Ở cấp quốc gia, mỗi cá nhân phải được cung cấp một cách hợp lý khả năng tiếp cận thông tin về môi trường của chính quyền, bao gồm thông tin về các vật chất và hành vi nguy hại trong cộ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA MÔI TRƯỜNG
NGUYỄN ĐÌNH KHÔI
XÂY DỰNG CHỈ SỐ TIẾP CẬN THÔNG TIN MÔI TRƯỜNG NƯỚC ĐỊA PHƯƠNG (ALWEII) VÀ THỬ NGHIỆM ÁP DỤNG TẠI BA XÃ VEN ĐÔ HUYỆN
THANH LIÊM, TỈNH HÀ NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP HỆ ĐẠI HỌC CHÍNH QUY
Ngành: Khoa học Môi trường
Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS Vũ Quyết Thắng
Hà Nội – 2009
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để khóa luận này được hoàn thành phải kể đến trước hết đóng góp to lớn của thầy hướng dẫn PGS.TS.Vũ Quyết Thắng Tôi cũng
gửi lời cảm ơn chân thành tới các cán bộ văn phòng dự án CEDO Hà
Nam vì sự giúp đỡ nhiệt tình trong chuyến đi thực địa; tới Hội Bảo vệ
Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam vì đã cung cấp nhiều tài liệu quý
báu, và đặc biệt tới gia đình và bạn học – những người đã góp ý và
ủng hộ tôi trong quá trình thực hiện khóa luận
Nguyễn Đình Khôi
Trang 3DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Alweii: Access to Local Water Environmental Information Index (chỉ số tiếp cận
thông tin môi trường nước địa phương)
TAI: The Access Initiative (tên tổ chức, đồng thời là tên bộ chỉ thị)
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC HỘP, BẢNG, HÌNH 5
MỞ ĐẦU 6
1 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 8
1.1 TIẾP CẬN THÔNG TIN 8
1.1.1 Các khái niệm 8
1.1.2 Vai trò của tiếp cận thông tin trong quản lý môi trường 9
1.1.3 Vượt chướng ngại vật 14
1.2 THE ACCESS INITIATIVE VÀ ĐÁNH GIÁ BAN ĐẦU VỀ TIẾP CẬN THÔNG TIN TẠI VIỆT NAM 19
1.2.1 The Access Initiative 19
1.2.2 Đánh giá ban đầu về tiếp cận thông tin tại Việt Nam 20
2 CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP LUẬN 21
2.1 BỘ CHỈ THỊ TAI 2.0 21
2.1.1 Cấu trúc 21
2.1.2 Nhận xét 23
2.2 PHƯƠNG PHÁP KIẾN TẠO CHỈ SỐ 24
2.2.1 Bản chất và các khái niệm 24
2.2.2 Công thức tính chỉ số 26
2.3 CÁC PHƯƠNG PHÁP KHÁC 30
2.3.1 Phiếu trưng cầu ý kiến 30
2.3.2 Phỏng vấn không chính thức 30
2.3.3 Đánh giá nhanh môi trường qua quan sát thực tế 31
2.3.4 Thu thập và phân tích tài liệu thứ cấp 31
3 CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG CHỈ SỐ TIẾP CẬN THÔNG TIN MÔI TRƯỜNG NƯỚC ĐỊA PHƯƠNG ALWEII 32
3.1 PHẠM VI ÁP DỤNG 32
3.2 CẤU TRÚC CƠ BẢN 32
3.3 LỰA CHỌN CHỈ THỊ VÀ CÔNG THỨC TÍNH 33
Trang 53.4 NỘI DUNG CHI TIẾT 34
3.5 PHÂN HẠNG 49
4 CHƯƠNG 4: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP - ĐÁNH GIÁ TIẾP CẬN THÔNG TIN MÔI TRƯỜNG NƯỚC BA XÃ VEN ĐÔ HUYỆN THANH LIÊM, HÀ NAM 51 4.1 KHU VỰC NGHIÊN CỨU 51
4.1.1 Đặc điểm kinh tế-xã hội 51
4.1.2 Hiện trạng môi trường nước 54
4.2 THU THẬP THÔNG TIN 56
4.3 TÍNH TOÁN CHỈ SỐ 57
4.4 NHẬN XÉT 73
4.5 MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG GIẢI PHÁP CẢI THIỆN TIẾP CẬN THÔNG TIN CHO KHU VỰC ĐÁNH GIÁ TRÊN CƠ SỞ NGHIÊN CỨU ALWEII 74
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
PHỤ LỤC 1: CHÚ GIẢI THUẬT NGỮ 83
PHỤ LỤC 2: MỘT SỐ HÌNH ẢNH VÙNG NGHIÊN CỨU 85
PHỤ LỤC 3: PHIẾU LẤY Ý KIẾN 87
PHỤ LỤC 4: DANH SÁCH NGƯỜI ĐƯỢC THAM KHẢO Ý KIẾN 92
PHỤ LỤC 5: BỘ CHỈ THỊ TAI 2.0 94
Trang 6DANH MỤC HỘP, BẢNG, HÌNH
DANH MỤC HỘP
Hộp 1: Hạt tử thần ở Paraguay……… 11
Hộp 2: Chì trong nước của chúng ta……… 16
DANH MỤC BẢNG Bảng 1: Cấu trúc bộ chỉ thị TAI 2.0 22
Bảng 2: Phân hạng chỉ số 30
Bảng 3: Cấu trúc và nội dung chỉ số tiếp cận thông tin môi trường nước địa phương 34
Bảng 4: Công thức tính chỉ số Alweii 49
Bảng 5: Phân hạng Alweii 50
Bảng 6: Tính toán chỉ số Alweii tại ba xã nghiên cứu 57
Bảng 7: Kết quả phân hạng 72
DANH MỤC HÌNH Hình 1: Trạng thái hệ thống trong không gian pha……… 25
Hình 2: Cấu trúc Alweii……… 33
Hình 3: Bản đồ hành chính tỉnh Hà Nam……… 52
Hình 4: Bản đồ hành chính huyện Thanh Liêm……… 53
Ảnh 1: Nước mương bẩn ở xã Thanh Hà……… 85
Ảnh 2: Nước máy nhiễm sắt ở Liêm Tuyền……….……… 85
Ảnh 3: Dụng cụ làm bún nhà anh Hoàng Văn Lượng…….……… 86
Ảnh 4: Bà Tạ Thị Thuận, chủ một cơ sở thêu ở Thanh Hà và người viết.……… 86
Trang 7MỞ ĐẦU
Công dân có quyền hiểu và tác động lên các quyết định của nhà nước ảnh
hưởng tới cuộc sống của họ và tiếp cận thông tin là điều kiện cần để thực hiện quyền
này Đối với dân cư trong vùng ô nhiễm nước, tiếp cận thông tin lại càng quan trọng
Nước ô nhiễm như thế nào? tại sao lại ô nhiễm? ô nhiễm như vậy thì tác động ra
sao? chính quyền sẽ làm gì với vấn đề này? là các câu hỏi thường xuyên được đặt ra,
và – xét tình hình ô nhiễm nước ngày càng phổ biến ở Việt Nam – sẽ được dấy lên
gay gắt hơn nữa trong tương lai Tiếp cận thông tin môi trường nước là nhu cầu
chính đáng của công chúng mà chính quyền có trách nhiệm đáp ứng
Muốn cung cấp tiếp cận hiệu quả cần phải đánh giá được tình trạng hiện tại
của tiếp cận Bộ chỉ thị TAI 2.0 của tổ chức The Access Initiative hiện là công cụ
hữu ích nhất để đánh giá toàn diện tiếp cận thông tin nói riêng và tiếp cận môi trường
nói chung Song đánh giá của TAI 2.0 vẫn nặng về định tính, mô tả, không phù hợp
để theo dõi diễn biến của tiếp cận, so sánh tiếp cận ở các khu vực khác nhau
Xét thấy phương pháp kiến tạo chỉ số là thích hợp nhất để định lượng hóa tiếp
cận thông tin, tôi quyết định chọn mục tiêu khóa luận là: xây dựng chỉ số tiếp cận
thông tin môi trường nước địa phương – Alweii (Access to Local Water
Environmental Index) Với nền tảng là bộ chị thị TAI 2.0, chỉ số này được kì vọng sẽ
là công cụ đánh giá đơn giản, định lượng, hỗ trợ công việc hoạch định chính sách,
cải thiện tiếp cận thông tin Nhằm đánh giá khả năng áp dụng đại trà của Alweii, một
nghiên cứu trường hợp đã được thực hiện tại ba xã ven đô huyện Thanh Liêm, Hà
Nam là Thanh Hà, Thanh Tuyền và Liêm Tuyền
Cấu trúc khóa luận này như sau: chương đầu giới thiệu tổng quan về tiếp cận
thông tin, The Access Initiative và đánh giá ban đầu về tiếp cận thông tin tại Việt
Nam Chương 2 trình bày phương pháp luận xây dựng Alweii, với hai nội dung
chính là phương pháp luận của bộ chỉ thị TAI 2.0 và phương pháp kiến tạo chỉ số
dùng hàm tích và logarit của tích Alweii được xây dựng ở chương 3 và được áp
dụng vào nghiên cứu trường hợp ở chương 4 Kết luận trình bày các ưu điểm và
tiềm năng ứng dụng của Alweii cũng như các vấn đề cần nghiên cứu thêm
Để hoàn thành khóa luận, những nhiệm vụ sau đây đã được thực hiện:
Phân tích phương pháp luận của TAI 2.0
Trang 8 Xây dựng Alweii
Chuẩn bị phiếu hỏi
Khảo sát và phỏng vấn chuyên gia và nhân dân địa phương tại ba xã
Thanh Hà, Thanh Tuyền, Liêm Tuyền trong thời gian 1 tuần vào cuối
tháng 3/2009
Tổng hợp tài liệu để xây dựng khóa luận
Trang 91 CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1 TIẾP CẬN THÔNG TIN
1.1.1 Các khái niệm
Con người có quyền hiểu và tác động đến các quyết định của chính quyền ảnh
hưởng đến môi trường của họ Các điều kiện để đảm bảo quyền này – được biết tới
dưới cái tên chung là tiếp cận môi trường – lần đầu tiên được diễn đạt một cách
đầy đủ và trực tiếp tại Nguyên tắc 10, Tuyên bố Rio về Môi trường và Phát triển:
“Các vấn đề môi trường được giải quyết tốt nhất khi có sự tham gia ở mức độ thích
hợp của tất cả các công dân quan tâm Ở cấp quốc gia, mỗi cá nhân phải được cung
cấp một cách hợp lý khả năng tiếp cận thông tin về môi trường của chính quyền, bao
gồm thông tin về các vật chất và hành vi nguy hại trong cộng đồng của họ và cơ hội
tham gia vào quá trình ra quyết định Nhà nước phải tạo điều kiện thuận lợi và
khuyến khích nhận thức và sự tham gia của công chúng bằng việc cung cấp thông
tin rộng rãi Tiếp cận có hiệu quả đến các thủ tục tư pháp và hành chính, bao gồm
bồi thường và khắc phục hậu quả, phải được cung cấp cho công chúng.” 12
[41]
Như Nguyên tắc 10 chỉ ra, tiếp cận môi trường là khả năng và quyền của công
chúng trong (1) thu thập và sử dụng thông tin môi trường, (2) tham gia quá trình ra
quyết định của chính quyền, và (3) sử dụng các cơ chế trọng tài chính thức để giải
quyết tranh chấp môi trường và khắc phục thiệt hại môi trường Ba yếu tố trên lần
lượt được gọi là tiếp cận thông tin, tham gia công chúng, và tiếp cận tư pháp – ba
trụ cột của tiếp cận môi trường
1Nguyên văn: ““Environmental issues are best handled with participation of all concerned citizens,
at the relevant level At the national level, each individual shall have appropriate access to
information concerning the environment that is held by public authorities, including information
on hazardous materials and activities in their communities, and the opportunity to participate in
decision-making processes States shall facilitate and encourage public awareness and
participation by making information widely available Effective access to judicial and
administrative proceedings, including redress and remedy, shall be provided.”
2 Từ đây về sau, các trích đoạn các điều ước quốc tế, trong trường hợp không có bản tiếng Việt
chính thức, đều được chú thích nguyên văn
Trang 101.1.2 Vai trò của tiếp cận thông tin trong quản lý môi trường
1.1.2.1 Tiếp cận thông tin trong mối quan hệ với tham gia công chúng, tiếp cận
tư pháp và dân chủ môi trường
Tiếp cận thông tin, tham gia công chúng và tiếp cận tư pháp gắn bó mật thiết
với nhau và với dân chủ môi trường Để có cái nhìn toàn cảnh về vai trò của tiếp cận
thông tin, không cách nào hơn là xem xét nó trong mối quan hệ với hai yếu tố kia và
xuất phát từ khái niệm bao quát nhất: dân chủ
Dân chủ là sự thực thi quyền làm chủ của nhân dân, mà cốt lõi là quyền lựa
chọn đường lối và mục tiêu của xã hội Quyền lực “lựa chọn” được thực thi chủ yếu
qua phản hồi của công chúng đối với nhà nước, bao gồm các hình thức như bầu cử,
kiến nghị, biểu tình và nhiều hình thúc khác Hình thức căn bản nhất là bầu cử:
người dân sẽ trao quyền cho những người theo đuổi hệ tư tưởng, mục tiêu hoặc chính
sách mà họ ủng hộ Nói cách khác, bầu cử trung thực là điều kiện cần của một nền
dân chủ đại diện
Tuy nhiên, chỉ riêng bầu cử không đủ để duy trì một nền dân chủ hiệu quả
Trước hết, nếu bầu cử là phương tiện duy nhất để bộc lộ ý chí và nguyện vọng của
nhân dân, thì những nhóm thiểu số sẽ bị lấn át bởi nhóm đa số Bảo vệ quyền lợi của
nhóm thiểu số bằng cách nào? Ba biện pháp quan trọng nhất là (1) luật hóa quyền
của nhóm thiểu số, (2) tăng cường khả năng bảo vệ quyền lợi công dân thông qua hệ
thống tư pháp, và (3) bổ sung các yếu tố dân chủ trực tiếp, nói cách khác là tăng
cường sự tham gia của các công chúng vào các quá trình ra quyết định của nhà nước
Mặt khác, bầu cử chỉ được tổ chức vài năm một lần Giữa các kì bầu cử,
người dân cần có phương tiện khác đề bảo vệ quyền hợp pháp của mình Tư pháp là
phương tiện quan trọng nhất Chẳng hạn tòa án có thể đình hoãn hoặc vô hiệu hóa
các quyết định của chính quyền; giải quyết xung đột trong nội bộ công chúng hoặc
giữa một bộ phận công chúng và chính quyền; cung cấp bồi thường cho bên bị hại và
yêu cầu bên vi phạm khắc phục hậu quả Tất cả đều nhằm phục vụ chức năng duy
nhất: bảo vệ tính pháp quyền của nhà nước dân chủ
Song, cả bầu cử, tham gia của công chúng và tiếp cận tư pháp sẽ mất ý nghĩa
nếu chúng được thực thi bởi một công chúng thiếu thông tin Công chúng cần thông
tin để hiểu được bối cảnh, đánh giá các lựa chọn và đưa ra quyết định phù hợp với ý
chí và nguyện vọng của mình, dù ở hòm phiếu hay ở bàn tham nghị Công chúng
Trang 11cũng cần thông tin để tự bảo vệ quyền lợi bản thân cũng như lợi ích cộng đồng trong
tòa án Tiếp cận thông tin, do đó, là điều kiện tiên quyết để thực hiện tham gia công
chúng và tiếp cận tư pháp, là thiết yếu đối với tính hiệu lực của một nền dân chủ
Bảo đảm tiếp cận thông tin là trách nhiệm không thể chối bỏ của bất cứ nhà nước
nào nhận mình là của dân, do dân và vì dân
Đối với thực thi dân chủ trong lĩnh vực quản lý môi trường, tiếp cận thông tin
càng phải được nhấn mạnh Điều này có thể thấy rõ nếu nhìn môi trường từ góc độ
kinh tế học: phần lớn các dịch vụ và hàng hóa môi trường là các hàng hóa công
cộng3
và các tác động môi trường là các ngoại ứng4 Không có thị trường cho hàng
hóa công cộng nên tình trạng môi trường thường không được phản ánh qua giá cả
Đây không những là trở ngại chung cho tất cả các bên liên quan khi đánh giá các
phương án trong quá trình ra quyết định mà còn dễ tạo ra hiện tượng mà kinh tế học
gọi là “thông tin bất đối xứng” – khi một bên liên quan có nhiều thông tin hơn bên
kia Thông tin bất đối xứng dẫn nhiều hậu quả tiêu cực: nó ngăn cản các bên liên
quan thực hiện các giao dịch tối ưu nhất cho xã hội, và – trong lĩnh vực môi trường –
nó có thể bào mòn công bằng xã hội
Cũng bởi môi trường khó định giá nên các dạng thông tin môi trường còn lại
(thông tin về tình trạng môi trường, các nhân tố tác động đến môi trường, và sự an
toàn của con người) là chỗ dựa chủ yếu cho các phân tích khoa học phục vụ quá trình
ra quyết định Không có bình đẳng và phổ cập về tiếp cận thông tin thì không có
bình đẳng về sức mạnh công dân trong quá trình lập quyết định, tức là không có dân
chủ môi trường
Bởi vì hàng hóa và dịch vụ môi trường mang tính chất công cộng, nên quyền
sở hữu hoặc thụ hưởng các chúng thường khó xác định Bởi vì tác động môi trường
mang tính chất ngoại ứng, nên chúng thường xuất phát từ hành vi của một nhóm
thiểu số và là gánh nặng của một nhóm đa số Các điều kiện này là nguồn gốc của
xung đột; và trong xung đột thì nhóm có nguồn lực dồi dào và nhiều đặc quyền hơn
(“nhóm ưu thế”, thường là người giàu, người có quan hệ cá nhân hoặc liên đới lợi
ích với nhà cầm quyền, nam giới, các cộng đồng có trình độ phát triển kinh tế-xã hội
cao) sẽ có lợi thế hơn nhóm còn lại (“nhóm yếu thế”, thường là người nghèo, phụ nữ,
và cộng đồng kém phát triển) Để bảo vệ lợi ích, nhóm yếu thế thường trông cậy vào
3 Hàng hóa công cộng: hàng hóa mà nếu một cá nhân có thể sử dụng thì các cá nhân khác cũng có
thể sử dụng mà không tốn chi phí tiếp cận
4
Ngoại ứng: tác động sinh ra trong một hệ sản xuất lên các đối tượng nằm ngoài hệ đó.
Trang 12hệ thống tư pháp Nhưng các quá trình môi trường diễn ra rất phức tạp, các nạn nhân
của thiệt hại môi trường sẽ phải chứng kiến cánh cửa tư pháp đóng lại trước mắt nếu
không có đủ thông tin chứng minh mình thật sự là nạn nhân Tiếp cận thông tin là
một trong những chìa khóa của vấn đề Nếu thông tin môi trường được thu thập hiệu
quả và phân phối rộng khắp, các mầm mống của xung đột lợi ích có thể được phát
hiện sớm và ngăn chặn kịp thời Ngay cả khi xung đột xảy ra, thông tin môi trường
có thể mang đến cho nhóm yếu thế, các nạn nhân của thiệt hại môi trường ít nhất
quyền được xét xử trước tòa án, thậm chí là công cụ đưa họ đến thắng lợi
Hộp 1: Hạt tử thần ở Paraguay
Câu chuyện sau nằm trong nội dung một báo cáo của The International Union of Food
and Agriculture related Workers và được nhắc lại trong một hội nghị của UNEP,
Geneva Nó minh họa tính chất ngoại ứng của tác động môi trường và sự thiếu thông tin
của cộng đồng địa phương đã dẫn đến kết quả tai hại như thế nào, cũng như quyền tiếp
cận liên hệ mật thiết với nhân quyền ra sao
Julio Chávez sở hữu một mảnh đất trên 1 ha ở Rincon‟i, nhưng sống ở thị trấn Ybycui
lân cận Đây có lẽ là lý do vì sao Chávez kí hợp đồng với Delta&Pine Paraguay Inc để
biến mảnh đất này thành bãi rác
Chiếc xe tải đầu tiên chở các bao tải rác vào Rincon‟i vào tháng 11/1998 Khi những
người hàng xóm ngạc nhiên hỏi chuyện gì đang diễn ra, Chávez nói rằng đây là những
hạt bông quá đát được trộn xuống đất làm phân bón
Những ngày sau đó, xe tải nối đuôi nhau đổ hạt bông xuống mảnh đất của Chávez Một
số người, bao gồm cả phụ nữ và trẻ em, được thuê dỡ rác khỏi xe Họ làm 12 tiếng một
ngày, không có quần áo bảo hộ, và không biết gì về những rủi ro mình đang đối mặt Dù
trên bao tải có in những dòng cảnh báo nhưng người dân không đọc được vì chúng được
viết bằng tiếng Anh
Hạt bông chồng chất ngày càng cao Mùi thối rữa của chúng lan khắp khu vực khi trời
mưa Những người sống gần khu vực rác thải than phiền rằng mùi đó làm họ đau đầu và
mất ngủ Khi dân làng phát hiện ra những vết sẹo lạ giống như vết bỏng trên bàn tay và
cánh tay, việc thải hạt bông phải ngừng lại Dù vậy, ngày càng nhiều người ở Rincon‟i
mắc các chứng đau đầu, buồn nôn, tiêu chảy, mệt mỏi và mất ngủ Học sinh ở ngôi
trường gần đó phải thôi học và tất cả mọi người đều biết thủ phạm chính là bãi rác của
Chávez
Nguồn: Carlos Amorin, Las Semillas de la Muerte, REL-UITA, Montevideol, 1999,
(Se-eds of death, UITA translation); trích trong [36].
Trang 13Mặt khác, cũng do tính công cộng và ngoại ứng, lĩnh vực môi trường là nơi
mà thị trường thường thất bại và vì thế trách nhiệm điều hành thường rơi vào tay nhà
nước Sự tập trung quyền quyết định trong tay nhóm nhỏ các cá nhân nắm chức trách
dễ sinh ra đặc quyền đặc lợi; đi kèm với sự loại trừ số đông công chúng khỏi quá
trình ra quyết định Tham nhũng và lãng phí là những hậu quả dễ thấy Nhưng ngay
cả khi luật pháp không được tuân thủ, sự tập trung hóa cao độ quyền lực quản lý
trong tay nhà chức trách cũng là nguồn gốc sinh ra các quyết định không hợp lòng
dân Nguyên nhân là môi trường có những chiều giá trị riêng không đo đếm được
theo đơn vị tiền tệ và phụ thuộc nhiều vào hệ giá trị của từng cá nhân, từng cộng
đồng Khoa học chưa có cách hợp lý nào để dung nạp yếu tố phi kinh tế của môi
trường thành đầu vào của quá trình ra quyết định, và không thể là “nguồn cung cấp
giải pháp duy nhất”5 Nguồn giải pháp đặc biệt quan trọng bên cạnh khoa học là ý
kiến công chúng; và để là nguồn giải pháp hữu ích, công chúng cần phải được thông
tin, được tham gia trực tiếp vào quá trình ra quyết định, và có khả năng sử dụng được
các cơ chế tư pháp để đảo ngược các quyết định không đúng đắn của nhà chức trách
Những phân tích trên cho thấy tiếp cận thông tin – cùng với tham gia công
chúng và tiếp cận tư pháp – vừa là chìa khóa mở cánh cửa của quá trình lập quyết
định ra trước công chúng, vừa là khuôn khổ giữ cho quá trình này diễn tiến theo
đúng ý chí và nguyện vọng của xã hội
1.1.2.2 Quyền tiếp cận thông tin và nhân quyền: những ghi nhận của luật pháp
quốc tế
Nhiều văn kiện quốc tế, trực tiếp hoặc gián tiếp, đều cho rằng quyền tiếp cận
thông tin nằm trong số các quyền của con người Theo đó, quyền tiếp cận thông tin
là bộ phận không thể tách rời của quyền tự do ngôn luận và quyền tự do thông tin,
như được nêu trong điều 17, Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền của Liên Hiệp
Quốc: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm; kể cả tự do
bảo lưu ý kiến không phụ thuộc vào bất cứ sự can thiệp nào, cũng như tự do tìm
kiếm, thu nhận, và truyền bá thông tin bằng bất cứ phương tiện thông tin đại chúng
nào và không giới hạn về biên giới” [8] và Nghị quyết Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc
59(I) (1946): “Tự do thông tin là nhân quyền cơ bản” 6 [44]
Trang 14Bởi vì tiếp cận thông tin là điều kiện cần để quản lý môi trường hiệu quả, việc
công nhận quyền được sống trong môi trường lành mạnh là nhân quyền bản chất sẽ
tạo thế đứng vững chắc của quyền tiếp cận thông tin như là một nhân quyền thủ tục7
Sự công nhận này được tìm thấy trong một số công ước khu vực Điều 24 Hiến
chương Châu Phi về Quyền của con người và các dân tộc (1981) ghi “Mọi dân tộc
đều có quyền hưởng môi trường thỏa mãn sự phát triển của họ”8
[39] Điều 11, Nghị định thư bổ sung cho Công ước Châu Mỹ về quyền con người trong các quyền kinh
tế, xã hội, và văn hóa (1988) ghi: “Mọi người đều có quyền sống trong môi trường
lành mạnh và sử dụng các dịch vụ công cơ bản” 9
[40]
Tuy nhiên, phải đến Công ước Aathus (1998), tiếp cận thông tin, cùng với
tham gia công chúng và tiếp cận tư pháp, mới được công nhận trực tiếp như là quyền
con người Điều 1 của công ước tuyên bố “Nhằm góp phần bảo vệ quyền của mỗi cá
nhân thuộc thế hệ hiện tại và tương lai được sống trong một môi trường thích hợp
cho sức khỏe và phúc lợi của người đó, mỗi bên ký kết phải đảm bảo quyền tiếp cận
thông tin, quyền công chúng tham gia vào quá trình lập quyết định và quyền tiếp cận
tư pháp trong các vấn đề môi trường theo các điều khoản trong công ước này” 10
[37] Mặc dù chỉ giới hạn trong quy mô khu vực (các nước kí kết đến giờ phần lớn là
các nước Châu Âu và Bắc Mỹ [33]), Công ước Aarhus cho đến giờ – như Kofi A
Annan nhận định – là “sự cụ thể hóa ấn tượng nhất nguyên tắc 10 của Tuyên bố
Rio”, “bước tiến tham vọng nhất trong lĩnh vực dân chủ môi trường dưới sự bảo trợ
của Liên Hiệp Quốc”, và do đó mang “ý nghĩa (…) toàn cầu” [33]
Sự ghi nhận của các văn kiện luật quốc tế đối với quyền tiêp cận thông tin có
ý nghĩa lớn lao trong việc thúc đẩy dân chủ môi trường trên thế giới Mặc dù quan
điểm xem quyền tiếp cận là nhân quyền vẫn gặp một số rào cản – như có thể bị xem
7
Có hai nhóm quyền: quyền bản chất, ví dụ như quyền được sống, quyền được tự do; và quyền thủ
tục, được coi là phương tiện để đạt được quyền bản chất [33] [39]
8 Nguyên văn: “All people shall have the right to a general satisfactory environment favourable to
their development”, African Charter on Human and Peoples’ Rights [39]
9
Nguyên văn: “"Everyone shall have the right to live in a healthy environment and to have access
to basic public services”, Additional Protocol to the American Convention on Human Rights in
the Area of Economic, Social and Cultural Rights [40]
10
Nguyên văn: “In order to contribute to the protection of the right of every person of present and
future generations to live in an environment adequate to his or her health and wellbeing, each
Party shall guarantee the rights of access to information, public participation in
decision-making and access to justice in environmental matters in accordance with the provisions of this
Convention.”, the Aarhus Convention [38]
Trang 15là mối đe dọa đối với chủ quyền quốc gia, hoặc trong bối cảnh đối thoại Bắc-Nam về
phát triển và quản trị bị buộc tội là mang màu sắc chủ nghĩa thực dân mới [33] – vai
trò của nó đối với sự nghiệp bảo vệ nhân quyền nói chung ngày càng được nhận thức
sâu sắc Tiếp cận môi trường nói chung và tiếp cận thông tin nói riêng quan trọng
không chỉ bởi vì nó giúp giải quyết các vấn đề môi trường thuận lợi hơn, mà còn vì
nó điều kiện không thể bỏ qua để bảo vệ hạnh phúc và nhân phẩm của con người
[33]
1.1.2.3 Các lợi ích khác
Đối với những người không hứng thú với quan điểm tiếp cận thông tin là một
phần của dân chủ môi trường và nhân quyền, vẫn có lý do thực tiễn để ủng hộ tiếp
cận thông tin Kinh nghiệm ở các nước đều chỉ ra rằng phát huy tiếp cận thông tin
của công chúng đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho tất cả các bên liên quan, như:
Phân tán chi phí giám sát môi trường: việc giám sát môi trường càng sát sao
và rộng khắp thì quản lý môi trường càng hiệu quả Tuy nhiên trường hợp phổ biến
là chi phí giám sát vượt ra khỏi khả năng chi trả của chính quyền Tiếp cận thông tin
khuyến khích người dân, giới truyền thông và các tổ chức xã hội dân sự huy động
thời gian và công sức xem xét thông tin môi trường và “rung chuông báo động” khi
phát hiện hành động vi phạm Bằng cách này, chính quyền có một mạng lưới giám
sát rộng khắp mà không phải chịu gánh nặng chi phí
Phát huy các biện pháp quản lý phi chính phủ: thay vì độc diễn trên sân
khấu, chính quyền có thể đóng vai trò người đưa tin và biến công chúng thành
những nhà hành pháp Công chúng liên quan, một khi nắm được thông tin, có thể
phản hồi qua các cơ quan chính quyền (như khiếu nại và vận động cải cách luật),
qua thị trường (như thay đổi thói quen tiêu dùng, tẩy chay các nhà sản xuất vi phạm,
hoặc gây áp lực trong vai trò chủ cổ phiếu), qua xã hội dân sự (như phê phán qua
phương tiện thông tin đại chúng)
Thay đổi kì vọng của công chúng: cung cấp thông tin là một cách để chính
quyền phát tín hiệu đến công chúng về tầm quan trọng và tính khẩn cấp của vấn đề
môi trường được nhắc đến, thúc đẩy phản hồi và tham gia của công chúng
1.1.3 Vượt chướng ngại vật
Mặc dù tầm quan trọng của tiếp cận thông tin là không thể phủ nhận, sự thực
thi tiếp cận trong thực tế không tránh khỏi những chướng ngại Sẽ có những người
Trang 16tranh cãi rằng tiếp cận gây ra xung đột, tiếp cận trì hoãn phát triển, chi phí tiếp cận
quá cao, hoặc tiếp cận phức tạp hóa mọi việc Những luận điểm này không phải
không có lý: chúng cho thấy có nhiều việc cần làm hơn là lý luận suông về lợi ích
của tiếp cận thông tin
1.1.3.1 Những chướng ngại trong hệ thống quản lý
Tăng cường tiếp cận môi trường nói chung và tiếp cận thông tin nói riêng bao
hàm sự chuyển đổi một phần quyền lực từ tay nhà chức trách vào công chúng, do đó
không tránh khỏi những kháng cự từ những công chức mà lợi ích hoặc vị thế gắn
chặt với mức độ kiểm soát quá trình ra quyết định Chính trị của tiếp cận là bài toán
phức tạp, và lời giải thường vượt xa khỏi lĩnh vực môi trường Tuy nhiên, loạt báo
cáo đánh giá quốc gia về tiếp cận môi trường của The Access Initiative có thể cung
cấp một số gợi ý hữu ích: những trở ngại chính trị có thể vượt qua nhờ các liên minh
về tiếp cận và sự kích thích hợp lý phản ứng của công chúng [33]
Trong hầu hết trường hợp, những tiến bộ đáng kể về tiếp cận thông tin không
phải là kết quả công việc của một vài cá nhân hay tổ chức đơn lẻ mà là thành tựu của
các liên minh về tiếp cận – một tập hợp các tổ chức xã hội dân sự, các nhà hoạt động
phong trào, các công ty tư nhân có liên đới lợi ích về tiếp cận Nguyên nhân chính là
một liên minh như vậy tập hợp được các cá nhân và tổ chức ủng hộ tiếp cận dưới
một danh nghĩa và chiến lược thống nhất Bài học kinh nghiệm cho thấy thành viên
của liên minh không nhất thiết chỉ đến từ xã hội dân sự hoặc chỉ hoạt động trong lĩnh
vực môi trường Các cơ quan nhà nước có chính sách cởi mở, các công ty tư nhân
tìm kiếm hợp đồng với nhà nước có thể là những thành viên rất tích cực [33]
Trong việc kích thích phản ứng của công chúng, tạo ra cảm giác “sốc” luôn có
hiệu quả cao do khai thác đặc điểm tâm lý con người là thường phản ứng với những
thay đổi đột ngột mạnh hơn là các thay đổi từ từ Ví dụ, giá cổ phiếu có xu hướng
Trang 17giảm mạnh khi thông tin về tác động môi trường của công ty bị đột ngột phơi bày11
, còn các công ty có xu hướng tự cải thiện khi giá cổ phiếu đi xuống12
[33] Tuy nhiên một công chúng quá “sốc” có thể có hành động cực đoan, vì vậy cần thận trọng trong
phương pháp cung cấp thông tin
1.1.3.2 Lấp đầy lỗ hổng trong hệ thống thông tin
Xương sống của tiếp cận là hệ thống thông tin môi trường Song, đánh giá cho
thấy hệ thống thông tin của các quốc gia còn nhiều khiếm khuyết, với trọng tâm là ba
vấn đề: thông tin trong trường hợp khẩn cấp, tính công khai, tính khả dụng và tính
kịp thời của thông tin [33]
Các tiến bộ khoa học đã làm cho thảm họa môi trường nói chung, nước phát
triển cũng như đang phát triển, dễ dự báo hơn là khủng hoảng chính trị13
[33] Tuy
11 Badrinath và Bolster 1996; Hamilton 1995; Lanoie và Laptante 1994; Moighalu và nnk 1990,
trích trong [33]
12 Khanna và nnk 1998, Konar và Cohen 1997, trích trong [33]
13 Hewitt 1983, Jarman và Kouzman 1994, Vaisutis-White 1994, Rosenthal và Kouzmin 1997, trích
trong [33]
Hộp 2: Chì trong nước của chúng ta
Ngay cả một nước có trình độ khoa học kĩ thuật cao và một lực lượng hùng hậu các quy
định pháp lý về môi trường như nước Mỹ cũng không tránh khỏi những lổ hổng trong hệ
thống thông tin Năm 2004, thủ đô của nước này nổ ra một xì-căng-đan môi trường; thủ
phạm hóa ra không phải là thiếu thông tin, mà là sự vụng về trong phổ biến thông tin ra
công chúng Vụ việc cũng minh họa vai trò của truyền thông đại chúng trong tiếp cận
thông tin, cũng như phản ứng quyết liệt của công chúng đã buộc giới chức phải hành động
khẩn cấp như thế nào
Số 31/1/2004 của tờ The Washington Post đăng tin các cuộc kiểm tra gần đây cho thấy
hàm lượng chì trong nước máy thành phố vượt tiêu chuẩn cho phép Công chúng bị khuấy
động là điều dễ hiểu, nhưng ngay cả giới chức cũng “kinh ngạc” không hiểu sao một chất ô
nhiễm nghiêm trọng như vậy lại đột ngột lan tràn khắp Washington DC Các cuộc điều tra
và giải trình sau đó hé lộ sự thật: chì trong nước không phải là một khám phá mới, Cơ
quan Nước và Nước thải Washington DC (WASA) đã biết đến vấn đề này từ hè năm
ngoái Một bí ẩn khác được dấy lên: tại sao vấn đề đã có từ lâu mà WASA không giải
quyết, thậm chí không công khai?
(tiếp trang sau)
Trang 18vậy, tiếp cận thông tin trong trường hợp khẩn cấp môi trường lại chưa được đảm bảo
một cách tương xứng Theo đánh giá của The Access Initiative, 17/23 nước khảo sát
xếp loại yếu quy định về phổ biến thông tin cho công chúng khi tình huống khẩn cấp
đang diễn ra; xếp loại yếu về chất lượng thông tin: 35/41 nước; loại yếu về nỗ lực sử
dụng truyền thông đại chúng trong khẩn cấp: 27/39 nước; và loại yếu về chất lượng
điều tra hậu khẩn cấp: 30/42 nước [33]
Trong khi thông tin khẩn cấp yếu về tất cả các mặt, đánh giá cho thấy vấn đề
chính của các dạng thông tin khác nằm ở tính công khai, tính khả dụng và tính kịp
thời của thông tin Chẳng hạn, ở nhiều nước thông tin quan trắc tương đối đầy đủ và
chất lượng tốt nhưng lại khó đến với công chúng Hoặc mặc dù có cơ quan chính phủ
Hộp 2: Chì trong nước của chúng ta
(tiếp trang trước)
Thực ra WASA có công khai – nhưng không đúng cách Mặc dù các mẫu đã phân tích từ
tháng 6/2003, đến tháng 11 các thông báo chính thức mới được gửi đi Theo quy định, mỗi
khách hàng sử dụng nước phải nhận được thông báo nêu rõ “Một vài nhà trong cộng đồng
này có nồng độ chì cao trong nước uống Chì có thể gây ra các rủi ro sức khỏe đáng kể”
Thông báo của WASA lược đi các từ “nước uống” và “đáng kể” Mục đích cuộc họp quần
chúng sau đó (cũng bắt buộc theo luật) chỉ được nêu đơn giản là “thảo luận và thu thập ý
kiến công chúng về các dự án của WASA” Hậu quả là hầu hết người dân không chú ý và
vụ việc rơi vào quên lãng
Tình hình thay đổi khi chì trong nước xuất hiện trên trang nhất các báo Đường dây nóng
của WASA liên tiếp nhận cuộc gọi từ dân cư Các phòng thí nghiệm ngập trong yêu cầu
phân tích nước Nhà chức trách tổ chức họp quần chúng khẩn cấp Một đội đặc nhiệm liên
ngành được thành lập, cung cấp miễn phí thiết bị lọc, xét nghiệm nước và xét nghiệm máu
Tuy nhiên, các thông báo không nhất quán của WASA và Cơ quan bảo vệ môi trường
(EPA) sau đó lại khởi động làn sóng giận dữ mới từ công chúng Người dân tự tổ chức các
cuộc họp, lập trang web, viết kiến nghị và khiếu kiện Mặc dù sau đó vấn đề được giải
quyết, cũng như không thiệt hại sức khỏe đáng kể nào được xác định, phản ứng của công
chúng đã dẫn đến những hành động quyết liệt của nhà chức trách EPA phê bình WASA
Quốc hội mở điều tra về khuyết điểm EPA Hàng triệu USD được đầu tư để thay thể
đường ống nhiễm chì Và EPA đề nghị kiểm tra lại các quy định liên bang về chì và đồng
Nguồn: Joseph Foti (2008), Lead in Our Water – A Washington, DC myster y, [32]
Trang 19lãnh trách nhiệm lập báo cáo hiện trạng môi trường nhưng ít nỗ lực để trình bày báo
cáo một cách dễ hiểu hay quảng bá chúng trên truyền thông đại chúng
Thông tin quá thiếu và đến quá muộn là nguyên nhân phổ biến dẫn đến sự
tham gia của công chúng không đạt hiệu quả mong đợi [33] Ở đa số các trường hợp
khảo sát, công chúng không tiếp cận được những tài liệu thích hợp về dự án/chính
sách ảnh hưởng đến họ Trong khi ý kiến công chúng rất quan trọng trong giai đoạn
định hình chính sách, giai đoạn này thường diễn ra trong phòng kín Sự tham gia
công chúngvào chính sách do đó bị thu hẹp thành ủng hộ/phản đối/sửa chữa các bản
thảo
Dù nhiều nước đã đưa môn giáo dục công dân và giáo dục môi trường vào
chương trình giảng dạy, mối liên kết giữa hai môn học này chưa được thiết lập [33]
Trong tất cả các trường hợp khảo sát, học sinh không được học về quyền tiếp cận
môi trường và không biết bảo vệ quyền của mình bằng cách nào [33] Một công
chúng chậm trễ về hiểu biết, hạn hẹp về tầm ảnh hưởng, cộng thêm hạn chế về trình
độ khó có thể tham gia một cách có ý nghĩa vào các quyết định lớn
Có nhiều cách thức để bù đắp những khiếm khuyết trên Chẳng hạn chuẩn hóa
các chỉ thị trong quan trắc môi trường, yêu cầu thông tin quan trắc được cung cấp
miễn phí, chuẩn hóa định dạng của báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia, giảm
lạm dụng thuật ngữ và đa dạng hóa hình thức trình bày Đối với thông tin khẩn cấp
cần có quy định về công bố thông tin kịp thời, khuyến khích chuẩn hóa nội dung
thông tin, thiết lập hệ thống truyền tin bao gồm các hình thức liên lạc mới nhất như
điện thoại di động và tin nhắn, và thiết lập danh sách các chất độc cần thông báo lập
tức nếu bị rò rỉ Để tăng chất lượng tham gia công chúng, giải pháp trung tâm là đa
dạng hóa và tăng tính kịp thời các nguồn thông tin, đặc biệt là các sơ thảo chính sách
hoặc dự án, và cải thiện cách thức quảng bá thông tin Cần cung cấp đầy đủ thông tin
cho các bên liên quan tham gia ngay từ các giai đoạn đầu của quá trình lập quyết
định Cần tăng cường tích hợp các nội dung của giáo dục công dân và giáo dục môi
trường trong nhà trường
1.1.3.3 Tăng cường năng lực cung cấp thông tin
Ngoài việc đảm bảo quyền tiếp cận thông tin về mặt pháp lý, cần phải tăng
cường năng lực thực thi quyền của các bên liên quan Nghiên cứu ở các nước [33]
cho thấy nhiều công chức, bao gồm cả các cán bộ thuộc ngành tư pháp không hiểu rõ
lý luận, luật, và thực hành của tiếp cận thông tin Trong lúc đó, công dân thường
Trang 20không nhận thức được quyền của mình, chưa nói đến kĩ năng tham gia quá trình lập
quyết định, đòi hỏi thông tin hay tìm trợ giúp tư pháp Mặc dù nhiều tổ chức xã hội
dân sự giúp nâng cao nhận thức và kĩ năng thực hành tiếp cận thông tin của công
dân, họ lại thiếu nguồn lực để làm điều này một cách thích đáng
Để xây dựng năng lực tiếp cận của cả bên cung (chính phủ) và bên cầu (công
chúng), cần tăng cường đào tạo công chức nhà nước, xây dựng mối quan hệ hợp tác
giữa chính quyền và các tổ chức xã hội dân sự và giữa các cơ quan nhà nước với
nhau, hỗ trợ tài chính và kĩ thuật cho các tổ chức xã hội dân sự có kinh nghiệm trong
giáo dục và tổ chức quẩn chúng trong các vấn đề môi trường, tăng cường tự do lập
hội và khuyến khích các chương trình giáo dục về tham gia công chúng và tích hợp
các nguyên tắc minh bạch thông tin vào hoạt động các cấp, các ngành
1.2 THE ACCESS INITIATIVE VÀ ĐÁNH GIÁ BAN ĐẦU VỀ
TIẾP CẬN THÔNG TIN TẠI VIỆT NAM
1.2.1 The Access Initiative
The Access Initiative - là Liên minh Toàn cầu Các tổ chức Xã hội Dân sự với
mục tiêu thúc đẩy quản trị môi trường minh bạch, dân chủ và có trách nhiệm, giúp
đỡ các cá nhân giành được tiếng nói trong những quyết định ảnh hưởng đến phúc lợi
của họ và của cộng đồng Được thành lập vào năm 1999 do sự khởi xướng của Chile,
Hungary, Uganda, Thái Lan và Mỹ, cho tới năm nay The Access Initiative đã xây
dựng quan hệ đối tác với hơn 150 tổ chức xã hội dân sự khắp thế giới [35]
Phương thức hoạt động của The Access Inititative khá độc đáo Các tổ chức
đối tác tiến hành các đánh giá quy mô quốc gia về các chính sách và hoạt động của
chính phủ, thực hiện các nghiên cứu pháp lý và nghiên cứu trường hợp Đến tháng
8/2007, 35 nghiên cứu đánh giá tiếp cận môi trường ở 25 quốc gia đã được hoàn
thành và 14 nghiên cứu khác đang được triển khai [35] Không dừng lại ở nghiên
cứu, các đối tác của The Access Initiative còn vận động thúc đẩy các quyền tiếp cận,
thông thường với sự hợp tác của các chính phủ và tổ chức quốc tế Các thành tựu
đáng kể của The Access Initiative bao gồm:
Ở Chile, Ủy ban Quốc gia về Môi trường thành lập hệ thống Kiểm kê Xả
thải Độc hại đầu tiên của đất nước Các đối tác của The Access Initiave
đóng góp vào việc thiết kế hệ thống này nhằm đảm bảo đến mức cao nhất
quyền tiếp cận thông tin và quyền tham gia của công dân [35]
Trang 21 Ở Uganda, các nghiên cứu và vận động của The Access Initiative đã dẫn
đến Đạo luật Tự do Thông tin được soạn thảo, mang đến cho công dân
quyền tiếp cận thông tin chính phủ [35]
Ở Indonesia, dựa trên các kết quả nghiên cứu, các đối tác của The Access
Initiative đã làm việc cùng chính phủ và các tổ chức xã hội dân sự khác
soạn thảo luật Tự do Thông tin Luật này được chính thức thông qua vào
năm 2008 [35]
Ở Mexico, các đánh giá của The Access Initiative đã phát hiện ra các lổ
hổng trong tiếp cận thông tin Cuốn cẩm nang về tiếp cận thông tin của tổ
chức đã làm tăng đáng kể số yêu cầu thông tin từ phía công dân và cải
thiện hoạt động cung cấp thông tin của chính phủ [35]
Tất cả các đánh giá tiếp cận của The Access Initiative và đối tác đều sử dụng
hệ phương pháp luận thống nhât với nòng cốt là bộ chỉ thị TAI Phiên bản 1.0 của bộ
chỉ thị này được xây dựng vào năm 2003, đi kèm với phần mềm cho phép nghiên
cứu viên phân tích và tổng hợp dữ liệu Năm 2006, tổ chức cho ra đời phiên bản 2.0
sau khi thảo luận với các đối tác và rút kinh nghiệm từ hoạt động nghiên cứu thực tế
Chỉ số tiếp cận thông tin môi trường nước được xây dựng trong khóa luận này cũng
dựa trên cơ sở phiên bản TAI cải tiến.
1.2.2 Đánh giá ban đầu về tiếp cận thông tin tại Việt Nam
Năm 2006, chương trình đánh giá tiếp cận môi trường được khởi động tại
Việt Nam dưới sự chủ trì của Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam – đối
tác chính thức của The Access Initiative tại Việt Nam Chương trình được tài trợ chủ
yếu bởi Viện Nghiên cứu Quốc tế (World Resource Institute), nhận hỗ trợ từ Viện
Môi trường Thái Lan và Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế IUCN 20 nghiên cứu
điển hình đầu tiên sử dụng bộ chỉ thị TAI 2.0 đã được hoàn thành và lập báo cáo vào
năm 2007 Theo kết luận của báo cáo, pháp luật Việt Nam nhìn chung “đã lưu ý khá
đầy đủ” quyền tiếp cận thông tin nhưng “chưa quan tâm đúng mức đến việc hỗ trợ
kĩ thuật, hướng dẫn và đào tạo công chúng về kĩ năng tiếp cận thông tin” [6] Về
hoạt động thực tế, báo cáo cho rằng các tổ chức xã hội dân sự và truyền thông đã “hỗ
trợ tốt” tiếp cận môi trường, nhưng các cơ quan nhà nước “chưa chú trọng nâng cao
năng lực tiếp cận thông tin cho công chúng” với các nỗ lực “chưa toàn diện”, ngân
sách “chưa thỏa đáng”, không thu hút được các nhóm yếu thế [6] Vai trò các tổ
chức xã hội dân sự trong thúc đẩy tiếp cận thông tin bị đánh giá là “mờ nhạt” [6]
Trang 222 CHƯƠNG 2
PHƯƠNG PHÁP LUẬN
2.1 BỘ CHỈ THỊ TAI 2.0
2.1.1 Cấu trúc
Nòng cốt trong phương pháp đánh giá tiếp cận môi trường của The Access
Initiative là bộ chỉ thị TAI 2.0 bao gồm 148 chỉ thị (mà thực chất là các tiêu chí định
tính) Các chỉ thị này được chia thành bốn mục [34] bao gồm:
1 Tiếp cận thông tin
2 Tham gia công chúng
3 Tiếp cận tư pháp
4 Xây dựng năng lực
Ba hạng mục đầu đại diện cho ba thành tố của tiếp cận thông tin môi trường,
tuy nhiên hạng mục thứ 4 không kém phần quan trọng: kinh nghiệm cho thấy xây
dựng năng lực là điều kiện thiết yếu để đảm bảo tiếp cận bền vững Hạng mục này
chỉ có một số ít chỉ thị đứng riêng còn phần lớn mang tính chất “kiêm nhiệm” ví dụ
các chỉ thị “xây dựng năng lực trong tiếp cận thông tin” thuộc hạng mục tiếp cận
thông tin
Mỗi hạng mục chia thành ba nhóm chỉ thị: các chỉ thị luật14
đánh giá khả
năng đảm bảo tiếp cận của khung pháp lý; các chỉ thị nỗ lực đánh giá các hoạt động
cung cấp tiếp cận của chính phủ, bao gồm cả các hoạt động thi hành luật; các chỉ thị
hiệu quả đánh giá mức độ luật và nỗ lực chuyển hóa thành kết quả thực tế Trong
Luật ở đây nghĩa là hệ thống pháp luật nói chung; luật cơ sở, luật đặc thù (các chủ đề trong nhóm
chỉ thị luật) bao hàm cả các văn bản luật và văn bản dưới luật theo cách gọi ở Việt Nam.
Trang 23Có hai loại chỉ thị Trong đó, các chỉ thị “lõi” được coi là mang tính chất đại
diện cao nhất, và được ưu tiên hơn các chỉ thị còn lại trong trường hợp việc đánh giá
bị hạn chế vê nguồn lực
Đối với mỗi chỉ thị, The Access Initiative đều đưa ra hướng dẫn tương đối chi
tiết về cách đánh giá, chẳng hạn như “phỏng vấn ít nhât hai công chức liên quan”
hoặc “tham vấn các văn bản pháp lý”; ngoài ra còn có các đánh giá bổ sung về người
nghèo và phụ nữ Tất cả các chỉ thị đều được phân thành 5 hạng (rất xấu – xấu –
trung bình – khá – tốt) dựa theo dựa theo mô tả định tính Nhìn chung việc xếp hạng
phụ thuộc nhiều vào chủ quan của nghiên cứu viên
Cấu trúc chi tiết bộ chỉ thị trình bày ở bảng dưới Danh sách toàn bộ chỉ thị
xem phụ lục
Bảng 1: Cấu trúc bộ chỉ thị TAI 2.0; tử số thể hiện số chị thị lõi, phân số thể hiện
tổng số chỉ thị Các chỉ thị tiếp cận thông tin được sử dụng trong nghiên cứu trường
hợp ở chương 4 được đánh dấu bằng nền màu xám Xây dựng dựa theo bảng các chỉ
thị TAI 2.0 [34]
Nhóm Chủ đề Tiếp cận
thông tin
Tham gia công chúng
Tiếp cận tư pháp
Xây dựng năng lực
Giới hạn tiếp cận 1/1 2/2 2/2
Luật
đặc
thù
Phạm vi và chất lượng tiếp cận
Giới hạn tiếp cận 1/1 1/1 1/1
Cơ quan địa phương 1/1 1/1 1/1
Trang 24Cơ quan địa phương 0/1 0/1 0/1 Công chúng 1/2 1/2 1/2
Cơ quan địa phương 0/1 0/1 0/1 Giới truyền
thông 0/1 0/1 0/1
Tổ chức xã hội dân sự 1/1 1/1 1/1
2.1.2 Nhận xét
Bộ chỉ thị TAI 2.0 bao quát toàn diện các khía cạnh của tiếp cận môi trường
nhưng có hai vấn đề sau:
Một là hướng dẫn phân hạng cho mỗi chỉ thị nhìn chung là các mô tả thiếu cụ
thể, ví dụ như ở đối với chỉ thị 11 “Pháp luật yêu cầu cơ quan nhà nước thu thập
hoặc báo cáo thường xuyên và đa dạng các thông tin liên quan ở mức độ nào?”,
nghiên cứu viên sẽ phân hạng theo các mức luật cấm thu thập/báo cáo – không có
Trang 25quy định – hầu như không yêu cầu – yêu cầu ở mức thấp – yêu cầu ở mức trung bình
– yêu cầu ở mức cao Có lẽ đây là sự “mơ hồ có dụng ý” để có thể được áp dụng cho
các nước có bối cảnh khác nhau Tuy nhiên nó khiến cho kết quả đánh giá phụ thuộc
khá nhiều vào chủ quan của nghiên cứu viên
Hai là kết quả đánh giá các chỉ thị chỉ mang tính chất bán định lượng: mỗi chỉ
thị được gán cho một hạng nhất định (từ kém đến tốt hoặc từ yếu đến mạnh) Mặt
khác chỉ có phân hạng cho từng chỉ thị (từng khía cạnh của tiếp cận) mà không có cơ
chế kết hợp các thông tin này thành những đánh giá khái quát hơn Như vậy việc
quan sát chiều hướng thay đổi của tiếp cận theo thời gian cũng như so sánh tiếp cận
giữa các đối tượng cùng loại (ví dụ so sánh tiếp cận thông tin ở hai huyện, hai tỉnh)
đều gặp khó khăn
Làm thế nào để có thể đánh giá một cách tổng thể và định lượng hóa tiếp cận
môi trường nói chung và tiếp cận thông tin nói riêng? Một trong các giải pháp là xây
dựng một chỉ số tiếp cận môi trường dựa trên các chỉ thị của TAI 2.0
2.2 PHƯƠNG PHÁP KIẾN TẠO CHỈ SỐ
2.2.1 Bản chất và các khái niệm
Từ những năm 1990, Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (United
Nations Development Program - UNDP) trong các báo cáo thường niên về Phát triển
Con người đã công bố lần lượt nhiều chỉ số đo lường sự phát triển con người như
HDI (chỉ số Phát triển con người), HPI (chỉ số Nghèo con người), GPI (chỉ số Tiến
bộ về giới) dựa trên một hệ phương pháp định lượng Nguyễn Đình Hòe và Vũ Văn
Hiếu trong giáo trình Tiếp cận hệ thống trong Môi trường và Phát triển, 2007, đã
tổng quan hệ phương pháp này dưới tên gọi kiến tạo chỉ số và dựa theo đó đề xuất
nhiều chỉ số khác [5]
Từ cách nhìn của tiếp cận hệ thống, kiến tạo chỉ số là phương pháp đánh giá
một trạng thái của một hệ thống thông qua việc mô tả định lượng trạng thái các yếu
tố cấu thành nên hệ thống đó Giả sử cần đánh giá trạng thái của hệ thống A Quá
trình nghiên cứu cho thấy trạng thái A được phản ánh qua một tập n yếu tố {x1, x2,
…, xn}, được đại diện bởi các chỉ thị Trạng thái của A tại một thời điểm nhất định
được biểu diễn bởi một điểm trong hệ không gian pha n chiều, mỗi chiều tương ứng
với một chỉ thị
Trang 26Để đơn giản, giả sử n = 3, ta có trạng thái của A được quyết định bởi ba chỉ
thị x, y, và z Các điểm A1(x1, y1, z1); A2(x2, y2, z3); A3(x3, y3, z3) thể hiện trạng thái
của A ở các thời điểm t1, t2, t3 Mũi tên thể hiện sự thay đổi trong A của hệ thống qua
thời gian.Trong trường hợp việc biểu diễn tập giá trị (x,y,z) không thỏa mãn được
mục tiêu đánh giá A, một hàm số được xây dựng để tổng hợp các giá trị này thành
một giá trị duy nhất Giá trị của hàm số này được gọi là chỉ số:
I = f (x, y, z, Cx, Cy, Cz)
với Cx, Cy, Cz lần lượt là trọng số của x, y, z, phản ánh tầm quan trọng của từng chỉ
thị đối với trạng thái A
Khó khăn chung của phương pháp kiến tạo chỉ số là lựa chọn yếu tố nào làm
chỉ thị, xác định ngưỡng và trọng số cho chúng thường dựa vào các giả định của
người xây dựng chỉ số hơn là các bằng chứng khoa học (ví dụ không có nghiên cứu
nào chứng minh được là giáo dục và mức sống quan trọng như nhau đối với trình độ
Hình 1: Trạng thái hệ thống trong không gian pha: Trạng thái của A qua ba thời
điểm khác nhau và các giá trị chỉ số tương ứng trong không gian pha 3 chiều
Trang 27phát triển con người của một quốc gia, hoặc sống lâu bao nhiêu là đủ tốt) Vì vậy có
khoảng cách giữa chỉ số/chỉ thị và thực tế mà chúng phản ánh
2.2.2 Công thức tính chỉ số
Bên cạnh việc xác định các yếu tố lập chỉ thị, cách mà chỉ số được xây dựng
từ các chỉ thị thành phần có ý nghĩa rất quan trọng đến khả năng phản ánh hiện thực
của chỉ số Phần tiếp theo sẽ khảo sát sơ lược ba cách tính chỉ số và chọn ra cách
thích hợp nhất để tính chỉ số tiếp cận môi trường
2.2.2.1 Hàm tổng
Một ví dụ phổ biến của phương pháp kiến tạo chỉ số sử dụng cách tính tổng là
Chỉ số Phát triển con người HDI [37] Trong đó hệ thống xét tới là một quốc gia;
trạng thái nghiên cứu là trình độ phát triển con người của quốc gia đó; các yếu tố
được lựa chọn làm chỉ thị bao gồm tuổi thọ trung bình L, trình độ giáo dục trung
bình E, và mức sống trung bình S với giá trị nằm trong khoảng từ 0 (tệ nhất) đến 1
(tốt nhất) Chỉ số HDI được xây dựng theo hàm số:
HDI = f(L, E, S) = 1/3L +1/3E + 1/3S
Công thức xây dựng chỉ số từ một tổng I = C1x1 + … + Cnxn như công thức
tính HDI khá phổ biến do tính đơn giản của nó
Tuy nhiên, công thức tính tổng tồn tại một yếu điểm về phương pháp luận: nó
biểu diễn hệ thống như là một hệ tuyến tính cấu thành bởi các yếu tố độc lập Một hệ
như vậy chỉ bị tác động bởi sự thay đổi tuyệt đối của từng yếu tố mà “miễn nhiễm”
với sự thay đổi trong tương quan giữa các yếu tố với nhau Để minh họa, xét công
thức sau:
I = x + y (*)
Nếu thêm vào a vào giá trị của x, thêm b vào giá trị của y thì chỉ số I thay đổi như
sau:
I’ = x’ + y’ = (x+a) + (y+b) = I + a + b
Như vậy, sự thay đổi trong giá trị chỉ số đúng bằng tổng tuyệt đối của các thay đổi
thành phần (I‟ – I = a + b) Sự thay đổi trong tương quan giữa x và y (y‟- x‟ = y – x +
a - b) không được thể hiện trong giá trị chỉ số
Trang 28Trong thực tế, có những hệ thống chịu ảnh hưởng mạnh từ tương tác giữa các
yếu tố cấu thành nó Sự cân đối, hài hòa của các yếu tố nhiều khi không kém phần
quan trọng so với tổng tuyệt đối các bộ phận đó Một người có chiều cao, cân nặng
trung bình được coi là khỏe mạnh hơn là một người quá cao so với cân nặng hoặc
quá nặng so với chiều cao Một địa phương có mức độ phát triển kinh tế và chất
lượng môi trường ở dạng trung bình khá có lẽ được ưa chuộng hơn địa phương rất
năng động về kinh tế nhưng ô nhiễm trầm trọng Tương tự, chất lượng tiếp cận môi
trường ở một địa phương sẽ không được đánh giá cao nếu, chẳng hạn, người dân
được mời tham gia thảo luận chính sách nhưng lại thiếu thông tin và thiếu năng lực
để thảo luận
2.2.2.2 Hệ số phân dị mảng
Đối với những hệ thống ưa thích sự cân đối như các ví dụ nói trên, câu hỏi đặt
ra là làm thế nào để đưa tính cân đối/phân dị giữa các thuộc tính vào trong đánh giá
chung cả hệ thống? Một số tác giả đã đề xuất bổ sung vào công thức tổng trọng số hệ
số phân dị mảng15
như sau:
I = x+y chuyển thành I = k (x+y) (k: hệ số phân dị mảng)
Vũ Văn Hiếu (2001) khi đánh giá mức độ bền vững của các trang trại thủy
sản tỉnh Khánh Hòa [4] đã sử dụng hệ số phân dị mảng có dạng:
k1 = x/y (x<y) hoặc k1 = y/x (x>y)
Với x và y là chỉ số bền vững nhân văn và chỉ số bền vững môi trường
Tuy nhiên, hệ số phân dị mảng như trên chỉ áp dụng cho tổng hai số hạng Do
đó, Vũ Thị Hồng Ngân (2008), cũng đánh giá mức độ bền vững các trang trại nuôi
thủy sản [r], sử dụng hệ số phân dị mảng tổng quát cho tổng n số hạng:
k 2 = [𝑛 𝑛 − 1 ]/[2( 𝑛𝑖,𝑖=1;𝑖# 𝑗 𝑋𝑖 − 𝑋𝑗 )]
Nhược điểm chung của cả hai hệ số phân dị mảng trên là chúng cực đoan hóa
ảnh hưởng của phân dị mảng tới đánh giá chung của hệ thống Một hệ thống gồm các
thuộc tính ở mức thấp nhưng đồng đều rất có thể được xếp cao hơn một hệ thống
15Một mảng là một yếu tố được đánh giá thông qua các yếu tố nhỏ hơn, có thể coi mảng là phụ hệ
của hệ thống đang xét.
Trang 29khác có các thuộc tính ở mức cao nhưng chênh lệch lớn Giả sử có 2 hệ A (4,5; 5,5)
và B (6; 10):
Nếu tính tổng đơn thuần A = 10 < B = 16
Nếu áp dụng hệ số phân dị mảng k1: A = 8,2 > B = 4,8
Nếu áp dụng hệ số phân dị mảng k2: A = 10 > B = 4
Hai cách tính cuối có thể dẫn đến cách hiểu là hai trang trại có mức độ bền
vững nhân văn tương tự nhưng trang trại A ô nhiễm thì bền vững hơn trang trại B
thân thiện môi trường Chưa kể nếu trang trại B càng cải thiện chất lượng môi trường
thì nguy cơ “tụt hậu” càng xa do hai mảng càng chênh lệch
Ngoài ra mỗi hệ số phân dị mảng lại có hạn chế riêng Hệ số k1 không áp
dụng được cho hệ thống nhiều hơn hai mảng, hệ số k2 khiến cho giá trị chỉ số không
có ngưỡng trên: khi giá trị chỉ số các mảng tiến gần đến nhau (bất kể các giá trị này
là cao thay thấp), giá trị chỉ số hệ thống tiến đến vô cùng (+∞) Việc phân hạng do
đó là bất khả thi
2.2.2.3 Hàm tích và logarit của tích
Nhằm khắc phục nhược điểm trên, chúng tôi16
không sử dụng hệ số phân dị mảng mà thay tổng bằng một tích [2], tức là:
I = xy (x, y >0)
Với công thức trên, sự thay đổi trong giá trị của x và y đóng góp như thế nào
vào sự thay đổi tổng thể cả hệ thống? Xét hai hệ I(x; y) và I‟(x‟ = x + a; y‟ = y + b):
I’ = x’y’ = (x + a)(y + b) = I + bx +ay + ab
I’ – I = bx + ay + ab
Dễ thấy:
(1) thay đổi của hệ thống (I‟ – I = bx + ay + ab) không những phụ thuộc giá
trị tuyệt đối của thay đổi ở từng bộ phận (ab) mà còn phụ thuộc vào quan hệ giữa
một yếu tố với thay đổi ở yếu tố còn lại (bx + ay)
(2) nếu a = 0; b > 0 hoặc a > 0, b = 0 thì I‟ > I; tức là trong mọi trường hợp sự
cải thiện của một bộ phận có tác dụng cải thiện cả hệ thống (ví dụ một trang trại thủy
16
Công thức tính chỉ số sử dụng hàm tích và logarit của tích được đề xuất bởi Phan Đặng Thu Hà,
Hoàng Phi Long và Nguyễn Đình Khôi, xem [2]
Trang 30sản càng thân thiện với môi trường thì càng bền vững, nếu mức độ bền vững nhân
văn của nó không thay đổi) Điều này có vẻ hiển nhiên trong thực tế nhưng lại không
đạt được khi dùng hệ số phân dị mảng
(3) nếu ab < 0, tức là một yếu tố được cải thiện nhưng yếu tố kia lại kém đi,
tức là tính phân dị giữa các yếu tố tăng lên, thì 2 trên 3 số hạng trong tổng (bx + ay +
ab) sẽ mang dấu âm và làm giảm giá trị I‟ Nói cách khác phân dị không có lợi cho
Các yếu tố tương tác chặt chẽ với nhau trong hệ thống
Sự phân dị giữa các yếu tố làm giảm chất lượng tổng thể
Sự cải thiện của một yếu tố có tác dụng cải thiện chất lượng tổng thể,
bất kể sự biền đổi của các yếu tố khác diễn ra theo chiều hướng nào
Đối với hàm tích và loga, việc xác định trọng số thích hợp là vấn đề cần phải
nghiên cứu sâu hơn
2.2.2.4 Phân hạng
Thông thường việc tính chỉ số đi kèm với phân hạng giá trị chỉ số thành các
khoảng (tốt, trung bình, kém, v.v) Một cách phân hạng chỉ số là dựa theo phân hạng
chỉ thị thành phần Giả sử các chỉ thị thành phần được phân thành n hạng với các
ngưỡng:
1 < t 1 < t 2 < … < t n-1 < 100
Dựa trên các ngưỡng này, chỉ số có thể được phân hạng như sau:
Trang 31Ngoài ra có thể phân hạng theo đối tượng cùng loại (ví dụ khi đánh giá tiếp
cận thông tin có thể chia tất cả các nước đánh giá thành 5 nhóm có chỉ số từ thấp đến
cao) hoặc phân hạng theo mức trung bình của tất cả các đối tượng (ví dụ đạt x% mức
trung bình thế giới được xếp hạng tốt, đạt y% mức trung bình thế giới xếp hạng kém
v.v)
2.3 CÁC PHƯƠNG PHÁP KHÁC
Bên cạnh TAI 2.0 và kiến tạo chỉ số, bốn phương pháp khác cũng được được sử
dụng để thực hiện nghiên cứu trường hợp
2.3.1 Phiếu trưng cầu ý kiến
Còn gọi là phương pháp anket, đây là phương pháp thu thập thông tin gián
tiếp qua bảng câu hỏi, cho phép thu thập ý kiến nhiều người trong một thời gian ngắn
và thuận tiện cho định lượng hóa thông tin Yêu cầu đặt ra là bảng câu hỏi dễ hiểu và
có cấu trúc tốt, tránh cho người trả lời bối rối, bỏ cuộc, hoặc bị dẫn dắt theo chủ quan
người hỏi
2.3.2 Phỏng vấn không chính thức
Trong phỏng vấn không chính thức, người trả lời không biết trước câu hỏi hay
chủ đề phỏng vấn, còn người hỏi cũng lựa theo diễn biến cuộc đối thoại mà đặt câu
hỏi thích hợp Phỏng vấn không chính thức là hình thức phỏng vấn linh hoạt nhất
Do người trả lời không có thời gian chuẩn bị nên việc bóp méo, trốn tránh sự thật
được hạn chế
Trang 322.3.3 Đánh giá nhanh môi trường qua quan sát thực tế
Đây là phương pháp thu thập thông tin về đối tượng nghiên cứu bằng cách
quan sát các dấu hiệu thực tế (màu và mùi của nước, tình trạng thực vật, tình trạng
sức khỏe dân cư, v.v) Giải đoán các dấu hiệu này giúp phát hiện vấn đề, kiểm tra
các thông tin khác và hiệu chỉnh các nhận định Phương pháp này cũng được sử dụng
trong nghiên cứu trường hợp
2.3.4 Thu thập và phân tích tài liệu thứ cấp
Các tài liệu thứ cấp, bao gồm cả các văn bản quy phạm pháp luật, đóng vai trò
quan trọng trong cả xây dựng chỉ số và nghiên cứu trường hợp
Trang 33Chỉ số được xây dựng sau đây áp dụng để đánh giá tiếp cận thông tin môi
trường nước ở các địa phương cấp tỉnh, huyện, xã nằm trên lưu vực sông Chỉ số
không được áp dụng cho các khu vực xuyên biên giới và hải đảo
3.2 CẤU TRÚC CƠ BẢN
Coi chỉ số tiếp cận thông tin môi trường nước địa phương – Alweii (Access to
Local Water Environmental Information Index) là hệ thống được phản ánh thông
qua ba yếu tố là pháp luật, nỗ lực, và hiệu quả Mỗi yếu tố này là một mảng được cấu
thành bởi những yếu tố nhỏ hơn, gọi là phân mảng, ví dụ như luật cơ sở là một phân
mảng của mảng luật Mỗi phân mảng lại được cấu thành bởi các chỉ thị đơn được
xây dựng dựa trên chỉ thị lõi của TAI 2.0 Cấu trúc ba cấp của chỉ số được thể hiện ở
sơ đồ hình 2
Trang 34
3.3 LỰA CHỌN CHỈ THỊ VÀ CÔNG THỨC TÍNH
Chỉ số đang xét được tính toán từ các chỉ số mảng; chỉ số mỗi mảng được tính
toán từ các chỉ số phân mảng và mỗi chỉ số phân mảng được tính toán từ các chỉ thị
đơn xây dựng dựa theo chỉ thị lõi của TAI 2.0 Giá trị tất cả các chỉ thị đơn, chỉ số
phân mảng, chỉ số mảng đều nằm trong khoảng 0 – 10 Các tiêu chí định lượng do
người viết đặt ra sau khi tham khảo hướng dẫn kèm theo TAI 2.0
Nhận định rằng (1) sự chênh lệch về mức độ đảm bảo tiếp cận thông tin giữa
pháp luật, nỗ lực của chính quyền và hiệu quả thực thi sẽ làm giảm chất lượng tổng
thể của tiếp cận thông tin, (2) sự cải thiện một trong ba yếu tố góp phần cải thiện
tổng thể chất lượng tiếp cận thông tin, và (3) sự cải thiện về pháp luật sẽ thúc đẩy sự
cải thiện về mặt nỗ lực và hiệu quả, cũng như sự cải thiện về nỗ lực sẽ tăng cường
hiệu quả thực thi tiếp cận Như vậy, mối quan hệ giữa các mảng pháp luật, nỗ lực,
hiệu quả phù hợp với điều kiện nêu ở mục 2.2.3, hàm logarit của tích sẽ được áp
dụng để tính chỉ số tiếp cận thông tin từ chỉ số ba mảng
Hình 2: Cấu trúc Alweii Chỉ số được xây dựng trên 3 mảng: luật, nỗ lực, hiệu quả Mỗi chỉ số
mảng được tính từ nhều phân mảng (kí hiệu trên hình: L1,…,L5; N1,…, N6; H1, H3)
Trang 35Coi các mảng có tầm quan trọng ngang nhau và các phân mảng có tầm quan
trọng ngang nhau, do đó không đưa vào trọng số cho mảng và phân mảng (hoặc coi
trọng số bằng 1) Coi các chỉ thị lõi trong TAI 2.0 có tầm quan trọng ngang nhau
Nếu n chỉ thị đơn được xây dựng từ cùng một chỉ thị lõi thì mỗi chỉ thị đơn có trọng
số 1/n Nếu một chỉ thị đơn đại diện cho n chỉ thị lõi thì chỉ thị đơn đó có trọng số n
Nến m chỉ thị đơn đại diện cho n chỉ thị lõi thì mỗi chỉ thị đơn có trọng số m/n
Chỉ số mỗi phân mảng được tính bằng cách lấy tổng có trọng số các chỉ thị
đơn, sau đó chia cho tổng số chỉ thị Chỉ số mảng được tính bằng cách lấy trung bình
cộng các chỉ số phân mảng Hàm tổng được áp dụng để đơn giản hóa tính toán; mặt
khác hàm tích không thật sự cần thiết vì các phân mảng và chỉ thị đơn đại diện cho
các yếu tố cùng loại, tính phân dị giữa các phân mảng và giữa các chỉ thị đơn không
cần phải nhấn mạnh
3.4 NỘI DUNG CHI TIẾT
Như được biểu diễn trên hình 2, Alweii được tính toán từ ba mảng là luật, nỗ
lực và hiệu quả Bảng dưới đây mô tả nội dung chi tiết của từng mảng Trọng số của
chỉ thị đơn được coi như bằng 1 trừ trường hợp ghi chú khác Chú ý các chỉ thị luật
không xem xét quy hoạch, kế hoạch, hay bất cứ văn bản nào mang tính chất định
hướng trong tương lai
Bảng 3: Cấu trúc và nội dung Alweii
Cộng 3 điểm cho mỗi tiêu chí đạt được:
“Rõ ràng” nghĩa là quyền đang xét được
đề cập một cách trực tiếp thay vì được rút ra qua các quyền khác
Mặc dù TAI 2.0 coi hiến pháp là một phần của luật cơ sở nhưng xét thấy mức quan trọng và tính
chất liên mảng của của các chỉ thị hiến pháp nên xếp thành một mảng riêng
Trang 36- Quy định toàn diện
- Quy định rõ ràng “Toàn diện”nghĩa là
quy định áp dụng rộng khắp cho tất cả các trường hợp Quy định công dân được bảo vệ khỏi các tổn hại môi trường trực tiếp nhưng không đảm bảo quyền được hưởng các lợi ích gián tiếp từ môi
trường; quy định chỉ cho phép tiếp cận đối với một số loại thông tin nhất định (dù các loại khác không nhất thiết là thông tin mật), hoặc chỉ tiếp cận được thông tin do một số cơ quan nhất định nắm giữ được coi là “không toàn diện”
Cộng 3 điểm cho mỗi tiêu chí đạt được:
- Quy định toàn diện
- Quy định rõ ràng
L13
Những đảm bảo của hiến
pháp về quyền của công
chúng trực tiếp tham gia
Cộng 3 điểm cho mỗi tiêu chí đạt được:
- Quy định toàn diện
Cộng 3 điểm cho mỗi tiêu chí đạt được:
- Quy định toàn diện
Cộng 3 điểm cho mỗi tiêu chí đạt được:
- Quy định toàn diện
Cộng 3 điểm cho mỗi tiêu chí đạt được:
- Quy định toàn diện
- Quy định rõ ràng
L2 PHÂN MẢNG 2: LUẬT CƠ SỞ - CHẤT LƯỢNG, PHẠM VI VÀ GIỚI HẠN CỦA
TIẾP CẬN
Trang 37Khung pháp luật hoàn
thiện ở mức độ nào trong
6: Có luật khung về tiếp cận thông tin
Trong hai trường hợp cuối, cộng 1 điểm cho mỗi tiêu chí đạt được:
- Quy định cụ thể công chúng được quyền tiếp cận thông tin
ở mọi lãnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp, trừ thông tin mật
- Quy định cụ thể công chúng được lấy thông tin ở mọi cấp chính quyền trung ương và địa phương
- Quy định cụ thể mọi cá nhân
và tổ chức đều được tiếp cận thông tin
Cộng 0,5 điểm cho mỗi tiêu chí đạt được
- Có quy định về cách thức tiếp cận thông tin
- Có quy định về thời hạn cung cấp thông tin
Các quy định “đóng vai trò như luật khung” là các quy định nằm trong các luật không phải là luật về thông tin (hoặc tương đương) nhưng áp dụng phổ quát trong mọi trường hợp
“Thông tin” ở đây là thông tin nói chung, không giới hạn trong lĩnh vực nào
Các giới hạn sẽ thu hẹp khả năng tiếp cận thông tin Ví dụ, có quy định về tiếp cận thông tin của báo chí nhưng thiếu quy định về tiếp cận thông tin của công dân là một dạng giới hạn bởi vì nó có thể giúp diễn giải luật thành “chỉ báo chí mới được tiếp cận thông tin”
L22
Pháp luật bảo vệ ở mức
độ nào những công chức
của chính quyền cung
cấp thông tin cho công
10: quy định các biện pháp bảo vệ chính phủ phải cung cấp để bảo vệ các công chức đó
Các sai phạm thường được phát hiện đầu tiên bởi các công chức làm việc trong cơ quan vi phạm Song việc sai phạm không phải lúc nào cũng được khác phục nội bộ, buộc người phát hiện phải công bố sai phạm nhằm
Trang 38gây áp lực cho cơ quan sai phạm Bảo vệ tốt các công chức này góp phần tăng cường tính minh bạch cơ quan nhà nước
Trong thường hợp xác định rõ thông tin mật, cộng thêm 2 điểm cho mỗi tiêu chí được đáp ứng:
- Quy định thời hạn thông tin không còn được coi là mật
- Thông tin mật chỉ xác định trong phạm vi hợp lý
“Phạm vi hợp lý” cho phép tiết lộ thông tin cần thiết cho việc điều tra, nghiên cứu tình trạng môi trường, các nhân tố ảnh hưởng đến
nó, các tác động đến sự
an toàn của con người
và các biện pháp ngăn chăn tác động tiêu cực,
từ đó cho phép công chúng đưa ra những quyết định phù hợp với lợi ích của họ Chú ý rằng chỉ thị này chỉ xem xét thông tin môi trường nói chung
L3 PHÂN MẢNG 3: LUẬT ĐẶC THÙ – CHẤT LƯỢNG, PHẠM VI VÀ GIỚI HẠN CỦA
0: quy định không phải làm báo cáo; hoặc phải làm báo cáo nhưng không được công khai 0: không có quy định
4:Chỉ quy định các báo cáo phải được công khai
Cộng 2 điểm với mỗi tiêu chí đạt được:
- Đưa ra các yêu cầu về phương tiện công bố thông tin
- Quy định thông tin phải được truy cập miễn phí trên Internet và/hoặc các phương tiện truyền thông đại chúng do nhà nước quản lý
Đại diện 3 chỉ thị lõi
- Pháp luật hỗ trợ ở mức độ nào việc công chúng được quyền tiếp cận thông tin một cách toàn diện về lĩnh vực môi trường (nước, không khí, rừng, v.v) liên quan trong trường hợp đang nghiên cứu?
- Pháp luật yêu cầu
cơ quan nhà nước thu thập hoặc báo cáo thường xuyên
Trang 39ở mức độ nào?
- Pháp luật yêu cầu một cơ quan nhà nước ở mức độ nào việc phổ biến công khai tất cả các thông tin đã thu thập hoặc báo cáo của dạng thông tin đang nghiên cứu?
Mỗi chỉ thị có trọng
số 3/5
Các dạng thông tin nghiên cứu: tình trạng môi trường nước, tình trạng vệ sinh nước sạch, các nhân tố ảnh hưởng đến các tỉnh trạng trên, nhân tố ảnh hưởng đến sức khỏe liên quan đến môi trường nước, các hành động liên quan của chính quyền; từ đây gọi
tắt là thông tin môi
trường nước
Hình thức, tính chủ động và phương tiện truyền đạt thông tin có
ý nghĩa lớn đối với ý nghĩa của tiếp cận Các phương tiện có tính đại chúng cao như Internet giúp tiếp cận dễ dàng hơn, ít nhất là cho các
tổ chức xã hội dân sự
L32
Về các thông tin quan trắc môi trường
0: không quy định; hoặc quy định các thông tin không được công khai
4:Quy định thông tin phải được công khai
Cộng 2 điểm với mỗi tiêu chí đạt được:
- Đưa ra các yêu cầu về hình thức công khai thông tin
- Quy định thông tin phải được truy cập miễn phí trên internet và/hoặc các phương tiện truyền thông đại chúng do nhà nước quản lý
- Quy định cung cấp thông tin định kì nếu có thể
L33
Về báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh/huyện
0: không quy định; hoặc quy định các báo cáo không được công khai
4: Chỉ quy định thông tin phải công khai
Cộng 2 điểm với mỗi tiêu chí đạt được:
- Đưa ra các yêu cầu về hình thức công khai thông tin
- Quy định thông tin phải được truy cập miễn phí trên internet và/hoặc các phương tiện truyền thông đại chúng do nhà nước quản lý
- Quy định cung cấp thông tin định kì nếu có thể
L34
Về thông tin trong tình huống khẩn cấp
0: quy định chính quyền không cần cung cấp thông tin trong tình huống khẩn cấp
0: không có quy định riêng cho tình huống khẩn cấp
Trang 406: quy định thông tin trong tình huống khẩn cấp chỉ cần cung cấp theo yêu cầu
8: Quy định chủ động công khai thông tin cho tình huống khẩn cấp
Đối với trường hợp dưới cùng, cộng 2 điểm nếu có quy định hình thức thông báo
Thông tin cần được trình bày một cách dễ hiểu thì tiếp cận mới hữu ích cho công chúng
Trong tình huống khẩn cấp, thông tin cần được cung cấp chủ động vì trong nhiều trường hợp, công chúng không biết tình huống khẩn cấp đang diễn ra nên không đưa ra yêu cầu thông tin, nếu nhà chức trách chỉ cung cấp thông tin theo yêu cầu thì thông tin về thực tế không tiếp cận được
L35
Về hình thức trình bày thông tin môi trường khi đưa ra công chúng
0: không quy định 5: yêu cầu cho một số loại thông tin
8: yêu cầu cho tất cả các loại thông tin được công khai
Cộng thêm 2 điểm nếu có hướng dẫn pháp lý về các tiêu chí cụ thể cần đạt được đối với hình thức trình bày
L36
Những giới hạn về yêu
cầu bảo mật đối với
thông tin môi trường
nước trong pháp luật rõ
ràng và chặt chẽ ở mức
độ nào?
0: không quy định 6: cho phép chính quyền địa phương và doanh nghiệp không công bố thông tin để bảo vệ lợi ích chính đáng
Cộng 2 điểm cho mỗi tiêu chí đạt được
- quy định cụ thể các tiêu chí cho phép không công khai thông tin
- Yêu cầu công khai tất cả thông tin liên quan trừ bí mật quốc gia hoặc bí mật kinh doanh (nếu có quy định về bí mật kinh doanh)
Nếu quy định các thông tin bảo mật không rõ ràng, nhà chức trách hoặc doanh nghiệp có thể bảo mật
cả những thông tin đáng lẽ phải được công khai Khác với chỉ thị
L23, chỉ thị này xem xét riêng thông tin môi trường nước
L4 PHÂN MẢNG 4: XÂY DỰNG NĂNG LỰC
L41
Pháp luật yêu cầu ở mức
độ nào đối với các cơ
quan có trách nhiệm
0: không yêu cầu 3: Có yêu cầu đối với cơ quan cấp quốc gia
Đại diện cho ba chỉ thị lõi:
- Pháp luật yêu cầu ở