1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn: Một số giải pháp cơ bản nhằm góp phần nâng cao hiệu quả tổ chức, sử dụng vốn lưu động tại công ty TNHH ôtô hoa mai

72 329 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 458,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vốn lưu động là một bộ phận cấu thành của vốn kinh doanh. Đây là loại vốn linh hoạt, như dòng máu luôn vận động tuần hoàn nuôi sống doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp không đủ vốn thì quá trình sản xuất kinh doanh sẽ gặp khó khăn, không diễn ra một cách thường xuyên liên tục; nếu doanh nghiệp thừa vốn sẽ dẫn tới tình trạng sử dụng vốn lãng phí, kém hiệu quả. Do vậy, sự thành bại của các doanh nghiệp mặc dù là hệ quả của nhiều yếu tố nhưng phải đặc biệt thừa nhận ảnh hưởng rất lớn của quản trị vốn lưu động.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Vốn lưu động là một bộ phận cấu thành của vốn kinh doanh Đây là loạivốn linh hoạt, như dòng máu luôn vận động tuần hoàn nuôi sống doanh nghiệp.Nếu doanh nghiệp không đủ vốn thì quá trình sản xuất kinh doanh sẽ gặp khókhăn, không diễn ra một cách thường xuyên liên tục; nếu doanh nghiệp thừavốn sẽ dẫn tới tình trạng sử dụng vốn lãng phí, kém hiệu quả Do vậy, sự thànhbại của các doanh nghiệp mặc dù là hệ quả của nhiều yếu tố nhưng phải đặc biệtthừa nhận ảnh hưởng rất lớn của quản trị vốn lưu động

Trong thời gian qua, qua quá trình tìm hiểu và nghiên cứu tình hình tàichính của công ty TNHH ôtô Hoa Mai năm 2008, em nhận thấy trong công tác

tổ chức, sử dụng vốn lưu động của công ty còn một số hạn chế nhất định.Những hạn chế này là một trong những nguyên nhân làm giảm hiệu quả sửdụng vốn của công ty

Vì vậy em đã chọn đề tài “Một số giải pháp cơ bản nhằm góp phần nâng cao hiệu quả tổ chức, sử dụng vốn lưu động tại công ty TNHH ôtô Hoa Mai”.

Bằng phương pháp nghiên cứu kết hợp lý luận thực tiễn, trên cơ sở sốliệu thực tế của Công ty qua các năm Luận văn của em đi sâu phân tích tìnhhình tổ chức, sử dụng vốn lưu động của công ty: tình hình quản lý vốn bằngtiền, các khoản phải thu, hàng tồn kho; qua đó đánh giá chung về hiệu quả tổchức, sử dụng vốn lưu động và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệuquả tổ chức, sử dụng vốn lưu động tại công ty

Kết cấu bài luận văn gồm ba chương:

Chương I: Lý luận chung về vốn lưu động và sự cần thiết phải nâng caohiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp

Chương II: Thực trạng về tình hình quản lý và sử dụng vốn lưu động tạicông ty TNHH ôtô Hoa Mai

Trang 2

Chương III: Một số biện pháp chủ yếu nhằm góp phần nâng cao hiệu quả

sử dụng vốn lưu động tại công ty TNHH ôtô Hoa Mai

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN LƯU

ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG

CỦA DOANH NGHIỆP

1.1 VỐN LƯU ĐỘNG VÀ NGUỒN HÌNH THÀNH VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DN.

1.1.1 Vốn lưu động của DN.

Để tiến hành sản xuất kinh doanh, ngoài các tư liệu lao động các doanhnghiệp còn cần có các đối tượng lao động Trong quá trình tham gia vào hoạtđộng kinh doanh, đối tượng lao động của doanh nghiệp được biểu hiện cụ thểdưới hình thái là tài sản lưu động của doanh nghiệp Trong các doanh nghiệpngười ta thường chia tài sản lưu động thành 2 loại: TSLĐ sản xuất và TSLĐlưu thông

- TSLĐ sản xuất bao gồm: vật tư dự trữ để đảm bảo cho quá trình sảnxuất diễn ra một cách liên tục, sản phẩm dở dang (bán thành phẩm) sản phẩmđang trong quá trình chế tạo

- TSLĐ lưu thông bao gồm: thành phẩm chờ tiêu thụ, vốn bằng tiền vàcác khoản nợ phải thu, ngoài ra còn có một số tư liệu lao động mà không đủ tiêuchuẩn là tài sản cố định của doanh nghiệp cũng được xếp vào tài sản lưu độnggọi là công cụ dụng cụ

Để đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường liên tục,doanh nghiệp cần phải có một lượng TSLĐ ở một mức độ nhất định Để đầu tưvào TSLĐ đó, doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn nhất định gọi là vốn lưuđộng Như vậy, đối tượng lao động nói trên nếu xét về hình thái hiện vật thìđược gọi là TSLĐ còn về hình thái giá trị thì được gọi là VLĐ sản xuất và

Trang 3

TSLĐ lưu thông luôn vận chuyển, thay thế và chuyển hoá lẫn nhau, đảm bảocho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục Phù hợp với đặc điểmtrên của TSLĐ, vốn lưu động của doanh nghiệp cũng không ngừng vận độngqua các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh

Đối với doanh nghiệp sản xuất: sự vận động của VLĐ trải qua 3 giai

+ Giai đoạn tiêu thụ: vốn lưu động từ hình thái sản phẩm hàng hoáchuyển sang hình thành vốn bằng tiền

Đối với doanh nghiệp thương mại: sự vận động của vốn lưu động qua 2

Trang 4

cách thường xuyên liên tục nên vốn lưu động tuần hoàn không ngừng, được lặp

đi lặp lại có tính chất chu kì và được gọi là sự chu chuyển của vốn lưu động Do

sự chu chuyển không ngừng cho nên trong cùng một lúc thường xuyên có sựtồn tại của các bộ phận vốn lưu động khác nhau trên các giai đoạn khác nhaucủa quá trình sản xuất Trong quá trình tham gia vào sản xuất kinh doanh, vốnlưu động chuyển hết giá trị ngay trong một lần và được hoàn lại toàn bộ khidoanh nghiệp thực hiện xong việc tiêu thụ và xác định có doanh thu Do đó vốnlưu động hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ sản xuất kinh doanh

Như vậy từ những phân tích trên đây, ta có khái niệm về vốn lưu động:

“Vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn ứng ra để hình thành nên TSLĐ của doanh nghiệp, đảm bảo cho quá trình chu chuyển, giá trị của VLĐ được chuyển dịch toàn bộ khi kết thúc quá trình tiêu thụ sản phẩm Khi đó ta nói VLĐ đã hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ kinh doanh.”

1.1.2 Phân loại vốn lưu động của DN

1.1.2.1 Dựa vào hình thái biểu hiện.

Nếu dựa trên tiêu thức hình thái biểu hiện thì VLĐ trong doanh nghiệp cóthể được chia thành hai loại:

* Vốn bằng tiền và các khoản phải thu:

Vốn bằng tiền bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng và các tổ

chức tài chính, các khoản đầu tư ngắn hạn về chứng khoán

Các khoản phải thu (vốn trong thanh toán) bao gồm: các khoản phải thu

của khách hàng (thể hiện số tiền khách hàng còn nợ doanh nghiệp phát sinhtrong quá trình doanh nghiệp cung cấp sản phẩm hàng hoá, dịch vụ cho kháchhàng), khoản ứng trước cho người bán, các khoản phải thu như thuế GTGTđược khấu trừ, tạm ứng…

* Vốn vật tư hàng hoá:

Trang 5

Vốn vật tư hàng hoá bao gồm các khoản vốn lưu động có hình thái biểuhiện bằng hiện vật cụ thể như các loại vật tư dự trữ (nguyên vật liệu chính,nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu, công cụ dụng cụ…), sản phẩm dở dang, bánthành phẩm, thành phẩm hàng hoá chờ tiêu thụ.

Cách phân loại này giúp cho các nhà quản lý biết được chức năng củatừng loại có biện pháp phát huy từng loại hay định mức tiêu hao của từng loạicũng như kết cấu để điều chỉnh cho kết cấu đó hợp lý hơn

1.1.2.2 Dựa vào vai trò của vốn lưu động đối với quá trình sản xuất kinh doanh.

Theo cách phân loại này thì vốn lưu động được chia làm 3 loại: VLĐtrong khâu dự trữ sản xuất, VLĐ trong khâu lưu thông, trong đó dựa vào côngdụng thì các loại VLĐ này lại được chia thành các khoản vốn:

*Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất:

Bao gồm:

- Vốn dự trữ vật liệu phụ: là giá trị những vật tư dự trữ dùng trong sảnxuất giúp cho việc hình thành sản phẩm tuy nhiên không đóng vai trò chủ yếutạo nên thực thể sản phẩm

- Vốn dự trữ nhiên liệu, động lực phụ tùng thay thế: là những loại nhiênliệu, động lực phụ tùng thay thế phục vụ cho quá trình sản xuất sản phẩm củadoanh nghiệp

- Vốn dự trữ công cụ dụng cụ: là giá trị những tư liệu lao động có giá trịthấp, thời gian sử dụng không đủ tiêu chuẩn trở thành tài sản cố định

*Vốn lưu động trong khâu sản xuất:

Bao gồm:

- Giá trị sản phẩm dở dang dùng trong quá trình sản xuất, xây dựng hoặcđang nằm tại các địa điểm làm việc chờ chế biến tiếp, chi phí trồng trọt dở dang,chi phí chăn nuôi dở dang, súc vật nhỏ và nuôi béo…

Trang 6

- Bán thành phẩm là giá trị các sản phẩm dở dang nhưng khác sản phẩmđang chế tạo ở chỗ nó đã hoàn thành một hay nhiều giai đoạn chế biến nhấtđịnh.

- Vốn về các loại chi phí chờ kết chuyển: là các chi phí có liên quan đếnnhiều kỳ sản xuất kinh doanh, do có giá trị lớn nên phải phân bổ dần vào chi phísản xuất các kỳ nhằm đảm bảo sự ổn định tương đối giữa các kỳ

* Vốn lưu động trong khâu lưu thông:

Bao gồm:

- Vốn thành phẩm: là biểu hiện bằng tiền của số sản phẩm hoàn thànhnhập kho và đang nằm chờ tiêu thụ

- Vốn bằng tiền: gồm tiền mặt tồn quỹ, tiền gửi ngân hàng, các khoản đầu

tư ngắn hạn, các khoản thế chấp, ký quỹ, ký cược ngắn hạn

- Vốn trong thanh toán: là những khoản phải thu, tạm ứng phát sinh trongquá trình mua bán vật tư hàng hoá hoặc thanh toán nội bộ

Cách phân loại này giúp cho người quản lý biết kết cấu vốn lưu độngtheo vai trò, chức năng của từng bộ phận trong từng khâu để từ đó phân bổ vốnlưu động trong giai đoạn xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh và xem xét kếtcấu đó là hợp lý hay bất hợp lý để đưa ra các giải pháp tối ưu

1.1.3 Kết cấu vốn lưu động và các nhân tố ảnh hưởng.

Từ các cách phân loại trên giúp cho doanh nghiệp có thể xác định đượckết cấu vốn lưu động của mình theo những tiêu thức khác nhau Kết cấu vốn lưuđộng phản ánh thành phần và mối quan hệ trong tỷ lệ giữa các thành phần trongtổng số vốn lưu động của doanh nghiệp

Tại các doanh nghiệp khác nhau thì kết cấu vốn lưu động cũng khônggiống nhau, thậm chí tại một doanh nghiệp nhưng ở những thời điểm khác nhauthì kết cấu vốn lưu động cũng khác nhau Việc phân tích kết cấu vốn lưu độngcủa doanh nghiệp theo các tiêu thức phân loại để hiểu rõ hơn những đặc điểm

Trang 7

riêng về số vốn lưu động mà mình đang quản lý và sử dụng Từ đó xác địnhđúng đắn các trọng điểm và biện pháp quản lý vốn lưu động có hiệu quả hơn,phù hợp với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp.

Các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu vốn lưu động.

- Các nhân tố về mặt cung ứng, dự trữ vật tư, thành phẩm:

Biểu hiện của sự ảnh hưởng này được thể hiện ở những điểm sau:

+ Khoảng cách giữa doanh nghiệp với nguồn vật tư: ảnh hưởng tới việc

dự trữ nguyên vật liệu, vật tư của doanh nghiệp, khoảng cách này càng gần thìmỗi lần mua nguyên vật liệu càng ít dẫn tới nhu cầu dự trữ giảm, còn nếukhoảng cách này càng xa thì mỗi lần mua phải mua nhiều lên làm cho nhu cầu

dự trữ tăng

+ Khả năng cung cấp của thị trường: nếu thị trường trong giai đoạn đangtrong thời gian khan hiếm hàng hoá vật tư thì doanh nghiệp phải dự trữ nhiều đểđảm bảo sản xuất kinh doanh được diễn ra bình thường và liên tục Ngược lại,nếu thị trường luôn sẵn sàng đáp ứng đầy đủ nhu cầu nguyên vật liệu hàng hoácủa doanh nghiệp thì doanh nghiệp sẽ không cần phải dự trữ nhiều

+ Kỳ hạn giao hàng và khối lượng vật tư mỗi lần cung cấp: kỳ hạn dài,khối lượng vật tư nhiều thì doanh nghiệp phải dự trữ nhiều và ngược lại

+ Tính thời vụ và sự khan hiếm của vật tư: đối với nguyên vật liệu theomùa như hàng nông sản chẳng hạn thì lượng hàng tồn kho sẽ lớn vào thời điểmthu hoạch và sẽ ít vào thời điểm cuối vụ Ví dụ điển hình là dự trữ hàng tồn khocủa các doanh nghiệp thương mại hoạt động trong lĩnh vực thu mua nông sảnnhư gạo, càphê,…thường tăng cao vào khi vào vụ thu hoạch của nông dân

+ Khoảng cách giữa doanh nghiệp với thị trường tiêu thụ: điều này ảnhhưởng đến việc dự trữ thành phẩm của doanh nghiệp Thị trường tiêu thụ càng gầnthì doanh nghiệp càng dễ tiêu thụ hàng hoá cho nên mức dự trữ cũng được giảm đi

Trang 8

+ Hợp đồng giao bán và khối lượng hàng hoá bán ra.

+ Hàng hoá tiêu thụ có tính chất thời vụ: ảnh hưởng đến khối lượng hàngtồn kho của doanh nghiệp tại mỗi thời điểm

- Những nhân tố về mặt sản xuất:

+ Đặc điểm kỹ thuật công nghệ thường ảnh hưởng tới vốn sản phẩm dởdang, công nghệ càng cao thì sản phẩm dở dang càng ít Mặt khác việc đầu tưvào khoa học công nghệ làm tăng định phí tuy nhiên sẽ góp phần làm giảm biếnphí trên một đơn vị sản phẩm do đó giảm nhu cầu VLĐ của doanh nghiệp

+ Mức độ phức tạp của sản phẩm chế tạo: sản phẩm càng phức tạp thì sảnphẩm dở dang càng nhiều và ngược lại

+ Độ dài của chu kỳ sản xuất nếu chu kỳ kỹ thuật sản xuất nhiều côngđoạn thì sản phẩm dở dang càng nhiều do vậy mà nhu cầu VLĐ càng lớn

+ Trình độ tổ chức quản lý sản xuất của doanh nghiệp

- Những nhân tố về mặt thanh toán: đây là các nhân tố ảnh hưởng trực

tiếp đến kết cấu vốn lưu động trong lưu thông

+ Các nhân tố tổ chức thu hồi tiền hàng như phương pháp thanh toán hợp

lý, thủ tục thanh toán gọn, không để khách hàng chịu nhiều sẽ làm giảm tỷ trọngcác khoản nợ phải thu

+ Tình hình chấp hành kỷ luật thanh toán giữa các đơn vị, thực hiện hợpđồng thanh toán, lựa chọn hình thức thanh toán cũng ảnh hưởng đến kết cấu vốnlưu động Chẳng hạn nếu lựa chọn hình thức thanh toán bằng tiền phương thứcthanh toán chuyển khoản thì kết cấu vốn nghiêng về tiền gửi ngân hàng…

1.1.4 Nguồn vốn lưu động của DN.

1.1.4.1 Căn cứ vào quan hệ sở hữu về vốn.

Nếu căn cứ quan hệ về vốn trong doanh nghiệp thì nguồn vốn lưu độngcủa doanh nghiệp được chia làm 2 loại:

Trang 9

- Nguồn vốn chủ sở hữu: là số vốn huy động được thuộc quyền sở hữu

của doanh nghiệp, doanh nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng, chiphôi và định đoạt Tuỳ theo loại hình sở hữu doanh nghiệp thuộc các thành phầnkinh tế khác nhau mà vốn chủ sở hữu có những nội dung cụ thể như: Nguồn vốn

từ ngân sách cấp hay có nguồn gốc từ ngân sách cho các Công ty nhà nước;Vốn do chủ doanh nghiệp tư nhân bỏ ra; Vốn góp cổ phần trong các Công ty cổphần; Vốn bổ sung từ lợi nhuận để lại nhằm đáp ứng nhu cầu mở rộng quy môsản xuất của doanh nghiệp …

- Các khoản nợ phải trả (nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp):

+ Nguồn vốn tín dụng: là số vốn vay của các ngân hàng thương mại, các

tổ chức tín dụng hoặc qua phát hành trái phiếu

+ Nguồn vốn chiếm dụng: phản ánh số vốn mà doanh nghiệp chiếm dụngmột cách hợp pháp của các chủ thể khác Trong nền kinh tế thị trường phát sinhcác quan hệ thanh toán như: phải trả người bán, phải nộp ngân sách, phải trảcông nhân viên…

Cách phân loại này cho thấy kết cấu vốn lưu động của doanh nghiệp đượchình thành từ vốn bản thân hay từ các nguồn ngoại sinh Từ đó có các quyếtđịnh trong huy động và quản lý, sử dụng vốn lưu động một cách hợp lý, đảmbảo an toàn về tài chính trong sử dụng vốn của doanh nghiệp Thông thường cácdoanh nghiệp luôn có các cách sử dụng kết hợp cả hai loại này

1.1.4.2 Căn cứ theo thời gian huy động vốn và sử dụng vốn.

Nguồn vốn lưu động thường xuyên: là nguồn vốn có tính chất ổn định dàihạn mà doanh nghiệp có thế sử dụng Nguồn vốn này có thể huy động từ nguồnvốn chủ sở hữu, phát hành trái phiếu dài hạn hoặc có thể vay dài hạn từ cácngân hàng thương mại hay các tổ chức tín dụng

Nguồn vốn lưu động tạm thời: là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn màdoanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng nhu cầu có tính chất tạm thời, bất

Trang 10

thường phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nguồnvốn này bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng, các tổ chức tín dụng, cáckhoản nợ ngắn hạn khác…

Mỗi doanh nghiệp có cách thức phối hợp khác nhau giữa nguồn vốn lưuđộng thường xuyên và nguồn vốn lưu động tạm thời trong công việc đảm bảonhu cầu chung về vốn lưu động của doanh nghiệp

Cách phân loại trên giúp cho nhà quản trị xem xét, huy động các nguồnphù hợp với thực tế của doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng và tổchức nguồn vốn Mặt khác đây cũng là cơ sở để lập kế hoạch quản lý và sửdụng vốn sao cho có hiệu quả lớn nhất với chi phí nhỏ nhất

1.1.4.3 Căn cứ vào phạm vi huy động vốn:

Dựa vào tiêu thức này thì nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp đượcchia thành nguồn vốn bên trong doanh nghiệp và nguồn vốn bên ngoài doanhnghiệp

- Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp: là nguồn vốn có thể huy động từ

bản thân các hoạt động của doanh nghiệp như tiền khấu hao tài sản cố định, lợinhuận để lại tái đầu tư, các khoản dự phòng…

- Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp: là nguồn vốn mà doanh nghiệp có

thể huy động từ việc vay ngân hàng, vay tổ chức tín dụng, phát hành trái phiếu,

cổ phiếu…

Cách phân loại này giúp nhà quản lý tài chính nắm bắt được tỷ trọng củatừng nguồn vốn theo phạm vi huy động, để từ đó có hoạch định những chínhsách huy động vốn hợp lý tạo lập được một cơ cấu vốn tối ưu nhất

1.1.5 Nhu cầu vốn lưu động và các phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động.

1.1.5.1 Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên, cần thiết của doanh nghiệp.

Nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp thường xuyên cần thiết là thểhiện số vốn bằng tiền cần thiết doanh nghiệp phải trực tiếp ứng ra để hình thành

Trang 11

một lượng dữ trữ hàng tồn kho và một khoản cho khách hàng nợ sau khi đã sửdụng khoản tín dụng của nhà cung cấp.

Nhu cầu VLĐ thường

xuyên, cần thiết =

Mức dự trữ hàng tồn kho +

Các khoản phải thu -

Nợ phải trả nhàcung cấpViệc xác định nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết một cáchđúng đắn, hợp lý có một ý nghĩa rất quan trọng đối với doanh nghiệp:

- Là cơ sở, căn cứ để tổ chức huy động các nguồn tài trợ đáp ứng đầy đủ

và kịp thời nhu cầu vốn lưu động cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

- Là cơ sở cho doanh nghiệp sử dụng vốn hợp lý, tiết kiệm tránh tìnhtrạng ứ đọng, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động

- Là nhân tố quan trọng để quá trình sản xuất diễn ra liên tục, tránh tìnhtrạng căng thẳng giả tạo về vốn

1.1.5.2 Phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp.

1.1.5.2.1 Phương pháp trực tiếp xác định nhu cầu vốn lưu động.

Nội dung cơ bản của phương pháp này là: Căn cứ vào các yếu tố ảnhhưởng trực tiếp đến lượng vốn lưu động của doanh nghiệp phải ứng ra để xácđịnh nhu cầu vốn lưu động thường xuyên

Việc xác định nhu cầu vốn lưu động theo phương pháp này có thể thựchiện theo trình tự sau:

- Xác định nhu cầu vốn để dự trữ hàng tồn kho cần thiết cho hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp

- Xác định chính sách tiêu thụ sản phẩm và khoản tín dụng cung cấp chokhách hàng

- Xác định các khoản nợ phải trả cho nhà cung cấp

- Tổng hợp xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp

1.1.5.2.2 Phương pháp gián tiếp xác định nhu cầu vốn lưu động.

Trang 12

Phương pháp này dựa vào thống kê kinh nghiệm để xác định nhu cầu vốn Ởđây có thể chia làm 2 trường hợp.

- Trường hợp thứ nhất: Là dựa vào kinh nghiệm theo thực tế của các doanh

nghiệp cùng loại trong ngành để xác định nhu cầu vốn cho doanh nghiệp mình

Việc xác định nhu cầu VLĐ theo cách này là dựa vào hệ số vốn lưu độngtính theo doanh thu được rút từ thực tế hoạt động của các doanh nghiệp cùngloại trong ngành Trên cơ sở đó xem xét quy mô kinh doanh dự kiến theo doanhthu của doanh nghiệp mình để tính ra nhu cầu vốn lưu động cần thiết

Phương pháp này tương đối đơn giản, tuy nhiên mức độ chính xác bị hạnchế Nó thích hợp với việc xác định nhu cầu vốn lưu động khi thành lập doanhnghiệp với quy mô nhỏ

- Trường hợp thứ hai: Dựa vào tình hình thực tế sử dụng vốn lưu động ở

thời kỳ vừa qua của doanh nghiệp để xác định nhu cầu chuẩn về vốn lưu độngcho các thời kỳ tiếp theo

Nội dung chủ yếu của phương pháp này là dựa vào mối quan hệ giữa cácyếu tố hợp thành nhu cầu vốn lưu động gồm: Hàng tồn kho, nợ phải thu từkhách hàng và nợ phải trả nhà cung cấp (số nợ phải trả phát sinh có tính chất tựđộng và có tính chất chu kỳ) với doanh thu thuần của kỳ vừa qua để xác định tỷ

lệ chuẩn nhu cầu vốn lưu động tính theo doanh thu và sử dụng tỷ lệ này để xácđịnh nhu cầu vốn lưu động cho các kỳ tiếp theo:

Phương pháp này thực hiện theo trình tự sau:

- Xác định số dư bình quân các khoản hợp thành nhu cầu vốn lưu độngtrong năm báo cáo Khi xác định số dự bình quân các khoản phải phân tích tìnhhình để loại trừ số liệu không hợp lý

- Xác định tỷ lệ các khoản trên so với doanh thu thuần trong năm báo cáo.Trên cơ sở đó xác định tỷ lệ nhu cầu vốn lưu động so với doanh thu thuần

- Xác định nhu cầu vốn lưu động cho kỳ kế hoạch

Trang 13

1.2 SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO HIỆU QUẢ TỔ CHỨC SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.

1.2.1 Sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả tổ chức sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp.

Trong nền kinh tế hiện nay có thể tồn tại và phát triển để đạt được lợinhuận tối đa, các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao trình độ quản lý cáchoạt động kinh doanh của mình Một trong những vấn đề cần phải quan tâmphát triển và nâng cao đó là nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nói chung và nângcao hiệu quả sử dụng vốn lưu động nói riêng

Hiệu quả sử dụng vốn là sử dụng và điều hoà vốn thích hợp với tìnhhình sản xuất kinh doanh của từng thời kỳ, từng thời điểm sao cho tốt nhấtcho doanh nghiệp

Quan niệm về tính hiệu quả của việc sử dụng VLĐ phải được hiểu trênhai khía cạnh:

+ Một là, với số vốn hiện có có thể sản xuất thêm một số lượng sản phẩmvới chất lượng tốt, giá thành hạ để tăng thêm lợi nhuận cho doanh nghiệp

+ Hai là, đầu tư thêm vốn một cách hợp lý nhằm mở rộng quy mô sảnxuất để tăng doanh thu tiêu thụ sản phẩm với yêu cầu đảm bảo tốc độ tăngtrưởng của lợi nhuận phải lớn hơn tốc độ tăng vốn

Hai khía cạnh cũng chính là mục tiêu cần đạt được trong công tác tổ chứcquản lý và sử dụng vốn sản xuất kinh doanh nói chung và VLĐ nói riêng Nângcao hiệu quả sử dụng vốn lưu động ngày càng là một vấn đề cốt yếu trọngdoanh nghiệp vì những lý do sau:

Trước hết, xuất phát từ mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận Trong thời kỳ baocấp, các doanh nghiệp thực hiện sản xuất theo chỉ tiêu pháp lệnh của nhà nước,vốn được bao cấp, kết quả kinh doanh phải giao nộp cho nhà nước Do vậy đã

Trang 14

không tạo được động lực để khuyến khích các nhà quản lý doanh nghiệp nângcao sản xuất kinh doanh Trong nền kinh tế thị trường thì đã có sự thay đổitrong tư duy quản lý kinh tế do đó các doanh nghiệp độc lập phải tự chịu tráchnhiệm về kết quả kinh doanh, nếu sử dụng đồng vốn không có hiệu quả, khôngsinh lời và bảo toàn được vốn thì doanh nghiệp đó sẽ không thể tồn tại và phásản là một kết quả tất yếu Cho nên việc không ngừng nâng cao hiệu quả sửdụng vốn đã trở thành một mục tiêu quan trọng trong chiến lược tồn tại và pháttriển của doanh nghiệp trong thời kỳ hiện nay.

Thứ hai, xuất phát từ vai trò to lớn của VLĐ trong các doanh nghiệp Đểđảm bảo cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra mộtcách thông suốt, liên tục thì ở bất cứ một quy mô hoạt động nào đều cần phải cómột lượng VLĐ phù hợp Mặt khác, do yêu cầu của việc cạnh tranh nên doanhnghiệp luôn cần tính đến việc mở rộng quy mô hoạt động của mình Do vậy sốvốn đầu tư khi bỏ vào sản xuất không những phải được bảo toàn mà còn phảităng thêm để đáp ứng cho kế hoạch mà doanh nghiệp đã đưa ra trong chiến lượcphát triển của mình Muốn thực hiện được điều đó thì doanh nghiệp phải khôngngừng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh cũng như hiệu quả

Thứ tư, do tình trạng nền kinh tế nước ta hiện nay, tình hình kinh doanhkém hiệu quả còn diễn ra tại nhiều doanh nghiệp Do chưa thích ứng được vớicác quy luật khắt khe của nền kinh tế thị trường, trình độ quản lý còn yếu kém

Trang 15

nên đã dẫn đến việc lâm vào tình trạng lúng túng, trì trệ, thậm chí phá sản Saumỗi chu kỳ kinh doanh, vốn không được bảo toàn do thua lỗ trong kinh doanh.

Vì vậy, để nhanh chóng thích ứng với cơ chế mới, nhanh chóng theo kịp với tốc

độ phát triển kinh tế thế giới hiện nay thì cần khắc phục tình trạng yếu kém, trìtrệ, cần phải quan tâm nhiều hơn tới hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanhnói chung và vốn lưu động nói riêng

Xuất phát từ những khía cạnh trên cho thấy sự cần thiết phải nâng caohiệu quả tổ chức sử dụng VLĐ trong các doanh nghiệp Đây là một khâu quantrọng trong công tác quản lý tài chính, là vấn đề quyết định đến sự tồn tại vàphát triển của doanh nghiệp

1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động

Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động người ta thường sử dụng một

số chỉ tiêu sau:

1.2.2.1 Tốc độ luân chuyển vốn lưu động

Tốc độ luân chuyển vốn lưu động được thể hiện bằng hai chỉ tiêu:

+ Số lần luân chuyển vốn lưu động: Chỉ tiêu này cho biết trong một thời

kỳ nhất định vốn lưu động luân chuyển được bao nhiêu lần (hay vốn lưu độngquay được bao nhiêu vòng)

Công thức:

M

L =

Vlđ Trong đó:

L : Là số lần luân chuyển vốn lưu động trong kỳ

M: Là tổng mức luân chuyển vốn lưu động (doanh thu thuần)

Vlđ:Vốn lưu động bình quân trong kỳ

+ Kỳ luân chuyển vốn lưu động: Chỉ tiêu này cho biết thời gian cần thiết

để hoàn thành một vòng luân chuyển vốn lưu động

Trang 16

Công thức:

360 360

K = hay K = Vlđ x

L M Trong đó:

K: Là kỳ luân chuyển vốn lưu động

N: Số ngày trong kỳ

Vòng quay vốn lưu động nhanh thì kỳ luân chuyển vốn lưu động được rútngắn và ngược lại

1.2.2.2 Mức tiết kiệm vốn lưu động do tăng tốc độ luân chuyển

Chỉ tiêu này phản ánh trong kỳ, do tăng tốc độ luân chuyển vốn, doanhnghiệp có thể đạt được quy mô như cũ nhưng có thể tiết kiệm được một lượngvốn lưu động Hay vẫn với số vốn lưu động như trước nhưng do tăng tốc độluân chuyển vốn, doanh nghiệp đạt được quy mô cao hơn, hoặc do tăng tốc độluân chuyển vốn, doanh nghiệp phải tăng một lượng vốn lưu động không đáng

kể nhưng quy mô tăng lên nhiều

Vtk : Vốn lưu động tiết kiệm

K0, K1: Kỳ luân chuyển vốn lưu động năm báo cáo và năm kế hoạch

L0, L1: Số lần luân chuyển vốn năm báo cáo và năm kế hoạch

M1 : Tổng mức luân chuyển năm kế hoạch (doanh thu thuần )

1.2.2.3 Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động (doanh lợi vốn lưu động)

Trang 17

Lợi nhuận trước (hoặc sau thuế) hđ sxkd

Doanh lợi VLĐ =

VLĐ bình quân trong kỳ

Chỉ tiêu này phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp,cho biết một đồng vốn lưu động sử dụng trong kỳ sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợinhuận trước thuế hoặc sau thuế Mức doanh lợi vốn lưu động cao thì chứng tỏhiệu quả sử dụng vốn lưu động càng lớn

1.2.2.4 Hàm lượng vốn lưu động (mức đảm nhận vốn lưu động)

Là số vốn lưu động cần có để đạt được một đồng doanh thu, chi tiêu nàycàng nhỏ thì hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao và ngược lại

Công thức:

VLĐ bình quân trong kỳ

Hàm lượng VLĐ =

Doanh thu (không bao gồm thuế gián thu)

1.3 Phương pháp, biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong các doanh nghiệp hiện nay

1.3.1 Nguyên tắc quản lý vốn lưu động.

Để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động các doanh nghiệp phải thựchiện một số nguyên tắc sau:

- Đảm bảo cơ cấu vốn lưu động hợp lý

Để đảm bảo nguyên tắc này, doanh nghiệp phải phân bố lượng vốn chotừng thành phần vốn lưu động một các hợp lý, phù hợp với tính chất và đặcđiểm kinh doanh của ngành và phù hợp với điều kiện của mình

- Đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp

Công tác quản lý vốn lưu động có ảnh hưởng trực tiếp tới một số hệ sốkhả năng thanh toán của doanh nghiệp Hệ số khả năng thanh toán thể hiện “sứckhoẻ” tài chính của một doanh nghiệp, một doanh nghiệp đảm bảo được khảnăng thanh toán luôn tạo được sự tin tưởng nơi bạn hàng và các chủ nợ, uy tín

Trang 18

của doanh nghiệp vì thế mà được nâng cao Do vậy, một nguyên tắc quan trọngtrong công tác quản lý vốn lưu động là phải đảm bảo khả năng thanh toán củadoanh nghiệp.

- Đảm bảo nhu cầu vốn lưu động cho sản xuất và sử dụng vốn lưu động

có hiệu quả

Mỗi một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cần phải có một lượng vốnlưu động thường xuyên ứng với quy mô mà doanh nghiệp hoạt động Lượngvốn này thể hiện nhu cầu vốn lưu động thường xuyên mà doanh nghiệp cần phải

có để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục Do vậydoanh nghiệp cần phải dựa trên quy mô sản xuất kinh doanh của mình để xácđịnh chính xác nhu cầu vốn lưu động đảm bảo cho quá trình sản xuất kinhdoanh không bị thừa, không thiếu vốn lưu động Mặt khác trong quá trình sửdụng vốn lưu động phải đạt được hiệu quả, hoàn thành nhiệm vụ sản xuất

- Sử dụng vốn lưu động phải kết hợp với sự vận động của vật tư hàng hoáVốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của vật tư hàng hoá Sự luân chuyểnvốn lưu động và sự vận động của vật tư hàng hoá kết hợp chặt chẽ với nhau, vìvậy sử dụng vốn lưu động phải kết hợp với sự vận động của vật tư hàng hoá

- Doanh nghiệp tự cấp phát và bảo toàn vốn lưu động

Kể từ khi bước sang nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp tự đề ra kếhoạch sản xuất kinh doanh và tự chủ về vốn Để quán triệt nguyên tắc nàydoanh nghiệp phải chủ động khai thác và sử dụng các nguồn vốn tự có, ngoài racòn huy động thêm các nguồn vốn bằng các hình thức linh hoạt và tự chịu tráchnhiệm về hiệu quả sử dụng vốn

1.3.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động

Vốn lưu động của doanh nghiệp trong cùng một lúc được phổ biến trênkhắp các giai đoạn luân chuyển và biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau

Trang 19

Trong quá trình vận động, vốn lưu động chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố làmảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng.

 Nhân tố khách quan

+ Lạm phát: Do ảnh hưởng của nền kinh tế có lạm phát, sức mua củađồng tiền bị giảm sút, dẫn đến tăng giá các loại vật tư hàng hoà Nếu doanhnghiệp không điều chính kịp thời giá trị của các loại tài sản thì sẽ làm cho vốnlưu động bị hao hụt dần theo tốc độ trượt giá của tiền tệ

+ Rủi ro: Hoạt đồng kinh doanh trong nền kinh tế thị trường có nhiềuthành phần tham gia, cùng cạnh tranh gay gắt Những sản phẩm của doanhnghiệp không có vị thế trên thị trường thì dễ gặp rủi ro về khả năng tiêu thụ.Mặt khác doanh nghiệp còn có thể gặp phải những rủi ro thiên tai như: hoảhoạn, lũ lụt, động đất, dịch tễ…không lường trước được

+ Các chính sách vĩ mô của nhà nước: Khi nhà nước có sự thay đổi chínhsách về hệ thống pháp luật, thuế, …làm ảnh hưởng tới điều kiện hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp và tất yếu vốn lưu động cũng bị ảnh hưởng

+ Lựa chọn phương án đầu tư: Là nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến hiệu quả

sử dụng vốn lưu động Nếu dự án được lựa chọn là khả thi, phù hợp với điềukiện của thị trường và khả năng của doanh nghiệp thì sản phẩm sản xuất ra đượctiêu thụ nhanh, từ đó làm tăng vòng quay vốn lưu động Ngược lại, sử dụng vốnlưu động không đạt được hiệu quả là do doanh nghiệp lựa chọn phương án đầu

tư chưa hợp lý và không đáp ứng với nhu cầu thị trường

Trang 20

+ Trình độ quản lý: Vốn lưu động của doanh nghiệp trong cùng một lúcđược phân bổ trên các giai đoạn luận chuyển, từ khi mua sắm vật tư dự trữ, đếngiai đoạn sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Do vậy, nếu công tác quản lý khôngchặt chẽ dẫn thất thoát vốn lưu động và đương nhiên ảnh hưởng tới hiệu quả sửdụng vốn lưu động.

Ngoài các nguyên nhân tố chủ yếu trên còn có các nguyên nhân khác làmảnh hưởng đến công tác tổ chức và sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp Đểhạn chế nhân tố trước khi đi đến quyết định đúng đắn và đưa ra giải pháp đẩymạnh công tác tổ chức, quản lý và sử dụng vốn lưu động có hiệu quả

1.3.3 Một số biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp.

Để đảm bảo cung ứng đầy đủ, kịp thời vốn lưu động cho sản xuất kinhdoanh và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động cần thực hiện một số biệnpháp sau:

 Xác định đúng nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết cho hoạtđộng sản xuất kinh doanh, từ đó đưa ra kế hoạch tổ chức huy động vốn sao chochi phí thấp nhất, phân bổ nhu cầu vốn lưu động cho từng khâu đáp ứng yêu cầucủa doanh nghiệp

Đây là một trong những biện pháp rất quan trọng để nâng cao hiệu quả sửdụng vốn lưu động Nếu xác định nhu cầu vốn lưu động quá thấp sẽ dẫn đếntình trạng thiếu vốn, sản xuất bị đình trệ, doanh nghiệp không thực hiện đượccác hợp đồng đã ký,… Ngược lại nếu xác định nhu cầu vốn lưu động quá cao sẽdẫn đến tình trạng thừa vốn, vốn lưu động chậm làm phát sinh nhiều chi phíkhông cần thiết và giá thành sản phẩm sẽ tăng làm cho lợi nhuận giảm

Để xác định nhu cầu vốn lưu động, các nhà quản trị tài chính doanhnghiệp cần phải căn cứ vào các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động để

Trang 21

từ đó có quyết định lựa chọn phương pháp cụ thể và phù hợp với nhu cầu củadoanh nghiệp mình.

 Tổ chức huy động vốn hiệu quả

Doanh nghiệp cần khai thác triệt để nguồn vốn bên trong doanh nghiệp(nguồn vốn chủ sở hữu), đồng thời cân nhắc lựa chọn các nguồn vốn bên ngoài(nguồn vốn đi vay) với chi phí thấp nhất mà vẫn đáp ứng kịp thời vốn lưu độngcần thiết

 Có biện pháp quản lý thích hợp với từng loại vốn

- Quản trị vốn bằng tiền: Quản trị tiền mặt không chỉ đảm bảo cho doanhnghiệp có đầy đủ lượng tiền cần thiết để đáp ứng kịp thời nhu cầu thanh toán

mà quan trọng hơn là tối ưu hoá tiền mặt tại quỹ, giảm tối đa các rủi ro về lãisuất và sự biến động tỷ giá cũng như tối ưu hoá việc đi vay ngắn hạn của doanhnghiệp Để quản trị vốn tiền mặt trước hết cần phải xác định mức tồn quỹ tiền mặt hợp lý.

Trên cơ sở xác định mức tiền mặt tồn quỹ cần dự đoán luồng tiền nhập,xuất quỹ từ đó so sánh dòng tiền thu và chi đối chiếu với số dư tiền mặt thíchhợp nhằm cân bằng thu chi Nếu thu lớn hơn chi thì đối chiếu với số dư tiền mặt

ở mức cần thiết để có hướng sử dụng vốn tiền mặt tạm thời dư thừa nhằm tăngkhả năng sinh lời cho doanh nghiệp

Trong công tác quản lý tiền mặt cần đặc biệt chú ý:

+ Phải xem xét yếu tố về giao dịch kinh doanh, đòi hỏi doanh nghiệp phải

có lượng tiền nhất định để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh hàng ngày

Trang 22

+ Đòi hỏi cần phải có một lượng tiền mặt dự phòng để đáp ứng nhu cầuchi tiêu bất thường nảy sinh ngoài dự đoán.

+ Cần phải xem xét mức dự trữ tiền mặt của kỳ trước đó để đánh giá mặthợp lý, bất hợp lý để làm cơ sở tìm ra một mức phù hợp nhất về nhu cầu tiềnmặt dự trữ

- Quản trị tốt vốn tồn kho dự trữ

Vốn tồn kho dự trữ là những tài sản mà doanh nghiệp cần phải lưu trữ đểđảm bảo cho quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp diễn raliên tục Quản trị vốn tồn kho dự trữ chủ yếu tập trung vào hai loại chi phí: Chiphí lưu kho và chi phí cho quá trình thực hiện đơn đặt hàng Doanh nghiệp cầnquản trị tốt hai loại chi phí này, vì vốn tồn kho dự trữ thường chiếm tỷ lệ đáng

kể trong tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp, mặt dự trữ vật tư hàng hoá đúngmức sẽ giúp cho doanh nghiệp không bị gián đoạn sản xuất, không bị thiếu sảnphẩm để bán, đồng thời lại sử dụng tiết kiệm vốn lưu động

- Quản trị các khoản phải thu:

Doanh nghiệp phải xây dựng chính sách tín dụng thương mại và mức độ

nợ phải thu phù hợp Mở sổ theo dõi chi tiết các khoản nợ phải thu trong vàngoài doanh nghiệp, thường xuyên đôn đốc để thu hồi đúng hạn, có chính sáchbán chịu hợp lý đối với từng khách hàng, khi bán chịu phải xem xét kỹ khảnăng thanh toán trên cơ sở hợp đồng đã kí kết Phân loại các khoản nợ chokhách hàng, thoả ước xử lý nợ, hoặc yêu cầu toà án kinh tế giải quyết theo thủtục phá sản doanh nghiệp

 Có biện pháp phòng ngừa rủi ro

Để đối phó với những rủi ro không lường trước được như thiên tai, hoảhoạn, giảm giá hàng bán trên thị trường…các doanh nghiệp nên có các biệnpháp để đề phòng rủi ro như: Mua bảo hiểm, lập quỹ dự phòng tài chính để khi

có rủi ro xảy ra dẫn đến hao hụt vốn thì các doanh nghiệp sẽ có quỹ để bù đắp

Trang 23

hoặc được bảo hiểm bồi thường, giúp quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra bìnhthường mà không bị giám đoạn.

Định kỳ tiến hành kiểm kê, kiểm soát đánh giá toàn bộ vật tư hàng hoá,vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán Từ đó xác định được số vốn lưu động hiện

có của doanh nghiệp theo giá trị hiện tại, trên cơ sở đó điều chỉnh hợp lý phầnchênh lệch

Ngoài ra doanh nghiệp phải dự trù một số tiền đảm bảo bù đắp số vốn lưuđộng bị hao hụt trong điều kiện lạm phát, như vậy sẽ đảm bảo được giá trị hiệntại của đồng vốn…

 Tăng cường phát huy vai trò tài chính trong việc quản lý và sử dụngvốn lưu động

Vai trò tài chính của doanh nghiệp trước hết thể hiện ở việc huy động vàđảm bảo đầy đủ kịp thời vốn lưu động cho hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp Các nhà quản lý tài chính phải xác định được nhu cầu vốn lưu động cầnthiết cho hoạt động trong từng thời kỳ, từ đó lựa chọn hình thức huy động phùhợp mang lại hiệu quả Doanh nghiệp nên khai thác tối đa nguồn vốn bên trongnhư: khấu hao TSCĐ, lợi nhuận để lại, các khoản thanh lý, nhượng bán…

Phát huy tích cực vai trò giám sát, kiểm tra thường xuyên các mặt hoạtđộng kinh doanh thông qua các chỉ tiêu tài chính hình thành trong quá trình sửdụng vốn để kiểm tra, kiểm soát

Trang 24

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG

VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY TNHH ÔTÔ HOA MAI.

2.1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY TNHH ÔTÔ HOA MAI

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty

Một số thông tin về Công ty

- Tên gọi: Công ty TNHH ôtô Hoa Mai

- Trụ sở chính: KM 43+500 Quốc lộ 10, xã Quốc Tuấn, Huyện AnLão, Thành phố Hải Phòng

- Điện thoại: 0313221701

- Fax: ( 0313672888 )

Công ty TNHH ôtô Hoa Mai được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinhdoanh số 040162 do sở kế hoạch và đầu tư thành phố Hải Phòng cấp lần đầungày 22 tháng 10 năm 1993 và lần 3 ngày 15 tháng 02 năm 2008

Trong quá trình hình thành và phát triển của mình Công ty đã trải qua cácgiai đoạn khác nhau:

 Giai đoạn 1988 - 1993 (giai đoạn hình thành và bắt đầu đi vào hoạtđộng kinh doanh)

Tiền thân của Công ty TNHH ôtô Hoa Mai là tổ hợp cơ khí, ban đầu chỉ

có 8 lao động với cơ sở vật chất nghèo nàn, tạm bợ, kinh doanh dịch vụ cơ khínhỏ, máy nông ngư nghiệp tiến tới sản xuất xe tải nhỏ tự chế (xe công nông),

Trang 25

đến ngày 5/9/1988 xí nghiệp cơ khí Hoa Mai chính thức được thànn lập, đánhdấu bước đột phá trong quá trình phát triển và vươn lên qua khó khăn, tháchthức: lúc đó xí nghiệp chuyên nghiên cứu, sáng chế và và chế tạo công nông lắpmáy nằm ngang dựa trên các xe ôtô cũ hỏng không sử dụng trong điều kiện lúcbấy giờ khi nước ta còn nghèo và lạc hậu những chiếc xe này đã thay thế chonhiều chiếc xe vận tải thô sơ, phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế của địaphương.

 Giai đoạn 1993 - 2005 (giai đoạn Công ty TNHH ôtô Hoa Mai đượcthành lập và đi vào hoạt động)

Ngày 16/10/1993 Công ty TNHH ôtô Hoa Mai được thành lập theo QĐ

số 001507/UBQG, Công ty tập trung chuyên sâu lâu dài vào ngành cơ khí chếtạo trọng điểm ngành nghề sản xuất và lắp ráp ôtô tải tự đổ mang thương hiệuHoa Mai kiểu dáng Sanxinh của Trung Quốc Năm 1995 Công ty được cụcđăng kiểm Việt Nam cho phép sản xuất ôtô tải nhẹ từ 1 tấn đến 2,5 tấn đáp ứngnhu cầu vận chuyển vật liệu và hàng hoá Khi đó toàn quốc chưa có một doanhnghiệp nào sản xuất và lắp ráp xe tải ben để thay thế các loại xe công nông Đếnnăm 2002 nhà nước mới ban hành tiêu chuẩn 115 về sản xuất lắp ráp ôtô ViệtNam thì Công ty đã có 9 năm sản xuất lắp ráp ôtô tải ben tự đổ

 Giai đoạn 2005 - nay (giai đoạn mở rộng quy mô hoạt động và mở rộngthị trường)

Với quy mô sản xuất ngày càng mở rộng trong điều kiện mặt bằng sảnxuất của Công ty còn chật hẹp, Công ty phải tự tháo gỡ bằng cách mua và thuêthêm mặt bằng của các cá nhân liền kề Công ty để mở rộng diện tích sản xuất.Trước tình hình đó được sự quan tâm của các cấp ngành, Công ty đã đượcUBND Thành phố cho thuê đất tại xã Quốc Tuấn – H.An Lão – TP Hải Phòngvới tổng diện tích đất là 34.000 m2, thời gian thuê là 40 năm để xây dựng nhàmáy lắp ráp ôtô và văn phòng làm việc

Trang 26

Tháng 2/2005 Công ty đã chuyển toàn bộ văn phòng và máy móc phục vụđóng mới và lắp ráp ôtô theo dây truyền với quy mô hiện đại tại địa điểm KM43+500 Quốc lộ 10 xã Quốc Tuấn, H An Lão, TP Hải Phòng.

Trên đà phát triển không ngừng của nền kinh tế, Công ty đã trải qua baothăng trầm và hiện tại Công ty đang có những bước tiến vươt bậc Hiện Công ty

có những đối tác khắp cả nước, sản phẩm của Công ty ngày càng đa dạng, chấtlượng tốt tạo được lòng tin ở các bạn hàng với các chi nhánh ở các vùng miềnnhư Lạng Sơn, Hải Dương, Quảng Nam…, đồng thời nâng cao tính cạnh tranhcủa mình trên thị trường nhằm nắm bắt kịp thời với tốc độ phát triển mạnh mẽcủa nền kinh tế hiện nay

2.1.2 Phương hướng, nhiệm vụ kinh doanh

Công ty NHH ôtô Hoa Mai được phép hoạt động kinh doanh trên tất cảcác tình thành phố, địa phương trong và ngoài nước theo quy định của pháp luậtcủa nước Việt Nam

Ngành nghề đăng ký kinh doanh của Công ty bao gồm:

 Sửa chữa, cải tạo, sản xuất, lắp ráp và đóng mới phương tiện cơ giớiđường bộ theo thiết kế đã được các cấp có thẩm quyền phê duyệt

 Dịch vụ và sản xuất máy nông ngư nghiệp

 Đúc phôi và các chi tiết máy bằng kim loại

 Dịch vụ và lắp máy điều hoà, quạt nước

 Lắp ráp các thiết bị điện dân dụng

 Dịch vụ khách sạn, xăng dầu

Hoạt động chủ yếu của Công ty TNHH ôtô Hoa Mai là:

Lắp ráp, đóng mới phương tiện vận tải đường bộ, cụ thể là ôtô tải tự đổcác loại từ 1 tấn đến 4,65 tấn

Trang 27

Để hoạt động có hiệu quả nhất, Công ty đã tuân thủ nghiêm ngặt nhữngquy tắc hoạt động đã đề ra Công ty hạch toán độc lập và chịu trách nhiệm toàn

bộ về quá trình hoạt động sản xuất của mình

Công ty thực hiện nguyên tắc tập trung, chế độ giám đốc quản lý, thựchiện quyền làm chủ của công nhân, nhân viên chức của Công ty và khôngngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

Mục tiêu hoạt động của Công ty trong những năm tới là phấn đấu mởrộng phạm vi hoạt động hơn nữa, làm phong phú thêm về số lượng, chủng loạisản phẩm Từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng thêm thu nhậpcho người lao động và tích cực hoàn thành nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước

2.1.3 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý tài chính – kế toán của Công ty

2.1.3.1 Tổ chức bộ máy quản lý

Cơ cấu tổ chức quản lý là tổng hợp các bộ phận được chuyên môn hoávới những trách nhiệm quyền hạn nhất định có mối liên hệ mật thiết với nhau vàđược bố trí theo những cấp, những khâu khác nhau nhằm thực hiện chức năngquản lý Cơ cấu tổ chức tốt nhằm đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh

có hiệu quả và đối phó với những biến động của thị trường

Cơ cấu tổ chức của Công ty:

* Ban giám đốc gồm:

- Giám đốc: là người đứng đầu bộ máy lãnh đạo của Công ty, phụ tráchmọi công việc chung, giám sát, điều hành toàn bộ Công ty về các vấn đề trongquá trình sản xuất kinh doanh, trong xây dựng và thực hiện kế hoạch sản xuấtkinh doanh hàng tháng, quí, năm

- Phó giám đốc kinh doanh/QMR: chịu trách nhiệm nghiên cứu thịtrường, tổ chức thực hiện việc bán hàng, xây dựng phương án kinh doanh chínhxác, kịp thời và hiệu quả

Trang 28

- Phó giám đốc kỹ thuật – vật tư: chỉ đạo và điều hành tổ chức sản xuất,xây dựng kế hoạch sản xuất chung, đề xuất các ý kiếm giúp nhà máy năng caonăng cao năng lực sản xuất, năng xuất lao động.

- Phòng kinh doanh: có nhiệm vụ phân tích, theo dõi, lập kế hoạch vàđịnh hướng các hoạt động kinh doanh, tiếp thị sản phẩm, tìm kiếm và phát triểnthị trường, nghiên cứu thị trường, lập báo cáo thường xuyên hoặc bất thườngtrình ban giám đốc để đề ra phương án kinh doanh có hiệu quả

- Phòng KCS - KĐINH/QA: có nhiệm vụ kiểm tra sản phẩm theo đúngchất lượng, mẫu mã (kiểm tra đầu vào, đầu ra, kiểm soát chất lượng máy móc,thiết bị, dây truyền sản xuất, kiểm định xe trước khi xuất xưởng), quản lý hệthống tiêu chuẩn QA

- Phòng kỹ thuật: quản lý, điều hành và chỉ đạo kỹ thuật công nghệ trongquá trình sản xuất, nghiên cứu, cải tiến kỹ thuật để nâng cao chất lượng sản phẩm

- Phòng bảo hành: thực hiện chức các công việc liên quan đến kỹ thuật:lắp ráp, cài đặt, bảo trì, bảo hành, sửa chữa trang thiết bị cho khách hàng, quản

lý chất lượng hàng hoá, dịch vụ khi giao cho khách hàng

* Các tổ sản xuất dưới sự điều hành của quản đốc trực tiếp sản xuất, đảmbảo hoàn thành đúng yêu cầu kỹ thuật, định mức, kế hoạch sản xuất, tự chịutrách nhiệm trước giám đốc về kết quả sản xuất kinh doanh của đơn vị mình

Trang 29

2.1.3.2 Tổ chức bộ máy kế toán

GIÁM ĐỐC PHÓ GIÁM ĐỐC/QMR

NHÀ MÁY LẮP RÁP

P.KẾ TOÁN

VPHÒNG

P.HC-P.KCS P.BẢO

KHO VẬT TƯ

HỆ THỐNG ĐẠI LÝ

VÀ BÁN HÀNG

TỔ GIA CÔNG CHI TẾT

TỔ SƠN THÙNG

TỔ SƠN CB

TỔ ĐIỆN ÔTÔ

2TỔ HTNT CABIN

2 TỔ

LR CABIN

TỔ

SẮT

XY

TỔ MÔI TRƯỜNG

TỔ MÁY CẮT

2TỔ LỐP NHÍP

TỔ

XE NÂNG

TỔ KCS

TỔ LÀM

BH-BD

3TỔ THÙNG 2TỔ

LR MÁY

3TỔ

LẮP

RÁP

TỔ ĐIỆN CN

TỔ VS CN

TỔ TIỆN

TỔ MÁY CHẤN

TỔ CẨU THÙNG

TỔ CẮT HƠI

TỔ GC

CƠ KHÍ

Sơ đồ 1: cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý – sản xuất kinh doanh

Trang 30

Xuất phát từ đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh, yêu cầu quản lý,quy mô và địa bàn hoạt động, bộ máy kế toán của Công ty được tổ chức theohình thức tập trung Toàn bộ công tác kế toán được tập trung tại văn phòng kếtoán Chứng từ sau khi được các phòng thu thập, kiểm tra, xử lý và gửi về,phòng kế toán tổng hợp thực hiện việc ghi sổ kế toán, lập báo cáo kế toán củađơn vị.

Bộ máy kế toán của Công ty gồm 3 người: một kế toán trưởng và 2 kếtoán viên (gồm kế toán theo dõi tiền và công nợ của các đại lý bán xe, kế toántheo dõi phần kho hàng, mua vào bán ra)

Kế toán trưởng: chịu trách nhiệm chỉ đạo, theo dõi, kiểm tra mọi hoạtđộng bộ máy kế toán tại Công ty, lập báo cáo tài chính và phân tích tài chính chitiết cho giám đốc, lập hồ sơ quyết toán thuế năm, làm việc với các bên liênquan: cơ quan thuế

Kế toán thanh toán: thực hiện các nghiệp vụ kinh tế phát sinh liên quanđến thu chi tiền mặt, tiền gửi ngân hàng (thanh toán và giao dịch với ngân hàng

KẾ TOÁN TRƯỞNG

KẾ TOÁN VẬT TƯ

KẾ TOÁN THANH TOÁN

Sơ đồ 2: Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán tại

Công ty TNHH ô tô Hoa Mai

Trang 31

về các khoản vay nợ, chuyển tiền, tiền gửi,…) theo dõi công nợ giữa Công tyvới nhà cung cấp.

Kế toán vật tư: theo dõi tình hình nhập, xuất, tồn NVL, thành phẩm, thựchiện các nghiệp vụ mua vào, bán ra: tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm.Đồng thời kế toán vật tư còn phải chịu trách nhiệm về tình hình tăng, giảm tàisản cố định của Công ty, phân bổ khấu hao TSCĐ

2.1.4 Đặc điểm kinh doanh của Công ty

2.1.4.1 Yếu tố đầu vào, đầu ra của sản phẩm

Ngoài lĩnh vực hoạt động kinh doanh phụ như: khách sạn, xăng dầu, dịch

vụ máy nông ngư nghiệp, hoạt động chủ yếu của Công ty TNHH ôtô Hoa Mai

là lắp ráp, đóng mới phương tiện vận tải đường bộ, cụ thể là ôtô tải tự đổ loại từ

1 tấn đến 4.65 tấn với các tính năng kỹ thuật đảm bảo sự thuận tiện, an toàn khivận hành, tiết kiệm nhiên liệu, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người sử dụng

Để lắp ráp, đóng mới một chiếc xe ôtô hoàn chỉnh, đáp ứng yêu cầu vềtính năng, chất lượng Công ty phải mua các loại linh kiện cụ thể: nhập khẩu linhkiện từ Trung Quốc bao gồm các bộ phận chính như máy, ben thuỷ lực, cabin,hộp số, cần phanh tay và một số linh kiện khác Ngoài nhập khẩu từ nước ngoài,Công ty còn mua một số phụ tùng của các nhà phụ trợ trong nước như lốp, nhíp,sắt, thép, tôn, sắt XY, thùng ô tô, các loại thùng nhiên liệu, …

2.1.4.2 Đặc điểm quy trình hoạt động kinh doanh

Công ty sản xuất theo dây truyền với các bộ phận sản xuất như sau:

Trang 32

- Tổ gia công chi tiết.

- Tổ điện CN

- Tổ sơn điện ly

Sản phẩm xe ô tô tải với nhiều chủng loại, mẫu mã, nhãn hiệu, trọng lượngkhác nhau như xe tải ben: HD3250.4x4, Xe ô tô tải tự đổ HOA MAI HD3600, Xe ô

tô tải tự đổ HOA MAI TĐ 2TA, …nhưng nhìn chung việc lắp ráp đều tuân thủ theomột quy trình nhất định, các bộ phận, các tổ sản xuất cùng phối hợp chặt chẽ vớinhau với dây truyền lắp ráp hiện đại Trình tự lắp ráp được mô tả trong sơ đồ 3

Trang 33

2.1.5 Kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính của Công ty 2.1.5.1 Những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động kinh doanh của Công ty.

 Thuận lợi:

- Công ty có một lực lượng lao động dồi dào có trình độ tay nghề cao

LẮP RÁP SẮT XY NHÍP, LỐP ĐƯA MÁY MÓC THIẾT BỊ

ÚP CABIN LÊN (ĐÃ CÓ NỘI THẤT BÊN TRONG)

LẮP THÙNG

DÂY KIỀN

BỘ KÍCH

HOÀN THIỆN KCS – KIỂM ĐỊNH NHẬP KHO

Sơ đồ 3: Quy trình lắp ráp ô tô

Trang 34

Số lượng lao động của Công ty tính đến thời điểm 31/12/2008 là 450người trong đó:

+ Đại học, cao đẳng: 95 người chiếm 21,11%

+ Công nhân kỹ thuật: 267 người chiếm 59,33%

+ Trung cấp chuyên nghiệp: 52 người chiếm 11,55%

+ Lao động phổ thông: 36 người chiếm 8,01%

Trong cơ cấu lực lượng lao động của Công ty chủ yếu là công nhân kỹthuật có kinh nghiệm và găn bó với lâu dài với Công ty Đây là một lợi thếtrong chiến lược phát triển lâu dài và nâng cao tính chuyên môn hoá trong hoạtđộng của Công ty

- Thị trường tiêu thụ của Công ty ngày càng được mở rộng, hiện nay nhờchất lượng tốt, tạo được niền tin cho người tiêu dùng nên sản phẩm của Công tyđược tiệu thụ trên khắp các tỉnh thành trong cả nước như Hải Dương, HảiPhòng, Quảng Ninh, Thanh Hoá, Nghệ An, Lâm Đồng,…

- Quy mô sản xuất kinh doanh không ngừng được đầu tư mở rộng, dâytruyền máy móc thiết bị được đầu tư đồng bộ và hiện đại Do chú trọng đếncông tác đầu tư mới vào TSCĐ nên năng suất lao động không ngừng được tănglên, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm sản xuất ra

 Khó khăn:

- Công ty đang phải chịu áp lực cạnh tranh ngày càng lớn

Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường đang phát triển như hiện nay, cùngvới sự mở rộng của nền kinh tế quốc dân, việc giữ vững và mở rộng thị trườngđối với Công ty là hết sức khó khăn Công ty đang chịu áp lực cạnh tranh gaygắt từ nhiều đối thủ là các Công ty lắp ráp ôtô trong nước Đặc biệt là các liêndoanh lắp ráp ôtô với nước ngoài họ có vốn lớn, mẫu mã sản phẩm phong phú.Điều này đòi hỏi Công ty phải lỗ lực hơn nữa trong việc nâng cao sức cạnhtranh cho sản phẩm của mình

Trang 35

- Công ty phải nhập khẩu gần như toàn bộ các linh kiện chính phục vụcho lắp ráp ôtô từ nước ngoài Chính vì vậy, những biến động của nền kinh tếnhư: lạm phát, khùng hoảng, suy thoái, đặc biệt là trong năm 2008 tỷ giá ngoại

tệ tăng và không ổn định, giá cả các loại linh kiện tính theo USD cũng tăng cao

đã ảnh hưởng rất lớn đến việc đáp ứng kịp thời đầy đủ nguyên vật liệu cho sảnxuất và chi phí nguyên vật liệu Điều này đã làm cho Công ty có nhiều lúckhông chủ động được kế hoạch sản xuất kinh doanh và chi phí đầu vào cao làmcho giá thành sản phẩm tăng cao gây khó khăn cho việc tiêu thụ sản phẩm

- Hiện nay trong Công ty chưa có bộ phận chuyên trách về phân tích vàquản lý tài chính mà công tác này do phòng kế toán đảm nhiệm nên việc phântích và dự báo nhu cầu vốn, các chính sách tài chính đều dựa trên những kinhnghiệm tích luỹ của cán bộ chuyên ngành kế toán Do vậy nếu Công ty có cán

bộ chuyên trách về tài chính sẽ giúp việc quản lý về tài chính tốt hơn, nâng caohiệu quả sử dụng các loại vốn trong đó có vốn lưu động

2.1.5.2 Đánh giá khái quát tình hình tài chính của Công ty những năm gần đây.

Căn cứ vào Bảng 01: cơ cấu tài sản và tổng nguồn vốn của công ty

năm 2008 Ta có nhận xét sau:

Tổng tài sản cuối năm 2008 tăng 73.880.684.552 đồng với tỷ lệ tăng55,76% Hiện nay khi Việt Nam đang trong quá trình tham gia hội nhập quốc tếthì việc tăng khả năng cạnh tranh là vô cùng quan trọng Để có thể tăng khảnăng canh tranh thì việc mở rộng quy mô là tất yếu

Về cơ cấu tài sản tỷ lệ tài sản ngắn hạn cuối năm 2008 chiếm trong tổngtài sản của Công ty là 72,78%, lớn hơn so với tỷ lệ tài sản dài hạn, điều này làhợp lý với một doanh nghiệp mà hoạt động chủ yếu là sản xuất lắp ráp ô tô vìđặc điểm của ngành đòi hỏi phải có một khối lượng dự trữ lớn các loại linh kiện

để cung cấp một cách thường xuyên và kịp thời cho hoạt động sản xuất Khi

Trang 36

việc lắp ráp hoàn thành thì vốn lưu động trong thành phẩm hoàn thành chờ tiêuthụ cũng sẽ chiếm một tỷ trọng lớn Tuy nhiên cần đi xâu xem xét thêm về cơcấu của vốn lưu động để có những đánh giá xác thực về hiệu quả của công tácquản lý vốn lưu động

Tổng vốn kinh doanh bình quân của Công ty năm 2008 tăng lên66.188.674.942 đồng so với năm 2007, tương ứng với tỷ lệ tăng 64,11%, sựtăng lên của tổng vốn kinh doanh để tài trợ cho quy mô kinh doanh tăng lên

Về cơ cấu nguồn vốn: Tổng nguồn vốn của Công ty cuối năm 2008 làhơn 206 tỷ đồng, trong đó có hơn 114 tỷ đồng là nợ phải trả, như vậy nợ phảitrả chiếm tỷ trọng là 55,27% Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của Công

ty cuối năm 2008 là 1,32 nhưng hệ số khả năng thanh toán nhanh chỉ là 0,02điều này khá bất lợi cho Công ty khi có biến động bất thường xảy ra và khi đóCông ty rất có thể rơi vào tình trạng bị động về vốn, mất khả năng thanh toáncác khoản nợ đến hạn

Kết quả kinh doanh của công ty trong 2 năm gần đây:

Căn cứ vào Bảng 02: Kết quả kinh doanh của công ty TNHH ôtô Hoa

Mai năm 2007 – 2008

Tổng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của Công ty trong năm

2008 tăng so với năm 2007 là 16.249.786.416 đồng, với tỷ lệ tương ứng là4,42% Doanh thu thuần tăng 15.495.024.510 đồng với tỷ lệ 4,22% do có sựtăng lên của các khoản giảm trừ doanh thu với số tiền 794.761.906 đồng, tươngứng với tỷ lệ 346,83% nên đã làm cho doanh thu thuần tăng với tỷ lệ nhỏ hơn tỷ

lệ tăng của tổng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ Đi sâu tìm hiểunguyên nhân của việc doanh thu thuần tăng thì sự tăng lên này không phải do sốlượng xe tiêu thụ tăng mà là do giá cả xe tiêu thụ tăng lên (số lượng xe tiêu thụnăm 2008 là 2.104 xe, con số này trong năm 2007 là 2.120 xe)

Ngày đăng: 10/11/2014, 17:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý – sản xuất kinh doanh - Luận văn: Một số giải pháp cơ bản nhằm góp phần nâng cao hiệu quả tổ chức, sử dụng vốn lưu động tại công ty TNHH ôtô hoa mai
Sơ đồ 1 cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý – sản xuất kinh doanh (Trang 29)
Hình thức tập trung. Toàn bộ công tác kế toán được tập trung tại văn phòng kế  toán. Chứng từ sau khi được các phòng thu thập, kiểm tra, xử lý và gửi về,  phòng kế toán tổng hợp thực hiện việc ghi sổ kế toán, lập báo cáo kế toán của  đơn vị. - Luận văn: Một số giải pháp cơ bản nhằm góp phần nâng cao hiệu quả tổ chức, sử dụng vốn lưu động tại công ty TNHH ôtô hoa mai
Hình th ức tập trung. Toàn bộ công tác kế toán được tập trung tại văn phòng kế toán. Chứng từ sau khi được các phòng thu thập, kiểm tra, xử lý và gửi về, phòng kế toán tổng hợp thực hiện việc ghi sổ kế toán, lập báo cáo kế toán của đơn vị (Trang 30)
Bảng 10: Tỷ lệ phần trăm giữa các khoản mục có quan hệ trực tiếp  chặt chẽ với doanh thu: - Luận văn: Một số giải pháp cơ bản nhằm góp phần nâng cao hiệu quả tổ chức, sử dụng vốn lưu động tại công ty TNHH ôtô hoa mai
Bảng 10 Tỷ lệ phần trăm giữa các khoản mục có quan hệ trực tiếp chặt chẽ với doanh thu: (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w