1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tìm hiểu hoạt động nghiệp vụ thị truờng mở - thực trạng và giải pháp phát triển ở việt nam

25 314 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 188 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với các hoạt động này, lượng chứng khoán Chính phủnằm trong tay các NHTW tăng lên Đến năm 1920, Nghiệp vụ thị trường mở ở những nước này cũng vẫn chỉ được... Khái niệm nghiệp vụ thị

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong quá trình phát triển kinh tế nước ta hiện nay, các chính sách tiền tệ củaNHTW đóng vai trò rất quan trọng Trong đó nghiệp vụ thị trường mở là quan trọngnhất, bởi vì những nghiệp vụ này là yếu tố quyết định nhất với những thay đổi trong

cơ sở tiền tệ và là nguồn chính gây nên những biến động trong cung ứng tiền tệ Tuynhiên hiện nay còn tồn tại các vấn đề về số lượng, chủng loại hàng hoá, sức hấp dẫncủa nghiệp vụ thị trường mở…do nghiệp vụ này chưa thu hút được sự quan tâm củamọi nguời Do đó tìm hiểu về nghiệp vụ thị trường mở là một việc rất cần thiết, mangđến một hiểu biết đầy đủ tạo cơ sở để có thể đánh giá và đưa ra những giải pháp chohoạt động thực tế của chúng ta Ðồng thời trên cơ sở lý thuyết và kinh nghiệm của cácnuớc có thị trường tài chính phát triển sẽ có nhiều bài học được rút ra giúp chúng ta cócái nhìn thực tế về vấn đề này và có hướng đi riêng của mình Chính vì những lý do

trên, em đã chọn đề tài : “ Tìm hiểu hoạt động Nghiệp vụ thị truờng mở - Thực trạng và giải pháp phát triển ở Việt Nam”

Ðề tài gồm có 3 phần:

- Phần I : Lý luận về nghiệp vụ thị trường mở

- Phần II:Khái quát thực trạng tại Việt Nam

- Phần III: Nhận xét, đánh giá về thực trạng; đề xuất kiến nghị của bản thân.

Ðề tài nghiên cứu trên đây là một lĩnh vực rộng lớn và phức tạp nhưng thời giannghiên cứu và kinh nghiệm thực tiễn còn nhiều hạn chế nên chuyên đề này không thểtránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy côgiáo để đề tài được hoàn thiện hơn!

Trang 2

NỘI DUNG

I CƠ SỞ LÍ LUẬN

1 Sự ra đời và khái niệm nghiệp vụ thị trường mở

1.1 Sự ra đời của công cụ nghiệp vụ thị trường mở

Nghiệp vụ thị trường mở được áp dụng đầu tiên bởi Ngân hàng Anh từ nhữngnăm 30 của thế kỉ 19 Vào thời gian này, lãi suất tái chiết khấu của Ngân hàng Anhđược sử dụng như một công cụ chủ yếu để kiểm soát lượng tiền cung ứng Tuy nhiên,công cụ này tỏ ra kém hiệu lực khi lãi suất thị trường tiền tệ giảm liên tục vượt khỏi

sự chi phối của lãi suất tái chiết khấu Điều này thúc đẩy Ngân hàng Anh tìm kiếmcông cụ có hiệu quả hơn để điều chỉnh lãi suất thị trường theo mong muốn Cách thứcđầu tiên được áp dụng để nhằm làm tăng lãi suất thị trường là:

- Bán chứng khoán Chính phủ đồng thời hứa mua lại nó vào một ngày xác địnhtrong tương lai

- Vay trên thị trường – thực chất là một khoản vay từ người chiết khấu hoặc từngười môi giới với đảm bảo bằng chứng khoán Chính phủ

- Bán hẳn các chứng khoán Chính phủ

- Vay từ các Ngân hàng thương mại

- Vay từ người gửi tiền đặc biệt

Bằng cách này, lượng tiền trung ương giảm đi tương ứng với khối lượng vayhoặc bán chứng khoán, lãi suất thị trường vì thế tăng lên

Cùng thời gian này, Ngân hàng Trung ương ( NHTW) Thụy Sĩ cũng sử dụngnghiệp vụ bán các chứng khoán Chính phủ nhằm thu hút lượng vốn khả dụng dư thừa.Vào năm 1913, lúc đầu Ngân hàng dự trữ liên bang Mỹ cũng sử dụng Nghiệp vụ thịtrường mở như một công cụ bổ sung cho chính sách tái chiết khấu Tuy nhiên, trong

và sau Chiến tranh thế giới thứ Nhất nghiệp vụ thị trường mở ở những nước này được

sử dụng như công cụ để tài trợ cho các chi phí chiến tranh và các hoạt động điều chỉnhkinh tế sau chiến tranh Cùng với các hoạt động này, lượng chứng khoán Chính phủnằm trong tay các NHTW tăng lên

Đến năm 1920, Nghiệp vụ thị trường mở ở những nước này cũng vẫn chỉ được

Trang 3

sử dụng như công cụ bổ trợ cho chính sách lãi suất tái chiết khấu trở nên hiệu quả.Nhưng sau đó, hiệu quả và tầm quan trọng của Nghiệp vụ thị trường mở ngày càngtăng lên, nó được sử dụng như công cụ chính sách tiền tệ ở ba nước ban đầu này vàsau đó trở thành xu hướng ở hầu hết NHTW các nước khác

Điều này xuất phát từ: hạn chế chính sách tái chiết khẩu; sự mở rộng và hoànthiện của hệ thống thị trường tài chính; sự tăng lên của lượngc chứng khoán Chínhphủ và các chứng khoán có tính thanh khoản cao

Cho đến nay công cụ Nghiệp vụ thị trường mở được sử dụng như một công cụchính sách tiền tệ hiệu quả nhất ở hầu hết các NHTW của các nước

1.2 Khái niệm Nghiệp vụ thị trường mở

a Khái niệm nghiệp vụ thị trường mở

Theo nghĩa gốc thì cụm từ “Nghiệp vụ thị truờng mở” chỉ các hoạt động giao

dịch chứng khoán của các NHTW trên thị trường mở Thông qua hành vi mua, bánchứng khoán này, NHTW có thể tác động trực tiếp đến dự trữ của hệ thống Ngân hàng

và gián tiếp đến lãi suất thị trường, từ đó mà có thể ảnh hưởng đến lượng tiền cungứng thông qua tác động cả về mặt lượng và về mặt giá Về lý thuyết, các chứng khoán

là đối tượng giao dịch của NHTW, có thể là chứng khoán Chính phủ, các chứngkhoán đuợc phát hành bởi các doanh nghiệp hoặc Ngân hàng gồm cả chứng khoánngắn hạn và dài hạn Các chủ thể trong giao dịch Nghiệp vụ thị truờng mở có thể làNgân hàng, các doanh nghiệp hoặc các tổ chức phi tài chính khác

Về mặt thực tế, Nghiệp vụ thị trường mở là hành vi giao dịch của NHTW trên thị

trường mở Xét về hình thức thì thị trường mở là thị trường giao dịch các chứngkhoán nợ ngắn và dài hạn Tuy nhiên, khác với các khái niệm có phạm vi và công cụgiao dịch rõ ràng như thị trường chứng khoán hay thị truờng tiền tệ, thị trường mở ởcác nước khác nhau về phạm vi, về loại hình công cụ và thời hạn của các công cụ giaodịch trên thị trường Chẳng hạn, thị trường mở của Nhật Bản chỉ bao gồm các chứngkhoán nợ ngắn hạn và những nguời tham gia chỉ gồm các tổ chức tín dụng Như vậy,

ở Nhật thị trường mở là một bộ phận của thị trường tiền tệ Ngược lại ở Mỹ hoặc Ðứccho phép giao dịch cả các chứng khoán dài hạn trên thị trường mở

Xét theo thời hạn của chứng khoán nợ thì thị trường mở ở những nước này bao

Trang 4

gồm cả một phần của thị trường chứng khoán Theo cách này, khái niệm “ Nghiệp vụthị truờng mở” có ý nghĩa kinh tế khi nó gắn với cụm từ “Nghiệp vụ thị truờng mở”.

Có nghĩa là, các giới hạn khác nhau về đối tượng và các chủ thể giao dịch của NHTWtrong nghiệp vụ thị trường mở sẽ quyết định khái niệm cụ thể về thị trường mở ở từngnuớc

b Cơ chế tác động của nghiệp vụ thị trường mở

Tác động vào dự trữ của hệ thống ngân hàng

Hành vi mua, bán các chứng khoán trên thị trường mở của NHTW có ảnh hưởngngay lập tức đến tình trạng dự trữ của các Ngân hàng thương mại (NHTM) thông quaảnh hưởng đến tiền gửi của các Ngân hàng thương mại tại NHTW, và tiền gửi kháchhàng tại NHTM từ đó sẽ ảnh hưởng tới khả năng cho vay của NHTM khi đó nó sẽ tácđộng đến hệ số nhân tiền và sẽ tác động đến mức cung tiền Bằng việc bán các chứngkhoán, NHTW có thể giảm bớt đi một khối lượng tiền dự trữ tương ứng (với điều kiệncác nhân tố khác không đổi) dù nguời mua là NHTM hay khách hàng của nó, số tiềnthanh toán cho lượng chứng khoán này được ghi nợ vào tài khoản của Ngân hàng tạiNHTW Trong trường hợp nguời mua là khách hàng của NHTM thì số tiền muachứng khoán sẽ giảm số dư tiền gửi của khách hàng đó tại NHTM Sự giảm xuống của

dự trữ sẽ làm giảm khả năng cho vay của hệ thống Ngân hàng và vì thế giảm khốilượng tiền cung ứng Hành vi mua chứng khoán của NHTW sẽ có tác động ngược lại

Cơ chế tác động của Nghiệp vụ thị trường mở tới dự trữ ngân hàng

NHTW bán tín phiếu kho bạc  dự trữ ngân hàng ↓  khả năng cho vaycủa NHTM ↓  m ↓  Ms ↓

Tác động về giá

Hoạt động mua bán trên thị trường mở của NHTW có ảnh hưởng gián tiếp đếnmức lãi suất thị trường thông qua hai con đường:

Thứ nhất, khi dự trữ của các Ngân hàng bị ảnh hưởng nó tác động đến cung cầu

vốn NHTW trên thị trường tiền tệ liên Ngân hàng Cung – cầu tiền TW thay đổi sẽdẫn đến lãi suất thị trường tiền NHTW thay đổi Mức lãi suất ngắn hạn này thông qua

dự đoán của thị trường và các hoạt động arbitrage về lãi suất sẽ truyền tác động của

nó đến các mức lãi suất trung và dài hạn trên thị trường tài chính Tổng cầu của nền

Trang 5

kinh tế và tốc độ tăng truởng kinh tế sẽ được quyết định tại một mức lãi suất được thịtrường xác định

Thứ hai, việc mua chứng khoán sẽ làm ảnh hưởng ngay đến quan hệ cung -cầu

về các chứng khoán đó trên thị trường mở và do đó tác động đến giá cả của nó Khichứng khoán thay đổi, tỷ lệ sinh lời của nó cũng thay đổi Nếu đó là những chứngkhoán có giá chiếm tỷ trọng lớn trong giao dịch thì sự thay đổi tỷ lệ sinh lời của nó sẽtác động trở lại đến lãi suất thị trường, tổng cầu AD và sản lượng

Cơ chế tác động qua lãi suất khi NHTW bán TPKB

Bán TPKB  giá TPKB giảm  lãi suất thị trường tăng ↑ ↓

NHTW bán TPKB đầu tư giảm ↓ ↑

Dự trữ NH giảm cung vốn NHTW giảmLS ngắn hạn tăngLS thị trường tăng

Cơ chế tác động qua giá chứng khoán

Mua chứng khoán  lượng chứng khoán trên thị trường giảm  giá chứngkhoán tăng  lãi suất chứng khoán giảm

2 Hình thức giao dịch trong nghiệp vụ thi trường mở

NHTW thường thực hiện ngiệp vụ thị trường mở theo hai cách chủ yếu: giaodịch mua bán có kì hạn và giao dịch mua bán hẳn Ngoài ra , một loạt các nghiệp vụkhác cũng được NHTW sử dụng, thí dụ như: phát hành chứng chỉ nợ của NHTW, giaodịch hoán đổi các chứng khoán đến hạn, giao dịch hoán đổi ngoại tệ…

2.1 Giao dịch có kì hạn.( Mua bán có hoàn lại)

- Giao dịch mua có kỳ hạn: Là việc NHTW mua và nhận quyền sở hữu giấy tờ

có giá từ tổ chức tín dụng, đồng thời tổ chức tín dụng cam kết sẽ mua lại và nhận lạiquyền sở hữu giấy tờ có giá đó sau một thời gian nhất định

- Giao dịch bán có kỳ hạn: Là việc NHTW bán và chuyển giao quyền sở hữu

giấy tờ có giá cho tổ chức tín dụng, đồng thời cam kết sẽ mua lại và nhận lại quyền sởhữu giấy tờ có giá đó sau một thời gian nhất định

Phương pháp này chủ yếu được sử dụng cho mục đích giao dịch tạm thời là cáchợp đồng mua lại Hợp đồng mua lại được sử dụng khi NHTW thực hiện một giao

Trang 6

dịch theo hợp đồng mua lại, có nghĩa là nó mua chứng khoán từ nguời môi giới trênthị truờng, người đồng ý sẽ mua lại vào một ngày trong tương lai.

Giao dich mua bán có kỳ hạn tồn tại duới dạng:

- Thứ nhất: Mua bán theo hợp đồng mua lại: Là việc NHTW ký hợp đồng muabán với người giao dịch và người giao dịch đồng ý mua lại các giấy tờ có giá củaNHTW vào một ngày xác định trong tương lai

- Thứ hai : Mua bán theo hợp đồng mua lại đảo ngược : là việc NHTW bán cácgiấy tờ có giá cho nguời giao dịch và nguời giao dịch lại đồng ý bán lại các giấy tờ cógiá cho NHTW vào một ngày xác định trong tương lai

Các giao dịch có hoàn lại được sử dụng chủ yếu trong Nghiệp vụ thị trường mở

2.2 Giao dịch mua bán hẳn ( Mua bán không hoàn lại)

- Giao dịch mua hẳn: Là việc NHTW mua và nhận quyền sở hữu giấy tờ có giá

từ tổ chức tín dụng, không kèm theo cam kết bán lại giấy tờ có giá

- Giao dịch bán hẳn: là việc NHTW bán và chuyển giao quyền sở hữu giấy tờ

có gía cho tổ chức tín dụng, không kèm theo cam kết mua lại giấy tờ có giá

Các giao dịch này bao gồm các nghiệp vụ mua, bán các giấy tờ có giá củaNHTW trên thị trường theo phương thức mua đứt, bán đoạn trên cơ sở giá thị trường.Hình thức giao dịch này làm chuyển hắn quyền sở hữu đối với các chứng khoán là đốitượng giao dịch Vì vậy ảnh hưởng của nó đối với dự trữ các Ngân hàng là dài hạn cácgiấy tờ đó phải là các công cụ nợ có mức rủi ro thấp và phải được phát hành bởi các tổchức đủ điều kiện theo quy định

3 Các chủ thể tham gia nghiệp vụ thị trường mở

Trang 7

Về nguyên tắc thị trường mở là thị trường không giới hạn chủ thể tham gia.Trên thị trường này, ai cũng có thể là đối tác tham gia thị trường mở của NHTW.Chính vì vậy, ở Mỹ người ta gọi công cụ này là nghiệp vụ thị trường tự do Tuy nhiên,tùy từng quốc gia mà các chủ thể tham gia nghiệp vụ thị trường mở có thể khác nhau.Thông thường các chủ thể tham gia nghiệp vụ thị trường mở bao gồm:

3.1 Ngân hàng Trung ương

NHTW tham gia thị trường mở với vị trí là người điều hành, quản lý thị trườngthông qua việc mua, bán các giấy tờ có giá trị ngắn hạn nhằm cung cấp cho hệ thốngngân hàng khả năng thanh toán cần thiết phù hợp với nhu cầu về vốn cho nền kinh tế.NHTW sử dụng Nghiệp vụ thị truờng mở trên cơ sở hoạch định chính sách tiền tệ.Qua đó NHTW quản lý khối lượng tiền cung ứng kiểm soát và điều tiết hoạt động tíndụng của các tổ chức tín dụng NHTW tham gia thị trường mở không phải để kinhdoanh mà để quản lý, chi phối thị truờng làm cho chính sách tiền tệ được thực hiệntheo đúng mục tiêu của nó

Như vậy, NHTW là người quyết định từng phiên giao dịch về: chủng loại vàkhối lượng hàng hóa mua bán; phương thức giao dịch; thời gian tiến hành mua bán;phương thức thanh toán…Tất cả các chủ thể khác tham gia đều phải chấp hành quyếtđịnh của NHTW khi muốn tham gia nghiệp vụ thị trường mở

3.2 Các đối tác của Ngân hàng Trung ương.

Thị trường mở thực chất là thị trường tiền tệ mở rộng nên các chủ thể tham giathị trường này rất đông đảo, phong phú với nhiều mục đích khác nhau

Ở các nước khác trên thế giới, đối tác của NHTW tham gia nghiệp vụ thị trường

mở có thể gồm các chủ thể sau:

- Các Ngân hàng thương mại

- Các tổ chức tài chính trung gian phi ngân hàng

- Các hãng kinh doanh ( các doanh nghiệp)

- Các cá nhân và hộ gia đình

- Các nhà giao dịch chuyên nghiệp ( Dealers)

Ở Việt Nam, tham gia nghiệp vụ thị trường mở là các tổ chức tín dụng thành lập

và hoạt động theo Luật Các tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước cấp giấy công

Trang 8

nhận là thành viên tham gia nghiệp vụ thị trường mở.

Các tổ chức tín dụng phải có đủ điều kiện sau:

- Có tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước

- Có đủ phương tiện cần thiết để tham gia nghiệp vụ thị trường mở bao gồm:máy fax, máy vi tính nối mạng internet…

- Có giấy đăng kí nghiệp vụ thị trường mở

a Các Ngân hàng thương mại

Các ngân hàng thương mại: là một trung gian tài chính đặc biệt quan trọng đứng

ra nhận tiền gửi của các tổ chức kinh tế, nhận một số luợng khổng lồ vốn gửi và dùngtiền gửi đó cho vay trên thị trường tiền tệ, vừa là người đi vay vừa là nguời cho vay.Trên cơ sở đó cấp tín dụng cho các thành phần kinh tế có nhu cầu Tính chất đặc biệtcủa NHTM là mối liên hệ mang tính hệ thống giữa các Ngân hàng và khả năng tạotiền gửi thanh toán Việc mua bán giấy tờ có giá của đối tác này sẽ có tác động lantruyền mạnh mẽ tới cả hệ thống Trong điều kiện nguồn vốn tín dụng là chủ yếu,những ảnh huởng này còn chi phối hành vi của các khách hàng của bản thân ngânhàng, từ đó mà tác động tới các hoạt động của toàn bộ nền kinh tế

b Các tổ chức phi tài chính.

Sau NHTM, NHTW thường giao dịch với các tổ chức tài chính phi tài chính.Các tổ chức tài chính phi tài chính bao gồm: Các công ty bảo hiểm, công ty tài chính,quỹ đầu tư…

Ðộng cơ chủ yếu của họ khi tham gia thị trường mở là sử dụng vốn nhàn rỗi đểmua bán chứng khoán có giá ngắn, dài hạn; duy trì khả năng thanh toán; đi vay nguồnvốn cần thiết; cho vay các khoản vốn dư thừa để kiếm lãi Sự có mặt của tổ chức tàichính phi ngân hàng là rất cần thiết bởi chúng có khả năng thu hút các nguồn vốn tiếtkiệm khổng lồ cho nền kinh tế, thúc đẩy sự tăng trưởng trong đầu tư và cùng cạnhtranh với các NHTM Cho nên, nếu NHTW muốn điều chỉnh lượng tiền trong lưuthông thì rất cần quan tâm tới bộ phận đối tác này Tuy vậy, giữa các tổ chức tài chínhphi ngân hàng không có sự gắn kết mật thiết như hệ thống NHTM, không tham giavào quá trình tạo tiền bởi nó không được nhận tiền gửi không kì hạn, không làm dịch

vụ thanh toán

Trang 9

- Các doanh nghiệp: có nhu cầu bán chứng khoán để đổi ra tiền mặt hoặc để

kiếm lời trong thời gian ngắn Khi thừa vốn kinh doanh các doanh nghiệp có thể muacác loại chứng khoán ngắn hạn như tín phiếu kho bạc, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi…

để kiếm lời

- Các hộ gia đình: Hộ gia đình tham gia thị trường mở nhưng họ phải chuyển

các giấy tờ có giá ngắn hạn mà họ đang nắm giữ thành tiền mặt có tính lỏng mạnhnhất, họ mua các chứng khoán phòng ngừa rủi ro bất ngờ, đầu tư vào giấy tờ có giánhờ vào sự thay đổi lãi suất dự đoán

- Các nhà giao dịch chuyên nghiệp Tham gia vào thị trường mở với tư cách là

nguời trung gian trong việc mua bán các chứng từ có giá trị giữa NHTW và các đốitác khác như các hãng sản xuất kinh doanh; các nhà đầu tư tư nhân; các ngân hàng và

tổ chức tài chính phi ngân hàng Qua nghiệp vụ này họ hưởng chênh lệch giữa giámua, giá bán

Như vậy, xét cho cùng, việc mở rộng đối tác là quan trọng bởi nó tạo ra mộthình ảnh sôi động trên thị trường mở nhưng điều quan trọng hơn là các đối tác đó cógiúp NHTW thực hiện được mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ hay không Tại cácnền kinh tế vay nợ, vốn của nền kinh tế chủ yếu do NHTM nắm giữ thì việc giới hạnđối tác trong phạm vi hệ thống ngân hàng cũng không làm giảm đi tính hiệu quả củacác tác động do NHTW tạo ra Ngược lại, với những nền kinh tế mang đậm nét thịtrường, đối tác càng nhiều thì hiệu quả điều tiết càng lớn Do đó, ta thấy rằng, hiệuquả của Nghiệp vụ thị trường mở mạnh hay yếu phụ thuộc vào các kênh truyền dẫntác động, khả năng kiểm tra giám sát của NHTW, chất lượng của đối tác hơn là sốlượng đối tác ít hay nhiều

4 Hàng hóa của nghiệp vụ thị trường mở

Trang 10

Chủng loại các chứng khoán được giao dịch trong nghiệp vụ thị trường mởkhông giống nhau ở từng nước Về mặt lí thuyết , nghiệp vụ thị trường mở không giớihạn cụ thể chủng loại cũng như thời hạn các chứng khoán giao dịch, tuy nhiên nhữngloại chứng khoán nợ chủ yếu bao gồm:

4.1 Tín phiếu kho bạc.

Tín phiếu kho bạc là giấy nhận nợ do chính phủ phát hành để bù đắp thiếu hụttạm thời trong năm tài chính Thời hạn của tín phiếu thông thường là duới 12 tháng.Ðây là công cụ chủ yếu của Nghiệp vụ thị trường mở của hầu hết NHTW các nước vì:

- Tín phiếu kho bạc có tính thanh khoản cao

- Ðược phát hành định kỳ với khối lượng lớn và vì thế có thể thoả mãn nhucầu can thiệp của NHTW với liều lượng khác nhau Bộ tài chính là người có vai tròquan trọng trong việc xác định khối lượng phát hành, thanh toán lãi và gốc của tínphiếu Tín phiếu kho bạc được phát hành hàng tuần để chi trả các khoản nợ ngắn hạncủa chính phủ

Vì vậy, khối lượng tín phiếu này thay đổi tuỳ theo nhu cầu vay mượn của chínhphủ và sự hạn chế tốc độ tăng trưởng của các nhà chức trách tiền tệ

4.2 Tín phiếu Ngân hàng Trung Ương

Tín phiếu Ngân hàng Trung ương là loại giấp tờ có giá ngắn hạn do NHTW pháthành để làm công cụ nghiệp vụ thị trường mở Việc sử dụng tín phiếu NHTW làmhàng hóa trên thị trường mở có một số ưu điểm như tăng cường tính độc lập củaNHTW trong việc thực thi chính sách tiền tệ và là công cụ linh hoạt cho việc quản lívốn khả dụng

Tuy nhiên việc phát hành tín phiếu NHTW để thực thi chính sách tiền tệ sẽ làmcho chi phí hoạt động của NHTW tăng lên, cho dù NHTW hoạt động không vì mụctiêu lợi nhuận Việc sử dụng tín phiếu NHTW đòi hỏi phải có sự phối hợp nhất địnhvới bộ Tài chính Khi NHTW và bộ Tài chính đồng thời phát hành tín phiếu NHTW

và tín phiếu kho bạc, nếu lãi suất chênh lệch thì các đối tác trên thị trường mở sẽ tậptrung mua lại tín phiếu có lãi suất cao hơn Khi đó sẽ có sự phân khúc giữa thị trườngtín phiếu kho bạc và tín phiếu NHTW, làm cho mục đích phát hành giấy tờ có giá nàykhông đạt được và có thể làm giảm hiệu quả tác động của 2 loại hàng hóa này

Trang 11

4.3 Trái phiếu Chính phủ

Trái phiếu chính phủ là chứng khoán nợ dài hạn được Nhà nước phát hành nhằm

bù đắp thiếu hụt ngân sách nhà nuớc Mặc dù là dài hạn nhưng trái phiếu chính phủđược sử dụng phổ biến trong Nghiệp vụ thị trường mở bởi tính an toàn, khối lượngphát hành, tính ổn định trong phát hành và khả năng tác động trực tiếp đến giá cả tráiphiếu kho bạc trên thị trường tài chính

4.4 Trái phiếu chính quyền địa phương.

Tương tự như trái phiếu chính phủ, những trái phiếu chính quyền địa phươngkhác về thời hạn và các điều kiện ưu đãi liên quan đến trái phiếu Thông thường nguời

sở hữu trái phiếu chính quyền địa phương được huởng ưu dãi về thuế thu nhập từ tráiphiếu

4.5 Chứng chỉ tiền gửi (CD)

Chứng chỉ tiền gửi là giấy nhận nợ của Ngân hàng hay các định chế tài chính phingân hàng, xác nhận món tiền đã được gửi vào ngân hàng trong một thời gian nhấtđịnh với một mức lãi suất định trước Thời hạn của chứng chỉ tiền gửi thường là ngắnhạn Sự ra đời của chứng chỉ tiền gửi đánh dấu sự thay đổi căn bản trong cơ chế quản

lý ngân hàng: Chuyển từ quản lý tài sản nợ sang quản lý tài sản có vì nó cung cấp mộthình thức huy động vốn chủ động cho ngân hàng thay vì phải phụ thuộc vào nguời gửitiền Tính ưu việt của chứng chỉ tiền gửi chính là bảo đảm sự lưu thông của nó và do

đó nó được sử dụng như là hàng hoá phổ biến cho Nghiệp vụ thị trường mở

5 Phương thức hoạt động của nghiệp vụ thị trường mở

Hoạt động của thị trường mở thường được thực hiện thông qua phương thứcgiao dịch song phương hoặc thông qua đấu thầu

5.1 Giao dịch song phương.

Là phương thức mà NHTW với người giao dịch giao dịch thẳng với nhauhoặc giao dịch thông qua nhà môi giới hoặc đại lý chứng khoán mà không mua bánthông qua hình thức đấu thầu Xuất phát từ định nghĩa này, có hai loại thủ tục songphương là:

- Các giao dịch của NHTW trực tiếp với các đối tác: Là hình thức giao dịch mà

Trang 12

NHTW trực tiếp giao dịch với một hoặc một số ít đối tác trong nuớc Các đối tác nàyđược lựa chọn theo tiêu chí chung về tư cách đối tác Các giao dịch song phương trựctiếp với các đối tác có thể được áp dụng với các giao dịch có hoàn lại, giao dịchkhông hoàn lại và giao dịch hoán đổi ngoại tệ

- Giao dịch của NHTW thông qua sở giao dịch chứng khoán và các đại lí thị

trường Ðối với các giao dịch này, các đối tác tham gia giao dịch với NHTW là không

bị giới hạn và thủ tục giao dịch các công cụ nợ được điều chỉnh theo tập quán thịtrường Hình thức giao dịch song phương được áp dụng khi có những sự biến độngtiền tệ cục bộ ở từng đối tác của NHTW trong nghiệp vụ thị trường mở

5.2 Giao dịch theo phương thức đầu thầu

Việc mua hoặc bán các loại giấy tờ có giá giữa NHTW với các NHTM đượcthực hiện thông qua phương thức đấu thầu khối lượng hoặc đấu thầu lãi suất

Giá của giấy tờ có giá hoặc lãi suất giao dịch trên thị trường mở là yếu tố quantrọng ảnh hưởng đến mặt bằng lãi suất trên thị trường nói chung Vì vậy, lãi suất cũng

là một mục tiêu mà NHTW cần quan tâm khi quyết định phương thức đấu thầu trênnghiệp vụ thị trường mở Ðấu thầu lãi suất hay đấu thầu khối lượng trên nghiệp vụnày tuỳ thuộc vào mục tiêu của NHTW Ðể có thể can thiệp trực tiếp vào lãi suất thìthực hiện đấu thầu khối lượng, ở đó lãi suất cố định do NHTW chỉ đạo Khi mục tiêucủa chính sách tiền tệ nghiêng về giác độ bơm hoặc rút tiền ra theo một khối lượngmong muốn thì thực hiện đấu thầu lãi suất ở đó lãi suất được thả nổi theo cung cầu thịtruờng, còn lãi suất trúng thầu sẽ được xác định tại điểm đạt được khối lượng cần bơmhoặc rút tiền khỏi lưu thông Lãi suất chỉ đạo đối với đấu thầu khối lượng hoặc lãi suấttrúng thầu đối với đấu thầu lãi suất là cơ sở để tính giá của giấy tờ có giá

a Đầu thầu khối lượng

NHTW công bố mức lãi suất và khối lượng các loại giấy tờ có giá cần mua hoặcbán Các ngân hàng dự thầu khối lượng các loại giấy tờ có giá đó theo mức lãi suấtniêm yết truớc

- Trường hợp tổng khối lượng dự thầu của các ngân hàng bằng hoặc thấp hơnkhối lượng NHTW cần mua hoặc bán thì khối lượng trúng thầu của từng ngân hàng làkhối lượng dự thầu của từng ngân hàng đó

Ngày đăng: 11/11/2014, 14:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w