành phố Cần Thơ được xem đô thị trung tâm vùng đồng bằng sông Cửu Long, với tổng diện tích đất tự nhiên năm 2010 là 140.895 ha Tứ cận của thành phố bao gồm: Bắc giáp tỉnh An Giang, Nam và Tây Nam giáp tỉnh Hậu Giang, Đông giáp tỉnh Đồng Tháp và tỉnh Vĩnh Long và phía Tây giáp tỉnh Kiên Giang Cách Thành phố Vĩnh Long 34 km, Thành phố Long Xuyên 62 km, Thành phố Sóc Trăng 63km và Thành phố Mỹ Tho 104 km, Rạch Giá 116 km, Châu Đốc 117 km và cách Cà Mau 179km

Cách thành phố Hồ Chí Minh 169 km

Hình 2.1 Bản đồ hành chánh thành phố Cần Thơ

Trang 11

11

2.1.2 Tài nguyên đất

Đất phù sa chiếm 84% tổng diện tích tự nhiên, phân bố dọc theo sông Hậu, cách sông

từ 8-12 km Đất phù sa bao gồm 5 loại: đất phù sa bồi ven sông chiếm khoảng 1,9%, đất phù sa đốm gỉ có gley chiếm khoảng 58%, đất phù sa đốm gỉ chiếm khoảng 15,3%, đất phù sa loang lổ chiếm khoảng 4,9%, đất phù sa gley chiếm khoảng 4,1%

Đất phèn chiếm 16% diện tích tự nhiên Toàn bộ đất phèn hoạt động, bao gồm đất phèn hoạt động nông chiếm khoảng 2,5%, đất phèn hoạt động sâu chiếm khoảng 7,0%, đất phèn hoạt động rất sâu chiếm khoảng 6,4% (Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn TPCT, 2012)

Bảng 2.1: Diện tích và mục đích sử dụng đất chủ yếu các quận, huyện

Địa bàn Diện tích

(ha)

Mục đích sử dụng chủ yếu

Quận Ninh Kiều 2.296,5 Đất đô thị (thương mại và du lịch)

Quận Ô Môn 13.221,6 Đất đô thị và sản xuất nông nghiệp

Quận Bình Thủy 7.068,2 Đất đô thị, sản xuất công nghiệp và nông nghiệp Quận Cái Răng 6.832,5 Đất đô thị và sản xuất nông nghiệp

Quận Thốt Nốt 11.801,2 Đất đô thị, sản xuất công nghiệp và nông nghiệp Huyện Vĩnh Thạnh 29.832,4 Đất sản xuất nông nghiệp

Huyện Cờ Đỏ 31.115,4 Đất sản xuất nông nghiệp

Huyện Phong Điền 12.525,6 Đất sản xuất nông nghiệp

Huyện Thới Lai 25.580,6 Đất sản xuất nông nghiệp

Nguồn: Niên giám thống kê năm 2010 Năm 2009, Cần Thơ có tổng diện tích đất gần 141.000 ha, chiếm 3.5% diện tích khu vực đồng bằng sông Cửu Long và 0.43% diện tích đất tự nhiên quốc gia Cơ cấu đất ở Cần Thơ bao gồm đất nông nghiệp (chiếm gần 82% tổng diện tích) đất phi nông nghiệp (18%) và một phần nhỏ của đất chưa sử dụng (Bảng 2.2)

Số liệu này cho thấy, đất nông nghiệp vẫn chiếm một phần lớn ở thành phố Cần Thơ

và xuất hiện hầu hết ở các khu vực đô thị hành chính cấp quận (trừ quận Ninh Kiều)

Do vậy tuy được công nhận là thành phố loại 1 trực thuộc Trung ương, cộng với tốc độ

đô thị hóa khá nhanh trong thời gian vừa qua; đồng thời với việc thực thi chiến lược công nghiệp hóa, đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa nhưng phần lớn dân cư đô thị của thành phố vẫn sống lệ thuộc vào nông nghiệp (các quận Cái Răng,

Trang 12

12

Bình Thủy, Ô Môn và Thốt Nốt) Đây là đặc điểm khá đặc thù đối với đô thị Cần Thơ

và yếu tố này cũng tác động mạnh mẽ đến sinh kế của người nghèo khu vực đô thị Chỉ một bộ phận nhỏ dân cư đô thị tiếp cận được với các hoạt động sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ là các ngành nghề mang lại việc làm có thu nhập tương đối cao và ổn định Hầu hết người dân vẫn sống dựa vào sản xuất nông nghiệp, nhất là người nghèo Trong điều kiện thiếu thốn các tài sản sinh kế về đất sản xuất, vốn, lao động và trình độ học vấn, trình độ sản xuất người nghèo buộc phải di cư

về các đô thị trung tâm như Ninh Kiều, hoặc tìm kiếm việc làm phi nông nghiệp tại các trung tâm quận đối với các quận chậm chuyển dịch cơ cấu lao động trong khi người lao động chưa được trang bị các điều kiện cần thiết như: nghề nghiệp, trình độ học vấn, kỹ năng việc làm, khiến cho đời sống của họ đã khó khăn càng khó khăn hơn

2.1.3 Khí hậu và thời tiết

Theo (Sở Nông nghiệp thành phố Cần Thơ, 2012), thành phố Cần Thơ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới cận xích đạo với hai mùa rõ rệt (mùa mưa từ tháng V đến tháng XI, mùa khô từ tháng XII đến tháng IV)

Nhiệt độ cao đều trong năm và ít thay đổi, trung bình cả năm từ 26,8 - 28oC (dao động trong khoảng 24-29oC) Chênh lệch nhiệt độ giữa tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất không quá 5oC, tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng VII, thấp nhất là tháng XII Tuy nhiên chênh lệch nhiệt độ ngày đêm lại khá lớn, vào mùa khô có trị số 8–10oC Thời gian chiếu sáng khá dài (bình quân là 2.382-2.582 giờ/năm), cao hơn các tỉnh phía Bắc

từ 500 - 700 giờ/năm Những tháng mùa khô có số giờ chiếu sáng cao (250-260 giờ/tháng)

Độ ẩm không khí tương đối ổn định từ 79,0-83,4%, biên độ nhiệt trung bình giữa các tháng trong năm thấp là điều kiện thuận lợi cho việc sinh trưởng và phát triển quanh năm của cây trồng và vật nuôi

Lượng mưa trung bình từ 1.548 - 1.840mm/năm (xấp xỉ ở mức trung bình của vùng ĐBSCL) Lượng mưa phân bố không đều, tập trung vào tháng 9 và tháng 10, kết hợp với ảnh hưởng lũ của sông Mêkông đã gây ngập úng ruộng đồng, đường giao thông, khu dân cư đặc biệt ở huyện Vĩnh Thạnh, quận Thốt Nốt gây khó khăn cho sản

xuất và đời sống của cư dân

2.1.4 Nguồn nước và chế độ thủy văn

+ Nguồn nước

Nguồn nước là nước ngầm, nước mưa và nước từ sông Hậu So với các tỉnh khác trong vùng ĐBSCL, Cần Thơ là một trong những địa phương có điều kiện cung cấp nước ngọt thuận lợi nhất với nguồn nước dồi dào, chất lượng tốt, nhiều khu vực có thể lợi

Trang 13

Nhìn chung, chế độ dòng chảy trên hệ thống sông, rạch và kênh của thành phố chịu sự chi phối của dòng chảy sông Mêkông, thủy triều biển Đông, mưa nội vùng và hệ thống

hạ tầng cơ sở, trong đó sự giao thoa giữa chế độ dòng chảy thượng nguồn sông Mêkông và chế độ triều biển Đông chi phối mạnh nhất Có thể lợi dụng thủy triều để tưới tiêu tự chảy cho cây trồng, cấp thoát nước cho nuôi thủy sản gần như toàn bộ diện tích của thành phố Vào mùa mưa, nhất là tháng 9-11, đỉnh triều lên cao nhất (+163†+173 cm) kèm theo mưa lớn, lũ từ thượng nguồn đổ về gây khó khăn cho tiêu thoát nước, dẫn đến tình trạng ngập úng khá sâu ở những nơi có địa hình thấp trũng, nhất là quận Bình Thủy Đỉnh lũ thường xuất hiện cuối tháng 9 đến hết tháng 10, với thời gian ngập giảm dần theo hướng từ bắc xuống nam Tình trạng ngập lũ gây tốn kém cho xây dựng các khu dân cư, khu công nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng (Theo kết quả phỏng vấn KIP, 2012)

2.1.5 Dân số - Lao động việc làm

+ Dân số

Thành phố Cần Thơ được xem là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học công nghệ của ĐBSCL Tổng dân số năm 2010 là 1.199.817 người, trong đó dân số khu vực nông thôn 408.762 người, chiếm 34,1% Tổng số lao động đang làm việc trong nền kinh tế năm 2010 là 588.340 người, lao động nông nghiệp 248.521 người, chiếm 42,1% Dân số của thành phố có xu hướng tăng chậm từ 1.087.243 người năm 2000 lên 1.148.991 người năm 2005, đạt tốc độ tăng bình quân 1,11%/năm, thấp hơn tỉ lệ tăng dân số tự nhiên trung bình giai đoạn 2001-2005 (1,14%) và tăng lên 1.199.817 người năm 2010, đạt tốc độ tăng bình quân 0,87%/năm, thấp hơn tỉ lệ tăng dân số tự

Trang 14

14

nhiên trung bình giai đoạn 2006-2010 (1,08%) Tính đến năm 2011, TPCT có 1,2 triệu dân, chiếm khoảng 7% dân số ĐBSCL (khoảng 17.300.000 người) và xếp thứ 9 trong

số 13 đơn vị hành chính của ĐBSCL (Tổng cục Thống kê, năm 2010 và 2011)

Cơ cấu dân số ở TPCT chủ yếu là người Kinh (chiếm đến 97% dân số) Các dân tộc khác bao gồm người Khmer chiếm 1,9%, sống chủ yếu ở Ninh Kiều và Ô Môn và người Hoa chiếm 1,2% (Niên giám thống kê thành phố Cần Thơ, 2011) Bảng 2.2

Bảng 2.2: Dân số thành phố Cần Thơ phân theo địa bàn giai đoạn 2005 - 2011

Cờ Đỏ 180,220 182,812 184,923 186,109 124,245 124,818 124,789 Phong Điền 99,230 99,339 99,448 99,557 99,667 100,166 100,026 Thới Lai - - - - 121,321 121,885 122,252

Cần Thơ 1,148,991 1,160,540 1,171,987 1,180,904 1,189,555 1,199,817 1,209,192

Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Cần Thơ năm 2010 và 2011 Dân số đô thị và nông thôn tại 9 quận huyện của TPCT khá ổn định trong giai đoạn 2005-2008 và có sự biến động lớn từ sau năm 2009 do việc nâng cấp một số khu vực nông thôn lên quận đô thị (Bảng 2.3)

Bảng 2.3: Biến động dân số nông thôn và thành thị giai đoạn 2005 - 2011

Năm

Địa bàn

Nông thôn 574.145 575.622 563.768 565.400 406.541 408.762 409.333 Thành thị 574.846 584.918 608.219 615.504 783.104 791.055 799.859

Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Cần Thơ năm 2010 và 2011 Giai đoạn 2009- 2011 cho thấy xu hướng "di cư từ nông thôn ra thành thị", cụ thể: (i) dân số nông thôn trong giai đoạn 2009-2011 tăng nhẹ (0,7% trong hai năm và 0,35% trung bình mỗi năm), mức tăng này thấp hơn so với mức cân bằng tự nhiên tại thành phố Cần Thơ; (ii) tỷ lệ tăng dân số ở thành thị giai đoạn 2009- 2011 đạt 2,14% trong

Trang 15

15

hai năm và tốc độ trung bình khoảng 1% mỗi năm (trong khi tốc độ tăng dân số của thành phố giai đoạn 2006-2010 là 0,87%/năm, với tăng dân số tự nhiên là 0,2%/năm) Biến động dân số thành thị và nông thôn những năm rất gần đây đặt ra vấn đề đáng quan tâm cho Cần Thơ là có một lượng dân di cư với mức độ trung bình từ nông thôn

ra các trung tâm đô thị địa phương và một số ít dân di cư từ các tỉnh khác đến Mặc dù không có số liệu cụ thể, tuy nhiên theo nhận định từ kết quả phỏng vấn các Sở ngành (Kết quả KIP, 2012) lao động di chuyển chủ yếu tập trung ở các quận trung tâm như Ninh Kiều, Bình Thủy và Cái Răng

+ Mật độ dân số: Mật độ dân số của thành phố Cần Thơ được xếp thứ tư trong các thành phố của Việt Nam, trung bình 856 người/km², thấp hơn thành phố Hồ Chí Minh (3.530 người/km²), Hà Nội (1.962 người/km²), Hải Phòng (1.221 người/km²) cao hơn

so với Đà Nẵng (722 người/km²) Tổng dân số tại thành phố Cần Thơ vẫn còn khá thấp

so với thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội Trong thành phố Cần Thơ, mật độ cao nhất tại quận Ninh Kiều: 8.602 người/km² năm 2011 và mật độ thấp nhất là ở huyện Vĩnh Thạnh (385 người/km² năm 2011)

+ Lao động việc làm: năm 2010, tổng lao động xã hội của thành phố chiếm 67,4% so với dân số (tăng 6,7% so với năm 2000), trong đó lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế chiếm 72,8% trong tổng lao động xã hội (tăng 4,4% so với năm 2000), lao động dự trữ chiếm 27,2% Như vậy, tỉ lệ lao động làm việc trong các ngành kinh tế tăng chậm hơn so với nguồn lao động xã hội tăng thêm, tạo áp lực việc làm Tỉ trọng lao động ngành nông nghiệp của thành phố có xu hướng giảm liên tục và năm 2010 là 42,1%, giảm 11,3% so với năm 2000, thấp nhất so với các tỉnh trong vùng ĐBSCL, thấp hơn so với mức bình quân cả nước (48,7%) và so với vùng ĐBSCL (59,7%) Trong tổng lao động nông, lâm nghiệp và thủy sản, lao động thủy sản có xu hướng tăng khá nhanh từ 2,1 ngàn người năm 2000 (chiếm 0,9%) lên 9,1 ngàn người năm

Nông nghiệp - thủy sản 1000 người 241,0 247,2 247,5 0,51 0,02

- Nông, lâm nghiệp 1000 người 238,9 242,2 238,4 0,28 -0,32

- Thủy sản 1000 người 2,1 5,0 9,1 19,06 12,82 Phi nông nghiệp 1000 người 210,4 278,2 340,8 5,74 4,14

Niên Giám Thống kê Cần Thơ năm 2005 và 2010

Trang 16

16

Năng suất bình quân của lao động năm 2010 đạt 75,1 triệu đồng/người, cao hơn so với mức bình quân cả nước (40,4 triệu đồng/người) và cao nhất so với các tỉnh ở vùng ĐBSCL, gấp 1,6 lần năng suất lao động của tỉnh cao kế cận là Kiên Giang (46,7 triệu đồng/người) và gấp 3,2 lần của tỉnh thấp nhất là Trà Vinh (28 triệu đồng/người)

Năm 2011, lao động có việc làm thuộc khu vực nông nghiệp của thành phố Cần Thơ vẫn còn khoảng 40% trong cơ cấu, khu vực công nghiệp - xây dựng sử dụng trên 21%

và số còn lại là lao động thuộc khu vực dịch vụ (Bảng 2.4) Thực tế cho thấy trừ quận Ninh Kiều hoạt động sản xuất nông nghiệp không đáng kể, các quận còn lại như Bình Thủy, Cái Răng Ô Môn và Thốt Nốt mặc dù đã được chuyển thành quận nhưng sản xuất nông nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng

Bảng 2.5: So sánh phân bổ lao động ở thành phố Cần Thơ năm 2005 và 2011

Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Cần Thơ năm 2011 Mặc dù vậy đã có sự sụt giảm đáng kể lao động nông nghiệp từ năm 2005 (lao động trong lĩnh vực nông nghiệp chiếm đến 47%) do thành phố Cần Thơ có sự tác động của quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa và cùng với sự tăng trưởng của lĩnh vực thương mại, dịch vụ và các ngành công nghiệp trên địa bàn (Bảng 2.5)

2.2 Diễn tiến và các xu hướng ảnh hưởng nghèo và tính dễ bị tổn thương

2.2.1 Diễn tiến và tác động của các yếu tố bất lợi của thời tiết, thiên tai

Do vị trí ở vùng hạ lưu ở sông Mêkong thuộc khu vực ĐBSCL, Cần Thơ thỉnh thoảng phải bị ảnh hưởng bởi các loại thiên tai như lũ lụt, sạt lở bờ sông, lốc, sấm sét, ngập lụt, hạn hán, bão và áp thấp nhiệt đới Theo kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho TPCT năm 2011, thành phố trong tương lai sẽ chịu tác động mạnh mẽ trước ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu.Theo báo cáo của CCCO (2010) phân tích các điểm nóng về rủi ro thiên tai tại Cần Thơ đã xác nhận rằng các thiên tai điển hình nhất là nhiệt độ tăng, hạn hán, lũ lụt, mưa lớn, gió bão và xói lở bờ sông Trong đó, lũ lụt, sạt lở bờ sông, ngập lụt thường do thủy triều và mưa lớn cùng lốc xoáy và sấm sét

là năm loại thiên tai gây ra tác động lớn nhất cho con người và tài sản ở Cần Thơ Cụ thể, thực trạng của các yếu tố bất lợi của thời tiết và thiên tai tại TP Cần Thơ như sau:

Trang 17

17

+ Nhiệt độ không khí gia tăng: Theo báo cáo của CCCO (2010) cho thấy từ năm 1978 đến 2008 nhiệt độ không khí trung bình tại Cần Thơ gia tăng khoảng 0,5OC (Hình 2.2) Nhiệt độ gia tăng khiến cho đời sống của cư dân đô thị gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là người nghèo sống trong điều kiện thiếu thốn luôn phải chống chịu với các điều kiện

nắng nóng, oi bức,

Hình 2.2 G ia tăng nhiệt độ không khí trung bình tại Cần Thơ ( CCCO, 2010)

Số liệu thực tế thống kê và số liệu mô hình dự báo đều cho thấy nhiệt độ trung bình của không khí tăng cao trong quá khứ, hiện tại và tương lai Khi nhiệt độ không khí tăng thì đồng nghĩa với nhiệt độ nước, đất và mọi vật dụng có liên quan không khí sẽ

bị tăng theo Nhiệt độ tăng, độ ẩm cao làm gia tăng sức ép về nhiệt đối với cơ thể con người, nhất là người già và trẻ em, làm tăng bệnh tật, đặc biệt là các bệnh nhiệt đới, bệnh truyền nhiễm thông qua sự phát triển của các loài vi khuẩn, các côn trùng và vật chủ mang bệnh, chế độ dinh dưỡng và vệ sinh môi trường suy giảm Sự gia tăng của nhiệt độ còn ảnh hưởng đến các lĩnh vực khác như năng lượng, giao thông vận tải, công nghiệp, xây dựng, du lịch, thương mại, liên quan đến chi phí tăng thêm cho việc làm mát, thông gió, bảo quản và vận hành thiết bị, phương tiện, sức bền vật liệu (CCCO, 2010)

+ Hạn hán và xâm nhập mặn vào mùa khô: Theo số liệu ghi nhận trong quá khứ lưu lượng thấp nhất vào mùa khô của sông Mêkong là 2.500m3

/s thì hiện nay chỉ còn khoảng 1.600m3/s Lưu lượng nước sông mùa khô giảm, gây khô hạn ở vùng thượng nguồn (quận Thốt Nốt) và xâm nhập mặn ở vùng thấp (quận Cái Răng) do nước biển không có đối lực nên đi sâu vào đất liền, gây trở ngại cho sản xuất nông nghiệp, thủy sản và cung cấp nước sạch và ảnh hưởng đến sản xuất công nghiệp và dịch vụ (CCCO, 2010)

+ Lũ lụt hàng năm: thường xảy ra trong mùa mưa, từ cuối tháng IX đến tháng XI Do

sự di chuyển của khối lượng nước lũ lớn từ thượng nguồn sông Mêkong kết hợp với

Trang 18

18

thủy triều dâng và mưa nhiều trong thời gian ngắn gây ra lụt trên địa bàn thành phố Cần Thơ Diễn tiến lũ được nhận định chung là: mực nước tăng dần từ tháng 7 đến tháng 10, tràn từ Tây Bắc sang Đông Nam, đổ vào các cánh đồng rộng lớn và thông qua các con sông lớn và mạng lưới kênh rạch đổ ra Vịnh Thái Lan Do vậy, lũ ở Cần Thơ không chỉ gây ngập úng các cánh đồng lúa mà còn gây ngập và thiệt hại đối với

hệ thống hạ tầng Theo Ban chỉ huy phòng chống lụt bão Cần Thơ (2012), trận lũ năm

2011 gây ngập 28.029 ngôi nhà và gây thiệt mạng 10 ngư dân địa phương Mặc tích cực của lụt là cung cấp phù sa cho các cánh đồng lúa và tăng đa dạng sinh học, mang lại nguồn lợi thủy sản vì vậy không chỉ người dân nông thôn mà cả người đô thị (đối với một số quận đầu nguồn như Thốt Nốt) vẫn duy trì tập quán duy trì sinh kế trong mùa lũ bất chấp các nguy hiểm Đây là điều cần được quan tâm trong các vấn đề nâng cao năng lực chống chịu và giảm nhẹ tổn thương đối với hiểm họa này

+ Sạt lở bờ sông: thường xảy ra các quận ở Bình Thủy, Cái Răng, Ninh Kiều, Thốt Nốt, Ô Môn và huyện Phong Điền Sạt lở chủ yếu do xói mòn bởi dòng chảy và gây thiệt hại cho sản xuất, nhà ở, tài sản và cơ sở hạ tầng, ảnh hưởng đến cuộc sống của các hộ gia đình ở khu vực thành thị Theo Ban chỉ huy Phòng chống lụt bão và cứu nạn thành phố Cần Thơ (2012), ghi nhận năm 2011 có 12 trường hợp xói mòn bờ sông gây thiệt mạng 02 người và làm bị thương 05 người khác Ước tính thiệt hại kinh tế do sạt

lở bờ sông năm 2011 tại Cần Thơ là 3,565 triệu đồng Hiện nay, có 38 đia điểm sạt lở

bờ sông phân bố trên toàn thành phố đã được ghi nhận (Ngân hàng Thế giới, 2009) + Ngập lụt do triều cường và mưa lớn: địa bàn thành phố Cần Thơ, đặc biệt là khu vực

đô thị thường xuyên bị ngập do triều cường hoặc vào các thời điểm mưa lớn (trung bình 3 - 5 lần một năm ở Quận Ninh Kiều) Các khu vực bị ảnh hưởng thường bị ngập sâu một vài cm đến vài chục cm trong thời gian ngắn (khoảng vài giờ) Trong các khu vực bị ảnh hưởng bởi thủy triều, đặc biệt là các khu vực có hạ tầng chưa được nâng cấp, hệ thống thoát nước chưa được cải tạo thì các hộ gia đình nghèo có nền nhà thấp đều bị ngập vào các thời điểm triều cường trong mùa mưa (hai lần một ngày, kéo dài trong vài tuần trong một năm)

Một thực tế góp phần làm nghiêm trọng hơn tình trạng ngập do triều cường và mưa lớn là do hệ thống thoát nước trong khu vực đô thị của thành phố Cần Thơ từ xưa đã được dựa vào các con sông nhỏ, kênh rạch để thoát nước nhưng kể từ khi thành phố phát triển các sông rạch bị lắp dần, đường phố và công trình được xây dựng bê-tông hóa che phủ diện tích thấm nước tự nhiên khiến cho việc thoát nước mưa ngày càng khó khăn Hiện tại, dự án nâng cấp đô thị đang được thực hiện đã giúp tăng cường mạng lưới thoát nước thải, chủ yếu ở Ninh Kiều thông qua việc mở rộng mạng lưới kênh rạch thoát nước để giảm ngập lụt trên đường phố trong thời gian mưa và tránh nước thải chảy trên bề mặt đường phố Song song với các dự án nâng cấp đô thị, ở các khu vực có mạng lưới thoát nước ngầm đã được triển khai thực hiện, chính quyền thành phố đã tính toán thiết kế vỉa hè cao hơn từ 20cm - 30cm so với đường phố và cốt

Trang 19

19

nền xây dựng cao hơn từ 10cm - 40cm so với vỉa hè nên giúp tăng cường khả năng ứng phó của cư dân đô thị và chính quyền đối với tình trạng ngập lụt

Mặc dù vậy, đối với một số khu vực người nghèo ở đô thị vẫn chưa được tiếp cận các

hệ thống tiêu thoát nước bởi chỉ mới có một phần của khu vực đô thị được lắp đặt hệ thống thoát nước, khu vực nghèo và trung lưu ở Ninh Kiều và Cái Răng không có hệ thống cống thải ngầm, các vùng ven đô thị chủ yếu sử dụng các kênh rạch như hệ thống thoát nước (Kết quả phỏng vấn KIP, 2012)

+ Gió lốc và giông: hiện tượng thời tiết nguy hiểm này thường xảy ra từ tháng 4 đến tháng 10 mỗi năm ở hầu hết các khu vực của thành phố Cần Thơ Trong giai đoạn

2000 - 2011, giông và gió lốc gây thiệt mạng 27 người, phá hủy và gây thiệt hại nhiều ngôi nhà, phòng học, văn phòng cơ quan công quyền, và các cơ sở kinh doanh Thiệt hại về tài sản do những sự kiện thời tiết nguy hiểm này là khá nghiêm trọng: chẳng hạn năm 2011 có đến 39 cơn gió lốc gây thiệt hại 1.450 triệu đồng Theo báo cáo hàng năm của Ban chỉ huy phòng chống lụt bão Cần Thơ từ 2003 - 2011, thành phố hiếm khi bị ảnh hưởng bởi bão Trong suốt 11 năm qua, thành phố Cần Thơ chỉ ảnh hưởng nhỏ và gián tiếp bởi cơn bão Durian tháng 12 năm 2006

+ Ô nhiễm môi trường: đánh giá tình trạng môi trường gần đây thành phố Cần Thơ (2005-2009 và 2010) được thực hiện bởi Sở Tài nguyên Môi trường cho thấy môi trường không khí và môi trường đất trong thành phố chưa bị ô nhiễm và hầu như tất cả các các chỉ số đo lường đều nằm trong ngưỡng quy định Tuy nhiên, thành phố Cần Thơ đang phải đối mặt với ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng, đặc biệt là nước trên bề mặt các kênh rạch và sông Hậu Nuôi trồng thủy sản được báo cáo là nguyên nhân đầu tiên và nguy hiểm nhất cho tình trạng ô nhiễm nước tại Cần Thơ Giống như các tỉnh khác trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long, nhiều hộ gia đình ở Cần Thơ sử dụng diện tích mặt nước tự nhiên để nuôi cá da trơn mà không có một cách tiếp cận bảo vệ môi trường thích hợp Nước thải cùng với bùn, hóa chất để điều trị bệnh cho cá và thức ăn thừa từ các ao nuôi cá được xả trực tiếp vào nguồn nước tự nhiên Diện tích nuôi cá da trơn ở Cần Thơ phát triển nhanh chóng từ năm 2004 khi nhu cầu thị trường xuất khẩu tăng tại Việt Nam Theo số liệu thống kê của thành phố, diện tích mặt nước được sử dụng cho nuôi cá da trơn đạt mức cao nhất vào năm 2007 với 13 449 ha (90%

ở Thốt Nốt, Vĩnh Thạnh và Cờ Đỏ) Trong những năm gần đây, diện tích mặt nước nuôi cá tại Cần Thơ đã giảm nhẹ, tuy nhiên, mức độ ô nhiễm nước theo dõi trong năm

2010 không có nhiều thay đổi so với các năm trước

Nguyên nhân thứ hai gây ra ô nhiễm nước tại Cần Thơ là sinh hoạt của người dân Cần Thơ không có hệ thống cống và thoát nước đầy đủ, do đó, nước thải sinh hoạt hàng ngày của người dân được thải trực tiếp ra kênh rạch Với dân số khoảng 1,2 triệu người, Cần Thơ có hơn một nghìn đơn vị cơ sở hạ tầng xã hội trong các khu vực dân

Trang 20

xử lý nước thải, trong khi tổng khối lượng nước thải từ hai khu vực này là hơn 12 000 m³/ngày qua 17 cống thải trực tiếp vào sông

Ngoài các nguyên nhân trên, sản xuất nông nghiệp cũng góp phần làm ô nhiễm nguồn nước trong thành phố Căn cứ vào Báo cáo hiện trạng môi trường Cần Thơ năm 2012, nước bề mặt ở nông thôn bị ô nhiễm do chất hữu cơ, các vật chất, vi khuẩn và các chất hóa chất được sử dụng trong hoạt động nông nghiệp Do sự gia tăng sản xuất lúa từ 2 đến 3 vụ/năm nên gia tăng các hóa chất nông nghiệp, chủ yếu là thuốc trừ sâu và phân bón làm cho môi trường nước bị ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng gây ảnh hưởng trực tiếp sức khỏe, đời sống con người (Kết quả phỏng vấn KIP, 2012)

2.2.2 Diễn tiến và ảnh hưởng của tăng trưởng kinh tế và các vấn đề xã hội

Thành phố Cần Thơ đã và đang thực hiện chuyển đổi nền kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp, thương mại-dịch vụ và nông nghiệp công nghệ cao Các ngành công nghiệp dẫn đầu bao gồm công nghiệp chế biến thủy sản, chế biết xay xát gạo, trái cây

và rau quả, thuốc, hóa chất, vật liệu xây dựng, dệt may, chế biến gỗ Đối với nông nghiệp, áp dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất và tạo ra các vùng sản xuất lớn, sản xuất sản phẩm chất lượng cao Các khu dân cư cũng đã bắt đầu được phát triển, chủ yếu thuộc khu vực Nam sông Cần Thơ (quận Cái Răng) Hệ thống thương mại, nhà hàng, khách sạn và các trung tâm du lịch phát triển mạnh Nền kinh tế của thành phố Cần Thơ trong 10 năm qua phát triển khá nhanh và toàn diện với kết quả cụ thể:

2.2.2.1 Tăng trưởng kinh tế

Tốc độ tăng GDP (theo giá so sánh năm 1994) nền kinh tế của thành phố đạt mức cao,

cụ thể giai đoạn 2001-2005 tốc độ tăng GDP của thành phố đạt 13,5%/năm và giai đoạn 2006-2010 đạt 15,1%/năm, cao hơn gấp hơn 2 lần mức tăng của cả nước Đặc biệt là tăng ở tất cả các ngành kinh tế, trong đó: công nghiệp – xây dựng tăng cao nhất (17,3%/năm và 18,1%/năm), kế đến là dịch vụ (13,9%/năm và 17,3%/năm), thấp nhất

là nông nghiệp (7,5%/năm và 1,5%/năm) Xu thế tăng trưởng này phù hợp với chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố (Bảng 2.6)

Trang 21

III GDP/người (giá thực tế) triệu đồng 5,4 12,4 36,8 18,0 24,3

IV Vốn đầu tư xã hội tỷ đồng 1.665 7.350 26.282 34,6 29,0

1 Đầu tư nông lâm nghiệp

thủy sản

Tỉ lệ so với tổng đầu tư % 10,0 1,1 1,8 -35,6 10,2

2 Đầu tư phí nông lâm nghiệp

thủy sản

tỷ đồng 1.498 7.268 25.807 37,2 28,8

Tỉ lệ so với tổng đầu tư % 90,0 98,9 98,2 1,9 -0,1

V Giá trị xuất khẩu triệu USD 155 348 903 17,6 21,0

1 Hàng nông, lâm, thủy sản triệu USD 120 270 642 17,5 18,9

Nguồn: Niên Giám Thống kê Cần Thơ năm 2005 và 2010

2.2.2.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và xuất khẩu hàng hóa

Cơ cấu kinh tế (theo giá thực tế) của thành phố chuyển đổi theo hướng tích cực, trong đó: tỉ trọng ngành công nghiệp – xây dựng tăng liên tục từ 31,1% năm 2000 lên 39,8% năm 2005 (tăng 8,7%) và lên 44,2% năm 2010 (tăng 4,4%); tương ứng các năm, tỉ trọng ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm liên tục từ 22,6% xuống 18,7% (giảm

Trang 22

2.2.2.3 Đầu tư xã hội

Tổng vốn đầu tư xã hội cho nền kinh tế của thành phố (theo giá thực tế) tăng nhanh từ 1.665 tỉ đồng năm 2000, lên 7.350 tỉ đồng năm 2005 (đạt tốc độ tăng bình quân 34,6%/năm) và lên 26.282 tỉ đồng năm 2010 (đạt tốc độ tăng bình quân 29,0%/năm) Tuy nhiên, mức đầu tư cho ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản lại có xu thế giảm từ 10% trong tổng đầu tư xã hội năm 2000 còn 1,8% trong năm 2010

2.2.2.4 Thu nhập dân cư

GDP bình quân đầu người tăng nhanh từ 5,4 triệu đồng năm 2000 lên 12,4 triệu đồng năm 2005 (đạt tốc độ tăng bình quân 18,0%/năm) và lên 36,8 triệu đồng năm 2010 (đạt tốc độ tăng bình quân 24,3%/năm), tương đương khoảng 1.950 USD, cao hơn nhiều so với mức bình quân toàn ĐBSCL, cao hơn thành phố Hải Phòng (1.750 USD), thấp hơn không nhiều so với thành phố Hà Nội và thành phố Đà Nẵng (2000 USD) nhưng thấp hơn nhiều so với thành phố Hồ Chí minh (2.800 USD)

2.2.3 Xu hướng nghề nghiệp, việc làm

Theo báo cáo số liệu cung lao động thành phố Cần Thơ năm 2011, hiện nay lực lượng lao động trong độ tuổi lao động của các quận đô thị thành phố Cần Thơ có khoảng 318.017 người, chiếm 55,86% lao động trong độ tuổi lao động của thành phố Cần Thơ, trong đó: số người đang lao động sản xuất trong các lĩnh vực nông nghiệp là 83.176 người; Lao động trong lĩnh vực thương mại dịch vụ là 159.980 người; lao động tham gia trong lĩnh vực công nghiệp là 70.347 người; còn lại một bộ phận là lao động trong các lĩnh vực như: làm việc trong các cơ quan nhà nước, lao động là nội trợ, hoặc đang

đi học

+ Lao động trong sản xuất nông nghiệp: ở Cần Thơ bao gồm trồng trọt, chăn nuôi và các dịch vụ liên quan Trồng trọt góp phần chính trong giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp (khoảng 87%) Do thành phố Cần Thơ được quy hoạch để là thành phố công nghiệp trước năm 2020 nên tỷ trọng của lĩnh vực nông - lâm - thủy sản chỉ còn khoảng 10% tổng giá trị sản xuất vào năm 2020 Số liệu thống kê ở Cần Thơ cho thấy rằng tỷ

lệ các sản phẩm nông nghiệp trong ngành nông - lâm - thủy sản đã giảm từ 91% năm

2000 xuống còn 72% trong năm 2010, trong khi tỷ lệ các sản phẩm thủy sản đã tăng từ

Trang 23

23

8% năm 2000 lên đến 30% năm 2010 Đây là thách thức lớn đối với lao động việc làm của cư dân đô thị thành phố Cần Thơ, bởi như đã trình bày ở phần trên một bộ phận cư dân đô thị ở các quận Bình Thủy, Ô Môn, Cái Răng và Thốt Nốt vẫn sống lệ thuộc vào sản xuất nông nghiệp

+ Lao động trong các ngành nghề phi nông nghiệp: thực tế khảo sát cho thấy, hầu hết

cư dân đô thị không có đất sản xuất nông nghiệp (chủ yếu ở quận Ninh Kiều và các trung tâm quận còn lại) người nghèo tham gia các ngành nghề phi nông nghiệp đòi hỏi tay nghề, trình độ học vấn cao rất hạn chế Chủ yếu người nghèo tham gia các hoạt động nghề nghiệp chỉ đòi hỏi sức lao động, hoặc lao động giản đơn như: phụ việc, làm thuê mướn hưởng lương,

Trong những năm tới, với việc đẩy nhanh quá trình đô thị hoá trên địa bàn thành phố Cần Thơ để thật sự là một thành phố trung tâm của vùng ĐBSCL Việc tạo công ăn việc làm và chuyển một lực lượng lao động nông nghiệp còn lại của các quận đô thị sang lĩnh vực lao động phi nông nghiệp là việc làm rất cần thiết, đòi hỏi các cấp các ngành phải quan tâm tạo công ăn việc làm, có hướng đào tạo nghề cụ thể

2.2.4 Tiếp cận và hưởng thụ các dịch vụ xã hội

Trong xu thế phát triển thành trung tâm vùng ĐBSCL thời gian vừa qua thành phố Cần Thơ đã phát triển mạnh rất nhiều loại hình dịch vụ xã hội như y tế, giáo dục, thương mại,

+ Đối với thương mại - dịch vụ: Cần Thơ phát triển rất mạnh kênh mua sắm hiện đại Tập trung hầu hết các siêu thị và khu thương mại lớn như: Metro, Co-op Mart, Vinatex, Điện máy Sài Gòn Chợ Lớn, Nguyễn Kim, Big C, phục vụ nhu cầu mua sắm, nâng cao chất lượng cuộc sống của cư dân đô thị

+ Dịch vụ giao dịch tài chính: thành phố Cần Thơ đang đảm đương nhiệm vụ Trung tâm dịch vụ tài chính ngân hàng với tốc độ phát triển cao, nhiều chi nhánh của các ngân hàng lớn như: Nông nghiệp, BIDV, Vietcombank, Eximbank, Sacombank, Vietinbank, Seabank, SCB, Ngân hàng Quân đội, phát triển mạnh mẽ ở Cần Thơ + Giáo dục: Cần Thơ hiện có các trường: Đại học Cần Thơ, Đại học Y Dược Cần Thơ, Đại học Dân lập Tây Đô, Đại học FPT (phân hiệu Cần Thơ), và hệ thống các trường Cao đẳng, các trường trung cấp chuyên nghiệp (như trường Cao đẳng Cần Thơ, trường Cao đẳng kinh tế đối ngoại, trường Cao đẳng Y tế, trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật, trường trung cấp Văn hóa – nghệ thuật, trung cấp Du lịch Cần Thơ, ) cùng với hoạt động của các Viện nghiên cứu (Viện lúa ĐBSCL, Viện Phát triển ĐBSCL, Viện nghiên cứu Công nghệ Giáo dục, ) là cơ hội tốt để cư dân đô thị, đặc biệt là người nghèo tiếp cận với việc học tập nâng cao trình độ văn hóa, học nghề chuyên môn cao phục vụ sản xuất

Trang 24

24

+ Y tế: Cần Thơ có nhiều bệnh viện có đội ngũ y, bác sĩ với trình độ chuyên môn và y

đức cao như Bệnh viện Đa khoa TW Cần Thơ (quy mô 700 giường), bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ, bệnh viện Thành phố Cần Thơ 30 - 4, bệnh viện Tai Mũi Họng Cần Thơ, Răng hàm mặt,… và các bệnh viện, trạm xá thuộc các phường, quận, huyện và Trung tâm phòng chống HIV/AIDS và hệ thống các bệnh viện tư nhân, trung tâm dịch

vụ y tế… phục vụ và chăm sóc sức khỏe cho người dân

+ Dịch vụ vui chơi giải trí và văn hóa: khu du lịch Mỹ Khánh,, Du lịch sinh thái Phong Điền, vườn lan Bình Thủy; nhiều loại hình giải trí như phim ảnh, ca múa nhạc (các hạ tầng như Rạp chiếu phim Ninh Kiều, nhà hát Hậu Giang,…) người dân có thể vui chơi giải trí thư giãn tại các công viên lớn, các khu du lịch

2.3 Tác động của các thách thức phát triển đô thị

Thành phố Cần Thơ trong giai đoạn vừa qua, việc cải tạo, nâng cấp chỉnh trang đô thị theo hướng văn minh, hiện đại được quan tâm Nhiều khu đô thị, khu dân cư, khu tái định cư, khu du lịch, hạ tầng giao thông mới ra đời đã làm thay đổi đáng kể diện mạo của thành phố Với 5 đô thị trung tâm thuộc 5 quận, tốc độ đô thị hóa bình quân giai đoạn 2001 – 2005 là 10,16%/năm, giai đoạn 2006 – 2010 đạt 6,57%/năm Tỷ lệ đô thị hóa tăng từ 32,59% năm 2000 lên 50,03% năm 2005 và đạt 65,84% năm 2010

Trong giai đoạn 2006 – 2010, thành phố đã tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhiều công trình, dự án hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng và phát huy hiệu quả; nhiều khu đô thị tái định cư mới được đầu tư xây dựng cùng với việc cải tạo, nâng cấp, chỉnh trang đô thị, cải tạo cảnh quan, trật tự đô thị theo hướng văn minh, hiện đại, góp phần phát triển thành phố theo hướng đô thị loại I trực thuộc Trung ương

Tuy nhiên, quá trình đô thị hoá diễn ra không đồng đều Mật độ dân số khu vực nội thành năm 2010 đạt 2.471 người/km2, có sự chênh lệch về sự phát triển đô thị ở các quận: quận trung tâm Ninh Kiều mật độ dân số cao, các hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa và kết cấu hạ tầng mang tính đô thị rõ nét Trong khi các quận Cái Răng, Ô Môn, Bình Thủy, Thốt Nốt mật độ dân số còn rất thấp: 1.050 – 1.350 người/km2 (trừ khu vực trung tâm và phần ven quốc lộ 1A, quốc lộ 91), phần lớn địa bàn còn mang dáng dấp nông thôn, ngay trong quận Ninh Kiều vẫn còn có sự khác biệt về mật độ giữa các phường trung tâm (Tân An, Thới Bình, An Nghiệp, An Hội, An Cư, An Phú, An lạc,…) và các phường ngoại vi (An Bình, An Khánh, Hưng Lợi) theo UBND thành phố Cần Thơ (2012)

2.3.1 Phát triển cơ sở hạ tầng

Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng trên địa bàn thành phố trong những năm gần đây đã được chú trọng, đặc biệt là từ khi cầu Cần Thơ, sân bay Trà Nóc, cảng Cái Cui, đưa vào sử dụng đã tạo tiền đề cho phát triển kinh tế - xã hội ở Cần Thơ nói chung

Trang 25

25

2.3.1.1 Giao thông

+ Đường bộ: Cần Thơ có 1.064 tuyến đường với tổng chiều dài 2.106,1 km, trong đó: Quốc lộ có 6 tuyến, đường tỉnh 11 tuyến, đường quận/huyện 783 tuyến và đường nông thôn 264 tuyến (Bảng 2.10) Mật độ đường các loại bình quân 1,5 km/km2, trong đó mật độ đường chính (đường quận, huyện trở lên) là 0,92 km/km2, vào loại trung bình

so với cả nước, chủ yếu tập trung ở khu vực đô thị

Chất lượng đường nhìn chung còn yếu, tỉ lệ đường nhựa mới đạt 84,2% đối với đường huyện, 47,7% đối với đường đô thị và 49,5% đối với đường nông thôn Đặc biệt là thành phố vẫn một số xã, phường chưa có đường ô tô đến trung tâm; hệ thống cầu trên đường tỉnh và đường huyện còn ở cấp thấp, nhiều cầu chỉ đảm bảo thông xe 4 bánh tải trọng nhỏ hoặc xe 2 bánh, hạn chế không nhỏ đến khả năng vận chuyển vật tư, hàng hóa nông sản

Bảng 2.10 Thống kê hiện trạng hệ thống đường bộ TP Cần Thơ

Loại đường

Chiều dài (km)

Số tuyến

Kết cấu mặt (km) Tỉ lệ

nhựa hóa (%)

Bê tông nhựa

Nhựa +

Xi măng

Cấp phối

đá hoặc đường đất

Nguồn: Quy hoạch giao thông thành phố Cần Thơ đến năm 2020

+ Đường thủy nội địa: Thế mạnh giao thông thủy của TP Cần Thơ là sông Hậu (đoạn chạy qua thành phố dài 50 km) và các tuyến vận tải quốc gia, gồm: TP.HCM – Cà Mau (sông Hậu – sông Cần Thơ – kênh Xà No), TP HCM – Kiên Lương (sông Hậu – kênh Rạch Sỏi), rạch Ô Môn – kênh Thị Đội – cửa sông Cái Bé Đường thủy nội địa địa phương, gồm: 6 tuyến do Thành phố quản lý với chiều dài 85 km và các tuyến do quận, huyện quản lý với chiều dài 380 km Ngoài ra, thành phố còn có hàng ngàn km sông, kênh, rạch nhỏ tự nhiên và kênh thủy lợi nối liền các thôn, ấp Nhìn chung mạng lưới đường thủy phân bố khá đều, thuận lợi cho vận chuyển sản phẩm từ các tỉnh về thành phố và giữa các địa phương trong thành phố, nhưng nhiều tuyến bị bồi lắng và bị lấn chiếm

+ Hạ tầng giao thông đường thủy: sông Hậu là tuyến hàng hải quốc tế chính ở vùng ĐBSCL, đoạn qua Cần Thơ có 3 cảng lớn là Hoàng Diệu (cách trung tâm thành phố 8

km về phía thượng lưu), Trà Nóc (cách trung tâm thành phố 15 km về phía thượng lưu) và Cái Cui (cách trung tâm thành phố 10 km về phía hạ lưu), có khả năng lưu thông tầu 1-2 vạn tấn

Trang 26

26

+ Đường hàng không: sân bay Cần Thơ đã được nâng cấp, cải tạo thành cảng hàng không quốc tế, phục vụ tốt cho nhu cầu vận chuyển của thành phố và các tỉnh vùng ĐBSCL

+ Giao thông công cộng: hệ thống giao thông công cộng tại thành phố Cần Thơ chủ yếu là xe buýt: trong khi vận chuyển trên sông vẫn còn được sử dụng rộng rãi cho vận chuyển hàng hoá và nguyên vật liệu, cũng như cho du lịch và cá nhân, phương tiện giao thông công cộng/tập thể hiện nay vẫn là xe buýt Cần Thơ có hệ thống các trạm

xe gồm: trạm xe buýt Cần Thơ (trên quốc lộ 91B) đáp ứng tiêu chuẩn số 1 có diện tích 3.5 ha và công suất phục vụ 2 000 hành khách mỗi ngày; bến xe Hùng Vương (bến xe Cần Thơ cũ) có diện tích 4 000 m² và có sức chứa 70 chiếc xe; bến xe Ô Môn (chủ yếu

là cho xe buýt đậu) có diện tích 3 000 m² có nền đất và các công trình tạm thời; bến xe Thốt Nốt có diện tích 3 000 m² với nền bê tông nhựa đường Bãi này là nơi đậu cho khoảng 20 xe tải và 10 xe buýt Trạm này chỉ phục vụ cho tuyến xe buýt liên tỉnh từ Thốt Nốt đến Biên Hòa và Vũng Tàu Công tác tổ chức giao thông vận tải cần được cải tiến để cho phép các trạm xe buýt được sử dụng như các bến kết nối đa phương thức cho giao thông công cộng / tư nhân Các tuyến xe buýt chạy thường xuyên đảm bảo kết nối giữa các khu vực khác nhau trong thành phố Hệ thống bao gồm bảy tuyến

xe buýt chính (Bảng 2.11)

Bảng 2.11: Các tuyến xe buýt trong thành phố Cần Thơ

Tuyến xe buýt Độ dài tuyến Số trạm xe buýt

hư hỏng, sạt lở chẳng hạn như tuyến Ô Môn – Lộ Tẻ

Trang 27

27

2.3.1.2 Điện

Toàn bộ địa bàn thành phố đã phủ lưới điện Quốc gia và có trên 99,5% số hộ sử dụng điện, trong đó hộ sử dụng điện an toàn đạt 97,1% Tổng sản lượng điện thương phẩm tăng từ 362 GWh năm 2000 lên 1.334 GWh năm 2010, bình quân tăng xấp xỉ 14%/năm Tuy nhiên, điện chủ yếu phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, công nghiệp và dịch vụ, còn phục vụ cho sản xuất nông nghiệp không đáng kể chỉ phục vụ khâu bơm tưới nước ở hộ gia đình

2.3.1.3 Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường

Hiện tại khu vực nội ô có khoảng trên 62,5 ngàn hộ được cấp nước sinh hoạt, tiêu chuẩn cấp nước từ 120-140 l/người – ngày Khu vực nông thôn có 428 giếng khoan với công suất khoảng 10.000 m3/ngày Tỉ lệ hộ được cung cấp nước đạt tiêu chuẩn vệ sinh đạt khoảng 80%

Thoát nước, xử lý nước thải, xử lý rác thải còn chưa tốt, chưa đáp ứng yêu cầu vệ sinh sạch đẹp Tỉ lệ gom rác khu vực nội thành mới đáp ứng khoảng 80% so với nhu cầu

2.3.1.4 Bưu chính, viễn thông

Được đầu tư khá mạnh, đến nay đã hình thành mạng lưới bưu điện với 3 bưu cục cấp I,

8 bưu cục cấp II, 24 bưu cục cấp III, 48 điểm bưu điện văn hoá xã Mạng lưới điện thoại đã phủ kín các thôn, khu vực với trên 2,33 triệu số thuê bao điện thoại và trên 40,6 triệu thuê bao internet; bình quân 100 dân năm 2010 có 195 số thuê bao điện thoại, cao gấp gần 10 lần năm 2005 (20 số thuê bao điện thoại)

2.3.2 Phát triển đô thị

Phân khu chức năng đô thị của thành phố tương đối rõ nét Quận Ninh Kiều, là trung tâm đô thị của thành phố Cần Thơ, mật độ dân số cao, có đô thị phát triển lâu đời, nơi tập trung hầu hết các cơ sở dịch vụ quan trọng về tài chính – ngân hàng, giáo dục – đào tạo, khoa học công nghệ, y tế, văn hoá, thể dục thể thao, truyền hình, xuất bản, báo chí…trung tâm hành chánh – chính trị của thành phố, bố trí một số cơ quan quan trọng của trung ương Quận Bình Thuỷ là đô thị chiếm giữ cơ sở hạ tầng quan trọng (KCN, Sân bay, bến cảng) Quận Cái Răng với đô thị hiện hữu, KCN và Cảng biển (Cái Cui), tiềm năng khu đô thị mới Nam Cần Thơ Quận Ô Môn, được xác định như khu đô thị - công nghiệp mới Quận Thốt Nốt, đô thị hoá mạnh tập trung ở thị trấn Thốt Nốt trước đây, là đầu mối giao thông thuỷ bộ, nối liền các tỉnh lân cận và các huyện của thành phố Cần Thơ, KCN (Thốt Nốt) Mạng lưới chiếu sáng đô thị được mở rộng, tổng công suất chiếu sáng công cộng đô thị đạt 2,34KW với sản lượng điện tiêu thụ hàng năm khoảng 8,4 triệu KWh Hệ thống cơ sở hạ tầng bưu chính viễn thông đã phủ kín toàn thành phố, bán kính phục vụ bưu chính là 1,7 km/điểm phục vụ, với số dân phục vụ bình quân là 7.729 người/điểm

Trang 28

28

Các khu dân cư (KDC) đã được hoàn thành và đưa vào khai thác sử dụng như các KDC: 91B, Diệu Hiền, 586, Long Thịnh, Cồn Cái Khế, Cồn Khương, Khu Cái Sơn – Hàng Bàng, khu tái định cư Thới Nhựt, khu tái định cư siêu thị Metro Cash, khu tái định cư phục vụ đường tỉnh 923, khu tái định cư phục vụ chợ gạo Thốt Nốt, các KD vượt lũ và thành phố hiện đang tiếp tục đầu tư nâng cấp đô thị thành phố Cần Thơ giai đoạn 1 Đồng thời, thành phố cũng đang xoá bỏ các quy hoạch treo và điều chỉnh các quy hoạch hiện có theo hướng phù hợp với yêu cầu mới

Sự phát triển đô thị dọc theo tuyến sông Hậu, không kiểm soát sẽ làm mất dần cảnh quan, không gian hiện hữu, gia tăng áp lực môi trường Cơ sở hạ tầng xử lý ô nhiễm môi trường còn yếu và chưa đồng bộ Sử dụng chung mạng ống – cống thoát nước (nước mưa và nước thải) đổ trực tiếp ra sông/rạch, tại các đường thuộc khu vực ven đô thị và các khu hẻm dân cư đang đô thị hoá còn sử dụng các mương đất để thoát nước, dẫn đến tình trạng ứ đọng – ngập nước mỗi khi có mưa lớn kéo dài ở nhiều đường phố trung tâm nội ô, kể cả những nơi có tuyến cống chính Hiện trạng này gây nhiều khó khăn cho sinh hoạt và kinh doanh của người dân, đặc biệt ở những con hẻm hoặc dọc theo kênh rạch lại là nơi người dân nghèo sinh sống, họ trở nên khó khăn hơn trước tình trạng ngập lụt và ô nhiễm từ hệ thống xả thải hiện tại của thành phố

Các vấn đề về môi trường có thể ảnh hưởng đến sự phát triển đô thị bền vững: (i) Suy giảm nguồn tài nguyên nước ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xây dựng các khu, cụm công nghiệp, phát triển giao thông và xử lý nước thải, (ii) suy thoái tài nguyên đất, (iii) Thay đổi đa dạng sinh học, đặc biệt là hệ sinh thái đất ngập nước và tài nguyên thủy sinh, (iv) gia tăng chất thải tại các khu đô thị, khu công nghiệp và các khu/cụm/tuyến dân cư nông thôn, (v) rủi ro sự cố môi trường và thiên tai, đặc biệt do biến đổi khí hậu và các hoạt động sử dụng nước trên thượng nguồn sông Mekong Hiện nay trên địa bàn thành phố chưa có bãi rác hợp vệ sinh, các bãi rác đang hoạt động chưa đáp ứng được yêu cầu về bảo vệ môi trường Hình thức thu gom phân loại rác tại nguồn còn khó khăn chưa thực hiện được, nhiều nơi còn xử lý chất thải rắn bằng phương pháp thủ công, rác thải y tế còn được đổ chung vào rác thải sinh hoạt tại các KDC, rác thải tại các cơ sơ y tế tư nhân chưa quản lý được, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ và đời sống dân cư

Quy hoạch không hợp lý, quy hoạch “treo” và các vấn đề liên quan đến “hậu giải phóng mặt bằng” ảnh hưởng đến đời sống và sinh kế của một bộ phận dân cư trong vùng bị quy hoạch Sự chuyển đổi về nơi ở và điều kiện sinh kế làm cho một bộ phận thích nghi tốt, song, một bộ phận cư dân khác trở nên khó khăn hơn Họ dễ trở thành người nghèo ở đô thị hoặc người nghèo sẽ càng nghèo hơn

Đô thị hoá chưa đồng bộ, còn tồn tại vành đai nông thôn rộng lớn bao quanh các trung tâm quận (đặc biệt là Bình Thuỷ, Ô Môn và Thốt Nốt), người dân còn mang đặc điểm văn hoá truyền thống, lối sống, phong tục tập quán, ý thức cộng đồng, gia tộc và gia

Trang 29

29

đình nông thôn, khác với lối sống thành thị, nghề nghiệp gắng với ruộng đất và các nghề thủ công dẫn đến chưa hình thành được nếp sống của một xã hội công nghiệp Mặt khác, sự phát triển của nền kinh tế phi nông nghiệp làm lui dần kinh tế nông nghiệp, bên cạnh một số ưu điểm như: việc giá trị đất đai tăng, thu hút được đầu tư từ nơi khác đến, giao thông thuận tiện, đưa người dân nông thôn xích lại gần hơn với người thành thị, phương tiện thông tin truyền thông thuận tiện, hưởng thụ tốt hơn dịch

vụ xã hội, một bộ phận lao động có việc làm mới,… tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn tồn tại nhiều hạn chế như: một bộ phận người lao động không có trình độ/người già không có việc làm, thu nhập và trở thành người nghèo của đô thị; giá đất tăng dẫn đến việc người dân bán đất lấy tiền, một khi gặp phải điều kiện sống không phù hợp, họ trở thành người mất tiền, mất phương tiện sản xuất và cũng trở thành người nghèo của đô thị

2.3.3 Đặc điểm văn hóa và định cƣ của cƣ dân Cần Thơ

Nằm dọc theo bờ tây sông Hậu, một trong những đặc điểm nổi tiếng về định cư của người Cần Thơ là hoạt động chủ yếu của người dân dựa trên sông Hậu và các nhánh đường thủy và kênh rạch liên kết với con sông này Điều này giải thích cho sức thu hút mạnh nhất của thành phố Cần Thơ chính là “nền văn minh sông nước” hay “nền văn minh nông nghiệp” tạo nên một dấu ấn văn hóa riêng biệt của thành phố Với loại hình

cư trú này, có một sự kết hợp giữa nhà ở và vườn, xung quanh nhà cửa trang trí với nhiều màu sắc, có nhiều vườn cây ăn trái hoặc vườn hoa Vì vậy, ngay cả trong hiện tại, dù cơ sở hạ tầng đường bộ phát triển nhanh chóng, giao thông vận tải đường sông của thành phố vẫn còn đóng một vai trò thích đáng trong cuộc sống người dân và trong niềm hứng thú của khách du lịch Hầu như tất cả các ngôi nhà được xây dựng dọc theo sông Hậu, các nhánh sông và các kênh liên kết đều có mặt tiền hướng ra các kênh và sông này, mặc dù vậy những ngôi nhà này cũng có một mặt tiền hướng ra đường Tuy nhiên, ở một số địa điểm nơi có những cư dân nghèo sinh sống trong những ngôi nhà tranh dọc theo các nhánh sông nhỏ hoặc các con rạch nhỏ, nhà ở rất nhỏ và thô sơ

là một ví dụ rõ ràng của tình trạng nghèo khó và sự khác biệt giữa người giàu và người người nghèo trong thành phố Hơn nữa, tình hình nhà ở tạm bợ dọc theo nhánh sông chứng minh một điều kiện sống đầy rủi ro, thiếu các biện pháp thích đáng để đối mặt với rủi ro và các thảm họa tự nhiên, đòi hỏi phải có chiến lược đối phó với các giải pháp khả thi

Một đặc điểm khá nổi bật của định cư ở Cần Thơ là nhà ở trên ghe hay còn gọi là “nhà trên ghe” Người dân sử dụng ghe thuyền cho tất cả các hoạt động, từ sinh sống đến hoạt động kinh doanh, thương mại, du lịch, thậm chí cho việc học tập Cư dân sống trong nhà trên ghe có nguồn gốc khác nhau như di dân từ các tỉnh khác, hộ kinh doanh nhỏ, người không có đất ở, các cặp vợ chồng trẻ từ gia đình nghèo hoặc không có

Trang 30

đã phải đối mặt với những trận lũ ngập sâu nhất từ 1 đến 2 m, trong khi ở các khu vực khác nước ngập xấp xỉ từ 0,5 đến 0,8 m Thành phố Cần Thơ đã đưa ra một loạt các chương trình nhà ở cho cư dân địa phương, những người đã sống trong các khu vực bị ngập sâu

Theo Sở Xây dựng thành phố Cần Thơ, thực hiện Quyết định số 173/QĐ-Ttg ngày 06 tháng 11 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở ĐBSCL tập trung đầu tư để nâng cấp độ cao và nền đất, xây dựng nhà ở cho cư dân địa phương thường xuyên phải đối mặt với lũ lụt, trong giai đoạn 2001 - 2005 Cần Thơ

đã xây dựng 24 cụm dân cư và 1 tuyến dân cư, cụ thể:

+ Huyện Vĩnh Thạnh đã có 11 cụm dân cư là xã Thạnh An, thị trấn Thạnh An, Thạnh Thắng, Thạnh Quới, Trung Hưng, Thạnh Lộc, Sáu Bọng, Vĩnh Trinh, Thạnh Mỹ, Ba

Đá, Thạnh Phú với 1.440 hộ (chiếm 95,9% trên 1.501 hộ theo kế hoạch);

+ Huyện Cờ Đỏ đã có 2 cụm dân cư là Thới Đông, Đông Hiệp với 273 hộ (100% đã hoàn thành theo kế hoạch);

+ Huyện Thới Lai (huyện mới thành lập) đã có 8 cụm dân cư là Đông Bình, Đông Thuận, Trường Xuân, khu vực Trường Xuân mở rộng, Trường Xuân A, Thới Lai, Định Môn, Trường Thành, với 768 hộ (77, 4% trên 992 hộ theo kế hoạch);

+ Huyện Cờ Đỏ đã có 1 cụm dân cư là Trung Thạnh với 23 hộ (100% đã hoàn thành theo kế hoạch);

+ Huyện Phong Điền huyện đã có 2 cụm dân cư là Trường Long và Trường Long A với 284 hộ (100% đã hoàn thành theo kế hoạch);

+ Quận Bình Thủy đã có 1 tuyến dân cư là Cồn Sơn, bao quanh cụm dân cư hiện có; + Quận Cái Răng đã có 1 cụm dân cư đã trở thành khu tái định cư, theo công văn số 1462/UBND-QH ngày 04 tháng 04 năm 2007 của Uỷ ban nhân dân thành phố Cần Thơ

Có 2.788 hộ gia đình (90,7% tổng số 3.073 hộ gia đình theo kế hoạch) đã được định cư trong các khu dân cư này

Đối với giai đoạn hai sau năm 2009, thực hiện Quyết định số 1403/QĐ-TTg ngày 31 tháng 08, năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt dự án bổ sung các cụm, tuyến dân cư phục vụ cư dân địa phương sống trong khu vực phải đối mặt với lũ lụt và xói

Trang 31

31

mòn dọc theo sông, các kênh rạch ở Thành phố Cần Thơ và tỉnh Đồng Tháp, Cần Thơ

đã có kế hoạch xây dựng 8 cụm dân cư cho 2.503 hộ gia đình:

+ Bình Thủy đã có 1 cụm dân cư ở Trà Nóc, cho 185 hộ gia đình trong một khu vực rộng 4,6 ha;

+ Huyện Phong Điền đã có 2 cụm dân cư ở Phong Điền, Trường Long (giai đoạn 2) cho 1,035 hộ gia đình trong một khu vực rộng 25,9 ha;

+ Huyện Vĩnh Thạnh đã có 5 cụm dân cư ở Vĩnh Thành, Vĩnh Trinh, Vĩnh Qui, huyện Thạnh An mở rộng, Thạnh Tiến, Thạnh Mỹ mở rộng cho 1.283 hộ gia đình trong một khu vực rộng 32,1 ha

Cũng theo Sở Xây dựng thành phố Cần Thơ, điều kiện sống của cư dân định cư tại khu dân cư mới đã được cải thiện do an toàn hơn với nhà được xây dựng chắc chắn trên nền đất đắp cao, gần các trường học cho trẻ em, trường đào tạo nghề và có chương trình tín dụng cho thay đổi công việc và tạo thu nhập, trang bị khá đầy đủ cơ sở hạ tầng với đường giao thông liên xã, cung cấp điện nước, trường mẫu giáo cho trẻ em

2.3.4 Đặc điểm xu hướng di cư trên địa bàn thành phố Cần Thơ

+ Di cư khỏi thành phố Cần Thơ: việc di cư này liên quan đến người dân rời thành phố Cần Thơ vì nhiều lý do, chẳng hạn như lý do kinh tế (đến thành phố Hồ Chí Minh chẳng hạn) hoặc vì lý do khí hậu ("người tị nạn khí hậu" rời khỏi vùng đồng bằng) + Di cư đến thành phố Cần Thơ: hình thức di cư này đề cập đến những người sống ở các tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long hoặc thậm chí ở các vùng khác trên đất nước đến Cần Thơ để tìm điều kiện sống tốt hơn và/hoặc cơ hội làm việc kinh doanh Di cư cũng

có thể xảy ra do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu trong vùng đồng bằng trong những thập kỷ tới

Theo, cân bằng về di cư cho thành phố Cần Thơ thu được là hiệu số giữa nhập cư và xuất cư từ các tỉnh khác Số liệu có liên quan cho năm 2009 như sau:

Trang 32

Di cư liên tỉnh (người)

Cân bằng về di cư ở thành phố Cần Thơ như vậy là khá khiêm tốn trong năm 2009, do chưa hoàn thành thực hiện các chương trình kinh tế và xây dựng Đặc biệt, nhu cầu cho người lao động trong ngành công nghiệp và xây dựng trong năm 2009 ít hơn so với hiện nay: kết quả là sẽ có nhiều người nhập cư hơn trong những năm tới, trong khi

đó, số dân di cư có thể sẽ giảm

Bảng 2.13: Cân bằng về di cư ở thành phố Cần Thơ năm 2009

Số lượng dân nhập cư Số lượng dân xuất cư Cân bằng di cư

(số lượng tịnh/ròng)

Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2011

2.3.4.2 Điều kiện sống của lao động nhập cư ở thành phố Cần Thơ

Đối tượng lao động nhập cư tại các đô thị lớn của thành phố Cần Thơ (Ninh Kiều và Bình Thủy) làm việc tại hầu hết các lĩnh vực khu vực nhà nước, tư nhân, doanh nghiệp nước ngoài cho đến khu vực kinh tế phi chính thức Một mặt, lao động nhập cư đã, đang và sẽ cung ứng một nguồn nhân lực đáng kể cho sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố, tiêu thụ sản phẩm dịch vụ mà thành phố cung ứng, góp phần tạo nên sự đa dạng của vốn xã hội,… Mặt khác, lao động nhập cư cũng đã tạo nên một sức ép đáng

kể đối với việc quản lý và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của họ, đặc biệt trong điều kiện thành phố Cần Thơ chưa được đồng bộ hóa và còn nhiều sự chuyển đổi Một số các hạn chế đối với người nhập cư tại các khu đô thị lớn của thành phố Cần Thơ có thể kể đến như:

(i) Tình trạng đăng ký hộ khẩu: những hạn chế về thủ tục của người nhập cư (thời gian sống cố định tại một địa chỉ nào đó, hoặc sự ổn định ở một nơi làm việc trong một khoảng thời gian đủ dài – điều mà số đông người nhập cư khó có thể đảm bảo) dẫn đến việc họ chỉ đăng ký tạm trú trong một thời gian ngắn Điều này ảnh hưởng lớn đến việc quyết định họ có định cư lâu dài hay không và phần nào ảnh hưởng đến việc cải thiện sinh kế của họ sau chuyến di cư

Trang 33

33

(ii) Điều kiện nhà ở (đối với nhóm người di cư tạm thời và tạm thời lâu dài): hiện tại thành phố Cần Thơ có hỗ trợ nhà ở (ký túc xá) cho học sinh, sinh viên với giá thấp (giải quyết trên 6.000 chỗ ở), một số các khu nhà ở dành cho người lao động nói chung (Khu 91B, Khu 148, 178,…) với điều kiện cơ sở hạ tầng tương đối tốt Tuy nhiên, số lượng rất ít so với nhu cầu về nhà ở của người lao động nhập cư ở đô thị Cần Thơ Một

số ít lao động được doanh nghiệp, tổ chức nơi họ làm việc hỗ trợ chỗ ở, đa phần còn lại là người lao động tự thuê ở các khu nhà trọ Đối với các khu nhà trọ này, người nhập cư phải đối mặt với việc thiếu tiện nghi về cơ sở hạ tầng, vệ sinh, điều kiện sinh hoạt, giá điện nước cao (thậm chí không kiểm soát được), an ninh trật tự và không ổn định, ảnh hưởng phần nào đến chất lượng cuộc sống và điều kiện sinh kế

(iii) Thị trường lao động: đa phần người nhập cư là những người có việc làm (hoặc ít nhất 1 người trong gia đình di cư có việc làm), lao động nhập cư trẻ nhiều khả năng làm việc có hợp đồng, trình độ học vấn càng cao thì khả năng có hợp đồng càng cao so với lao động phổ thông Một bộ phận người nhập cư khác hoạt động ở các lĩnh vực kinh tế phi chính thức (buôn bán trên xe đẩy, lề đường hoặc hành lang của các chợ, ) Đối với một bộ phận tìm được việc làm ở các cơ sở sản xuất kinh doanh thì công việc không ổn định (không có hợp đồng hoặc hợp đồng ngắn hạn) đồng thời chịu nhiều áp lực hơn trong đời sống sinh kế của họ, đặc biệt chịu tác động nặng nề từ các mặt trái của đô thị (giá sinh hoạt cao, ô nhiễm môi trường,…)

(iv) Các khía cạnh của cuộc sống nơi chuyển đến và khó khăn: đối với nhóm người nhập cư có thu nhập thấp, sống và làm việc trong điều kiện khó khăn, không sạch sẽ, không an toàn; khó tiếp cận các chính sách an sinh xã hội như người bản địa (người có

sổ hộ khẩu tại Cần Thơ) như hỗ trợ vốn từ các Hội đoàn, không được tham dự các buổi họp dân ở các tổ dân phố, không được “kêu gọi” tham gia các lớp đào tạo nghề,… Mặc khác, lao động nhập cư phải chi trả tiền thuê nhà, tiền điện và nước ở mức cao hơn, khiến họ phải sống sâu trong các con hẻm và di chuyển ra khu vực ven đô, nhà ở

ọp ẹp hơn, thiếu tiện nghi và các điều kiện về vệ sinh (cống rãnh, mương bị ô nhiễm nặng hoặc nơi bị xả thải từ các ống cống), dẫn đến dễ bị tổn thương trong điều kiện

có các tác động về kinh tế, xã hội và thiên tai ngập lụt, triều cường, nắng nóng, mưa bão, Bên cạnh đó, người nhập cư có thu nhập thấp còn chịu gánh nặng đối với quê hương của họ, trách nhiệm với gia đình hoặc những rào cản về tâm lý, sự so sánh về lợi ích được đặt ra giữa quê hương của họ và nơi họ chuyển đến (Tổng hợp kết quả PRA và KIP năm 2012)

2.3.5 Dịch vụ xã hội và chính sách an sinh xã hội

Hệ thống an sinh xã hội (ASXH) có tầm quan trọng đặc biệt trong xây dựng chính sách, pháp luật về an sinh xã hội ở Việt Nam Mức độ bao phủ của hệ thống ASXH được hiểu là mức độ tham gia vào hệ thống ASXH và mức độ hưởng lợi của người dân

từ hệ thống này Xu hướng chung trên thế giới cũng như ở Việt Nam là ASXH đều

Trang 34

34

hướng tới bảo đảm an toàn cho mọi thành viên trong xã hội, phòng ngừa, giảm thiểu

và khắc phục rủi ro Tỷ lệ dân số tham gia vào hệ thống ASXH cao đồng nghĩa với khả năng phòng ngừa rủi ro của người dân cao, vì đa số người dân chủ động tiết kiệm được

số tiền cần thiết để phòng ngừa rủi ro và nhờ đó mức độ an toàn của họ cao hơn Chính

từ lẽ đó mà nhiều quốc gia đều quan tâm đến việc ngày càng phát triển ASXH

Theo Trần Hữu Dũng (2010), tổ chức Ủy ban Kinh tế - Xã hội Liên Hiệp Quốc về Châu Á và Thái Bình Dương đã đưa ra một mô hình khái quát về hệ thống ASXH trên

cơ sở nghiên cứu tình huống của một số nước trong khu vực (Thái Lan, Hàn Quốc, Indonesia,…) như sau:

Bảng 2.14: Mô hình hệ thống an sinh xã hội

Cấp 1:

bảo hiểm

xã hội

1 Bảo hiểm y tế - Đau ốm, bệnh tật Mọi công dân

2 Hưu trí - Người lao động

nghỉ hưu

Mọi công dân

3 Bảo hiểm tai nạn lao động - Tai nạn lao động

hoặc bệnh nghề nghiệp

Người lao động

4 Bảo hiểm thất nghiệp - Thất nghiệp Người lao

động Cấp 2:

6 Dạy nghề

7 Cho vay vốn Trợ giúp xã

hội

8 Hệ thống cứu trợ đột xuất - Nghèo đói Người nghèo,

người bị mất việc (thất nghiệp)

9 Hệ thống cứu trợ tạm thời

Tình hình thực hiện chính sách ASXH tại thành phố Cần Thơ: thực hiện Nghị quyết số

18 ngày 20/4/2009 của Chính phủ, các Quyết định số 65/2009/QĐ-TTg, TTg và số 67/2009/QĐ-TTg của Thủ tưởng Chính phủ, Quyết định số 167/2008/QĐ- TTg ngày 12/12/2008 của Thủ tường Chính phủ Thành phố đã tuyên truyền, phổ biến rộng rãi nhằm kêu gọi các thành phần kinh tế tham gia đầu tư các loại hình nhà ở công nhân, học sinh – sinh viên, người có thu nhập thấp tại đô thị Theo Phạm Văn Hiền (2010), thực hiện ASXH của thành phố Cần Thơ thể hiện trên các lĩnh vực sau:

Trang 35

66/2009/QĐ-35

(i) Đề án hỗ trợ nghèo về nhà ở: phục vụ cho người nghèo có đời sống khó khăn chưa

có nhà ở hoặc nhà ở tạm bợ kể cả ở khu vực đô thị và nông thôn (năm 2010 hỗ trợ xây dựng hơn 950 căn nhà với tổng kinh phí trên 15 tỷ đồng);

(ii) Xây dựng nhà ở cho học sinh - sinh viên, đáp ứng được trên 6.000 lượt ở tại các ký túc xá cho sinh viên của các trường trên địa bàn thành phố Hiện thành phố đang có 8

dự án đầu tư với quỹ đất quy hoạch xây dựng là 29,28 ha, bao gồm các trường: Cao đẳng Nghề, Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Cần Thơ, TT Đại học tại chức Cần Thơ, Cao đẳng Cần Thơ, Cao đẳng Y tế Cần Thơ, Trung cấp VHNT Cần Thơ, Đại học Cần Thơ; (iii) Nhà ở công nhân tại các KCN tập trung: thành phố đang có trên 30.000 công nhân, số có nhu cầu nhà ở hiện tại gần 20.000 người Hiện tại, thành phố đang kêu gọi đầu tư với quy mô 41,2 ha, đáp ứng nhu cầu khoảng 40.200 chổ ở, tổng diện tích sàn là 603.000 m2 để đáp ứng yêu cầu về nhà ở cho công nhân theo quy định của Chính phủ đến năm 2015 Đồng thời, thực hiện chính sách hỗ trợ đối với người lao động mất việc làm trong doanh nghiệp gặp khó khăn do suy giảm kinh tế theo QĐ số 30/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ;

(iv) Thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo: tiếp tục thực hiện các chính sách, dự án

về cấp thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo trẻ em và hỗ trợ 50% chi phí bảo hiểm y tế cho hộ cận nghèo; tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo vay vốn làm ăn (năm 2009 là 35.661 lượt, với số tiền 335,1 tỷ đồng) với nhiều hình thức, trong đó hình thức tốt nhất là đưa vốn vay ủy thác cho các hội, đoàn để tổ chức cho người nghèo vay vốn trên địa bàn, kết hợp với đào tạo nghề, hướng dẫn các mô hình làm ăn có hiệu quả, hình thành các

tổ sản xuất cho đối tượng tham gia trước khi nhận vốn vay; tổ chức dạy nghề cho người nghèo, có thể tham gia làm việc tại các hợp tác xã hoặc gia công tại nhà với mức thu nhập bình quân 20.000 đồng/ngày (2009);

(v) Tổ chức công tác truyền thông nâng cao năng lực giảm nghèo: bằng các phương tiện thông tin truyền thông phổ biến chính sách hỗ trợ cho người nghèo, các mô hình làm ăn giảm nghèo hoặc hướng dẫn, giới thiệu các dịch vụ xã hội mà người nghèo được hưởng; thực hiện chính sách trợ cấp thường xuyên (cho các đối tượng trẻ em mồ côi, người già neo đơn, người từ 85 tuổi trở lên, người tàn tật, người tâm thần nghèo)

và trợ cấp đột xuất (cho các trường hợp thiên tai gây thiệt hại cho người dân nghèo, bệnh tật, tai nạn, ) theo Nghị định 67/CP cho các đối tượng bảo trợ xã hội (với tổng kinh phí 13,622 tỷ đồng trong năm 2009); tặng quà vào dịp Tết Nguyên đán từ các nguồn vận động tài trợ và ngân sách nhà nước Ngoài các chính sách thuộc chương trình giảm nghèo, các tổ chức xã hội, các hội, đoàn thể còn tổ chức vận động xã hội đóng góp để giúp người nghèo với nhiều hình thức như: vốn giúp nhau làm kinh tế gia đình, cây con giống, học bổng, dụng cụ học tập, nhà ở,… (với số tiền quy động xã hội khoảng 80 tỷ đồng, 2009);

Trang 36

36

(vi) Chương trình trợ giúp pháp lý được triển khai đồng bộ từ thành phố đến xã, phường, thị trấn qua hình thức Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý, giành riêng cho người nghèo, tư vấn và hỗ trợ họ về các vấn đề liên quan đến pháp lý Trong thời gian qua, người nghèo ở các địa phương từ nông thôn đến thành thị đã được các câu lạc bộ này

hỗ trợ đa phần về thủ tục tranh chấp, luật hôn nhân và gia đình, luật lao động Ở một

số nơi, câu lạc bộ trợ giúp pháp lý mở rộng thêm nội dung phổ biến các mô hình làm

ăn cho bà con nghèo

2.3.6 Lao động việc làm của lao động nữ ở đô thị liên quan đến tính tổn thương

Theo Sở Lao động thương binh và xã hội TPCT (2012), lao động nữ của thành phố Cần Thơ trong năm 2011 chiếm khoảng 569.319 người (khoảng 41%) Lao động nữ trong độ tuổi ở các đô thị Ninh Kiều, Cái Răng, Bình Thủy Ô Môn và Thốt Nốt chiếm 41% tổng số lực lượng lao động (khoảng 130.307 người) Nhìn chung, lực lượng lao động nữ có mặt ở hầu hết các lĩnh vực ngành nghề lao động nhưng lại có xu hướng tìm việc làm khó hơn so với lao động nam Vì xu hướng xã hội ngày càng phát triển đòi hỏi người lao động có trình độ học vấn, tuy nhiên đối với hộ gia đình nghèo hoặc cận nghèo, họ không quan tâm đến trình độ học vấn vì người phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong gia đình, mang gánh năng kép vì vừa chăm sóc gia đình, vừa là người kiếm tiền Nên có thể nói người phụ nữ được xem là điểm tựa của các thành viên trong gia đình Số lao động thất nghiệp ở khu vực đô thị khoảng 3.503 người, chiếm gần 29% tỉ

lệ lao động thất nghiệp của thành phố, trong đó lao dộng nữ thất nghiệp chiếm 13% Nguyên nhân do trình độ học vấn thấp không tìm được việc làm Có nhiều phụ nữ hơn nam giới làm việc tại gia đình, trong các doanh nghiệp vi mô và nhỏ (Ngân hàng Thế giới, 2011) Tuy nhiên, công việc mà phụ nữ đảm nhận thường phải chịu ảnh hưởng nặng nề nhất và phụ nữ cũng là đối tượng ít có khả năng phục hồi nhất từ các thảm họa Thảm họa khiến cho cả nam giới và nữ giới bị mất việc làm Tuy nhiên, điều kiện làm việc của phụ nữ dễ bị ảnh hưởng hơn so với điều kiện làm việc của nam giới và một bộ phận phụ nữ nghèo ở đô thị phải làm việc vất vả trong các lĩnh vực không an toàn và không chính thức với mức tiền công thấp hơn (Oxfam, 2012)

Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), phụ nữ là nạn nhân gánh chịu hậu quả nặng nề nhất của suy thoái kinh tế Chính phủ Việt Nam đã có nhiều chính sách khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ , tuy nhiên do phải bươn chải trong cuộc sống nên phần lớn phụ nữ nghèo có xu hương ít quan tâm đến tình trạng sức khỏe của bản thân Đặc biệt, chỉ một bộ phận lao động nữ nhập cư ngắn hạn và dài hạn tại Cần Thơ

từ các quận huyện khác trong thành phố và các tỉnh lân cận như An Giang, Hậu Giang, Vĩnh Long, có trình độ, số còn lại chủ yếu là trình độ học vấn thấp, không có chuyên môn nên chỉ có thể tham gia vào các nghề giản đơn, lao động phổ thông nên khi đối mặt với các điều kiện sống khắc nghiệt họ càng dễ bị tổn thương hơn Đối với nhóm lao động nữ ở vùng ven đô của các quận, nghề nghiệp và thu nhập chủ yếu của họ từ nghề làm thuê trong nông nghiệp, công việc theo mùa vụ vất vả, gặp nhiều nguy cơ

Trang 37

37

mắc bệnh nguy hiểm của phụ nữ do sử dụng nguồn nước sông bị ô nhiễm và luôn phải đối mặt với nguy cơ lây nhiễm các bệnh truyền nhiễm từ nguồn nước

2.4 Hiện trạng và chính sách liên quan đến giảm nghèo ở Cần Thơ

2.4.1 Các đặc điểm tiêu biểu của người nghèo đô thị thành phố Cần Thơ

Tương tự như các địa phương khác ở Việt Nam, tình trạng nghèo ở thành phố Cần Thơ

có các đặc điểm đa chiều, thể hiện ở các khía cạnh như: nhà ở, sử dụng nước, cấp điện, phương tiện vận chuyển, quần áo, nhà cung tiêu dùng, và các yếu tố về trình độ học vấn, chất lượng thực phẩm, chất lượng chăm sóc sức khỏe và vệ sinh môi trường, Như đã phân tích ở trên, do có sự chênh lệch liên quan đến đầu tư, phát triển, đô thị hóa, nên số lượng người nghèo cũng khá khác biệt ở mỗi địa phương (Bảng

Bảng 2.15 Tổng hợp hộ nghèo phân theo địa bàn

Địa bàn

Tổng

số hộ nghèo

Tổng số khẩu nghèo

Phân theo địa bàn đô thị, nông thôn (hộ) Thành thị Nông thôn

Nguồn: Sở Lao động TB&XH, 2012 Kết quả phỏng vấn KIP các Sở ngành, các phường và số liệu điều tra 850 hộ trên địa bàn các quận của thành phố Cần Thơ, ghi nhận những lý do chính của tình trạng nghèo

ở khu vực đô thị của thành phố Cần Thơ gồm: (i) bị ảnh hưởng bởi các mặt trái của các xu hướng phát triển (người nghèo không tiếp cận kịp thời những thay đổi do đô thị hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và công nghiệp hóa, ); (ii) hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội không đồng bộ ở một số vùng, khu vực nên mức độ tiếp cận của người dân cũng khác nhau, đặc biệt là các hạ tầng giao thông, điện nước, trường học, trạm xá và các dịch vụ xã hội cơ bản như chăm sóc sức khỏe y tế, giáo dục đào tạo, vui chơi giải trí; (iii) thiếu các phương tiện sản xuất và nguồn vốn sinh kế chẳng hạn như: trình độ học vấn thấp, không có tư liệu sản xuất, không có vốn, không

có lao động tạo ra thu nhập dẫn đến thu nhập thấp và không ổn định; (iv) do bị ảnh hưởng bởi các yếu tố thời tiết cực đoan như tăng nhiệt độ, bão, lốc xoáy, trong điều kiện sống thiếu thốn về nhà cửa, tiện nghi sinh hoạt, ; (v) do người nghèo sống trong

Trang 38

38

các địa bàn cư trú có cơ sở hạ tầng thiếu thốn, thiếu các điều kiện về công ăn việc làm nên không có công ăn việc làm và nguồn thu nhập ổn định Một số đặc điểm tiêu biểu của tình trạng nghèo tại thành phố Cần Thơ:

+ Trình độ học vấn thấp: Trình độ học vấn thấp và thiếu các kỹ năng cần thiết thường dẫn đến thất bại trong trồng trọt, chăn nuôi gia đình và nuôi trồng thủy sản và đẩy nông dân đến gần tình trạng nghèo đói Người lao động phải đối mặt với nhiều khó khăn hơn trong việc tiếp thu kỹ năng mới và công nghệ để tăng sản xuất nếu không có một trình độ học vấn nhất định Các bậc phụ huynh có trình độ học vấn thấp thường không nhận thức được tầm quan trọng và lợi ích từ giáo dục, do đó không tạo điều kiện thuận lợi cho con cái của họ đi học

Bảng 2.16: Tổng hợp hiện trạng học vấn của các hộ nghèo trên địa bàn TPCT

Địa bàn

Tổng số khẩu nghèo

Cấp học của mỗi thành viên

Tiểu học

Trung học cơ

sở

Trung học phổ thông

Trung cấp

Đại học/

Cao đẳng

Mẫu giáo mầm non

Bỏ học /mù chữ

Trang 39

kiên

cố

Nhà bán kiên

cố

Nhà đại đoàn kết

Nhà tạm

bợ

Không nhà/ ở nhờ

Toàn thành phố 19.530 408 4.781 3.996 9.703 631

Nguồn: Sở Lao động TB&XH, 2012

Số lượng nông dân thuần túy không sở hữu hoặc sở hữu ít đất sản xuất là 13.758 hộ, chiếm 67,58% tổng số hộ nghèo trong toàn thành phố (chủ yếu là trong huyện Cờ Đỏ với 4.787 hộ, huyện Vĩnh Thạnh với 2.832 hộ và Ô Môn với 1.855 hộ), theo báo cáo của dự án "Chiến lược phát triển thành phố (CDS) cho các thành phố loại vừa ở Việt

Nam: Cần Thơ và Hạ Long"

Về mối quan hệ giữa tình trạng nghèo và nhà ở, các dữ liệu cập nhật được cung cấp bởi Sở LĐTB & XH vào đầu năm 2012 cho thấy rằng trong số 22.975 hộ gia đình nghèo, có 11.160 hộ sống trong các nơi trú ẩn tạm bợ, nhà tranh (48,57 %, còn gọi là

nhà tạm bợ), 4.997 hộ gia đình sống trong nhà Đại đoàn kết được trang bị đơn giản,

527 hộ gia đình sinh sống trong các ngôi nhà bán kiên cố (24,05%), và đáng lưu tâm là vẫn còn có 708 hộ gia đình (3,08%) không có nhà riêng, phải chia sẻ một mái nhà với thân nhân (ở đậu, ở nhờ)

+ Nhiều người nghèo là người dân tộc thiểu số: Thành phố Cần Thơ có 1,617 hộ gia đình nghèo là người dân tộc thiểu số, phần lớn trong số đó là người Khmer, theo dữ liệu cập nhật mới nhất của Sở LĐTB & XH vào đầu năm 2012

Những cộng đồng này đang sống và canh tác trên vùng đất khó canh tác hoặc không được tiếp cận các cơ sở hạ tầng

Trình độ giáo dục/nghề nghiệp của người Khmer thấp hơn nhiều so với người Kinh và người Hoa, ảnh hưởng đến khả năng tích lũy cho sản xuất và cải thiện đời sống

Trang 40

40

Bảng 2.18 Tình trạng nghèo phân theo dân tộc trên địa bàn TPCT năm 2011

Địa bàn Tổng số hộ

nghèo

Phân theo dân tộc

Nguồn: Sở Lao động TB&XH, 2012 + Khác biệt về mức sống giữa khu vực thành thị và nông thôn: Trong những năm gần đây, việc phát triển cơ sở hạ tầng tại thành phố Cần Thơ đã được quan tâm nhiều hơn Đến năm 2005, đã có 1.321 ngôi nhà trong các cụm dân cư dễ bị lũ được xây dựng;

761 phòng học kiên cố và bán kiên cố cùng 88 chợ xã được xây dựng, 100% xã, phường có trạm y tế khá đầy đủ phục vụ việc khám và chữa bệnh cơ bản, số lượng hộ gia đình có kết nối điện đã tăng 98%, trong đó tỷ lệ ở khu vực nông thôn là 94,2%, số

hộ gia đình sử dụng nước sạch đạt 88%, trong đó tỷ lệ ở khu vực nông thôn là 75% Nói chung, nhờ chính sách ưu tiên cho phát triển cơ sở hạ tầng, kinh tế xã hội, cho các vùng sâu, vùng xa, vùng có đồng bào dân tộc, thành phố Cần Thơ cho đến nay đã tạo điều kiện thuận lợi cho cư dân nông thôn tiếp cận các dịch vụ xã hội và dịch vụ khoa học kỹ thuật theo hướng giảm sự khác biệt trong mức sống giữa các khu vực đô thị và nông thôn Tuy nhiên, vẫn còn một số nơi ở khu vực nông thôn có mức sống còn rất thấp so với khu vực thành thị, đặc biệt là ở vùng sâu vùng xa của huyện Cờ Đỏ, huyện Phong Điền với cơ sở hạ tầng nghèo nàn, mạng lưới giao thông kém phát triển, không

có đường đi đến trung tâm xã…trên thực tế, điều cho thấy sự khác biệt khá lớn so với mức sống tại quận Ninh Kiều và quận Bình Thủy

+ Khoảng cách giữa người giàu và người nghèo: Tốc độ phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng nhanh Kết quả khảo sát mức sống của người dân năm 2004 do Cục Thống

kê thành phố Cần Thơ thực hiện cho thấy tại thời điểm khảo sát cho thấy không có sự chênh lệch quá lớn về mức thu nhập của khu vực thành thị và nông thôn (đối với cả nhóm thu nhập cao và thu nhập thấp), tuy nhiên trong từng địa bàn lại có sự chênh lệch khá lớn giữa nhóm nhóm thu nhập cao và thu nhập thấp, cụ thể mức chênh lệch này hơn 5 lần (Bảng 2.19) Mặc dù không có số liệu cụ thể nhưng với tình hình có nhiều biến động của kinh tế và xã hội, lạm phát, thu nhập, đang có xu hướng tăng, có thể nhận định sự gia tăng khoảng cách giữa người giàu và người nghèo ngày càng rõ nét

Ngày đăng: 11/11/2014, 14:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1 Khung phân tích lý thuyết (Stephen Tyler and Marcus Moench, 2012)  1.2 Mục tiêu nghiên cứu - PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG, TƯƠNG TÁC GIỮA  NGHÈO VÀ TÍNH DỄ TỔN THƢƠNG LIÊN QUAN  ĐẾN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở KHU VỰC ĐÔ THỊ THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Hình 1.1 Khung phân tích lý thuyết (Stephen Tyler and Marcus Moench, 2012) 1.2 Mục tiêu nghiên cứu (Trang 5)
Hình 2.1 Bản đồ hành chánh thành phố Cần Thơ - PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG, TƯƠNG TÁC GIỮA  NGHÈO VÀ TÍNH DỄ TỔN THƢƠNG LIÊN QUAN  ĐẾN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở KHU VỰC ĐÔ THỊ THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Hình 2.1 Bản đồ hành chánh thành phố Cần Thơ (Trang 10)
Hình 2.2  G ia tăng nhiệt độ không khí trung bình tại Cần Thơ  ( CCCO, 2010) - PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG, TƯƠNG TÁC GIỮA  NGHÈO VÀ TÍNH DỄ TỔN THƢƠNG LIÊN QUAN  ĐẾN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở KHU VỰC ĐÔ THỊ THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Hình 2.2 G ia tăng nhiệt độ không khí trung bình tại Cần Thơ ( CCCO, 2010) (Trang 17)
Hình 3.1: Đối tượng dễ bị tổn thương - PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG, TƯƠNG TÁC GIỮA  NGHÈO VÀ TÍNH DỄ TỔN THƢƠNG LIÊN QUAN  ĐẾN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở KHU VỰC ĐÔ THỊ THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Hình 3.1 Đối tượng dễ bị tổn thương (Trang 49)
Hình 3.2: Lý do lao động nhập cƣ đến sinh sống tại Cần Thơ - PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG, TƯƠNG TÁC GIỮA  NGHÈO VÀ TÍNH DỄ TỔN THƢƠNG LIÊN QUAN  ĐẾN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở KHU VỰC ĐÔ THỊ THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Hình 3.2 Lý do lao động nhập cƣ đến sinh sống tại Cần Thơ (Trang 50)
Bảng 3.3: Đặc điểm chung của các thành viên trong gia đình - PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG, TƯƠNG TÁC GIỮA  NGHÈO VÀ TÍNH DỄ TỔN THƢƠNG LIÊN QUAN  ĐẾN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở KHU VỰC ĐÔ THỊ THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bảng 3.3 Đặc điểm chung của các thành viên trong gia đình (Trang 52)
Bảng 3.6: Khoảng cách đến các dịch vụ công cộng trong phạm vi dưới 5km - PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG, TƯƠNG TÁC GIỮA  NGHÈO VÀ TÍNH DỄ TỔN THƢƠNG LIÊN QUAN  ĐẾN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở KHU VỰC ĐÔ THỊ THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bảng 3.6 Khoảng cách đến các dịch vụ công cộng trong phạm vi dưới 5km (Trang 59)
Bảng 3.7: Số người trong gia đình có bảo hiểm y tế (BHYT) - PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG, TƯƠNG TÁC GIỮA  NGHÈO VÀ TÍNH DỄ TỔN THƢƠNG LIÊN QUAN  ĐẾN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở KHU VỰC ĐÔ THỊ THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bảng 3.7 Số người trong gia đình có bảo hiểm y tế (BHYT) (Trang 60)
Hình 3.6: Nguyên nhân nghèo và khó khăn của các hộ khảo sát - PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG, TƯƠNG TÁC GIỮA  NGHÈO VÀ TÍNH DỄ TỔN THƢƠNG LIÊN QUAN  ĐẾN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở KHU VỰC ĐÔ THỊ THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Hình 3.6 Nguyên nhân nghèo và khó khăn của các hộ khảo sát (Trang 64)
Hình 3.7: Các loại thiên tai mà hộ gia đình đã trải qua và mức độ thiệt hại - PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG, TƯƠNG TÁC GIỮA  NGHÈO VÀ TÍNH DỄ TỔN THƢƠNG LIÊN QUAN  ĐẾN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở KHU VỰC ĐÔ THỊ THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Hình 3.7 Các loại thiên tai mà hộ gia đình đã trải qua và mức độ thiệt hại (Trang 66)
Hình 3.8: Xu hướng thay đổi của thời tiết - PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG, TƯƠNG TÁC GIỮA  NGHÈO VÀ TÍNH DỄ TỔN THƢƠNG LIÊN QUAN  ĐẾN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở KHU VỰC ĐÔ THỊ THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Hình 3.8 Xu hướng thay đổi của thời tiết (Trang 67)
Hình 3.10: Tác động của thời tiết bất lợi đến hộ gia đình - PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG, TƯƠNG TÁC GIỮA  NGHÈO VÀ TÍNH DỄ TỔN THƢƠNG LIÊN QUAN  ĐẾN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở KHU VỰC ĐÔ THỊ THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Hình 3.10 Tác động của thời tiết bất lợi đến hộ gia đình (Trang 68)
Hình 3.11: Tác động của thời tiết bất lợi (phân theo đối tƣợng) - PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG, TƯƠNG TÁC GIỮA  NGHÈO VÀ TÍNH DỄ TỔN THƢƠNG LIÊN QUAN  ĐẾN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở KHU VỰC ĐÔ THỊ THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Hình 3.11 Tác động của thời tiết bất lợi (phân theo đối tƣợng) (Trang 69)
Hình 3.12: Mong muốn về sinh kế và nguyện vọng của các hộ gia đình - PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG, TƯƠNG TÁC GIỮA  NGHÈO VÀ TÍNH DỄ TỔN THƢƠNG LIÊN QUAN  ĐẾN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở KHU VỰC ĐÔ THỊ THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Hình 3.12 Mong muốn về sinh kế và nguyện vọng của các hộ gia đình (Trang 70)
Hình 3.13: Mong muốn về sinh kế và nguyện vọng (phân theo đối tƣợng) - PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG, TƯƠNG TÁC GIỮA  NGHÈO VÀ TÍNH DỄ TỔN THƢƠNG LIÊN QUAN  ĐẾN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở KHU VỰC ĐÔ THỊ THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Hình 3.13 Mong muốn về sinh kế và nguyện vọng (phân theo đối tƣợng) (Trang 71)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w