Là một học giả với 120 tác phẩm sáng tác, biên soạn và dịch thuật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như giáo dục, văn học, ngữ học, triết học, đạo đức học, lịch sử, du ký, gương danh nhân,
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Mục đích, lí do chọn đề tài
Nguyễn Hiến Lê không chỉ là một nhà văn, dịch giả, nhà ngôn ngữ học,
mà còn là nhà giáo dục và hoạt động văn hóa độc lập Là một học giả với 120 tác phẩm sáng tác, biên soạn và dịch thuật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như giáo dục, văn học, ngữ học, triết học, đạo đức học, lịch sử, du ký, gương danh nhân, chính trị, kinh tế,…Sự nghiệp nghiên cứu và sáng tạo văn học của ông đã gặt hái được nhiều thành tựu quan trọng, đánh dấu một bước chuyển mới về những quan niệm, phương pháp nghiên cứu mới của nền văn học nước nhà lúc bấy giờ
Dù đến với nghiệp văn chương như là một sự ngẫu nhiên nhưng không vì thế mà những đóng góp và thành tựu Nguyễn Hiến Lê là không đáng ghi nhận Suốt thời gian cầm bút, ông luôn tận tâm với nghề, luôn học hỏi, trau dồi thêm kiến thức Những vấn đề được ông đề cập đến là những vấn đề cấp thiết, có ích cho xã hội, nhất là với tầng lớp thanh niên, học sinh, sinh viên Ông được rất nhiều độc giả biết đến và yêu quý Những công trình nghiên cứu và sáng tạo của ông phục vụ cho nhiều thế hệ khác nhau, mỗi gia đình không nhiều thì ít, cũng
có vài cuốn sách của ông Nguyễn Hiến Lê được rất nhiều người tín nhiệm, muốn mời ông dạy ở trường này hay làm việc ở nơi kia và trao tặng nhiều giải thưởng nhưng ông đều từ chối Tất cả những dẫn chứng nêu trên, cho thấy được vai trò, ảnh hưởng và tầm quan trọng của ông Theo sát dòng chảy của lịch sử dân tộc, Nguyễn Hiến Lê luôn biết tự điều chỉnh và đổi mới trong tư duy, nhận thức, ông luôn lao động miệt mài và đặt ra cho mình những nhiệm vụ thích ứng với việc nghiên cứu văn học trong từng giai đoạn cụ thể Đó là những phẩm chất cao quý và đáng trân trọng của một nhà nghiên cứu lớn như Nguyễn Hiến Lê
Nguyễn Hiến Lê đã để lại cho chúng ta một khối lượng tác phẩm đồ sộ và
có giá trị trên nhiều lĩnh vực Trong đó, nghiên cứu và sáng tạo văn học là một
Trang 2trong những lĩnh vực quan trọng và có tầm ảnh hưởng lớn Đối với sự nghiệp nghiên cứu và sáng tạo văn học, mỗi nhà văn, nhà nghiên cứu đều có những tư tưởng, quan niệm, cách nhìn nhận, đánh giá khác nhau, mỗi người đều có một mục tiêu và phương pháp khác nhau Trên cơ sở kế thừa thành tựu của những người đi trước để lại, chúng tôi bước đầu nhìn nhận, đánh giá một cách toàn diện những đóng góp của Nguyễn Hiến Lê trong lĩnh vực nghiên cứu và sáng tạo văn học Để hiểu biết và đánh giá đúng tầm cỡ sự nghiệp của một người suốt đời tận tâm như Nguyễn Hiến Lê, là một quá trình làm việc nghiêm túc và có cái nhìn khách quan, chúng tôi chọn đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình là nghiên cứu
về Nguyễn Hiến Lê Khóa luận này không tham vọng nghiên cứu hết mọi phương diện sự nghiệp của ông, chúng tôi chỉ đi sâu khám phá, tìm hiểu về
Nguyễn Hiến Lê – nhà văn, nhà nghiên cứu văn học mà thôi.
2 Lịch sử vấn đề
Nguyễn Hiến Lê là người viết nhiều và viết chắc, những tác phẩm của ông đều được ấp ủ từ trước Ông viết bằng niềm đam mê, sự hiểu biết, bằng những rung cảm sâu lắng toát ra từ tâm hồn của người nghệ sĩ Chính vì vậy, những đóng góp của ông rất thiết thực Đời sống văn học và nghiên cứu văn học không ngừng vận động và phát triển Trên văn đàn, có không ít những bài viết của những nhà nghiên cứu văn học, nhà văn, những người yêu mến Nguyễn Hiến Lê hướng tới những suy nghĩ, bình luận, mổ xẻ những quan niệm hay những tác phẩm của ông Qua đó, tác giả đã rút ra những nhận xét khách quan và khẳng định tài năng độc đáo cũng như những đóng góp to lớn của Nguyễn Hiến Lê trong sự nghiệp nghiên cứu và sáng tạo văn học
Năm 1993, Châu Hải Kỳ ra mắt bạn đọc cuốn sách, Nguyễn Hiến Lê -
cuộc đời và tác phẩm Qua cuốn sách này, chúng ta hiểu rõ hơn về cuộc đời
cũng như sự nghiệp của ông Những thói quen làm việc, những tư tưởng, quan niệm của ông về nghiên cứu và sáng tạo văn học Bên cạnh đó là hệ thống, tóm tắt những tác phẩm đã xuất bản cũng như chưa xuất bản, những bài viết trên các
Trang 3báo ông đã cộng tác…Châu Hải Kỳ thực sự mến mộ tài năng cũng như nhân cách Nguyễn Hiến Lê Ông đã đọc kỹ hơn nửa trong số 120 công trình của ông
và đọc lướt một nửa còn lại mới có thể hoàn thành một tác phẩm đầy đủ, súc tích như vậy
Trên tạp chí Văn học nghệ thuật số 8 và 9, tháng 12 năm 1985 và tháng 1 năm 1986, có bài viết, Nguyễn Hiến Lê trong đời tôi của Nguyễn Mộng Giác,
nhân biết được tin Nguyễn Hiến Lê qua đời Bài này trình bày những suy nghĩ của tác giả về Nguyễn Hiến Lê và công trình nghiên cứu của ông
Phan Ngọc Hiển cũng có bài viết, Rành mạch như Nguyễn Hiến Lê, in trên tạp chí Văn hóa Nghệ An Ở bài này, Phan Ngọc Hiển chủ yếu trình bày
khía cạnh đời thường của Nguyễn Hiến Lê, ông luôn sòng phẳng, rành mạch
trong cách thể hiện thái độ, quan niệm sống của mình.
Ngoài ra, còn có một số bài viết như Tâm tình học giả Nguyễn Hiến Lê của Lê Phương Chi, Người “gieo mầm”: Ông Nguyễn Hiến Lê và Về tượng đài
nhà văn hóa Nguyễn Hiến Lê của Trịnh Kim Thuấn, rồi phóng sự : Lãng quên
“tượng đài văn hóa” Nguyễn Hiến Lê, trên báo Lao động (số 190 ngày
19/8/2013) của phóng viên Lam Điền Thông qua những bài viết trên, giúp ta hiểu rõ hơn về nhà văn, nhà nghiên cứu Nguyễn Hiến Lê Nhưng những bài viết này, chỉ mới trình bày suy nghĩ của người viết về Nguyễn Hiến Lê và sơ lược qua những công trình nghiên cứu và sáng tạo của ông, chứ chưa đi sâu phân tích kĩ lưỡng Bài khóa luận của chúng tôi, sẽ tìm hiểu trên một phương diện mới, đi sâu vào lĩnh vực văn học, phân tích những tác phẩm tiêu biểu và trình bày những đặc điểm phương pháp nghiên cứu, cũng như đóng góp của ông vào tiến trình hiện đại hóa văn học Đây là một đề tài mới, chưa có ai nghiên cứu nên chúng tôi sẽ gặp khó khăn trong công tác tìm kiếm tài liệu Nhưng qua đó, chúng tôi sẽ trình bày được những suy nghĩ, hiểu biết của mình, góp một phần sức lực nhỏ bé của cá nhân vào việc khẳng định tên tuổi nhà văn, nhà nghiên cứu Nguyễn Hiến Lê
Trang 43 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: để tìm hiểu, đi sâu vào đề tài khảo sát, hệ thống và rút ra những nhận xét, xây dựng hệ thống luận điểm cho khóa luận này, chúng tôi tập trung vào những công trình nghiên cứu và sáng tạo văn học chủ yếu của
Nguyễn Hiến Lê, tập trung ở bốn phần trong Tuyển tập văn học Nguyễn Hiến Lê
là Hương sắc trong vườn văn (1962), Đại cương văn học sử Trung Quốc (1955), Văn học Trung Quốc hiện đại (1969), Con đường thiên lý (1989).
Phạm vi nghiên cứu: Với đề tài này, chúng tôi tập trung tìm hiểu những quan niệm về nghiên cứu văn học, những tìm tòi, sáng tạo và những quan điểm của Nguyễn Hiến Lê trong lĩnh vực văn học thông qua các tác phẩm tiêu biểu Bên cạnh đó, để thấy được những đóng góp hết sức to lớn của ông, chúng tôi sẽ điểm qua những công trình nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực khác nhau, đồng thời đưa ra một vài so sánh với các nhà nghiên cứu, nhà văn khác để có cái nhìn khách quan, chính xác hơn
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện khóa luận này, với mục đích nghiên cứu, đối tượng và phạm
vi nghiên cứu như đã trình bày ở trên, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp thống kê, tổng hợp, so sánh, phân tích, hệ thống vấn đề Đồng thời, chúng tôi còn sử dụng các lý thuyết về nghiên cứu văn học
5 Bố cục khóa luận
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, khóa luận được chia làm 3 chương như sau:
Chương 1 Nguyễn Hiến Lê và nghiên cứu văn học
Chương 2 Khảo những công trình nghiên cứu và sáng tạo văn học của Nguyễn Hiến Lê
Chương 3 Đóng góp của Nguyễn Hiến Lê vào tiến trình hiện đại hóa văn học
Trang 5NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NGUYỄN HIẾN LÊ VÀ NGHIÊN CỨU VĂN HỌC
1.1 Nguyễn Hiến Lê – cuộc đời và sự nghiệp
1.1.1 Cuộc đời
Nguyễn Hiến Lê hiệu là Lộc Đình, sinh ngày mồng 8 tháng 1 năm 1912 tại Hà Nội (giấy khai sinh ghi ngày 8-4-1912), quê làng Phương Khê, phủ Quảng Oai, thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây, nay thuộc thành phố Hà Nội
Ông xuất thân trong một gia đình Nho học, bác ruột tham gia phong trào Duy tân ở trường Đông Kinh nghĩa thục bị thực dân truy nã, lánh vào Sài Gòn rồi ẩn cư ở Đồng Tháp Mười Từ đó, ông bác lập nghiệp luôn trong miền Tây Nam Bộ
Thuở nhỏ, Nguyễn Hiến Lê lần lượt học ở các trường tiểu học Yên Phụ, trường Bưởi, trường Cao đẳng Công chánh Hà Nội Năm 1934, ông tốt nghiệp
và được bổ làm việc tại các tỉnh miền Tây Nam Bộ Kể từ đó, ông làm việc và định cư luôn ở miền Nam cho đến ngày qua đời
Năm 1935, ông bắt đầu viết du ký, ký sự, tiểu luận, dịch thuật các tác phẩm văn chương Đến năm 1945, ông đã có đến hàng chục tác phẩm, nhưng một số tác phẩm đã thất lạc trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp Vì ông từng làm việc tại Sở Công chánh thuộc ngành Thủy lợi, thường đi thực địa ở các tỉnh Hậu Giang, Tiền Giang nên biết tường tận về đất đai và con người ở các địa phương thuộc khu vực này
Sau Cách mạng tháng Tám, rồi toàn quốc kháng chiến, ông bỏ đời sống công chức, tản cư về Đồng Tháp, Long Xuyên, và làm nghề dạy học Năm 1952, ông thôi dạy, lên Sài Gòn sinh sống bằng ngòi bút và chuyên tâm vào công việc sáng tạo và nghiên cứu văn hóa nghệ thuật
Trang 6Năm 1980, ông về sống ở Long Xuyên (nay thuộc tỉnh An Giang), đến ngày 22 tháng 12 năm 1984, ông bị bệnh và mất tại Sài Gòn, hưởng thọ 72 tuổi, thi hài được hỏa táng ở Thủ Đức Sự ra đi của ông để lại sự thương tiếc trong lòng nhiều người làm văn hóa và bạn đọc thân mến trong và ngoài nước.
1.1.2 Sự nghiệp
Nguyễn Hiến Lê là nhà văn, nhà văn hóa lớn Trong khoảng 45 năm cầm bút, ông có trên 120 tác phẩm, được viết dưới nhiều thể loại khác nhau Tác
phẩm đầu tay của ông là một cuốn du ký khoa học, có tên là Bảy ngày trong
Đồng Tháp Mười Tuy mỏng nhưng cuốn sách này đã được tác giả bỏ ra nhiều
công sức Nguyên sách được viết nhân một chuyến về Hà Nội thi lấy bằng kỹ sư
do đề nghị của chủ nhiệm kiêm chủ bút báo Thanh nghị, là ôngVũ Đình Hòe,
sách viết xong nhưng gửi ra Hà Nội không được (vì chiến tranh), bản thảo bị mất trong Đồng Tháp Mười Năm 1954, ông viết lại, đồng thời được xuất bản ngay trong năm đó và được tái bản nhiều lần Từ đó, mỗi năm ông có đôi ba tác phẩm ra mắt công chúng độc giả
Ngòi bút Nguyễn Hiến Lê đề cập đến nhiều lĩnh vực, mà ở lĩnh vực nào cũng có căn cứ khoa học, am tường cặn kẽ về các đối tượng, sâu sắc về các vấn
đề được nhắc tới và không thiếu tính nghệ thuật
Tác phẩm của ông bao gồm nhiều chủ đề như:
Văn học: Gồm một số tác phẩm đặc sắc và công phu như: Luyện văn (3 tập, 1953), Đại cương văn học sử Trung quốc (3 tập, 1955), Hương sắc trong
vườn văn (2 tập, 1962), Tô Đông Pha (1970)… giới thiệu được những tinh hoa
của văn học Trung Quốc cũng như nghệ thuật văn chương Việt Nam
Ngôn ngữ học: Để hiểu văn phạm (1952), Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam
(1963)… có nhiều phát kiến mới về ngôn ngữ học Việt Nam, đồng thời vận dụng được những tiến bộ mới nhất của ngữ học hiện đại vào ngữ pháp tiếng Việt
Triết học: Nho giáo một triết lý chính trị (1958), Đại cương triết học
Trung Quốc (2 tập, 1966), Một lương tâm nổi loạn (1970), Bertrand Russell
Trang 7(1971), Liệt Tử và Dương Tử (1972), Mạnh Tử (1973)… trình bày được một hệ
thống triết học cổ điển Trung Hoa, cùng những tấm gương lớn về chân dung các triết gia phương Tây hiện đại
Sử học: Gồm một số tác phẩm về lịch sử và văn minh sử thế giới như:
Đông Kinh nghĩa thục (1954), Lịch sử thế giới (4 cuốn, 1955), Bài học Israel
(1968), Chiến quốc sách (1968), Bán đảo Ả Rập (1969), Bí mật dầu lửa (1969),
Văn minh Ả Rập (1969), Sử ký Tư Mã Thiên (1970), Bài học của lịch sử (1972), Nguồn gốc văn minh (1974), Sử Trung Quốc (3 tập, 1982)… là những cái nhìn
xuyên suốt về lịch sử văn minh thế giới và lịch sử cận đại Việt Nam
Gương danh nhân: Gồm một số tác phẩm viết về Gương hy sinh (1962),
Gương kiên nhẫn (1964), Gương chiến đấu (1966), Những cuộc đời ngoại hạng
(1970), Einstein (1971), Ý chí sắt đá (1971), … là những bài học thiết thực cho
nhiều lớp người, nhất là thành phần thanh thiếu niên đang ở ngưỡng cửa cuộc đời
Giáo dục: Trình bày những quan điểm về giáo dục, về các lớp tuổi trong
đời sống gia đình Việt Nam Chủ đề này gồm: Thế hệ ngày mai (1953), Tự học
để thành công (1954), Sống 24 giờ (1956), Tự học một nhu cầu của thời đại
(1964), Tìm hiểu con chúng ta (1966), Làm con nên nhớ (1968), …
Tự luyện trí lực: Tác giả vừa dịch, vừa khảo cứu về các chuyên đề giáo
dục có tính xã hội như: Rèn nghị lực (1956), Tương lai trong tay ta (1962),
Luyện lý trí (1965), Ý cao tình đẹp (1967)… chủ đề này có trên 20 cuốn có giá
trị Trước 1975, số ấn bản có đến hàng vạn cuốn Hiện nay, các nhà xuất bản trong toàn quốc đang tiếp tục tái bản
Cảo luận: Là một số chuyên đề văn chương, văn hóa, văn nghệ như: Nghề viết
văn (1956), Vấn đề xây dựng văn hóa (1967), Con đường hòa bình (1971), Mười câu chuyện văn chương (1975), … là những đóng góp sáng giá của ông về văn
chương, đạo đức và cảm thụ học thuật, khiến cho độc giả yêu mến văn nghệ hơn
Dịch thuật: Nguyễn Hiến Lê có một khả năng dịch thuật rất sung mãn Từ khi bắt đầu cầm bút cho đến cuối đời, ông có hàng chục công trình dịch thuật
Trang 8sáng giá, nhất là các bộ tiểu thuyết lớn ở phương Tây như: Câu chuyện thương
tâm (1955), Kiếp người (1962), Cổ văn Trung Quốc (1966), Chiến tranh và hòa bình (4 tập, 1968), Chiếc cầu trên sông Drina (1972), Một mùa hè vắng bóng chim (1990), …và một số tác phẩm biên khảo viết bằng chữ Pháp, chữ Hán cổ
cận thế giới
Du ký: Gồm một số quyển ghi chép lại các lần đi thực địa ở các địa phương Loại này không phải thuần túy là các tác phẩm văn chương mà là những
đóng góp thiết thực cho khoa học tự nhiên, xã hội, văn học như: Đế Thiên Đế
Thích (1943), Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười (1954), cùng một số sách về
quản trị công nghiệp, kinh tế, giáo khoa Toán Bên cạnh đó, ông còn viết hơn 300 chuyên đề trên các tạp chí chuyên ngành (trong các tạp chí ở Sài Gòn trước 1975)
Tính đến năm 1975, ông đã xuất bản đúng 100 tác phẩm ở các thể loại vừa kể Từ năm 1975 cho đến khi qua đời, ông còn viết và dịch thuật được hơn
20 tác phẩm như: Kinh Dịch, đạo của Người quân tử (1992), Đời nghệ sĩ (1993),
Luận ngữ (1995), Mặc học (1995), Để tôi đọc lại (2001), …Nhất là bộ sử lớn về
lịch sử cổ đại đến hiện đại Trung Hoa có tên là Sử Trung Quốc (1982) Với một
bề dày lịch sử như nước Trung Hoa, hơn mấy ngàn năm đầy biến động, được ông tóm tắt lại trong khoảng 1000 trang in, quả là một công việc cực kì khó khăn Với sự nổ lực của mình, trong phạm vi 1000 trang in, bằng những tư liệu,
cứ liệu và chứng cứ khoa học, Nguyễn Hiến Lê không những trình bày cặn kẽ các sự kiện lịch sử Trung Quốc đi suốt cả không gian, thời gian mà còn đào sâu vào bề dày lịch sử của một trong không nhiều nền văn minh thuộc loại cổ nhất, lâu đời nhất của hành tinh chúng ta, đồng thời, khi xem xét nó trong mối quan
hệ qua lại với cộng đồng văn hóa của cả một khu vực rộng lớn mà từ lâu, Nho giáo, Phật giáo và Lão giáo làm nền tảng cho mọi hoạt động của con người và
xã hội Nhờ phương pháp xem xét mang tính khoa học và dựa trên mối quan hệ tương tác đó, nên công trình nghiên cứu của Nguyễn Hiến Lê mang nhiều ý nghĩa thực tiễn và được nhiều độc giả quan tâm
Trang 9Để viết công trình này, Nguyễn Hiến Lê đã dựa vào các tài liệu tương đối mới của các học giả phương Tây và Trung Quốc, ông đã chia lịch sử Trung Quốc làm 3 thời kì:
- Thời kì nguyên thủy và thời phong kiến phân quyền
- Thời quân chủ phong kiến tập quyền, từ nhà Hán đến Cách mạng Tân Hợi (1911)
- Thời dân chủ từ Cách mạng Tân Hợi đến nay
Cách phân chia của ông có phần khác với cách chia truyền thống của các nhà sử gia Đông Tây, vẫn chia lịch sử Trung Hoa theo các thời kì: thượng cổ, trung cổ, cận đại, hiện đại Việc phân chia của Nguyễn Hiến Lê đúng hay sai, thời gian sẽ phán xét, song cách làm này của ông thể hiện một suy nghĩ độc lập Điều đó rất có giá trị, gợi cho những ai muốn đi sâu nghiên cứu chuyên ngành liên quan đến việc phân chia lịch sử: Chẳng hạn việc phân chia lịch sử văn học của nhiều nước Á Đông
Ngoài bộ Sử Trung Quốc mang một giá trị khoa học nhất định, Nguyễn Hiến Lê còn có bộ văn học sử Văn học Trung Quốc hiện đại Đây là một công
trình biên soạn công phu về văn học Trung Quốc
Số lượng sách nghiên cứu, dịch thuật của Nguyễn Hiến Lê rất lớn, nhưng
riêng về tiểu thuyết, ông chỉ có duy nhất một cuốn mang tựa đề Con đường
thiên lý (Nxb Long An, 1989, Nxb Văn học, Hà Nội, tái bản, 2000).
Những năm trước 1975, tại Sài Gòn, ông là một trong vài người cầm bút được giới trí thức quý mến về tài học, nhân cách đối với xã hội cũng như trong học thuật Do thành quả lao động nghiêm cẩn của mình, ông được đa số công chúng độc giả trân trọng, kể cả học sinh, sinh viên Chính phủ Sài Gòn đã từng trao tặng ông (cùng với Giản Chi) Giải thưởng văn chương toàn quốc (1967), và giải thưởng Tuyên dương sự nghiệp văn hóa (1973), với danh hiệu cao quý đương thời, cùng một số ngân phiếu lớn tương đương mấy chục lượng vàng Ông đã công khai từ chối với lí do “dùng tiền ấy để giúp nạn nhân chiến tranh”
và bản thân tác giả không dự giải
Trang 10Hoạt động nghiên cứu và sáng tạo của Nguyễn Hiến Lê đã có những đóng góp to lớn cho học thuật Việt Nam vào thời hiện đại.
1.2 Nghiên cứu văn học và quan điểm của Nguyễn Hiến Lê về nghiên cứu văn học
1.2.1 Nghiên cứu văn học
Nghiên cứu văn học là một chuyên ngành khoa học xã hội và nhân văn
mà đối tượng nghiên cứu là nghệ thuật ngôn từ Ở thời điểm hiện tại, nghiên cứu văn học là tên gọi chung cho nhiều bộ môn nghiên cứu tương đối độc lập, tiếp cận cùng một đối tượng nghiên cứu (văn học) ở những góc độ khác nhau
Theo truyền thống, nghiên cứu văn học gồm 3 bộ môn chính:
Lý luận văn học: Nghiên cứu những quy luật chung của cấu trúc và sự phát triển văn học
Lịch sử văn học (văn học sử): Thiên về việc nghiên cứu văn học quá khứ, khảo sát nó như một quá trình, hoặc khảo sát một trong số các thời điểm của quá trình ấy
Phê bình văn học: Chú ý đến trạng thái “hiện tại”, “hôm nay” của văn học cùng thời, nó cũng chú ý lý giải văn học quá khứ từ quan điểm những vấn đề xã hội và nghệ thuật hiện thời Phê bình văn học không nhất thiết thuộc về nghiên cứu văn học như một khoa học mà nó còn là một nghệ thuật
Ngoài ra, sau các bộ môn khái quát chung nói trên, người ta chú ý tới sự nảy sinh của những bộ môn lý thuyết và lịch sử có đối tượng hẹp hơn Ví dụ: lý thuyết phê bình văn học, lịch sử phê bình văn học, lịch sử thi học (khác với thi học lịch sử)…Cần chú ý có sự chuyển đổi các bộ môn này sang các bộ môn kia
Ví dụ: phê bình văn văn học với thời gian sẽ trở thành tài liệu cho văn học sử, cho thi học lịch sử
Những bộ môn bổ trợ cho nghiên cứu văn học như: lưu trữ học của nghiên cứu văn học, thư mục học về sáng tác và nghiên cứu văn học, văn bản học, cổ văn tự học, khảo thích và bình chú văn bản…Giữa thế kỷ XX, có sự gia tăng vai
Trang 11trò của các phương pháp toán học (nhất là thống kê) trong nghiên cứu văn học, nhất là các lĩnh vực nghiên cứu câu thơ, phong cách học, văn bản học…trên hướng này đã xuất hiện kí hiệu học Các bộ môn bổ trợ là cơ sở thiết yếu cho các bộ môn chính, đồng thời, trong quá trình phát triển và phức tạp hóa, ở chúng
có thể lộ rõ những nhiệm vụ khoa học và chức năng văn hóa độc lập
Nghiên cứu văn học có sự liên hệ đa dạng với các khoa học nhân văn khác Một số ngành là cơ sở phương pháp luận của nó như: triết học, mỹ học, giải thích học Một số ngành gần với nó về nhiệm vụ hoặc đối tượng nghiên cứu Một số ngành chung xu hướng nhân văn như: sử học, tâm lý học, xã hội học
Riêng đối với ngữ học, nghiên cứu văn học có sự liên hệ về nhiều mặt, cùng chung tài liệu nghiên cứu, ngôn ngữ với tư cách phương tiện giao tiếp và với tư cách “yếu tố thứ nhất” của văn học, gần gũi nhau về chức năng nhận thức của ngôn ngữ và hình tượng, ngoài ra, còn có sự tương đồng nhất định về cấu trúc Trước đây, nghiên cứu văn học và các ngành nhân văn học khác được gộp vào khái niệm ngữ văn học như một khoa học tổng hợp, nghiên cứu văn hóa tinh thần trong các dạng biểu hiện ngôn ngữ, văn tự, văn học Ở thế kỷ XX, khái niệm ngữ văn học thường chỉ chung hai ngành nghiên cứu văn học và ngữ học, theo nghĩa hẹp, thường chỉ các bộ môn văn bản học và phê bình văn bản
Những mầm mống của các tri thức nghệ thuật học và nghiên cứu văn học
có từ xa xưa, dưới dạng một số ý niệm trong thần thoại cổ đại Những nhận xét đầu tiên về nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng, có thể kể đến trong kinh
và Odysses (cổ Hy Lạp, thế kỷ 8-7 TCN) Ở Trung Quốc, trước tác xưa nhất về
nghệ thuật là Nhạc ký, tương truyền của Công Tôn Ni Tử nhưng nhiều tư tưởng
về nghệ thuật và văn học trước đó đã được nêu bởi Khổng Tử, Lão Tử
Ở châu Âu, các quan niệm đầu tiên về nghệ thuật và văn học được đề xướng bởi các nhà tư tưởng cổ Hy Lạp (Platon, Aristote), cổ La Mã (Horatius)
Trang 12Khâu nối giữa nghiên cứu văn học của thời cổ đại Hy - La và thời cận đại châu
Âu có thể kể đến nền văn học Byzance và văn học Latinh của các dân tộc Tây
Âu Nghiên cứu văn học thời trung đại, thiên về hướng thi tịch học và bình chú, đồng thời, cũng phát triển về việc nghiên cứu các lĩnh vực thi học, văn hùng biện, âm luật Trong thời phục hưng, nghiên cứu văn học đi theo hướng xây dựng những hệ thi pháp đáp ứng các điều kiện địa phương và dân tộc khác nhau Thời đại của chủ nghĩa cổ điển châu Âu, nghiên cứu văn học gắn với xu hướng
hệ thống hóa các luật lệ của nghệ thuật, đồng thời gắn với tính chất quy phạm
của lý luận nghệ thuật, đặc biệt, với cuốn Nghệ thuật thi ca (1674) của Boileau
Thế kỷ 17-18 nổi lên các xu hướng chống quy phạm trong cách hiểu các loại hình và loại thể văn học, sự trỗi dậy của chủ nghĩa lãng mạn mà tiêu biểu là
cuốn lý luận Kịch lý Hamburg (1768-1769) của Lessing Thế kỷ XIX, quan
điểm lịch sử xuất hiện đối kháng với xu hướng quy phạm, tạo nên một thời kỳ
xây dựng những cuốn văn học sử như: Lịch sử văn học Italia (1772-1782) của J Tiraboski, Văn học cổ đại và cận đại (1799-1805) của J Lagarp.
Từ nửa đầu thế kỷ XIX trở đi, trong nghiên cứu văn học châu Âu bắt đầu hình thành các trào lưu, trường phái, với ý thức về phương pháp luận và tư tưởng nghiên cứu Đáng chú ý là các trường phái thần thoại với anh em J Grimm (Đức), phương pháp tiểu sử với Sainte-Beuve (Pháp), trường phái văn hóa lịch sử với H Taine (Pháp), khuynh hướng xã hội dân chủ trong bình luận văn học với Belinski, Tchernyshevski, Dobroliubov (Nga), trường phái tâm
lý với W Wundt, văn học so sánh với F Baldensperger, Van Tieghem
Sang thế kỷ XX, những trường phái nghiên cứu, phê bình văn học mới nở
rộ, với sự xuất hiện của trường phái hình thức Nga, phân tâm học, chủ nghĩa cấu trúc và hậu cấu trúc, phê bình mới, xã hội học văn học, ký hiệu học, chủ nghĩa duy ý chí, trường phái văn hóa - lịch sử với chủ nghĩa thực chứng A Comte, lý luận nghệ thuật H Tainer, thuyết chuyển cảm, chủ nghĩa biểu hiện, chủ nghĩa
Trang 13trực giác, chủ nghĩa hiện sinh, hiện tượng luận, phân tâm học, tâm phân học, mỹ học phân tích, chủ nghĩa thực dụng, giải thích học, mỹ học tiếp nhận, chủ nghĩa hình thức, ngữ nghĩa học, chủ nghĩa hậu hiện đại
Ở phương Đông, tư tưởng văn học hình thành với những hệ thống riêng
Ở Ấn Độ, vấn đề cấu trúc nghệ thuật được nêu lên trong mối liên hệ với các học
thuyết về tâm lý cảm thụ nghệ thuật, với luận văn Natiashastra tương truyền
của Bharata vào khoảng thế kỷ IX Ý nghĩa hàm ẩn của tác phẩm nghệ thuật
cũng được đề cập tới trong Thuyết đồng vọng của Anandavardhana, thế kỷ thứ
IX Tư tưởng văn học, mỹ học cổ đại và trung đại Trung Hoa hình thành trong
sự liên hệ mật thiết với các chủ thuyết lớn về triết học (Nho giáo, tư tưởng Lão – Trang, Phật giáo), dưới dạng một loạt khái niệm như: đạo, đức, phong, khí, văn, thi, phú, tỷ, hứng, tụng
Xu hướng chung nhất của nghiên cứu văn học các nước phương Đông, từ thời cận đại trở về trước, là sử dụng các phương pháp lý thuyết đại cương và mỹ học đại cương Bên cạnh đó, có một số ngành như: thư tịch học, văn bản học cũng sớm phát triển, trở thành các bộ môn hỗ trợ Các xu hướng nghiên cứu văn học, dựa trên bình diện lịch sử và bình diện tiến hóa, chỉ mới xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khi có sự tiếp nhận và ảnh hưởng của học thuật châu Âu
1.2.2 Quan niệm và hành trình nghiên cứu văn học của Nguyễn Hiến Lê
Nguyễn Hiến Lê đến với nghiệp văn chương như một sự ngẫu nhiên, nhưng dường như nó cũng bén duyên với ông từ nhỏ Sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống Nho học, ông được cha dạy chữ Hán ngay từ nhỏ Khi cha mất, mẹ ông muốn ông về quê bác ở Phương Khê học thêm chữ Hán để đọc được gia phả bên nội, bên ngoại Ông học được hai vụ hè năm 1928, 1929, gộp lại được 4 tháng Năm 1930, ông về chưa học được gì thì bà ngoại ông mất nên không thể tiếp tục học Năm 1931, ông thi vào trường Cao đẳng Công chánh nên chỉ về chơi Năm 1933, bác của ông mất Trong khoảng thời gian này, ông
Trang 14học được độ bốn ngàn chữ và thu được khá nhiều lợi ích về tinh thần Ông cho rằng : “Mẹ tôi có một quyết định khiến đời tôi sau này theo một hướng mà chính người và bác tôi không ai ngờ được Ngày nay càng nghĩ lại, tôi càng thấy công lớn của người và không hiểu đã có cái gì khiến người nảy ra quyết định đó”
[7,tr.16].
Năm 1934, học xong ở trường Cao đẳng Công chánh, lúc đó đang buổi kinh tế khó khăn, ông chưa có việc, phải ở nhà chờ Trong khoảng thời gian rãnh rỗi này, ông tự học lại Hán văn Khoảng 5 tháng sau, ông được bổ vào làm việc ở Sở Thủy lợi Nam Bộ Công việc của ông là đo mực đất cao thấp ở miền Tây từ Châu Đốc, Long Xuyên qua Rạch Giá, xuống Sa Đéc, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau; từ mực đất đó mà đo xuống mực nước sông rạch để tính ra đường nước chảy khi thảo kế hoạch thủy lợi Do điều kiện công việc nên ông được đi nhiều nơi, trong 2 năm 1935, 1936, ông biết gần hết các địa danh ở miền Tây Thời gian cũng khá rãnh rỗi nên ông tận dụng đọc được khá nhiều sách Đi nhiều nơi nên ông thường viết nhật ký hay du ký Mục đích của ông là viết để vơi đi nỗi buồn, nên chép xong ông không đọc lại, và cũng không giữ Năm 1938, ông về Sài Gòn làm việc, mỗi ngày, ông rãnh cả buổi tối và mỗi tuần ông rãnh một ngày, là người không thích sự ồn ào, náo nhiệt, không có khiếu
âm nhạc, không thích đánh cờ…nên ông chuyên tâm vào đọc sách và học thêm.
Ông cho rằng, muốn học ngoại ngữ thì phải dịch Khi cần mẫn dịch sách, chúng ta sẽ học được rất nhiều, những chữ nào chưa biết thì phải tra nhiều từ điển để tìm được một nghĩa thích hợp Vì vậy, nó rất có lợi cho việc học
Khi chiến tranh xảy ra, ông tản cư về Tân Thạch khoảng một năm rưỡi, từ
mùa đông năm 1945 đến mùa xuân năm 1947, khoảng thời gian này, ông chuyên tâm học Đông Y Năm 1947, ông về Long Xuyên tự học và dạy học ở trường Trung học Thoại Ngọc Hầu Do tình hình chiến tranh, những thanh niên
từ 18 tuổi phải nhập ngũ, phụ huynh lo lắng, học sinh chán nản, lớp học không
có kỉ luật nên ông thôi dạy Trong khoảng thời gian từ 1949 – 1953, ông làm
Trang 15việc tích cực và xuất bản được chín cuốn sách Như vậy, dù không xác định nghiệp văn chương ngay từ đầu, nhưng là từ một quá trình có chuẩn bị, từ một hành trang thích hợp, vốn sống, sự từng trãi và những nổ lực đã giúp ông có một vị trí vững chắc trong làng văn và được nhiều bạn đọc mến mộ.
Suốt cuộc đời sáng tạo, Nguyễn Hiến Lê luôn đem đến cho người đọc những công trình nghiên cứu bổ ích Nội dung chính trong những công trình của
ông nghiêng về cách học làm người, cách để học tốt, những vấn đề cấp thiết về
gia đình hay xã hội đều được ông đặc biệt quan tâm.
Mỗi nhà văn, khi sáng tác đều có một bút pháp riêng, không ai giống ai
Và theo Nguyễn Hiến Lê: “Chính cá tính quyết định bút pháp Mà cá tính thì do bẩm sinh, và tùy thể chất một phần lớn, một phần nữa chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh, của sự tu luyện Cho nên, tôi có thể nói rằng, bút pháp của ta đã định trước
từ khi ta chưa tập viết, chưa biết viết: nó là vóc người, là dáng đi, là nhịp điệu của hơi thở, là sự tuần hoàn trong huyết quản, là sự tác động của các hạch nội tiết Tất nhiên, càng sống thì tư tưởng có thể càng tiến, kỹ thuật có thể càng già, nhân sinh quan có thể thay đổi, nhưng giọng văn, lối viết thì không thay đổi
mấy, vẫn nhận ra được” [7,tr.156].
Đứng về phương diện khoa học, không có cá tính nào xấu, mà đứng về phương diện nghệ thuật, không có bút pháp nào là bản nhiên dở Ủy mị có vẻ đẹp của nó, hùng hồn có sức lôi cuốn của nó, đẽo gọt là một nghệ thuật mà tự nhiên cũng là một nghệ thuật Nên Nguyễn Hiến Lê cho rằng: “Ta nên can đảm
nhận cá tính của ta, dùng bút pháp nó đã lựa, định cho ta, đừng ngại sẽ không bằng nhà này nhà khác, cần nhất phải dám là ta, phải thành thực với ta đã Có thành thực mới cảm được người Có thành thực mới đáng cầm cây viết” [7,tr.157] Theo ông, thành thực có hai nghĩa Thứ nhất: không cảm xúc thì đừng viết, thứ hai: khi viết phải quên hết các danh sĩ cổ kim, quên hết mọi kỹ thuật
làm văn mà chỉ theo cá tính của mình.
Trang 16Có những người khi mới tập viết rất hay mắt tật khoa trương, muốn phô diễn cho mọi người thấy được khả năng của mình Hồi trẻ, ông cũng hay mắt tật này nhưng dần dần, tuổi càng lớn, ông càng trọng sự bình dị hơn Ông cho rằng: “Sự bình dị là điều khó đạt nhất trong văn chương Muốn đạt được bình
dị thì phải tiêu hóa nổi tư tưởng và óc cũng phải già giặn: khi chúng ta về già,
tư tưởng của chúng ta sáng sủa hơn, ta bỏ qua một bên những phương tiện không quan trọng mà có lẽ sai lầm của vấn đề, không băn khoăn về nó nữa, ý tưởng của ta hình thành một cách rõ ràng hơn và những chuỗi tư tưởng dần dần
tự hiện lên thành những lời văn gọn gàng, giản dị Ta không thấy phải cố gắng sức nữa mà sự thực hóa ra sáng sủa và do đó hóa ra bình dị Theo tôi, văn bình
dị khó nhất ở điểm phải có ý cao, tình đẹp, nếu không thì hóa ra nhạt nhẽo, vô vị” [7,tr.159].
Nhiều người khi cầm bút chỉ nghĩ đến cái lợi của bản thân mình, họ viết theo nhu cầu, chạy theo thị hiếu, phong trào Riêng Nguyễn Hiến Lê, ông chỉ
viết những vấn đề mình thích, khi đó, ông mới dành hết tâm huyết cho nó được
Ông nói: “Tôi biết có những đề tài viết ra, bán sẽ rất chạy, nhưng tôi nhất định không viết, vì tôi không thích (chẳng hạn đời của hạng người như Thành Cát Tư Hãn, Hitler), hoặc vì tôi thấy có hại cho độc giả (như tư tưởng của nhóm Hiện sinh ở châu Âu mà tôi cho rằng không phù hợp với dân tộc mình, xã hội mình lúc này) Trái lại, có những vấn đề tôi biết là rất ít người đọc, nhưng thấy có lợi cho kiến thức của độc giả thì tôi cũng viết như cuốn Một niềm tin” [7,tr.162] Như vậy, ta có thể thấy rằng, ông viết sách với mục đích chính là tự học và giúp độc giả tự học Ông nghĩ đến cái lợi của độc giả trước hết.
Theo Nguyễn Hiến Lê, để được gọi là nghệ sĩ, văn thơ ta không nhất thiết
phải hùng hồn, phải cao cả, phải trình bày được những vấn đề cấp thiết, to lớn của dân tộc Mà đôi khi, chỉ cần “Ghi được một vẻ đẹp của thiên nhiên, của tâm hồn, tả được một nỗi sầu của con người khiến cho đời sau cảm động, bấy nhiêu cũng đủ mang danh nghệ sĩ rồi” [7,tr.330] Ông còn cho rằng: “Văn thơ phải
Trang 17tự nhiên, cảm động, có tư tưởng thì mới hay Ở Trung Hoa, thơ Lý Bạch, văn Tô Đông Pha hay nhất Ở nước ta, thơ Nguyễn Du tự nhiên, bình dị mà bài nào cũng có giọng buồn man mác” [7,tr.330].
Không chỉ chú trọng sáng tác văn chương, Nguyễn Hiến Lê còn có một niềm đam mê về lịch sử Có những nhà chép sử, luôn dựa trên ý kiến khách quan của bản thân để nhìn nhận vấn đề, những gì có lợi cho ta thì trình bày, còn không thường bỏ qua Nhiều người thì chỉ trình bày lại những gì đã xảy ra một cách khô khan, cứng nhắc Vì động chạm đến quá khứ của dân tộc nên có người không muốn đưa ra những nhận định, đánh giá khách quan Về vấn đề này, Nguyễn Hiến Lê đưa ra nhận định: “Chép sử thì không ai có thể hoàn toàn khách quan được, chỉ có thể thành thực được thôi Chỉ ghi lại những việc xảy ra,
không tìm hiểu nguyên nhân, không khen, không chê, thì theo tôi, không phải là
viết sử Có những giá trị tinh thần mà chúng ta phải tôn trọng, phải bênh vực, trái lại thì phải chê Có như vậy mới là thành thực với người đọc và với chính mình” [7,tr.232].
Ông cho rằng, người làm nghiên cứu văn học, “Điều quan trọng là phải
có một hướng rõ rệt, một mục đích để nhắm và tập trung tất cả năng lực, thì giờ vào công trình của mình” [7,tr.137] Không nên để phí thời gian, chỉ có như vậy mới mang lại hiệu quả cao Bên cạnh đó, “Sau khi đọc và ghi chú tất cả các tài liệu kiếm được về một vấn đề, ta nên bỏ một khoảng thời gian để lập bố cục
sơ qua cho tác phẩm” [7,tr.151] Điều này sẽ có lợi cho ta trong quá trình viết rất nhiều.
Là một người đa tài, không chỉ viết văn, chép sử, Nguyễn Hiến Lê còn
dịch khá nhiều sách Theo ông: “Dịch, phải dịch sát, xuôi và sáng sủa Dịch
sách văn học chẳng những phải sát ý mà còn phải giữ cả thể văn, có khi cả phép hành văn của tác giả nữa Dịch tiểu thuyết phương Tây thì nên chọn một tác phẩm hay và bút pháp của tác giả không trái với bút pháp của người dịch” [7,tr.168].
Trang 18Thái độ của Nguyễn Hiến Lê đối với chính quyền rất rõ ràng, ông không tin theo, cũng không báng bổ Khi bàn về vấn đề này, ông cho hay: “Tôi nghĩ rằng, cái thú nhất của người cầm bút là được độc lập và cái vinh dự lớn nhất của
họ là giúp được chút ít gì cho quốc dân Muốn giữ được độc lập và giúp được quốc dân thì nên ở ngoài chính quyền, đứng ở cương vị đối lập với chính quyền Đối lập không nhất định là chỉ trích, lại càng không có nghĩa là đả đảo Đối lập
là một cách kiểm soát, hợp tác hữu hiệu nhất và nghiêm chỉnh nhất Ta không lệ thuộc chính quyền thì mới dám nói thẳng với chính quyền và chính quyền mới chú ý tới lời nói của ta Chúng ta còn phải tiếp tục tranh đấu cho được tự do ngôn luận Muốn thành công, một mặt, chúng ta phải coi chừng những kẻ muốn bịt miệng chúng ta, mặt khác, phải có thái độ đứng đắn Chính quyền có điều đáng khen thì ta khen, chứ không nịnh; chính quyền lầm lẫn thì chúng ta thẳng thắn nhận định với những lý lẽ vô tư và vững vàng, những lời nhã nhặn và minh bạch Chúng ta vì quốc gia mà xây dựng Tất nhiên có những lúc ta phải tỏ nỗi bất bình - chẳng phải của riêng ta mà của quốc dân - chẳng hạn với những kẻ bán nước, hút máu mủ của dân; lúc đó giọng ta có thể gay gắt nhưng lòng ta không có chút căm thù cá nhân Chúng ta đả một thái độ, một chính sách, chứ không đả một cá nhân "[8,tr.167-168]
Trên đây là những quan niệm về nghiên cứu văn học và nghề cầm bút của
Nguyễn Hiến Lê Nó xuyên suốt quá trình sáng tác, nghiên cứu cũng như những
lí luận của ông Từ những quan niệm đó, kết hợp với việc tiếp thu có chọn lọc những quan niệm của các nhà văn thế hệ trước cũng như các nhà văn phương Tây, Nguyễn Hiến Lê đã tạo cho mình một phong cách riêng, không nhòa lẫn với bất kì ai và để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả cũng như trong giới văn chương.
Trang 19CHƯƠNG 2 KHẢO NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ SÁNG TẠO
VĂN HỌC CỦA NGUYỄN HIẾN LÊ
Như đã nói, Nguyễn Hiến Lê là một học giả, tác giả của hơn 120 cuốn sách nghiên cứu, sáng tác, dịch thuật về nhiều lĩnh vực khác nhau, có thể nói là
bộ óc đồ sộ nhất trong giới cầm bút ở miền Nam trước đây Trong phạm vi giới hạn của đề tài, chúng tôi chỉ tập trung khảo sát một lĩnh vực nhỏ trong di sản đồ
sộ của ông, đó là lĩnh vực nghiên cứu và sáng tạo văn học, mà chủ yếu là lý thuyết văn chương, văn học sử và tiểu thuyết
2.1 Hương sắc trong vườn văn
Hương sắc trong vườn văn là một trong ba tác phẩm văn học mà Nguyễn
Hiến Lê thích nhất Ông cho hay: “Tôi nảy ra ý viết bộ đó nhờ năm 1947 hay
1948, đọc cuốn Cours de tech-nique litteraire của một trường hàm thụ (tôi quên
tên) ở Paris Cuốn đó chỉ thuật viết báo, tiểu thuyết, kịch, phê bình văn học, cả thư từ, quảng cáo nữa Những thuật đó không có gì mới mẻ, đại khái tôi biết qua rồi, mà tôi cũng không có ý định sáng tác trong những ngành kể trên, nhưng soạn giả khéo dẫn nhiều thí dụ lí thú, và năm 1956 tôi dùng một số thí dụ đó với nhiều thí dụ khác tôi kiếm được trong văn học Trung Quốc và Việt Nam, để viết
Hương sắc trong vườn văn” [7,tr.217-218] Đây là tác phẩm có ý nghĩ lý luận
và phê bình, nhằm phân tích cái Đẹp và kỹ thuật tạo cái Đẹp trong văn chương, giúp những độc giả yêu văn trong những bước đầu tìm hiểu nghệ thuật
2.1.1 Quan niệm về cái đẹp
Nguyễn Hiến Lê nhận thức rằng, loài người sống để tìm cái Đẹp, thực hiện cái Đẹp và hưởng cái Đẹp Không một ai thoát khỏi quy luật chung đó Cả những người sống rất giản dị, không chút xa hoa như các vị hiền triết, cũng là để hưởng cái Đẹp, cái Đẹp của trăng, mây, hoa, cỏ, cái đẹp của tĩnh mịch, an nhàn
Trang 20Trước khi phân tích cái đẹp, Nguyễn Hiến Lê trình bày sự thay đổi trong quan niệm về cái đẹp Theo ông, người viết văn cần có óc thẩm mỹ Óc thẩm mỹ thuộc về tình cảm hơn lý trí, nên những quy tắc về nghệ thuật viết không bao giờ
có cái giá trị tuyệt đối như những định lý về toán học, mà quan niệm về cái đẹp thay đổi tùy thuộc vào nhiều yếu tố “Nó thay đổi tùy từng dân tộc Văn chương biểu hiện tình cảm cùng tư tưởng của loài người mà tình cảm cùng tư tưởng của mỗi dân tộc chịu bao ảnh hưởng, từ huyết thống đến thời tiết, địa chất, kinh tế…cho nên, mỗi dân tộc có một quan niệm riêng về cái đẹp” [15,tr.15] Trước khi tiếp xúc với văn minh Âu Mỹ, óc thẩm mỹ của người phương Đông chúng ta khác hẳn của người phương Tây Người Trung Hoa, nói chung là hết thảy những dân tộc từ trong truyền thống lịch sử từng chịu ảnh hưởng văn minh Trung Hoa như Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản…cho rằng, nghệ thuật chân chính phải có tính cách bóng bẩy, hàm súc, ý tại ngôn ngoại, cho nên, danh tác của họ thường là những tiểu phẩm, những bài tứ tuyệt mà mỗi chữ có giá trị “ngàn vàng” Trái lại, văn thơ Âu Mỹ lời ý dồi dào, chi tiết tỉ mĩ, màu sắc rực rỡ, tình cảm nồng nhiệt
Cùng một dân tộc, óc thẩm mỹ lại thay đổi tùy từng thời đại, vì sinh hoạt của con người thay đổi thì tình cảm tư tưởng thay đổi theo mà, quan niệm về cái đẹp tất phải khác “Hồi xưa, ta chịu ảnh hưởng của Trung Hoa, óc thẩm mỹ của
ta được nhồi nặn theo quan điểm của Trung Hoa, ngày nay, ta học theo Âu Mỹ thì ta lại chuộng cái đẹp của Âu Mỹ” [15,tr.18] Không những vậy, cùng ở trong một thời đại chịu ảnh hưởng của Trung Hoa, mà văn thơ đời Trần có cái giọng khác hẳn với văn thơ đời Lê và Nguyễn: “Thời Trần thì thanh thoát, cao nhã, khoáng đạt, còn hai đời sau thì rực rỡ, ủy mị, oán sầu” [15,tr.18-19]
Cùng một thời đại, óc thẩm mỹ cũng thay đổi theo từng người Tính tình,
tư tưởng của nhà văn chịu ảnh hưởng ít nhiều của gia thế, của nền giáo dục, của khí hậu, nơi ở… “Nguyễn Tuân, Nguyễn Triệu Luật sinh trưởng trong một gia đình Nho học nên hiểu được và thích cái đẹp của thời cổ hơn Nguyên Hồng, Tô Hoài sống trong một gia đình cần lao không có cựu học…” [15,tr.23]
Trang 21Quan niệm đó, ở mỗi người cũng có sự thay đổi, tùy từng trình độ học vấn
và sự từng trãi Nghệ sĩ có từng trãi thì văn mới “già” Độc giả cũng vậy, có từng trãi mới hiểu được văn Cho nên, quan niệm về cái đẹp thay đổi tùy tuổi tác, đời sống của ta “Văn chương là đời sống ghi trên giấy Và dù thông minh bậc nào, cũng phải có sống mới hiểu được đời, mới hiểu được văn Không lịch lãm nhiều thì làm sao có thể tưởng tượng được những cảnh tả trong sách mà thấy nó hay? Không đau khổ nhiều thì làm sao thấu rõ được những tình tiết kể trong truyện mà thấy nó khéo?” [15,tr.24]
La Bruyere từng nói: “Có óc thẩm mỹ đúng mà cũng có óc thẩm mỹ sai”
Óc thẩm mỹ có lúc là sai, vì nó là một tình cảm, hơn vậy, nó còn là một say mê,
mà đã là say mê thì thường thiên lệch, võ đoán, cố chấp, ganh tị, tuy nhiệt liệt song dễ tắt, nếu không được lí trí bồi dưỡng Tuy nhiên, óc thẩm mỹ có lúc là đúng đắn vì nó có một phần lí trí và mặc dù quan niệm về cái đẹp thay đổi tùy nhiều yếu tố như vậy, nó vẫn có ít nhiều điểm nào đó bất biến, nghĩa là phần đông được những người sành văn mọi thời công nhận
Theo Nguyễn Hiến Lê, linh động, lý tưởng hóa và tượng trưng là ba điều kiện chính của cái đẹp Cái đẹp rất phong phú, đa dạng, ta có thể hiểu nó theo nhiều cách khác nhau “Văn viết có nghệ thuật, làm cho ta thích thú tức thị là đẹp” [15,tr.32] “Có cái đẹp rực rỡ như cánh bướm, có cái đẹp thanh nhã như bông mai, mềm mại như cành liễu cũng đẹp mà cứng cõi như cây tùng cũng đẹp,
có lúc lơ thơ mà đẹp, có lúc rườm rà mà đẹp, có cái đẹp chạm trỗ tinh vi, có cái đẹp hồn nhiên phóng dật” [15,tr.32]
Như vậy, quan niệm về cái đẹp phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau Tùy từng dân tộc, từng thời đại, từng cá nhân Bên cạnh đó, nó còn tùy thuộc vào hoàn cảnh, tâm trạng, cảm xúc Đẹp không nhất thiết phải là cái gì to lớn, hùng tráng, mà có lúc chỉ cần sự nhẹ nhàng, bình dị cũng đủ gọi là đẹp
Trang 222.1.2 Phân tích cái đẹp và kỹ thuật tạo cái đẹp
Ngoài ý nghĩa lý luận, Hương sắc trong vườn văn còn được xem là tác
phẩm phê bình văn học sâu sắc Qua đó, tác giả đưa ra những nhận định, phân tích, đánh giá của mình về các phương diện của cái đẹp Đồng thời, trình bày những kỹ thuật để tạo cái đẹp trong văn chương
Nguyễn Hiến Lê xem hùng tráng là một vế của cái đẹp Nó là một hình thức rất cao của cái đẹp, vì nó cho ta những cảm xúc mãnh liệt nhất Muốn cho văn hùng tráng thì cảnh hoặc tình phải hùng tráng Hùng tráng có khi là “Một mặt biển mênh mông sóng cao như núi, những tiếng sét vang động trong rừng thẳm giữa đêm khuya, một sa mạc bát ngát cát tung mịt trời, rồi những anh hùng một mình chống lại muôn kẻ, những tấm gương hi sinh vì chính nghĩa…” [15,tr.33] Có khi không cần một hành động, chỉ cần một lời nói cũng gây cảm tưởng hùng tráng Trần Bình Trọng trả lời quân Tàu: “Ta thà làm ma nước Nam, không chịu làm vua đất Bắc” Muốn cho văn hùng thì ngoài sự sôi nổi, dồn dập còn phải chứa nhiều hình ảnh rùng rợn, kì dị Điều cốt yếu là hình ảnh đó phải thật tự nhiên “Đừng cố tìm mà phải để cho nó tới Tất nhiên là ta phải tưởng tượng nhưng cảm xúc mạnh rồi mới tưởng tượng Không cảm xúc mạnh mà cố nặn óc ra để có giọng hùng thì văn sẽ giả tạo, nhạt nhẽo” [15,tr.54]
Điều thứ hai để tạo sự hùng tráng là phải bỏ những chi tiết nhàm, để óc độc giả không lúc nào không bị kích thích mạnh Điều thứ ba, văn hùng tráng tối kị những cái lố bịch “Một nhân vật của Lê Văn Trương vì ghét cái “thằng người” của mình đê hèn mà đưa hai tay lên vả đồm độp vào mặt mình Ông muốn nhân vật đó có những cử chỉ hùng, nhưng chỉ làm cho ta ôm vụng cười” [15,tr.56]
“Ý tưởng và cảm giác cực mạnh thì giọng văn sẽ hùng mà người đọc có cảm tưởng đương đi trên đất bằng, được đưa lên một ngọn núi cao Nếu ý tưởng
và cảm xúc dồi dào, nối tiếp nhau như những đợt sóng, cứ đợt này vừa hạ, đợt sau đã nổi, làm cho độc giả sau mỗi đợt cứ tưởng là hết mà lại chưa hết, thì văn
có tính cách ba lan là hai tiếng gốc Hán để chỉ những sóng nhỏ và to, nhà Nho
Trang 23ngày xưa rất thường dùng” [15,tr.62] Muốn cho văn ba lan, ý tưởng và cảm xúc phải dồi dào, liên tiếp nhau một cách tự nhiên và đột ngột Văn đột ngột là khi nào đọc xong một đoạn, ta tưởng bài đã đủ nghĩa, không còn gì thêm nữa nhưng đọc nối ta thấy một ý khác bất ngờ nó làm cho văn lại tiếp tục được Vậy, ý phải đột ngột Nhưng đột ngột không phải là mất liên kết, mà giữa chúng phải có sự móc nối với nhau.
Muốn tả một cái gì hùng vĩ, ta phải cảm xúc mạnh rồi diễn hết cảm xúc của ta, không được thừa cũng không được thiếu, nếu thừa văn sẽ rườm rà, ý sẽ loãng, mà thiếu thì lời không kịp ý, văn sẽ vụng Vì vậy, muốn văn hay thì lời phải tế nhị và hàm súc Nếu muốn diễn một tình cảm hoặc tư tưởng tế nhị, ta không cần mà có khi không nên phô bày hết ý nghĩ, chỉ nói một phần thôi, hoặc nói một cách phơn phớt, kín đáo để độc giả suy nghĩ thêm, tưởng tượng thêm Như vậy, cảm xúc của độc giả sẽ không mạnh như đọc một đoạn văn hùng tráng nhưng thay vào đó là sự thấm thía, lâu bền hơn
Văn thơ phương Đông thường đơn sơ và kín đáo, ý tại ngôn ngoại “Đơn
sơ là một vẻ của tế nhị, kín đáo là một vẻ khác Thuật đơn sơ hợp với thuật tả cảnh hơn là tả tình, thuật kín đáo hợp với tả tình hơn tả cảnh, cả hai đều có công dụng làm cho văn hàm súc, nghĩa là lời ít mà ý nhiều” [15,tr.89]
Theo Nguyễn Hiến Lê, nhà văn cần có ba tài năng: lý trí sáng suốt, tưởng tượng dồi dào và cảm xúc mẫn nhuệ Lý trí giúp ta hiểu biết sự vật, có hiểu rồi mới cảm xúc được và muốn cho cảm xúc mạnh mẽ hơn hoặc tế nhị hơn, ta phải biết tưởng tượng Vậy, lý trí hay tưởng tượng đều là để gợi cảm xúc Nếu ý ít mà cố kéo cho dài thì mắc tật rườm rà và nhạt Còn nếu sự vật hoặc cảm xúc tầm thường mà
ta cố phóng đại cho nó có vẻ cao quý thì văn thiếu thành thực, mắc tật kiểu cách Vì vậy, văn chương phải tự nhiên, phải theo mạch cảm xúc của người viết
Miêu tả là bước đầu tiên trong nghệ thuật làm văn Viết bất kì về loại gì: thơ, tiểu thuyết, phóng sự, du kí, lịch sử hay nghị luận, nhà văn nhiều lúc phải miêu tả về cảnh hay tính tình Và tác giả cho rằng, muốn miêu tả cho hay, trước
Trang 24hết, phải miêu tả cho đúng, và muốn miêu tả cho đúng, phải nhận xét để ghi những đặc sắc của cảnh vật, nếu không, văn của ta chỉ để lại một ấn tượng mù
mờ trong óc người đọc Bên cạnh đó, ta phải có óc tưởng tượng, óc tưởng tượng chẳng những tạo hình ảnh mà còn tạo cả cảnh vật nữa Trong trường hợp đó, nó phải được lí trí hướng dẫn và học thức, kinh nghiệm làm nòng cốt Điều lưu ý khi tả một cảnh rất cảm động là văn nên bình dị, không nên hoa mỹ, ta không cần tưởng tượng, tìm hình ảnh, chỉ cần ghi chép đúng sự thực cũng đủ để độc giả cảm thông với ta rồi
Một điểm nữa trong quan niệm của Nguyễn Hiến Lê, khi sáng tác văn chương là trong văn phải có tình mới hay “Ý mới mẻ, xác đáng, văn bóng bẩy, rực rỡ mà thiếu tình, thì vẫn lạnh lẽo, không cảm được người đọc” [15,tr.152] Tình cần cho cả cảnh, thiếu tình cảnh sẽ vô duyên vì không hồn Tình trong thơ hay ngoài đời cũng vậy, càng kín đáo, hay tế nhị thì càng quý
Sự thực là một yếu tố quan trọng trong văn chương, nhưng văn không thể nào hoàn toàn đúng sự thực được, mà nó phải có sự tưởng tượng, sáng tạo của nhà văn giúp tác phẩm thêm sinh động, đầy màu sắc “Viết tiểu thuyết, nhà văn được tự do hơn, được dùng cả ba thể, đối thoại, tự sự, miêu tả, lại có thể ngắt một đối thoại ở nữa chừng để giảng giải về tâm lí nhân vật, hoặc kể những việc
cũ, hoặc gợi không khí cảnh vật ở xung quanh, tóm lại, có đủ phương tiện để diễn tả đúng sự thực, song cả khi nhà văn muốn tả chân, thì cái “chân” ở trong truyện vẫn còn chỗ khác cái “chân” ở ngoài đời” [15,tr.227] Tạo vật có muôn hình vạn trạng, đẹp xấu lẫn lộn, vui buồn xen nhau, nếu ghi lại hết thì thành một cảnh hỗn độn gần như vô nghĩa lí.Cho nên, mỗi nghệ sĩ đứng vào một phương diện mà nhận xét rồi phô diễn lại một góc cạnh của sự thực, cạnh góc nào hợp với tâm hồn hoặc chủ trương của họ “Vậy, ta có thể nói rằng, nhà văn không khi nào chép đúng tạo vật mà luôn luôn lý tưởng hóa nó, chữ lý tưởng ở đây không có nghĩa nhất định phải tốt mà chỉ có nghĩa là hợp với quan niệm của mỗi người” [15,tr.229]
Trang 25Nghệ thuật không chép đúng sự thực Vậy, những cách mà nghệ sĩ dùng
để thoát ra ngoài sự thực rồi điều khiển nó tới mục đích của mình như thế nào? Nguyễn Hiến Lê đưa ra bốn cách như sau: Cách thứ nhất, phóng đại sự thực cho
có vẻ trào phúng, như trong bài Chúc tết của Tú Xương, nhiều truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, hay Một chuỗi cười của Đồ Phồn…Nghệ sĩ phóng đại vì
nhiều mục đích khác nhau, để gây một cảm tưởng hoặc hùng tráng hoặc rùng rợn hoặc nên thơ Cách thứ hai, giản dị hóa sự thực để làm nổi những nét chính lên mà đạt được mục đích Cách thứ ba, dấu bớt một phần sự thực, không phải là những tiểu tiết, mà những cái quan trọng, dấu mà cũng như hé mở, để độc giả đoán được hoặc tưởng tượng được mà thêm phần hứng thú Cách thứ tư, cho sự thực phản chiếu tư tưởng hoặc tâm sự của mình
Văn chương có lúc đẽo gọt nhưng cũng có lúc nó lại bình dị, tự nhiên Đẽo gọt hay bình dị, tự nhiên đều có kỹ thuật của nó cả Nguyễn Hiến Lê xem:
“Kỹ thuật chỉ là phương tiện gây cảm thôi Phép bố cục chỉ là để cho ý tưởng của ta rõ ràng, người đọc mau hiểu Phép tu từ chỉ để người đọc tưởng tượng như thấy sự thực ở trước mắt Niêm luật và vần chỉ để cho lời thêm du dương
mà lòng người dễ động, do đó mà dễ cảm” [15,tr.316] Khi cảm xúc của ta dâng trào, tâm hồn ta thả vào mây gió thì văn chương tuông trào, có lúc nó không cần
cả bố cục Hay khi ta bắt gặp một hành vi, thái độ tột bực cao đẹp thì những phép tu từ hóa ra vô dụng…Nói như vậy, không đồng nghĩa với việc phủ nhận giá trị của kỹ thuật “Nó rất có ích với những người mới tập viết hay những người viết từ lâu nhưng tài tầm thường như phần đông chúng ta Vả lại, những quy tắc, luật lệ mỗi thời đặt ra, như quy tắc biền ngẫu ở thời Lục triều, niêm trong thơ ở đời Đường, lối ưa bóng bẩy dùng nhiều tĩnh từ ở thế kỷ lãng mạn, lối tượng trưng, siêu thực…thời gần đây ở bên Pháp, đều có công dụng giúp cho nhà văn dễ hòa mình vào cái điệu, cái “mốt” của thế hệ, mà dễ được quần chúng thưởng thức hơn, vì do hoàn cảnh xã hội, do không khí thời đại, do tâm trạng con người…mỗi thời có một tiêu chuẩn riêng về cái đẹp, dễ cảm riêng một lối đẹp nào đó” [15,tr.317]
Trang 26Điều cuối cùng mà Nguyễn Hiến Lê chú trọng là cái thần trong văn chương Có những bài thơ khi đọc lên, gây cho ta một cảm xúc mạnh, thích thú một cách lạ lùng Nhưng khi phân tích, mổ xẻ nó ra thì không biết bao nhiêu lỗi trong đó Ngược lại, có những tác phẩm không hề có một lỗi nhỏ nào nhưng khi đọc lên, ta không cảm nhận được nhiều điều, có khi ta rán phân tích để hiểu cái đẹp thì thấy kém đẹp đi nhiều Vì cái đẹp trong văn thơ, không chỉ ở những chỗ sáng sủa, gọn gàng, tinh xác, bóng bẩy, hàm súc, du dương…tóm lại, không phải chỉ ở cái hình thức có thể thấy được, phân tích được, mà còn ở một cái gì tế nhị hơn nhiều, nó ẩn sau hình thức đó hoặc thoát ra khỏi hình thức đó, chỉ có thể cảm được chứ không giảng được Đó chính là cái thần của văn chương.
Nguyễn Hiến Lê xem cái thần của văn chương như cái duyên của phụ nữ
“Có những người đàn bà ta mới thấy mặt lần đầu đã mến ngay, ở nét mặt cùng dáng điệu của họ tỏa ra một cái gì rất quyến rũ làm ta vui vẻ, phơi phới trong lòng, nhưng khi nhìn kĩ ta nhận thấy không có nét gì đẹp hoặc có vài nét xấu nữa
là khác: gò má hơi cao, nước da hơi tối, hoặc tóc không mượt mà, răng không đều Những người đó, ta gọi là có duyên Cái duyên của phụ nữ là cái thần của
họ vậy, mà cái thần trong văn tức là cái duyên trong văn Văn miễn là có thần thì không cần gò theo những quy tắc kỹ thuật, cũng như đàn bà có duyên không cần
có đủ những vẻ đẹp công thức Cho nên, khi thưởng thức cái đẹp trong văn cũng như khi ngắm vẻ đẹp của người phụ nữ, cảm tưởng đầu tiên là quan trọng nhất,
mà muốn cho cảm tưởng đó đúng thì phải để lòng mình cảm thông với nghệ sĩ, đừng cho những quy tắc nặng nề của lý trí đè lên con tim mà làm nó khó rung động” [15,tr333]
2.2 Văn học sử
Trong những công trình nghiên cứu văn học của Nguyễn Hiến Lê, văn học
sử chiếm một vị trí và vai trò quan trọng Ông viết khá nhiều về lịch sử văn học
Trung Quốc, trong đó, nổi bật là hai bộ Đại cương văn học sử Trung Quốc và
Văn học Trung Quốc hiện đại Hai bộ văn học sử này đã khái quát một cách đầy
Trang 27đủ diễn biến lịch sử, cũng như sự phát triển văn học Trung Quốc từ khi hình thành cho đến thời hiện đại.
2.2.1 Đại cương văn học sử Trung Quốc
Hồi học ở trường Bưởi, Nguyễn Hiến Lê đã tò mò muốn biết về văn học Trung Quốc Nền cổ học Trung Quốc như có sức huyền bí thu hút ông, một
thanh niên theo Tây học “Mỗi lần nghe những tên như Văn Tâm Điêu Long,
Chiêu Minh văn tuyển, Tiền Xích Bích phú, Quy khứ lai từ…Dù chẳng hiểu gì,
tôi cũng thấy vang lên một điệu trầm ngâm như nhớ nhung cái gì Phải chăng đó
là tiếng vang những giọng ngâm nga của tổ tiên tôi còn văng vẳng trong tâm hồn tôi?” [7,tr.86-87] Vì sự đam mê đó, ông tìm đọc nhiều sách về văn học Trung Quốc nhưng không tìm được cuốn nào vừa ý Ông đã tự học chữ Hán để có thể
đọc và dịch được các sách của Trung quốc Mục đích của ông khi viết bộ Đại
cương văn học sử trung Quốc là để tự học, nhưng sau thấy có ích cho bạn đọc
nên quyết định xuất bản
Trong bộ Đại cương văn học sử Trung Quốc, Nguyễn Hiến Lê phân chia
sự phát triển văn học theo các triều đại Gồm sáu phần, phần thứ nhất: Văn học đời trước Tần, phần thứ nhì: Từ đời Tần đến đời Tùy, phần thứ ba: Văn học đời Đường, phần thứ tư: Văn học các đời Ngũ Đại và Tống, phần thứ năm: Văn học các đời Nguyên, Minh, Thanh và phần thứ sáu là văn học hiện đại Sự phân chia như vậy có khi miễn cưỡng, nhưng các học giả Trung Hoa từ trước đến nay, đều nhận rằng ở nước họ chính trị ảnh hưởng mật thiết đến văn học
Trong bộ văn học sử này, ta thấy có sự thay đổi các văn trào thể hiện qua các thời đại khác nhau Hai phong trào vị nghệ thuật (lãng mạn, duy mỹ), và vị nhân sinh (thực hiện, tái tạo) cứ thay đổi nhau trên văn đàn Trung Quốc, mỗi phong trào thịnh rồi lại suy và lúc nó toàn thịnh là lúc nó sắp suy, trong khi nó đương thịnh thì phong trào trái với nó bắt đầu phát sinh Lẽ ấy dễ hiểu: “Khi văn học mà duy mỹ quá, chỉ chú trọng đến hình thức thì nội dung tất phải kém, và văn mà đã kém thì chỉ còn xác mà thiếu hồn, còn khi văn học chỉ phụng sự đạo
Trang 28lý, quá trọng nội dung đến bỏ hình thức thì thì văn không còn mãnh lực để cảm động lòng người và hóa ra khô khan, mất hẳn cái tính “đẹp” mà thiếu nó không thành văn” [15,tr.850].
Giai đoạn này, phong trào hiện thực, vi đạo phát triển trước nhất ở phương Bắc, trên lưu vực Hoàng Hà, từ thời Tây Chu đến thời Xuân Thu
Những vị thủ lĩnh là Khổng Tử, Mạnh Tử và văn phẩm tiêu biểu là Kinh thi
Phong trào lãng mạn tiếp theo ở lên lưu vực Trường Giang, trong đời Xuân Thu
và Chiến quốc Đại biểu là Trang Tử và Khuất Nguyên, tác giả thiên Ly tao.
Tới đời Tần và Hán, đất đai và văn tự thống nhất, hai văn trào đó hợp lại
Về triết học, Tuân Tử, Hàn Phi Tử, Lý Tư châm chước thuyết của Khổng, Mạnh, Lão Trang Về văn học, Tống Ngọc, Tư Mã Tương Như đứng đầu phái lãng mạn, Giả Nghị, Tư Mã Thiên chịu nhiều ảnh hưởng của Nho giáo
Từ Đông Hán đến thịnh Đường, nhất là trong thời Lục triều, phái duy mỹ thắng thế, chiếm văn đàn trong ba, bốn thế kỷ Văn chương lúc đó rực rỡ, bóng bẩy và du dương
Trong thời thịnh Đường, nhờ phong trào phục cổ của Hàn Dũ, Liễu Tông Nguyên, nhóm “vị đạo” chiếm lại được uy quyền, song không bền
Từ vãn Đường đến Bắc Tống, chủ nghĩa duy mỹ phát triển mạnh mẽ Các thi nhân như Lý Thương Ẩn, Ôn Đình Quân quá chú trọng đến hình thức, gọt đẽo câu văn mà tư tưởng thì ủy mị
Trải qua đời Tống, Nguyên, Minh, phong trào phục cổ bồng bột tái phát Văn nhân thấy rõ nhiệm vụ dùng cây bút để chống giặc ngoại xâm, nên chú trọng đến thực tế, đạo lý và hô hào lòng ái quốc của quần chúng
Tới cuối đời Minh, phái lãng mạn lại nổi lên văn đàn, đem những tư tưởng
ủy mị vào tuồng và tiểu thuyết
Đời Thanh là thời kỳ tập đại thành của nền cổ văn học, khuynh hướng nào cũng có, loại nào cũng hay, văn nhân nào cũng có tinh thần độc lập Trên văn đàn, quang cảnh tựa như hỗn độn Song, từ giữa thế kỷ XIX, cũng nhờ nạn ngoại xâm
mà văn nhân thức tỉnh, đề xướng chủ nghĩa tả thực cùng tinh thần khoa học
Trang 29Hiện nay, dân tộc Trung Hoa đang hăm hở xây dựng một tương lai rực rỡ
Họ thầm oán chủ nghĩa nghệ thuật vị nghệ thuật và tận lực dùng văn học làm lợi khí tuyên truyền cho những chủ nghĩa mới
Như vậy, ta có thể nhận thấy, thời đại nào văn nhân được tự do thì tinh thần sáng tác mới cao, như đời Đường, đời Thanh và văn học mới thịnh Văn học không thể phát triển hoàn toàn khi quốc gia bị nô lệ như đầu đời Nguyên Tuy nhiên, một dân tộc bị áp bức mà vẫn có tinh thần tự cường như cuối đời Nguyên thì họ cũng kiếm cách này hay cách khác để nói lên nỗi uất hận trong lòng
Bên cạnh các văn trào xuất hiện trong giai đoạn này, là sự phát triển của các thể văn thơ Trước đời Tần, Hán, thơ Trung Quốc không có hình thức nhất định: số câu không nhất định và số chữ trong câu cũng không nhất định, có bài lại thiếu cả vần Từ đời Hán, thơ ngũ ngôn dần xuất hiện, đến đời Kiến An, nhờ
ba cha con họ Tào, thể đó được trọng dụng gần như độc tôn Sau đến cuối đời Lục triều, Trẩm Ước đặt ra những luật về thanh âm, sửa đổi thể ấy, bắt nó theo những quy tắc nghiêm khắc Cũng trong khoảng ấy, thơ thất ngôn bắt đầu thành hình Tới sơ Đường thì ngũ ngôn và thất ngôn đều theo những quy tắc nhất định
và khắt khe Như vậy, bên cạnh thơ cổ phong ta thấy thêm thể luật Từ đời Đường trở đi, thể luật luôn được coi trọng
Từ cũng là một loại thơ, chính nó là những bài hát có vần, câu dài câu ngắn, chỗ bỗng chỗ trầm, tùy theo điệu hát Nó phát sinh ở đời Đường, đến đời Tống thì cực thịnh, muốn lấn cả thơ Thể của nó rất nhiều nhưng đại loại có hai thứ ngắn và dài Trong khoảng 1000 năm cuối đời Đường đến đời Thanh, thơ từ Trung Quốc xâm nhập trong mấy thể ấy, không có sự thay đổi nào lớn lao Tới gần đây mới xuất hiện loại thơ tự do, mà người thì chê chỉ là cổ phong, người thì khen là rất mới Vậy, ta thấy thơ Trung Quốc, từ chỗ không có hình thức nhất định, tiến tới những quy tắc chặt chẽ, rồi bây giờ lại bắt đầu bỏ đi những quy tắc ấy
Về văn xuôi, con đường tiến triển cũng như thơ Trước Tần, Hán, không
có quy tắc nào cả Đến đời Lục triều xuất hiện thể biền văn dùng lối đối ngẫu có
Trang 30vần hoặc không vần Thể ấy, rất thịnh cho tới đời Đường rồi dần suy, chỉ còn thấy trong những tờ chiếu, biểu…Song đến đầu đời Thanh, nó lại phục hưng rồi tới cuối thế kỷ thì nó suy luôn Một số văn nhân ở đời Thanh, dung hòa nó với
cổ văn, thành một lối nửa biền nửa tản
Cổ văn thời nào cũng được trọng, thịnh nhất trong những đời Hán, Đường, Tống, Thanh Vì nó quá gọn nên nhiều khi hóa tối nghĩa và vì nó dùng những tiếng cổ mà hiện nay ít người biết
So với thơ, tuồng và tiểu thuyết xuất hiện muộn vì các văn nhân thời xưa chê hai loại đó không phải văn học chính thống Tới đời Nguyên, người ta mới thấy những vở tuồng có giá trị Tiểu thuyết tới đời Minh mới thịnh Phần nhiều
đều viết bằng bạch thoại và có nhiều tác phẩm bất hủ như: Thủy hử, Hồng lâu
mộng, Kim Bình Mai, Tam quốc chí…
Sau cùng là công việc dịch thuật ở Trung Quốc chiếm một vị trí rất quan trọng trong văn học Nó phát triển mạnh mẽ ở hai thời kỳ đời Đường và cuối Thanh, đem lại cho văn học hai luồng sinh khí mới, một luồng từ Ấn Độ và một luồng từ Âu Mỹ
Vậy, thông qua bộ Đại cương văn học sử Trung Quốc, ta đã hiểu hơn về
lịch sử văn học Trung Quốc cũng như những trào lưu trải qua các thời đại và sự phát triển của các thể văn thơ từ khi mới hình thành cho đến nay
2.2.2 Văn học Trung quốc hiện đại
Bộ văn học sử Văn học Trung Quốc hiện đại, là một công trình biên soạn
công phu về văn học Trung quốc Trong đó, tác giả đã khái quát được đầy đủ các phong trào văn hóa Trung Quốc từ cuộc “biến pháp” của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu và Đàm Tự Đồng, từ đó, đưa đến “Ngũ tứ vận động” Đồng thời, qua đó, tác giả phân tích cặn kẽ năm trào lưu văn học và giới thiệu khoảng
50 nhà văn, cũng như 100 tác phẩm của họ trong hơn nữa thế kỷ (1898-1960), của cả Trung Quốc đại lục và Đài Loan
Trang 31Trong bộ văn học sử này, Nguyễn Hiến Lê chia thành năm phần Thứ nhất, thời kì quá độ 1989-1916 Thứ hai, cao trào cách mạng 1917-1927 Thứ
ba, những năm phát triển 1928-1937 Thứ tư, thời chống Nhật và thời nội chiến 1938-1949 Và cuối cùng là từ khi chia hai 1949-1960
Trước hết, Nguyễn Hiến Lê trình bày thời kỳ quá độ 1989-1916 Thời kỳ này, các văn nhân Trung Quốc hăng hái quyết tâm đòi duy tân Vai trò ở trong tay các nhà cổ học có tư tưởng mới, trẻ tuổi đầy nhiệt huyết như Khang Hữu Vi, Đàm Tự Đồng, Lương Khải Siêu…Họ thất bại về chính trị nhưng chí khí càng thêm nung nấu, họ dùng cây bút mà cảnh tỉnh quốc dân, cách tân văn học
Về thơ, Hoàng Tuân Hiến đã bắt đầu phá cách luật, đã cung cấp được nhiều ý, cảnh mới, làm cho dòng thơ cũ trẻ lại “Ông công kích bọn hủ nho trọng
cổ mà khinh kim Mỗi thời có một hoàn cảnh riêng, người mỗi thời cũng có những ý tưởng, cảm xúc riêng, một dụng ngữ riêng thì tại sao lại cứ phải giữ đúng cách luật, dùng đúng những chữ của cổ nhân? Và ông mạnh bạo tuyên bố:
“Tay ta chép những lời miệng ta nói, cổ nhân làm sao có thể trói buộc, lôi kéo ta được?” [15, tr.884]
Về văn xuôi, Lương Khải Siêu, Đàm Tự Đồng, đã bỏ hẳn thể biền ngẫu, thể cổ văn để tạo ra một thể mới, tuy vẫn dùng văn ngôn nhưng sáng sủa, bình dị hơn Khang, Lương còn đề cao tiểu thuyết, coi nó là thể quan trọng nhất trong văn học và một nhóm nhà văn đã cho ra những tạp chí chuyên đăng tiểu thuyết sáng tác và dịch, làm cho văn đàn trở nên náo nhiệt Tác phẩm rất nhiều, tuy chưa thoát được kỹ thuật truyền thống, nhưng đều có công dụng lớn trong việc cảnh tỉnh quốc dân
Một nhóm người khác, Nghiêm Phục và Lâm Thư chuyên dịch những tác phẩm ngoại quốc để mở mang kiến thức cho quốc dân, giới thiệu những tư tưởng mới và gián tiếp thúc đẩy sự cách tân quốc gia
Nhưng xét cho cùng, đây chỉ là giai đoạn giao thời, chỉ có những cải cách rụt rè “Họ vẫn muốn giữ cái bình cũ, đánh bóng, lau chùi lại một chút, để chứa
Trang 32một thứ rượu mới nhập cảng ở phương Tây, sau khi chế biến qua loa hợp khẩu
vị dân chúng” [15,tr.1239] Những dao động trong thời quá độ này chỉ mới làm nứt cái nền tảng của văn học truyền thống, những biến động lớn lao trong giai đoạn sau mới làm cho nó sụp đổ
Giai đoạn thứ nhì, 1917-1927, mới thực là giai đoạn cách mạng Ngọn cờ chuyển qua tay các nhà tân học ở Nhật hoặc Âu Mỹ về “Thấy cái bình cũ (văn ngôn) không thể chứa rượu mới được, bọn Hồ Thích, Trần Độc Tú thay nó bằng cái bình mới (bạch thoại) Rượu cũng mới hơn, nồng hơn một chút Các nhà văn hăng hái áp dụng kỹ thuật phương Tây trong việc sáng tác, và chỉ mới thành công về loại truyện ngắn: Lỗ Tấn, Diệp Thiệu Quân, Băng Tâm, Úc Đạt Phu…” [15,tr.1239] Nhưng một nền văn học cổ truyền, đã có ít nhất từ trên hai ngàn năm rưỡi, đã tạo được bao tác phẩm bất hủ, làm vẻ vang cho dân tộc, đến nay bỏ
đi thì ai chẳng tiếc Cho nên, khi thấy cuộc vận động của Hồ, Trần thành công, một nhóm người nổi lên phản kháng, cựu cũng như tân, lúc này nội bộ bắt đầu chia rẻ Cuối giai đoạn này, xuất hiện hai khuynh hướng, một thiên hữu: Hội nghiên cứu văn hoc, một thiên tả: nhóm Sáng tạo
Hội nghiên cứu văn học, thành lập tháng 11 năm 1920, gồm những nhà văn: Chu Tác Nhân, Thẩm Nhạn Băng, Trịnh Chấn Đạc, Cảnh Tế Chi…Mục đích của hội là xây dựng một nền văn học vị nhân sinh, mà phương pháp sáng tác là chủ nghĩa hiện thực Họ bảo: “Chúng tôi không muốn có một thứ văn học
để tiêu khiển qua những lúc nhàn rỗi Đối tượng của văn học phải là máu và nước mắt của những kẻ chịu sự bất công, sự áp bức…Văn học chân chính là thứ văn học phản ánh đúng thời đại…Chưa có tác phẩm nào tả thời đại của chúng ta Nhiệm vụ của tân văn học là vẽ được bức tranh xã hội hiện tại” [15,tr.954]
Danh tiếng và ảnh hưởng ngang với Hội nghiên cứu văn học là nhóm Sáng tạo, thành lập vào khoảng năm 1920 với một số lưu học sinh Trung Hoa ở Nhật: Quách Mạc Nhược, Úc Đạt Phu, Điền Hán, Thành Phương Ngô…Chủ trương của nhóm: “Nghệ thuật không có mục đích Nó như hoa mùa xuân, nó là
Trang 33sản phẩm tự nhiên của thiên tài Đứa trẻ khi chơi giỡn, không có mục đích, nó
vô tâm Nghệ thuật là du hí của trẻ em khi nó thành người lớn” [15,tr.955]
Giai đoạn ba, những năm phát triển từ 1928-1937 Lúc này xuất hiện rất nhiều nhóm khác nhau, họ đều tìm một lý thuyết văn học và đưa ra một chủ trương để chống đối lẫn nhau Hoạt động mạnh nhất, có đường lối rõ rệt nhất, đoàn kết với nhau nhất là nhóm Tả liên Chủ trương của nhóm là dùng văn học
để tuyên truyền, để phục vụ giai cấp vô sản Một số người trong đó có tiếng tăm
và tài năng nhưng chỉ chú trọng đến chính trị hơn đến nghệ thuật, cho nên, sáng tác của họ chỉ có giá trị trong một giai đoạn Chính phe Trung đạo mới lưu lại được nhiều tác phẩm có giá trị nhất, làm cho văn học mới phát triển mạnh
Về tiểu thuyết, giai đoạn trước chỉ thành công về truyện ngắn, bắt đầu từ
1928 ta mới thấy những truyện dài có nghệ thuật của Mao Thuẫn, rồi tiếp theo những truyện của Lão Xá, Ba Kim, Thẫm Tòng Văn…Về kịch, một ngôi sao xuất hiện, đó là Tào Ngu Tạp văn giai đoạn này cũng có nhiều sắc thái hơn trước Thơ không phát triển kịp như những ngành trên nhưng cũng có vài nhà sáng tạo những thể mới như Biện Chi Lâm…
Giai đoạn thứ tư, là thời chống Nhật và thời nội chiến 1938-1949, phe tả hữu liên hiệp với nhau để chống Nhật Phe tả lúc này đông hơn, hăng hái hơn và gồm nhiều tiểu thuyết gia có tài hơn Nhưng chiến tranh vừa mới kết thúc, họ lại chia rẽ, tả đứng trong hàng ngũ Mao Trạch Đông, hữu về phe Tưởng Giới Thạch Nội chiến phát sinh, năm 1949 Mao chiếm trọn lục địa, Tưởng phải chạy qua Đài Loan
Giai đoạn này, sự sáng tác kém về phẩm chất: “Người ta đặt mục tiêu tuyên truyền, cứu quốc lên trên hết, nên tính cách hiện thực sút giảm, đại đa số các tác phẩm chỉ có công dụng nhất thời” [15,tr.1240] Các nhà văn mới xuất hiện ở vùng Cộng như Ngãi Vu, Triệu Thụ Lý, Lý Quý…và ở vùng bị Nhật chiếm đóng như Thượng Hải, Nam Kinh, Hương Cảng…
Trang 34Tác phẩm ở vùng Quốc tuy phục vụ chiến tranh nhưng còn chú trọng ít nhiều đến nghệ thuật, tác phẩm ở vùng Cộng tuyên truyền mạnh hơn, kỹ thuật kém hơn, còn tác phẩm ở vùng Nhật chiếm đóng, không chú trọng tới chính trị
mà chỉ chú trọng đến nghệ thuật
Giai đoạn cuối cùng là từ khi chia tay 1949-1960 Từ 1949, đa số văn nghệ sĩ ở lại Hoa lục và nhận sự chỉ huy văn nghệ của Mao Trạch Đông, dùng cây bút phục vụ công, nông, binh, trở lại những “hình thức dân tộc”, họ sáng tác tuy nhiều nhưng đều theo một công thức có sẵn Gần như năm nào cũng có những cuộc hội nghị để định lại đường lối, hoặc để đấu tranh tư tưởng, khai trừ những văn nghệ sĩ còn giữ tinh thần cá nhân Giai cấp vô sản đã bắt đầu sáng tác
và được khuyến khích nhiệt liệt
Còn ở Đài Loan, không khí thật yên tĩnh, chính phủ không quan tâm đến văn nghệ sĩ và chính họ cũng thấy chán nản, xa rời thực tế mà mơ mộng hão huyền, cơ
hồ như thiếu lý tưởng Trong mười năm, từ 1949-1959, chỉ có được một tác phẩm của Khương Quý và vài tác phẩm của Trương Ái Linh là có giá trị
Bộ Văn học Trung Quốc hiện đại là sự nối tiếp và hỗ trợ cho bộ Đại
cương văn học sử Trung quốc Đây là bộ sách đầu tiên viết về một giai đoạn
nhiều biến chuyển nhất, làm thay đổi triệt để nền văn học mấy ngàn năm của Trung Hoa
Theo một ý nghĩa nào đó, văn học Trung Quốc là nơi khởi nguồn của văn học Việt Nam, trước hết là sự vay mượn chữ Hán làm văn tự, khởi đầu cho văn học thành văn Cho nên, muốn hiểu được cái cổ học của các cụ, tức là nền tảng văn hóa Việt, chúng ta không thể không nghiên cứu nền tảng văn học Trung Quốc được Huống chi văn học Trung Quốc có trên 3000 năm, số lượng tác phẩm đồ sộ và rực rỡ bậc nhất thế giới Hiểu được điều đó, và có niềm đam mê văn học Trung Quốc ngay thuở nhỏ, Nguyễn Hiến Lê đã bỏ rất nhiều công sức
để tìm hiểu, thu thập những tài liệu liên quan Và với sự hiểu biết, vốn kiến thức
của mình, ông đã hoàn thành hai bộ Đại cương văn học sử Trung quốc và Văn
Trang 35học Trung Quốc hiện đại Đây được xem là hai bộ văn học sử Trung Quốc rành
mạch và đầy đủ nhất
2.3 Tiểu thuyết Con đường thiên lý
Số lượng sách nghiên cứu, dịch thuật của Nguyễn Hiến Lê rất lớn, nhưng
riêng về sáng tác tiểu thuyết thì ông có duy nhất một cuốn mang tựa đề Con
đường thiên lý Ông đã sử dụng thể văn hồi kí cùng với những tài liệu kiếm
được để phát họa nên nhân vật Lê Kim - Trần Trọng Khiêm, người Việt sang
Mỹ đầu tiên Bên cạnh đó, cuốn tiểu thuyết giúp ta hiểu hơn về cuộc sống cũng như số phận con người trong hai giai đoạn kháng chiến chống Pháp và Mỹ
2.3.1 Câu chuyện có thật
Con đường thiên lý, là một câu chuyện có thật, kể về một nhà nho thời Tự
Đức (1847-1883), tên là Trần Trọng Khiêm (1821-1856), người làng Xuân Lũy, huyện Sơn Vi, tỉnh Phú Thọ, vì một câu chuyện rắc rối, ông phải ra tay giết người để trả thù cho vợ, nên ông phải chạy trốn, phiêu bạt khắp thế giới Tình
cờ, ông gia nhập vào một đoàn người nhiều quốc tịch khác nhau đến tìm vàng ở miền Tây nước Mỹ Đoàn người phải vượt qua hàng ngàn cây số vô cùng gian nan vất vả và họ đã đến được San Francisco, California Cuối cùng họ tìm được nhiều vàng Nhưng trong cái “thế giới tìm vàng” đó, nhà Nho đâm ra ghê tởm trước cảnh cướp bóc của những kẻ săn vàng Kinh hoàng trước cảnh chém giết thê lương, ông quay về California làm nhân viên cho tòa soạn báo Daily Evening, nhưng trong lòng không nguôi ngoai nỗi nhớ quê hương, xứ sở Ông trở về Hồng Kông và gia nhập quốc tịch Trung Quốc, rồi tìm đường về Việt Nam, định cư ở làng Hòa An, Sa Đéc và sống một cuộc đời nông dân, cày sâu, cuốc bẫm Nhưng đến khi thực dân Pháp xâm chiếm Nam Kỳ, ông bỏ nhà, bỏ cửa, ruộng vườn, cùng với Võ Duy Dương (đời sau gọi ông là Thiên Hộ Dương, ?-1865), phất cờ chống Pháp ở Đồng Tháp Mười, và trở thành anh hùng dân tộc
Trang 36Theo lịch sử, người Việt đầu tiên sang Mỹ là cụ Bùi Viện, vào năm 1870
Nhưng khi đọc Con đường thiên lý của Nguyễn Hiến Lê, ta lại thấy không phải
như vậy Trước đó 20 năm, một người Việt Nam tên là Lê Kim đã đến Hoa Kỳ với tư cách là một di dân đi tìm đất mới Đó là thời điểm của năm 1849 Qua năm sau, 1850 California mới chính thức trở thành tiểu bang thứ 31 của Hiệp Chủng Quốc Câu chuyện về cụ Lê Kim đã được học giả Nguyễn Hiến Lê sưu
tầm và viết thành cuốn Con đường thiên lý Tài liệu tác giả phỏng theo là cuốn tiểu thuyết Pháp có tên Le Ruée Vers L’or của René Lefevre Cuốn tiểu thuyết
kỳ thú của học giả Nguyễn Hiến Lê hoàn toàn dựa trên các dữ kiện lịch sử đã được tra cứu, bắt đầu từ một cuộc gặp gỡ con cháu họ Trần, từ năm 1930, tại quê hương của cụ cố Trần Trọng Khiêm ở miền Bắc Đó là Trần Văn Bảng, quê
ở Phú Thọ, ông và tác giả là bạn học cùng lớp ở Trường Bưởi, hai người chơi rất thân với nhau Trần Văn Bảng là một người giỏi Sử và chữ Hán Một lần, nhận lời mời về nhà chơi, Nguyễn Hiến Lê được ông Bảng dẫn đi tham quan nhiều nơi và kể về câu chuyện của ông Trần Trọng Khiêm, là em ruột của cụ sáu đời nhà ông Bảng Vợ ông Khiêm là một người nhu mì, lại có nhan sắc Hồi chưa về làm dâu họ Trần, tên chánh tổng trong miền đã có ý hỏi bà làm vợ lẽ nhưng bà không chịu, thêm ông Khiêm là người cương trực, không coi hắn ra gì nên trong lòng hắn luôn ôm mối hận Năm 1843, nhân lúc ông Khiêm đi làm ăn xa, hắn cho người giết chết bà và gia nhân, đốt hết nhà cửa Ông Khiêm vì trả thù cho
vợ nên giết chết tên chánh tổng và phải trốn bỏ làng, phiêu bạt khắp nơi Nhiều lần hỏi thăm tin tức nhưng không thấy, mọi người đều nghĩ ông đã mất tích Đột nhiên, 16 năm sau, ông gửi thư về cho gia đình, báo tin cho mọi người biết Bức thư được viết bằng chữ Nôm, Trần Văn Bảng và Nguyễn Hiến Lê không am hiểu chữ Nôm nên chỉ hiểu được đại khái nội dung như sau: “Mấy hàng đầu này
cụ Khiêm hỏi thăm hết thảy gia đình bên mình, bên vợ Rồi cho hay, từ khi bỏ nhà đi, oán trả rồi, xuống phố Hiến làm ăn, được người giới thiệu xuống làm một tàu buôn ngoại quốc, theo tàu qua Hương Cảng, vừa làm việc vừa học tiếng
Trang 37ngoại quốc Sau đó, theo tàu buôn qua Anh Cát Lợi, Hòa Lan, cuối cùng qua Hoa Kỳ cùng với một đoàn người đi tìm vàng, nhưng rồi chán cảnh hỗn độn, trụy lạc của xứ đó, nhất là nỗi nhớ quê hương, nhân một chuyến tàu, trở về Hương Cảng, nhập tịch Trung Hoa, cùng với vài người bạn Trung Hoa về tỉnh Định Tường, hiện đã có ruộng đất, nhà cửa ở làng Hòa An, phủ Tân Thành, đủ sống Đã tục huyền với một thiếu nữ trong miền, họ Phan, có được hai con trai, tên là Xuân Lãm, Xuân Lương Bức thư được viết ngày rằm, tháng hai, năm 1860” [15,tr.1290].
Qua thập niên 1940, tác giả ở trong Nam thời kháng chiến tình cờ có được
cuốn sách Le Ruée Vers L’or (Đổ xô đi tìm vàng), viết về chuyện di dân Mỹ và
cả dân châu Âu, Pháp , Đức đi qua Cali tìm vàng Chuyện này có nhắc đến nhân vật Lê Kim, đây chính là Trần Trọng Khiêm
Theo như câu chuyện, cụ Lê ra đi với tên họ mới là Lê Kim và trong sách ghi là Kim Lee, vì thường lẫn với người Tàu Làm việc trên thương thuyền hơn năm năm, qua Hồng Kông, Ma Cao, châu Âu rồi đến Hoa Kỳ Nhờ giao thiệp với giới thương hồ quốc tế nên Lê Kim nói được tiếng Tàu, Anh, Pháp và Hòa Lan
Trong cuốn sách viết về lịch sử của đoàn người đi tìm vàng, người ta ghi nhận có tên Kim Lee xuất hiện lần đầu tại New Orleans, tiếp theo là tại St Louis Đoàn người thành lập bởi một nhà mạo hiểm gốc Canada tên là Max Các người tình nguyện gia nhập phải góp công sức và tiền bạc Tổng cộng có 60 người cùng khởi hành Ông Lê Kim được ủy nhiệm làm liên lạc viên cho thủ lãnh Max và thông ngôn tiếng Hòa Lan, tiếng Tàu, tiếng Pháp Từ bờ biển phía Nam Đại Tây Dương, tại cảng New Orleans, Lê Kim đi tàu ngược dòng sông Mississippi lên phía Bắc và tới thành phố St Louis Tại đây, ông đã gia nhập vào đoàn của Max Đoàn lữ hành từ đó bắt đầu Tây tiến đi tìm vàng, cất tiếng hát bài ca nổi tiếng “Oh! Susanna” rồi lên đường hướng về phía Tây Bắc, qua Independence, đến Laramie, Salt Lake City
Trang 38Đoàn người vượt sông Nebraska, vượt núi Rocky với nhiều gian nan, vất
vả, nhiều người bỏ mạng dọc đường Trong suốt cuộc hành trình, Lê Kim chứng
tỏ mình là người tháo vát, anh hùng Đặc biệt, ông xử sự rất tử tế, đàng hoàng, luôn được mọi người kính trọng và thủ lĩnh Max rất tin tưởng Khi đến Salt Lake City, đoàn người bất đồng ý kiến rồi chia làm hai toán Đa số người Mễ Tây Cơ đi theo đường hướng Bắc Chỉ còn 14 người, gồm có thủ lãnh Max, Lê Kim… đi về hướng Tây Nam vượt qua sa mạc để vào miền Sacramento của California
Đoàn của Max khi đến đồn Sutter bên bờ sông Sacramento, được mời vào trình diện đồn trưởng là Đại úy Sutter Sau đó, tất cả mọi người đều đi đào vàng
Lê Kim và anh bạn Hòa Lan chỉ làm thử một thời gian rồi trở về tìm việc làm ở San Francisco Năm 1849, Cựu Kim Sơn là một thành phố bừa bộn đang tái lập trật tự Lê Kim và anh bạn Hòa Lan phải dựng chòi dưới chân đồi ở tạm.Vài ngày sau, Lê Kim nhận được việc làm tại tòa báo Daily Evening, vì biết nhiều thứ tiếng nên ông dễ dàng đi thu lượm tin tức Nhân vật Lê Kim mất dấu từ đây Cuốn tiểu thuyết còn một vài chương sau, nhưng chỉ là những câu chuyện về nhân vật Max, một đôi chỗ có nhắc tới Kít, còn các nhân vật khác không đề cập đến
Cuối năm 1952, Nguyễn Hiến Lê về Sài Gòn, ông cố gắng tìm tìm kiếm
thêm tài liệu và tung tích của ông Lê Xuân Liêm, người có cuốn Le Ruée Vers
L’or nhưng tất cả đều vô vọng Năm 1961, nhân có một cậu du học sinh sang
Đại học California, Nguyễn Hiến Lê nhờ kiếm giúp những số báo Daily
Evenrning xuất bản trong những năm 1849-1954 Cũng buộc miệng nói vậy chứ
ông cũng không hi vọng gì nhiều Thế nhưng, hè năm 1962, ông nhận được tin ở thư viện còn giữ những bài báo đó, trong đó, có hai bài viết về Max và một bài
về Lee Kim Đồng thời, cuối năm 1962, ông cũng được một người bạn gửi cuốn
L’or của Blaise Cendrars, chép tiểu sử của tướng Suter và đã tìm được cuốn Le Ruée Vers L’or, vì sách đã tuyệt bản nên ông nhờ bạn ông tóm tắt những chương
đầu của truyện Thế là không uổng công ông tìm kiếm bấy lâu nay, nhưng vấn
đề quan trọng lúc này là tìm được ông Lê Xuân Liêm để biết được câu chuyện
Trang 39khi về Việt Nam của cụ Trần Trọng Khiêm Trong thời gian này, không khí trong nước vô cùng căng thẳng nên ông cũng không còn tâm trí nghĩ đến việc tìm ông Lê Xuân Liêm nữa Năm 1964, ông viết thư về làng Mỹ Quới, quê của ông Lê nhưng không có hồi âm, ông lại đăng tin tức tìm người Bẵng đi bảy tám năm, năm 1972, ông nhận được thư của Lê Xuân Lưu, con trai của Lê Xuân Liêm Đến đây, những thắc mắc của tác giả đã được giải đáp.
Như vậy, Nguyễn Hiến Lê đã trải qua 42 năm, từ những năm 1930 khi ông còn học ở trường Bưởi cho đến khi hoàn thành cuốn tiểu thuyết năm 1972,
mới hoàn tất Con đường thiên lý về cuộc đời của một nhân vật lịch sử từ họ Trần
miền Bắc đến họ Lê miền Nam
2.3.2 Con người và cuộc sống thời chống Pháp, Mỹ
Bên cạnh câu chuyện có thật đầy hấp dẫn và lý thú, ta còn nhận thấy một nội dung song song với câu chuyện, là con người và cuộc sống thời chống Pháp
và Mỹ Tác phẩm được tác giả trình bày trong suốt 42 năm với bao biến động về lịch sử, xã hội Đây là cuốn tiểu thuyết được viết dựa vào hồi ký của Nguyễn Hiến Lê Len lỏi theo hành trình và cuộc sống của ông, ta thấy số phận con người và những vấn đề xã hội dần dần hiện ra
Năm 1945, khi Pháp đổ bộ vào Sài Gòn, người dân ồ ạt thu dọn đồ đạt để tản cư, cuộc sống ở đây trở nên xáo trộn Mọi người chỉ kịp mang theo những
đồ dùng cần thiết mà thôi Những sách báo của Pháp dù viết về vấn đề gì đi nữa đều bị tịch thu Năm 1946, Nguyễn Hiến Lê dừng chân ở Phước Thạnh, Cần Thơ, ông đến ủy ban xã để kiếm việc Khi đến đây, ông nhận thấy không khí không còn căng thẳng như nửa năm trước nữa Chiến tranh xảy ra, cuộc sống con người không còn theo một nguyên tắc hay kỷ luật nào Mọi người thờ
ơ, vô trách nhiệm trong công việc của mình Một cơ quan nhà nước mà không khác gì một nơi tụ họp, bàn bạc chuyện riêng “Thanh niên nam nữ tự do ra vào Nhà việc, không có vẻ e dè, ngại ngùng Nông dân bu quanh ba cái bàn, cười nói ồn ào, không ra một công sở: người xin giấy di chuyển, người lại trình
Trang 40báo, việc này việc khác, người lại xin cắt đặt công việc để làm Trên kệ, trên bàn không thấy sổ sách” [15,tr.1300].
Thời này là thời của thanh niên, nông dân, thôn quê như dần trẻ lại Thân phận của các điền chủ ở miền Nam rất điêu đứng, một số đại địa chủ bóc lột họ,
có kẻ chiếm đất, chiếm vợ con của họ nữa Vì vậy, thời cách mạng, bọn phú gia phải bỏ hết dinh cơ, trốn đi nơi khác Thế nhưng, không phải điền chủ nào cũng tàn ác như nhau Cũng có một số gia đình điền chủ hết lòng với dân, với cách mạng, vì thế họ được mọi người quý mến và tôn trọng Điển hình là gia đình anh
Ba làm ở Ủy ban hành chính xã “Một số tá điền đêm đến vào xúc trộm lúa Anh hay được nhưng làm thinh, họ thấy vậy xúc nữa và xúc nhiều hơn trước, anh cũng làm thinh Lần thứ ba, họ cả gan xúc cả chục giạ Anh viết vào một tờ giấy:
“Tôi biết anh em nghèo nhưng anh em xúc vừa vừa thôi, ba tôi biết sẽ rầy tôi”,
để lên trên đống lúa Từ đó không mất trộm nữa” [15,tr.1316] Dù chiến tranh loạn lạc, cuộc sống thiếu thốn nhưng tình cảm con người vẫn còn đó Còn đó những tấm lòng cao cả, biết giúp đỡ lẫn nhau trong lúc khó khăn, hoạn nạn Và điều quan trọng nữa là ta biết cách ứng xử trong mọi tình huống để giữ được tình cảm đó
Sau tám năm tản cư, Nguyễn Hiến Lê trở lại Sài Gòn Nơi đây đã khác xưa rất nhiều, nhà cửa san sát, ngổn ngang, tạm bợ, chật chội, bẩn thỉu, dân cư đông đúc, xe cộ đầy đường khiến tác giả cảm thấy nghẹt thở Không chỉ cảnh quan nơi đây có sự thay đổi, mà sự thay đổi đó còn thể hiện ở chính con người
“Sau ngày Nhật đảo chánh và ngay cả khi quân Pháp theo gót quân Anh mới đổ
bộ lên Sài Gòn, dân chúng tuy thắc mắc về tương lai, nhưng hầu hết đều vui vẻ, hăng hái; họ nghĩ, muốn gì thì gì thế nào cũng có sự thay đổi, chưa biết thay đổi
ra sao, nhưng không thể nào tệ hơn tám chục năm nô lệ được Lúc đó ai cũng nghĩ tới quốc gia Năm 1953, trái lại tôi có cảm tưởng ai cũng chỉ nghĩ tới bản thân, tới việc kiếm tiền, tới sự yên ổn Người ta không thân mật với nhau như trước, họ còn nghi kỵ nhau nữa” [15,tr.1435] Sau bao năm xa cách, khi gặp lại