Vốn kinh doanh là điều kiện tiên quyết để một doanh nghiệp đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh, tồn tại và phát triển. Trong đã vốn lưu động được coi là nhựa sống để nuôi dưỡng, duy trì và tái sản xuất hoạt động của doanh nghiệp đó. Chính vì vậy việc xác định hợp lý nhu cầu vốn lưu động và tổ chức quản lý vốn lưu động có hiệu quả có ảnh hưởng to lớn tới sự tồn tại và phát triển của Công ty xi măng Hoàng Thạch.
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
Vốn kinh doanh là điều kiện tiên quyết để một doanh nghiệp đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh, tồn tại và phát triển Trong đã vốn lưu động được coi là nhựa sống để nuôi dưỡng, duy trì và tái sản xuất hoạt động của doanh nghiệp đó Chính vì vậy việc xác định hợp lý nhu cầu vốn lưu động và tổ chức quản lý vốn lưu động có hiệu quả có ảnh hưởng to lớn tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp 3
Trong thời gian thực tập tại Công ty xi măng Hoàng Thạch, qua quá trình tìm hiểu và nghiên cứu em nhận thấy công tác tổ chức, sử dụng vốn lưu động của Công ty bên cạnh những thành tích đạt được vẫn còn một số hạn chế nhất định Những hạn chế này làm cho hiệu quả sử dụng vốn của Công ty bị giảm sút 3
Vì vậy em lựa chọn đề tài “Vốn lưu động và các giải pháp tài chính nâng cao hiệu quả tổ chức sử dụng vốn lưu động tại Công ty xi măng Hoàng Thạch ” 3
Bằng phương pháp nghiên cứu kết hợp lý luận với thực tiễn, trên cơ sở số liệu thực tế do Công ty cung cấp, luân văn đi sâu phân tích tình hình tổ chức, sử dụng vốn lưu động của Công ty: Tình hình quản lý vốn bằng tiền, các khoản phải thu, hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác Qua đó đánh giá chung về hiệu quả tổ chức, sử dụng vốn lưu động và đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm góp phần nâng cai hiệu quả tổ chức, sử dụng vốn lưu động tại Công ty 3
Luân văn gồm ba chương: 3
Chương I: Vốn lưu động và sự cần thiết khách quan phải nâng cao hiệu quả tổ
chức sử dụng vốn lưu động 3
Chương II: Thực trạng về tình hình tổ chức và sử dụng vốn lưu động ở Công ty xi măng Hoàng Thạch 3
Chương III: Một số giải pháp cơ bản góp phần nâng cao hiệu quả tổ chức, sử dụng vốn lưu động tại Công ty xi măng Hoàng Thạch 3
CHƯƠNG I 4
1.1.5 Nhu cầu VLĐ và các phương pháp xác định 10
Nhu cầu vốn 11
= 11
= 13
1.1.6 Nguồn tài trợ vốn của DN 15
Để đảm bảo quá trình sản xuất-kinh doanh được tiến hành thường xuyên, liên tục thì tương ứng với một quy mô kinh doanh nhất định, thường xuyên phải có một lượng TSLĐ nhất định nằm trong các giai đoạn luân chuyển như các tài sản dự trữ về nguyên vật liệu, sản phẩm đang chế tạo, bán thành phẩm và nợ phải thu từ khách hàng Những TSLĐ này gọi là TSLĐ
Trang 2thường xuyên, nó là bộ phận của tài sản thường xuyên Tài sản thường
xuyên gồm TSCĐ và TSLĐ thường xuyên 15
1.2 SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP HIỆN NAY 16
1.2.3.Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐ 18
1.3.PHƯƠNG HƯỚNG, BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP HIỆN NAY 20
1.3.1.Nguyên tắc quản lý VLĐ 20
1.3.2.Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng VLĐ 21
1.3.3 Một số biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ của DN 23
CHƯƠNG II 24
THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH TỔ CHỨC VÀ SỦ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG Ở CÔNG TY XI MĂNG HOÀNG THẠCH 24
2.1 Khái quát về công ty xi măng Hoàng Thạch 24
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty 24
2.1.2 Ngành nghề kinh doanh và sản phẩm chủ yếu 26
2.1.3 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý 27
2.1.4 Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất 28
2.1.5 Đặc điểm sản xuất kinh doanh của Công ty 30
2.1.6 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và tình hình tài chính của Công ty 31
2.2 Tình hình tổ chức và hiệu quả sử dụng VLĐ của Công ty trong năm 2008 38
2.2.1 Tình hình tổ chức đảm bảo VLĐ của Công ty 38
2.2.3 Đánh giả hiệu quả sử dụng VLĐ của Công ty 55
CHƯƠNG III: 59
MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ TỔ CHỨC, SỬ DỤNG VỒN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY XI MĂNG HOÀNG THẠCH 59
3.1 NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY TRONG THỜI GIAN TỚI 59
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NÂNG CAO HIỆU QUẢ TỔ CHỨC, SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY XI MĂNG HOÀNG THẠCH 62
3.2.1 Tổ chức nguồn tài trợ VLĐ hợp lý 62
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT VỚI CƠ QUAN NHÀ NƯỚC 70
3.3.1 Về phía Tổng công ty 70
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Vốn kinh doanh là điều kiện tiên quyết để một doanh nghiệp đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh, tồn tại và phát triển Trong đã vốn lưu động được coi
là nhựa sống để nuôi dưỡng, duy trì và tái sản xuất hoạt động của doanh nghiệp
đó Chính vì vậy việc xác định hợp lý nhu cầu vốn lưu động và tổ chức quản lý vốn lưu động có hiệu quả có ảnh hưởng to lớn tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Trong thời gian thực tập tại Công ty xi măng Hoàng Thạch, qua quá trình tìm hiểu và nghiên cứu em nhận thấy công tác tổ chức, sử dụng vốn lưu động của Công ty bên cạnh những thành tích đạt được vẫn còn một số hạn chế nhất định Những hạn chế này làm cho hiệu quả sử dụng vốn của Công ty bị giảm sút
Vì vậy em lựa chọn đề tài “Vốn lưu động và các giải pháp tài chính nâng cao hiệu quả tổ chức sử dụng vốn lưu động tại Công ty xi măng Hoàng Thạch ”.
Bằng phương pháp nghiên cứu kết hợp lý luận với thực tiễn, trên cơ sở số liệu thực tế do Công ty cung cấp, luân văn đi sâu phân tích tình hình tổ chức, sử dụng vốn lưu động của Công ty: Tình hình quản lý vốn bằng tiền, các khoản phải thu, hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác Qua đó đánh giá chung về hiệu quả tổ chức, sử dụng vốn lưu động và đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm góp phần nâng cai hiệu quả tổ chức, sử dụng vốn lưu động tại Công ty
Luân văn gồm ba chương:
Chương I: Vốn lưu động và sự cần thiết khách quan phải nâng cao hiệu quả tổ
chức sử dụng vốn lưu động
Chương II: Thực trạng về tình hình tổ chức và sử dụng vốn lưu động ở Công ty
xi măng Hoàng Thạch
Chương III: Một số giải pháp cơ bản góp phần nâng cao hiệu quả tổ chức, sử
dụng vốn lưu động tại Công ty xi măng Hoàng Thạch
Trang 41.1.1 Lý luận chung về vốn lưu động.
1.1.1.1 Khái niệm vốn lưu động.
Trong nền kinh tế thị trường, DN được coi là “tế bào” của nền kinh tế, là
bộ phận chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Chức năng chủ yếu của
DN là tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh để cung cấp cho thị trường các sản phẩm, dịch vụ phục vụ người tiêu dùng nhằm mục đích sinh lời Để thực hiện được chức năng đó, DN cần phải có các yếu tố cơ bản sau: Sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động Trong đó, tư liệu lao động khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh thì không thay đổi hình thái ban đầu Giá trị của nó được dịch chuyển từng phần vào giá trị sản phẩm và thu hồi dần khi sản phẩm được tiêu thụ Còn đối tượng lao động khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh luôn thay đổi hình thái vật chất ban đầu
Xét về hình thái hiện vật, đối tượng lao động được gọi là các TSLĐ, bao gồm hai loại: TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông
- TSLĐ sản xuất gồm: Nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm,…
- TSLĐ lưu thông: Bao gồm những TSLĐ nằm trong quá trình lưu thông như: Thành phẩm trong kho chờ tiêu thụ, các loại tiền ( tiền mặt, tiền đang chuyển, TGNH), các loại đầu tư chứng khoán ngắn hạn, các khoản vốn trong thanh toán (khoản phải thu, khoản tạm ứng),…
Trang 5Nếu xét về hình thái giá trị, đối tượng lao động còn được gọi là vốn lưu động của DN Như vậy, ta có khái niệm về VLĐ như sau:
“ Vốn lưu động của DN là số vốn ứng ra để hình thành nên các TSLĐ nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của DN được thực hiện thường xuyên, liên tục VLĐ luân chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và được thu hồi toàn bộ, hoàn thành một vòng luân chuyển khi kết thúc một chu kỳ kinh doanh.”
1.1.1.2 Quá trình vận động của vốn lưu động (vòng tuần hoàn VLĐ).
Khi tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, VLĐ của DN luôn luôn vận động và chuyển hóa qua nhiều hình thái khác nhau Quá trình này diễn ra thường xuyên, lặp đi lặp lại có tính chất chu kỳ và được gọi là vòng tuần hoàn chu chuyển VLĐ
Trong DN sản xuất: Sự chu chuyển của VLĐ được thể hiện qua sơ đồ sau:
- Giai đoạn tiêu thụ ( H’ – T’): Kết thúc vòng tuần hoàn, DN tiến hành tiêu thụ sản phẩm VLĐ từ hình thái vốn thành phẩm chuyển về hình thái tiền tệ ban đầu
Trong DN thương mại: VLĐ của DN được chuyển hóa qua hai giai đoạn,
biểu hiện qua sơ đồ sau:
T – H – T’
- Giai đoạn mua hàng hóa (T – H): VLĐ từ hình thái tiền tệ chuyển sang hình thái hàng hóa dự trữ
Trang 6- Giai đoạn bán hàng hóa ( H – T’): VLĐ từ hình thái hàng hóa dự trữ chuyển sang hình thái vốn bằng tiền.
Như vậy, VLĐ là điều kiện vật chất không thể thiếu được của quá trình tái sản xuất Muốn cho quá trình tái sản xuất được liên tục, DN phải có đủ vốn
để đầu tư vào các hình thái khác nhau của VLĐ, đảm bảo cho các hình thái tồn tại hợp lý, đồng thời nhau Từ đó tạo điều kiện cho chuyển hóa hình thái VLĐ được thuận lợi, góp phần tăng tốc độ luân chuyển VLĐ, tăng hiệu suất sử dụng VLĐ trong DN
1.1.2.Phân loại VLĐ.
1.1.2.1.Căn cứ vào hình thái biểu hiện của vốn.
VLĐ được chia thành hai loại:
- Vốn bằng tiền: Bao gồm các khoản vốn tiền tệ như tiền mặt tại quỹ, TGNH, tiền đang chuyển, các khoản phải thu của khách hàng, các khoản ứng trước tiền mua hàng cho người bán,…
- Vốn về hàng tồn kho:
+ Trong DN sản xuất: Vốn vật tư, hàng hóa gồm các khoản vốn có hình
thái cụ thể như: Nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ, sản phẩm dở dang, chi phí trả trước, thành phẩm,…
+ Trong DN thương mại: Vốn về hàng tồn kho chủ yếu là giá trị các loại
Trang 7- VLĐ trong khâu dự trữ sản xuất gồm: Vốn nguyên vật liệu chính, vốn vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, vật đóng gói, công cụ dụng cụ nhỏ.
- VLĐ trong khâu trực tiếp sản xuất, gồm: Vốn sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, chi phí trả trước
- VLĐ trong khâu lưu thông, gồm: Vốn thành phẩm, vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán, các khoản đầu tư ngắn hạn, cho vay ngắn hạn,…
Cách phân loại này giúp việc đánh giá tình hình phân bổ VLĐ trong các khâu của quá trình luân chuyển vốn, thấy được vai trò của từng thành phần vốn đối với quá trình kinh doanh Trên cơ sở đó, đề ra biện pháp thích hợp điều chỉnh cơ cấu VLĐ hợp lý, đạt hiệu quả sử dụng vốn cao nhất
1.1.3.Nguồn VLĐ của DN.
1.1.3.1 Phân loại theo quan hệ sở hữu vốn.
Theo cách này, nguồn VLĐ được chia thành hai loại:
- Vốn chủ sở hữu: Là số VLĐ thuộc quyền sở hữu của DN, DN có đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng, chi phối và định đoạt bao gồm: Vốn góp cổ phần trong công ty Cổ phần, vốn do chủ DN tư nhân bỏ ra, vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước, vốn tự bổ sung từ lợi nhuận, vốn từ các quỹ,…
- Nợ phải trả: Là vốn thuộc quyền sở hữu của các chủ thế kinh tế khác, DN
có quyền sử dụng, chi phối trong một thời gian nhất định gồm: vay từ ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng, vay thông qua phát hành trái phiếu, các khoản nợ chiếm dụng là các khoản vốn mà DN được sử dụng một cách hợp pháp khi chưa đến thời kỳ hạn trả,…
Cách phân loại này cho thấy kết cấu nguồn hình thành VLĐ của DN, giúp DN có biện pháp quản lý VLĐ một cách chặt chẽ, có biện pháp sử dụng, đảm bảo an toàn tài chính trong việc sử dụng vốn
1.1.3.2.Phân loại theo nguồn hình thành VLĐ.
Theo cách phân loại này, VLĐ được hình thành từ các nguồn:
Trang 8- Nguồn vốn điều lệ: Là số VLĐ được hình thành từ khi thành lập DN do các chủ sở hữu của DN bỏ ra, hoặc tự bổ sung từ hoạt động kinh doanh.
- Nguồn vốn tự bổ sung: Là nguồn vốn do DN tự bổ sung, chủ yếu từ lợi nhuận để lại nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh
- Nguồn vốn liên doanh liên kết: Là số vốn hình thành từ vốn góp liên doanh của các bên tham gia liên doanh Vốn góp liên doanh có thể bằng tiền hoặc hiện vật như vật tư hàng hóa,…
- Nguồn vốn đi vay: Vay từ các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng hoặc DN phát hành trái phiếu để huy động vốn
- Nguồn vốn chiếm dụng: Là số vốn mà DN chiếm dụng hợp pháp từ các chủ thể kinh tế khác, phát sinh trong quan hệ thanh toán như: Phải trả người bán, phải trả người lao động, phải nộp ngân sách Nhà nước,…
Cách phân loại này giúp DN thấy được cơ cấu nguồn tài trợ vốn, từ đó
lựa chọn cơ cấu nguồn vốn tối ưu nhằm giảm thấp nhất chi phí sử dụng vốn 1.1.3.3 Phân loại theo thời gian huy động và sử dụng vốn.
Theo cách này nguồn VLĐ được chia thành nguồn VLĐ tạm thời và nguồn VLĐ thường xuyên
- Nguồn VLĐ tạm thời là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn chủ yếu để đáp ứng các nhu cầu có tính chất tạm thời về VLĐ phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của các DN Nguồn vốn này bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng, các tổ chức tín dụng và các khoản nợ ngắn hạn khác
- Nguồn VLĐ thường xuyên là nguồn vốn có tính chất ổn định nhằm hình thành nên TSLĐ thường xuyên cần thiết Được xác định như sau:
Nguồn VLĐ thường xuyên = TSLĐ – Nợ ngắn hạnViệc phân loại nguồn VLĐ như trên giúp cho người quản lý xem xét huy
Trang 9quả tổ chức và sử dụng VLĐ trong DN mình Ngoài ra nó còn giúp cho nhà quản lý lập các kế hoạch tài chính hình thành nên những dự định về tổ chức nguồn VLĐ trong tương lai, trên cơ sở xác định quy mô, số lượng VLĐ cần thiết để lựa chọn nguồn VLĐ này mang lại hiệu quả cao nhất cho DN.
1.1.4.Kết cấu VLĐ và các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu VLĐ.
Kết cấu VLĐ phản ánh các thành phần và tỷ trọng của từng thành phần VLĐ chiếm trong tổng thể VLĐ của DN Kết cấu VLĐ ở các DN khác nhau thì khác nhau Việc phân tích kết cấu VLĐ của DN giúp DN hiểu rì hơn về đặc điểm VLĐ mà mình đang tổ chức và sử dụng Từ đó xác định rì các trọng điểm
và biện pháp quản lý, đưa ra phương hướng sản xuất hợp lý của DN trong các thời kỳ, đưa lại hiệu quả sử dụng vốn cao, chi phí sử dụng vốn thấp cho DN
* Các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu VLĐ của DN.
- Nhóm nhân tố về mặt sản xuất, như:
+ Đặc điểm quy trình công nghệ, quy mô sản xuất
+ Độ dài chu kỳ sản xuất càng dài thì lượng vốn ứng ra cho sản phẩm dở dang càng cao và ngược lại
+ Đặc điểm tổ chức sản xuất có ảnh hưởng đến sự khác nhau về tỷ trọng VLĐ bỏ vào khâu sản xuất và khâu dự trữ Nếu DN tổ chức sản xuất đồng bộ, phối hợp được khâu cung cấp và khâu sản xuất một cách hợp lý sẽ giảm bớt được một lượng dữ trữ vật tư, sản phẩm dở dang
+ Trình độ, tay nghề cán bộ công nhân viên
Nhóm nhân tố về mua sắm vật tư và tiêu thụ sản phẩm :
+ Khoảng cách giữa DN với đơn vị cung ứng vật tư, và với đơn vị mua hàng
+ Điều kiện về phương tiện giao thông vận tải
+ Khả năng cung cấp vật tư của thị trường
Trang 10+ Kỳ hạn giao hàng và khối lượng vật tư mỗi lần giao hàng.
+ Đặc điểm của sản phẩm: Nếu là sản phẩm mới tung ra thị trường hoặc
là sản phẩm xa xỉ thì không nên sản xuất quá nhiều vì có thể tồn kho nhiều do không bán được
+ Uy tín của DN đối với nhà cung cấp hoặc đối với khách hàng
Ngoài ra còn chịu ảnh hưởng của quy mô hợp đồng ký kết, trình độ marketing sản phẩm,…
- Nhóm nhân tố về mặt thanh toán:
Đây là các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến kết cấu VLĐ Tình hình quản
lý khoản phải thu của DN, việc chấp hành kỷ luật thanh toán của khách hàng, lựa chọn hình thức thanh toán thích hợp,… ảnh hưởng đến kết cấu VLĐ Phương thức thanh toán hợp lý, giải quyết nhanh chóng kịp thời sẽ làm giảm tỷ trọng vốn phải thu
Ngoài ba nhóm nhân tố trên, kết cấu VLĐ còn chịu ảnh hưởng bởi tính chất thời vụ của nguyên vật liệu, của sản xuất và trình độ tổ chức quản lý
1.1.5 Nhu cầu VLĐ và các phương pháp xác định
1.1.5.1 Nhu cầu VLĐ.
Trong chu kỳ kinh doanh của DN phát sinh nhu cầu VLĐ Nhu cầu VLĐ của DN là thể hiện số vốn tiền tệ cần thiết DN phải trực tiếp ứng ra để hình thành một lượng dự trữ hàng tồn kho và các khoản phải thu của khách hàng sau khi đã sử dụng khoản tín dụng nhà cung cấp, có thể xác định theo công thức sau:
Trang 11Các khoản nợ phải thu từ khách hàng
-Các khoản nợ phải trả nhà cung cấp
Nhu cầu VLĐ thường xuyên cần thiết tối thiểu là số vốn tính ra phải đủ
để đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được tiến hành liên tục, đồng thời phải đảm bảo tiết kiệm một cách hợp lý
Việc xác định nhu cầu VLĐ thường xuyên đúng đắn và hợp lý có ý nghĩa rất quan trọng vì:
- Là cơ sở để tổ chức tốt, huy động đầy đủ, kịp thời các nguồn tài trợ Nếu
DN huy động vốn không đáp ứng nhu cầu sẽ gây khó khăn cho công tác đảm bảo vốn, làm gián đoạn quá trinh sản xuất kinh doanh, gây tổn thất cho DN
- Giúp DN sử dụng vốn hợp lý, tiết kiệm, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ
1.1.5.2 Phương pháp xác định nhu cầu VLĐ thường xuyên của DN.
Để xác định nhu cầu VLĐ thường xuyên của DN, phải tùy theo đặc điểm kinh doanh và điều kiện cụ thể của DN trong từng thời kỳ mà có thể lựa chọn
áp dụng các phương pháp xác định khác nhau Có hai phương pháp chủ yếu: Phương pháp trực tiếp và phương pháp gián tiếp
a) Phương pháp trực tiếp xác định nhu cầu VLĐ thường xuyên của DN.
Đây là phương pháp áp dụng thông thường cho giai đoạn đầu DN thành lập, chưa có số liệu kỳ trước để làm căn cứ Nội dung cơ bản của phương pháp này là: Căn cứ vào các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến lượng VLĐ mà DN phải ứng ra để xác định nhu cầu VLĐ
Việc xác định nhu cầu VLĐ có thể theo trình tự sau:
Trang 12- Xác định nhu cầu vốn để dự trữ hàng tồn kho cần thiết cho hoạt động
kinh doanh của DN
Trong đó: VTK: Nhu cầu vốn để dữ trữ hàng tồn kho
M : Mức tiêu hao bình quân một ngày của loại vốn được tính toán
N : Số ngày luân chuyển của loại vốn được tính toán
i : Loại vốn được sử dụng trong khâu ( i = 1 ,k )
Dựa theo công thức trên, xác định nhu cầu VLĐ để dự trữ về nguyên vật liệu chính, vật tư khác, sản phẩm dở dang, chi phí trả trước và thành phẩm Tổng hợp lại sẽ xác định được tổng mức dữ trữ hàng tồn kho của DN
- Dự kiến khoản phải thu:
Một trong các điều kiện quan trọng để thu hút khách hàng là chính sách bán chịu của DN Bất kỳ một DN nào muốn tiêu thụ mạnh sản phẩm, tăng doanh thu và lợi nhuận bán hàng đều phải suy nghĩ đến chính sách bán chịu Khi bán chịu sản phẩm hàng hóa- dịch vụ cho khách hàng, điều đó đồng nghĩa với việc DN đã cấp một khoản tín dụng cho khách hàng, tức là làm tăng nhu cầu vốn, tăng chi phí quản lý, thu hồi nợ của DN Điều đó đòi hỏi DN phải xem xét các yếu tố tác động đến nợ phải thu và lựa chọn chính sách bán chịu hợp lý,
có lợi nhất Một trong những yếu tố quan trọng cần xác định trong việc bán chịu
là thời gian cho khách hàng nợ Trên cơ sở xác định được độ dài của thời gian này có thể dự kiến được khoản phải thu trung bình theo công thức sau:
Npt = Kpt × Dn
Trong đó: Npt : Nợ phải thu dự kiến kỳ kế hoạch
K Thời hạn trung bình cho khách hàng nợ
Trang 13Dn : Doanh thu bán hàng bình quân một ngày kỳ kế hoạch.
- Dự kiến khoản phải trả.
Trong hoạt động kinh doanh, DN có thể mua chịu nguyên vật liệu hay hàng hóa của nhà cung cấp Tức là nhà cung cấp đã cấp vốn tín dụng thương mại cho DN là giảm nhu cầu VLĐ của DN Tuy nhiên, việc sử dụng tín dụng của nhà cung cấp cũng giống như con dao hai lưỡi do chi phí sử dụng vốn rất cao Do đó, DN phải xem xét kỹ lưỡng các điều kiện tín dụng nhà cung cấp đưa
ra và tình hình tài chính của DN Trên cơ sở đó có thể dự kiến được khoản nợ phải trả cho nhà cung cấp theo công thức sau:
Nợ phải
trả nhà
cung cấp
= Kỳ trả tiền trung bình ×
Giá trị nguyên vật liệu hoặc hàng hóa mua vào bình quân một ngày trong kỳ kế hoạch (loại mua chịu)
Sau khi đã tính toán nhu cầu vốn dự trữ hàng tồn kho, dự kiến khoản phải
thu, khoản phải trả, xác định nhu cầu VLĐ theo công thức đã nêu ở phần 1.1.5.1.
b) Phương pháp gián tiếp xác định nhu cầu VLĐ thường xuyên của DN.
Phương pháp này thường áp dụng cho các DN đã đi vào hoạt động, có số liệu kỳ trước làm căn cứ tính toán và có nhiệm vụ kinh doanh cho kỳ sau
-Cơ sở của phương pháp này là:
+Dựa vào thống kê kinh nghiệm để xác định
+Dựa vào tổng mức luân chuyển VLĐ năm trước
+ Dựa vào sự phấn đấu rút ngắn ngày luân chuyển VLĐ
+Dựa vào tổng mức luân chuyển VLĐ kỳ kế hoạch
Nhu cầu VLĐ được xác định theo công thức sau:
Vnc = VLĐO x M1
Mo x (1 + t%)
Trang 14Hoặc Vnc =
1
L1M
Trong đó: Vnc : Nhu cầu VLĐ năm kế hoạch
VLĐo : Số VLĐ bình quân năm báo cáo
M1, Mo : Tổng mức luân chuyển VLĐ trong năm kế hoạch và năm báo cáo
L1 : Số vòng quay VLĐ năm kế hoạch
t% : Tỷ lệ tăng (giảm) số ngày luân chuyển VLĐ năm kế hoạch so với năm báo cáo
t% =
Ko
Ko
K1 −
Trong đó: K1, Ko là kỳ luân chuyển VLĐ năm kế hoạch và năm báo cáo
Sau khi xác định được nhu cầu VLĐ cho kỳ kế hoạch, DN tiến hành phân
bổ nhu cầu VLĐ cho từng khâu: dự trữ, sản xuất, lưu thông theo một tỷ lệ nhất định (sử dụng tỷ lệ của năm báo cáo)
Phương pháp gián tiếp được sử dụng rộng rãi và phổ biến nhất, bởi nó giúp
DN có thể xác định nhanh nhu cầu VLĐ đáp ứng được nhu cầu kế hoạch hóa
Trang 151.1.6 Nguồn tài trợ vốn của DN.
Để đảm bảo quá trình sản xuất-kinh doanh được tiến hành thường xuyên, liên tục thì tương ứng với một quy mô kinh doanh nhất định, thường xuyên phải có một lượng TSLĐ nhất định nằm trong các giai đoạn luân chuyển như các tài sản dự trữ về nguyên vật liệu, sản phẩm đang chế tạo, bán thành phẩm và nợ phải thu từ khách hàng Những TSLĐ này gọi là TSLĐ thường xuyên, nó là bộ phận của tài sản thường xuyên Tài sản thường xuyên gồm TSCĐ và TSLĐ thường xuyên
Trong hoạt động kinh doanh của DN, không phải lúc nào cũng được tiến hành một cách bình thường, mà có những lúc xuất hiện những biến cố làm nảy sinh thêm nhu cầu VLĐ để trang trải, từ đó hình thành nên bộ phận TSLĐ có tính chất tạm thời
Các mô hình tài trợ vốn cho DN.
Mô hình tài trợ thứ nhất: Toàn bộ TSCĐ là TSLĐ được đảm bảo bằng
nguồn vốn thường xuyên, toàn bộ TSLĐ tạm thời được đảm bảo bằng nguồn vốn tạm thời Mô hình này có lợi ích: Giúp cho DN hạn chế được những rủi ro trong thanh toán, mức độ an toàn cao hơn; giảm bớt được chi phí trong việc sử dụng vốn Nhưng mô hình này chưa tạo ra sự linh hoạt trong việc tổ chức sử dụng vốn, thường vốn nào nguồn ấy, tính chắc chắn được đảm bảo hơn, song kém linh hoạt hơn
Mô hình tài trợ thứ hai: Toàn bộ TSCĐ, TSLĐ thường xuyên và một
phần của TSLĐ tạm thời được đảm bảo bằng nguồn vốn thường xuyên, và một phần TSLĐ tạm thời còn lại được đảm bảo bằng nguồn vốn tạm thời Sử dụng
mô hình này, khả năng thanh toán và độ an toàn tài chính ở mức cao, tuy nhiên
Trang 16DN phải sử dụng nhiều khoản vay dài hạn và trung hạn nên DN phải trả chi phí nhiều hơn cho việc sử dụng vốn.
Mô hình tài trợ thứ ba: Toàn bộ TSCĐ và một phần TSLĐ thường
xuyên được đảm bảo bằng nguồn vốn thường xuyên, còn một phần TSLĐ thường xuyên và toàn bộ TSLĐ tạm thời được đảm bảo bằng nguồn vốn tạm thời Về lợi thế, mô hình này chi phí sử dụng vốn sẽ được hạ thấp hơn vì sử dụng nhiều hơn nguồn vốn tín dụng ngắn hạn, việc sử dụng vốn sẽ linh hoạt hơn Trong thực tế, mô hình này thường được các DN lựa chọn, vì một phần tín dụng ngắn hạn được xem như dài hạn thường xuyên, đối với các DN mới hình thành lại càng cần thiết Việc sử dụng mô hình này, DN cũng cần sự năng động trong việc tổ chức nguồn vốn, vì áp dụng mô hình này khả năng gặp rủi ro sẽ cao hơn
1.2 SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP HIỆN NAY.
- Nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ nhằm đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra một cách thường xuyên, liên tục: Đặc điểm chu chuyển của VLĐ là luân chuyển nhanh, giá trị của vốn được thu hồi lại toàn bộ một lần sau một chu kỳ sản xuất kinh doanh Nếu DN không đảm bảo đủ lượng VLĐ đáp ứng kịp thời cho quá trình sản xuất kinh doanh thì quá trình này sẽ bị gián đoạn, gây thiệt hại do ngừng sản xuất, ảnh hưởng đến việc quay vòng vốn Ngược lại, nếu DN tăng cường quản lý, thực hiện bảo toàn nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ sẽ đảm bảo cho các giai đoạn luân chuyển và chuyển hóa hình thái vốn thuận lợi, hợp lý, vốn quay vòng nhanh, chớp được cơ hội đầu tư, thu được nhiều lợi nhuận
Trang 17- Thường xuyên nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và tăng lợi nhuận cho DN: Hiệu quả sản xuất kinh doanh và lợi nhuận luôn là mối quan tâm và là mục tiêu hàng đầu của DN Để đạt được mục tiêu đó thì một trong những biện pháp mà bất kỳ DN nào cũng cần đó là phải không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ Đó chính là chìa khóa, là con đường ngắn nhất giúp DN có được kết quả kinh doanh tốt nhất cho mình.
Sự vận động của VLĐ phản ánh sự vận động của vật tư, hàng hóa, vốn bằng tiền… VLĐ luân chuyển nhanh hay chậm phản ánh số lượng vật tư sử dụng tiết kiệm hay lãng phí, tốc độ thu hồi các khoản phải thu như thế nào Từ
đó, DN có các biện pháp thích hợp nhằm kiểm tra giám sát một cách toàn diện đối với các khoản mục trong cơ cấu VLĐ, đảm bảo vốn không bị ứ đọng ở các khâu Sử dụng VLĐ hợp lý không những giúp giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh trên thị trường mà còn cho phép DN khai thác tối đa năng lực làm việc của TSCĐ, làm tăng lợi nhuận, góp phần vào công tác bảo toàn và phát triển vốn kinh doanh
- Việc nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ còn đáp ứng yêu cầu bảo toàn VLĐ với hoạt động sản xuất kinh doanh của DN: Mục tiêu sản xuất kinh doanh của DN là thu được lợi nhuận và lợi ích xã hội chung, nhưng bên cạnh đó một
số vấn đề quan trọng đặt ra cho DN là việc bảo toàn VLĐ Do đặc điểm của VLĐ là chu chuyển toàn bộ, một lần vào giá trị sản phẩm, hình thái VLĐ thường xuyên biến đổi nên việc bảo toàn VLĐ thực chất là bảo đảm cho số vốn cuối kỳ đủ mua một lượng vật tư, hàng hóa tương đương đầu kỳ khi giá cả hàng hóa tăng lên
Trang 18Rì ràng, nâng cao hiệu quả tổ chức và sử dụng VLĐ luôn là yếu tố hàng đầu trong mối quan tâm của mỗi DN, là một khâu thiết yếu trong công tác quản trị tài chính ở DN, là một nhiệm vụ quan trọng của các nhà quản trị TCDN Nó gắn liền với sự tồn tại và lợi ích của DN, là tiêu chí để đo hiệu quả kinh doanh giữa các kỳ.
1.2.3.Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐ.
Để đạt được lợi ích kinh doanh đòi hỏi các DN phải sử dụng hiệu quả từng đồng VLĐ Việc sử dụng hợp lý, có hiệu quả VLĐ được đánh giá thông qua các chỉ tiêu sau:
* Tốc độ luân chuyển VLĐ.
Việc sử dụng hợp lý tiết kiệm VLĐ được biểu hiện trước hết ở tốc độ luân chuyển VLĐ của DN nhanh hay chậm VLĐ luân chuyển càng nhanh thì hiệu suất sử dụng VLĐ càng cao và ngược lại
Tốc độ luân chuyển VLĐ có thể đo bằng hai chỉ tiêu là số lần luân chuyển và kỳ luân chuyển vốn
Số lần luân chuyển VLĐ: phản ánh số vòng quay vốn được thực hiện
trong một thời kỳ nhất định, thường tính trong 1 năm Công thức tính như sau:
M VLĐ
Trong đó: L: Số lần luân chuyển (số vòng quay) của VLĐ trong kỳ
M: Tổng mức luân chuyển VLĐ trong kỳ (doanh thu thuần)
VLĐ: VLĐ bình quân trong kỳ
L =
Trang 19Kỳ luân chuyển VLĐ: phản ánh số ngày để thực hiện một vòng quay
VLĐ
Công thức:
360 (VLĐx 360)
Trong đó: K: kỳ luân chuyển VLĐ
N: Số ngày dương lịch trong kỳ
Vòng quay VLĐ càng nhanh thì kỳ luân chuyển VLĐ càng rút ngắn và VLĐ càng được sử dụng có hiệu quả
* Mức tiết kiệm VLĐ do tăng nhanh tốc độ luân chuyển.
Chỉ tiêu này phản ánh số VLĐ có thể tiết kiệm được do tăng tốc độ luân chuyển VLĐ ở kỳ so sánh (kỳ kế hoạch) so với kỳ gốc (kỳ báo cáo)
Công thức:
VTK = x (K1 – K0) Hoặc VTk = -
Trong đó: VTK: VLĐ tiết kiệm
K0, K1: Kỳ luân chuyển VLĐ năm báo cáo và năm kế hoạch
L0, L1 : Số lần luân chuyển VLĐ năm báo cáo và năm kế hoạch
M1: Tổng mức luân chuyển năm kế hoạch (doanh thu thuần)
* Tỷ suất lợi nhuận VLĐ (doanh thu VLĐ).
Công thức:
Trang 20Lợi nhuận trước (sau thuế)Doanh lợi VLĐ =
VLĐ bình quân trong kỳChỉ tiêu này phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của DN, cho biết một đồng VLĐ sử dụng trong kỳ sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước hoặc sau thuế Mức doanh lợi VLĐ càng cao thì chứng tỏ hiệu quả sử dụng VLĐ càng lớn
Doanh thu thuần
1.3.PHƯƠNG HƯỚNG, BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP HIỆN NAY.
1.3.1.Nguyên tắc quản lý VLĐ.
Để nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ các DN phải thực hiện một số nguyên tắc sau:
Để đảm bảo nguyên tắc này, DN phải phân bổ lượng vốn cho từng thành phần VLĐ một cách hợp lý, phù hợp với tính chất và đặc điểm kinh doanh của ngành, và phù hợp với điều kiện của mình
Trang 21Công tác quản lý VLĐ có ảnh hưởng trực tiếp tới một số hệ số khả năng thanh toán của DN Hệ số khả năng thanh toán thể hiện “sức khỏe” tài chính của DN Một DN đảm bảo được khả năng thanh toán luôn tạo được sự tin tưởng nơi bạn hàng và các chủ nợ, uy tín của DN vì thế mà được nâng cao
Đảm bảo nhu cầu VLĐ cho sản xuất và sử dụng
VLĐ có hiệu quả:
DN cần phải dựa trên quy mô sản xuất kinh doanh của mình để xác định chính xác nhu cầu VLĐ đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh không thừa, không thiếu Mặt khác, trong quá trình sử dụng VLĐ phải đạt được hiệu quả, hoàn thành nhiệm vụ sản xuất
Sử dụng VLĐ phải kết hợp với sự vận động của vật tư hàng hóa:
VLĐ là biểu hiện bằng tiền của vật tư hàng hóa Sự luân chuyển VLĐ và
sự vận động của vật tư hàng hóa kết hợp chặt chẽ với nhau, vì vậy sử dụng VLĐ phải kết hợp với sự vận động của vật tư hàng hóa
DN phải chủ động khai thác và sử dụng các nguồn vốn tự có, ngoài ra còn huy động thêm các nguồn bằng các hình thức linh hoạt và tự chịu trách nhiệm về hiệu quả sử dụng vốn
1.3.2.Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng VLĐ.
- Lạm phát: Do ảnh hưởng của nền kinh tế có lạm phát, sức mua của đồng
tiền bị giảm sút, dẫn đến tăng giá trị các loại vật tư hàng hóa Nếu DN không điều chỉnh kịp thời giá trị các loại tài sản thì sẽ làm cho VLĐ bị hao hụt dần theo tốc độ trượt giá của tiền tệ
Trang 22- Rủi ro: Là những rủi ro bất thường trong quá trình sản xuất kinh doanh
mà các DN thường gặp phải trong điều kiện cạnh tranh của cơ chế thị trường Ngoài ra DN còn có thể gặp phải những rủi ro do thiên tai gây ra như hỏa hoạn,
lũ lụt…mà các DN khó có thể lường trước được
- Tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ nên sẽ làm giảm giá
trị tài sản, vật tư, vì vậy, nếu DN không bắt kịp điều này để điều chỉnh kịp thời giá trị của sản phẩm thì hàng hóa bán ra sẽ thiếu tính cạnh tranh là giảm hiệu quả sử dụng vốn nói chung và VLĐ nói riêng
- Các chính sách vĩ mô của Nhà nước: Khi có sự thay đổi về chính sách,
chế độ, hệ thống pháp luật, thuế,…cũng tác động đến điều kiện hoạt động kinh doanh và tất yếu ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng VLĐ của DN
- Việc xác định nhu cầu VLĐ: Xác định nhu cầu VLĐ thiếu chính xác dẫn
đến tình trạng thừa hoặc thiếu vốn trong sản xuất kinh doanh, điều này sẽ ảnh hưởng không tốt đến quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như hiệu quả sử dụng vốn của DN
- Việc lựa chọn phương án đầu tư: là một nhân tố cơ bản ảnh hưởng rất
lớn đến hiệu quả sử dụng VLĐ của DN Nếu DN đầu tư sản xuất ra những sản phẩm lao vụ dịch vụ chất lượng cao, mẫu mã phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng, đồng thời giá thành hạ thì DN thực hiện được quá trình tiêu thụ nhanh, tăng vòng quay của VLĐ, nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ và ngược lại
- Do trình độ quản lý: trình độ quản lý của DN mà yếu kém sẽ dẫn đến
thất thoát vật tư hàng hóa trong quá trình mua sắm, dự trữ, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, dẫn đến sử dụng lãng phí VLĐ, hiệu quả sử dụng vốn thấp
Để hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của các nhân tố trên tới hiệu quả tổ chức và sử dụng VLĐ, các DN cần nghiên cứu xem xét một cách kỹ sự ảnh
Trang 23hưởng của từng nhân tố, nhằm đưa ra những biện pháp hữu hiệu nhất, để hiệu quả của đồng vốn mang lại là cao nhất.
1.3.3 Một số biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ của
DN.
Để đảm bảo cung ứng đầy đủ và kịp thời VLĐ cho sản xuất kinh doanh
và nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ, DN cân thực hiện một số biện pháp sau:
- Xác định chính xác nhu cầu VLĐ thường xuyên cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó đưa ra kế hoạch tổ chức huy động vốn sao cho chi phí thấp nhất, phân bổ nhu cầu VLĐ cho từng khâu đáp ứng yêu cầu của DN Đây là một trong những biện pháp rất quan trọng và cần thiết để nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ Xác định đúng nhu cầu VLĐ sẽ giúp DN tránh được tình trạng ứ đọng vốn, sử dụng vốn hợp lý và tiết kiệm; đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh của DN được tiến hành bình thường và liên tục; không gây nên sự căng thẳng giả tạo về nhu cầu vốn kinh doanh của DN;…
- Tổ chức huy động vốn hiệu quả nhất: Doanh nghiệp cần khai thác triệt
để nguồn vốn bên trong DN (nguồn vốn chủ sở hữu), đồng thời cân nhắc lựa chọn các nguồn vốn bên ngoài (nguồn vốn đi vay) với chi phí thấp nhất mà vẫn đáp ứng kịp thời vốn lưu động tối thiểu cần thiết
- Tổ chức quá trình sản xuất và đẩy mạnh công tác tiêu thụ sản phẩm: DN cần phải phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận sản xuất, không ngừng nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm Mở rộng thị trường tiêu thụ, tăng cường công tác tiếp thị, marketing, thông tin quảng cáo, giới thiệu sản phẩm, tăng khối lượng sản phẩm tiêu thụ, hạn chế tối đa sản phẩm tồn kho, tăng nhanh vòng quay của vốn
- Có biện pháp quản lý thích hợp đối với từng loại vốn:
Trang 24Quản trị tốt vốn bằng tiền bằng việc xác định mức tồn quỹ hợp lý, dự đoán, quản lý các luồng nhập xuất, ngân quỹ, từ đó có hướng sử dụng vốn tiền mặt nhằm tăng khả năng sinh lời của DN.
Quản trị hàng tồn kho phải quản trị tốt hai chi phí chủ yếu: chi phí lưu kho và chi phí quá trình thực hiện đơn đặt hàng vì vốn tồn kho dự trữ thường chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng giá trị tài sản của DN Mặt khác, nếu dự trữ vật tư đúng mức sẽ giúp cho DN không bị gián đoạn sản xuất, không bị thiếu sản phẩm để bán, đồng thời sử dụng tiết kiệm vốn
Quản lý tốt công tác thanh toán nợ, tránh tình trạng bán hàng không thu được tiền, vốn bị chiếm dụng, gây nên nợ khó đòi làm thất thoát VLĐ Để đề phòng rủi ro, DN nên mua bảo hiểm và lập quỹ dự phòng tài chính Định kỳ kiểm kê, kiểm soát, đánh giá lại toàn bộ vật tư hàng hóa, vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán để có điều chỉnh hợp lý kịp thời phần chênh lệch
- Tăng cường phát huy chức năng giám đốc của tài chính trong việc sử dụng tiền vốn nói chung và VLĐ nói riêng ở tất cả các khâu từ dự trữ, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH TỔ CHỨC VÀ SỦ DỤNG VỐN
LƯU ĐỘNG Ở CÔNG TY XI MĂNG HOÀNG THẠCH
2.1 Khái quát về công ty xi măng Hoàng Thạch.
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty.
• Tên DN: Công ty xi măng Hoàng Thạch
• Địa chỉ: Thị trấn Minh Tân, Kinh môn, Hải Dương
Trang 25• Giấy CN ĐKKD (*) số:111584 Ngày cấp: 21/6/1997 Nơi cấp: Sở Kế hoạch và đầu tư Hải Dương
• Nơi mở tài khoản: Chi nhánh Ngân hàng Công thương Nhị Chiểu – Kinh Môn – Hải Dương
• Giám đốc công ty: Đào Ngọc Bình
Công ty xi măng Hoàng Thạch là một DN Nhà nước trực thuộc Tổng công
ty công nghiệp xi măng Việt Nam, có quy mô lớn, luôn đứng đầu trong ngành công nghiệp sản xuất xi măng Việt Nam
Tiền thân của Công ty là Nhà máy xi măng Hoàng Thạch Ngày 19/05/1977, Nhà máy xi măng Hoàng Thạch chính thức được khởi công xây dựng với tổng
số vốn ban đầu để xây dựng dây chuyền I là 73.683.000 USD với công suất thiết kế là 1,1 triệu tấn/năm
Ngày 04/03/1980 nhà máy chính thức được thành lập theo Quyết định 33/BXD – TCCB của Bộ xây dựng Sau khi sản xuất được mẻ Clinke đầu tiên, ngày 16/0/1984 bao xi măng đầu tiên mang nhãn hiệu Hoàng Thạch xuất xưởng, đánh dấu thời kỳ đổi mới, thời kỳ sản xuất xi măng theo chỉ tiêu pháp lệnh của Nhà nước
Để đáp ứng nhu cầu phát triển và phù hợp với nền kinh tế thị trường ngày 12/8/1993 Bộ xây dựng ra Quyết định số 363/QĐ – BXD về việc thành lập Công ty xi măng Hoàng Thạch Ngày 28/12/1993 Bộ xây dựng có Quyết định số 28 BXD/KH – ĐT phê duyệt dây chuyền Hoàng Thạch II Sau thời gian khẩn trương khởi công và xây dựng, ngày 12/05/1996 dây chuyền Hoàng Thạch II chính thức đi vào hoạt động đưa sản lượng xi măng từ lên 2,3 triệu tấn/năm
Trước tình hình tăng trưởng kinh tế giai đoạn (2006-2010), dự án đầu tư xây dựng dây chuyền III Công ty xi măng Hoàng Thạch có công suất thiết kế là
Trang 261,2 triệu tấn/năm, được Thủ tướng Chính phủ cho phép đầu tư tại quyết định số 91/QĐ-TTg ngày 20/01/2003 Dây chuyền III được khởi công xây dựng ngày 04/02/2007 dự kiến đến quý III năm 2009 khánh thành đi vào sản suất.
Sau hơn 30 năm hình thành và phát triển, Công ty xi măng Hoàng Thạch
đã đạt nhiều thành tích xuất sắc và dần khẳng định vị thế trong ngành xi măng
cả nước, được Đảng và Nhà nước, cán bộ ngành ở Trung Ương, được Tỉnh ủy, UBND hai tỉnh Hải Dương và Quảng Ninh tặng nhiều huân, huy chương và bằng khen, giấy khen,… Năm 2005, Công ty được Đảng và Nhà nước tặng danh hiệu cao quý: Đơn vị Anh hùng lao động trong thời kỳ đổi mới
2.1.2 Ngành nghề kinh doanh và sản phẩm chủ yếu.
- Ngành nghề kinh doanh chính:
+ Sản xuất và cung ứng xi măng
+ Sản xuất, kinh doanh sản phẩm gạch chịu lửa
+ Xây dựng và lặp đặt các loại lò công nghiệp
+ Sản xuất, kinh doanh bao bì phục vụ sản xuất xi măng công nghiệp và dân dụng
- Hiện nay Công ty sản xuất và tiêu thụ trên thị trường một số sản phẩm chủ yếu sau:
+ Xi măng Poóclăng hỗn hợp PCB30, PCB40 (xi măng bao và xi măng rời - TCVN 7024-2002; TCVN 6260-1997)
Trang 27Tổ Thẩm Định Phòng Kỹ Thuật Mỏ
Xưởng Xe Máy Phòng Hành Chính Quản Trị
Phòng Y Tế Phòng Đời Sống Phòng Kinh Doanh Chi nhánh Quảng Ninh Chi nhánh Bắc Ninh Chi nhánh Hải Dương Chi nhánh TP- Hồ Chí Minh Chi nhánh Lạng Sơn
Ban quản lý dây chuyền 3 Nhà máy vật liệu chịu lửa kiềm tính
Luận văn tốt nghiệp
2.1.3 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý.
Công ty xi măng Hoàng Thạch là một đơn vị thành viên thuộc Tổng công
ty công nghiệp xi măng Việt Nam Các hoạt động sản xuất dưới sự chỉ đạo của Tổng công ty giao Đứng đầu Công ty là ban giám đốc Ban giám đốc có trách nhiệm điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh và là đại diện pháp nhân của công ty chịu mọi trách nhiệm với Nhà nước Ban giám đốc gồm có:
Giám đốc: Do ban quản trị của hội đồng quản trị Tổng công ty bổ nhiệm
và bãi nhiệm, là đại diện hợp pháp của Công ty và có vị trí cao nhất trong Công ty
Các phó giám đốc: Hỗ trợ giám đốc trong công tác quản lý, lập kế hoạch, điều chỉnh và thông báo cho Giám đốc về tình hình hoạt động của Công ty
Dưới sự điều hành của phó giám đốc là các trưởng ngành, các phân xưởng sản xuất chính, phân xưởng sản xuất phụ trợ và các phòng ban chức năng có liên quan với những chức năng và nhiệm vụ theo sơ đồ tổ chức sau:
Biểu đồ 1: Sơ đồ tổ chức Công ty xi măng Hoàng Thạch năm 2007
Nguyễn Thị Hương Lớp: CQ43/11.02 27
Trang 28Luận văn tốt nghiệp
2.1.4 Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất.
Công ty xi măng Hoàng Thạch có dây chuyền sản xuất xi măng khá hiện đại Công nghệ sản xuất xi măng theo phương pháp lò quay Công ty có hai dây chuyền sản xuất chính:
Dây chuyền Hoàng Thạch I theo phương pháp khô, chu trình kín, có hệ thống trao đổi nhiệt 4 tầng (cyclon) và hệ thống làm nguội kiểu hành tinh gồm
10 lò con Nhiên liệu hỗn hợp 85% than cám 3 và 15% dầu MFO Toàn bộ thiết
bị của dây chuyền được hãng F.L.Smidth của Vương quốc Đan Mạch cung cấp một hãng nổi danh bậc nhất thế giới về công nghệ sản xuất xi măng thiết kế và cung cấp
Dây chuyền Hoàng Thạch II có hệ thống tiền nung (canciner) nên tiêu hao nhiệt lượng thấp 715 Kcal/kg Clinker (dây chuyền I: 780 Kcal/kg Clinker), làm nguội kiểu ghi nên tăng hiệu quả làm mát, chất lượng sản phẩm tốt, dễ nghiền; hệ thống điểu khiển hiện đại PJC Master Piêc ABB (dây chuyền I là hệ thống điều khiển tự động 625); khí thải ra ống khói lò nung 100 mg/m3 không khí (dây chuyền I: 255 mg/m3)
Hiện nay Công ty đang xây dựng dây chuyền III có công suất là 1.2 triệu tấn/năm, dự tính sẽ đưa vào hoạt động sản xuất vào đầu năm 2009
Dây chuyền chính và các công đoạn phụ trợ đều được cơ khí hoá và tự động hoá hoàn toàn Từ phòng điều khiển Trung tâm thông qua các máy tính
Trang 29Máy nghiền nguyên liệu
Xylô chứa đồng nhất
Hệ thống Xclon trao đổi nhiệt
Lò nung
Xyclo chưa Clanh-ke
Máy nghiền xi măng
Xylo chứa xi măng
Khoan, nổ mìn, vận chuyển Khoan nổ mìn, vận chuyển
điện tử, thiết bị vi xử lý, hệ thống sơ đồ công nghệ được gắn đèn chỉ báo thể hiện tình trạng của thiết bị và hệ thống Camera quan sát giúp người vận hành phát hiện sự cố, xử lý, điều khiển hoạt động của thiết bị kịp thời, dễ dàng
Biểu đồ2 : Sơ đồ công nghệ sản xuất xi măng của Công ty XMHT
Nguyễn Thị Hương Lớp: CQ43/11.02 29
Trang 302.1.5 Đặc điểm sản xuất kinh doanh của Công ty.
2.1.5.1 Yếu tố đầu vào của sản phẩm.
Công ty xi măng Hoàng Thạch với vị trí địa lý thuân lợi, nằm sát hai dãy núi đá vôi và đá sét là hai nguyên liệu chính dùng để sản xuất xi măng, bên cạnh đó có cả mỏ Bô-xít dùng làm phụ gia điều chỉnh phối liệu cho xi măng và các mỏ đá đen làm phụ gia điều chỉnh sắc màu xi măng Do vậy những nguyên liệu này Công ty tự khai thác để sử dụng
Ngoài ra Công ty còn sử dụng nguyên vật liệu là Clinker và thạch cao 100% Nguyên vật liệu này được Công ty nhập khẩu từ Lào, Thái Lan, Trung Quốc…thông qua vận chuyển tàu thủy
Công ty cũng có một lợi thế nữa về nhiên liệu sử dụng là than khi Công
ty nằm sát bên thị trường khai thác và kinh doanh than lớn nhất cả nước là mỏ than Quảng Ninh Đây là một ưu thế rất lớn để giảm các chi phí trong sản xuất kinh doanh của Công ty
2.1.5.2 Thị trường đầu ra của Công ty.
Hiện nay, với một truyền thống hoạt động lâu năm, có được uy tín và sự tín nhiệm của người tiêu dùng, Công ty xi măng Hoàng Thạch đã và đang tiêu thụ sản phẩm rộng rãi khắp cả nước Việc tổ chức kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm của Công ty chủ yếu trên địa bàn các tỉnh phía Bắc ( Lạng Sơn, Hà Bắc, Thái Nguyên, Hải Dương, Lào Cai, Phú Thọ, Quảng Ninh), thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh
Các khách hàng chủ yếu của Công ty hiện nay gồm khách lẻ như Công ty VTKTXM, Công ty XMVLXD-XL Đà Nẵng, Công ty Kinh doanh thạch cao, Các đại lý chi nhánh như : Chi nhánh Quảng Ninh, Hải Dương, Bắc Ninh, Lạng Sơn, Đại lý Nghĩa Thành- Vũng Tàu,
CÁC NHÀ PHÂN PHỐI CHÍNH TIÊU THỤ XI MĂNG NĂM 2008
Trang 31Ngoài ra từ đầu năm 2009, Công ty xi măng Hoàng Thạch đã sơ khởi hình thành kênh phân phối sản phẩm ra thị trường nước ngoài như Đài Loan, tạo thêm uy tín cho thương hiệu xi măng Việt Nam trên thị trường Quốc tế.
2.1.6 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và tình hình tài chính của
Công ty.
2.1.6.1 Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty.
Công ty xi măng Hoàng Thạch có một bề dày 30 năm xây dựng và phát triển với quy mô ngày càng lớn mạnh đã có được vị trí trong thị trường với thị phần chiếm 27,39% trong Tổng công ty công nghiệp xi măng Việt Nam và tiêu thụ 12,78% xi măng của toàn ngành xi măng tại Việt Nam
Trong ba năm trở lại đây, tuy thị trường vật liệu ngày càng “nóng” nhưng
xi măng Hoàng Thạch đã khẳng định mình là một trong những thương hiệu uy tín và có chất lượng, là DN luôn đứng đầu của Tổng công ty công nghiệp xi măng Việt Nam về sản lượng sản xuất và số lượng tiêu thụ xi măng ở thị trường trong nước
Bảng 01: Kết quả hoạt động kinh doanh một số năm gần đây:
Trang 32Chỉ tiêu Vốn Kinh Doanh bình quân qua 2 năm 2007 và 2008:
Tuyệt đối %
Vốn kinh
doanh BQ Đồng
2.090.224.175.172
Lợi nhuận sau thuế năm 2008 đạt 331,95 tỷ đồng tăng 9,67 tỷ tương ứng với tỉ lệ tăng là 3% Nộp ngân sách nhà nước tăng lên 182,5 tỷ, vượt chỉ tiêu kế hoạch tỉnh Hải Dương giao cho là 180 tỷ Lượng sản phẩm tiêu thụ, doanh thu
và lợi nhuận đều tăng từ năm 2006 đến năm 2008, đây là một cố gắng để duy trì
sự phát triển của công ty
Tên chỉ tiêu Đơn vị
Trang 33Cùng với những kết quả đã đạt được Công ty hiện nay đang tích cực triển khai phương hướng và nhiệm vụ năm 2009 nhằm hoàn thành nhiệm vụ cấp trên giao và góp phần bình ổn giá xi măng trên thị trường.
2.1.6.2 Tình hình chủ yếu về tài chính của Công ty năm 2008.
a Những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty trong những năm qua.
* Thuận lợi:
- Công ty có một lực lượng lao động đồi dào cả về số lượng và chất
lượng, đội ngũ cán bộ giàu kinh nghiệm và công nhân kỹ thuật có chuyên môn hóa cao trong dây chuyền sản xuất kinh doanh
- Thị trường tiêu thụ của Công ty tương đối ổn định và ngày càng mở rộng: Nền kinh tế đất nước ổn định và ngày càng tăng trưởng cao, tốc độ đầu tư xây dựng không ngừng phát triển, do vậy nhu cầu xi măng liên tục tăng tạo điều kiện cho sự phát triển, mở rộng của thương hiệu xi măng Hoàng Thạch với chất lượng cao, ngày càng được người tiêu dùng tín nhiệm và tin dùng
- Công ty có một cơ sở kỹ thuật khá hiện đại Toàn bộ thiết bị của 3 dây chuyền sản xuất được hãng F.L.Smidth của Vương quốc Đan Mạch cung cấp một hãng nổi danh bậc nhất thế giới về công nghệ sản xuất xi măng thiết kế và cung cấp Do áp dụng công nghệ hiện đại nên đạt năng suất lao động cao, tăng thu nhập cho người lao động
- Công ty xi măng Hoàng Thạch đã xác định rì các mục tiêu và điều kiện
có, chủ động từng bước tháo gỡ khó khăn, phát huy lợi thế, đẩy mạnh sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, phấn đấu thực hiện hoàn thành kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm mà Tổng công ty giao
* Khó khăn:
- Công ty đang phải chịu áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt từ nhiều
đối thủ trong khối ngành công nghiệp xi măng cùng Tổng công ty và bên Liên
Trang 34doanh trong bối cảnh nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển như hiện nay
và sự mở cửa của nền kinh tế quốc dân Đặc biệt là các hãng xi măng Liên doanh với ưu thế giá cả cạnh tranh đang nhăm nhe chiếm lĩnh thị phần, làm giảm giá xi măng chung trên thị trường ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh của Công ty
- Những tháng đầu năm 2008 giá vật tư đầu vào tăng cao so với cuối năm 2007: than tăng khoảng 68%; giá Clinker nhập khẩu (FOB) tăng 36%-70%; dầu MFO tăng 12%; giá cước vận chuyển tăng 30%; những tháng cuối năm một số giá vật tư giảm nhưng không nhiều Cùng với đó là cuộc khủng hoảng tài chính, suy giảm kinh tế toàn cầu ảnh hưởng mạnh đến nền kinh tế Việt Nam; tiến độ giải ngân vốn đầu tư chậm, lãi vay ngân hàng cao, thị trường bất động sản đóng băng; một số tháng do ảnh hưởng của thời tiết không thuận lợi gây ảnh hưởng đến sản lượng tiêu thụ của Công ty
- Thiết bị dây chuyền Hoàng Thạch I sau thời gian hoạt động gần 30 năm nay đã xuống cấp, có những lúc phải hoạt động trên công suất thiết kế để đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ xi măng của thị trường Điều này đã gây ápt lực lớn cho tình hình sản xuất của Công ty
- Ngoài ra, Công ty thực hiện chỉ đạo của Tổng công ty về việc hỗ trợ các đơn vị thành viên trong Tổng công ty công nghiệp xi măng Việt Nam một phần làm tăng giá thành sản xuất, nên gây ảnh hưởng không nhỏ đến một số chỉ tiêu tài chính của Công ty
b Đánh giá khái quát tình hình tài chính của Công ty năm 2008.
Thực tế cho thấy tổng vốn kinh doanh của Công ty cuối năm so với đầu năm tăng 5,33% do sự tăng lên của tài sản dài hạn 10,03% và sự sụt giảm của tài sản ngắn hạn -1,50%
Bảng 02: Cơ cấu tài sản và nguồn vốn của Công ty năm 2008
Trang 35Tài sản ngắn hạn cuối năm so với đầu năm giảm là do tiền và các khoản tương đương tiền giảm, nhưng nguyên vật liệu trong chỉ tiêu hàng tồn kho lại tăng Năm 2008, giá cả nguyên vật liệu tiếp tục tăng, do đó Công ty sử dụng tiền để dự trữ nguyên vật liệu để kịp thời phục vụ sản xuất là hợp lý.
Trang 36Cùng với việc tăng vốn đầu tư, doanh thu và lợi nhuận sau thuế của Công
ty cũng tăng Tuy nhiên, năm 2008 so với năm 2007, tốc độ tăng của lợi nhuận sau thuế nhỏ hơn tốc độ tăng của doanh thu và vốn kinh doanh Tỷ lệ tăng của lợi nhuận sau thuế chỉ đạt 3%, trong khi đó, tỷ lệ tăng của vốn kinh doanh bình quân là 6,84%, của doanh thu bình quân là 10,76% Qua Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh có thể thấy sự tăng thấp hơn của lợi nhuận sau thuế là do sự tăng lên của Giá vốn hàng bán với tỷ lệ tăng là 11,11%, cụ thể là do sự biến động của nguyên liệu, vật liệu đầu vào cùng với sự tăng lên của chi phí bán hàng, chi phí quản lý DN và các khoản chi phí khác
* Về cơ cấu tài sản: Cuối năm, tỷ trọng tài sản dài hạn chiếm 61,89%
trong tổng tài sản của Công ty, lớn hơn so với tỷ trọng TSLĐ trong tổng tài sản, điều này là hợp lý với một DN sản xuất Nhưng đi vào chi tiết ta nhận thấy trong phần tài sản ngắn hạn, khoản tiền và tương đương tiền chiếm 29,15% và hàng tồn kho chiếm 56,53% trong khi không có các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn Các khoản phải thu ngắn hạn cũng chiếm tỷ trọng không nhỏ là 13,96% Điều này cho thấy Công ty đang bị ứ đọng vốn khá nhiều Do đó chưa phát huy được hết năng lực sản xuất kinh doanh Tuy nhiên các khoản phải thu ngắn hạn
và tiền cuối năm so với đầu năm đã giảm, tức là trong năm Công ty đang cố gắng thu hồi vốn bị chiếm dụng, giảm tiền bị ứ đọng, tăng khả năng sinh lời vốn
* Về cơ cấu nguồn vốn: Tổng nguồn vốn của Công ty tăng dần trong đó tỷ
trọng vốn chủ sở hữu đầu năm chiếm 80,22%, cuối năm chiếm 73,07%, lớn hơn rất nhiều so với tỷ trọng nợ phải trả, có nghĩa khả năng tự chủ về tài chính, an toàn tài chính của Công ty rất cao, Công ty hầu như không sử dụng nợ vay trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Bảng 03: Kết quả một số chỉ tiêu đánh giá mức độ tự chủ tài chính của Công ty năm 2008.
Trang 37STT Chỉ tiêu Đầu năm Cuối năm Chênh lệch
Thông thường một DN đạt mức độ an toàn về mặt tài chính khi đạt hệ số
nợ là 0,5; hệ số vốn chủ sở hữu là 0,5 và hệ số đảm bảo nợ là 1 Hệ số nợ hay tỷ
lệ nợ trên tài sản cho biết phần trăm tổng tài sản được tài trợ bằng nợ Hệ số nợ càng thấp thì hiệu ứng đòn bẩy tài chính càng ít, hệ số nợ càng cao thì hiệu ứng đòn bẩy tài chính càng cao Chính vì vậy phần lớn các DN đều sử dụng tới công
cụ đòn bẩy tài chính để nâng cao hiệu quả sử dụng đồng vốn của mình, khi đó
hệ số nợ sẽ cao hơn 0,5 và hệ số đảm bảo nợ sẽ nhỏ hơn 1 Tuy nhiên, DN vẫn phải nghiên cứu vạch ra cho mình một giới hạn nhất định để sao cho DN không gặp phải nguy cơ mất khả năng thanh toán khi có biến động xảy ra
Nhưng ở đây, Công ty lại có hệ số nợ ở đầu năm là 0,20, cuối năm là 0,27, nhỏ hơn rất nhiều so với 0,5; trong khi hệ số vốn chủ sở hữu là 0,80 (đầu năm) và 0,73 (cuối năm) Mặc dù mức độ an toàn tài chính của Công ty rất cao, Công ty luôn chắc chắn thanh toán được các khoản nợ và giải quyết kịp thời nếu xảy ra các biến động như về giá cả gia tăng trong thời gian qua, tuy nhiên mức đảm bảo cho một đồng nợ phải trả bằng 4,06 đồng vốn chủ sở hữu ở đầu năm và bằng 2,71 đồng vốn chủ sở hữu ở cuối năm là quá lớn Công ty quá dè dặt trong việc vay, chiếm dụng và sử dụng nợ phải trả Điều này sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh mà Công ty có thể đạt được, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu sẽ thấp
Qua đánh giá sơ bộ trên có thể cho thấy được trong thời gian tới Công ty cần hợp lý hóa cơ cấu vốn của mình, cần sử dụng đòn bẩy tài chính, điều chỉnh