1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

bước đầu tìm hiểu khả năng nhân giống và gây trồng cây nhân trần núi tại vùng đất cát nội đồng huyện quảng điền tỉnh thừa thiên huế

57 851 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 2,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Viện Dược liệu, Bộ Y tế, hiện ở ViệtNam có khoảng 600 loài cây thuốc quý hiếm đang có nguy cơ bị tuyệt chủng.Hiện nay, ở Thừa Thiên Huế vấn đề khai thác và sử dụng cây thuốc namrất

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ

Khoa Lâm nghiệp

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

TÊN ĐỀ TÀI:

Bước đầu tìm hiểu khả năng nhân giống và gây trồng cây nhân trần núi tại vùng đất cát nội đồng huyện Quảng Điền tỉnh Thừa Thiên Huế

Sinh viên thực hiện : Nguyễn Văn Sang

Thời gian thực hiện : 10/01/2014 - 04/05/2014

Địa điểm thực hiện : Xã Quảng Lợi, Huyện Quảng Điền,

Thừa Thiên Huế Giáo viên hướng dẫn : TS Trần Nam Thắng

Bộ môn : Quản lý tài nguyên rừng và môi trường

Trang 2

NĂM 2014

Trang 3

Lời Cảm Ơn

Trong quá trình thực tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Đại học chuyên ngành Quản lý Tài nguyên Rừng và Môi trường, tôi xin gởi lời cảm ơn chân thành đến:

Các thầy, cô giáo khoa Lâm nghiệp, trường Đại học Nông Lâm Huế đã tận tình giảng dạy, truyền thụ cho tôi những kiến thức bổ ích trong suốt thời kì học tập tại trường Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quý báu để tôi bước vào đời một cách vững chắc và tự tin.

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến: Thầy giáo Ts.Trần Nam Thắng ,và thầy giáo Ts Trần Minh Đức người đã tận tình hướng dẫn, trực tiếp, dẫn dắt tôi trong suốt thời gian thực tập và hoàn chỉnh khóa luận này Cảm ơn chân thành đến quý cơ quan: Hạt Kiểm lâm huyện Quảng Điền, UBND Huyện Quảng Điền, và cộng đồng dân cư của địa phương xã Quảng Lợi, Quảng Vinh, Quảng Thái đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian thực tập.

Tôi cũng gửi lời cảm ơn đặc biệt đến gia đình, người thân và các bạn sinh viên lớp QLR 44.B đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.

Do thời gian và kiến thức còn hạn chế nên trong quá trình hoàn thành khóa luận không thể tránh khỏi những sai sót Kính mong sự góp ý xây dựng của quý Thầy, cô giáo, các bạn sinh viên để khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn.

Trang 4

Huế, tháng 5 năm 2014 Sinh viên thực hiện

Nguyễn Văn Sang

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Giá trị kinh tế đối mua bán trên thị trường của cây Nhân trần núi qua các

thời kỳ 21 Bảng 3.1: Dự tính số lượng mẫu và diện tích cho mỗi ô thí nghiệm 25 Bảng 4.1: Tỷ lệ sống của Nhân trần núi sau khi trồng 65 ngày 36 Bảng 4.2: Kết quả PTPS ảnh hưởng của mật độ đến tỷ lệ sống cây nhân trần núi sau

65 ngày 37 Bảng 4.3: Chiều cao trung bình của cây NTN sau khi trồng được 65 ngày 37 Bảng 4.4: Kết quả PTPS ảnh hưởng của mật độ đến chiều cao trung bình cây nhân

trần núi sau 65 ngày 38 Bảng 4.5: Đường kính tán trung bình của cây Nhân trần núi sau khi trồng được

65 ngày 39 Bảng 4.6: Kết quả PTPS ảnh hưởng của mật độ đến đường kính tán trung bình cây

nhân trần núi sau 65 ngày 39

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1: Hình thái hoa nhân trần núi (Adenosma caerulea R.Br) 19 Hình 2.2: Hình thái lá và hoa nhân trần cát 20 Hình 4.1: Bản đồ vị trí địa lý huyện Quảng Điền, TT Huế 27

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

GS.TS Giáo sư Tiến sĩ

IUCN Hiệp hội Bảo tồn thế giớiPTPS Phân tích phương sai

TPCN Thực phẩm chức năng

TTHuế Thừa Thiên Huế

VBTCT Vườn bảo tồn cây thuốc

WHO Tổ chức Y tế thế giới

WWF Quỹ hoang dã thế giới

Trang 8

MỤC LỤC

Trang

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 1

PHẦN II TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

2.1 Tổng quan về cây thuốc trên thế giới 3

2.1.1 Giá trị sử dụng và tầm quan trọng của cây thuốc đối với đời sống con người 3

2.1.2 Hiện trạng tài nguyên cây thuốc trên thế giới 3

2.1.3 Hoạt động bảo tồn cây thuốc trên thế giới 4

2.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở Việt Nam 5

2.2.1 Các nghiên cứu về cây thuốc Việt Nam 5

2.2.2 Tình hình sử dụng cây thuốc ở Việt Nam 7

2.2.3 Hiện trạng tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam 12

2.2.3.1 Vùng phân bố tự nhiên của các loài cây thuốc bị thu hẹp 12

2.2.3.2 Sự giảm sút nhanh chóng khả năng khai thác những loài cây thuốc và động vật làm thuốc có nhu cầu sử dụng cao 13

2.2.4 Tiềm năng và tình hình khai thác sử dụng 14

2.2.5 Khả năng khai thác trong tự nhiên 16

2.3 Hoạt động gây trồng Nhân trần 17

2.4 Phân loại nhân trần ở Thừa Thiên Huế 18

2.4.1 Cây nhân trần núi(Adenosma cearulea R.Br.) 18

2.4.2 Cây nhân trần cát (Andenosma indiana (Lour.) Merr) 20

2.5 Giá trị của Nhân trần núi 21

2.5.1 Giá trị sử dụng 21

2.5.2 Giá trị kinh tế 21

PHẦN III MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

3.1 Mục tiêu nghiên cứu 23

3.1.1 Mục tiêu chung 23

3.1.2 Mục tiêu cụ thể 23

3.2 Nội dung nghiên cứu 23

3.2.1 Thử nghiệm kỹ thuật nhân giống và gây trồng cây Nhân trần núi trên vùng đất cát 23

3.2.2 Nghiên cứu tình hình sinh trưởng và phát triển của cây nhân trần núi trên vùng đất cát 23 3.2.3 Đề xuất phương thức, kỹ thuật gây trồng Nhân trần núi trên vùng đất

Trang 9

cát nội đồng huyện Quảng Điền 23

3.3 Phương pháp nghiên cứu 23

3.3.1 Kế thừa tài liệu thứ cấp 23

3.3.2 Thu thập số liệu sơ cấp 24

3.3.2.1 Điều tra thực địa 24

3.3.2.2 Bố trí thí nghiệm 24

3.3.2.3 Thu thập số liệu từ bố trí thí nghiệm 26

3.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 26

3.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 26

3.4.1 Đối tượng nghiên cứu 26

3.4.2 Phạm vi nghiên cứu 26

PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27

4.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của huyện Quảng Điền 27

4.1.1 Điều kiện tự nhiên 27

4.1.1.1 Vị trí địa lý 27

4.1.1.2 Địa hình 28

4.1.1.3 Thổ nhưỡng 29

4.1.1.4 Thời tiết, khí hậu 29

4.1.1.5 Thủy văn 30

4.1.2 Các nguồn tài nguyên 31

4.1.2.1 Tài nguyên đất 31

4.1.2.2 Tài nguyên biển và đầm phá 32

4.1.2.3 Tài nguyên nước 32

4.1.2.4 Tài nguyên rừng 32

4.1.2.5 Tài nguyên du lịch 33

4.1.3 Tình hình kinh tế xã hội của Huyện Quảng Điền 33

4.1.3.1 Đặc điểm dân số và truyền thống văn hóa, nhân văn 33

4.1.3.2 Thực trạng sản xuất các ngành 35

4.1.3.3 Cơ sở hạ tầng 35

4.2 Khả năng nhân giống và gây trồng Nhân trần núi trên vùng đất cát nội đồng huyện Quảng Điền 35

4.2.1 Khả năng nhân giống Nhân trần núi trên vùng đất cát nội đồng huyện Quảng Điền 35

4.2.2 Khả năng gây trồng Nhân trần núi trên vùng đất cát nội đồng huyện Quảng Điền 36

4.2.2.1 Ảnh hưởng của mật độ đến tỷ lệ sống của cây 36 4.3 Đánh giá tình hình sinh trưởng và phát triển của Nhân trần núi trên vùng

Trang 10

đất cát nội đồng huyện Quảng Điền 37

4.3.1 Ảnh hưởng của mật độ đến chiều cao của cây 37

4.3.2 Ảnh hưởng của mật độ đến đường kính tán của cây 38

4.4 Đề xuất phương thức, kỹ thuật gây trồng và cách chăm sóc phù hợp cho Nhân trần núi trên vùng đất cát nội đồng huyện Quảng Điền 40

PHẦN V KẾT LUẬN - TỒN TẠI - KIẾN NGHỊ 41

5.1 Kết luận 41

5.2 Tồn tại 41

5.3 Kiến nghị 42

PHẦN VI TÀI LIỆU THAM KHẢO 43 PHỤ LỤC ẢNH

Trang 11

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ

Việt Nam là một quốc gia có kho tang tài nguyên cây thuốc phong phú và

đa dạng Trong tổng số 12000 loài thực vật của Việt Nam thì nguồn tài nguyêncây thuốc chiếm khoảng 30% Kết qủa cho biết ở Việt Nam có 3.948 loài thựcvật bậc cao, bậc thấp và nấm lớn được dung làm thuốc Hiện nay trên phạm vitoàn quốc hiện có 730 giống cây thuốc được bảo tồn Tuy nhiên một số loài câythuốc có giá trị kinh tế và chữa bệnh cao như ngũ gia bì, vàng đắng, ba kích, bìnhvôi, nhân trần… trước kia vẫn còn khá phong phú nhưng đến nay bị suy giảmnghiêm trọng Nguyên nhân là do chúng ta khai thác một cách ồ ạt, không có kếhoạch và chưa chú ý đến tái sinh, bảo vệ rừng làm nguồn cây thuốc ở Việt Nam

bị tàn phá nhanh và sớm cạn kiệt Theo Viện Dược liệu, Bộ Y tế, hiện ở ViệtNam có khoảng 600 loài cây thuốc quý hiếm đang có nguy cơ bị tuyệt chủng.Hiện nay, ở Thừa Thiên Huế vấn đề khai thác và sử dụng cây thuốc namrất nhiều và phổ biến như cây nhân trần, kim tiền thảo,…, vì khai thác quánhiều mà không có giải pháp tái sinh, phát triển nguồn dược liệu nên trongtương lai có khả năng sẽ thiếu hụt nguồn dược liệu đặc biệt là nhân trần

Do vậy việc phát triển cây dược liệu thông qua phục hồi và gây trồng làmột vấn đề tất yếu trong tương lai, nhằm bảo tồn và phát triển cây thuốc dân tộc

cổ truyền Việt Nam, thỏa mãn nhu cầu sử dụng của người dân, đồng thời tạothêm sinh kế cho người dân địa phương

Trước đây đã có một số nghiên cứu liên quan đến cây nhân trần và đãnghiên cứu thành công, cụ thể như là nghiên cứu của Tác giả Phan Thanh Hiền(SV Trường ĐH Nông Lâm Huế) về đặc điểm hình thái, sinh trưởng của một sốloài và xuất xứ nhân trần sưu tập được tại thành phố Huế Theo nghiên cứu củaTác giả Phan Thanh Hiền thì ở tỉnh Thừa Thiên Huế có 2 loài nhân trần: nhân

trần núi (Adenosma cearulea R.Br) và nhân trần cát ( Andenosma indiana

(Lour.) Merr).

Hiện nay trên thị trường Thừa Thiên Huế cây dược liệu nhân trần được thumua ngày càng nhiều và được sử dụng khá phổ biến Nhận thấy được nhu cầucủa thị trường, đồng thời thấy được tiềm năng về phát triển cây thuốc ở huyện

Trang 12

vùng cát Quảng Điền, vì Quảng Điền có nhiều loài cây dược liệu ở ngoài tựnhiên, nguồn tài nguyên đất đai chưa được khai thác hết và có tiềm năng đểphát triển kinh tế nhờ cây thuốc.

Xuất phát từ những thực tế đó chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu :

“Bước đầu tìm hiểu khả năng nhân giống và gây trồng cây nhân trần núi tại vùng đất cát nội đồng huyện Quảng Điền tỉnh Thừa Thiên Huế ”.

Trang 13

PHẦN II TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Tổng quan về cây thuốc trên thế giới

2.1.1 Giá trị sử dụng và tầm quan trọng của cây thuốc đối với đời sống con người

Theo Ban Thư ký Công ước về đa dạng sinh học, doanh số toàn cầu củacác sản phẩm dược thảo ước tính tổng cộng có đến 80 tỷ USD vào năm 2002 vàchủ yếu ở thị trường Châu Mỹ, Châu Âu và Châu Á

Vì vậy quốc gia nào cũng có chương trình điều tra nguồn tài nguyêndược liệu trong kế hoạch bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học của đất nướcmình Đối với những nước vốn có nền y học cổ truyền như Trung Quốc, Ấn Độ

và các nước thuộc khu vực Đông Nam Á vẫn thường xuyên có những kế hoạchđiều tra và tái điều tra với các quy mô, phạm vi và mục tiêu khác nhau

2.1.2 Hiện trạng tài nguyên cây thuốc trên thế giới

Thế giới ngày nay có hơn 35.000 loài thực vật được dùng làm thuốc.Khoảng 2.500 cây thuốc được buôn bán trên thế giới Có ít nhất 2.000 cây thuốcđược sử dụng ở châu Âu, nhiều nhất ở Đức - 1.543 loài Ở Châu Á có 1.700 loài

ở Ấn Độ, 5.000 loài ở Trung Quốc Trong đó, có đến 90% thảo dược thu háihoang dại Do đòi hỏi phát triển nhanh hơn sự gia tăng sản lượng, các nguồn câythuốc tự nhiên bị tàn phá đến mức không thể cưỡng lại được, ước tính có đến50% số loài đã bị thu hái cạn kiệt Hiện nay, chỉ có vài trăm loài được trồng, 20-

50 loài ở Ấn Độ, 100-250 loài ở Trung Quốc, 40 ở Hungari, 130-140 ở Châu

Âu Những phương pháp trồng truyền thống đang dần được thay thế bởi cácphương pháp công nghiệp ảnh hưởng tai hại đến chất lượng của nguồn nguyênliệu này

May thay, những vấn đề này đã được cộng đồng thế giới quan tâm Năm

1993, WHO (Tổ chức Y tế thế giới), IUCN (Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên và Tàinguyên thiên nhiên Quốc tế ) và WWF (Quỹ hoang dã thế giới) ban hành cáchướng dẫn cho việc bảo vệ và sự khai thác cây thuốc được cân bằng với sự camkết của các tổ chức

Thấy được tầm quan trọng của việc phải bảo tồn và phát triển nguồn tàinguyên cây thuốc, và đáp ứng lời kêu gọi của các tổ chức trên, rất nhiều nước trong

đó có các nước đang phát triển với những điều kiện kinh tế xã hội gần tương đồng

Trang 14

với nước ta cũng đã xây dựng những Vườn bảo tồn cây thuốc (VBTCT) là cácquốc gia như: Guatemala, Nepal, Trung Quốc và Ần Độ, Ai Cập, Nam Phi(Ricupero, R (1998), "Biodiversity as an engine of trade and sustainabledevelopment" POEMA tropic, No 1, January-July, pp 9-13).

Một ví dụ: đó là vườn Bảo tồn cây thuốc Pichandikulam ở vùng ven biểnphía Nam của Ấn Độ Nơi tập hợp của 440 loài thực vật trong đó có gần 340 câythuốc Trong VBTCT có một trung tâm trong đó có nhà bảo tàng trưng bày hìnhảnh, mẫu vật của 240 loài cây thuốc, thư viện sách tham khảo, tài liệu nghiêncứu, cơ sở dữ liệu về cây thuốc lưu trên máy tính Trung tâm này là nơi giảngdạy, tuyên truyền về bảo tồn nhân giống, cách sử dụng, trồng trọt, thu hái câythuốc Một vườn ươm nhân giống các cây thuốc đang có nguy cơ tiệt chủng.Một khu vực khác với gần 300 loài cây là nơi lưu giữ, bảo tồn (ngân hàng gen)đồng thờiphục vụ cho mục đích tham quan, du lịch Và cuối cùng là khu vực tậptrung khoảng 100 loài cây thuốc được trồng và thu hái cho nhu cầu chữa bệnhcủa người dân

2.1.3 Hoạt động bảo tồn cây thuốc trên thế giới

Trên phạm vi toàn thế giới, các Tổ chức cộng đồng đã có nhiều nỗ lực và hànhđộng chung nhằm bảo tồn đa dạng sinh học nói chung cũng như cây thuốc nói riêng

Năm 1993, Tổ chức Y tế thế giới WHO đã phối hợp với Hiệp hội Bảo tồnthế giới IUCN và Quỹ Thiên nhiên toàn thế giới WWF xuất bản cuốn tài liệu

“Hướng dẫn bảo tồn cây thuốc” (Guidelines on The Conservation of MedicinalPlants) để các quốc gia vận dụng vào điều kiện riêng của mình triển khai côngtác bảo tồn cây thuốc Hiện nay, ước tính có khoảng 2000 vườn thực vật trêntoàn thế giới, phần lớn nằm ở Tây Âu (500 vườn) và Bắc Mỹ (350 vườn) Châu

Á có khoảng 300 vườn thực vật, chủ yếu ở Trung Quốc và Ấn Độ Có thể nêu ranhững khu vườn nổi tiếng dưới đây

Vườn thuốc Chelsea (Anh) Vườn thuốc Chelsea do Hội Bào chế thuốc

thành lập năm 1673, với mục đích nghiên cứu giá trị các loại cây thuốc và tăngcường nghiên cứu về thực vật ứng dụng trong y học Trong suốt thế kỷ 17, nơiđây trở thành một trong những trung tâm quan trọng nhất về thực vật và trao đổicây trên thế giới Đây là vườn thực vật cổ nhất London và là vườn lâu đời thứ 2

ở nước Anh, nhưng vẫn đáp ứng đầy đủ chức năng nghiên cứu khoa học, bảo tồncây cỏ, giáo dục Năm 1876, vườn đã mở rộng quy mô đào tạo bằng cách tổchức các khóa học cho các phụ nữ trẻ, những người được đào tạo để trở thànhcác giáo viên ngành thực vật Năm 1983, vườn đã đăng ký là một tổ chức từ

Trang 15

thiện và là vườn cây thuốc đầu tiên mở ra công chúng Vườn thuốc Chelseađược ghi nhận đã xúc tiến thành công các hoạt động đào tạo, bảo tồn và nghiêncứu khoa học Vườn thuốc Chelsea cũng đã khởi xướng dự án Dược dân tộc họcvới sự tham gia của Vườn thực vật hoàng gia Anh ở Kew, dự án Eden, Vườnthực vật hoàng gia Edinburgh và Bảo tàng Lịch sử tự nhiên, cùng thu thập dữliệu về các bài thuốc từ cây cỏ đã được sử dụng lâu năm ở Anh.

Vườn thực vật Missouri (Hoa Kỳ) Được thành lập năm 1859, sứ mệnh

của vườn Misssouri là “Khám phá và chia sẻ tri thức về cây thuốc và môi trường

để giữ gìn và làm giàu cho cuộc sống” Vườn là trung tâm nghiên cứu về thựcvật và khoa học, giáo dục, nằm biệt lập như một ốc đảo ở thành phố St Louis,bang Missouri của Hoa Kỳ Vườn gồm 32 hécta khu trưng bày tuyệt đẹp, baogồm vườn đi dạo Nhật Bản, ngôi nhà cổ từ năm 1850 của Henry Shaw và bộ sưutập lớn nhất thế giới về các loài lan quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng Vườnthực vật Missouri có đội ngũ nhân viên lớn những người có bằng cấp cao thamgia vào các hoạt động nghiên cứu khoa học và các chương trình bảo tồn ở 35nước trên thế giới về bảo tồn và phát triển các loài cây có giá trị tiềm năng.Vườn đã có những cam kết rất chặt chẽ về sử dụng có trách nhiệm và bền vữngtất cả các nguồn tài nguyên cây cỏ

Vườn cây thuốc Quảng Tây (Trung Quốc) Vườn cây thuốc Quảng Tây

được thành lập năm 1959 trên diện tích 202 hécta Đây là vườn cây thuốc lớnnhất ở Trung Quốc, lưu giữ hơn 2.400 loài cây cỏ làm thuốc Khu vườn đượcchia thành 7 khu vực trưng bày, bao gồm: Các thảo dược đặc biệt ở Quảng Tây,

Y học điều trị, Khu thực vật dưới bóng, Khu cây gỗ, Khu cây cỏ, Khu dây leo vàKhu động vật làm thuốc.Vườn cây thuốc Quảng Tây có 141 cán bộ khoa học và

kỹ thuật viên, 30 chuyên gia cao cấp và 43 chuyên gia có trình độ Nhiệm vụchính của vườn là: Hiện đại hóa thuốc y học cổ truyền; nghiên cứu, trồng trọtcây thuốc; bảo tồn các loài cây thuốc hiếm và bị đe dọa có nguồn gốc từ QuảngTây; nghiên cứu kỹ thuật nhân giống, chọn lọc loài/giống có nguồn gốc xuất xứtốt; hỗ trợ kỹ thuật cho thực hành tốt trồng trọt cây thuốc theo tiêu chuẩn QuảngTây thông qua nghiên cứu dược liệu

2.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở Việt Nam

2.2.1 Các nghiên cứu về cây thuốc Việt Nam

Cho đến nay, Việt Nam vẫn được đánh giá là nước có nguồn tài nguyênsinh vật đa dạng và phong phú, có khoảng 10% số loài đặc hữu, được xếp thứ 16trong 25 quốc gia có mức độ đa dạng sinh vật cao nhất thế giới Riêng thực vật

Trang 16

bậc cao có mạch ở Việt Nam đã thống kê được 10.386 loài, thuộc 2.257 chi, 305

họ, chiếm khoảng 4% tổng số loài, 15% tổng số chi và 57% tổng số họ của thếgiới Theo các nhà phân loại thực vật, ở Việt Nam có khoảng 12.000 loài thựcvật bậc cao Trong số này có 3.948 loài được dùng làm thuốc (Viện Dược liệu,2007), chiếm khoảng 37% số loài đã biết Nếu so với khoảng 20.000 loài câylàm thuốc đã biết trên thế giới (IUCN, 1992) thì số loài cây thuốc ở Việt Namchiếm khoảng 19% Đó là chưa kể đến những cây thuốc gia truyền của 53 dântộc thiểu số ở Việt Nam mà cho đến nay chúng ta mới chỉ biết được một phần.Ngoài thực vật hoang dã, các nhà khoa học nông nghiệp đã thống kê được 1.066

loài cây trồng, trong đó cũng có 179 loài cây làm thuốc (Đ.H.Dật, 2008).

Với một hệ thực vật như vậy, thành phần các loài cây thuốc cũng rất phongphú và đa dạng Chúng phân bố tập trung chủ yếu ở các trung tâm đa dạng sinhvật, trong đó có khu vực dãy Trường Sơn Cho đến nay, chúng ta chưa có danhsách đầy đủ về số loài, sự phân bố và trữ lượng của cây thuốc ở khu vực rộng lớnnày Các số liệu điều tra thực vật suốt thời gian qua còn nằm rải rác trong hồ sơ củacác cơ quan nghiên cứu, các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên Điều nàygây khó khăn cho việc đánh giá toàn diện giá trị của cây thuốc trong khu vực dãyTrường Sơn, để phục vụ cho việc bảo tồn, khai thác bền vững và sử dụng hiệu quảnguồn tài nguyên quý giá này

Theo kết quả điều tra của Viện dược liệu trong thời gian 2002-2005, sốloài cây thuốc ở một số vùng núi trọng điểm thuộc các tỉnh gắn với dãy TrườngSơn như sau: Đắc Lắk (751 loài), Gia Lai (783 loài), Kon Tum (841 loài), LâmĐồng (756 loài) Gần đây, Hội Đông y huyện M’Đrắc (tỉnh Đắc Lắk), đã phát hiệntại vùng rừng núi của các xã Ea M’Đoan, Ea Mlay, Krông Á và Ea Trang có khá

nhiều loại cây thuốc phân bố khá tập trung như Thạch xương bồ (Acorus

gramineus), Thổ phục linh (Smilax glabra), Kim ngân (Lonicera spp.), Hoàng

đằng (Fibraurea recisa), Cốt toái bổ (Drynaria fortunei), Củ bình vôi (Stephania spp.), Cẩu tích (Cibotium barometz), Riềng rừng (Alpinia sp.), Thiên niên kiện (Homalomena occulta), vv Ở khu vực Chư Yang Sin (huyện Krông Bông và Lắc),

người ta cũng đã phát hiện một số loài cây thuốc như Kê huyết đằng, Nhân trần

(Adenosma caeruleum), Ngũ gia bì chân chim (Schefflera spp.), Sa nhân (Amomum villosum), Đảng sâm (Codonopsis javanica), Ba gạc hoa đỏ (Rauvolfia

serpentina) và đặc biệt cây Ngũ vị tử Ngọc Linh (Schisandra sphenanthera).

Trong đó, một số loài có trữ lượng khá lớn (Nhân trần) (Nguồn: Trần Công

Khánh, Trung tâm nghiên cứu và phát triển cây thuốc dân tộc cổ truyền

Trang 17

(CREDEP), 13/11/2009).

2.2.2 Tình hình sử dụng cây thuốc ở Việt Nam

Từ trước đến nay, nhiều địa phương trong nước ta đã có truyền thốngtrồng cây thuốc, như Quế (ở Yên Bái, Thanh Hoá, Quảng Nam, Quảng Ngãi…),Hồi (ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lai Châu), Hoè (ở Thái Bình), vv Cónhững làng chuyên trồng cây thuốc như Đại Yên (Hà Nội), Nghĩa Trai (VănLâm, Hưng Yên) Gần đây, nhiều loài cây thuốc ngắn ngày cũng được trồngthành công trên quy mô lớn như Ác ti sô, Bạc hà, Cúc hoa, Địa liền, Gấc, Hươngnhu, Ích năm 2002, tổng diện tích rừng có trồng Thảo quả ở Việt Nam là 1.626 ha.Trong đó, riêng tỉnh Lào Cai có 1.500 ha Trung bình, mỗi hecta trồng Thảo quảcho 250 kg/năm; giá bán như hiện nay khoảng 60.000 đến 70.000 đ/kg, thì thuđược khoảng 15 - 17,5 triệu đồng/ha/năm Thu nhập từ Thảo quả của một hộ giađình ở Bản Khoang vào khoảng 5.170.000 đồng/năm, tương đương 345 USD(2001) Nguồn thu nhập này chiếm khoảng 50% tổng thu nhập của hộ Đó cũng làmột khoản thu nhập đáng kể của người dân ở miền núi

Theo tổng kết ở Sa Pa, thu nhập từ trồng cây thuốc đạt 14 - 24 triệu đồng/ha/năm, trong khi thu nhập từ cây lương thực chỉ đạt 2,4 - 4,8 triệu đồng/ha/năm[12]

Việc bảo tồn nguồn gen cây thuốc được tiến hành dưới hình thức bảo tồn

đa dạng sinh học tại các vườn quốc gia, khu bảo tồn,

Với những đặc điểm về điều kiện tự nhiên và khí hậu đã tạo nên mức độ đadạng sinh học về khu phân bố, chủng loại tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam TheoTrung tâm tài nguyên và môi trường (Đại học quốc gia Hà Nội) trong Tập I

“Danh lục các loài thực vật Việt Nam” (năm 2000) đã thống kê được 368 loài Vikhuẩn lam, 2.200 loài Nấm, 2.176 loài Tảo, 481 loài Rêu, 1 loài Quyết lá thông,

51 loài Thông đất, 2 loài cỏ Tháp bút, 691 loài Dương xỉ và 69 loài Hạt trần; tập

II (năm 2003) thống kê được 184 họ, 1.114 chi, và 5.523 loài Thực vật hạt kín

Từ 1997, Bộ Y tế hàng năm cấp kinh phí cho “Dự án Bảo tồn cây thuốc

cổ truyền” trong khuôn khổ “Chương trình hỗ trợ hoạt động của ngành” Kếtquả của chương trình này đã ghi nhận tại một số địa phương nhiều loài câythuốc mới cùng với tri thức y học cổ truyền của đồng bào dân tộc

Trong số tài nguyên thực vật làm thuốc Việt Nam đã thống kê, có 136 loàithuộc 81 chi của 55 họ là những loài cây thuốc cần được bảo vệ Đó là những

Trang 18

cây thuốc quý về giá trị sử dụng, giá trị nguồn gen do hiếm gặp hoặc đặc hữu;giá trị sử dụng cao nên thường xuyên bị tìm kiếm khai thác; một số loài khác tuychưa bị khai thác nhưng thuộc nhóm có nguy cơ cao do số lượng cá thể ít Vềtiêu chí xếp hạng nguy cấp, nhóm cực kỳ nguy cấp (CR) có 18 loài như Sâm vũdiệp, Tam thất hoang, Hoàng liên, Thanh mộc hương,…; nhóm đang bị nguycấp (EN) có 42 loài như Hoàng liên gai, Hoàng tinh vòng, Bát giác liên,… vànhóm sắp bị nguy cấp (VU) có đến 76 loài[13].

Cùng với sự phát triển của lịch sử, kinh nghiệm dân gian về sử dụng thuốc

ở Việt Nam ngày càng trở nên phong phú, hiệu nghiệm, gắn liền với tên tuổi củanhiều vị danh y nổi tiếng như Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông

Tuệ Tĩnh đã viết nhiều sách thuốc và phương pháp chữa bệnh Rất tiếc,

nhiều công trình quý giá của ông đã bị mai một, hiện chỉ còn sót lại hai bộ Nam

dược thần hiệu đề cập đến 496 vị thuốc nam và bộ Hồng Nghĩa giác tư y thư

gồm 600 vị thuốc ở Việt Nam và cách sử dụng

Kế thừa Nam dược thần hiệu của Tuệ Tĩnh vào thế kỷ XVII Lê Hữu

Trác (Hải Thượng Lãn Ông) đã bổ sung thêm 329 vị thuốc nam nữa làm thành

bộ sách "Lĩnh nam bản thảo" Với sự nghiệp y học vĩ đại, Tuệ Tĩnh và Hải

Thượng Lãn Ông đã được người đời nay tôn vinh và những "ông tổ" của nền ydược học Việt Nam

Sau Hải Thượng Lãn Ông, từ thế kỷ 18 đến thế kỷ 19, dưới triều vuaQuang Trung và triều Nguyễn cũng đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu

về cây thuốc Việt Nam, trong đó, hiện còn lưu lại được những cuốn như Nam

dược và Nam dược chỉ danh truyền của Nguyễn Quang Tuân đã ghi chép tỷ mỉ

về 500 vị thuốc nam theo kinh nghiệm dân gian, hoặc cuốn Nam dược tập

nghiệm quốc âm của Nguyễn Quang Lượng, hay Nam thiên đức bảo toàn thư

của Lưu Ðức Huệ, v.v

Với chủ trương kết hợp chặt chẽ giữa y học hiện đại và y học cổ truyềncủa dân tộc, đặc biệt là tri thức bản địa của các cộng đồng người dân tộc trong

sử dụng cây cỏ làm thuốc bồi bổ cơ thể và thuốc chữa bệnh, ngay sau hòa bìnhlập lại ở miền Bắc (1954) và giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1975),chúng ta đã có nhiều nỗ lực, đầu tư điều tra, nghiên cứu về tài nguyên cây thuốcnhằm khai thác, sử dụng phục vụ sự nghiệp chăm sóc sức khỏe cho nhân dân

Trước đó, vào năm 1952, các nhà thực vật học và tài nguyên thực vật họcPháp cho biết, trên bán đảo Ðông Dương có 1.350 loài cây thuốc thuộc 160 họ

Trang 19

Hiện nay, theo Võ Văn Chi, con số này đã lên tới gần 3.200 loài thuộc 1.200 chicủa trên 300 họ, nghĩa là hầu hết các họ trong hệ thực vật Việt Nam, ít hoặcnhiều đều có một số loài có thể sử dụng làm thuốc Tuyệt đại đa số các loài làcây thuốc được sử dụng theo kinh nghiệm lâu đời của cộng đồng các dân tộcViệt Nam.

Từ năm 1960 đến nay, hàng năm có tới hơn 200 loài cây thuốc đượcthương mại hóa Chúng được khai thác từ nguồn tự nhiên hay trồng trọt với khốilượng lên tới 100.000 tấn/năm Một số địa phương như Phú Thọ, Vĩnh Phúcnhững năm trước đây thường xuyên thu mua 10 loại dược liệu là Ba kích, Sanhân, Thiên niên kiện, Ngũ gia bì, Chân chim, Lạc tiên, Thổ phục linh, Dạ cẩm,Thảo quyết minh, Ích mẫu, Nhân trần, Bồ bồ Nhiều trong số các loài cây thuốcvừa nêu, không chỉ phục vụ nhu cầu địa phương, trung ương mà còn xuất khẩuqua Trung Quốc

Không chỉ đáp ứng nhu cầu dược liệu từ nguồn cây thuốc trong nước,hằng năm nhiều loại dược liệu và tinh dầu quý như Sa nhân, Thảo quả, Quế,Hồi, Ba kích, Sả, Hương nhu, Bạc hà, Màng tang, v.v thường xuyên được xuấtkhẩu với giá trị từ 30-50 triệu USD/năm [13]

Cho dù con số thống kê về số loài cây thuốc, số lượng dược liệu đượckhai thác hàng năm cũng như giá trị kinh tế do nguồn cây thuốc mang lại chưathật chính xác, nhưng rõ ràng ở nước ta cây thuốc đã có một vị trí hết sức quantrọng trong việc cung cấp thuốc chữa bệnh cho nhân dân (nhất là đồng bào cácdân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa), đặc biệt là trong những năm chiến tranhchống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược

Hiện nay, xu hướng sử dụng cây thuốc chữa bệnh theo y học dân tộc cổtruyền ở Việt Nam đang ngày càng được nhiều tầng lớp nhân dân tin dùng.Ðảng, Nhà nước, Chính phủ cũng rất quan tâm Mặc dù vậy, việc sưu tầm nhữngkinh nghiệm dân gian trong sử dụng cây thuốc phục vụ cuộc sống con ngườichưa được tiến hành có hệ thống, nhiều bài thuốc hay, nhiều cây thuốc quý cóthể đã bị thất truyền Sự thất truyền cũng dễ xảy ra khi những người biết câythuốc không chịu truyền cho người khác, ngay cả cho con cháu trong dòng họ

Hiện đã tập hợp được 39.381 bài thuốc kinh nghiệm dân gian gia truyềncủa 12.531 lương y Nhiều dược phẩm được phát triển gần đây dựa trên tri thức

sử dụng của cộng đồng như Ampelop, dựa trên tri thức sử dụng cây Chè dây

(Ampelopsis cantoniensis Hook Et Arn.) để chữa bệnh của người Tày ở Cao

Trang 20

Bằng; cây Tật lê (Tribulus terrestris L.), dựa trên tri thức sử dụng của người

Chăm, vv Trong các nền y học nhân dân, mỗi cộng đồng miền núi (cấp xã)thường biết sử dụng từ 300 - 500 loài cây cỏ sẵn có trong khu vực để làm thuốc.Mỗi gia đình biết sử dụng từ vài đến vài chục cây để chữa các chứng bệnh thôngthường ở cộng đồng đó Mỗi cộng đồng thường có 2 - 5 thầy Lang có kinhnghiệm sử dụng và sử dụng số loài nhiều hơn

Từ nhiều năm nay, nhất là những năm gần đây, trong cơ chế thị trường,rất nhiều loài cây thuốc quý của nước ta đã bị khai thác quá mức, bán bừa bãi ranước ngoài Người dân miền núi, những chủ nhân của các nguồn tài nguyên đóchẳng những không được hưởng lợi một cách xứng đáng, mà ngay cả nhữnghiểu biết có tính gia truyền - những tri thức bản địa của họ cũng bị xâm phạm

Nếu so với toàn bộ nguồn tài nguyên thực vật ở Việt Nam thì cây thuốc lànhóm bị đe dọa gay gắt nhất Ðối chiếu với "Sách Ðỏ Việt Nam" tập II - Phầnthực vật, 1996, số loài cây thuốc đang có nguy cơ tuyệt chủng hoặc sắp bị đedọa tuyệt chủng cũng chiếm tỷ lệ khá cao

Năm 1962, GS Đỗ Tất Lợi đã cho công bố bộ sách Những cây thuốc và vị

thuốc Việt Nam (hay Dược liệu học và các vị thuốc Việt Nam) Đây là một bộ

sách lớn, lần xuất bản đầu tiên (1962-1965) được in 10.000 cuốn, chia làm 6 tập,tổng cộng dày 1.494 trang và được tái bản nhiều lần Bộ sách đã giới thiệu hơn

750 vị thuốc, gồm 164 cây thuốc, 77 vị thuốc động vật, 20 vị thuốc khoáng vật.Mỗi loại đều có tên khoa học, tên tiếng Việt và tên chữ Hán, những đặc tínhchung, mô tả quá trình phân phối, thu hoạch, chế biến, thành phần hoá học vàcông dụng, liều dùng Cuốn sách bao gồm cả những loại thuốc mà các nhà khoahọc đã xác minh cơ chế, lẫn cả những loại được kiểm chứng hiệu nghiệm trongthực tế nhưng vẫn chưa được nghiên cứu rõ ràng

GS.TS Võ Văn Chi là tác giả và đồng tác giả của hàng loạt tác phẩm như:

Từ điển Cây thuốc Việt Nam (NXB Y học - 1997) giới thiệu hơn 3.000 cây

thuốc, Từ điển Thực vật và khoáng vật làm thuốc Việt Nam (NXB Y học 1998), Từ điển Thực vật thông dụng (2 tập, NXB Khoa học - 2003, 2004), Cây

-cỏ có ích ở Việt Nam (NXB Giáo dục, 1999 - 2001), Sách tra cứu tên cây -cỏ Việt Nam (NXB Giáo dục, 2007), Cây rừng chữa bệnh, Hệ cây thuốc Tây Nguyên, Cây thuốc Đồng Tháp Mười và cách dùng để trị bệnh thông thường, Cây rau làm thuốc, Rắn làm thuốc và điều trị rắn cắn, 200 cây thuốc thông dụng, Từ điển động vật và khoáng vật làm thuốc Việt Nam

Trang 21

Tác giả cũng đã xây dựng và xuất bản cuốn Dược liệu Việt Nam (1969

-1972) gồm 341 dược liệu trong nước, 74 dược liệu nhập ngoại, 3 chuyên luậnchung về trồng cây thuốc, chế biến, bào chế, bảo quản thuốc cổ truyền dân tộc.Trong bước này đã thống nhất chọn tên chính, tên khoa học, tên khác của câythuốc hoặc bộ phận dùng làm thuốc, mô tả, hình vẽ bộ phận dùng của dược liệu,

tính vị, công dụng, liều dùng, cách dùng Cuốn Dược liệu Việt Nam đã được

xuất bản 2 lần, lần thứ nhất là 5.000 cuốn và lần thứ hai là 12.000 cuốn

Trần Công Khánh với công trình "150 loài cây thuốc độc ở Việt Nam" đã

mô tả đặc điểm nhận biết để phân biệt các loài cây độc này cũng như đặc điểmphân bố và khả năng sử dụng chúng trong vấn đề chữa bệnh hay làm thuốc trừsâu bệnh hại cho cây trồng

Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Diệp (1998) với công trình “Góp phần điều tra

cây thuốc của người Dao ở Vườn quốc gia Ba Vì” đã đưa ra được danh lục một

số loài cây thuốc chủ yếu mà người Dao thu hái, nhưng chủ yếu là tên địaphương và tác giả đã đi sâu phân tích quy trình chế biến thuốc từ vật liệu là câyrừng đã thu được

Trần Văn Ơn (1999) đã đưa ra kết quả tổ chức chọn lọc một số hộ tham giasưu tầm hom giống cây thuốc từ rừng về ươm tại nhà với sự hỗ trợ của dự án cây

thuốc (Báo cáo về “Thử nghiệm nhân giống cây thuốc bằng hom tại Ba Vì”)

Trần Khắc Bảo (1994) trong “Phát triển cây dược liệu ở Lào Cai và Hà

Giang” đã đề cập đến các vấn đề về chế biến, bảo quản và phát triển cây thuốc ở

địa bàn nghiên cứu

Mai Văn Phô, Lê thị Hồng Nguyệt (2001) và Trần Thiện Ân, Huỳnh VănKéo (2005) đã tiến hành nghiên cứu về kiến thức bản địa trong việc sử dụng tàinguyên cây thuốc của đồng bào dân tộc Cơtu và dân tộc Mường tại vùng đệmVQG Bạch Mã thuộc hai huyện Nam Đông và Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế

Mới đây tại Thừa Thiên Huế đã phát hiện 130 loài thuốc nam có giá trị.Đây là kết quả nghiên cứu của Trường Đại học Nông Lâm Huế trong quá trìnhtriển khai mô hình phát triển cây thuốc nam trên đất rừng được giao tại huyệnNam Đông, thuộc vùng đệm Vườn Quốc gia Bạch Mã Tuy nhiên, người dân địaphương hiện mới chỉ biết sử dụng 62 loài làm dược liệu[10] Nhằm bảo tồn vàphát huy nguồn dược liệu có giá trị phục vụ chữa bệnh tại chỗ, sử dụng làm hànghóa và nghiên cứu khoa học, Trường Đại học Nông Lâm Huế bước đầu chọn 28hộ gia đình có vườn, rừng thuộc xã Hương Phú (Nam Đông) để phát triển môhình, gắn với mục đích nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống người dân vùng núi

Trang 22

Năm 2006, nhóm tác giả Lê Thị Diên, Trần Minh Đức, Đỗ Xuân Cẩm,Dương Viết Tình, Nguyễn Viết Tuân ở Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại học

Nông Lâm Huế biên soạn cuốn sách “Kỹ thuật gây trồng và bảo tồn một số loài

cây thuốc nam” nhằm bảo tồn và phát triển nguồn dược liệu, cung cấp cho người

dân những thông tin về đặc điểm nhận biết, kỹ thuật gây trồng cũng như sơ chếmột số loài cây thuốc Nam có giá trị kinh tế, giúp người dân nâng cao thu nhập

từ rừng

2.2.3 Hiện trạng tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam

Là một trong những quốc gia có nguồn tài nguyên cây thuốc rất phongphú và đa dạng nhưng Việt Nam lại đang phải đối mặt với tình trạng suy giảmtrầm trọng nguồn dược liệu do hoạt động khai thác và buôn bán tự phát tại nhiềuđịa phương Điều đáng ngại hơn cả là tình trạng nhiều thương lái trong và ngoàinước lợi dụng sự thiếu hiểu biết của bà con ở vùng sâu, vùng xa để thu gom vàbán số lượng lớn cây thuốc qua biên giới với giá rẻ mạt Hoạt động này khôngchỉ đơn thuần làm cạn kiệt nguồn tài nguyên vốn dồi dào mà còn làm mất đinhiều giá trị tri thức bản địa quý giá, gây thiệt hại lớn về kinh tế đối với quốc gia

và địa phương

Theo tài liệu từ Viện Dược liệu Trung ương, Bộ Y tế, hiện chúng ta đãphát hiện được hơn 3.900 loài cây thuốc, trong đó có 144 loài cây thuốc quýhiếm được đưa vào Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam, nhiều loài đồng thời cònđược ghi trong Sách Đỏ Việt Nam Đặc biệt có một số loài được ghi trong Nghịđịnh số 32/2006/CP của Chính phủ như: Bắc xanh, Pơmu, Du sam núi đá, Thông

đỏ Bắc, Sa mộc dầu, các loài Tế tân, Tam thát hoang, Vù hương, Hoàng đằng,Thổ Hoàng Liên…

Tuy nhiên, “nguồn “vàng xanh” của chúng ta ngày càng bị thất thoát và cónguy cơ cạn kiệt Chỉ tính riêng tại một số điểm giáp biên thuộc tỉnh Cao Bằng,mỗi năm có ít nhất từ 300.000 đến 500.000 tấn dược liệu bị khai thác và bán quabiên giới, chủ yếu là bán sang Trung Quốc Và trong hơn 20 năm qua, số dượcliệu tươi và khô chảy qua biên giới đã lên tới trên dưới 10 triệu tấn” - Bác sĩHoàng Văn Bé, Chủ tịch Hội Đông y Cao Bằng cho biết

2.2.3.1 Vùng phân bố tự nhiên của các loài cây thuốc bị thu hẹp

Trong quá trình điều tra dược liệu của Viện Dược liệu từ năm 1970

-1990 đã phát hiện nhiều vùng rừng có cây thuốc phong phú nay đã hoàn toàn bịphá bỏ Như vùng núi Hàm Rồng (Sa Pa - Lào Cai) vào những năm 1972 - 1973

là một khu rừng rậm rạp, nhiều loài cây thuốc quí như Sâm vũ diệp (Panax

Trang 23

bipinnatifidus), Tam thất hoang (Panax stipuleanatus), Hoàng liên gai (Berberis julinae)… nhưng đến năm 1985, rừng ở đây đã bị phá hủy để trồng Ngô và các

loại cây trồng khác Tình trạng này cũng có thể thấy ở vùng rừng với hàng ngànhecta ở tiểu cao nguyên An Khê (thuộc tỉnh Gia Lai và Bình Định), trước kia

vốn là trung tâm phân bố lớn nhất Việt Nam của cây Vàng đắng (Coscinium

fenestratum) - là nguyên liệu chiết berberin, hiện đã nằm dưới lòng hồ chứa

nước của thủy điện Vĩnh Sơn Bên cạch đó, còn rất nhiều vùng phân bố tự nhiêncủa các loài cây thuốc quí như Sâm ngọc linh, Thiên niên kiện, Cốt khí củ, Bakích, Đảng sâm, Hoàng đằng, Ngũ gia bì chân chim cũng bị thu hẹp do nạnphá rừng và mất rừng[13]

Đối với các cây thuốc trồng nhìn chung cũng nằm trong tình trạng tương

tự Đó là sự thu hẹp đáng kể, thậm trí biến mất một số vùng trồng cây thuốctruyền thống Nhiều cây thuốc nam như Hương nhu tía, Đậu ván trắng, Ý dĩ,Ngải máu, Tam thất gừng, Đậu ván trắng…đang có xu hướng bị lãng quên.Nhiều giống và loài cây thuốc nhập nội đã từng được đưa vào sản xuất đại trà ởnước ta, nay lại phụ thuộc vào nhập khẩu, nên chúng ta đã và đang bị mất dầncác giống dược liệu…

Từ sự xói mòn về nguồn gen và nhiều nguyên nhân khác cũng đã kéotheo sự mất mát và lãng quên dần vốn tri thức bản địa của cộng đồng trong việc

sử dụng các loại dược liệu truyền thống

2.2.3.2 Sự giảm sút nhanh chóng khả năng khai thác những loài cây thuốc và động vật làm thuốc có nhu cầu sử dụng cao

Hiện nay, nguồn tài nguyên cây thuốc không còn nguyên vẹn nữa Đó là

do việc khai thác ồ ạt và nạn phá rừng làm nương rẫy đã dẫn đến tình trạngnguồn cây thuốc ở Việt Nam ngày càng cạn kiệt Ví dụ cây Vàng đắng

(Coscinium fenestratum), từ năm 1980 - 1990 tính trung bình khai thác từ 1.000

đến 2.500 tấn / năm Đến năm 1991 - 1995 chỉ còn 200 tấn / năm Và từ 1995đến nay, về cơ bản ở Việt Nam không còn Vàng đắng để khai thác nữa Hay một

số cây có nhu cầu sử dụng và kinh tế cao như Ba kích (Morinda officinalis), Đảng sâm (Codonopsis javanica), các loài Hoàng tinh thuộc chi Disporopsis và

Polygonatum, Bình vôi (Stephania spp.)… vốn phân bố khá phổ biến ở các tỉnh

miền núi phía bắc, nhưng đã bị suy giảm nghiêm trọng, nên đã được đưa vàoSách Đỏ Việt Nam và Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam

Hiện nay, theo thống kê mới nhất của Viện Dược liệu (2007), có 144 loàicây thuốc thuộc diện quí hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng cần được bảo tồn Trong

Trang 24

số đó có rất nhiều loài cây thuốc quí như Sâm ngọc linh (Panax vietnamensis), Sâm

vũ diệp (P bipinnatifidus), Tam thất hoang (P stipuleanatus), các loài Hoàng liên (Berberis spp.), Bách hợp (Lilium brownii), Biến hóa núi cao (Asarum balansae), Thanh mộc hương (Aristolochia tuberosa), Ba kích (Morinda officinalis), Đảng sâm (Codonopsis javanica)…

Nhận thức được vấn đề bảo tồn và phát triển những loài cây thuốc quí cótiềm năng, nhiều năm nay nhiều Bộ, ngành và các cơ quan đã đầu tư nghiên cứuphát triển một số cây dược liệu: Sâm ngọc linh, Bình vôi, Ba kích, Thông đỏ…

Và kết quả bước đầu thu được cũng rất khả quan

Vài dẫn chứng trên đây cho thấy, cây thuốc hay động vật làm thuốc dù cótrữ lượng lớn đến đâu chăng nữa, nếu chỉ biết khai thác mà không có tái tạo thìkết cục bị suy kiệt là tất yếu Ở các quốc gia phát triển, nguyên liệu cho côngnghiệp dược chủ yếu gây trồng hoặc nuôi sinh sản (động vật) Chất lượng dượcliệu hiện nay cũng là vấn đề lớn trong xã hội Nguyên nhân là do các yếu tố sau:Khai thác không đúng loài, khai thác không đúng thời vụ, chế biến bảo quảnkhông đạt yêu cầu, đặc biệt trong các cơ sở kinh doanh tư nhân

Tóm lại, nhận xét chung về tiềm năng và hiện trạng nguồn tài nguyên

động - thực vật làm thuốc ở Việt Nam là đặc biệt phong phú và đa dạng Tuynhiên, sự phong phú này cũng chỉ có giới hạn Chúng chỉ có thể thực sự trởthành tiềm năng lâu dài, nếu biết giữ gìn và khai thác một cách hợp lý Hơn nữa,đây lại là nhóm tài nguyên tái tạo được Vì thế, việc đẩy mạnh nuôi trồng là conđường phát triển tất yếu trong tương lai

2.2.4 Tiềm năng và tình hình khai thác sử dụng

Ngày nay, việc tìm kiếm các hoạt chất tự nhiên có hoạt tính sinh học cao đểlàm thuốc là một xu thế được rất nhiều các nhà khoa học quan tâm Việt Nam làmột quốc gia thuộc các vùng biển nhiệt đới - nơi chứa đựng đa dạng sinh học caochưa được khám phá Bên canh đó, cộng đồng các dân tộc ở nước ta củng có vốntri thức bản địa sử dụng các loài động vật, thực vật và khoáng vật làm thuốc.Hailĩnh vực này được các nhà khoa học cho là tiềm năng, trong việc tìm kiếm nghiêncứu tạo ra những loại thuốc mới, có hiệu lực điều trị cao trong tương lai

Theo kết quả điều tra của Viện Dược Liệu gần đây được ghi nhận được

3948 loài thực vật và nấm lớn có công dụng làm thuốc; 52 loài tảo biển, 408 loàiđộng vật và 75 loại khoáng vật có công dụng làm thuốc ở Việt Nam Kết quảnày củng đả cho thấy nguồn dược ở nước ta rất phong phú Con số này có thể sẽcòn tăng thêm, nếu đi sâu điều tra cụ thể hơn một số nhóm động -thực vật tiềm

Trang 25

năng,mà trong đó số loài Tảo, Rêu, Nấm và Côn trùng làm thuốc mới đượcthống kê còn quá ít.

Trong tổng số 3.948 loài cây thuốc, gần 90 % là cây thuốc mọc tự nhiên,tập tung chủ yếu trong các quần xã rừng, chỉ có gần 10 % là cây thuốc trồng.Theo số liệu thống kê của ngành Y tế, mỗi năm ở Việt Nam tiêu thụ từ 30 - 50tấn các loại dược liệu khác nhau để sử dụng trong y học cổ truyền làm nguyênliệu cho công nghiệp Dược và xuất khẩu Trong đó, trên 2/3 khối lượng nàyđược khai thác từ nguồn cây thuốc mọc tự nhiên và trồng trọt trong nước Riêng

từ nguồn cây thuốc tự nhiên đã cung cấptới trên 20.000 tấn mỗi năm Khốilượng dược liệu này trên thực tế mới chỉ bao gồm từ hơn 200 loài được khai thác

và đưa vào thương mại có tính phổ biến hiện nay Bên cạnh đó, còn nhiều loàidược liệu khác vẫn được thu hái, sử dụng tại chỗ trong cộng đồng và hiện chưa

có những con số thống kê cụ thể

Từ nguồn tài nguyên dược liệu này, nhiều loài cây thuốc đã được sử dụng

để chiết tách các hoạt chất làm thuốc như: Rutin từ Hoa hòe (Shophora

japonica); berberin từ Vàng đắng (Coscinium fenestratum); vinblanstin và

vincristin từ Dừa cạn (Catharanthus roseus); artemisinin từ Thanh cao hoa vàng (Artemisia annaua); methol và tinh dầu từ Bạc hà (Mentha arvensis); beta caroten và lycopen từ Gấc (Momordica cochinchinensis); Đ-strophantin từ hạt quả Sừng dê (Strophantus divaricatus); rotundin từ nhiều loài Bình vôi (Sephania spp.); papain từ Đu đủ (Carica papaya); diosgenin từ Củ mài (Dioscorea deltoidea) và Râu hùm (Tacca chantrieri ); curcuminoid từ Nghệ (Curcuma longa); morantin từ Mướp đắng (Momordica charantia); andrographolid từ Xuyên tâm liên (Andrographis paniculata); shikimic acid từ Hồi (Illicium verum); taxol từ Thông đỏ(Taxus wallichiana )…Bên cạnh đó, từ

các dược liệu đã nghiên cứu thành công và sản xuất nhiều loại thuốc có giá trịchữa bệnh, như: Bidentin từ Ngưu tất, Morantin từ Mướp đắng; Abilin từ Nhântrần; Abivina từ Bồ bồ; Raucaxin từ Ba gạc; Ngũ sắc từ cây Cứt lợn, Dihacharin

từ Diệp hạ châu; Kim tiền thảo từ Kim tiền thảo; Ampelop từ Chè dây; Angala

và Angelin từ Đương qui…Đáng lưu ý rằng, phần lớn khối lượng dược liệu kểtrên được dùng làm thuốc trong y học cổ truyền Số lượng dược liệu để chiếtxuất hoạt chất làm thuốc còn ở mức khiêm tốn (mới chỉ khoảng 50 loài)[12]

Để đáp ứng nhu cầu về dược liệu, nhiều loài cây thuốc trong nước và nhậpnội đã được trồng ở các qui mô khác nhau, hàng năm đã cung cấp cho thị trườngtrong nước và xuất khẩu từ vài trăm cho đến hàng nghìn tấn sản phẩm như: Quế

(Cinamomum cassia), Hồi (Illicium verum), Thảo quả (Amomum aromaticum),

Trang 26

Hòe (Shophora japonica), Địa liền (Kaempferia galanga), Hương nhu (Ocimum

gratissimum), Cúc hoa (Chrysanthemum indicum), Ích mẫu (Leonurus artemisia),

Actiso (Cynara scolymus), Đương qui (Angelica acutiloba), Địa hoàng (Rehmannia glutinosa), Bạch chỉ (Angelica dahurica), Bạch truật (Atractylodes

macrocephala), Bạc hà (Mentha spp.)[12].

Trên thực tế, số loài cây và con hiện nay được sử dụng để phân lập cáchoạt chất phục vụ cho công nghiệp dược còn rất hạn chế so với tổng số các loàicây thuốc và động vật làm thuốc được phát hiện Với nguồn tài nguyên dượcliệu phong phú, cùng với vốn kinh nghiệm của cộng đồng các dân tộc Việt Namchính là một nguồn tiềm năng để nghiên cứu, chiết xuất các hoạt chất và tạo ranhững loại thuốc mới có hiệu lực chữa bệnh cao

Với nhu cầu sử dụng các loài dược liệu làm thuốc ngày càng tăng, do khaithác liên tục trong nhiều năm không chú ý tới bảo vệ tái sinh, cộng với nhiềunguyên nhân khác đã làm cho nguồn tài nguyên dược liệu Việt Nam bị giảm sútnghiêm trọng, nhiều loài đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng

Đối với các cây thuốc trồng nhìn chung cũng nằm trong tình trạng tương

tự Đó là sự thu hẹp đáng kể, thậm trí biến mất một số vùng trồng cây thuốctruyền thống Nhiều cây thuốc nam như Hương nhu tía, Đậu ván trắng, Ý dĩ,Ngải máu, Tam thất gừng, Đậu ván trắng…đang có xu hướng bị lãng quên.Nhiều giống và loài cây thuốc nhập nội đã từng được đưa vào sản xuất đại trà ởnước ta, nay lại phụ thuộc vào nhập khẩu, nên chúng ta đã và đang bị mất dầncác giống dược liệu…

Từ sự xói mòn về nguồn gen và nhiều nguyên nhân khác cũng đã kéo theo

sự mất mát và lãng quên dần vốn tri thức bản địa của cộng đồng trong việc sửdụng các loại dược liệu truyền thống

2.2.5 Khả năng khai thác trong tự nhiên

Nguyên liệu cây thuốc tự nhiên ở Việt Nam rất phong phú, đa dạng, baogồm các loài cây cỏ, động vật khoáng chất, côn trùng và thuỷ sản Các cây cỏ tựnhiên có thể làm nguyên liệu sản xuất thuốc và thực phẩm chức năng có ở rảirác khắp các vùng, từ đồng bằng đến miền núi Song trữ lượng và chủng loại rấtphân tán và ít ỏi, ví dụ như: cỏ xước, rau sam, rau má, bông mã đề, nhân trần,thảo quyết minh…

Một số vùng có nguyên liệu tự nhiên phong phú hơn tập trung ở HoàngLiên Sơn, Ba Vì, Tam Đảo, Lào Cai, Quảng Nam, Đà Lạt, Hoà Bình, Sapa, BắcKạn, Thái Nguyên… Trong số cây thuốc hoang dại, xác định còn 206 loài còn

Trang 27

khả năng khai thác với sản lượng ước tính 121.000 tấn/năm, và đánh giá thấyrằng có 136 loài cây thuốc hiếm gặp có nguy cơ tuyệt chủng, cần có kế hoạchbảo vệ và khôi phục phát triển.

Riêng vùng biển Việt Nam rất phong phú về các loài động vật, thực vật(rong, tảo) để sản xuất thực phẩm chức năng (TPCN) Rong biển Việt nam cókhoảng 794 loài, biển miền Bắc khoảng 310 loài, biển miền Nam có khoảng

484 loài

Có thể chia ra 5 vùng còn khả năng khai thác dược liệu tự nhiên sau đây:

+ Vùng núi phía Bắc: Trên diện tích rừng tự nhiên, rừng đang phục hồi,

rừng phòng hộ của các huyện : Quản Bạ, Vị Xuyên, Bắc Quang (Hà Giang),Bát Sát, Bảo Tháng,Văn Bàn, Sa pa (Lào Cai); Chợ Đồn, Na Rì (Bắc Cạn), Sìn

Hồ, Mường Tè, Phong Thổ (Lai Châu), Sông Mã, Mường La (Sơn La),LạcSơn, Lạc Thuỷ (Hoà Bình), Quảng Bạ, Bảo Lộc (Cao Bằng), Ba chẽ, Vân Đồn(Quảng Ninh)

+ Vùng Bắc Trung Bộ: Các huyện miền tây Thanh Hoá, Quỳ Sơn, Tương

Dương, Quỳ Hợp (Nghệ An), Hương Sơn (Hà Tĩnh), Tuyên Hoá (Quảng Bình),

A Lưới, Phú Lộc, Nam Đông (TTHuế)

+ Vùng Nam Trung Bộ: Phước Sơn, Tây Giang, Nam và Bắc Trà My (Quảng

Nam), Sơn Hà, Sơn Tây, Trà Bồng (Quảng Ngãi), Sông Hinh (Phú Yên)

+ Tây Nguyên: Kômplông, Tumơroong, Đăclây (Kon Tum); K.Bang,

Kongchro, Chu Prông (Gia Lai), M.Drak, Krông Bông, Eakar (Đắc Lắc), ĐakNông (Đắc Nông); Di Linh,Lâm Hà, Lạc Dương (Lâm Đồng)

+ Vùng biển và đảo: Có thể khai thác rong biển và một số cây con thuốc ở

biển và đảo từQuảng Ninh đến Kiên Giang

Trong số 62 loài cây thuốc còn khả năng khai thác trong tự nhiên thì hai

loài có liên quan đến đối tượng nghiên cứu của đề tài là Bồ bồ (Adenosma

indiana Merr.) được khai thác tại các địa phương như Quảng Ninh, Bắc Giang,

Phú Thọ, Tuyên Quang, Hoà Bình, Thanh Hoá, còn Nhân trần (Adenosma

cearulea R.Br.) được khai thác tại Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Cạn,

Hoà Bình, Sơn La, Hà Giang (Nguồn: dẫn từ tài liệu Thực phẩm chức năng của

Hội Thực phẩm chức năng Việt Nam).

2.3 Hoạt động gây trồng Nhân trần

Được sự hướng dẫn của Trạm Khuyến nông huyện Nghi Lộc (Nghệ An)cùng sự giúp đỡ của Khuyến nông xã, một số xóm của xã Nghi Lâm đã đưa cây

Trang 28

Nhân trần vào trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao Loại cây này có thể trồng nơiđất cằn cỗi, đầu tư cũng rất thấp, một sào khoảng 200kg phân chuồng, 20 kgphân NPK, không phải dùng thuốc bảo vệ thực vật như thuốc trừ sâu cỏ CâyNhân trần chăm bón đơn giản, chủ yếu là tăng công làm cỏ, sau gần 5 tháng làcho thu hoạch, bình quân 1 sào được 120kg Nhân trần khô Với giá bán 30 ngànđồng/kg, trừ chi phí bà con cũng thu 3,3 triệu đồng/sào Tính ra 1ha Nhân trầnlãi 66 triệu đồng, gấp gần 5 lần trồng lúa Năm nay, bà con xóm 4 Nghi Lâmtrồng được 5ha cây Nhân trần, xóm 5 trồng được 5ha Điều mà bà con nông dân

ở xã Nghi Lâm mong muốn là cây Nhân trần ở xã nhà phải có thương hiệu, cónơi tiêu thụ, giá cả ổn định Cây Nhân trần là loại cây dễ trồng cho thu nhập cao.Ban Nông nghiệp cùng Ban Khuyến nông xã Nghi Lâm phát động bà con nôngdân ở tất cả các xóm trên toàn xã đưa cây Nhân trần vào trồng và ngày càng mởrộng diện tích Riêng xóm 4, xóm 5 những năm sau sẽ mở rộng diện tích trồng

cây Nhân trần lên mỗi xóm 6-7ha (Nguồn: báo Congannghean.vn, 4/2011).

Từ hiệu quả kinh tế do cây Nhân trần mang lại, ngành Nông nghiệp Nghệ

An đang phối hợp với các địa phương quy hoạch vùng trồng cây Nhân trần và

hỗ trợ một phần giống, vốn, chuyển giao kỹ thuật trồng cho nông dân Tại huyệnDiễn Châu và Nghi Lộc đang xây dựng 12 mô hình trồng cây Nhân trần và tạođiều kiện cho nông dân các địa phương trong tỉnh đến nghiên cứu, học tập

(Nguồn: www.vfej.vn)

2.4 Phân loại nhân trần ở Thừa Thiên Huế

2.4.1 Cây nhân trần núi(Adenosma cearulea R.Br.)

- Theo GS.TS Đỗ Tất Lợi và theo Từ điển bách khoa dược học, cây Nhântrần có tên khác là Nhân trần nam, Chè cát, Chè núi, Tuyến hương, Hoắc hương

núi, có tên khoa học là Adenosma caerulea R.Br, thuộc họ Hoa mõm chó

(Scrophulariaceae)

+ Đặc điểm hình thái: Cây cao khoảng 40-60cm Tiết diện thân gần tròn,

màu xanh ở thân non, màu xanh tía ở thân già, có nhiều lông mềm màu trắng,toàn cây có mùi thơm Lá đơn, mọc đối Phiến lá hình trứng, đầu thuôn nhọn,bìa phiến có răng cưa, màu xanh lục đậm ở mặt trên, nhạt ở mặt dưới, kíchthước 5 - 7 x 2 - 3cm Gân lá hình lông chim nổi rõ ở mặt dưới Cuống lá hìnhlòng máng, màu xanh, dài 0,5 - 1,3cm Cả 2 mặt lá và cuống lá có nhiều lôngmàu trắng, mặt dưới phiến lá có nhiều đốm tuyến Cụm hoa: Hoa mọc riêng lẻ ởnách lá phía ngọn cành Hoa không đều, lưỡng tính, mẫu 5 Cuống hoa hình trụdài 0,3cm, màu xanh, có nhiều lông màu trắng Lá bắc giống lá thường nhưng

Ngày đăng: 10/11/2014, 08:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Hình thái hoa nhân trần núi (Adenosma caerulea R.Br) - bước đầu tìm hiểu khả năng nhân giống và gây trồng cây nhân trần núi tại vùng đất cát nội đồng huyện quảng điền tỉnh thừa thiên huế
i ̀nh 2.1: Hình thái hoa nhân trần núi (Adenosma caerulea R.Br) (Trang 29)
Hình 2.2: Hình thái lá và hoa nhân trần cát - bước đầu tìm hiểu khả năng nhân giống và gây trồng cây nhân trần núi tại vùng đất cát nội đồng huyện quảng điền tỉnh thừa thiên huế
i ̀nh 2.2: Hình thái lá và hoa nhân trần cát (Trang 30)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w