Theo định nghĩa của UNESCO, Khu dự trữ sinh quyển thế giới là những khu vực hệ sinh thái bờ biển hoặc trên cạn giúp thúc đẩy các giải pháp điều hòa việc bảo tồn sự đa dạng sinh học với
Trang 1MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 3
B NỘI DUNG 3
I Giới thiệu về khu dự trưc sinh quyển thế giới 3
1.1 Khái niệm 3
1.2 Các tiêu chí để trở thành khu dự trữ sinh quyển thế giới 4
1.3 Chức năng của khu dự trữ sinh quyển thế giới 4
1.4 Đặc trưng 5
II Các khu dự trữ sinh quyển thế giới ở Việt Nam 6
2.1 Khu dự trữ sinh quyển Cần Giới 6
2.1.1 Vị trí địa lý 6
2.1.2 Sự hình thành 7
2.1.3 Hệ sinh thái 7
2.1.4 Các vùng của khu dự quyển 10
2.1.5 Du lịch sinh thái 12
2.2 Khu dự trữ sinh quyển Châu thổ sông Hồng 13
2.2.1 Tổng quan 13
2.2.2 Hệ sinh tháí 14
2.2.3 Các vùng của khu dự quyển 16
2.2.4 Tiềm năng du lịch 17
2.3 Khu dự trữ sinh quyển miền tây Nghệ An 18
2.3.1 Tổng quan 18
2.3.2 Đa dạng sinh học 19
2.4 Khu dự trữ sinh quyển quần đảo Các Bà 20
2.4.1 Tổng quan 20
2.4.2 Đa dạng sinh học 21
Trang 22.4.3 Các vùng trong khu dữ trữ sinh quyển 24
2.4.4 Phát triển các loại hình du lịch .25
2.5 Khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm 26
2.5.1 Tổng quan 26
2.5.2 Đa dạng sinh học 27
2.5.3 Các vùng của khu dự trữ sinh quyển 28
2.5.4 Phát triển các loại hình du lịch 28
2.6 Khu dự trữ sinh quyển ven biển và biển đảo Kiên Giang 30
2.6.1 Tổng quan 30
2.6.2 Đa dạng sinh học 30
2.7 Khu dự trữ sinh quyển Cát Tiên 33
2.7.1 Đa dạng sinh học 34
2.7.2 Các vùng trữ sinh quyển 35
2.7.3 Du lịch sinh thái 36
2.8 Khu dự trữ sinh quyển Mũi Cà Mau .37
2.8.1 Tổng quan 37
2.8.2 Đa dạng sinh học 38
C KẾT LUẬN 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 41
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam là một quốc gia giàu tài nguyên thiên nhiên Sự đa dạng và phong phú của các loại tài nguyên đã đem lại cho nước ta những lợi ích kinh tế - xã hội không nhỏ, phục vụ cho đời sống của người dân, cộng đồng và sự phát triển đất nước Ở đây tập trung nhiều loại động thực vật quý hiếm đang đứng trước nguy cơ
bị tuyệt chủng
Đứng trước nguy cơ đó thì việc xây dụng các khu bảo tồn thiên nhiên đẻ bảo
vệ các nguồn tài nguyên đó là là rất cần thiết và quan trọng
Khu bảo tồn thiên nhiên là vùng đất hay vùng biển đặc biệt được dành để bảo
vệ và duy trì tính đa dạng sinh học, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, kết hợp với việc bảo vệ các tài nguyên văn hoá và được quản lí bằng pháp luật hoặc các phương thức hữu hiệu khác Theo nghĩa hẹp, khu bảo tồn thiên nhiên còn gọi là khu dự trữ
tự nhiên và khu bảo toàn loài sinh cảnh, là vùng đất tự nhiên được thành lập nhằm mục đích đảm bảo diễn thế tự nhiên
Và ở nước ta đã xây dụng được một số khu dự trữ sinh quyển đã được UNESCO công nhận
B NỘI DUNG
I Giới thiệu về khu dự trưc sinh quyển thế giới
1.1 Khái niệm
Trang 4Khu dự trữ sinh quyển thế giới là một danh hiệu do UNESCO trao tặng cho
các khu bảo tồn thiên nhiên có hệ động thực vật độc đáo, phong phú đa dạng Theo
định nghĩa của UNESCO, Khu dự trữ sinh quyển thế giới là những khu vực hệ sinh
thái bờ biển hoặc trên cạn giúp thúc đẩy các giải pháp điều hòa việc bảo tồn sự đa dạng sinh học với việc phát triển bền vững khu vực đó có giá trị nổi bật, được quốc
tế công nhận
Khu dự trữ sinh quyển được tổ chức thành 3 vùng:
- Vùng lõi: nhằm bảo tồn lâu dài đa dạng loài, các cảnh quan, hệ sinh thái
- Vùng đệm: nằm bao quanh hoặc tiếp giáp vùng lõi Ở đây, có thể tiến hành các hoạt động kinh tế, nghiên cứu, giáo dục và giải trí nhưng không ảnh hưởng đến vùng lõi
- Vùng chuyển tiếp: nằm ở ngoài cùng Tại đây, các hoạt động kinh tế vẫn duy trì bình thường trên cơ sở phát triển bền vững nguồn lợi tài nguyên thiên nhiên
mà khu dự trữ sinh quyển đem lại
1.2 Các tiêu chí để trở thành khu dự trữ sinh quyển thế giới
Gồm 7 tiêu chí:
- Khu vực đề cử có đại diện đa dạng các hệ sinh thái của những khu vực địa lý sinh vật chính, bao gồm cả những giai đoạn phát triển có sự tác động của con người
- Khu vực đề cử có giá trị bảo tồn đa dạng sinh học cao
- Khu dự trữ sinh quyển đó có thể thực hiện phát triển theo hướng bền vững tại khu vực
- Khu dự trữ sinh quyển có diện tích thích hợp để đáp ứng được ba chức năng của khu dự trữ sinh quyển
- Khu vực đó có đủ những vùng thích hợp
- Có sự sắp xếp theo cấp độ của những thành phần liên quan, những người tham dự, những đối tượng quan tâm tại những khu vực phù hợp để cùng thực hiện những chức năng của khu dự trữ sinh quyển
- Cơ chế thực hiện việc quản lý và bảo tồn được UNESCO chấp nhận
1.3 Chức năng của khu dự trữ sinh quyển thế giới
Trang 5Mỗi khu dự trữ sinh quyển có 3 chức năng:
- Chức năng bảo tồn: đóng góp vào việc bảo tồn đa dạng di truyền, loài, hệ sinh thái và cảnh quan
- Chức năng phát triển: thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững về sinh thái cũng như các giá trị văn hoá truyền thống
- Chức năng hỗ trợ: tạo điều kiện cho các hoạt động nghiên cứu, giám sát, giáo dục và trao đổi thông tin giữa các địa phương, quốc gia và quốc tế về bảo tồn
và phát triển bền vững
1.4 Đặc trưng
Khu dự trữ sinh quyển thế giới có những nét giống và khác với một vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên như sau:
- Vườn quốc gia hay khu bảo tồn thiên nhiên chỉ là một phần trong một khu
dự trữ sinh quyển Mỗi khu dự trữ sinh quyển có thể có nhiều vùng lõi là các vườn quốc gia hay khu bảo tồn thiên nhiên,
- Vườn quốc gia hay khu bảo tồn thiên nhiên chỉ thực hiện một trong ba chức năng của một khu dự trữ sinh quyển, đó là chức năng bảo tồn Trong khi khu dự trữ sinh quyển, ngoài chức năng bảo tồn thiên nhiên còn thực hiện chức năng phát triển (kinh tế, văn hóa, du lịch sinh thái ) và chức năng hỗ trợ nghiên cứu khoa học, giáo dục
- Khu dự trữ sinh quyển còn là một cách tiếp cận bảo tồn và phát triển bền vững tương đối mới (ra đời từ năm 1971) so với cách tiếp cận tập trung vào mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học của các vườn quốc gia hay khu bảo tồn thiên nhiên - vốn xuất phát từ khái niệm khu bảo vệ, vốn đã có lịch sử hình thành và tiến hóa qua nhiều thế kỷ
•Các khu dự trữ sinh quyển thế giới được điều phối bởi Ủy ban MAB của UNESCO trong khi các khu bảo vệ (PA) được điều phối bởi IUCN
Danh sách các khu dự trữ sinh quyển thế giới tại Việt NamMiền Bắc Khu dự trữ sinh quyển Châu thổ sông Hồng
Khu dự trữ sinh quyển Cát BàMiền Trung Khu dự trữ miền tây Nghệ An
Khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm
Trang 6Miền Nam Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ
Khu dự trữ sinh quyển Cát TiênKhu dự trữ sinh quyển Mũi Cà MauKhu dự trũ ven biển và biển đảo Kiên Giang
II Các khu dự trữ sinh quyển thế giới ở Việt Nam
2.1 Khu dự trữ sinh quyển Cần Giới
Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ còn gọi là Rừng Sác là một quần thể gồm các loài động, thực vật rừng trên cạn và thuỷ sinh, được hình thành trên vùng châu thổ rộng lớn của các cửa sông Đồng Nai, Sài gòn và Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây UNESCO đã công nhận đây là khu dự trữ sinh quyển thế giới với hệ động thực vật
đa dạng độc đáo điển hình của vùng ngập mặn Nơi đây được công nhận là một khu
du lịch trọng điểm quốc gia Việt Nam
Tên chính thức: Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ, TP Hồ Chí Minh
Tên ngắn gọn: Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ
Ngày được UNESCO công nhận : 21/01/2000
2.1.1 Vị trí địa lý
Khu dự trữ sinh quyển rừng mặn Cần Giờ được hình thành ở hạ lưu hệ thống sông Đồng Nai – Sài Gòn nằm ở cửa ngõ Đông Nam Thành phố Hồ Chí Minh Tọa độ: 10°22’ – 10°40’ độ vĩ Bắc và 106°46’ – 107°01’ kinh độ Đông
Cách trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 40 km, khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ giáp tỉnh Đồng Nai ở phía Bắc, giáp biển Đông ở phía Nam, giáp tỉnh Tiền Giang và Long An ở phía Tây và giáp tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu ở phía Đông
Tổng diện tích khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ là 75.740 ha, trong đó:
Vùng lõi 4.721 ha
Vùng đệm 41.139 ha
Vùng chuyển tiếp 29.880 ha
Trang 7Hình 1: Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ
2.1.2 Sự hình thành
Trước chiến tranh, Cần Giờ là khu rừng ngập mặn với quần thể động thực vật phong phú Nhưng trong chiến tranh bom đạn và chất độc hóa học đã làm nơi đây trở thành “vùng đất chết” Năm 1978, Cần Giờ được sáp nhập về Thành phố Hồ Chí Minh, và năm 1979 UBND thành phố Hồ Chí Minh phát động chiến dịch trồng lại rừng Cần Giờ, thành lập Lâm trường Duyên Hải (đóng tại Cần Giờ, thuộc Ty Lâm nghiệp) với nhiệm vụ khôi phục lại hệ sinh thái ngập mặn Diện tích rừng đã phủ xanh hơn 31 nghìn héc-ta, trong đó có gần 20 nghìn héc-ta rừng trồng, hơn 11 nghìn héc-ta được khoanh nuôi tái sinh tự nhiên và các loại rừng khác
Ngày 21/ 01/ 2000, khu rừng này đã được Chương trình Con người và Sinh Quyển - MAB của UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển đầu tiên của Việt Nam nằm trong mạng lưới các khu dự trữ sinh quyển của thế giới
Sự khôi phục và phát triển cũng như bảo vệ của khu rừng này ghi nhận sự đóng góp rất lớn của lực lượng thanh niên xung phong thành phố Hồ Chi Minh và nhân dân Cần Giờ Hiện khu rừng đã được giao cho chính người dân nơi đây chăm sóc và quản lý
2.1.3 Hệ sinh thái
Rừng ngập mặn Cần Giờ có điều kiện môi trường rất đặc biệt, là hệ sinh thái trung gian giữa hệ sinh thái thủy vực với hệ sinh thái trên cạn, hệ sinh thái nước ngọt và hệ sinh thái nước mặn Rừng Cần Giờ nhận một lượng lớn phù sa từ sông Đồng Nai, cùng với ảnh hưởng của biển kế cận và các đợt thủy triều mà hệ thực vật
Trang 8nơi đây rất phong phú với trên 150 loài thực vật, trở thành nguồn cung cấp thức ăn
và nơi trú ngụ cho rất nhiều loài thủy sinh, cá và các động vật có xương sống khác
* Hệ thực vật:
Trước ngày 30/4/1975, rừng ngập mặn Cần Giờ có 40.000 ha; tán rừng dày,
với cây rừng cao trên 25 m, đường kính 25-40 cm, Đước đôi (Rhizophora
apiculata) là loài chiếm ưu thế, cùng với các quần xã khác như Bần đắng (Sonneratia alba), Mắm trắng (Avicennia alba), Đưng (R mucronata), Vẹt (Bruguiera spp.), Xu (Xylocarpus spp), Cóc (Lumnitzera spp.), Chà là (Phoenix paludosa) Giá (Excoecaria agallocha) v.v Ngoài rừng ngập mặn, khu vực huyện
Cần Giờ còn có các vùng đồi đất đỏ bazan như Giồng Chùa Giồng Ao v.v có các loại cây cỏ, cây bụi và các loài cây tái sinh tự nhiên thuộc rừng mưa ẩm, nhiệt đới
Từ năm 1964 đến 1970, đế quốc Mỹ đã dùng chất độc hoá học rải dọc theo trục sông Lòng Tàu sâu vào rừng mỗi bên vài trăm mét Các đợt rải được tiến hành nhiều lần bằng máy bay làm rừng ngập mặn Cần Giờ bị huỷ diệt hoàn toàn, hầu hết các loại cây rụng lá và chết Các loài cây như Đước, Đưng gần như biến mất Một
số ít cây Dà (Ceriops spp), Giá (Excoecaria agallocha) ven bờ kênh rạch tái sinh
theo từng cụm nhỏ, nơi đất ngập triều có Mắm, trên đất cao có Chà là nước
(Phoenix paludosa) và các loài Ráng đại (Acrostichum aureum), Dây mủ
(Gymnanthera mitida), Cóc kèn (Derris trifoliata), Chùm lé (Azima sarmentosa), Lức (Pluchea indica), Chùm gọng (Clerodendrum inerme)…
Hình 2: Cây đước
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng 30/4/1975, rừng ngập mặn Cần Giờ thuộc địa phận huyện Duyên Hải, tỉnh Đồng Nai Đến năm 1978, huyện Duyên Hải được giao lại cho thành phố Hồ Chí Minh với tổng diện tích toàn huyện lúc đó
là 71.361 ha, trong đó diện tích rừng ngập mặn và đất lâm nghiệp là 34.468 ha Lâm
Trang 9trường Duyên Hải lúc đó trực thuộc Ty Lâm nghiệp thành phố Hồ Chí Minh được thành lập vào năm 1978 Để bắt đầu công tác trồng rừng, trụ mầm Đước phải mua
và vận chuyển từ tỉnh Minh Hải (Cà Mau) vì nguồn giống tại chỗ ỏ Cần Giờ không
đủ cung cấp Đến năm 1990 mới có nguồn giống Đước tại chỗ Từ năm 1984 trở đi,
một số loài cây khác như Gõ biển (Intsia bijuga), Dà vôi (Ceriops tagal), Dà quánh (C decandra), Cóc trắng (Lumnitzera racemosa), Xu ổi (Xylocarpus granatum), Tra (Thespesia populnea) v v cũng được trồng để phủ xanh các vùng đất cao, ít
ngập triều
Hình 3: Cây chà là nước
* Hệ động vật:
Khu hệ động vật thủy sinh không xương sống với trên 700 loài, khu
hệ cá trên 130 loài, khu hệ động vật có xương sống có 9 loài lưỡng thê, 31 loài bò sát, 4 loài có vú Trong đó có 11 loài bò sát có tên trong sách đỏ Việt Nam như: tắc
kè (Gekko gekko), kỳ đà nước (Varanus salvator), trăn đất (Python molurus), trăn gấm (Python reticulatus), rắn cạp nong (Bungarus fasciatus), rắn hổ mang (Naja
naja), rắn hổ chúa(Ophiophagus hannah), vích (Chelonia mydas), cá sấu hoa
cà (Crocodylus porosus)… Khu hệ chim có khoảng 130 loài thuộc 47 họ, 17 bộ
Trong đó có 51 loài chim nước và 79 loài không phải chim nước sống trong nhiều sinh cảnh khác nhau
Trang 10về thành phần các loài động vật, thực vật, vi sinh vật với cảnh quan rừng ngập mặn
đa dạng và hấp dẫn Các chức năng chính bao gồm:
- Bảo tồn hệ sinh thái rừng ngập mặn bao gồm cả rừng trồng và rừng tự nhiên;
- Bảo tồn cảnh quan rừng ngập mặn với các môi trường sống của động vật hoang dã, đặc biệt là chim nước;
- Bảo tồn hệ thống thuỷ vực, các bãi bồi dọc bờ sông và ven biển nơi kiếm ăn
và sinh đẻ của các loài động vật vùng triều;
- Tiến hành một số công trình nghiên cứu khoa học về sức bền hệ sinh thái và
du lịch sinh thái có giới hạn
Trang 11b) Vùng đệm (37.339 ha)
Với chức năng phục hồi các hệ sinh thái, vùng đệm có vai trò quan trọng trong bảo tồn vùng lõi Các hoạt động du lịch sinh thái, thăm quan và nghiên cứu có thể triển khai ở Khu căn cứ địa kháng chiến, đặc khu Rừng Sác, thăm vườn chim, vườn cò, vườn dơi sẽ góp phần nâng cao thu nhập cho người dân, nâng cao ý thức
và hiểu biết giá trị của công tác bảo tồn góp phần làm giảm sức ép lên vùng lõi của khu dự trữ sinh quyển Mặt khác, vùng đệm còn tạo không gian cho thú hoang dã như khỉ, rái cá, kỳ đà … kiếm ăn Khi các khu vực này trở nên ổn định, có thể bổ sung vào vùng lõi nếu cần thiết, đồng thời tạo cảnh quan tự nhiên và hoạt động văn hoá phục vụ cho du lịch sinh thái Ngoài ra, các mô hình lâm ngư kết hợp thân thiện với môi trường cũng được ứng dụng, trình diễn cho nhân dân địa phương đến tham quan, học tập và trao đổi kinh nghiệm
c) Vùng chuyển tiếp: 29.310 ha
Vùng chuyển tiếp bao gồm các khu vực còn lại của huyện Cần Giờ bao gồm các vùng bãi bồi, giồng, bãi cát, các khu vực sản xuất nông nghiệp, thuỷ sản, diêm nghiệp và dân cư dọc theo ven biển Cần Giờ Đây là vùng chuyển tiếp có nhiều tiềm năng cho hoạt động kinh tế, đặc biệt là phát triển du lịch sinh thái, phát triển nông nghiệp, ngư nghiệp và thuỷ sản bền vững Hệ thống nhà nghỉ, khách sạn, nhà hàng vùng ven biển Cần Giờ rất hấp dẫn khách du lịch.\
Trang 12Bảng : Danh mục các loài sinh vật quí hiếm ở Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ
Rắn cạp nong Bugaris fasciculatus
Vích Chelonia mydas
Bộ nông chân xám Pelecanus philppensis
Choắt lớn mỏ vàng Tringa guttifer
Nguồn: Bùi Lai và cộng sự 1996, (MAB Vietnam, 1998 Proposed Biosphere Reserve of Can Gio Mangroves HCM City)
Trang 13Trong những năm qua một số đoàn giáo viên, học sinh Nhật Bản đã đến Cần Giờ để tham gia phong trào trồng cây ngập mặn, giao lưu với các trường phổ thông
và nhân dân địa phương góp phần thắt chặt tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước Các địa danh thu hút nhiều khách du lịch đến thăm quan như Khu du lịch Vàm Sát, Lâm Viên Cần Giờ và nhiều vùng rừng tái sinh tự nhiên dọc sông Đồng Tranh Mặc dầu còn một số hạn chế về mặt tổ chức nhưng quang cảnh rừng phục hồi đã gây được những ấn tượng tốt đẹp cho khách
2.2 Khu dự trữ sinh quyển Châu thổ sông Hồng
Tên chính thức: Khu dự trữ sinh quyển đất ngập nước ven biển liên tỉnh châu thổ sông Hồng, thuộc 5 huyện Thái Thụy, Tiền Hải (Tỉnh Thái Bình); Giao Thủy, Nghĩa Hưng (Tỉnh Nam Định) và Kim Sơn (Tỉnh Ninh Bình)
Tên ngắn gọn: Khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng
Ngày được UNESCO công nhận : 02/12/2004
2.2.1 Tổng quan
Đây là khu dự trữ sinh quyển liên tỉnh bao gồm cả Vườn quốc gia Xuân Thuỷ, Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Tiền Hải và các vùng phụ cận, Khu Ramsar Xuân Thuỷ cũng nằm trong khu dự trữ sinh quyển này Đây là khu Ramsar được công nhận vào năm 1989, là khu đầu tiên và duy nhất ở Việt Nam tính đến thời điểm này Ramsar là tên Công ước bảo vệ những vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt là nơi cư trú của những loài chim nước, do các nước tham gia ký tại T.P Ramsar, Cộng hoà Hồi giáo I ran Xuân Thuỷ cũng là khu Ramsar đầu tiên của Đông Nam Á và thứ 50 của thế giới
Tổng diện tích của khu dự trữ sinh quyển này lớn hơn 105.558 ha, trong đó
có 66.256 ha là đất liền ven biển và 39.302 ha mặt nước biển thuộc 25 xã của các huyện Kim Sơn (Ninh Bình); Nghĩa Hưng, Giao Thủy (Nam Định); Tiền Hải, Thái Thụy (Thái Bình) Vùng lõi có diện tích hơn 14.000 ha, vùng đệm gần 37.000 ha, vùng chuyển tiếp trên 54.000 ha, có số dân trên 128 000 người (2004)
Khu dự trữ sinh quyển đồng bằng sông Hồng gồm 3 phân vùng riêng biệt, thuộc các cửa sông Đáy, cửa Ba Lạt và cửa Thái Bình
• Vùng ven biển cửa sông Đáy nằm trên 7 xã thuộc huyện Kim Sơn và 6 xã thuộc huyện Nghĩa Hưng
Trang 14• Vùng ven biển cửa cửa Ba Lạt nằm trên 4 xã thuộc huyện Giao Thủy và 3
xã huyện Tiền Hải
• Vùng ven biển cửa cửa Thái Bình nằm trên 5 xã thuộc huyện Thái Thụy
Có 3 đô thị loại V thuộc khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng là thị trấn Bình Minh, thị trấn Rạng Đông và thị trấn Diêm Điền
Hình 5: Khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng
2.2.2 Hệ sinh tháí
* Hệ thực vật: sinh cảnh đặc sắc nơi đây là những cánh rừng ngập mặn rộng
hàng ngàn ha, đầm lầy mặn, bãi bồi ven biển và cửa sông với những cái tên nghe đầy ấn tưọng của một vùng mà biên giới quốc gia đang mở rộng ra biển 60-100 m/năm: Cồn Lu, Cồn Ngạn, Cồn Mờ, Cồn Xanh…Những cánh rừng này được ví như bức tường xanh bảo vệ đê biển, làng xóm khỏi bị tàn phá bởi gió bão, nước biển dâng, và cả thảm hoạ sóng thần nếu xảy ra
Trang 15Hình 6: Hệ thực vật của khu dự trữ sinh quyển
* Hệ động vật: Khu dự trữ sinh quyển này hiện đang lưu giữ những giá trị đa
dạng sinh học phong phú với các loài quý hiếm và có tầm quan trọng quốc tế Các công trình nghiên cứu đã công bố khoảng 200 loài chim, trong đó có gần 60 loài chim di cư, hơn 50 loài chim nước Nhiều loài quý hiếm được ghi trong sách đỏ thế
giới Có thể dễ dàng phát hiện ở nơi đây như Cò thìa (Platalea minor), Mòng bể (Larus ichthyaetus), Rẽ mỏ thìa (Tringa orchropus), Cò trắng bắc (Egretta
eulophotes).
Rừng ngập mặn cũng là nơi nuôi dưỡng sinh đẻ của các loài hải sản Như một vườn ươm cho sự sống của biển, rừng ngập mặn cung cấp nguồn lợi thuỷ sản phong phú cùng với 500 loài động thực vật thuỷ sinh và cỏ biển cung cấp nhiều loài thuỷ hải sản có giá trị kinh tế cao như tôm, cua, cá biển, vạng, trai, sò, cá tráp, rong câu chỉ vàng Cá heo sông là loài động vật được dân chài địa phương tôn thờ, chúng quẫy mình và nhẹ nhàng bơi quanh mạn thuyền du khách mỗi khi chiều xuống
Trang 16Hình 7: Hệ động vật của khu dự trữ sinh quyển
2.2.3 Các vùng của khu dự quyển
a) Vùng lõi
Vùng lõi có diện tích 14.167 ha Mục tiêu quản lý vùng lõi là bảo tồn đa dạng sinh học, hạn chế các hoạt động của con người Khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng có hai vùng lõi, là Vườn Quốc gia Xuân Thủy và Khu Bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Tiền Hải
Việc bảo tồn đa dạng sinh học vùng lõi gắn liền với việc bảo tồn rừng ngập mặn và những bãi bồi ven biển, cửa sông Không giống như các khu bảo tồn trong nội địa, vùng lõi trong khu dự trữ sinh quyển này vẫn thường xuyên chịu sức ép của việc khai thác và đánh bắt thuỷ sản quá mức Có thể nói rất khó phân chia diện tích vùng lõi hay vùng đệm, bởi vì việc đánh bắt thuỷ sản ở vùng đệm sẽ trực tiếp làm suy giảm đa dạng sinh học vùng lõi Các bãi bồi nuôi vạng hay các loài thuỷ sản khác không chỉ làm mất đi vẻ đẹp cảnh quan mà còn làm đảo lộn các chuỗi và lưới thức ăn trong tự nhiên
b) Vùng chuyển tiếp
Vùng chuyển tiếp có diện tích 54.541 ha còn được gọi là vùng phát triển bền vững, nơi cộng tác của các nhà khoa học, nhà quản lý và người dân địa phương Tạo điều kiện thuận lợi và đẩy mạnh các hoạt động phát triển kinh tế, du lịch, dịch vụ đi đôi với tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng Khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng có năm vùng chuyển tiếp thuộc địa giới hành chính của
5 huyện Ranh giới vùng chuyển tiếp được xác định dựa trên địa giới hành chính xã nằm dọc theo đê biển
Trang 17c) Vùng đệm
Vùng đệm có diện tích 36.849 ha Là vùng tiếp giáp với vùng lõi, có thể tiến hành các hoạt động kinh tế, nghiên cứu, giáo dục và giải trí nhưng không ảnh hưởng đến mục đích bảo tồn trong vùng lõi Khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng có năm vùng đệm thuộc địa giới hành chính của 5 huyện: Thái Thuỵ và Tiền Hải - Thái Bình; Giao Thuỷ và Nghĩa Hưng - Nam Định; Kim Sơn - Ninh Bình Ranh giới vùng đệm được tính từ đê biển ra phía ngoài bãi bồi thấp nhất khi nước triều xuống Toàn bộ diện tích rừng ngập mặn được khôi phục và trồng mới cùng với các bãi nuôi vạng, hệ thống đầm nuôi thuỷ sản giáp chân đê biển đều nằm trong vùng đệm Đây là khu vực rất quan trọng cho các loài chim di cư từ vùng lõi cũng như các nơi khác đến kiếm ăn và trú ngụ Việc quản lý đặt dưới sự chỉ đạo của cơ quan và chính quyền địa phương trong việc kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế tạo nguồn thu nhập cho người dân địa phương và bảo tồn rừng ngập mặn vừa có tác dụng phòng hộ vừa góp phần tăng nguồn lợi thuỷ hải sản
Trang 18Trong số 12 kiểu sinh cảnh chính của khu khu dự trữ sinh quyển, nhũng bãi bùn, bãi cát ngập triều, trảng cỏ, sậy và rừng ngập mặn với hơn 30 loài, các cồn cát
phi lao (Casuarina equisetifolia) rất đặc trưng cho vùng cửa sông ven biển nhiệt
đới, là nơi kiếm ăn của các loài chim di cư, chim nước
Mới đây, các chuyên gia của tổ chức UNESCO cho rằng việc xây dựng ‘Con đường di sản’ vùng ven biển miền Bắc bao gồm: Khu khu dự trữ sinh quyển châu thổ Sông Hồng, khu khu dự trữ sinh quyển quần đảo Cát Bà, khu Di sản Thiên nhiên Hạ Long, Vườn quốc gia Bái Tử long sẽ làm nên một dải địa hình ven biển đầy cảnh sắc và có sức hấp đẫn du lịch đến kỳ lạ
Ý tưởng về một tua du lịch tổng hợp dọc sông Hồng đã hình thành từ những danh thắng cảnh quan, văn hoá, lịch sử dọc sông Hồng, con sông đầy ắp những sự kiện lịch sử từ vùng Lào Cai biên giới qua những vùng đất trung du nơi khai sinh của một nền văn minh lúa nước từ thời các vua Hùng dựng nước, xuôi dòng tới vùng châu thổ mà mỗi làng, mỗi xã đều có đình làng, miếu mạo, nhà thờ họ tộc đặc biệt là những làng nghề nổi tiếng như gốm Bát
Tràng, Vải tơ Nam Định tạo nên một không gian
văn hoá với những lễ hội dân gian mà du khách
không bao giờ hết ngạc nhiên
2.3 Khu dự trữ sinh quyển miền tây Nghệ An
Tên chính thức: Khu dự trữ sinh quyển thế
giới Miền Tây Nghệ An, Tỉnh Nghệ An
Tên ngắn gọn: Khu Sinh quyển Tây Nghệ An
Ngày được công nhận : 18/09/2007
Tổng diện tích & Dân số: 1,303,285 ha, dân số: 473,822 người
Trang 19sinh cảnh duy trì hiệu quả bảo tồn đa dạng sinh học thông qua việc giảm bớt khó khăn về chia cắt nơi sống do các hoạt động kinh tế của con người tạo ra.
Khu dự trữ sinh quyển miền tây Nghệ An có diện tích 1.303.285ha, thuộc địa bàn 9 huyện: Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông, Thanh Chương, Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Quế Phong, Tân Kỳ, Anh Sơn; trong đó Vườn quốc gia Pù Mát làm trung tâm đang lưu giữ nhiều nguồngen quý về động, thực vật với đầy đủ đại diện của 4/5 lớp quần hệ (rừng thưa, rừng kín, cây bụi và cây thảo)
Hình 8: Vườn quốc gia Pùmát
2.3.2 Đa dạng sinh học
Khu dự trữ sinh quyển Tây Nghệ An có tính đa dạng sinh học rất cao đại diện cho hầu hết các kiểu rừng của rừng mưa nhiệt đới, các sinh cảnh sống rất đa dạng bao gồm: núi, đất ngập nước, suối và sinh cảnh khác Đây là khu vực duy nhất của miền Bắc còn lại một diện tích lớn rừng nguyên sinh đang được bảo vệ tốt, đặc biệt là khu vực dọc biên giới Việt Lào
*Hệ thực vật:
Trong khu vực có 1.297 loài thực vật đã được điều tra và ghi nhận Một báo cáo gần đầy nhất thì khu vực này có khoảng 2.500 loài, trong đó có khoảng 2.000 loài thực vật bậc cao (74%)
Vườn quốc gia Pù Mát có hệ thực vật rất đa dạng: 1513 loài thực vật bậc cao thuộc 159 họ 545 chi, 220 loài cây thuốc quý: hà thủ ô, thổ phục linh, quế, hoài sơn,
… các loài cây lấy gỗ, và cây ăn quả các loại
* Hệ động vật
Động vật ở đây cũng khá phong phú, bao gồm: Hệ động vật hiện có 130 loài thú lớn, nhỏ, 295 loài chim, 54 loài lưỡng cư và bò sát, 84 loài cá, 39 loài dơi, 305 loài bướm ngày, 14 loài rùa, hàng ngàn loài côn trùng khác
Trang 20Đặc biệt, vườn Quốc gia Pù Mát là nơi có đàn voi lớn nhất Việt Nam cùng các loài chim quý như: trĩ sao, gà lôi, gà tiêu…
Hình 10: Hệ động vật của khu dự trữ sinh quyển
Khu DTSQ này có rất nhiều điều kiện thuận lợi cho sự phát triển loại hình du lịch sinh thái, du lịch khám phá thăm và tìm hiểu phong tục tập quán của các bản dân tộc
Đặc biệt, khu DTSQ có đặc trưng văn hóa-nhân văn nổi bật của cộng đồng người Thái, với những giá trị bản địa sâu sắc và không thể bỏ qua giá trị cội nguồn của tộc người Ơ Đu có dân số ít nhất trong cộng đồng dân cư Việt Nam
2.4 Khu dự trữ sinh quyển quần đảo Các Bà
Tên chính thức: Khu dự trữ sinh quyển quần đảo Cát Bà, TP Hải PhòngTên ngắn gọn: Khu dự trữ sinh quyển Cát Bà
Ngày được UNESCO công nhận : 02/12/2004
2.4.1 Tổng quan
Quần đảo Cát Bà là quần thể gồm 367 đảo trong đó có đảo Cát Bà ở phía Nam vịnh Hạ Long, ngoài khơi thành phố Hải Phòng và tỉnh Quảng Ninh, cách trung tâm thành phố Hải Phòng khoảng 30 km, cách thành phố Hạ Long khoảng 25
km Về mặt hành chính, quần đảo thuộc huyện đảo Cát Hải, thành phố Hải Phòng
Quần đảo có tọa độ 106°52′- 107°07′Đông, 20°42′- 20°54′độ vĩ Bắc Diện tích khoảng gần 300 km² Dân số 8.400 người (năm 1996) Các đảo nhỏ khác: hòn Cát Ông, hòn Cát Đuối, hòn Mây, hòn Quai Xanh, hòn Tai Kéo, Cát Bà, còn gọi
là đảo Ngọc, là hòn đảo lớn nhất trên tổng số 1.969 đảo trên vịnh Hạ Long.Theo truyền thuyết địa phương thì tên Cát Bà còn được đọc tên Các Bà Vì có một thời
Trang 21các bà, các chị ở đây đứng ra lo việc hậu cần cho các ông đánh giặc trên một hòn đảo lân cận Đảo có tên là đảo các Ông Như vậy, Cát Bà là đọc chệch của các Bà.
Hình 11: Khu dự trữ sinh quyển Cát Bà
2.4.2 Đa dạng sinh học
Theo các kết quả nghiên cứu, cho đến nay riêng khu vực Cát Bà đã thống kê được 2320 loài động vật và thực vật đang sinh sống, gồm:
Thực vật trên cạn 741 loài Động vật sống trong khu vực rừng 282 loài Thực vật ngập mặn 23 loài Rong biển 75 loài Thực vật phù du 199 loài Động vật phù du 89 loài Động vật đáy 538 loài
*Hệ thực vật:
Cát Bà có 620 loài thực vật bậc cao phân bố thuộc 438 chi của 123 họ Đây
là loại rừng mưa nhiệt đới thưòng xanh trên núi đá vôi hợp thành từ nhiều kiểu phụ như rừng trên đỉnh và sườn núi đá vôi, rừng kim giao, rừng ngập nước trên núi (ao ếch) và rừng ngập mặn Rừng ngập mặn nằm ở phía Tây Bắc đảo, các loài chủ yêu bao gồm đước, trang, ô rô, ráng, sú đặc trưng của vùng bờ biển Đông Bắc bộ Dưới biển là các hệ sinh thái san hô, cỏ biển, tảo phù du, tảo đáy Đây là môi
trường lý tưởng cho các loài thuỷ hải sản Có giả thuyết cho rằng bò biển (Dugong
dugon) đã từng sống ở đây cùng với cá heo và một số loài động vật khác.