1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

VẤN ĐỀ KHAI THÁC TÀI NGUYÊN VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở HƯƠNG THỦY TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

69 1,1K 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 2,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 1 Vài nét về vùng đất và con người Hương Thủy, Thừa Thiên Huế1.1. Điều kiện tự nhiên1.1.1Vị trí địa lýNgày 922010, Chính phủ ban hành nghị quyết 08NQCP thành lập thị xã Hương Thủy thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế trên cơ sở toàn bộ huyện Hương Thủy, đồng thời thành lập các Phường thuộc thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế. Tọa độ địa lí:Từ 16o08’ đến 16o29’ vĩ bắc.Từ 107o32’ đến 107o45’ kinh đôngThị xã Hương Thủy nằm về phía Đông Nam, sát thành phố Huế, có tổng diện tích là 458,1749 km2, có 96.525 nhân khẩu (tháng 022010) Ranh giới hành chính:Phía Đông giáp với huyện Phú LộcPhía Tây giáp với thị xã Hương Trà và huyện A LướiPhía Nam giáp với huyện Nam ĐôngPhía Bắc giáp với thành phố Huế và huyện Phú Vang

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

KHOA LỊCH SỬ

HỌ VÀ TÊN : ĐÀM XUÂN KIÊN

Đề Tài: VẤN ĐỀ KHAI THÁC TÀI NGUYÊN

VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở HƯƠNG THỦY

TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

NIÊN LUẬN NĂM THỨ 3 NGHÀNH LỊCH SỬ

Trang 2

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

KHOA LỊCH SỬ

HỌ VÀ TÊN : ĐÀM XUÂN KIÊN

ĐỀ TÀI: VẤN ĐỀ KHAI THÁC TÀI NGUYÊN

VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở HƯƠNG THỦY

TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

NIÊN LUẬN NĂM THỨ 3 KHOA LỊCH SỬ

CHUYÊN NGÀNH: Lịch Sử Thế Giới

KHÓA 34 (2010-2014)

Trang 3

HUẾ, 07/2013

Để hoàn thành chuyến đi thực tế cũng như bài niên luận này, em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong khoa Lịch Sử của trường Đại Học Khoa Học Huế đã nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn, truyền đạt kiến thức lý thuyết và kỹ năng chuyên môn cho sinh viên trong suốt thời gian qua.

Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Quang Hiệp đã nhiệt tình hướng dẫn, truyền đạt những kinh nghiệm của mình để giúp tôi hoàn thành tốt bài niên luận này

Đồng thời, tôi cũng xin chân thành cảm ơn chính quyền và nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế và đặc biệt là anh Võ Kim Mạnh cán bộ thị xã Hương Thủy đã cung cấp nguồn tài liệu và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian đi thực tế.

Bởi thời gian và trình độ còn nhiều hạn chế nên bài niên luận này không tránh khỏi những thiếu sót, vì thế rất mong sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô giáo và các bạn sinh viên Đó là những ý kiến quý báu giúp tôi có rút kinh nghiệm và hoàn thiện hơn trong bài viết sau.

Xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên thực hiện: Đàm Xuân Kiên – Lớp Lịch Sử K34A

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

Ngày nay, “khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường” đã trở trành vấn đề trọng yếu, không chỉ ở trong quốc gia mà còn mang tính toàn cầu Ở nước ta vấn đề này

đã trở thành sự nghiệp không chỉ của toàn Đảng, toàn dân mà còn là nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối chủ trương, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của đất nước

Thời điểm gần đây, vùng Miền Trung nói chung và tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêngđang nổi lên vấn đề được quan tâm – khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế Những vấn đề này đã đặt ra những yêu cầu trong công tác khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Việc khai thác tài nguyên này đòi hỏi phải được quản lí chặt chẽ bỡi lẽ những tài

nguyên ở đây có tầm ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế của tỉnh nhà, và hoạt động khai thác tài nguyên ở đây sẽ tác động đến các nguồn tài nguyên khác (rừng là nguồn tài nguyên quý giá của quốc gia bị ảnh hưởng, tài nguyên nước bị ảnh hưởng, tài nguyên không khí bị ô nhiễm, …) và ảnh hưởng lớn đến môi trường của vùng Trước các vấn đền nêu trên , nâng cao hoạt động quản lí khai thác về tài nguyên và môi trường trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế là yêu cầu cần thiết trước yêu cầu của tình hình thực tế

Đối với Hương Thủy, vốn là một thị xã thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế (thành lập từ ngày 9/2/2010), với nguồn tài nguyên thiên nhiên khá là phong phú, nhất là nguồn tài nguyên khoáng sản và tài nguyên đất Những đặc điểm đó đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo vấn đề khai thác tài nguyên

và bảo vệ môi trường sinh thái thị xã Hương Thủy Tuy nhiên vấn đề bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như việc ngăn chặn ô nhiễm môi trường của địa phương hiện vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển Tài nguyên đang bị suy thoái do việc khai thác và sử dụng thiếu hợp lí, rừng tự nhiên tiếp tục bị tàn phá, đất đai bị xói mòn và thoái hóa, nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt ngày càng bị ô nhiễm, đa dạng sinh học bị suy giảm, nguồn nước mặt và nước ngầm đang bị ảnh hưởng bởi các yếu tố hóa học dùng trong bảo vệ thực vật, dùng trong phát triển công nghiệp, chất thải chưa được thu gom và xử lí triệt để, công tác vệ sinh môi trường còn nhiều yếu kém … Việc gia tăng dân số, nhất là việc di dân tự

do là những sức ép lớn đối với tài nguyên môi trường Việc thi hành pháp luật về bảo vệ nguồn tài nguyên môi trường còn gặp nhiều khó khăn, ý thức tự giác bảo

vệ môi trường chưa trở thành thói quen trong cộng đồng dân cư … đang trở thành những vấn đề lớn đòi hỏi phải đựơc giải quyết

Nghiên cứu đánh giá về khai thác tài nguyên và môi trường tại thị xã Hương Thủy trong giai đoạn hiện nay là để giải quyết vấn đề quản lí việc khai thác tài nguyên cho hợp lí và vấn đề bảo vệ môi trường cho thị xã Hương Thủy là một trong

Trang 5

những vấn đề quan trọng nhưng chưa được nghiên cứu sâu sắc nên cần có những bài nghiên cứu, bài báo cáo, đề tài khoa học, … về vấn đề này Bên cạnh đó, có nhiều dự án điều chỉnh, bổ sung phát triển kinh tế - xã hội huyện đến năm 2015 dần đi vào thực hiện kéo theo những yêu cầu thiết thực đối với công tác quản lí nguồn tài nguyên môi trường một cách hợp lí để phát triển một cách bền vững

Trước những vấn đề này, tôi quyết định chọn đề “vấn đề khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường ở thị xã Hương Thủy trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài

nghiên cứu niên luận Thông qua vế đề được trình bày trong bài niên luận, tôi đưa

ra cái nhìn tổng quan về tài nguyên thiên nhiên, môi trường trên địa bàn thị xã Hương Thủy, hiện trạng, những thành tựu và hạn chế của hoạt động khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường ở địa phương; từ đó tôi đề ra một số giải pháp nhằm giải quyết những khó khăn trong công tác quản lí tài nguyên và môi trường thị xã Hương Thủy trong thời điểm hiện tại và giai đoạn đến năm 2020

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Trên thực tế cũng đã có những đề tài nghiên cứu, những bài báo cáo, bài viết bàn

về vấn đề tài nguyên môi trường trên địa bàn thị xã Hương Thủy nói riêng và tỉnh Thừa Thiên Huế nói chung Một số nghiên cứu, báo cáo, bài viết có thể kể tới đó là: Dây chuyền sản xuất xi măng PC 30 của Công ty cổ phần Long Thọ (Hương Thủy – Thừa Thiên Huế) nằm trong danh sách các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng thuộc Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg ngày 22/4/2003 của Thủ tướng Chính phủ, báo cáo v/v thực hiện quy hoạch khai thác đất san lấp đất làm vật liệu san lấp trên địa bàn thị xã Hương Thủy - Thừa Thiên Huế đến năm 2015 của chủ tịch thị xã Phan Văn Thông, báo cáo tình hình thực hiện Đề án thu gom và

xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị xã Hương Thủy giai đoạn 2011 – 2015 của tưởng phòng Tài Nguyên & Môi Trường thị xã Hương Thủy Nguyễn Duy Sành,

kế hoạch bảo vệ Môi trường thị xã Hương Thủy giai đoạn 2012 – 2015 của chủ tịch thị xã Phan Văn Thông, báo cáo Tình hình quản lý việc khai thác cát, sạn sỏi dọc sông Hương trên địa bàn thị xã Hương Thủy của chủ tịch thị xã Hương Thủy Phan Văn Thông, kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình trọng điểm Bảo vệ Môi trường thị xã Hương Thủy năm 2013 của phó chủ tịch xã Phan Văn Xuân, …Mặc dù đã có nhiều bài nghiên cứu, tác phẩm viết về khai thác tài nguyên và bảo

vệ môi trường ở Hương Thủy – Thừa Thiên Huế, nhưng nhìn chung cũng chỉ mới chỉ dừng lại trên cơ sở báo cáo thống kê hoặc giải quyết một số nội dung nhất định, chỉ nói một cách khái quát, chưa đi sâu vào tìm hiểu vấn đề này Hầu hết trong các tác phẩm này chỉ được tác giả trình bày một cách khái quát, trình bày như một phần trong việc khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường ở Hương Thủy, mà tác giả chưa đi sâu vào vấn đề, chưa giải quyết một cách trọn vẹn, chưa

có đánh giá đầy đủ vấn đề

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 6

Mục đích nghiên cứu:

Đề tài nghiên cứu tập trung tìm hiểu các nội dung chính sau:

- Thực trạng khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường trên địa bàn thị xã Hương Thủy, hoạt động quản lí khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trườngthị xã Hương Thủy

- Các giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả các hoạt động quản lí Khai thác và bảo vệ môi trường thị xã Hương Thủy từ những thực trạng đã nghiên cứu

Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ chủ yếu sau:

- Nghiên cứu thực trạng khai thác, bảo vệ môi trường và hoạt động quản lí khai thác, bảo vệ môi trường trên địa bàn thị xã Hương Thủy

- Từ thực trạng khai thác tài nguyên, bảo vệ môi trường và hoạt động quản lí khai thác tài nguyên, bảo vệ môi trường Để đi sâu tìm hiểu những kết quả

đã đạt được và những hạn chế đang còn tồn tại trong công tác quản lí khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường trên địa bàn thị xã Hương Thủy

- Đề ra được những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động quản

lí khai thác và bảo vệ môi trường thị xã Hương Thủy

- Những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động quản lí nhà nước

về việc khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường ở thị xã Hương Thủy

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu

Vấn đề khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường ở thị xã Hương Thủy, tỉnh ThừaThiên Huế ở giai đoạn hiện nay

 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu về thực trạng khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường trên địa bàn thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế và công tác quản lí nhà nước về việc khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường trên địa bàn thị xã Hương Thủy

5 Mục tiêu của đề tài

Nghiên cứu đánh giá về khai thác tài nguyên và môi trường tại thị xã Hương Thủy trong giai đoạn hiện nay nhằm mục đích giải quyết vấn đề quản lí việc khai thác tài nguyên cho hợp lí và vấn đề bảo vệ môi trường cho thị xã Hương Thủy để phát triển kinh tế - xã hội huyện đến năm 2015 dần đi vào thực hiện kéo theo những yêu cầu thiết thực đối với công tác quản lí nguồn tài nguyên môi trường một cách hợp lí để phát triển một cách bền vững trên địa bàn thị xã Hương Thủy – tỉnh ThừaThiên Huế

Trang 7

6 Phương pháp thực hiện

Đề tài nghiên cứu này có sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học sau:

- Phương pháp điều tra thu thập số liệu;

- Phương pháp khảo sát, thống kê, tổng hợp;

- Phương pháp xử lý thông tin;

- Phương pháp so sánh;

- Phương pháp phân tích, đánh giá;

- Phương pháp lịch sử-logic;

7 Kết cấu của đề tài

Chương 1 Vài nét về vùng đất và con người Hương Thủy, Thừa Thiên HuếChương 2 Vấn đề khai thác tài nguyên ở Hương Thủy, Thừa Thiên Huế

Chương 3 Vấn đề bảo vệ môi trường trong quá trình khai thác tài nguyên nhằm phát triển kinh tế bền vững ở Hương Thủy hiện nay

Trang 8

CHƯƠNG 1 Vài nét về vùng đất và con người Hương Thủy, Thừa Thiên Huế 1.1 Điều kiện tự nhiên

1.1.1 Vị trí địa lý

Ngày 9/2/2010, Chính phủ ban hành nghị quyết 08/NQ-CP thành lập thị xã HươngThủy thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế trên cơ sở toàn bộ huyện Hương Thủy, đồng thờithành lập các Phường thuộc thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế

- Phía Đông giáp với huyện Phú Lộc

- Phía Tây giáp với thị xã Hương Trà và huyện A Lưới

- Phía Nam giáp với huyện Nam Đông

- Phía Bắc giáp với thành phố Huế và huyện Phú Vang

Với vị trí địa lí nêu trên, thị xã có những lợi thế và hạn chế sau:

+ Những năm trước đây và trong thời gian tiếp theo thì thị xã sẽ có lợi thế để trở thành nơi cung cấp lương thực, thực phẩm phục vụ cho đô thị Huế, Đà Nẵng, … rồi các khu công nghiệp Phú Bài, công nghiệp Phú Thứ, công nghiệp Thủy Dương

+ Do ở gần các khu công nghiệp cho nên có điều kiện thuận lợi cho chuyển dịch lao động Nông Nghiệp sang phi Nông Nghiệp, tranh thủ sự trợ giúp của các cơ sở chế biến thức ăn gia súc vào phát triển mạnh chăn nuôi tập trung

- Về hạn chế:

Trang 9

Sức ép tăng thu nhập đối với sản xuất Nông Nghiệp, yêu cầu bảo vệ ngày càng nghiêm ngặt hơn về môi trường ảnh hưởng đến quy mô phát triển các khu vực công nghệ thông tin Do có tuyến quốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ đi qua nên hạn chế đến

số lượng, quy mô diện tích các khu công nghệ thông tin và bị ảnh hưởng lớn về lây lan dịch bệnh từ nguồn bên ngoài thị xã, bên ngoài tỉnh

thuộc, bao gồm 5 phường (phường Thủy Dương, Thủy Phương, Thủy Châu, Phú Bài, và Thủy Lương), 7 xã (xã Thủy Bằng, xã Thủy Phù, xã Thủy Tân, xã Thủy Thanh, xã Thủy Vân, xã Dương Hòa, xã Phú Sơn), xã có diện tích lớn nhất là xã Dương Hòa, với diện tích 26.343,92ha, xã có diện tích nhỏ nhất là xã Thủy Vân, với diện tích 492,50ha Hầu tất cả các phường đều phân bố theo quốc lộ 1A ( ngoại trừ phường Thủy Lương) rất thuận lợn trong việc giao thông giữa các vùng Còn các xã chỉ có duy nhất một xã có đường quốc lộ đi qua đó là xã Thủy Phù, còn các xã khác đều nằm ở những vị trí hiểm trở, khó khăn hơn nên việc giaolưu giữa các xã với phường, thị trấn cũng không mấy thuận lợi

Bảng 1.1: Các đơn vị hành chính thị xã Hương Thủy

Nguồn: phòng thống kê thị xã Hương Thủy, 9/2/2010)

Bản đồ hành chính thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế

Trang 10

Hình 1.1 Bản đồ hành chính thị xã Hương Thủy, Tỉnh Thừa Thiên Huế

1.1.2 Địa hình

Hương Thủy nằm tiếp cận phía Nam thành phố Huế, kéo dài về phía Đông Nam đến Phú Lộc và Tây Nam đến Nam Đông Đồng thời, trải dài ra hai phía Đông Tây đến tận địa giới Phú Vang, Hương Trà, A Lưới; Hầu hết phần lãnh thổ phía Tây đường quốc lộ 1A là đồi núi Đồi núi là quang cảnh nổi bật trong địa hình và thiên nhiên Hương Thủy, chiếm đến 76,33% diện tích Đồng bằng hẹp, chạy một dải phía Đông và Đông Bắc dọc sông Lợi Nông và Đại Giang

Trang 11

Đồi núi và đồng bằng có sự khác nhau cơ bản về nguồn gốc phát sinh và hình thái cấu tạo.

Chiếm vùng đầu nguồn đến trung lưu các khe suối, các sông, chủ yếu là sông Hương, núi ở sông Hương là loại núi thấp dưới 1000m, không có núi trung bình như Phú Lộc, Nam Đông, được tạo thành do đã có một thời mặt đất được nâng cao, kết hợp đồng thời với sự đào lòng mạnh mẽ của sông suối Về hình dạng, các núi cũng khác nhau do được cấu tạo từ những loại đá không giống nhau Núi đá hoa cương thường có đỉnh cao, tròn, sườn dốc, núi đá sa phiến thạch đỉnh bằng, sườn thoải hơn và thường chảy thành từng dãy theo những hướng nhất định Tương ứng với loại núi đầu là núi nằm giữa hai sông Tả Trạch, Hữu Trạch Ở đây

có hang động Mang Chan cao nhất vùng và cũng là đỉnh núi cao nhất (861m) Động Mang Chan ở tận cùng phía Tây Nam, gần giáp Nam Đông, A Lưới Kế đó

là đỉnh Thượng Hòa, cao 549m phía Tây sông Hai Nhánh, cách sông này chừng 4km Lên phía Bắc có đỉnh núi Kê, cao 618m, xếp thứ hai về độ cao Núi Kê nằm

ở phía Tây, cách thôn Dương Hòa khoảng 2km Ngược về phía Tây Bắc núi Kê 2km gần với địa giới Hương Trà là đỉnh núi Sa Trúc cao 420m

Nếu nói đến địa hình cheo leo, hiểm trở nhất của thị xã, phải nói đến vùng này, cáckhe suối lớn nhỏ đều bắt nguồn từ động Mang Chan, từ đỉnh Thượng Hòa, núi Kê,núi Sa Trúc tỏa về các phía, đào sâu lòng, làm cho địa hình bị cắt xẻ mãnh liệt Đây lại là vùng xã xôi hẻo lánh, còn nhiều rừng rậm che phủ nên rất khó đi lại Tiếp đến là vùng đồi núi từ phía Đông sông Tả trạch đến đường quốc lộ 1A, nơi tiếp cận đồng bằng, là vùng đồi núi thấp và ít hiểm trở Thực ra đây là vùng bán bình nguyên; trước khi núi trường sơn nên núi, ở đây chính là những núi sót lại trong quá trình bị phá hủy hoàn toàn, để biến thành đồi thấp như vô số đồi đã thấy.Đồi hiện lên dưới dạng hình bát úp, hình sống trâu, lưng rùa bên cạnh một số núi xếp thành từng dãy Một dãy phía Tây gần sông tả Trạch và một dãy phía Đông gần đường quốc lộ 1A

Thuộc dãy phía Tây, từ Đông Nam lên Tây Bắc có núi đá đen, gần núi Mỏ Tàu ở phía Nam, núi Gia Tham, núi Khe Tre ở Tây Nam Phú Sơn, núi Thượng Hoài ở Thượng Bằng; núi Vung ở gần Bằng Lăng, tất cả núi này chỉ cao từ 100-200m Tuy nhiên, người ta vẫn có cảm giác vừa thâm u khi nhìn về ngã Dương Hòa, vừa hùng vĩ khi ngắm về núi Phú Sơn lúc đi ngược dòng Tả Trạch

Trang 12

Dãy phía Đông được bắt đầu từ phía Tây của xã Thủy Phù, ở đây có các núi, tích dương, đồng nậy, núi quách (còn gọi là núi Phèn, Thiết Sơn) tạo thành bình phong

án ngữ phía Tây là Phú Bài, từ đây dãy núi tiếp tục chạy dài theo hướng Bắc và Tây bắc như một bức tường thành phía Tây đường quốc lộ 1A, rồi đột ngột chấm dứt ở đầu nguồn khe Vực tận cùng của phía Bắc có đông Tranh, cao chừng 150m

ở phía Tây Thủy Dương, núi Thiên Thai, cao 118m phía Đông xã Thủy Bằng.Đẹp nhất là vùng đồi núi thấp nhô ở phía nam thành phố Huế, thuộc địa phận Thủy Bằng, với hơn 140 gò đồi đấu lên nhau trong một khu vực rộng chừng khoảng 60ha Điểm cao nhất là 120m, chính là đỉnh đồi có Đan Viện Thiên An tọalạc Ngoài ra trên vùng đồi núi Hương Thủy còn có những địa danh quen thuộc hoặc ghi lại dấu vết thiên nhiên độc đáo như Phú Sơn, Động Phèn, hoặc đánh dấu một thời khai hoang lập ấp Như Lụ, Tân Ba Cũng có những địa danh gần như đi vào lịch sử, đánh dấu một thời xẩy ra các cuộc giao tranh ác liệt giữa ta và địch, vì

sự nghiệp giải phóng quê hương như động Tranh, động Sầm, Mỏ Tàu …

Chiến 23.67% tổng diện tích, là một dải đất hẹp, giới hạn bởi đường quốc lộ 1A phía Tây và sông như Ý, Đại Giang phía đông, có nguồn gốc bồi tụ từ phù sa các sông, chủ yếu là sông Hương Trong quá khứ xa xưa đây là một bộ phận Mãng Trũng, có đáy sâu nhưng bị bồi lấp dần Địa hình thấp dần về hướng Đông Nam, theo hướng chảy của các sông Do độ cao trung bình 2-5m nên mùa mưa lũ thường

bị ngập lụt, có nơi rất sâu, nhất là phần tận cùng Đông Nam gần đầm Cầu Hai Ngược lại, về mùa khô lại bị nhiễm mặn cũng do thấp và trũng nên có nhiều ao hồđọng nước quanh năm hay từng mùa ở Thủy Tân, Thủy Lương

Đồng bằng là nơi dân cư đông đúc, sinh sống lâu đơi nên đã có nhiều công trình cải tạo như đào sông, xây kè cống, đắp đập, làm mương máng …có thể nói địa hình nhân sinh dày đặc được tìm thấy ở bất cứ nơi nào, không giống như vùng đồi núi, thiên nhiên còn mang nhiều nét hoang dã

1.1.3 Thổ nhưỡng

Thổ nhưỡng là sản phẩm của quá trình tác động lâu dài các đá tạo thành đất, địa hình, khí hậu, nước, sinh vật và cả con người Ở Hương Thủy đất cũng là sản phẩm do tác động của các yếu tố trên qua hàng nghìn năm nay Tổng diện tích đất của lãnh thổ nghiên cứu là 45.817,5 ha, chiếm 95,7% diện tích

Trang 13

tự nhiên Đất đai của Thị xã được chia thành 2 miền tự nhiên: đất vùng đồi núi, đất phù sa như đã nói ở phần trên (1.1.2).

1.1.4 Điều kiện khí hậu

Thị xã Hương Thủy nằm trong vùng khí hậu Bắc miền Trung (từ Thanh Hóa đến Thừa Thiên Huế) nhiệt đới ẩm gió mùa với những đặc trưng là nóng ẩm, mưa nhiều lương mưa cũng phân bố theo mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa khô trong đó:Mùa mưa bắt đầu từ tháng 8 đến tháng 1 năm sau, có ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc ẩm ướt với lượng mưa 2844 mm/năm chiếm 61% tổng lượng mưa của

cả năm, lượng bốc hơi trung bình từ 1050mm/năm

Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, với lượng mưa chỉ chiếm 15% tổng lượng mưa cả năm Bên cạnh đó, mừa khô có gió mùa Đông Bắc, mang đặc trưng, đặc tính chủ yếu của vành đai tín phong và không khí nhiệt đới ít hơi

10-ẩm nên ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sinh trưởng và phát triển của các loại cây trồng cũng như trong sinh hoạt

+ Nhiệt độ trung bình năm là 25°C

+ Nhiệt độ trung bình cao nhất là 29,6°C

+ Nhiệt độ trung bình thấp nhất là 19.9°C

+ Độ ẩm trung bình năm từ 80-85%

+ Độ ẩm cao nhất là 90-95%, tập trung chủ yêu vào mùa mưa

+ Độ ẩm thấp nhất 20-25%, tập trung chủ yêu vào mùa khô

+ Tổng số giờ nắng trong năm khoảng 2500 – 2700 giờ/năm, trong đó mùa khô chiếm 50-60% số giờ nắng trong năm Số giừ nắng phân bố khá đều trong năm nên thuận lợi cho việc nuôi, trồng phát triển và đa dạng hóa các loại cây trồng và vật nuôi

Bảng 1.2 Lượng mưa, nhiệt độ, độ ẩm của thị xã Hương Thủy, năm 2010.

Trang 14

(nguồn: phòng thống kê huyện Hương Thủy, năm 2010)

1.1.5 Chế độ thủy văn

Hệ thống thuỷ văn ở Thừa Thiên Huế nói chung và Hương Thủy nói riêng hết sứcphức tạp và độc đáo Tính phức tạp và độc đảo thể hiện ở chỗ hầu hết các con sôngđan nối vào nhau thành một mạng lưới chằng chịt: sông Ô Lâu - phá Tam Giang -sông Hương - sông Lợi Nông - sông Đại Giang - sông Hà Tạ - sông Cống Quan -sông Truồi- sông Nong - đầm Cầu Hai Tính độc đáo của hệ thống thuỷ văn là thểhiện ở chỗ nơi hội tụ của hầu hết các con sông trước khi ra biển là một vực nướclớn, kéo dài gần 70 cây số dọc bờ biển, có diện tích lớn nhất Đông Nam Á (trừsông A Sáp chạy về phía Tây, và sông Bu Lu chảy trực tiếp ra biển qua cửa CảnhDương) Đó là hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, đầm phá tiêu biểu nhất trong 12vực nước cùng loại ven bờ biển Việt Nam và là một trong những đầm phá lớn nhấtthế giới Mạng lưới sông - đầm phá đó còn liên kết với rất nhiều trằm, bàu tựnhiên, có tên và không tên, với các hồ, đập nhân tạo lớn, nhỏ Tổng diện tích mặtnước của hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai khoảng 231 km2 và tổng lượng nướcmặt do các sông bắt nguồn từ Đông Trường Sơn chảy ra lên tới hơn 9 tỷ mét khối.Thủy văn chịu sự chi phối của ảnh hưởng khí hậu và điều kiện địa hình Trong năm thì thủy văn của thị xã Hương Thủy chia ra 2 mùa rõ rệt, đó là mùa lũ và mùa khô Mùa lũ làm tăng nguồn nước dự trữ trong các dòng chảy và nước ngầm, vì ở vùng đồng bằng cho nên tại huyện ít xẩy ra hiện tượng lũ quét

1.2 Sơ lược lịch sử, dân cư và văn hóa

1.2.1 vài nét về lịch sử hình thành thị xã Hương Thủy

Như những vùng quê khác của đất nước, Hương Thủy lưu giữu và phát huy truyềnthống lịch sử, văn hóa của dân tộc Chính trên mảnh đất hiền hòa, tươi đẹp với những con người cần cù, bình dị nhưng anh dung, bất khuất này, các phong trào yêu nước, cách mạng đã hình thành và phát triển, góp phần cùng Thừa Thiên-Huế

và cùng cả nước viết lên trang sử hào hùng

Tìm về cội nguồn lịch sử, mảnh đất này thuộc bộ Việt Thường, một trong 15 bộ của nước Văn Lang, thời các vua Hùng dựng nước.Thời thuộc Hán(từ năm 179 trước công nguyên đến thế kỉ thứ II), vùng đất Âu Lạc được chia làm 3 quận( GiaoChỉ, Cửu Chân, Nhật Nam), khu vực Hương Thủy hiện nay thuộc thành Chu Ngô, quận Nhật Nam.Năm 192,Khu Liên cùng nhân dân Champa nổi dậy đánh đuổi quân Hán khỏi Nhật Nam; từ đó Nhật Nam trở thành nước Lâm Ấp với 5 châu: Địa Lý, Mê Linh, Bố Chính, Ô và Lý; Hương Thủy thuộc châu Lý.Năm 1306, vua Champa là Chế Mân đem hai châu Ô và Lý làm sính lễ để cưới hỏi công chúa Huyền Trân, con gái của vua Trần Từ đây, hai châu Ô, Lý thuộc lãnh thổ Đại Việt

và được vua trần Anh Tông đổi tên thành châu Thuận, châu Hóa Khu vực Hương Thủy thuộc ba huyện Lợi Bồng, Tư Dung và Thế Vinh( Thế Vang) của Châu Hóa Trải qua bao thăng trầm theo các triều đại Trần, Hồ, Lê, Mạc, Trịnh, Nguyễn; Hương Thủy dần dần bước vào lịch sử dựng làng, giữ nước của mình với sự di dời

Trang 15

càng ngày càng đông của người Việt ở các tỉnh phía Bắc công cuộc mở đất dựng làng có quy mô rộng lớn kể từ khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ vùng Thuận Hóa:

“thế kỷ XVI vùng đất Thuận Hóa, Quảng Nam nói chung còn quá nghèo nàn lạc hậu, xóm làng thưa thớt, đất đai chưa được khai khẩn mấy, hoang hóa còn nhiều Những người dân phía Bắc đã từng bị bần cùng hóa còn nhiều những người dân phía Bắc đã từng bị bần cùng hóa nhiều năm, đã di cư vào đây khai phá làm ăn Chính những người di cư này đã đóng vai trò trong công việc khai phá đất hoang, lập làng mới” và “Bấy giờ đất Thanh Hóa bị đói luôn, những nông dẫn nghèo khổ

ở đó đã kéo nhau vào Thuận Hóa làm ăn ngày càng nhiều, tạo điều kiện cho Nguyễn Hoàng xây dựng lực lượng phát triển kinh tế”

Những người di dân có tinh thần lao động hang say, quyết liệt, đã mở mang, khai phá các vùng đất gần biển, ven sông, đầm và dần dà tiến lên khu gò đồi, rừng núi, tạo thành một khu vực trù phú, có các thể đất liên hoàn trong việc cung cấp tài nguyên cho con người Được sự động viên của các Chúa Nguyễn, vùng đất thuận hóa nhanh chóng khởi sắc , như Dương Văn An đã viết trong Ô Châu cận lục:

“Non sông kỳ tú, ruộng đất mở mang, nhân dân đông đúc, thực là nơi đô hội lớn của một phương; cảnh tượng vui tươi, phong vật quý giá”

Vào năm 1558, Chúa Nguyễn Hoàng đổi tên huyện Tư Vang(Tư Vinh, Sĩ Vinh) có

từ đầu triều Lê, thành huyện Phú Vang Huyện phú vang bấy giờ gồm 6 tổng: MậuTài, Dương Nỗ, Đường Pha, Dã Lê, Sư Lỗ” và Diêm Trường Một phần của Hương Thủy hiện nay thuộc Phú Vang, phần khác thuộc Hương Trà

Trải qua gần ba thế kỷ sau, đất đai các huyện tiếp tục được khai phá, dân cư tăng nhanh, kinh tế phát triển, đòi hỏi phải phân định địa giới phù hợp với quy hoạt hành chính mới.năm 1835, vua Minh Mạng đã cho cắt đất 3 huyện Phú Vang, Hương Trà , Quảng Điền, để lập 3 huyện mới là Hương Thủy, Phú Lộc , Phong Điền Riêng Hương Thủy là 1 phần đất của Phú Vang và Hương Trà, gồm các tổng: An Cựu, Dã Lê (Dã Lê), Cư Chánh, Lương Quán , Lương Văn với 58 xã, thôn, giáp, phường, ấp địa giới huyện được Đại Nam Nhất Thống Chí ghi: “ở cách phủ 19 dặm về phía Đông Nam Đông tây cách nhau 30 dặm, nam bắc cách nhau 51 dặm, phía đông đến địa giới Huyện Phú lộc 16 dặm, phía Tây đến địa giớiHương Trà 14 dặm, phía Nam đến động núi Hương Trà 37 dặm, phía Bắc đến địa giới huyện Phú Vang 14 dặm”

Địa giới này ổn định cho đến cách mạng tháng 8/1945 Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, phía ta, địa giới hành chính huyện vẫn như đã nêu, nhưng tên gọi và ranh giới các xã có sự thay đổi Giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp trước 1949, gọi tên xã theo tên làng, lấy tiếng đầu của tênlàng rồi thêm chữ Thủy vào sau trở thành tên xã như xã Thủy Phù ( làng Phú Bài),

xã Lương Thủy (làng Lương Văn), xã Thần Thủy (làng Thần Phú)…với Dạ Lê thì

xã Dạ Lê Thủy là làng Dạ Lê Chánh và xã Lệ Thủy là làng Dạ Lê Thượng; trường hợp hai làng Phương Lam và Thanh Lam thì nhập thành xã Lam Thủy sau 1949

do phong trào cách mạng đã lớn mạnh, yêu cầu địa giới các xã cần mở rộng, nên

đã ghép các làng nhỏ, ít dân lại đến cuối thập kỷ 50 đầu thập kỷ 60 tên gọi các xãtrong huyện ổn định như sau: An Thủy (Thủy An), Minh Thủy (Thủy Châu Và

Trang 16

Thủy Lương), Hải Thủy (Thủy Phù Và Thủy Tân), Mỹ Thủy (Thủy Phương), Hồng Thủy (Thủy Thanh Và Thủy Dương), Bích Thủy ( Thủy Phú Và 1 Phần Thủy Vân), Thiên Thủy (Một Phần Thủy Vân (Làng Dạ Lê Chánh) Và Một Phần Thủy Thanh (Làng Vân Thê), Nguyên Thủy (Thủy Bằng), Phong Thủy (Thủy Biều)) … Phía chính quyền Sài Gòn, đến năm 1958, phần đất Hương Thủy được cắt ra các xã Thủy Bằng, vùng Lương Miêu, Dương Hòa, và một phần xã Phú Sơn hiện nay cùng với một phần đất của huyện Hương Trà để lập nên huyện mới, gọi

là quận Nam Hòa

Đến 1975, các cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ ở nước ta toàn thắng lợi, nước nhà thống nhất, Hương Thủy cũng như các huyện khác trong cả nước, được xác định là một đơn vị hành chính kinh tế quan trọng Lúc này, huyện có 15 xã: Thủy

An, Thủy Bằng, Thủy Biều, Thủy Châu, Thủy Dương, Thủy Lương, Thủy Phù, Thủy Phú, Thủy Phước, Thủy Phương, Thủy Tâm, Thủy Thanh, Thủy Trường, Thủy Vân Và Thủy Xuân Năm 1976, bốn xã Thủy Phú, Thủy Phước, Thủy

Trường Và Thủy Xuân được tách ra để thành lập thành phố Huế

Năm 1977, huyện Hương Thủy (lúc này có 11 xã như vừa nêu) cùng huyện Phú Vang ( có 19 xã) nhập làm một, thành huyện Hương Phú Năm 1981, Hương Phú tách 9 xã và 3 thôn để nhập vào thành phố Huế Trong số này, Hương Thủy có 4

xã và 3 thôn; đó là: Thủy An, Thủy Bằng, Thủy Biều, Thủy dương và thôn tây giáp Vân Dương, thôn vườn trầu, thôn cồn trâu (thuộc xã Thủy Vân) Cũng thời điểm 1981, Hương Phú thành lập nên 2 xã mới là Dương Hòa Và Phú Sơn Đến

1983, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của huyện được thành lập, lấy tên là thị trấn Phú Bài Lúc này, Hương Phú có 23 xã và một thị trấn tháng 9 năm 1990, hộiđồng bộ trưởng ra quyết định số 345/HĐBT, chia Hương Phú thành hai huyện Hương Thủy và Phú Vang Huyện Hương Thủy trở lại với tên gọi cũ Hội đồng bộtrưởng quyết định 2 xã Thủy Bằng và Thủy Dương nhập vào lại huyện Hương Thủy như vậy, Hương Thủy có 11 xã và 1 thị trấn: Dương Hòa, Phú Sơn, Thủy Bằng, Thủy Châu, Thủy Dương, Thủy Lương, Thủy Phù, Thủy Phương, Thủy Tân, Thủy Thanh, Thủy Vân Và Thị Trấn Phú Bài

Trong thời gian qua, nhất là từ sau khi thực hiện công cuộc đổi mới củaĐảng, cùng với sự phát triển chung của cả nước, được sự quan tâm lãnh đạo, chỉđạo của Đảng và Nhà nước, trực tiếp là Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh và sự giúp

đỡ của các sở, ban, ngành của tỉnh; Đảng bộ và nhân dân Hương Thuỷ đã phát huytruyền thống cách mạng trong 2 cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, luôn đoànkết, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, từng bước khai thác có hiệu quả tiềm năngthế mạnh của địa phương, huy động mọi nguồn lực, nhất là nội lực để khôi phục

và phát triển kinh tế - xã hội, tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thịtheo hướng CNH, HĐH và đô thị hoá Kết quả được Bộ Xây dựng có Quyết định

số 659/QĐ-BXD ngày 10/6/2009 công nhận thị trấn Phú Bài mở rộng, thuộchuyện Hương Thuỷ là đô thị loại 4 và Nhà nước tặng Huân chương Lao động hạngnhất (Quyết định số 1320/QĐ-CTN ngày 09/9/2009)

Trang 17

1.2.2 Dân cư

Với dân số hiện nay là 96.525 nhân khẩu, Hương Thủy thuộc thị xã đông dân trong tỉnh Nguồn gốc dân cư Hương Thủy gắn liền với nguồn gốc dân cư Thừa Thiên Huế Nhìn một cách khái quát về mặt lịch sử dân cư, người Hương Thủy gắn với cội nguồn dân tộc Việt sinh sống ở vùng trung du Bắc Bộ và đồng bằng sông Hồng và sông Mã Những phát hiện khảo cổ cho thấy vào thời xã xưa, đây là địa bàn cư trú của cộng đồng người Việt mang sắc thái của một nền văn hóa đá mới, có nguồn gốc với Quỳnh Văn, Thách Lặc Đó là một nền văn hóa có công cụ chế tác từ đá khối, như ở Bàu Tró, Ba Đồn (Quảng Bình) trên địa bàn này cũng đã tìm thấy các công cụ đồ kim khí, chứng tỏ trong thời kỳ đá, kim khí ở đây từng là nơi định cư của tộc Việt Hình dáng , cấu tạo và các nét hoa văn của các công cụ

đồ kim khí tương tự như các công cụ đồ kim khí tìm được ở miền Bắc, trên địa bàn sinh sống của tộc Việt xưa

Nhiều cuộc điều tra, khảo sát về dân tộc học và ngôn ngữ học, cũng chứng tỏ đây

là khu vực có sự đan xen của nhiều dân tộc khác nhau trong quá trình sinh sống vào các thế kỷ xa xưa, đó là các dân tộc ít người như PaCo, CaTu, Tà Ôi …mang nguồn gốc phía Nam Đến nay, trong ngôn ngữ CaTu, Tà Ôi còn có nhiều yếu tố

Mã Lai Từ 192-1306 thì người Chăm là chủ nhân của vùng đất này Những cuộc

di dân từ 1306 trở đi diễn ra liên tục và thực sự trở nên mạnh mẽ, nhất là người Thanh, Nghệ Là lúc Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận Hóa 1558 Thực hiện

ý đồ mở mang bờ cõi phương Nam để chống lại họ Trịnh, các Chúa Nguyễn khuyến khích dân khai khẩn ruộng đất, đắp đập, khơi đào sông ngòi, mương máng

mà dựng lang, lập ấp Quang cảnh âm u hoang vắng của rừng rú, đầm lầy, dần được thay bằng ruộng lúa, vườn cây Nghề nông cùng các ngành nghề khác có nguồn gốc từ quê hương cũ, miền Bắc được phát triển Da phả của các dòng họ và các đền thờ hiện được bảo tồn của các vị khai tranh đều ghi rõ nguồn gốc và công trạng lớn lao; trong đó nổi bật là việc khai thác ruộng đất, mở mang đường xá, cầu cống và phát triển nghề thủ công truyền thống

Vì vậy khi nói đến lịch sử dân cư Hương Thủy nói riêng và Thừa Thiên Huế nói chung thì điểm nổi bật hơn cả đó là sự phản ánh của một giai đoạn lịch sử, kinh

tế, văn hóa quan trọng, sự hình thành và phát triển xứ Thuận Hóa – Phú Xuân – Huế bắt đầu từ năm 1558 Từ đó cho tới sau này dân cư phân bố ở Hương Thủy cũng như các nơi khác, đều phản ánh nhiều mối quan hệ giữa quan hệ cộng đồng

và giữa con người với tự nhiên, môi trường

Trang 18

Đến năm 1976 Hương Thủy có 67461 nhân khẩu, phân bố vào 11 xã Đến cuối năm 1995, tức là sau 20 năm, dân số của huyện lên đến 85256 người phân bố ở 11

xã và 1 thị trấn mật độ bình quân trên toàn huyện là 171 người/km2 Nhưng có sự khác nhau rất xã giữa miền núi và đồng bằng Ở miền núi chỉ có 33 người/km2

trong lúc đó ở đồng bằng lên tới 609 người/km2 nhưng đó cũng là kết quả điều hòadân số trong suốt 20 qua

Diện tích đất tự nhiên tính bình quân theo đầu người là 0,58 ha/ Diện tích đất nông nghiệp tính bình quân theo đầu người trên toàn huyện là 0,06 ha Sau đây là diện tích đất nông nghiệp tính bình quân đầu người 8 xã đồng bằng: Thủy Vân 0,06 ha; Thủy Thanh 0,08 ha; Thủy Dương 0,03 ha; Thủy Phương 0,04 ha; Thủy Châu 0,05 ha; Thủy Tân 0,08 ha; Thủy Lương 0,07 ha; và Thủy Phù 0,08 ha Nếu

có sự so sánh với mức độ tăng dân sô trong độ tuổi lao động hàng năm là 744 người, thì diện tích ruộng đất tính bình quân toàn huyện cũng như các xã như trên

là quá hẹp

So với giai đoạn trước, thì đặc điểm quần cư và phân bố dân cư có thay đổi, đó là kiểu quần cư thành thị phát triển số dân thành thị tăng so với trước khá nhiều và với tốc độ nhanh Kiểu quần cư nông thôn đồi núi tiếp tục phát triển với cấu trúc mới theo sự chọn lọc cơ cấu cây trồng đảm bảo hiệu quả kinh tế, sinh thái cao

Về nghề nghiệp, số người làm các nghề thủ công tăng Những nghề như chằm non,thiêu ren, mộc, nề, sửa chữa cơ khí, phục vụ ăn uống, giao thông đi lại … phát triển Ở vùng đồi núi nghề khai thác rừng, trồng rừng là nghề mới số người có tay nghề thoát li địa phương để tìm kiếm việc làm, tăng thu nhập cũng khá đông

Sự biến động về dân cư cũng có nhiều thay đổi khi tiến hành giải phóng đất nước, thì số người di dân cơ học ngày một lớn, chính sự biến động này gây ra khó khăn cho việc đánh giá chính xác dân số tự nhiên của huyện

Bảng 1.3 Bảng số lượng dân cư toàn huyện và xã trong huyện, cơ cấu giới tính, số người trong độ tuổi lao động và tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên.

Đơn vị hành

chính

Tổngdân số

Trang 19

(nguồn: Dư Địa chí Hương Thủy, năm 1998)

1.2.3 Đôi nét về văn hóa

Đối với văn hóa, phần lớn người Hương Thủy vốn có gốc gác từ vùng Thanh Nghệ Họ mang chất giọng và truyền thống văn hóa bản quán; Đồng thời, phong thổ và cơ chế chính trị của vùng đất mới, nhất là sự gắn bó với kinh thành, đã tạo nên một sắc thái riêng Có thể nói đây là nơi phong cảnh hữu tình với thượng nguồn sông Hương đầy hoa thơm, cỏ lạ Với núi Ngự Bình, Vọng Cảnh, Thiên Thai Nghe như tên của bài thơ và xa hơn là những đỉnh núi Kê, Đá Đen, Mỏ Tàu hùng vĩ Con người ấy, đất nước ấy như cùng vun đúc mà tạo nên một kho tàng văn hóa dân gian phog phú, với các chuyện kể, hò Bài Chòi, hò Bài Thai, Bài Tiệm, Nàng Vung, hò Ống, … trên cạn Hò Mái Nhì, mái đẩy trên sông nước và những điệu hát Lí, Vè … ở đây có sự giao thoa giữa văn hóa truyền thống, văn hóadân gian với văn hóa cung đình Những công trình kiến trúc từ lăng tẩm Vua, Chúa Nguyễn, các đình Chùa, Am Miếu đến các Lăng Mộ Nhà ở của nhân dân đãcho thấy khá rõ điểu này

Những giá trị văn hóa đó được người Hương Thủy hôm nay kế thừa và phát triển Nhiều công trình văn hóa được xây dựng khang trang, bề thế: Nhà văn hóa trung tâm, nghĩa trang liệt sỹ, vườn chơi thiếu nhi … cùng rất nhiều cơ sở văn hóa của các xã thị trấn khác

Trang 20

CHƯƠNG 2 Vấn đề khai thác tài nguyên ở Hương Thủy, Thừa Thiên Huế

Vĩ tuyến 16 độ vĩ Bắc nằm chính giữa vành đai nội chí tuyến Bắc bán cầu, nơigiao thoa của hai miền khí hậu nhiệt đới ở phía Nam và á nhiệt đới ở phía Bắc Đócũng chính là điều đặc biệt của vị trí địa lý tỉnh Thừa Thiên Huế nói chung và thị

xã Hương Thủy nói riêng xét trên phương diện tự nhiên Chính vị trí đặc biệt cùngvới sự đa dạng của địa hình tương phản trên một mảnh đất hẹp đã làm cho thị xãHương Thủy có nhiều đặc điểm nổi bật về tự nhiên và giàu có về tài nguyên thiênnhiên

2.1.1 Tài nguyên đất

Ở Hương Thủy có hai miền tự nhiên, với những đặc điểm khác nhau về đá tạo thành đất, về địa hình, khí hậu, nước trên mặt, nước ngầm, cỏ cây, và cả mước độ hoạt động của con người Do đó ở mỗi miền hình thành mỗi hệ thống đất mang những đặc tính không giống nhau đó là hệ feralit và hệ phù sa, mỗi hệ lại có nhiều loại khác nhau Hệ feralit là hệ đất ở miền đồi núi, gồm các loại đất đỏ vàng, như đất đỏ vàng trên đá mắc ma axit, đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất, đất nâu tím trên phiến thạch tím, đất vàng nhạt trên đất cát, đất vàng nâu trên phù sa cổ, đất đỏvàng do biến đổi trồng lúa

Đất đỏ vàng trên đá mác ma axit chiếm diện tích rộng lớn ở miền núi đồi phía Tây,giữa hai nhánh sông Hương Đất đỏ vàng trên đất sét và biến chất, đất vàng nhạt trên đất đá cát, đất đỏ vàng trên nền phù sa cổ, đất nâu tìm trên phiến thạch tím và đất đỏ vàng do biến đổi trồng lúa phổ biến trên vùng đồi núi từ phía Đông Tả Trạch đến ven rìa đồng bằng bồi tụ trong các loại đất nói trên thì đất đỏ vàng trên đất sét và biến chất đất nâu tìm trên phiến thạch tím, theo “Tôn Thất Chiểu” là những loại đất tốt hơn cả Nói chung, các loại đất đỏ vàng thường có tầng đất mỏng Dày nhất cũng không quá 100cm; đất chua, nghèo mùn, đạm, lân, kali Các loại đất này trải qua quá trình sắt nhôm hóa khác nhau tùy theo tác động của lớp phủ thực vật Ở những nơi có rừng che phủ, quá trình trên diễn ra yếu Ở những nơi lớp phủ thực vật đã bị phá hủy thành đất trống đồi núi trọc thì quá trình trên diễn ra mạnh Trong điều kiện đó, đá ong được tạo thành, đất mất khả năng trồng trọt, tình trạng này xẩy ra khá phổ biến ở vùng đồi núi phía Tây xa Thủy Dương, Thủy Phương, phía đông xã Thủy Bằng và nhiều nơi khác

Hệ đất phù sa chiếm toàn bộ vùng đồng bang bồi tụ phía Đông và một số nơi rải rác dọc theo thung lung Tả Trạch và các khe suối khác Tuy chiếm diện tích khônglớn bằng các loại đất khác như đỏ vàng ở vùng đồi núi, nhưng do địa hình có sự phân hóa độ cao khá rõ nên đất phù sa cũng có rất nhiều loại, như đất phù sa được bồi, đất phù sa không được bồi, đất phù sa dày, đất phù sa có tầng loang lỗ, đất

Trang 21

phù sa suối Đặc tính chung của các loại đất này là tầng đất dày trên 100cm, thành phần cơ giới là sét pha hoặc thịt nhẹ, thịt trung bình, giàu chất dinh dưỡng Vì vậy

đã từ lâu đây là địa bàn trồng lúa, hoa màu, lập vườn, nơi cung cấp lương thực, thục phẩm như đậu đỗ, rau màu, cây ăn quả và các loại hoa chính cho dân cư tronghuyện

Vị trí địa lý của Hương Thủy đối với cả nước và khu vực tạo cho Hương Thủy cónhững lợi thế về tự nhiên Về rừng tự nhiên ở Thừa Thiên Huế nói chung vàHương Thủy nói riêng đều có số lượng các loài thực vật cao hơn hẳn các nơi khác,

vì đây là nơi gặp nhau, là mảnh đất hội tụ của hai hệ thực vật tương ứng với haimiền khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới Chỉ tính riêng các loài cây gỗ lớn, thì ngoàinhững loài nhiệt đới như gõ, mật, chò chỉ, lim xanh, kiền kiền, dầu, còn có cácloài á nhiệt đới như hoàng đàn giả, thông tre, kim giao

Một số những cánh rừng đó đã được đánh giá, quy hoạch thành các vườn quốc gia,các khu bảo tồn thiên nhiên, các khu bảo vệ cảnh quan, tiêu biểu là Vườn quốcgia Bạch Mã Vườn này có tổng diện tích hơn 22.000ha, cộng thêm hơn 22.000havùng đệm thuộc địa phận 9 xã, 2 thị trấn của hai huyện Phú Lộc và Nam Đông, vàhuyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng, được bao phủ bởi cả hai kiểu rừng: rừng kínthường xanh nhiệt đới ở độ cao 900m trở xuống và rừng kín thường xanh á nhiệtđới từ 900 mét trở lên Theo thống kê bước đầu, tại Vườn quốc gia Bạch Mã có1.406 loài thực vật (dự báo lên đến 2.000 loài), 132 loài thú, 358 loài chim, 311loại bò sát và 57 loài cá nước ngọt Bạch Mã là nơi tập trung một số khá lớn cácloài chim của Việt Nam Số lượng loài chim đã được thống kê ở đây chiếm hơn43% tổng số loài chim trong toàn quốc, nhưng nếu so sánh về tổng số họ và bộ thì

tỷ lệ này lại còn cao hơn Các loài chim ở Bạch Mã chiếm tới gần 68% tổng số họ

và gần 80% tổng số bộ trong toàn quốc Đặc biệt, trong số 12 loài trĩ có mặt tạiViệt Nam thì ở Bạch Mã có tới 7 loài, bằng số loài trĩ hiện có ở Lào và nhiều hơn

số loài trĩ có ở Campuchia Hơn thế nữa, lịch sử Vườn Quốc gia Bạch Mã có quan

hệ với một loài chim Người ta kể rằng ý tưởng xây dựng Vườn Quốc gia Bạch

Mã của người Pháp từ những năm 20 của thế kỷ XX bắt nguồn từ việc phát hiệnlần đầu gà lôi lam mào trắng (Lophura edwardsi) ở khu vực này

Ngoài số lượng các loài loài thực vật từ bậc thấp đến bậc cao lớn hơn hẳn so vớicác địa phương khác do tính chất chuyển tiếp của các khu hệ thực vật nhiệt đới và

á nhiệt đới, tính đặc sắc đa dạng sinh học của Hương Thủy còn thể hiện ở cho đây

là nơi dừng chân cuối cùng của những giống loài đặc trưng của hai miền Nam,Bắc, nơi xuất hiện của nhiều giống loài quý hiếm Những cây ăn quả phổ biến, đặctrưng cho phức hệ thực vật miền Nam như giáng châu (măng cụt), chôm chôm,sầu riêng, đều có mặt ở đây, và không thấy xuất hiện ở các vĩ độ cao hơn, nhưngvới mùa vụ lệch pha (trái mùa) như giáng châu, chất lượng kém hơn như chômchôm, và năng suất thấp hơn như sầu riêng Những cây trái đặc trưng của hương vị

Trang 22

miền Bắc trên đường vào Nam, như vải, sấu, đến đây là dừng lại Trong quátrình tiến hoá, các hệ sinh thái, các loài và các nguồn gien đã liên tục biến đổi, tạo

ra các loài mới trong điều kiện sinh thái mới, trong khi một số loài khác sẽ biếnmất Đến thời điểm này, các nhà khoa học đã kiểm kê được ở Hương Thủy co 43loài thực vật quý hiếm, được phân thành 5 bậc là đang nguy cấp hay đang bị đeđoạ tuyệt chủng (ký hiệu quốc tế là E) 1 loài, sẽ nguy cấp hay có thể bị đe doạtuyệt chủng (ký hiệu quốc tế là V) 10 loài, hiếm hay có thể sẽ nguy cấp (ký hiệuquốc tế là R) 16 loài, bị đe dọa (ký hiệu quốc tế là T) 6 loài và biết không chínhxác (ký hiệu quốc tế là K) 10 loài

Bức tranh đa dạng sinh học các khu hệ động vật của Hương Thủy cũng đặc sắckhông kém so với các khu hệ thực vật Trước hết và nổi bật nhất là các loài thúlớn Nếu Vụ Quang, Hà Tĩnh là nơi phát hiện ra sao la (Pseudorys nghetinhensis),một trong ba loài thú lớn đặc hữu của Việt Nam được phát hiện lần đầu tiên trongthập niên cuối cùng của thế kỷ XX, thì Thừa Thiên Huế được coi là nơi có cácđiều kiện tự nhiên phù hợp nhất với đời sống tự nhiên của Sao la Vì vậy số lượngSao la ở đây khá lớn (theo số liệu của WWF là khoảng 110 con), phân bố ở cáckhu rừng đầu nguồn các sông Tả Trạch, Hữu Trạch và sông Bồ, trên địa bàn huyện

A Lưới, Nam Đông, Hương Trà và thị xã Hương Thuỷ Ngoài sao la, địa bànHương Thủy còn là nơi cư trú của các loài thú lớn quý hiếm như hổ, báo gấm, báohoa mai, gấu, bò tót, sói đỏ, mang lớn, chồn bay, sóc bay lớn, Chính nơi đây làquê hương của chú hổ Đông Dương có cái tên Lâm Nhi đang được nuôi dưỡng ởVườn thú Thủ Lệ, Hà Nội

Theo thống kê chưa đầy đủ, người ta đã xác định được 80 loài động vật quý hiếm,

là những loài đặc hữu của khu vực hoặc cả nước có phân bố tại Thừa Thiên Huếnói chung và Hương Thủy nói riêng, trong đó coi loài không xương sống, 6 loài

cá, 5 loài lưỡng cư, 15 loài bò sát, 16 loài chim và 37 loài thú Địa hình phức tạp

và đa dạng sinh học ở cấp độ hệ sinh thái là nguồn gốc của vẻ đẹp và sự phongphú của cảnh quan thiên nhiên, một dạng tài nguyên hết sức quý giá được thiênnhiên ưu ái ban tặng cho vùng đất này Đó là những bãi cát trắng, mịn, sạch trảidài hàng chục cây số ở các vùng đồi Châu Sơn, Phú Bài, xã Thủy châu … đó làsông Phú Bài, sông Vực, sông Lợi Nông, sông Hương những dòng sông quêtrong xanh, hiền hoà như mọi con sông ở miền Trung Nhưng trước hết đó là sôngHương, núi Ngự, là dòng sông, ngọn núi huyền thoại đã đi vào thơ ca nhạc họa từbao đời nay, không còn mang ý nghĩa là cảnh quan thiên nhiên đơn thuần, mà đãtrở thành biểu tượng tinh thần của người dân xứ Huế

Rõ ràng là Hương Thủy khá là giàu có về tài nguyên thiên nhiên, từ vị trí địa lý, đến đất đai, từ khoáng sản đến nước mặt và nước ngầm, từ đa dạng sinh học đến cảnh quan thiên nhiên Tài nguyên thiên nhiên đó có ý nghĩa rất to lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện Tuy nhiên, tài nguyên thiên nhiên đó chỉ có thể trở thành yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất xã hội, trở thành nguồn lực cơ bản cho phát triển khi nó được khai thác, sử dụng và hơn thế nữa, phải được khai thác, sử dụng một cách hợp lý, thông minh, và có hiệu quả Những quyết định

Trang 23

đóng cửa rừng tự nhiên, quy hoạch lại nghề khai thác và nuôi trồng thuỷ sản, thànhlập các khu bảo tồn thiên nhiên, phát triển du lịch sinh thái, những quy định

nghiêm cấm săn bắt, mua bán động vật hoang đã, nghiêm cấm sử dụng các

phương tiện đánh bắt thuỷ sản có tính chất huỷ diệt, là những hành động cụ thể

đã được thị xã thực hiện theo hướng sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên giàu có nhưng hữu hạn đó

2.1.3 Tài nguyên nước

Tài nguyên nước trong thị xã Hương Thủy bao gồm 2 nguồn chính là nguồn nước mặt và nước ngầm

Ngoài hệ thống sông ngòi, khe suối dày đặc thi tại Hương thủy có nhiều hồ tự nhiên và hồ nhân tạo Hồ tự nhiên nhỏ, cạn và đều ở đòng bằng hoặc vùng ven nhưcác hồ ở phía bắc sân bay Phú Bài Do ít nước và dao động mạnh theo mùa, nên giá trị sử dụng nhỏ; chỉ góp phần điều tiết nước cho sông hoặc khe suối như hồ ở điểm sét Phú Bài

Hồ nhân tạo gồm hồ Châu Sơn, hồ Phú Bài Hồ châu sơn cách sở UBND thị xã khoảng 1km về phía tây nam Hồ được tạo thành ở giữa một trũng sâu giữa các ngọn đồi và núi Châu Sơn, có dung tích 1 triệu m3, dùng để tưới nước cho các cánh đồng Thủy Phương, Thủy Châu

Hồ Phú Bài: là hồ chứa nước lớn của thị xã, nằm ở đồi núi phía Tây Nam làng PhúBài Hồ này có 4 mặt đều là đồi núi thấp, thu hút nguồn nước ở các nhánh sông cùng tên ở phía nam Hồ rộng, tương đối sâu, có dung tích 5 triệu m3, dùng để tướicho các cánh đồng ở Thủy Phù, cả phía đông và phía tây đường quốc lộ 1A, tuy lượng nước thay đổi theo mùa Là nơi có lượng mưa khá lớn nhưng địa hình dốc,

và lớp phủ rừng bị tàn phá, nên nước ngầm để cung cấp trong mùa khô cho hồ không lớn, khả năng sử dụng nước hồ và mùa này có thể bị hạn chế

Nước ngầm Hương Thủy lâu nay cũng đã được biết đến từ lâu, trong đó có nhiềunguồn nước đã được khai thác để phục vụ cho nhu cầu cuộc sống của con người ởHương Thủy Nhằm mục đích tìm kiếm khai thác mạch nước ngầm cung cấp chosản xuất công nghiệp, nông nghiệp và ăn uống của cư dân trên địa bàn HươngThủy Các nguồn nước ở rìa đồi và đồng bằng Hương Thủy, nước ngầm kháphong phú Nhất là vùng Phú Bài và các khu vực rìa đồi Bắc Nam Tuy nhiên, cáctầng chứa nước ở độ sâu khá lớn, từ 20m trở xuống Các tầng này giàu nước, nướcnhạt, có ý nghĩa trong việc cung cấp cho sản xuất, và ăn uống một cách đều đặn,thường xuyên trong năm Trữ lượng nói chung khoảng 6000 đến 100000m3/ngày

2.1.4 Tài nguyên khoáng sản

Trang 24

Tài nguyên kháng sản Hương Thủy cho đến nay chưa được điều tra, tham dò đầy

đủ, nhất là ở vùng đồi núi Hầu hết các loại đã biết đều nằm ở đồng bằng và vùng ven rìa phía tây Căn cứ vào tài liệu thu thập được qua các đợt tìm kiếm, thăm dò của các đoàn địa chất, số đã biết có thể chia làm ba nhóm: nhóm khoáng sản kim loại, nhóm khoáng sản phi kim loại, nhóm khoáng sản nước dưới đất

 Nhóm khoáng sản kim loại Vàng sa khoáng đây là khoáng sản ngoại sinh, gặp khá phổ biến ở các lưu vực song,chủ yếu là dọc thung lũng và khe suối

Nhưng hàm lượng không giống nhau Có nơi rất thấp, có nơi thấp song có thể khaithác được (nơi cao rất ít gặp) Vàng được tìm thấy dọc thung lũng sông Hữu trạch,

từ khe Trà Vệ đến Bình Điền, ở sông Tả Trạch từ khe Vàng đến khe Trâu Ngoài

Sắt sắt được phát hiện nhiều nơi tại vùng đồi núi, sông Tả Trạch về phía Đông Một là dải đồi núi dọc bờ Đông sông này, từ núi Mỏ Tàu giáp Phú Lộc đến quá Khe Lau, kéo dài đến hơn 7km và rộng 500-1000m quặng sắt ở đây có nguồn gốc ngoại sinh Gồm sắt nâu (limonit) và sắt đỏ (hêmatít), thành phần Fe203n H20 và

Fe203 Dải quặng này chạy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam Hàm lượng sắt khá cao, đến 40-45% Đá chứa sắt là cát và sét kết cổ sinh

Hai dải quặng này phân bố ở phía Tây xã Thủy Phù Sắt ở đây được biết đến từ lâu, trước cách mạng tháng 8 Phú Bài được biết đến nghề sắt nổi tiếng sắt Phú Bàicung cấp cho các làng rèn trong tỉnh để sản xuất công cụ và vũ khí Tuy nhiên lâu nay không dược nghiên cứu kỹ về nguồn gốc, phân bố do đó cũng không thể đánh giá được trữ lượng dù vậy căn cứ vào thành phần và đặc điểm của đá chứa sắt, có thể nhận xét sắt này cũng được tạo thành trong lớp vỏ phong hóa heterit Lớp vỏ này xuất hiện từ đá gốc, có chứa sắt nhôm, khí hậu nóng ẩm, có một mùa mưa xen

kẽ mùa khô trong năm Sắt ở đây cũng là sắt đỏ, sắt nâu

được nhiều doàn địa chất khảo sát thăm dò (như đoàn 206, đoàn 406 của cục địa chất, đội khảo sát địa chất thuộc sở công nghiệp Bình Trị Thiên cũ) nhìn chung, sét ở Hương Thủy đa dạng về nguồn gốc, gồm sét phong hóa từ đá phiến sét, sét bột kết và sét trầm tích Trong đó phổ biến hơn cả là sét phong hóa Về màu sắc,

có sét màu trắng, màu loang lỗ vàng, tím, sét màu xanh, màu vàng chanh trông rất hấp dẫn do thành phần hóa học, cấp hạt và màu sắc quy định, sét ở Hương Thủy

có chất lượng và giá trị sử dụng tốt trong công nghệ gốm sứ, sản xuất vật liệu xây dựng và là chất độn xà phòng Phân bố, sét không chỉ đóng khung ở vùng đồi núi

Trang 25

phía tây đường quốc lộ 1A, mà cả ở vùng phía đông trong phạm vi đồng bằng phù

sa bồi tụ Hiện đã biết cụ thể về các loại sét ở vùng đồi Châu Sơn, Phú Bài, vùng đồng bằng Thủy Châu chung quanh trụ sở ủy ban nhân dân thị xã hiện nay

+ Điểm sét ở hồ Châu Sơn: Ở phía nam núi Châu Sơn, cách quốc lộ 1A về phía tâygần 1km Địa hình là đồi thấp, giữa các đồi là các trũng ruộng đáy bằng Sét ở đây trên một diện tích lớn 40.000m3, sét ở đây được hình thành tại chỗ, do phong hóa

từ đá phiến sét, có cấu tạo phân phiến, nhiều nơi còn giữ nguyên cấu tạo của đá gốc hạt, có kích thước nhỏ chiếm ưu thếm, gồm sét và thạch anh ở dạng bột mịn Màu sắc đa dạng: Trắng đục, vàng, tím … trữ lượng xác định sơ bộ 63.509 tấn, chất lượng sét tốt đã được các xí nghiệp khai thác sử dụng như xí nghiệp sứ Đồng Hới, xí nghiệp sành sứ Đà Nẵng, và một xí nghiệp sản xuất xà phòng ở Đà Nẵng Điểm sét Phú Bài: chạy dọc theo hướng tây bắc – đông nam phía tây phường Phú Bài, nguồn gốc cũng giống sét hồ Châu Sơn Sét hạt mịn, dẻo về thành phần hóa học hàm lượng oxyt silic cao, hàm lượng sắt nhỏ Có màu trắng, trắng đục, vàng

và cũng có công dụng làm nguyên liệu sứ, sản xuất gạch ngói, làm chất độn xà phòng Sét ở đây khai thác dễ dang do nằm lộ thiên, nhưng lại là nơi nằm gần đường quốc lộ 1A và các trục đường nhỏ của thị xã Trữ lượng đánh giá trước đây (1983) là 295.295 m3

Ngoài sét ra, trong số khoáng sản phi kim loại, còn có rất nhiều loại khác phân bố rộng và trữ lượng lớn, dùng làm vật liệu xây dựng, làm móng nhà cửa, công trình, lát đường sá như đá cát kết, đá granit, cuội sỏi, sạn cát …

Nước ngầm Hương Thủy lâu nay cũng đã được nghiên cứu nhiều, trong đó doàn địa chất 708 của liên đoàn địa chất thủy văn miền nam nghiên cứu kỹ nhất nhằm mục đích tìm kiếm khai thác mạch nước ngầm cung cấp cho sản xuất công nghiệp,nông nghiệp và ăn uống của cư dân trên địa bàn Hương Thủy Đoàn đã tiến hành khoa sâu nhiều mũi khoan ở đồng bằng, bơm hút nước phân tích, xét nghiệm, xác định số lượng, chất lượng nước theo địa tầng đến độ sâu trên tram mét Kết quả cho thấy, ở rìa đồi và đồng bằng Hương Thủy, nước ngầm khá phong phú Nhất là vùng Phú Bài và các khu vực rìa đồi bắc nam Các lỗ khoan ở đây cho thấy, tang chứa nước ở độ sâu khá lớn, từ 20m trở xuống Kết quả bơm thí nghiệm cho thấy tầng này giàu nước, nước nhạt, có ý nghĩa trong việc cung cấp cho sản xuất, và ăn uống một cách đều đặn, thường xuyên trong năm Trữ lượng nói chung khoảng

6000 đến 100000m3/ngày, tính theo tài liệu bơm hút

 Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên:

Trang 26

- Tài nguyên đất có khả năng sản xuất nông nghiệp khá nhiều như trông lúa, hoa màu … nếu sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên này và có những biện pháp đúng mức

sẽ góp phần không nhỏ vào quá trình đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng của thị xã

- Tài nguyên nước ngầm có chất lượng và trữ lượng khá lớn, nhưng phân bố không đồng đều giữa các vùng cũng gây khó khăn cho việc khai thác phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất Nguồn nước mặt từ hồ đập và sông suối phong phú Nếu được đầu tư thích đáng thì thủy lợi sẽ tạo điều kiện cho phát triển nông nghiệp, công nghiệp, các ngành kinh tế và nức sinh hoạt

- Tài nguyên khoáng sản tuy không phong phú về chủng loại nhưng đá vôi và cát sạn sỏi đủ cung cấp cho nhu cầu xây dựng các công trình trong thị xã và các vùngphụ cận, đặc biệt là thành phố Huế

Hạn chế:

- Lượng nước bốc hơi vào mùa khô chiếm tỉ lệ khá cao, cũng gây ảnh hưởng

không nhỏ tới tình trạng mất cân đối nghiêm trọng và chế độ ẩm trong mùa khô, ảnh hưởng lớn đến việc sinh trưởng và phát triển của cây trông

- Đất đai nhiều vùng không bằng phẳng, độ dốc cao gây xói mòn và rửa trôi lớn như ở xã Dương Hòa, Phú Sơn

- Phần đất đai có độ dốc cao nhưng chủ yếu được sử dụng để trông chuối, các loại cây công nghiệp, trồng rừng nhưng những năm gần đây rừng có xu hướng giảm Tuy nhiên trong quy hoạch cần tăng độ che phủ rừng, tăng cường cây công nghiệplâu năm nhằm điều tiết khí hậu, đồng thời hạn chế xói mòn và bảo vệ đất đai

- Đất đai trên đị bàn thị xã phong phú, cố chất lượng tốt nhưng đa phần có tầng canh tác mỏng, vì vậy khó khăn trong cơ giới hóa trong nông nghiệp

- Nguồn nước mặt cạn kiệt trong mùa khô, việc khai thác nước ngầm gặp khó khăn

vì phân bố sâu và nhiều đá, với đồi núi nên vẫn khó khai thác

2.2 Hiện trạng khai thác tài nguyên ở Hương Thủy

2.2.1 Tài nguyên đất đai nông nghiệp

Công tác quản lý tài nguyên môi trường được chú trọng chỉ đạo Đã triểnkhai và cơ bản hoàn thành công tác Quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất trên địabàn thị xã đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011-2015 Đối vớiQuy hoạch sử dụng đất các phường, hiện đang trình Sở TN-MT thẩm định Đềcương và dự toán Riêng đối với các xã, việc Quy hoạch sử dụng đất gắn liềnvới đền án xây dựng nông thôn mới, đã có 05 xã (Thuỷ Tân, Thuỷ Phù, ThuỷBằng, Phú Sơn, Dương Hoà) được UBND thị xã phê duyệt Đề cương và dựtoán, đang được đơn vị tư vấn hoàn chỉnh để trình thẩm định

Trong những năm qua, giá trị sản xuất ngành trồng trọt bình quân 2 năm 2007) tăng 2.5%/năm, như vậy tiếp tục các thời gian sau tiếp tục tăng lên nếu được

(2006-sử dụng hợp lí hơn

Trang 27

Tổng diện tích trồng cây lương thực, 29.871,5 ha Trong đó có 10.662ha rừng tự nhiên, rừng phòng hộ, đặc dụng và môi trường sinh thái; rừng sản xuất, kinh doanh 13.653 ha; có nhiều hồ nước, khe suối và đồi rừng thông để phát triển du lịch; địa hình chủ yếu là đồi núi, không bị ngập lụt, có tầng đất ổn định, thuận lợi cho phát triển các khu, cụm công nghiệp, du lịch và đô thị của thị xã đối với vùng đất hướng tây này.

* Công tác giao đất, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất: Trong năm,

đã giao đất tái định cư cho 08 hộ; giao đất lâm nghiệp cho 53 hộ thuộc diện bồithường GPMB dự án Hồ Tả Trạch Cho thuê đất 05 trường hợp (02 trường hợplàm trang trại; 02 trường hợp thuê đất làm dịch vụ; 01 trường hợp thuê đất lâmnghiệp) Cho phép chuyển mục đích sử dụng đất 87 trường hợp với diện tích12.636,8 m2

* Công tác cấp giấy CNQSD đất: 11 tháng đầu năm, đã cấp được 1.821giấy CNQSD đất, ước cấp đến 31/12/2012 là 2.102 giấy CNQSD đất, trong đó:

Cấp giấy CNQSD đất ở ổn định trước 1/7/2004 là 233 giấy (đất ở nông

thôn 61 giấy, đất ở đô thị 172 giấy) Luỹ kế đến 31/12/2012 cấp được18.727/20.015giấy, đạt 93,56%KH, trong đó: đất ở nông thôn 7.899 giấy (đạt93,41%), đất ở đô thị 10.828 giấy (đạt 93,68%)

Cấp giấy CNQSD đất ở các trường hợp giao đất, đấu giá, chuyển nhượng, tặng cho và thừa kế, cấp đổi giấy CNQSD đất là 1.825 giấy.

Nhìn một cách tổng quát thì thấy chất lượng đất ở Hương Thủy rất tốt để phục vụ cho việc trồng các loại cây công nghiệp và cây lương thực nhằm phục vụ cho nhu cầu sống của người dân trên địa bàn thị xã và các vùng lân cận

2.2.2 Tài nguyên rừng

Trong những năm gần đây, nhà nước đã ban hành và áp dụng nhiều chính sách có tác động mạnh tới đời sống nhân dân cả nước nói chung và Hương Thủy nói riêng như việc giao đất, giao rừng, giao đất lâm nghiệp khoán quản lí bảo vệ rừng quy chế quản lí rừng phòng hộ, quy chế hưởng lợi, … tuy nhiên vẫn còn có một số nguyên nhân làm cho tài nguyên rừng ngày càng thu hẹp hơn đó là: áp lực về dân

số ở các khu rừng tăng nhanh, nghèo đói, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, người dân sinh kế chủ yếu dựa vào việc khai thác tài nguyên từ rừng, trình độ dân trí ở vùng sâu, vùng xa còn thấp kém, kiến thức địa phương không phát huy được, chính sáchnhà nước quản lí rừng cộng đồng còn nhiều bất cập, … cho nên dẫn đến việc tài nguyên rừng và các tài nguyên trong rừng ở Hương Thủy không ngừng giảm xuống qua các thời kỳ Trước đây diện tích rừng ở Hương Thủy khá lớn, nhưng cho tới hiện nay thì số lượng rừng đã giảm xuống một cách nhanh chóng Hiện nay

Trang 28

diện tích rừng còn lại chỉ khoảng 10.662 ha rừng tự nhiên, phòng hộ, đặc dụng

và môi trường sinh thái; rừng sản xuất kinh doanh 13.653 ha

Ngày nay chỉ còn khoảng 10.662 ha rừng tự nhiên Mặc dù tổng diện tích rừng ởHương Thủy tăng trong những năm qua, nhưng diện tích rừng bị mất còn ở mức cao Thống kê thì diện tích rừng tự nhiên ở Hương Thủy không còn nhiều Trong

đó, diện tích được Hương Thủy cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng đất có rừng là 168 ha Khai thác trắng (chủ yếu là rừng trồng) theo kế hoạch năm được duyệt là 135 ha Rừng bị chặt phá trái phép là 45 ha Thiệt hại do do sinh vật gây

ra cũng lớn Như vậy, diện tích rừng mất chủ yếu do được phép chuển đổi mục đích sử dụng và khai thác theo kế hoạch là 76%; diện tích rừng bị thiệt hại do các hành vi vi phạm các quy hoạch của thị xã về quản lí bảo vệ rừng tuy có giảm, nhưng vẫn ở mức cao, làm mất 94 ha, chiếm 23% trong tổng số diện tích rừng mấttrong 7 năm qua, bình quân thiệt hại là 13 ha/năm

Trong 4 năm 2005-2008, toàn huyện đã trồng mới gần 2391 ha rừng tập trung và hơn 612 nghìn cây phân tán, tỷ lệ che phủ rừng đạt 56%

Sự giảm sút độ che phủ và chất lượng rừng

Trước đây phần lớn tại Hương Thủy đều có rừng che phủ, nhưng chỉ khoảng thời gian một thế kỷ qua, rừng bị suy thoái nặng nề Trong thời kỳ pháp thuộc, nhiều vùng đất được khai phá để chuyển đổi mục đích sử dụng để trồng cây ăn quả, cây lương thực như sắn, và một số cây công nghiệp khác

Sau chiến tranh thì diện tích rừng chỉ còn lại với một diện tích không lớn, với lượng dân số tăng nhanh sau chiến tranh để hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng kinh tế còn yếu của mình, thì nhân dân Hương Thủy đã tiến hành khai thác một lượng lớn rừng để phục vụ cho nhu cầu đó Suy giảm về độ che phủ rừng ở các vùng là do mức tăng dân số đã tạo nhu cầu lớn về lâm sản và đất trồng trọt Kết quả đã dẫn đến việc biến nhiều vùng rừng thành đất hoang cằn cỗi

2.2.3 Tài nguyên nước

Hiện nay, trên địa bàn thị xã Hương Thủy hầu hết nước thải từ các hoạt động sinh hoạt cũng như công nghiệp chưa được thu gom xư lí mà trực tiếp thải ra môi trường bằng nhiều hình thức: tự thấm, hồ chứa nước thải, xả vào hệ thống sông, suối của thị xã Bên cạnh đó, thị xã mới thành lập nên hệ thống cơ sở hạ tầng thoátnước và xử lí nước thải còn yếu kém cộng thêm các cơ sở sản xuất, thương mại dịch vụ, và chăn nuôi nằm rải rác xen kẽ gây khó khăn trong công tác quản lí và

Trang 29

quy hoạch hệ thống thoát nước và xử lí nước thải của thị xã Hiện trạng này đã và đang gây ra những tác động xấu lên chất lượng nước mặt và nước ngầm của thị xã.

Để đánh giá chất lượng nước thải tại thị xã, thì qua điều tra hiện trạng tài nguyên nước ở thị xã Hương Thủy thì tại các cơ sở sản xuất “công ty cổ phần dệt may Huế

- phường Thủy Dương, thị xã Hương Thủy; DNTN Nhựa Thủy Dương – cụm TTCN làng nghề Thủy Phương, thị xã Hương Thủy; công ty cổ phần Vinh Phát – KCN Phú Bài, thị xã Hương Thủy; công ty CP Frit Huế - Lô A1, KCN Phú Bài, Thị xã Hương Thủy” Do tính chất nước thải tại các vị trí mẫu khác nhau nên đánhgiá, phân tích số liệu, cả 2 tiêu chuẩn: TCVN 6772 – 2000 và TCVN 5944 –2005 được áp dụng

Nước thải từ sinh hoạt

Qua kết quả phân tích mẫu nước thải so với TCVN 6772 – 2000 (hoạt động sinh hoạt) tại các vị trí đặc trưng cho thấy: PH có giá trị từ 7,11 đến 7,15 vẫn đang nằmtrog giới hạn cho phép

Tất cả các chỉ tiêu tổng coliforms vượt TCCP từ 240 đến 1000 lần, dầu tổng vượt TCCP từ 1,2 đến 2,7 lần

Nước thải công nghiệp

Kết quả phân tích mẫu nước thải so với TCVN 5945 – 2005 (hoạt động công nghiệp) tại công ty cổ phần dệt may Huế - phường Thủy Dương cho kết quả:Giá trị COD vượt TCCP 10 lần tại đây

Hầy hết các giá trị Cl-, N-NO3, N-NH3, P-PO

3-4, Fe, Pb, Hg khi phân tích đều đạt TCCP

Giá trị tổng coliforms tại đây đạt TCCP

Nhìn chung, phần lớn các chỉ tiêu đo đạc trong thành phần nước từ hoạt động sản xuất và sinh hoạt đều không đạt Tại các địa điểm lấy mẫu nước thải sinh hoạt thải

ra nhiều mẫu nước có chứa chất gây ô nhiễm môi trường còng tại các cơ sở sản xuất công nghiệp thi lại có thành phần kim loại nặng Hệ thống có sở hạ tầng thoátnước và xử lí nước thải còn yếu kém cộng thêm các cơ sở sản xuất, thương mại, dịch vụ gây khó khăn cho việc quản lí và quy hoạch hệ thống thoát nước và xử lí nước thải

Trang 30

Nhằm đánh giá chất lượng môi trương nước mặt tại Hương Thủy thì phản thông qua kết quả phân tích chất lượng nước mặt tại các vị trí trọng điểm trên dịa bàn thị

xã Nhưng qua thực tế cho thấy phân và nước thải gia súc từ hoạt động chăn nuôi chưa qua xử lý, tình trạng lạm dụng thuốc trừ sâu và thải bao bì đựng hóa chất bảo

vệ thực vật, là nguồn chất thải nguy hại đang là mối lo của nông thôn và gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường khu vực nông thôn từ trong làng ra ngoài đồng

Do nhu cầu phát triển kinh tế, người dân đang mở rộng quy mô chuồng trại nhưng

lại không thay đổi phương thức chăn nuôi, đa phần vẫn làm theo kiểu “chuồng lợn

cạnh nhà, chuồng gà cạnh bếp”, phân và nước thải gia súc chưa qua xử lý vẫn vô

tư thải ra rãnh nước đường làng Nếu gặp trời mưa, nước thải lênh láng, còn trời nắng thì bốc mùi hôi thối nồng nặc Không những thế, đây còn là môi trường thuận lợi để ruồi, muỗi, các ký sinh trùng gây bệnh phát sinh Nước rỉ từ rác thải còn ngấm vào nguồn nước ngầm, do vậy, nguy cơ phát sinh các loại dịch bệnh là rất cao

Còn tại các cơ sở khai thác khoáng sản thì chất lượng nước xung quanh khu vực khai thác có thể bị ô nhiễm do việc xả nước thải nước thải tại các mỏ khai thác bao gồm chủ yếu là các chất rắn lơ lửng, dầu mỡ rơi vãi phát sinh từ quá trình phun khống chế bụi, nước mưa chảy tràn, từ các hoạt đông phương tiện cơ giới làm rơi vãi, nước thải sinh hoạt của công nhân

Đối với hệ thống nước sạch cho đô thị và nông thôn tại thị xã Hương Thủy

- Nguồn nước có nhà máy nước công suất 5.000 m3/ngàyđêm, đã hoà mạng

vào hệ thống nhà máy nước Quảng Tế để cung cấp cho sinh hoạt và SX của khu

CN Phú Bài và cấp nước sinh hoạt cho nhân dân

- Mạng lưới đường ống Hiện có tuyến 300 dọc quốc lộ 1A từ nhà máy

nước thành phố Huế hoà mạng vào nhà máy nước Phú Bài để cung cấp cho sảnxuất Khu công nghiệp Phú Bài và nước sinh hoạt dân cư Mạng lưới đường ốngcấp 2, 3 cơ bản đã phủ kín khu vực dân cư tập trung hiện nay Số hộ dùng nướchợp vệ sinh toàn huyện đạt 97,48%

2.2.4 Tài nguyên khoáng sản

2.2.4.1 Tình hình phổ biến, giáo dục pháp luật về khoáng sản

Trong những năm qua, công tác quản lý nhà nước về khoáng sản trên địa bàn thị

xã Hương Thủy không ngừng được tăng cường, nâng cao hiệu lực, hiệu quả Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý tài nguyên khoáng sản đã được ban hành và ngày càng hoàn thiện Các chính sách về thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường cũng đã được bổ sung, sửa đổi kịp thời, phù hợp với tình hình thực tế, góp

Trang 31

phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả và đưa công tác quản lý hoạt động khoáng sản vào nền nếp góp phần bảo vệ môi trường trong hoạt động khoáng sản

Bên cạnh đó, UBND thị xã Hương Thủy đã chỉ đạo Phòng TN&MT thườngxuyên phối hợp với các phòng ban và địa phương phổ biến kiến thức pháp luật vềkhoáng sản và các chính sách của Nhà nước về khai thác tài nguyên khoáng sảncho người dân và các đơn vị khai thác tài nguyên khoáng trên địa bàn và hướngdẫn các đơn vị khai thác xin cấp mỏ khai thác đất san lấp đúng tại các khu vựcđược quy định theo Quy hoạch khai thác đất san lấp đất làm vật liệu san lấp trênđịa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2015 được UBND tỉnh Thừa Thiên Huế phêduyệt tại Quyết định số 2020/QĐ-UB ngày 22/9/2009

2.2.4.2 Tình hình và kết quả thực hiện Nghị quyết quy hoạch đất làm vật liệu san lấp trên địa bàn thị xã

- Tình hình khai thác đất san lấp trên địa bàn thị xã

Hiện nay, trên địa bàn thị xã có 08 đơn vị có giấy phép (còn hiệu lực) khaithác, vận chuyển đất san lấp gồm 03 đơn vị khai thác mỏ, 03 đơn vị vận chuyểnđất dôi dư trong quá trình cải tạo, san lấp mặt bằng, 02 đơn vị khai thác vậnchuyển đắp đê và đường đi nội đồng Cả 03 mỏ khai thác đất làm vật liệu san lấptrên địa bàn thị xã đều thuộc Quy hoạch đất san lấp của tỉnh Đối với những khuvực ngoài quy hoạch hoặc trong quy hoach nhưng chưa được cấp phép khai thácđược địa phương bảo vệ phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hình thức khai tháctrái phép nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên khoáng sản

- Công tác thanh tra, kiểm tra

UBND thị xã chỉ đạo Phòng TN&MT phối hợp với Thanh tra Sở TN&MTtỉnh, Phòng cảnh sát PCTP về môi trường – Công an Tỉnh, Công an thị xã và các

xã, phường tổ chức các cuộc kiểm tra, xử lý các trường hợp khai thác, vận chuyển,kinh doanh khoáng sản (đất san lấp) trái phép trên địa bàn

Trong 6 tháng đầu năm 2012 UBND thị xã đã ra Quyết định xử phạt hànhchính đối với 07 trường hợp vi vi phạm vận chuyển khoáng sản (đất san lấp) không

có nguồn gốc hợp pháp với số tiền xử phạt 7.250.000 đồng

Phòng TN&MT thị xã phối hợp với thanh tra Sở TN&MT, Phòng cảnh sátPCTP về môi trường – Công an Tỉnh tiến hành kiểm tra lập biên bản vi phạm hànhchính 7 trường hợp vi phạm khai thác trái phép, vận chuyển đất san lấp không cónguồn gốc hợp pháp với số tiền xử phạt 48.250.000

Trang 32

Bên cạnh đó, UBND thị xã thành lập Đoàn kiểm tra liên ngành xử lý cáchành vi vi phạm trong khai thác khoáng sản nhằm chấn chỉnh các hành vi vi phạmtrong khai thác khoáng sản trên địa bàn

Đầu tháng 8/2012, UBND thị xã chỉ đạo Đoàn kiểm tra liên ngành thị xã đãtiến hành kiểm tra công tác chấp hành pháp luật trong khai thác, vận chuyển đấtsan lấp của 10 đơn vị tham gia hoạt động khai thác, vận chuyển khoáng sản (đấtsan lấp) trên địa bàn thị xã theo Thông báo số 01/TB-ĐKTLN về Lịch kiểm traviệc chấp hành pháp luật trong khai thác khoáng sản năm 2012;

Kết quả kiểm tra:

- NDTN Tấn Lộc đang tiến hành làm thủ tục cấp phép khai thác mỏ; hiệntrạng khai thác: chưa khai thác

- DNTN Phúc Thịnh: đã hết hạn khai thác vận chuyển; hiện trạng khai thác:

đã ngưng hoạt động khai thác

- 08 đơn vị còn lại đều được cấp phép và đang trong thời hạn khai thác Cácđơn vị đều chấp hành tốt pháp luật khoáng sản và công tác Bảo vệ môi trườngtrong khai thác, gồm:

+ Có đầy đủ các Quyết định, Công văn của UBND tỉnh về việc cho phépcác đơn vị khai thác, vận chuyển đất san lấp

+ Hồ sơ thiết kế, bản đồ dự án khai thác mỏ

+ Thực hiện đầy đủ Đánh giá Tác động Môi trường, Cam kết Bảo vệ Môitrường và dự án cải tạo phục hồi môi trường cho dự án khai thác, vận chuyển đất sanlấp

+Thực hiện đầy đủ thuế Tài nguyên và Phí bảo vệ môi trường

Các đơn vị khai thác vận chuyển thực hiện khá tốt công tác tưới nước nhằmgiảm bụi phát sinh trên các tuyến đường vận chuyển

2.2.4.3 Tình hình khai thác khai thác cát, sạn sỏi dọc sông Hương trên địa bàn thị xã Hương Thủy

Tình hình khai thác cát, sạn sỏi dọc sông Hương trên địa bàn thị xã HươngThủy thời gian qua được các cấp, các ngành liên quan thường xuyên kiểm tra giámsát Nhưng do nhu cầu về vật liệu xây dựng mà nhất là cát, sạn sỏi trên địa bàn thị

xã nói riêng và tỉnh nói chung là rất lớn Bên cạnh đó, đến nay chưa có Quy hoạchkhai thác cát, sạn sỏi trên địa bàn Tỉnh Do vậy, tình hình khai thác cát, sạn sỏitrên địa bàn diễn ra khá phức tạp, làm ảnh hưởng đến môi trường, thay đổi dòngchảy, xói lở bờ sông nghiêm trọng, làm mất trật tự xã hội, chủ yếu tập trung ởđoạn sông Hương thuộc địa phận xã Thủy Bằng (từ thôn Cư Chánh 2 đến thôn Tân

Trang 33

Ba) Việc khai thác cát, sạn sỏi trái phép diễn ra khá phức tạp, liên tục cả ngày lẫnđêm nhằm né tránh các lực lượng chức năng liên ngành kiểm tra làm nhiều đoạn

bờ sông bị sạc lỡ nghiêm trọng

Đặc biệt, đoạn sông ở thôn Tân Ba, Vỹ Dạ tập trung lượng lớn các đò khaithác cát với nhiều cụm, mỗi cụm từ 10 – 20 đò dung tích từ 10 – 30 m3 cát/đò Dotập trung số lượng lớn đò khai thác tại một cụm nên tạo nên điểm sạc lỡ, thay đổidòng chảy (thôn Tân Ba bị sạc lỡ hơn 300m, thôn Vỹ Dạ bị sạt lỡ hơn 60m kè đádọc sông)

Phương tiện khai thác cát sỏi lòng sông chủ yếu là các đò sử dụng máy nổ

để hút cát cát, sỏi dưới lòng sông Bên cạnh đó, một số sử dụng các tàu cuốc lớntrong khai thác cát, sạn sỏi Các đối tượng khai thác cát chủ yếu là dân Vạn đò vàlao động thuộc khu vực khác đến khai thác nên chính quyền địa phương rất khóquản lý Bên cạnh đó, việc tranh giành nguồn khai thác làm ảnh hưởng đến tìnhhình an ninh trật tự trên địa bàn, đặc biệt ảnh hưởng đến cuộc sống của dân cư haibên bờ sông

Tình hình khai thác cát, sạn sỏi hiện nay trên dọc sông Hương phần lớnkhông được cấp phép Bên cạnh đó cũng có một số doanh nghiệp chấp hànhnghiêm túc đăng ký cấp phép để khai thác cát, sạn trên địa bàn Cụ thể như sau:

Hòa

12 tháng kể

từ ngày24/3/2011

3

DNTN Phú Vĩnh

(Công văn 2025/UBND-NN

ngày 19/5/2010)

Bãi bồi Vỹ Dạ, Dương

Hòa (Diện tích 3,0131ha) 12 tháng

Trang 34

Ngoài ra còn có một số hoạt động khai thác các loại khoáng sản khác.

Hoạt động thăm dò, khai thác khoáng sản trên địa bàn thị xã Hương Thủy diễn ra khá sôi động Sản phẩm khai thác tài nguyên khoáng sản không những đáp ứng được nhu cầu trên địa bàn thị xã mà còn cung cấp cho địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, Quảng Bình, Quảng Trị, Đà Nẵng … và một số vùng Còn các loại khoáng sản khác như vàng sa khoáng, sắt và nước ngầm thì tiếp tục được khai thác để phục vụ cho nhu cầu cuộc sống hiện tại của người dân trên địa bàn thị xã

Khai thác sắt là một nghề truyền thống lâu đời ở Hương Thủy và hiện nay vẫn tiếptục được phát triển về quy mô và số lượng Tiêu biểu nhất là ở Phù Bài với nghề sắt nổi tiếng, cung cấp cho các làng rèn trong tỉnh để sản xuất công cụ và vũ khí

Đối với nước ngầm: Nước ngầm hương thủy lâu nay cũng đã được nghiên cứu

nhiều, trong đó doàn địa chất 708 của liên đoàn địa chất thủy văn miền nam nghiên cứu kỹ nhất nhằm mục đích tìm kiếm khai thác mạch nước ngầm cung cấpcho sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và ăn uống của cư dân trên địa bàn Hương Thủy ở rìa đồi và đồng bằng Hương Thủy, nước ngầm khá phong phú Nhất là vùng Phú Bài và các khu vực rìa đồi bắc nam Các lỗ khoan ở đây cho thấy, tang chứa nước ở độ sâu khá lớn, từ 20m trở xuống kết quả bơm thí nghiệm cho thấy tầng này giàu nước, nước nhạt, có ý nghĩa trong việc cung cấp cho sản xuất, và ăn uống một cách đều đặn, thường xuyên trong năm Trữ lượng nói chung khoảng

6000 đến 100000m3/ngày, tính theo tài liệu bơm hút

Tài nguyên khoáng sản thị xã Hương Thủy không đa dạng theo chủng loại song lạitập trung cao về số lượng một số khoáng sản vật liệu xây dựng tụ nhiên, nguyên liệu để sản xuất vật liệu xây dựng Đây là nguồn lực quan trọng cho việc phát triểnkinh tế - xã hội của thị xã Vì vậy việc định hướng quy hoạch trong thời gian tới là

sẽ tạo điều kiện cho các mỏ được thăm dò xuống sâu thêm để tận dụng tài nguyên khoáng sản

2.3 Xây dựng chương trình nâng cao nhằm nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường và các vấn đề chủ yếu

2.3.1 Một số vấn đề chủ yếu

Kết quả điều tra nhận thức cộng đồng thị xã Hương Thủy cho thấy các vấn đề tồn tại chủ yếu như sau:

- Hầu hết người dân đều có ý thức về tác động của môi trường đến đời sống

và sức khỏe của con người cũng như ảnh hưởn đến trồng trọt, chăn nuôi phát triển kinh tế

Ngày đăng: 10/11/2014, 22:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ tài nguyên và môi trường, điều tra, khảo sát, phân tích đánh giá phục vụ xây dựng kế hoạch bảo vệ môi trường thực hiện kế hoạch bảo vệ môi trường Quốc Gia Khác
3. Chi cục bảo vệ môi trường thành phố Huế, xây dựng chương trình bảo vệ môi trường các phường năm 2012- 2013 Khác
4. Dư địa chỉ huyện Hương Thủy, niên giám thống kê huyện Hương Thủy năn 1998 Khác
5. Cục địa chất và khoáng sản việt nam, Báo cáo hội thảo khoa học về điều tra tai biến ở Việt Nam, Hà Nôi, 2000 Khác
6. Nguyễn Ngọc Thạch, viễn thám tài nguyên môi trường, NXB Khoa học và kỹ thuật. Hà Nôi, năm 1997 Khác
7. PGS>TS Phùng Chí Sỹ, báo cáo đề tài cấp nhà nước, nghiên cứu xây dựng quy hoạch môi trường vùng kinh tế trọng điểm miền trung (TP Đà Nẵng, các tỉnh Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngải), thành phố Hồ Chí Minh năm 2004 Khác
8. Báo cáo V/v thực hiện Quy hoạch khai thác đất san lấp đất làm vật liệu san lấp trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2015 Khác
9. Báo cáo Tình hình quản lý việc khai thác cát, sạn sỏi dọc sông Hương trên địa bàn thị xã Hương Thủy Khác
10. Kế hoạch Triển khai thực hiện Chương trình trọng điểm Bảo vệ Môi trường thị xã Hương Thủy năm 2013 Khác
11. Kế hoạch Bảo vệ Môi trường thị xã Hương Thủy giai đoạn 2012 – 2015 Khác
12. Báo cáo Tình hình thực hiện Đề án thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị xã Hương Thủy giai đoạn 2011 – 2015 Khác
13. Đề án thành lập thị xã hương thuỷ và thành lập phường thuộc thị xã hương thuỷ, tỉnh thừa thiên huế Khác
14. Nghị quyết 39-NQ/TW ngày 16/8/2004 của Bộ chính trị về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải Trung bộ đến năm 2010 Khác
15. Nghị định 42/2009/NĐ-CP ngày 07/5/2009 của Chính Phủ về phân loại đô thị và Thông tư số 34/2009/TT-BXD ngày 30/9/2009 về việc quy đinh chi tiết một số nội dung của Nghị định 42/2009/NĐ-CP Khác
16. Quyết định 86/2009/QĐ-TTg ngày 17/6/2009 của Chính phủ phê duyệt Đề án qui hoạch tổng thể phát triển KT-XH tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2020 Khác
17. Căn cứ quyết định số 659/QĐ-BXD ngày 10/06/2009 của Bộ Xây Dựng về việc công nhận thị trấn Phú Bài mở rộng thuộc huyện Hương Thuỷ tỉnh Thừa Thiên Huế đạt các tiêu chuẩn của đô thị loại IV Khác
18. Quyết định số 232/QĐ-UBND ngày 23 tháng 01 năm 2009 của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế về việc phê duyệt quy hoạch chung mở rộng thị trấn Phú Bài huyện Hương Thuỷ theo tiêu chí của Đô thị loại 4 Khác
19. Kết luận số 15 KL/TU ngày 25/6/2009 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về xây dựng Huyện Hương Thuỷ thành thị xã vào năm 2010 và định hướng phát triển Hương Thuỷ đến năm 2015 Khác
20. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội của huyện Hương Thủy đến năm 2020 Khác
21. Công bố Quyết định thanh tra của Bộ Tài nguyên và Môi trường trên địa bàn tỉnh Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Các đơn vị hành chính thị xã Hương Thủy - VẤN ĐỀ KHAI THÁC TÀI NGUYÊN VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở HƯƠNG THỦY TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Bảng 1.1 Các đơn vị hành chính thị xã Hương Thủy (Trang 9)
Hình 1.1 Bản đồ hành chính thị xã Hương Thủy, Tỉnh Thừa Thiên Huế - VẤN ĐỀ KHAI THÁC TÀI NGUYÊN VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở HƯƠNG THỦY TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Hình 1.1 Bản đồ hành chính thị xã Hương Thủy, Tỉnh Thừa Thiên Huế (Trang 10)
Bảng 1.2 Lượng mưa, nhiệt độ, độ ẩm của thị xã Hương Thủy, năm 2010. - VẤN ĐỀ KHAI THÁC TÀI NGUYÊN VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở HƯƠNG THỦY TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Bảng 1.2 Lượng mưa, nhiệt độ, độ ẩm của thị xã Hương Thủy, năm 2010 (Trang 13)
Bảng 1.3 Bảng số lượng dân cư toàn huyện và xã trong huyện, cơ cấu giới  tính, số người trong độ tuổi lao động và tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên. - VẤN ĐỀ KHAI THÁC TÀI NGUYÊN VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở HƯƠNG THỦY TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Bảng 1.3 Bảng số lượng dân cư toàn huyện và xã trong huyện, cơ cấu giới tính, số người trong độ tuổi lao động và tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên (Trang 18)
Hình 3.1 sơ đồ quản lí môi trường về lĩnh vực môi trường tại thị xã Hương  Thủy - VẤN ĐỀ KHAI THÁC TÀI NGUYÊN VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở HƯƠNG THỦY TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Hình 3.1 sơ đồ quản lí môi trường về lĩnh vực môi trường tại thị xã Hương Thủy (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w