1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn kinh tế chính trị MácLênin ở trường Cao đẳng sư phạm Lạng Sơn

138 1,2K 13

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 784 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sử dụng các phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực của sinh viên trong quá trình dạy học là xu thế chung của thế giới hiện nay. ở nước ta, phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động và sáng tạo đã được khẳng định trong Luật giáo dục. Bởi vậy, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động của người học đang trở thành chiến lược của ngành giáo dục và đào tạo cả nước và đó cũng là một yêu cầu khách quan của việc đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp CNH, HĐH. Trong đó, việc kiểm tra, đánh giá kiến thức và kỹ năng của sinh viên có vị trí rất quan trọng, nó vừa giữ vai trò thúc đẩy quá trình dạy học, lại vừa có vai trò bánh lái, giúp giáo viên điều chỉnh phương pháp dạy và giúp sinh viên thay đổi phương pháp học tập để phù hợp với hình thức, phương pháp thi và kiểm tra nhằm đạt kết quả cao.

Trang 1

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Sử dụng các phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực củasinh viên trong quá trình dạy học là xu thế chung của thế giới hiện nay ởnước ta, phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động vàsáng tạo đã được khẳng định trong Luật giáo dục Bởi vậy, đổi mới phươngpháp dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động của người học đang trởthành chiến lược của ngành giáo dục và đào tạo cả nước và đó cũng là mộtyêu cầu khách quan của việc đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng đòi hỏi của sựnghiệp CNH, HĐH Trong đó, việc kiểm tra, đánh giá kiến thức và kỹ năngcủa sinh viên có vị trí rất quan trọng, nó vừa giữ vai trò thúc đẩy quá trìnhdạy học, lại vừa có vai trò bánh lái, giúp giáo viên điều chỉnh phương phápdạy và giúp sinh viên thay đổi phương pháp học tập để phù hợp với hìnhthức, phương pháp thi và kiểm tra nhằm đạt kết quả cao

Trong những năm gần đây, để đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới, giáodục ở bậc Đại học, Cao đẳng đang từng bước thay đổi chương trình vàphương pháp đào tạo để phù hợp với điều kiện phát triển của thời đại…, tuynhiên việc kiểm tra, đánh giá vẫn chưa được nghiên cứu một cách đúngmức, nhiều khi còn tuỳ tiện chủ quan, thiếu chính xác, mang tính hình thứcchủ nghĩa… nên việc đánh giá chất lượng đào tạo chưa thực chất và cònnhiều vấn đề bất cập trong việc sử dụng nguồn nhân lực trong xã hội Điều

đó cho thấy việc thay đổi một hệ thống chương trình và phương pháp đàotạo mà không thay đổi cách thức kiểm tra đánh giá thì cũng không thể đạtđược mục đích mong muốn

Thực tế cho thấy quá trình học tập của sinh viên trường Cao đẳng sưphạm Lạng Sơn còn nhiều khó khăn và bất cập, sinh viên chủ yếu là ngườidân tộc thiểu số, điều kiện học tập nhiều khó khăn, thiếu thốn, trình độ nhậnthức còn nhiều hạn chế, việc học tập của sinh viên còn lệ thuộc vào giáoviên, chưa chủ động trong học tập… điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến mục

Trang 2

tiêu giáo dục và đào tạo Đặc biệt trong học tập các môn khoa học Lênin nói chung và môn Kinh tế chính trị Mác-Lênin nói riêng.

Mác-Vậy, để đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của thực tiễn trong việc pháttriển kinh tế - xã hội, đồng thời nhằm nâng cao chất lượng dậy và học mônKTCT ở trường CĐSP Lạng Sơn, cần phải nghiên cứu một cách toàn diện,làm sáng tỏ về lý luận và thực tiễn việc kiểm tra, đánh giá từ đó đề xuất cácbiện pháp phù hợp với đặc điểm, nhiệm vụ dậy học môn KTCT Mác-Lênintrong thời kỳ mới Đây là vấn đề cơ bản, cấp bách hiện nay thôi thúc tôi

chọn đề tài: “Đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn kinh tế chính trị Mác-Lênin ở trường Cao đẳng sư phạm Lạng Sơn”.

2 Lịch sử nghiên cứu

Từ lâu trong lịch sử giáo dục những người làm công tác giáo dục đã

sử dụng phương pháp kiểm tra để đánh giá kết quả học tập của người học,đồng thời nhận thấy mối quan hệ giữa kiểm tra và đánh giá chất lượng dạy

và học Cho nên, trong lịch sử giáo dục vấn đề kiểm tra, đánh giá chất lượngdạy học luôn thu hút sự quan tâm chú ý của các nhà khoa học giáo dục vàcác nhà sư phạm trong và ngoài nước

Nhận thức được điều đó, nhiều nhà khoa học đã không ngừng tập trungnghiên cứu và làm sáng tỏ bản chất, cơ chế, chức năng của việc KT, ĐG trongquá trình dạy học, trên cơ sở đó nhằm tìm ra các biện pháp nâng cao hiệu quảcủa việc KT, ĐG kết quả học tập của người học, góp phần tối ưu hoá quá trìnhdạy học

2.1 Trên thế giới

ở Châu Âu, ngay từ thời kỳ văn hoá phục hưng để chống lại nền giáodục kinh viện mang bản chất duy tâm, hướng vào chúa, vào nhà thờ… cácnhà giáo dục tiêu biểu như Vittôrinô (ý), Eraxmơ (Hà Lan), Môngtenhơ(Pháp), TômatMorơ (Anh)… và còn nhiều nhà giáo dục nổi tiếng khác nữa

đã đưa ra nhiều tư tưởng đổi mới giáo dục nhằm giải thích giáo dục theohướng khoa học Cùng với việc đưa ra các tư tưởng giáo dục tiến bộ, các

Trang 3

nhà giáo dục cũng bước đầu quan tâm thay đổi cách thức thi cử để góp phầnnâng cao chất lượng dạy-học.

Đến thế kỷ XVI – XVII, kế thừa và phát triển tư tưởng giáo dục tiến

bộ trong thời kỳ phục hưng, nhiều nhà giáo dực như: J A Cômenxki, J.Ruxô, Rabelais… đã phê phán mạnh mẽ cách thức dạy học, thi cử đươngthời làm cho học sinh thụ động, ghi nhớ máy móc, một chiều; trong đó:

Rabelais đề xuất các phương pháp dạy học và đánh giá kết quả họctập theo hướng gắn giữa học và hành, lý luận với thực tiễn Đặc biệt, ôngyêu cầu phải sử dụng khoa học phương pháp tranh luận công khai, rộng rãivới mọi người trong KT, ĐG đúng chất lượng của học sinh [44; 82]

Như vậy, ngay từ rất sớm trong lịch sử giáo dục của nhân loại tưtưởng về chất lượng thi, kiểm tra đã xuất hiện; đồng thời các biện pháp nângcao chất lượng kiểm tra cũng được đề cập ở những khía cạnh khác nhau.Song đó mới chỉ là các biện pháp mang tính cảm nhận, chưa thấy nhữngcông trình mang tính chuyên sâu về KT, ĐG kết quả học tập của người học

Từ sau Cách mạng tháng Mười ở Liên Xô cũ, trong thời kỳ đầu xâydựng nhà trường Xô Viết, người ta đã nhận thức được vai trò to lớn củakiểm tra, thi cử không chỉ là cơ sở thực tiễn để đánh giá mà còn tạo thuận lợicho việc giáo dục ý thức học tập, phát triển khả năng và các phẩm chất nhâncách của học sinh Nhưng trong thực tế các biện pháp thực hiện lại khôngphù hợp và thiếu đồng bộ nên hiệu quả các hình thức đánh giá trong quátrình dạy học còn nhiều hạn chế

Đến những năm 30 - 40 của thế kỷ XX, trước yêu cầu cấp bách pháttriển sự nghiệp giáo dục và trong môi trường chính trị - xã hội thuận lợi, lýluận giáo dục Xô Viết được quan tâm phát triển Từ giữa những năm 30, ởLiên Xô đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về kiểm tra,đánh giá kết quả học tập của học sinh của các tác giả Trong đó, nhiều vấn

đề về lý luận và thực tiễn của kiểm tra, đánh giá đã được bàn tới, nhất là vềtính khách quan trong việc đánh giá tri thức học tập của học sinh Về chất

Trang 4

lượng thi, kiểm tra, mặc dù chưa đặt vấn đề nghiên cứu một cách trực tiếp,nhưng những khía cạnh có liên quan đến chất lượng đã được đề cập trongcác công trình nghiên cứu đó với những mức độ khác nhau.

Đến những năm 50 - 60 của thế kỷ XX, số lượng các công trìnhnghiên cứu chuyên sâu và các công trình nghiên cứu có liên quan về kiểmtra, đánh giá kiến thức của học sinh xuất hiện nhiều Các tác giả nhưI.A.Cairôp, N.K.Ginsarop, B.P.Exipop… trong các công trình nghiên cứucủa mình đã cho rằng: Đề thi, kiểm tra có thể trở thành một phương tiệngiúp học sinh giành lấy một lượng tri thức cao độ thì cần phản ánh kháchquan chất lượng tri thức của học sinh và phải giải thích ưu, khuyết điểmtrong tri thức và trong câu trả lời của họ ngay trong lúc chấm bài [40; 110].Nhiều sai lầm về cách thức tổ chức đánh giá kết quả học tập của học sinhnhư trước đây đã được khắc phục Người ta khẳng định: “Không tổ chứcđúng đắn việc kiểm tra kiến thức thì không thể bảo đảm tốt việc đào tạo họcsinh” [40, 120] Các vấn đề về nội dung thi, kiểm tra, phương pháp, hìnhthức đánh giá được đưa ra xem xét khá toàn diện

Vào những năm 70 - 80 của thế kỷ XX, trước yêu cầu ngày càng caocủa sự nghiệp giáo dục, bồi dưỡng, đào tạo những con người mới phát triểntoàn diện, vấn đề chất lượng dạy học nói chung và kiểm tra đánh giá tri thứcnói riêng đã được các nhà lý luận và các nhà sư phạm dành cho sự quan tâmđặc biệt Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức trong tài liệu “Vấn đềkiểm tra, đánh giá tri thức trong lịch sử giáo dục và nhà trường” [18; 17-20]thì thời kỳ này số lượng các nghiên cứu về kiểm tra, đánh giá tri thức họcsinh trong nền giáo dục Xô Viết tăng nhanh Phạm vi, phương hướng nghiêncứu của các công trình đó được khái quát như sau:

V.M.Pôlôxki, I.P.Vnucôva… tập trung nghiên cứu về lịch sử và một

số vấn đề cơ sở chung của việc KT, ĐG tri thức học tập của học sinh Trongphương hướng này, các tác giả trên đã nghiên cứu, kế thừa, phát triển các

Trang 5

kinh nghiệm của quá khứ; làm rõ các chức năng, các nguyên tắc KT, ĐGtrong quá trình dạy học…

G.M Apônhina, V.I.Lôzôvaia; M.V.Gorbatrevxkaia… nghiên cứu vềhình thức, phương pháp kiểm tra; các câu hỏi, các loại bài tập

I.V.Papakhtrian, R.P.Krivốapôva… nghiên cứu về các nguyên tắc cơbản trong KT, ĐG tri thức của học sinh như: Nguyên tắc đảm bảo tính hệthống, liên tục; nguyên tắc đảm bảo tính khách quan…

Như vậy, vấn đề KT, ĐG trong quá trình dạy học và chất lượng của

nó đã được nhiều nhà khoa học giáo dục Xô Viết quan tâm Trong đó, nhiềunguyên tắc KT, ĐG đã được xây dựng; các yêu cầu đối với việc ra đề, chấmbài, sử dụng phương pháp, phương tiện… kiểm tra đã được đặt ra Tuynhiên, các kết quả nghiên cứu này cần được bổ sung, phát triển mới đáp ứngđược yêu cầu nhiệm vụ dạy học trong tình hình mới

Vấn đề KT, ĐG kết quả học tập của sinh viên đã được nhiều tác giảnước ngoài nghiên cứu, tìm hiểu Mặc dù có các quan điểm, cách nhìn nhậnkhác nhau song hầu hết các tác giả đều tập trung nghiên cứu và làm sáng tỏ,chức năng, ý nghĩa, tầm quan trọng của việc KT, ĐG Những công trìnhnghiên cứu này đã được sự quan tâm của giới chuyên môn và trở thành cơ

sở của việc KT, ĐG trong nhà trường Việt Nam

2.2 ở Việt Nam

ở nước ta cũng có nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu khá sâusắc về vấn đề KT, ĐG Trong quá trình phát triển lịch sử giáo dục nước nhà,vấn đề thi, kiểm tra luôn được sự chú ý quan tâm của xã hội và nhà trường.Tuỳ theo đặc điểm, giai đoạn phát triển, vấn đề KT, ĐG chịu sự chi phối bởihoàn cảnh đất nước, tạo nên sự đa dạng phong phú cả trong nhận thức cũngnhư cách tổ chức thực hiện

Dưới chế độ phong kiến, nhà nước ta đã hết sức coi trọng vấn đề thi

cử và chỉ đạo hệ thống giáo dục chủ yếu bằng việc tổ chức các kỳ thiHương, thi Hội, thi Đình Do đặc điểm của xã hội phong kiến nước ta, việc

Trang 6

bổ dụng quan lại vào bộ máy nhà nước chủ yếu được lựa chọn thông qua các

kỳ thi nên chất lượng các kỳ thi có quan hệ chặt chẽ với vận mệnh của đấtnước

Lịch sử phát triển của dân tộc đã cho thấy, tất cả các chiều đại phongkiến tiến bộ đều rất quan tâm đến chất lượng các kỳ khoa cử bằng các hìnhthức tổ chức thích hợp nhằm tuyển chọn được nhiều hiền tài ra góp công xâydựng và bảo vệ Tổ quốc

Tuy nhiên cũng có nhiều quy định phiền toái, gò bó, gây nhiều khókhăn và hạn chế cá tính, sự sáng tạo của thí sinh trong lúc làm bài như quyđịnh chữ viết phải đúng cách, không được thừa hay thiếu số từ quy định,không được bôi xoá, sửa chữa hoặc phạm huý… Vì những quy định này mànhiều nhà nho rất tài gỏi nhưng không đỗ đạt Tiêu biêu như Trần Tế Xương

với “tám khoa chưa khỏi phạm trường quy”.

Cho đến thế kỷ XVIII, XIX văn hoá phương Tây từng bước xâm nhậpvào Việt Nam, sự xâm lược của thực dân Pháp đã kết thúc các kỳ thi Nho học

ở nước ta

Cùng với quá trình cách mạng hoá giáo dục nước nhà, các cách thức

KT, ĐG kết quả học tập của người học lạc hậu trước đây cũng được bãi bỏ.Các hình thức KT, ĐG được thay thế trong từng bài học, từng cấp học…

Trên những phương hướng căn bản của nền giáo dục cách mạng, đếnnhững năm 50 - 60 của thế kỷ XX, giáo dục nước ta đã đạt được nhữngthành tựu rất đáng tự hào Cũng vào thời kỳ này, sự nghiệp cách mạng đặt ranhững yêu cầu to lớn, bức thiết phải đẩy mạnh lý luận nghiên cứu giáo dục,cung cấp những cơ sở khoa học để phát triển toàn diện sự nghiệp giáo dụccủa nước nhà

Các bài viết về vấn đề này được chia làm hai dạng như sau:

Dạng thứ nhất là bài viết của các tác giả: Đặng Vũ Hoạt, Hà Thị Đức,Trần Bá Hoành, Dương Thiệu Tống… đi sâu vào nghiên cứu một cách có hệthống những cơ sở lý luận chung của vấn đề KT, ĐG tri thức của học sinh

Trang 7

Tác gải Hà Thị Đức trong luận án “Cơ sở lý luận và hệ thống biệnpháp bảo đảm tính khách quan trong quá trình KT, ĐG tri thức của học sinh

sư phạm” đã nêu lên nội dung và kết quả điều tra về nhận thức và thực hiệncác chức năng KT, ĐG trong thực tiễn dạy học hiện nay Theo tác giả, đánhgiá dựa trên đơn vị tri thức là một phương pháp đánh giá khách quan nhất.Trong tương lai, đơn vị tri thức phải là chuẩn để giáo viên dựa vào đó mà

“cân, đong, đo, đếm” trình độ, mức độ chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảocủa học sinh mình” [10; 9]

Tác giả Đặng Vũ Hoạt với bài viết “Một số vấn đề KT, ĐG tri thứchọc sinh” đẫ trình bày những vấn đề lý luận cơ bản về KT, ĐG tri thức, kỹnăng, kỹ xảo của học sinh Tác giả đã trình bày những vấn đề về vị trí, chứcnăng và các quan điểm KT, ĐG tri thức học sinh dưới góc độ lý luận dạyhọc hiện nay Theo tác giả, việc KT, ĐG tri thức là một khâu không thểthiếu được của quá trình dạy học Khi tiến hành KT, ĐG cần thực hiện tốtchức năng phát hiện, điều chỉnh, chức năng phát hiện củng cố, chức nănggiáo dục Ba chức năng này quan hệ mật thiết với nhau, trong đó chức năngthứ nhất là đặc thù” [19; 16]

Tác giả Dương Thiệu Tống đi sâu vào phân tích những ưu điểm củaphương pháp trắc nghiệm và tác dụng của nó đối với việc đo lường thànhquả học tập [29; 40]

Dạng thứ hai là bài viết của các tác giả: Trần Thị Tuyết Oanh, TrangThị Lân, Trần Kiều, Nguyễn Đình Chỉnh… các tác giả trên phê phán nhữnghạn chế của hình thức kiểm tra hiện nay và đã đưa ra một số biện pháp nhằmcải tiến cách thi và kiểm tra trong nhà trường Đồng thời thông qua thực tiễndạy học, các tác giả đã phản ánh một cách đa dạng, nhiều khía cạnh về hệthống KT, ĐG tri thức của học sinh Điều cần lưu ý là thông qua các bài viếtcủa mình, các tác giả đã phê phán nghiêm khắc những yếu tố tiêu cực trong

KT, ĐG tri thức, đặc biệt là những biểu hiện vi phạm tính khách quan Để

Trang 8

góp phần giải quyết tình trạng trên, các tác giả đã đưa ra một số những vấn

đề cần điều chỉnh, đổi mới có ý nghĩa định hướng cho công tác KT, ĐG kếtquả học tập của học sinh

Tác giả Trần Thị Tuyết Oanh yêu cầu phải xây dựng một bộ đề có nộidung phù hợp với mục tiêu môn học; phù hợp với thời gian và phương phápkiểm tra, kỹ thuật trình bày phải rõ ràng, xác định, không làm cho học sinhhiểu sai dẫn tới lạc đề

Tác giả Trần Kiều - Viện khoa học giáo dục với bài “Đổi mới đánhgiá, đòi hỏi bức thiết của đổi mới phương pháp dạy học” đã khẳng định

“KT, ĐG là khâu cuối cùng, song cũng có thể là bước khởi đầu cho chutrình tiếp theo với chất lượng mới hơn của cả một quá trình Từ một phươngdiện khác có thể xem đánh giá là hoạt động nhằm rút ra những phán đoán vềgái trị đạt được và những quyết định cần thiết trên cơ sở thông tin về số liệuthu thập được Do đó đánh giá không chỉ nhằm mục đích phân loại, sànglọc, cũng không chỉ nhằm phát hiện kết quả mà còn phải tìm ra được cácnguyên nhân đa dạng của một thực trạng nào đó” [21; 23]

Tác giả Trang Thị Lân trong bài viết “Việc kiểm tra, đánh giá kết quảhọc tập” cũng nêu: “Trong lý luận dạy học, kiểm tra là một giai đoạn kếtthúc của một quá trình dạy học… đánh giá trong quá trình dạy học là mộtvấn đề phức tạp, luôn chứa đựng nguy cơ không chính xác, dễ sai lầm Vìthế đổi mới phương pháp dạy học phải đổi mới cách KT, ĐG…” [22; 25]

Ngoài ra các tác giả Nguyễn Đình Chỉnh, Khánh Dương, TrươngThành Trung, Nguyễn Minh Thức… [5; 9], [9; 13], [31; 44], [34; 82]…cũng chú ý đến việc sử dụng các hình thức, phương pháp kiểm tra, đánh giá.Trong đó tác giả Nguyễn Đình Chỉnh đưa ra các hình thức là: kiểm tra bằngtrắc nghiệm khách quan, kiểm tra theo chủ đề được biết trước, thi, kiểm trađược sử dụng giáo khoa, giáo trình; làm thực hành, thực nghiệm… [5; 10]

Tóm lai, việc KT, ĐG đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước đềcập tới ở nhiều góc độ khác nhau Hầu hết các tác giả đều làm sáng tỏ vai

Trang 9

trò, vị trí, nội dung của KT, ĐG, mối liên hệ mật thiết giữa kiểm tra và đánhgiá… và xem xét đó là một khâu không thể thiếu trong quá trình dạy học.Tuy nhiên chúng tôi nhận thấy, các công trình nghiên cứu chuyên sâu vềchất lượng KT, ĐG chưa nhiều, mặc dù trong thực tiễn đây là vấn đề đang

có nhiều bức xúc Các công trình nghiên cứu tập trung về chất lượng KT,

ĐG kết quả học tập của môn khoa học nói chung và của các môn khoa họcMác-Lênin nói riêng mới chỉ dừng lại ở phạm vi từng nhà trường, từng mônhọc Các kết quả nghiên cứu chủ yếu mới nêu lên các vấn đề cần giả quyết;những cách thức, biện pháp cụ thể chưa nhiều Nhưng những lý luận trên là

cơ sở quý báu để chúng tôi kế thừa, đồng thời tiếp tục bổ sung, phát triểnmặt lý luận và xây dựng các biện pháp cụ thể đi sâu vào nghiên cứu đề tài

3 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới phương pháp kiểm tra đánhgiá môn KTCT Mác-Lênin ở trường CĐSP Lạng Sơn, luận văn hướng tớixây dựng quy trình và đề xuất biện pháp chủ yếu nhằm đổi mới kiểm tra,đánh giá trong dạy học môn KTCT để nâng cao chất lượng học tập của sinhviên

4 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Thực hiện đổi mới kiểm tra đánh giákết quả học tập môn KTCT của sinh viên trường CĐSP Lạng Sơn

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài xây dựng trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng củachủ nghĩa Mác-Lênin; quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối,quan điểm giáo dục và đào tạo; chủ trương đổi mới, cải tiến phương phápdạy học trong các trường Đại học và Cao đẳng nhằm nâng cao chất lượngđào tạo nguồn nhân lực trong thời kỳ phát triển đất nước hiện nay

- Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, từ nhómphương pháp nghiên cứu lý luận như: đọc, phân loại, phân tích, tổng hợp, hệthống hoá, khái quát hoá… các tài liệu, giáo trình, các công trình nghiên cứu

Trang 10

có liên quan; đến nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn như: phươngpháp quan sát, thực nghiệm, so sánh - đối chiếu, thống kê, và hỏi ý kiếnchuyên gia Đặc biệt, đề tài còn sử dụng phương pháp toán học trong quátrình nghiên cứu.

6 Đóng góp của đề tài

- Xác định phương pháp kiểm tra, đánh giá đúng đắn, phù hợp và vai trò

ý nghĩa của kiểm tra, đánh giá trong giảng dạy các môn khoa học Mác-Lêninnói chung và môn KTCT Mác-Lênin nói riêng ở trường CĐSP Lạng Sơn

- Đánh giá đúng thực trạng việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tậpmôn KTCT ở trường CĐSP Lạng Sơn

- Đề xuất hướng đổi mới cơ bản việc kiểm tra, đánh giá kết quả họctập của sinh viên nhằm nâng cao chất lượng dạy và học đối với bộ mônKTCT Mác-Lênin tại trường CĐSP Lạng Sơn

- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần làm phong phú về mặt lýluận lẫn thực tiễn trong việc đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập mônKTCT ở trường CĐSP Lạng Sơn Đồng thời là tài liệu tham khảo, vận dụnggóp phần đổi mới phương pháp dạy hoc bộ môn KTCT đạt hiệu quả cao

7 ý nghĩa của đề tài

Luận văn góp phần cung cấp cơ sở lý luận cho việc thực hiện đổi mới

KT, ĐG kết quả học tập trong dạy học môn KTCT Mác-Lênin ở các trườngĐại học và Cao đẳng

Luận văn có thể hỗ trợ cho các giảng viên và sinh viên ở các trường Đạihọc và Cao đẳng làm tài liệu tham khảo để có phương pháp học tập tốt hơn

Trang 11

Chương 1

Cơ sở lý luận và thực tiễn của Vấn đề Đổi mới phương pháp kiểm tra,

đánh giá kết quả học tập môn Kinh Tế Chính Trị Mác-Lênin

ở trường Cao Đẳng Sư Phạm Lạng Sơn

1.1 Quan niệm về vấn đề kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn kinh

tế chính trị Mác-Lênin

1.1.1 Quan niệm về kiểm tra, đánh giá

Bất kỳ một quá trình đào tạo, bồi dưỡng nào cũng nhằm tạo ra nhữngbiến đổi nhất định trong con người đó Muốn biết những biến đổi đó xảy ra

ở mức độ nào phải đánh giá hành vi của người đó trong một tình huống nhất

định Sự đánh giá cho phép chúng ta xác định: Một là mục tiêu học tập có đạt được hay không; hai là việc giảng dạy có thành công hay không; ba là

người học có tiến bộ không Nên, việc kiểm tra, đánh giá luôn luôn giữ vaitrò quan trọng Trong quá trình dạy học kiểm tra, đánh giá là một khâu quantrọng không thể thiếu, nó tồn tại khách quan cùng các yếu tố khác của quátrình dạy học Đây là khâu cuối cùng của quá trình dạy học nhằm khẳngđịnh chất lượng dạy học mà mục tiêu đề ra, đồng thời mở ra những địnhhướng mới cho quá trình dạy - học đạt hiệu quả

* Kiểm tra, đánh giá nói chung

Kiểm tra, đánh giá là những thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong nhiềungành khoa học và trong đời sống hàng ngày, có nhiều ý nghĩa khác nhau

Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học

- Kiểm tra là “xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét…” [36; 532]

- Đánh giá là: “Ước tính giá tiền, định giá hàng hoá Nhận định, bình phẩm giá trị…” [36; 287]

Trang 12

Với cách phân biệt và định nghĩa trên, kiểm tra, đánh giá có nghĩa rấtrộng, được hiểu theo nhiều lĩnh vực khác nhau, song nó bao gồm những nộidung chủ yếu sau:

Thứ nhất: Kiểm tra là kiểm định kết quả của công việc dựa trên cơ sở

những thông tin thu được để đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra

Thứ hai: Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán

đoán giá trị về kết quả công việc khó xác định được bằng con số cụ thể trongcuộc sống hàng ngày

Thứ ba: Một cách chung nhất có thể kiểm tra, đánh giá là quá trình

hình thành những nhận định phán đoán về kết quả của công việc dựa vàonhững thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chí, tiêu chuẩn

đã đề ra nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng,điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc

Như vậy, kiểm tra bao giờ cũng hướng tới thực hiện mục đích đượctính bằng lượng và hiệu quả của công việc, cho nên đánh giá có tính mụcđích Xét ở mức độ nào đó kiểm tra và đánh giá có điểm chung: Kiểm tragắn liền với đánh giá, đánh giá được hiểu theo nghĩa là kiểm tra, sự tách biệtgiữa kiểm tra và đánh giá trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong cáclĩnh vực khoa học là rất hạn chế, nó chỉ mang tính tương đối Nói kiểm tra

có nghĩa là đã kèm trong đó sự đánh giá và ngược lại nói đánh giá tức là cần

có sự kiểm tra

* Kiểm tra, đánh giá trong giáo dục

Trong lĩnh vực giáo dục, có rất nhiều định nghĩa về kiểm tra, đánh giátuỳ thuộc vào cấp độ đánh giá, đối tượng, mục đích đánh giá mà mỗi địnhnghĩa đều nhấn mạnh hơn về khía cạnh nào đó của lĩnh vực cần đánh giá

Theo tác giả Lâm Quang Thiệp, kiểm tra bao gồm các việc phán xétthí sinh theo các hệ thống quy tắc hoặc tiêu chuẩn nào đó

Theo Đặng Bá Lãm, trong quá trình dạy học, kiểm tra là quá trình xácđịnh mục đích, nội dung lựa chọn các phương pháp, tập hợp số liệu, bằng

Trang 13

chứng để xác định mức đạt được của người học trong quá trình rèn luyện,học tập và phát triển Kiểm tra bao gồm việc xác định điều cần kiểm tra,công cụ kiểm tra và sử dụng kết quả kiểm tra, tức là đánh giá

Cũng thống nhất với quan điểm trên, Lưu Xuân Mới cho rằng, kiểmtra trong học tập nghĩa là rà soát, xem xét thực tế, đánh giá thực trạng ngườihọc biết gì, biết bao nhiêu hoặc có thể làm được việc gì theo yêu cầu củahọc tập đặt ra, nó bao gồm phương pháp đo lường chính thức cũng nhưkhông chính thức các năng lực của người học

Đánh giá là đưa ra nhận định tổng hợp về các dữ kiện đo lường đượcqua các kỳ kiểm tra/lượng giá người học trong quá trình và khi kết thúcbằng cách đối chiếu so sánh với những tiêu chuẩn rõ ràng đã được xác địnhtrước đó trong các mục tiêu

Nghiên cứu của các nhà giáo dục học nước ngoài:

Những năm 20 của thế kỷ XX, Rantailơ Nhà giáo dục học nổi tiếngcủa Hoa Kỳ đã đưa ra định nghĩa: “Quá trình đánh giá chủ yếu là quá trìnhxác định mức độ thực hiện được của các mục tiêu trong những chương trìnhgiáo dục” [23; 12]

Năm 1977, C.E.BecBi đưa ra một định nghĩa khá hoàn chỉnh, đượcđông đảo các nhà giáo dục thừa nhận: “Đánh giá giáo dục là sự thu thập và

lý giải một cách có hệ thống các bằng chứng, như một phần của quá trình,dẫn tới sự phán xét về giá trị theo quan điểm hành động” Định nghĩa nàyphản ánh việc đánh giá ở cấp độ chung nhất và nhấn mạnh khía cạnh giátrị [23;12]

Nhà giáo dục người Pháp, R.F Mager đưa ra quan niệm: “Đánh giá làviệc miêu tả tình hình của học sinh và giáo viên để dự đoán công việc phảitiếp tục và giúp học sinh tiến bộ” [40; 34]

Trang 14

Các nhà giáo dục Philippin cho rằng: “Đánh giá là sự phân tích tácđộng của chương trình vào cá nhân, vào hệ thống giáo dục và vào hệ thốngphát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng” [23; 12]

Trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm của các nhà giáo dục học trong

và ngoài nước nên trong quá trình giảng dạy chúng ta có thể hiểu khái niệmkiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên như sau:

Kiểm tra là việc thu thập những dữ liệu, thông tin làm cơ sở cho đánh giá Quá trình kiểm tra cho phép làm rõ các đặc trưng về chất lượng và số lượng của kết quả dạy học, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề

ra nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc dạy học.

Đánh giá kết quả học tập là đánh giá các mục tiêu đề ra sau một giaiđoạn học tập, tức là nhằm xác định mức độ nắm được kiến thức, kỹ năng, kỹxảo so với yêu cầu của chương trình đề ra Nội dung đánh giá là những kếtquả học tập hàng ngày, cũng như những kết quả phản ánh trong các kỳ kiểmtra định kỳ và kiểm tra tổng kết các mặt kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của từngmôn học Yêu cầu của đánh giá là xem xét mức độ thông hiểu và bền vữngcủa kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo so với chuẩn của chương trình Kết quả củaviệc đánh giá được thể hiện chủ yếu bằng điểm số theo thang điểm đã đượcquy định, ngoài ra, việc đánh giá thể hiện bằng lời nhận xét của giảng viên.Việc đánh giá kết quả học tập có tác dụng quyết định đối với quá trình dạyhọc, vì nó khẳng định và công nhận những thành quả đã đạt được và địnhhướng những mục tiêu cần phấn đấu trong tương lai

Kiểm tra, đánh giá là hai công đoạn của một quá trình có mối quan hệmật thiết với nhau: đánh giá là khâu cuối cùng của kiểm tra, là chức năngđặc trưng cơ bản của kiểm tra, là kết quả của kiểm tra, dựa vào kiểm tra Nóicách khác, kiểm tra là phương tiện của đánh giá, quá trình đánh giá đượctiến hành bằng các hình thức kiểm tra và các kỹ thuật thu thập thông tinkhác Chính vì lẽ đó, kiểm tra, đánh giá thường đi liền với nhau

Trang 15

Nếu khâu lên lớp của giảng viên vạch hướng cho quá trình học tậpcủa người học thì khâu kiểm tra, đánh giá chính là khâu sơ kết, tổng kết,đánh giá lại quá trình học tập và giảng dạy, từ đó xác định phương hướngtiếp tục tiến lên nhằm đạt được chất lượng và hiệu quả giảng dạy phù hợpvới yêu cầu của mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng Chính vì vậy, kiểm tra, đánhgiá được xem là một khâu của quá trình giảng dạy.

Theo các định nghĩa trên chúng ta thấy khái niệm đánh giá trong giáodục khi thì được các tác giả xử lý theo mục đích, yêu cầu, nội dung của mộtphạm vi hoạt động cụ thể, khi thì được xử lý ở một bình diện khái quát, khithì được xử lý theo hướng nhấn mạnh về mục tiêu, khi thì được xử lý theotheo hướng nhấn mạnh về tính chất hay quy trình…

Cùng với khái niệm đánh giá còn có nhiều khái niệm khác nhau được

sử dụng như: Lượng giá, đo lường, kiểm tra, thi, kết quả học tập của họcsinh, sinh viên những khái niệm này được hiểu như sau:

- Lượng giá (assesment): Đưa ra thông tin, có tính ước lượng về trình

độ của học sinh Mục đích của lượng giá là bước đầu cho thấy mức độ đạtđược mục tiêu giáo dục của mỗi sinh viên trong tập thể lớp học, trường học,nhưng chưa nói lên một cách cụ thể và thực chất trình độ của sinh viên

- Đo lường (measuremnt): Khái niệm này trong vật lý là so sánh một

đại lượng với một đại lượng khác được chọn làm chuẩn, làm đơn vị Trongđánh giá, đo lường là so sánh một sự vật, hiện tượng với một chuẩn mực nào

đó Khi sử dụng khái niệm đo lường trong đánh giá là muốn để khẳng địnhtính định lượng, tính chính xác, tính đơn nhất của kết quả đánh giá

- Kiểm tra (testing): Là phương tiện và hình thức của đánh giá Trong

kiểm tra người ta xác định trước các tiêu chí và không thay đổi chúng trongquá trình kiểm tra cũng như không quan tâm đến quyết định cần đề ra Nhưvậy, kiểm tra là quá trình hẹp hơn đánh giá, hay nói cách khác, kiểm tra làmột khâu của quá trình đánh giá

Trang 16

- Thi (examination): Thi cũng là kiểm tra nhưng có tầm quan trọng

đặc biệt, được dùng khi kết thúc một giai đoạn đào tạo, một quá trình đàotạo Nếu trong kiểm tra tính chất “tổng kết” có thể nổi trội hoặc không nổitrội so với tính chất “định hình”, thì trong thi tính chất tổng kết luôn luôn làtính chất nổi trội so với tính chất định hình

- Kết quả học tập được hiểu theo hai cách khác nhau tuỳ theo mục đích của việc đánh giá:

+ Kết quả học tập được coi là mức độ thành công trong học tập củasinh viên, được xem xét trong mối quan hệ với mục tiêu đã xác định, chuẩnkiến thức kỹ năng cần đạt được và công sức thời gian bỏ ra Với cách định

nghĩa này thì kết quả học tập là mức độ thực hiện tiêu chí (Criterion)

+ Kết quả học tập cũng được coi là mức độ thành tích đã đạt được củamột sinh viên so với các bạn cùng học Với cách định nghĩa này thì kết quả

học tập là mức độ thực hiện chuẩn (norm)

Như vậy, kết quả học tập cũng được coi là mức độ thực hiện các tiêu chí

và các chuẩn mực theo mục tiêu học tập đã được xác định trong chương trìnhgiáo dục Dù hiểu theo cách nào thì kết quả học tập đều thể hiện mức độ đạtđược các mục tiêu của dạy học, trong đó bao gồm ba mục tiêu lớn là: Nhậnthức; hành động, xúc cảm Trong quá trình dạy học, đánh giá kết quả học tậpcủa người học chủ yếu là xác định trình độ lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo củangười học trong sự tương ứng với các yêu cầu của chương trình đặt ra

Đánh giá trong giáo dục xét ở các cấp độ, là quá trình được tiến hành

có hệ thống nhằm xác định mức độ đạt được các mục tiêu giáo dục và đàotạo, làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp và hành động giáo dục tiếptheo

- Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên gồm:

+ Kiểm tra, đánh giá quá trình hình thành (Formative evaluation): Là

loại KT, ĐG đem lại thông tin phản hồi về sự nâng cao năng lực của HS, SVtrong quá trình học tập, rèn luyện Loại kiểm tra này được tiến hành thường

Trang 17

kỳ, đòi hỏi sự phản hồi nhanh, nhằm xác định trình độ, khả năng của HS, SVkhi bước vào một nội dung học tập mới; thúc đẩy người học cố gắng, tíchcực làm cho học tập một cách liên tục, có hệ thống; chuẩn đoán những khókhăn, thiếu hụt của người học để giúp họ học tốt hơn, định hướng tiếp tụcdạy - học sang phần tiếp theo.

KT, ĐG thường kỳ thường được thực hiện khi hết một đơn vị họctrình hoặc được thực hiện hàng ngày thông qua quan sát một cách có hệthống hoạt động học tập của HS - SV, qua việc lĩnh hội tri thức mới, ôn tập

và củng cố tri thức cũ cũng như vận dụng tri thức vào thực tiễn

+ KT, ĐG tổng kết (Summative evaluation): là loại kiểm tra, đánh giá

nhằm xác định kết quả đạt được để xếp loại HS - SV hay đi đến quyết địnhcho lên lớp hay cấp bằng, chứng chỉ… Kiểm tra, đánh giá tổng kết cung cấp

số liệu để thừa nhận hay bác bỏ sự hoàn thành hay chưa hoàn thành mộtchương trình học Nó không được tiến hành thường xuyên mà chỉ thực hiệnsau một giai đoạn học tập hay sau khi kết thúc môn học ở từng môn học cụthể, KT, ĐG tổng kết xác định mức độ mà HS, SV đạt được so với mục tiêucủa môn học

- Hiện nay người ta thường dùng ba hình thức đánh giá khác nhau: + Đánh giá thường xuyên: Được giáo viên tiến hành hàng ngày, nhằm

kịp thời điều chỉnh hoạt động của giáo viên và sinh viên, thúc đẩy SV cốgắng, tích cực học tập một cách liên tục thông qua việc quan sát sự tiến bộcủa từng HS, SV trong khi giảng bài, kiểm tra mức độ tiến bộ qua mỗi tiếthọc hoặc mỗi đơn vị kiến thức, từ đó dự đoán nhu cầu của học sinh cho tiếthọc tiếp theo

+ Đánh giá định kỳ: Việc đánh giá định kỳ kết quả học tập của SV

được tiến hành sau từng giai đoạn, là dạng đánh giá thường được thực hiệnsau khi học một phần chương trình hoặc giữa kỳ, cuối một học kỳ để xác địnhkết quả học tập của SV Đánh giá định kỳ có tác dụng giúp giáo viên và sinhviên nhìn lại kết quả làm việc sau một đơn vị kiến thức nhất định, qua đó

Trang 18

củng cố và mở rộng kiến thức đã học, tạo cơ sở để định hướng tiếp tục choquá trình học tập tiếp theo Việc đánh giá định kỳ giáo viên có thể chủ động

sử dụng phương pháp kiểm tra như: Phương pháp vấn đáp, kiểm tra viết tựluận hay trắc nghiệm khách quan hoặc có thể sử dụng phương pháp bài tập…

+ Đánh giá tổng kết: Được thực hiện vào cuối môn học, mỗi năm học,

cuối khóa học hoặc cuối mỗi giáo trình nhằm đánh giá kết quả chung, củng cố

và mở rộng toàn bộ những điều đã học từ đầu năm học hoặc từ đầu giáo trình,đồng thời tạo điều kiện để chuyển sang môn học mới hay năm học mới

Đánh giá này xác định mức độ mà SV đạt được các mục tiêu học tập

đã đặt ra, hay xếp loại theo mục đích nào đó Đây là hình thức đánh giámang tính tổng hợp có ý nghĩa quan trọng trong việc cung cấp thông tincông bằng về kết quả học tập của SV Các kết quả đánh giá này rất quantrọng đối với SV vì nó tác động trực tiếp tới việc xếp loại, công nhận đạt haykhông đạt sau một quá trình học tập… Nếu đánh giá chính xác sẽ làm cơ sởcho những quyết định phù hợp đối với người học, người dạy, nội dungchương trình và phương pháp dạy học

Tóm lại: Kết quả của đánh giá có thể thực hiện được ở mức độ địnhtính hoặc định lượng Khi đánh giá kết quả học tập, người ta thường áp dụnghình thức vừa nhận xét vừa cho điểm

Kiểm tra là phương tiện và hình thức của đánh giá, kiểm tra cung cấpthông tin làm cơ sở cho việc đánh giá Nên có phương pháp đánh giá nào thì

có hình thức kiểm tra đó

* Kiểm tra, đánh giá trong dạy học KTCT Mác-Lênin

Các nhà giáo dục học khi nghiên cứu phương pháp dạy học đều khẳngđịnh KT, ĐG là kết quả của quá trình đào tạo và tự đào tạo của HS, SV sovới mục tiêu đào tạo đã đề ra Nên có thể hiểu một cách khái quát rằng:

KT, ĐG kết quả học tập môn KTCT Mác-Lênin là quá trình thu thập

và xử lý thông tin để có được những nhận xét, đánh giá, xác định được mức

Trang 19

độ đạt được về số lượng hay chất lượng của quá trình lĩnh hội kiến thức, traudồi kỹ năng, kỹ xảo hình thành thái độ của người học… so với mục tiêu họctập của môn KTCT Mác-Lênin.

KT, ĐG kết quả học tập KTCT Mác-Lênin còn là thước đo mức độthành công trong việc nắm vững những tri thức cơ bản, nắm vững bản chất,những quy luật vận động và phát triển của nền kinh tế - xã hội

KT, ĐG trong dạy học KTCT Mác-Lênin sẽ giúp giáo viên có điềukiện phát hiện và điều chỉnh kịp thời cách dạy và cách học phù hợp với khảnăng nhận thức của sinh viên

Trong dạy học KTCT Mác-Lênin, KT, ĐG luôn song hành với nhau

và có mối quan hệ mật thiết gắn bó để khẳng định chất lượng của quá trìnhdạy và học Kiểm tra để có dữ liệu thông tin làm cơ sở cho việc đánh giá,qua đó giáo viên có thể đưa ra nhận xét và cho điểm

Vì vậy, việc kiểm tra, đánh giá nghiêm túc, chính xác trong dạy họcKTCT Mác-Lênin không chỉ xác định được trình độ học tập của SV mà cònđộng viên, khuyến khích tinh thần, thái độ học tập, bồi dưỡng phương pháp,

bổ sung kiến thức cho SV và điều chỉnh kịp thời phương pháp sư phạm củathày Qua kết quả đánh giá giúp giáo viên có những biện pháp sư phạm thíchhợp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học KTCT Mác-Lênin giúp SV hứngthú học tập và học tập tốt hơn

* Tiêu chí đánh giá kết quả học tập môn KTCT Mác-Lênin

Để biết được chất lượng kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy họcmôn KTCT Mác-Lênin đạt đến mức độ nào phải đánh giá theo tiêu chí chấtlượng đã xác định Chúng tôi xây dựng những tiêu chí đó như sau:

- Tiêu chí thứ nhất: làm cho SV dễ dàng bộc lộ đầy đủ, trung thực,

chính xác kết quả học tập của mình theo yêu cầu của kiểm tra, đánh giátrong quá trình dạy học

Trang 20

Kết quả học tập môn KTCT Mác-Lênin của SV không chỉ được phảnánh ở khối lượng, chất lượng tri thức, kĩ năng mà SV đã nắm được, mà còn

ở sự chuyển biến về hành vi, ở sự tiến bộ về thái độ tích cực và năng lực của

SV qua quá trình học tập Kết quả đó tiềm ẩn trong SV và chỉ bộc lộ ra trongnhững điều kiện nhất định, thông qua những sản phẩm trí tuệ xác định Giáoviên tổ chức và tiến hành kiểm tra làm cho SV dễ dàng bộc lộ chính xác,khách quan những kết quả tiềm ẩn đó sẽ cung cấp thông tin đầy đủ, chínhxác, cho việc kiểm tra đánh giá

- Tiêu chí thứ hai: Khảo sát được đầy đủ, toàn diện các mặt, các khía

cạnh khác nhau của kết quả dạy và học phù hợp với mục tiêu kiểm tra,đánh giá

Kết quả dạy học bao gồm cả kết quả của hoạt động dạy và hoạt độnghọc, mỗi loại kết quả đó lại là tập hơp của nhiều kết quả cụ thể; ở nhiều mứcđội và trình độ; nhiều mặt và nhiều khía cạnh khác nhau Trong bài làm củamình, SV có điều kiện bộc lộ được những kết quả nhất định, nhưng khôngphải lúc nào cũng thể hiện được tất cả các mặt của kết quả Cần phải căn cứvào mục tiêu kiểm tra, đánh giá ở những thời điểm cụ thể của quá trình dạyhọc để tổ chức và tiến hành thi, kiểm tra, tạo điều kiện để SV thể hiện đầy đủ,toàn diện những mặt, khía cạnh đáp ứng được mục đích của việc kiểm tra đó

- Tiêu chí thứ ba: Tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát hiện chính xác,

kịp thời những sai lệch trong sự phát triển của SV so với mục tiêu dạy học

Phát hiện đúng, kịp thời những sai lệch là căn cứ để điều khiển, điềuchỉnh quá trình dạy học một cách hiệu quả Sai lệch được phản ánh ở sựkhông phù hợp giữa kết quả thực mà SV đã đạt được trong quá trình dạy học

so với mục tiêu yêu cầu đặt ra trong quá trình đó Tổ chức tiến hành kiểmtra, đánh giá sao cho thông qua các bài thi giáo viên và SV dễ dàng so sánhđược kết quả thực sự đã đạt được so với yêu cầu Mọi kết quả chung chungkhông chỉ rõ những ưu, nhược điểm; không chỉ rõ những mặt còn thiếu sót

là chưa thực hiện được chức năng đánh giá của thi, kiểm tra

Trang 21

- Tiêu chí thứ tư: Kích thích được tính tích cực, tự giác và học tập của

SV trong quá trình dạy học

Lý luận dạy học quan niệm, học là “quá trình tự biến đổi mình và làmphong phú mình bằng cách chọn nhập và sử lý thông tin lấy từ môi trườngxung quanh”

Vì vậy tính tích cực, tự giác học tập là yếu tố quyết định chất lượnghọc tập, tính tích cực, tự giác học tập của SV chịu tác động của nhiều mặttrong quá trình dạy học Trong đó kiểm tra, đánh giá tạo ra cơ hội để SV tựkhẳng định kết quả học tập cũng như nhân cách của mình với giáo viên, vớibạn học và với xã hội Do đó, kiểm tra, đánh giá có vai trò kích thích rấtmạnh mẽ tới tính tích cực, tự giác, chủ động học tập, phát triển động cơ họctập của SV Tổ chức kiểm tra cần làm cho SV kết hợp được sự đánh giá củagiáo viên, của tập thể lớp, qua đó sẽ tạo điều kiện cho SV hình thành và pháttriển năng lực tự đánh giá Nhờ đó, kích thích mạnh mẽ tính tích cực, tựgiác, chủ động học tập của SV

- Tiêu chí thứ năm: Tạo điều kiện đổi mới phương pháp dạy học.

Phương pháp dạy học là thành tố năng động trong quá trình dạy học,quyết định nhất tới chất lượng dạy học Đổi mới phương pháp, nâng caochất lượng dạy học luôn luôn được đặt ra và nỗ lực phấn đấu của quá trìnhdạy học Kiểm tra vừa thực hiện đánh giá kết quả dạy học, đồng thời có vaitrò là phương pháp dạy học Thông qua nội dung, phương pháp, phương tiện

tổ chức thực hiện thi, kiểm tra mà tác động tới cách học của SV Vì vậy, cầnxác định nội dung kiểm tra phù hợp với đối tượng và mục tiêu dạy học đã đềra; đặt ra cho SV những yêu cầu cụ thể, rõ ràng cần đáp ứng trong mỗi bài,mỗi chương, mỗi phần… cả về số lượng, chất lượng tri thức, kỹ năng, tháiđộ… họ sẽ chủ động lựa chọn phương pháp học tập Tự tổ chức quá trìnhhọc tập của mình để bài kiểm tra đạt kết quả cao

Mỗi tiêu chí trên phản ánh một mặt về chất lượng, chất lượng kiểmtra, đánh giá càng cao nếu tất cả các tiêu chí đó đều đạt được với mức độ tốt

Trang 22

nhất Vì vậy, cần có những biện pháp thích hợp làm cho từng tiêu chí đóđược thoả mãn sẽ nâng cao chất lượng kiểm tra, đánh giá môn KTCT Mác-Lênin ở trường CĐSP hiện nay.

1.1.2 Các hình thức kiểm tra, đánh giá

Đây là công đoạn cuối cùng trong việc thiết kế quy trình dạy - học.Việc kiểm tra và đánh giá của giáo viên phải kích thích được SV về quátrình học tập của mình Có như vậy chúng ta mới có thể thực sự biến quátrình đào tạo thành quá trình tự đào tạo Nhình chung, việc kiểm tra đánhgiá phải dựa vào chất lượng và hiệu quả đạt được so với mục tiêu đề ra Vìvậy, cần phải đánh giá cả về tri thức, kỹ năng, phương pháp học tập,nghiên cứu, và thái độ, cả về lý thuyết và thực hành nghề nghiệp, phải kếthợp đánh giá định lượng và định tính, kết hợp đánh giá thành tích học tậpcủa từng SV cũng như của cả lớp để có kế hoạch kịp thời điều chỉnh quátrình dạy và học, phải đánh giá một cách kịp thời, khách quan, chính xácnhằm khích lệ SV Muốn thế cần sử dụng nhiều hình thức kiểm tra, đánhgiá, đặc biệt cần xây dựng cả một bộ đề câu hỏi và bài tập thực hành đểđánh giá thường xuyên và kết thúc môn học Tiếp đó, cần công bố kếhoạch kiểm tra đánh giá từ đầu năm hoặc môn học để cho SV có thể chủđộng thiết kế quá trình học tập của bản thân

Có thể phân chia các phương pháp kiểm tra thành ba loại lớn: Loại

vấn đáp, loại viết và loại thực hành (xem sơ đồ hình 1)

Hình 1 Sơ đồ phân chia các loại phương pháp KT, ĐG

Trắc nghiệm khách quan tự luận

Tiểu luận Dạng mở và TL ngắn

Trang 23

Ghép đôi Điền khuyết Nhiều lựa chọn Đúng sai Trả lời ngắn

Vấn đáp kiểm tra được sử dụng trong và sau giờ giảng, sau khi họcmột hay nhiều bài, một hay nhiều chương hay toàn bộ giáo trình

- Ưu điểm của phương pháp vấn đáp.

+ Phương pháp kiểm tra vấn đáp có thể sử dụng ở mọi thời điểmtrong tiết học cũng như trong kiểm tra kết thúc học trình và thi cuối học kỳhoặc thi cuối năm

+ Phương pháp kiểm tra vấn đáp tạo cơ hội cho GV, SV trao đổi trựctiếp với nhau, giúp cho giảng viên thu được những tín hiệu ngược nhanhchóng, thúc đẩy người học học tập thường xuyên, có hệ thống, kịp thời điềuchỉnh hoạt động của giáo viên và của HS, SV tạo không khí làm việc sôinổi, sinh động trong giờ học

+ Hình thức kiểm tra vấn đáp có điều kiện quan tâm, chú ý đến từng

HS, S V

+ Kiểm tra vấn đáp có tác dụng tốt để đánh giá khả năng đáp ứng cáccâu hỏi được nêu một cách tự phát trong một tình huống cần kiểm tra vàcũng thường được sử dụng để xác định thái độ người học

- Hạn chế của phương pháp vấn đáp:

Trang 24

+ Tốn nhiều thời gian.

+ HS, SV không có cơ hội được hỏi những câu hỏi như nhau, khi cần

so sánh và đối chiếu

+ Nếu đặt câu hỏi khó hiểu, không rõ ràng, thiếu chính xác, hoặc câuhỏi quá khó thì kiểm tra vấn đáp có thể kém hiệu quả

Tóm lại: Kiểm tra vấn đáp đánh giá được khả năng diễn đạt bằng lời

và lập luận của sinh viên tốt hơn, kích thích SV tích cực độc lập tư duy.Ngoài ra phương pháp này còn giúp giáo viên kiểm tra tri thức của SV mộtcách nhanh chóng, đồng thời giúp SV tự kiểm tra tri thức của mình một cáchkịp thời Việc lựa chọn phương pháp vấn đáp để KT, ĐG thì thời gian tiếnhành kiểm tra sẽ mất nhiều hơn, điểm số cũng có độ tin cậy thấp hơn so vớiviệc chấm bài trắc nghiệm khách quan hay bài toán kinh tế… Vì vậy,phương pháp này chủ yếu sử dụng để kiểm tra thường xuyên trong quá trìnhlên lớp với quy mô nhỏ, nhằm mục đích uốn nắn SV kịp thời

1.1.2.2 Phương pháp kiểm tra tự luận (essay test)

Kiểm tra viết là phương pháp thu thập thông tin dựa trên bút tích haycông trình còn lưu lại của đối tượng cần đánh giá, làm cơ sở cho việc đánh giá

- Loại kiểm tra viết trước đây thường được sử dụng nhiều nhất vì cócác ưu điểm sau:

+ Cho phép kiểm tra nhiều thí sinh cùng một lúc

+ Thí sinh được suy nghĩ nhiều hơn khi trả lời

+ Có thể đánh giá một vài loại tư duy ở mức độ cao

+ Cung cấp các bài ghi trả lời của SV để nghiên cứu kỹ khi chấm

- Kiểm tra viết dạng tự luận là loại bài kiểm tra bao gồm các câu hỏi

mà SV phải trả lời theo dạng mở, tức là có một sự tự do tương đối để giảiquyết vấn đề mà câu hỏi nêu ra Các bài viết tự luận có ưu điểm đo lường

và đánh giá tốt kỹ năng về lập luận, khả năng tổ chức, sắp xếp, giải quyết,đưa ra ý tưởng mới, hoặc quan sát để đánh giá được sự thuần thục và kỹnăng v.v…

Trang 25

- Bài kiểm tra viết tự luận thể hiện ở hai dạng: Dạng bài kiểm tra vớicâu hỏi mở rộng và dạng bài kiểm tra với câu hỏi tự luận trả lời có giới hạnhay còn gọi là tự luận truyền thống và tự luận ngắn

* Phương pháp kiểm tra dạng tự luận truyền thống

Bài kiểm tra bao gồm các câu hỏi mở rộng (hay thường gọi là bàikiểm tra viết dạng tự luận truyền thống)

Đây là loại câu hỏi có phạm vi rộng và khái quát, HS, SV tự do biểuđạt tư tưởng và kiến thức Bài kiểm tra viết dạng này thường có ít câu hỏi(thông thường có 1 đến 5 câu) và cần phải có nhiều thời gian để trả lời

Bài kiểm tra viết dạng truyền thống có khả năng đo lường kết quả ởmức độ nghi nhớ, hiểu, phân tích, tổng hợp

Ví dụ: Có ý kiến cho rằng, chủ nghĩa tư bản ngày nay đã thay đổi bảnchất điều đó có đúng không? Vì sao?

Với câu hỏi này SV phải hiểu rõ được bản chất của CNTB, phải nắmđược các thay đổi trong quan hệ sản xuất dưới CNTB ngày nay và phảikhẳng định được dù CNTB có những biến dạng trong quan hệ sản xuấtnhưng cũng không thay đổi được bản chất bóc lột của CNTB…

- Ưu điểm của kiểm tra viết dạng truyền thống

+ Câu hỏi dạng tự luận khi được soạn cẩn thận có thể tạo điều kiện đểngười học bộc lộ khả năng suy luận, phân tích, khả năng phê phán, đề xuấtsáng kiến

+ Dạng câu hỏi tự luận truyền thống thường dễ chuẩn bị và mất ít thờigian hơn so với các loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan hay phương phápbài tập

- Hạn chế của kiểm tra viết dạng truyền thống.

+ Phương pháp kiểm tra viết dưới dạng bài tự luận truyền thốngthường có số lượng câu hỏi ít nên khó bao quát được toàn bộ nội dung cầnđánh giá

Trang 26

+ Việc chấm điểm thường khó khăn vì khó xác định được các tiêu chíđánh giá.

+ Độ tin cậy không cao, điểm bài tự luận thường dựa trên sự ướclượng nên bài kiểm tra khó đánh giá được một cách tuyệt đối là đúng haysai Quá trình chấm điểm có rất nhiều yếu tố làm thiên lệch điểm số, chẳnghạn như sự khắt khe ở mỗi người, sự mệt mỏi, sự đãng trí, tâm trạng v.v…

Một trong những cách có thể cải tiến câu tự luận để nâng cao chấtlượng và độ tin cậy là tăng số câu hỏi trong bài kiểm tra, giảm độ dài ở phầntrả lời của mỗi câu Những câu quá dài và tổng quát có thể phân ra làmnhiều câu hỏi ngắn, có giới hạn độ dài của mỗi câu

* Phương pháp kiểm tra với câu tự luận có giới hạn ( trả lời ngắn)

Dạng bài này còn được gọi là tự luận ngắn, loại bài này thường cónhiều câu hỏi hơn bài kiểm tra với loại câu mở rộng Đây là loại bài có cáccâu hỏi được diễn đạt chi tiết, phạm vi câu hỏi được nêu rõ để người trả lờibiết được độ dài ước chừng của câu trả lời

- Bài kiểm tra viết dạng tự luận ngắn có khả năng đo lường các mức

độ khác nhau như: Mức độ nghi nhớ, mức độ hiểu, mức độ áp dụng Bàikiểm tra dạng này đưa ra những tình huống nhỏ trong thực tiễn để trắcnghiệm khả năng vận dụng kiến thức chứ không phải trình bày toàn bộ nộidung lý thuyết, thông thường yêu cầu người học nêu biện pháp tiến hànhhay dự đoán tình hình trên cơ sở những sự kiện đã cho trước

3 Bản chất của địa tô tư bản chủ nghĩa là gì?

4 Mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ ở nước ta là gì?

…?

Trang 27

Với dạng câu hỏi ngắn như thế này SV chỉ cần trình bày một cáchkhái quát, đúng trọng tâm

- Ưu điểm của bài kiểm tra dạng tự luận ngắn:

+ Có thể đánh giá SV ở cấp độ nhận thức và là hình thức hiệu quả đểđánh giá ở cấp độ hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá và phù hợpvới các bài tập giải quyết tình huống thực tế

+ So với câu hỏi dạng trắc nghiệm khách quan, câu tự luận ngắn hạnchế tính ngẫu nhiên, may rủi trong việc lựa chọn phương án đúng vì SV phảigiải thích phương án mình đã lựa chọn

+ Bài kiểm tra dạng tự luận ngắn cho phép ra nhiều câu hỏi hơn, cókhả năng bao quát được nhiều nội dung của môn học hơn so với bài kiểm tradạng tự luận truyền thống Do đó tránh được tình trang việc học “tủ”, họclệch hay may rủi

+ Trong bài kiểm tra với câu tự luận ngắn, nội dung được yêu cầu viết

có thể lượng hóa một cách rõ ràng, cụ thể Nó đề cập tới những vấn đề cụthể, nội dung hẹp hơn nên đỡ mơ hồ hơn đối với người trả lời và ngườichấm, do đó việc chấm điểm dễ hơn và thường có độ chính xác cao hơn

- Nhược điểm của bài kiểm tra dạng tự luận ngắn

+ So với bài tự luận truyền thống, SV có ít cơ hội hơn để thể hiện khảnăng lập luận, sáng tạo hay trình bày hết được vốn hiểu biết về kiến thức lýthuyết và thực tiễn của mình

+ Câu hỏi dạng này mất nhiều thời gian và khó biên soạn hơn, nhất là

để đánh giá được mục tiêu vận dụng

Như vậy, điểm nổi bật của câu hỏi tự luận là có ưu thế đo được trình

độ của SV về khả năng lập luận, đòi hỏi SV phải lập kế hoạch trình bày ýkiến của mình Giáo viên khi chấm có cơ sở bình luận ý kiến của SV Câuhỏi tự luận có thể dùng trong cả kiểm tra vấn đáp và kiểm tra viết

Trang 28

Tuy nhiên phương pháp này cũng có nhiều hạn chế như: trong một bàikiểm tra nội dung đề cập ít nên khó đánh giá kết quả của người học đối vớitoàn bộ chương trình Khi chấm bài mất nhiều thời gian, mang nhiều yếu tốchủ quan của người chấm dẫn tới kết quả thiếu chính xác, gây nhiều sự thắcmắc, tranh cãi trong SV và đôi khi ảnh hưởng tới uy tín của giáo viên.

1.1.2.3 Phương pháp trắc nghiệm khách quan (objective test)

Ngoài các câu hỏi tự luận nói trên, thời gian gần đây trong giáo dục đã

sử dụng các phương pháp trắc nghiệm khách quan trong các kỳ kiểm tra, thi

cử nói chung và KT, ĐG môn KTCT Mác-Lênin nói riêng Thông thườngmột bài trắc nghiệm khách quan có nhiều dạng câu hỏi hơn câu hỏi tự luận,hơn nữa việc chấm điểm cũng hết sức khách quan, công bằng, không phụthuộc vào người chấm

Trắc nghiệm: theo nghĩa rộng là một hoạt động được thể hiện để đo lường năng lực của các đối tượng nào đó nhằm những mục đích xác định.

Trong giáo dục trắc nghiệm được tiến hành ở các kỳ thi, kiểm tra để đánh giákết quả học tập, giảng dạy đối với một phần của môn học, toàn bộ môn họchay đối với cả một cấp học hoặc để tuyển chọn một số người có năng lực nhấtvào một khóa học

ở đây chúng tôi chỉ đề cập đến nhóm câu trắc nghiệm mà trong đề thigồm rất nhiều câu hỏi Đề kiểm tra dạng này bao gồm rất nhiều câu hỏi, mỗicâu nêu lên vấn đề và những thông tin cần thiết để thí sinh có thể trả lời từngcâu một cách ngắn gọn ở nước ta nhiều người thường gọi tắt “trắc nghiệm

khách quan” (obijective test) là “trắc nghiệm”

Phương pháp TNKQ là phương pháp dùng bài trắc nghiệm như mộtcông cụ để đo lường mức độ mà cá nhân đạt được trong một lĩnh vực cụ thể

Phương pháp này được đánh giá là có khả năng đo lường được cácmức độ của nhận thức (biết, hiểu, áp dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá),việc lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của SV

Trang 29

Ví dụ: Khi sử dụng dạng câu nhiều lựa chọn có thể đo được các khả

năng ở các cấp độ khác nhau như: Cấp độ biết, cấp độ hiểu, cấp độ ápdụng…

Hãy lựa chọn phương án đúng nhất cho mỗi câu dưới đây bằng cáchkhoanh tròn vào chữ cái ở đầu dòng

Giá cả ruộng đất phụ thuộc vào:

a) Quan hệ cung - cầu về ruộng đất và về nông sản

b) Số địa tô thu được và tỷ suất lợi tức ngân hàng

c) Lao động hao phí tạo ra ruộng đất, hoặc chi phí bỏ ra để cải tạochất đất

d) Năng suất lao động trong nông nghiệp

Đáp án: b) Số địa tô thu được và tỷ suất lợi tức ngân hàng.

Trong trắc nghiệm khách quan có nhiều kiểu câu hỏi khác nhau:

* Câu ghép đôi (matching items):

Đòi hỏi thí sinh phải ghép đúng từng cặp nhóm từ ở hai cột với nhausao cho phù hợp về nội dung

Ví dụ: Các loại giá trị thặng dư có được do:

1 Giá trị thặng dư:

2 Giá trị thặng dư tuyệt đối:

3 Giá trị thặng dư tương đối:

4 Giá trị thặng dư siêu

ngạch

a) Tăng năng suất lao động xã hội

b) Do kéo dài thời gian lao động và tăng cường độlao động

c) Do áp dụng công nghệ mới sớm hơn các xínghiệp khác

d) Giá trị bóc lột được do nhà tư bản trả tiền côngthấp hơn giá trị sức lao động

e) Do rút ngắn thời gian lao động tất yếu, nâng caonăng suất lao động…

g) Là một bộ phận giá trị mới dôi ra ngoài giá trịsức lao động bị nhà tư bản chiếm không

Đáp án: 1 – g; 2 – b; 3 – e; 4 – c

Trang 30

Đối với loại câu hỏi ghép đôi, người ta thường cho số yếu tố ở cột bêntrái không bằng số yếu tố ở cột bên phải, vì khi các yếu tố ở hai phía bằngnhau, thì hai yếu tố cuối cùng sẽ mặc nhiên được ghép với nhau mà khôngphải lựa chọn.

Ưu điểm của loại câu này là dễ viết, dễ dùng, yếu tố đoán mò giảm đinhiều

Tuy nhiên, nhược điểm của loại câu này là, nếu soạn những câu ởmức độ kiến thức cao đòi hỏi phải công phu Nếu có nhiều yếu tố trong mỗicột, sẽ phải mất nhiều thời gian để đọc và lựa chọn tìm câu ghép đôi

* Câu điền khuyết (Supply items): Nêu một mệnh đề có khuyết một bộ

phận, SV phải tìm ra nội dung thích hợp để điền vào chỗ trống

Ví dụ:

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, thành phần

…………có vai trò quan trọng trong phát triển ……… , giải quyết việclàm, tăng thu nhập Đây là thành phần kinh tế rất năng động, nhạy bén vớikinh tế thị trường, do đó sẽ có những đóng góp không nhỏ vào quá trìnhtăng trưởng kinh tế đất nước

Đáp án: Kinh tế tư nhân – lực lượng sản xuất

Ưu điểm của loại câu này là khó có điều kiện đoán mò vì người trả lờiphải nhớ lại hoặc nghĩ lại hoặc nghĩ ra câu trả lời Loại câu này dễ soạn hơncâu nhiều lựa chọn

Nhược điểm của loại câu này là khi có nhiều chỗ trống trong câu hỏithì dễ làm người trả lời bị rối trí Hơn nữa lại khó xây dựng để có một câutrả lời duy nhất bởi vì có thể có nhiều câu trả lời có giá trị gần như nhau, do

đó cũng gây nên khó khăn khi chấm bài

* Câu trả lời ngắn (sort answer): là câu trắc nghiệm chỉ đòi hỏi trả lời

bằng nội dung rất ngắn

Ví dụ: Những nhận định dưới đây đúng hay sai? Vì sao?

a) Tiền tự đẻ ra tiền là bản chất của tư bản?

Trang 31

b) Lợi tức cho vay là tiền tự lớn lên trong lưu thông?

c) Trong mọi phương thức sản xuất, sức lao động đều là hàng hóa?d) Độ mầu mỡ đất đai tạo ra địa tô TBCN?

e) Sức lao động trở thành hàng hóa khi nào?

g) Tư bản bất biến và tư bản khả biến đều tạo ra giá trị thặng dư?

…?

* Câu đúng sai (yes/no questions): đưa ra một nhận định, thí sinh

phải lựa chọn một trong hai phương án trả lời để khẳng định nhận định đó làđúng hay sai

Ví dụ:

1 Sự thay đổi của hình thức sở hữu là quá trình lịch sử tự nhiên 

2 Tư bản cố định là do bộ phận tư bản tồn tại dưới dạng nguyên liệu,

Đáp án: 1 Đ , 2 S

Ưu điểm của loại câu hỏi này là dễ soạn đối với giảng viên và đượctiến hành nhanh chóng đối với SV Loại câu đúng - sai thích hợp để trắcnghiệm kiến thức về các sự kiện

Nhược điểm: của loại câu này là độ tin cậy cũng như phân loại SVthấp Trong thực tế, không phải chỉ có những trường hợp hoàn toàn đúnghay hoàn toàn sai mà còn có những trường hợp ngoại lệ, do vậy SV chỉ cóhai phương án lựa chọn lấy một là quá hẹp

* Câu nhiều lựa chọn (mulitiple choise questions – MCQ) đưa ra một

nhận định và 4 - 5 phương án trả lời, SV phải chọn để đánh dấu vào mộtphương án đúng hoặc tốt nhất Những phương án còn lại là phương án gâynhiễu, đây là loai câu thông dụng nhất, còn gọi là câu đa phương án

Ví dụ: Hãy lựa chọn phương án đúng nhất cho câu hỏi dưới đây bằng

cách khoanh tròn vào chữ cái ở đầu dòng

Tỷ suất giá trị thặng dư biểu hiện?

a) Quy mô bóc lột của tư bản đối với lao động làm thuê

Trang 32

b) Trình độ bóc lột của tư bản đối với lao động làm thuê.

c) Tính chất bóc lột của tư bản đối với lao động làm thuê

d) Phạm vi bóc lột của tư bản đối với lao động làm thuê

Đáp án: b) Trình độ bóc lột của tư bản đối với lao động làm thuê.

Ưu điểm của loại câu này là: Độ tin cậy cao, vì với số phương án lựa

chọn tăng nên yếu tố may rủi do đoán mò giảm đi Với loại câu nhiều lựachọn, có thể dùng phương pháp phân tích câu hỏi để giữ những câu trắcnghiệm tốt, có thể căn cứ vào các chỉ số thu được sau khi thử nghiệm để xácđịnh những câu quá khó, hoặc quá dễ hoặc mơ hồ hay không so với giá trịmục tiêu trắc nghiệm

Nhược điểm của loại câu này là: Khó soạn câu hỏi, đối với những SV

có óc sáng tạo thì phương án đúng nhất sẽ không thỏa mãn nếu họ tìm ramột phương án hay hơn Tuy nhiên loại câu này có nhiều ưu điểm nên đây

là loại câu hỏi được sử dụng rỗng rãi

Trong kiểu câu trắc nghiệm đã nêu, kiểu câu đúng - sai và kiểu câunhiều lựa chọn có cách trả lời đơn giản nhất Câu đúng - sai cũng chỉ làtrường hợp riêng của câu nhiều lựa chọn với 2 phương án trả lời

Dễ dàng thấy rằng khi một người hoàn toàn không có hiểu biết đánhdấu hú họa để trả lời câu hỏi đúng - sai thì xác suất để họ làm đúng là 1/2hoặc 50%, cũng vậy nếu người đó đánh dấu hú họa để trả lời câu trắcnghiệm nhiều lựa chọn với (n) phương án trả lời thì xác suất để anh ta làmđúng là 1/n

Trong các kiểu câu trắc nghiệm, kiểu câu nhiều lựa chọn được sửdụng phổ biến hơn cả vì chúng có cấu trúc đơn giản, dễ xây dựng thành cácbài thi, dễ chấm điểm Loại câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn thường đượcdùng nhiều nhất là loại có 4 hoặc 5 phương án trả lời, vì số phương án nhưvậy vừa đủ để giảm xác suất làm đúng do hú họa xuống còn 25% đến 20%,đồng thời câu hỏi cũng không quá phức tạp khó xây dựng

Trang 33

Ưu điểm của loại bài trắc nghiệm khách quan thường có nhiều câu trảlời được cung cấp cho mỗi câu hỏi của bài trắc nghiệm nhưng chỉ có mộtcâu trả lời đúng hay câu trả lời tốt nhất Bài trắc nghiệm được chấm điểmbằng cách đếm số lần mà người làm trắc nghiệm đã chọn được câu trả lờiđúng trong số những câu trả lời đã được cung cấp Bài trắc nghiệm được gọi

là khách quan vì hệ thống cho điểm là khách quan chứ không chủ quan nhưnhững bài tự luận Có thể coi là kết quả chấm điểm sẽ như nhau, không phụthuộc vào người chấm Thông thường bài trắc nghiệm khách quan gồmnhiều câu hỏi hơn các bài kiểm tra khác và mỗi câu hỏi thường có thể đượctrả lời bằng một dấu hiệu đơn giản

Với loại đề trắc nghiệm, khi đã có sẵn đáp án, việc chấm bài là hoàntoàn khách quan, chính xác không phụ thuộc vào người chấm, nhất là bài cóthể được chấm bằng máy Đây là ưu điểm lớn của phương pháp trắc nghiệm.Chính vì thế người ta thường gọi phương pháp này là phương pháp TNKQ.Tuy nhiên cũng không thể nói đây là phương pháp tuyệt đối, vì việc soạnthảo các câu hỏi và điểm cho các câu hỏi có phần phụ thuộc vào người soạn

1.1.2.4 Phương pháp bài tập ( bài toán kinh tế, bài tập tình huống)

Trong thực tiễn đánh giá kết quả học tập của HS, SV, không phải chỉxác định xem SV biết và hiểu được gì mà còn phải đánh giá xem họ làmđược gì Để đánh giá một cách đầy đủ về kết quả học tập của SV không phảichỉ dùng các bài kiểm tra viết và các câu hỏi vấn đáp mà cần bổ sung cácphương pháp KT, ĐG khác, việc xây dựng các bài kiểm tra thực hành, bàitoán kinh tế và quan sát việc thực hiện của SV sẽ cho biết những thao tác vàsản phẩm mà SV thực hiện được, qua đó sẽ phân biệt được cái mà mộtngười có thể làm với cái mà họ biết

Các bài tập thực hành sẽ thể hiện những gì mà SV phải làm và làmđược Các bài tập này có thể giao cho cá nhân hoặc cho từng nhóm Các bài

Trang 34

tập phải có tính chuyên biệt đối với từng bài, từng phần của môn học hoặctheo chủ đề…, bài tập cũng có thể kết hợp với kiến thức của vài môn học.Phương pháp này đỏi hỏi SV khả năng tư duy tốt Giúp SV hướng vào

kỹ năng phân tích, suy luận và hình thành tư duy lôgic của mình

Căn cứ vào mức độ phức tạp của các nhiệm vụ thực hành mà bao gồmhai loại bài tập:

- Bài toán kinh tế: Hướng vào kỹ năng phân tích, suy luận và hình

thành tư duy lôgic cho SV (được thể hiện ở chương 2 trong luận văn)

Ví dụ: Một doanh nghiệp sau khi bán hàng, ghi vào sổ sách các khoản

mục sau: khấu hao tài sản cố định 15 USD, chi phí nguyên vật liệu 30 USD,tiền thuê đất 5 USD, tiền thuê lao động 10 USD, lợi nhuận là 15 USD Thuếtrực thu là 3 USD, quỹ tái sản xuất mở rộng là 5 USD

Nếu hàng hóa bán trong điều kiện cung bằng cầu, thì giá trị của hànghóa là bao nhiêu?

Với loại bài tập SV có thể tự đánh giá được khả năng thực hiện củamình Trọng tâm của đánh giá bài tập là hướng vào những gì SV đã làm nên

họ có cơ hội thể hiện những điều đã học theo nhiều cách khác nhau, do đóthể hiện được sự sáng tạo

Ưu điểm: SV có khả năng tư duy sẽ phát huy được năng lực của mình,

gây được hứng thú học tập đối với SV

Kết quả đánh giá rất khách quan, không phụ thuộc vào chủ quan củangười chấm, phương pháp đánh giá tốn ít thời gian

Nhược điểm: Để xây dựng được bài toán kinh tế mất rất nhiều thời

gian, đòi hỏi giáo viên phải có trình độ chuyên môn và có kinh nghiệm

- Bài tập tình huống: Tùy theo mức độ phức tạp và thời gian làm bài,

bài tập tình huống gồm hai loại:

+ Bài tập có giới hạn: Hướng vào kỹ năng trong phạm vi hẹp (làm

một bài tập tình huống như: xây dựng một phương án, xây dựng một biểu đồ

từ số liệu cho trước…)

Trang 35

+ Bài tập mở rộng: Thường phức tạp và mất nhiều thời gian đòi hỏi

SV phải sử dụng nhiều nguồn thông tin (Các tài liệu tham khảo, dùng phỏngvấn, thông qua việc quan sát…) Loại bài tập này có thể tiến hành với sựhợp tác giữa SV với SV và các nhóm SV với nhóm SV, thời gian hoàn thành

có thể dài hơn, được tiến hành trong một số ngày (Tìm hiểu sự kiện kinh tế

ở địa phương, xây dựng một dự án, một kế hoạch kinh tế…)

Hạn chế của phương pháp này là việc chấm điểm cũng chịu ảnh hưởngcủa nhiều yếu tố chủ quan từ phía người làm bài cũng như người đánh giá.Phương pháp đánh giá thực hành cũng như đánh giá bài tự luận truyền thốngthường mất nhiều thời gian để thiết kế bài tập cũng như quá trình quan sát SV

Tóm lại: Thông qua các bài tập thực hành mà SV thực hiện, giáo viên

sẽ đánh giá được khả năng của SV trong việc vận dụng lý thuyết vào nhữngtình huống cụ thể của thực tiễn

Ưu điểm của loại bài kiểm tra này là việc thực hành thường gắn vớicác tình huống thực tế nên giúp cho SV được chuẩn bị để có thể thực hiệntốt hơn các hoạt động trong cuộc sống sau này Đánh giá thực hành sẽ giúpviệc giảng dạy và học tập gắn với thực tế, kích thích hứng thú học tập của

SV, giúp cho môn học hấp dẫn hơn và SV năng động, sáng tạo hơn

1.1.2.5 Kết hợp các phương pháp trên:

Như đã trình bày, có thể thấy mỗi phương pháp KT, ĐG đều cónhững ưu điểm và hạn chế nhất định, không có phương pháp nào là tối ưuhay hạn chế nhất mà phải xem xét chúng trong hoàn cảnh cụ thể Vì vậy,không có phương pháp nào là phương pháp chuẩn duy nhất để đánh giá kếtqủa học tập của SV mà phải áp dụng chúng một cách phù hợp và linh hoạt

Để khắc phục những nhược điểm và phát huy những ưu điểm của mỗiphương pháp chúng ta có thể sử dụng kết hợp nhiều phương pháp trong mộtbài kiểm tra

Chúng ta có thể sử dụng các câu hỏi đã ra ở các phương pháp trên đểghép lại thành các dạng đề khác nhau như: Phương pháp tự luận kết hợp với

Trang 36

phương pháp TNKQ, hoặc phương pháp kiểm tra tự luận kết hợp với bàitập, hay TNKQ kết hợp với phương pháp bài tập…

Như vậy, để đạt được hiêu quả cao trong KT, ĐG kết quả học tập mônKTCT Mác-Lênin, đòi hỏi hình thức kiểm tra, đánh giá phải phong phú, phù hợpvới năng lực nhận thức của SV Nên, giáo viên có thể lựa chọn, kết hợp cácphương pháp khác nhau trong KT, ĐG để đạt được mục tiêu đánh giá, mục tiêugiáo dục

1.2 Vai trò của kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn KTCT Lênin ở trường CĐSP Lạng Sơn

Mác-Kiểm tra, đánh giá là một nhiệm vụ tất yếu không thể thiếu được củaquá trình dạy học nói chung, dạy học các môn khoa học Mác-Lênin nóiriêng, trong đó có môn KTCT ở trường CĐSP Lạng Sơn, kiểm tra, đánh giá

có vai trò rất quan trọng thúc đẩy quá trình dạy - học môn KTCT Lênin, nó có ý nghĩa to lớn đối với cả giáo viên và sinh viên, qua đó giúp

Mác-SV và giáo viên điều chỉnh hoạt động học và hoạt động dạy của mình

1.2.1 Đối với sinh viên

Việc kiểm tra, đánh giá có hệ thống và thường xuyên môn KTCTMác-Lênin sẽ cung cấp thông tin kịp thời cho SV, giúp cho SV tự điềuchỉnh hoạt động học của mình ở các mặt:

- Về kiến thức

KT, ĐG trong môn KTCT Mác-Lênin sẽ giúp cho SV nhận thứcđúng mức độ kiến thức đã đạt được so với yêu cầu của chương trình mônhọc Những bài kiểm tra còn giúp SV hiểu sâu và củng cố tri thức, qua đó họ

tự đánh giá được mình đã tiếp thu những điều đã học ở mức độ nào, cònnhững lỗ hổng nào cần phải bổ sung, điều chỉnh để đạt được kết quả cao hơn

ở những bài học tiếp theo

- Về giáo dục:

KT, ĐG ở môn KTCT Mác-Lênin nếu được tổ chức tốt sẽ có tác dụnggiáo dục rất lớn đối với SV Vì môn KTCT Mác-Lênin không chỉ đơn thuần

Trang 37

trang bị cho SV kiến thức lý luận, mà còn có tác dụng giáo dục kiến thứcthực tiễn Nếu tổ chức KT, ĐG nghiêm túc, đúng quy trình sẽ góp phần hìnhthành ở SV tính tự tin, khả năng nhận xét, đánh giá tình hình thực tiễn đang

diễn ra

- Về kỹ năng:

Thông qua KT, ĐG môn KTCT Mác-Lênin, SV có điều kiện để rènluyện các thao tác tư duy, trí tuệ như: ghi nhớ, tái hiện kiến thức, rèn luyệnkhả năng phân tích, tổng hợp, biết đánh giá các hiện tượng diễn ra trong đờisống kinh tế và vận dụng các quy luật kinh tế vào cuộc sống KT, ĐG tốt sẽtạo điều kiện cho SV phát triển năng lực tư duy khoa học, năng lực tư duysáng tạo, linh họat vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống và để tiếp thunhững kiến thức mới

Như vậy, qua việc kiểm tra các thao tác tư duy như phân tích, so sánh,tổng hợp… không ngừng được hoàn thiện

1.2.2 Đối với giáo viên

Việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn KTCT Mác-Lênin sẽ giúpcho giáo viên có được những thông tin, qua đó điều chỉnh hoạt động dạy củamình cho phù hợp Thông qua bài kiểm tra của SV, giúp cho giáo viên nắmđược một cách cụ thể và khá chính xác trình độ, năng lực của mỗi SV khi họcKTCT Mác-Lênin, từ đó có biện pháp giúp đỡ, khuyến khích kịp thời

Kiểm tra, đánh giá trong dạy học KTCT Mác-Lênin còn tạo điều kiện

cho giáo viên có thể rà soát lại nội dung kiến thức đã truyền đạt cả về phươngpháp và độ sâu sắc, số lượng kiến thức cần cung cấp cho sinh viên Thông qua

đó giáo viên dễ dàng nhận ra những sai sót hay những thành công về phươngpháp truyền thụ của mình và thấy trong mỗi bài kiểm tra những mong muốncủa sinh viên, cũng như những băn khoăn của họ Như vậy, đối với giáo viênthì bài kiểm tra còn là căn cứ, là sự thông báo, là đòi hỏi của đối tượng về nângcao chất lượng giảng dạy

Trang 38

Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của SV có ý nghĩa to lớn, nó vừaphát hiện, điều chỉnh thực trạng dạy học, đồng thời củng cố và phát triểnviệc dạy và học của giáo viên và sinh viên Kểm tra, đánh giá có vai trò rất

quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng, hiệu quả bộ môn KTCT

Mác-Lênin, nó tác động mạnh mẽ đến giáo viên và sinh viên của trường CĐSPLạng Sơn

1.3 Thực trạng việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn KTCT Mác-Lênin ở trường CĐSP Lạng Sơn

Để phục vụ cho hướng nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đã tìm hiểu việckiểm tra, đánh giá các môn khoa học Mác-Lênin nói chung và bộ mônKTCT Mác-Lênin nói riêng ở trường CĐSP Lạng Sơn

Trường CĐSP Lạng Sơn nằm trên địa bàn thành phố Lạng Sơn, mộttỉnh biên giới phía Bắc của đất nước, là địa bàn có nhiều cửa khẩu thôngthương với nước bạn Trung Quốc, kinh tế sôi động và có nhiều dân tộc sinhsống

Được thành lập vào năm 1961 khi đất nước bước vào kế hoạch 5 nămlần thứ nhất xây dựng CNXH Đây là trường đa cấp, đa hệ, HS, SV chủ yếu

là người dân tộc thiểu số sinh sống tại Lạng Sơn Hiện nay trường có cáckhoa: khoa tiểu học, khoa mầm non, khoa xã hội, khoa tự nhiên, khoa ngoạingữ, khoa bồi dưỡng và các tổ trực thuộc Trường có vai trò đào tạo họcviên và sinh viên cho tỉnh nhà, ngoài ra trường còn liên kết với một sốtrường đào tạo môt số chuyên ngành ở các hệ như: liên kết đào tạo giáo viêntiểu học với một số trường cao đẳng và dạy nghề ở Hà Nội, liên kết vớitrường sư phạm Bằng Tường Trung Quốc đào tạo giáo viên ngoại ngữ tiếngTrung…

Bộ môn KTCT là một trong các môn khoa học Mác-Lênin được giảngdạy cho SV cao đẳng ở các ngành học Là một môn khoa học có tính trừutượng, khái quát cao Tổ bộ môn chính trị có 10 giáo viên tham gia giảng

Trang 39

dạy ở các chuyên ngành khác nhau: Triết học Lênin, KTCT Lênin, CNXHKH, Lịch sử Đảng, Tư tưởng Hồ Chí Minh…

Mác-Về trình độ chuyên môn trong Tổ bộ môn có 3 thạc sĩ: 1 chuyênngành Triết học Mác-Lênin, 1 chuyên ngành KTCT Mác-Lênin và 1 đồngchí chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học GDCT Bảy giáo viêntrình độ cử nhân đại học trong đó 2 giáo viên chuyên ngành Lịch sử Đảng và

Tư tưởng Hồ Chí Minh, 2 giáo viên chuyên ngành KTCT Mác-Lênin, 2 giáoviên Triết học và 1 giáo viên CNXHKH Hiện nay môn KTCT Mác-Lênin

có 3 giáo viên giảng dạy, (1 giáo viên trình độ thạc sĩ, 1 giáo viên chuyênngành KTCT, Một giáo viên cử nhân GDCT) Tuy nhiên với quy mô, đặcthù của trường nên giáo viên giảng dạy ở phân môn này có thể sang dạy ởphân môn khác nên sẽ khó khăn trong việc chuẩn bị giáo án lên lớp vì vậychất lượng không cao

Để tìm hiểu thực tiễn vấn đề này chúng tôi đã dùng các phương phápđiều tra cơ bản (sử dụng phiếu điều tra, quan sát, dự giờ, phỏng vấn…) đốivới giáo viên bộ môn KTCT Mác-Lênin và sinh viên năm thứ nhất ở trườngCĐSP Lạng Sơn về các khía cạnh sau:

- Nhận thức của giáo viên và sinh viên về vị trí và vai trò của KT,ĐG

- Tác dụng của KT, ĐG trong dạy và học môn KTCT Mác-Lênin

- Nội dung, phương pháp, hình thức KT, ĐG đã được áp dụng

- Thái độ của giáo viên và SV về các hình thức KT, ĐG

- Những kiến nghị của giáo viên và SV trong việc đổi mới phươngpháp KT, ĐG

Các bước tiến hành điều tra:

- Gặp gỡ, trao đổi với giảng viên giảng dạy bộ môn KTCT Lênin

Mác Dự giờ đồng nghiệp, quan sát dạy và học trên lớp

- Trực tiếp lên lớp

Trang 40

Điều tra bằng Anket nhằm thu nhận ý kiến giáo viên (mẫu AK1 phụ lục 1) và ý kiến SV (mẫu AK2 - phụ lục 2).

-Để xây dựng mẫu phiếu điều tra và phạm vi khảo sát chúng tôi đãtham khảo tài liệu, hỏi các chuyên gia về tâm lý học và giáo dục học cùngcác đồng nghiệp tiến hành xây dựng các câu hỏi điều tra

Quá trình điều tra được tiến hành tham khảo ý kiến của 09 giáo viên(trong đó có 03 giáo viên trực tiếp giảng dạy môn KTCT Mác-Lênin, 6 giáoviên còn lại giảng dạy các môn triết học, CNXHKH, Lịch sử Đảng, Tưtưởng Hồ Chí Minh) tại trường CĐSP Lạng Sơn với mẫu phiếu điều tra gồm

13 câu hỏi, tập trung vào điều tra nhận thức, đánh giá mức độ vận dụng cácphương pháp KT, ĐG, những khó khăn bất cập khi tiến hành KT, ĐG trongdạy học KTCT (Phụ lục 1)

Tiến hành điều tra trên 201 Sinh viên, bao gồm: 52 SV K4 Trung vănkhoa ngoại ngữ, 36 SV K1 Họa, 36 SV K1 Nhạc khoa tiểu học, 31 SV K1 Vật

lý kỹ thuật và 46 SV K2 Tin học khoa tự nhiên với mẫu phiếu gồm 11 câu hỏi(mẫu AK2- phụ lục 2) Chúng tôi cũng tập trung vào vấn đề nhận thức, mức

độ, những thuận lợi và khó khăn… khi thực hiện các phương pháp KT, ĐG

1.3.1 Kết quả điều tra bằng phiếu

* Đối với giáo viên

tư tìm hiểu nâng cao chất lượng việc KT, ĐG trong quá trình dạy học củamình

Ngày đăng: 10/11/2014, 22:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Sơ đồ phân chia các loại phương pháp KT, ĐG - Đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn kinh tế chính trị MácLênin ở trường Cao đẳng sư phạm Lạng Sơn
Hình 1. Sơ đồ phân chia các loại phương pháp KT, ĐG (Trang 22)
Bảng 2: Kết quả kiểm tra phương pháp vấn đáp và tự luận - Đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn kinh tế chính trị MácLênin ở trường Cao đẳng sư phạm Lạng Sơn
Bảng 2 Kết quả kiểm tra phương pháp vấn đáp và tự luận (Trang 93)
Sơ đồ 2:  Quy trình xây dựng câu hỏi vấn đáp và tự luận - Đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn kinh tế chính trị MácLênin ở trường Cao đẳng sư phạm Lạng Sơn
Sơ đồ 2 Quy trình xây dựng câu hỏi vấn đáp và tự luận (Trang 116)
Sơ đồ 3:  Quy trình xây dựng đề trắc nghiệm khách quan - Đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn kinh tế chính trị MácLênin ở trường Cao đẳng sư phạm Lạng Sơn
Sơ đồ 3 Quy trình xây dựng đề trắc nghiệm khách quan (Trang 122)
Sơ đồ 5: Quy trình xây dựng đề kết hợp các phương pháp - Đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn kinh tế chính trị MácLênin ở trường Cao đẳng sư phạm Lạng Sơn
Sơ đồ 5 Quy trình xây dựng đề kết hợp các phương pháp (Trang 129)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w