Điều đó đã thôi thúc chúng tôi lựa chọn đề tài “Dạy học ca dao hài hước trong SGK Ngữ văn 10 theo đặc trưng thể loại” để nghiên cứu với hi vọng góp thêm một tiếng nói cho vấn đề giảng dạ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Hữu Bội
THÁI NGUYÊN - 2010
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì một công trình khoa học nào khác
Tác giả luận văn
Vũ Thị Tuyết Mai
Trang 3Lời cảm ơn
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới Tiến sĩ Hoàng Hữu Bội- người thầy đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình làm luận văn
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, Phòng đào tạo- Nghiên cứu khoa học Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tác giả luận văn
Trang 4QUY ƯỚC VIẾT TẮT
THPT : Trung học phổ thông
Trang 5
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đổi mới phương pháp dạy học nói chung, đổi mới phương pháp dạy học văn nói riêng luôn là yêu cầu cấp thiết và có ý nghĩa chiến lược trong việc đào tạo con người mới ở nhà trường hiện nay Trong việc đổi mới phương pháp dạy văn thì vấn đề giảng dạy văn học theo đặc trưng loại thể là một vấn đề đang được mọi người quan tâm Văn học Việt Nam cũng như bất cứ một nền văn học nào trên thế giới, gồm có hai bộ phận: Văn học dân gian và văn học viết Mỗi bộ phận lại có rất nhiều thể loại và đều có đặc trưng thi pháp riêng Văn học dân gian Việt Nam gồm có các thể loại: Thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, ca dao, tục ngữ, câu đố,…Trong đó ca dao là một hấp dẫn đối với học sinh Trong chương trình văn học dân gian ở THPT ca dao là một phần văn học quan trọng, có ý nghĩa lớn trong việc giáo dục văn học và văn hoá cho học sinh lứa tuổi thanh thiếu niên trong nhà trường
1.1 Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo thể loại đã được đặt ra từ
lâu và người ta đã đề xuất cách giải quyết những vấn đề cơ bản của nó Riêng
về dạy học ca dao cũng vậy đã có những công trình nghiên cứu, và cũng có những công trình nghiên cứu về phương pháp dạy học ca dao trong nhà trường (Khoa học sư phạm) Nhưng lại chưa có một công trình nào nghiên cứu về dạy học ca dao hài hước theo đặc trưng loại thể một cách đầy đủ Điều đó đã thôi thúc chúng tôi lựa chọn đề tài “Dạy học ca dao hài hước trong SGK Ngữ văn
10 theo đặc trưng thể loại” để nghiên cứu với hi vọng góp thêm một tiếng nói cho vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo thể loại
1.2 Về thực tiễn: Trong chương trình SGK Ngữ Văn mới được thực thi
đại trà ở năm 2006 -2007, các nhà soạn sách có đưa vào một số bài ca dao với
3 chủ đề: Ca dao than thân, ca dao yêu thương tình nghĩa và ca dao hài hước
Trang 6Khi thực thi chương trình ấy người giáo viên chưa hẳn đã hết những khó khăn bỡ ngỡ khi dạy ca dao theo hướng đặc trưng thể loại Do vậy chúng tôi chọn đề tài này với hi vọng góp tiếng nói tháo gỡ những băn khoăn trăn trở của người dạy và người học, đáp ứng mong muốn giờ dạy ca dao có hiệu quả cho chính bản thân mình và các bạn đồng nghiệp
2 Lịch sử vấn đề
Hiện nay chưa có một công trình nào chuyên nghiên cứu về việc dạy học ca dao hài hước ở trường THPT theo đặc trưng thể loại Vấn đề này chúng tôi mới chỉ thấy đề cập tới ở công trình “Con đường nâng cao chất lượng dạy - học ca dao ở lớp 10 THPT theo đặc trưng thể loại, ĐHTN/ ĐHSP, 5/ 2004” của tác giả Nguyễn Trọng Đoan và công trình dạy và học tác phẩm văn học ở trường phổ thông trung học miền núi - NXB Giáo dục 1997 của TS Hoàng Hữu Bội Đây là tư liệu quý mà chúng tôi có thể vận dụng để giải quyết những vấn đề đang đặt ra của đề tài
Tư liệu liên quan trực tiếp đến đề tài của chúng tôi chỉ có vậy, song vì quan niệm rằng việc dạy bất cứ môn học nào cũng gồm hai lĩnh vực:
1, Kiến thức cơ bản về môn học đó, nhất là những thành tựu mới nhất về lĩnh vực chuyên môn ấy
2, Kiến thức về khoa học sư phạm, đặc biệt là những yêu cầu đổi mới về phương pháp dạy học trong nhà trường Vì vậy khi tìm hiểu lịch sử vấn đề của lịch sử dạy học ca dao trong nhà trường, buộc chúng tôi phải tìm hiểu cả hai lĩnh vực đó: Nghiên cứu ca dao, đặc biệt là ca dao hài hước và phương pháp giảng dạy ca dao trong đó có ca dao hài hước trong nhà trường
2.1 Lịch sử vấn đề về nghiên cứu ca dao (trong đó có ca dao hài hước)
* Cuốn “bình giảng ca dao” của nhà giáo, nhà nghiên cứu văn học dân gian Hoàng Tiến Tựu - NXB Giáo dục 1992, đã nói về “Công việc bình giảng ca dao” như sau:
Trang 7- Một bài ca dao được chọn để bình giảng phải có ít nhất ba điều kiện sau
đây: Thứ nhất, phải là một bài ca dao hay, có giá trị thực sự về nội dung và nghệ thuật, đồng thời phải có vấn đề, có chỗ để bình giảng, đáng bình giảng
Thứ hai, phù hợp với khả năng và sở trường của người bình giảng Thứ ba,
phải phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của người nghe, người đọc (trang 15)
- Mục đích của việc bình giảng ca dao nói riêng cũng như việc nghiên cứu văn học dân gian nói chung, không phải chủ yếu là chứng minh cho cái chung và sự giống nhau Càng không phải chỉ là như thế (mặc dù điều này cũng cần thiết), mà chủ yếu là tìm tòi, phát hiện và lí giải những cái riêng, những nét đặc thù, độc đáo, trong sáng tác dân gian của từng dân tộc, từng địa phương, từng thời kỳ lịch sử, cũng như cái riêng của từng tác phẩm cụ thể (trang 19)
- Người làm ca dao cũng như người làm thơ, biến ý thành tứ, người bình giảng ca dao va thơ phải dựa vào tứ mà làm ra ý, và khi đã hiểu rõ và nắm vững được chủ ý (hay chủ đề) của tác giả rồi, người bình giảng mới có điều kiện và cơ sở chắc chắn để tiến hành công việc bình giảng và bình luận khen chê bài ca dao hay bài thơ một cách kỹ càng, chính xác và tinh tế (trang 28)
- Trong ca dao, ngoài mối quan hệ giữa ý và tứ, còn có mối quan hệ giữa tình và tứ, sự và tình, đều là mối quan hệ quan trọng mà người bình giảng không thể không quan tâm chú ý (trang 30)
- Muốn hiểu đúng, hiểu rõ, hiểu sâu sắc và thấu đáo một bài ca dao phải bám sát vào từ ngữ của nó, thông qua từ ngữ để tìm ra ý, tứ, sự, tình ở trong
đó Và sau khi nắm được ý, tứ, sự, tình của toàn bài, mới có điều kiện đầy đủ
và chắc chắn để nhận rõ nghĩa đích thực (nghĩa trong bài) của các từ ngữ đã được tác giả sử dụng Hiện tượng “ý tại ngôn ngoại” ở trong ca dao không phải là hiếm (trang 34)
Trang 8Tác giả đã vận dụng lý thuyết trên vào bình giảng một số bài ca dao hay trong kho tàng ca dao dân ca Việt Nam Trong tổng số 48 bài ca dao tuyển chọn, có 8 bài được dạy trong chương trình THCS và THPT
* Cuốn “Văn học Việt Nam - Văn học dân gian, những công trình nghiên cứu”- NXB Giáo dục - tái bản năm 2000, của nhiều tác giả, do tiến
sĩ Bùi Mạnh Nhị (chủ biên) đã chọn lọc, tổng hợp những công trình tiêu biểu trong rất nhiều công trình nghiên cứu về văn dọc dân gian Các tác giả đề cập đến một số vần đề lý luận chung và phương pháp nghiên cứu văn học dân gian Trong phần II “một số thể loại và tác phẩm” có 5 bài viết, nghiên cứu về
- “Những bài ca dao hay nhất thế gian” của Bùi Mạnh Nhị (trang 365)
2.2 Lịch sử vấn đề phương pháp dạy học ca dao (Trong đó có ca dao hài hước)
*“Mấy vấn đề về phương pháp giảng dạy - nghiên cứu văn học dân
gian” của giáo sư Hoàng Tiến Tựu - NXB Giáo dục 1993, đã khẳng định sự
cần thiết xây dựng những quy phạm riêng cho việc dạy học văn học dân gian
ở trường phổ thông Tác giả đã đề cập đến các phương pháp nghiên cứu văn học dân gian, làm sáng tỏ vấn đề giảng dạy văn học dân gian theo đặc trưng
thể loại như: dạy truyện dân gian, tục ngữ, ca dao…
Trang 9Trong chương IV “Mấy vấn đề cụ thể về nghiên cứu và giảng dạy ca dao” (35 trang), tác giả đã chỉ ra một số cách dạy ca dao phổ biến hiện nay và nêu lên những khó khăn đối với việc tìm hiểu một bài ca dao cổ Theo ông:
“Quá trình lĩnh hội và phân tích, lý giải một bài ca dao cổ truyền gồm nhiều khâu, nhiều bước cụ thể khác nhau Những khâu, những bước chủ yếu và quan trọng có thể được tóm tắt dưới dạng những câu hỏi như sau:
1/Bài ca dao ra đời trong trường hợp nào trong hoàn cảnh và trường hợp
nào? (vấn đề xác định được hoàn cảnh lịch sử, cái “khung” thời gian của tác
phẩm) Bài ca dao được lưu hành sớm nhất và nhiều nhất ở vùng nào? (vấn đề xác định quê hương gốc và địa bàn lưu hành chủ yếu của tác phẩm)
2/Bài ca dao thuộc thể loại nào? (vấn đề xác định đặc trưng thể loại và tiểu thể loại của nó)
3/Chủ thể và nhân vật trữ tình của bài ca dao là gì? Hay là bài ca dao của ai? Người ấy như thế nào? (vấn đề xác định chủ thể và nhân vật trữ tình trong phần lời va trong sự biểu diễn, sử dụng thực tế của bài ca dao)
4/Đối tượng trữ tình của bài ca dao là gì? Hay là bài ca dao là lời trao đổi bày tỏ với ai?Người ấy như thế nào? (vấn đề xác định đối tượng trữ tình trực tiếp hay gián tiếp, chung hoặc riêng của mỗi bài ca dao)
5/Nội dung của bài ca dao là gì? (hay là bài ca dao nói về những điều gì) Vấn đề xác định nội dung truyền đạt, phô diễn của bài ca dao
6/ Chủ đề của bài ca dao là gì? (hay vấn đề chủ yếu của bài ca dao muốn nói là gì? Vấn đề phân tích chủ đề bài ca dao thường phải tìm hiểu đầy đủ của tác phẩm mới xác định đúng được)
7/ Hình thức nghệ thuật bài ca dao như thế nào? Hay bài ca dao phô diễn tâm tư, tình cảm bằng những phương phấp, phương tiện và thủ thuật như thế nào? (vấn đề phân tích lí giải hình thức nghệ thuật của tác phẩm thường chỉ có thể nhận thức được rõ khi đã nắm chắc nội dung và chủ đề của nó
Trang 108/ Bài ca dao còn có liên hệ gì với cuộc sống và tâm tư tình cảm của nhân dân hiện nay và mai sau hay không? Mối liên hệ ấy như thế nào? Vấn đề
ý nghĩa và giá trị hiện đại của bài ca dao cổ về mặt nội dung cũng như mặt nghệ thuật (trang 134-135)
*Cuốn “Giảng văn văn học dân gian Việt Nam” của hai tác giả Vũ Anh Tuấn và Nguyễn Xuân Lạc - NXB Giáo dục 1993, có hai phần:
Phần đầu (10 trang) “Một số vấn đề về quan điểm dạy học văn học dân gian ở trường phổ thông”, đã chỉ rõ: Cần phải giảng dạy ca dao theo tinh thần tiếp cận một tác phẩm phônclo Điểm cơ bản của tinh thần tiếp cận này là đặt tác phẩm văn học dân gian vào trường hành động thực tiễn và vấn đề giảng dạy văn học dân gian theo đặc trưng thể loại
Phần sau “Giảng văn”, tác giả đã thể hiện quan điểm trên trong việc phân tích 7 bài ca dao cụ thể thuộc chương trình lớp 10 phổ thông trung học (từ trang 109 đến 185)
* Luận án tiến sĩ của Nguyễn Xuân Lạc “Quan điểm tiếp cận và phương pháp dạy học ca dao ở phổ thông trung học” (1996), đã đề xuất hai vấn đề:
Quan điểm tiếp cận ca dao:
- Dạy ca dao là một loại hình nghệ thuật đặc thù: Vừa là nghệ thuật ngôn
từ như văn học viết, lại vừa mang bản sắc chung của một sáng tác phônclo, với những nét riêng về thi pháp
- Giao tiếp đặc thù phônclo là con đường hướng dẫn học sinh tiếp cận và chiếm lĩnh bài ca dao một cách có hiệu quả
Vận dụng các phương pháp chung về dạy học văn vào việc dạy học ca dao ở phổ thông trung học
- Định hướng học sinh tích hợp cả ba mặt nghệ thuật ngôn từ - bản sắc phônclo - đặc trưng thi pháp trong quá trình chiếm lĩnh một tác phẩm ca dao
Trang 11- Hướng dẫn học sinh chiếm lĩnh chiếm lĩnh từng bài ca dao trong hệ thống chuỗi của nó một cách hợp lý
- Hướng dẫn học sinh khai thác cả hai mặt văn bản ngôn từ và các yếu tố ngoài văn bản bài ca dao, chú ý tái hiện không khí đồng quê, gợi công thức tiếp nhận phônclo để các em chiếm lĩnh tốt tác phẩm
Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng mô hình hướng dẫn học sinh tiếp cận một bài ca dao gồm 4 bước:
“Bước 1: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu những yếu tố nằm ngoài văn bản bài ca dao nhưng lại giúp ích cho việc tìm hiểu bài ca dao
“Bước 2: Định hướng thẩm mỹ, hướng dẫn học sinh tìm ra “trung tâm sáng tạo” hay là cái tứ của bài ca dao
“Bước 3: Từ định hướng thẩm mỹ, hướng dẫn học sinh tiến hành phân tích bài ca dao trong sự kết hợp giữa những yếu tố trong văn bản và những yếu tố ngoài văn bản
“Bước 4: Tổng hợp chung, đánh giá bài ca dao (trang 89-90)
Tác giả cụ thể hoá quan điểm tiếp cận và phương pháp giảng dạy ca dao bằng việc thiết kế và thực nghiệm 2 bài ca dao ở chương trình lớp 10 phổ thông trung học
Tất cả những công trình trên đã bàn về việc nghiên cứu và giảng dạy ca dao, trên cơ sở khoa học và mang tính khả thi Nhưng toàn bộ những công trình
đó đều đề cập đến việc nghiên cứu và giảng dạy ca dao nói chung (dạy ca dao hài hước cho học sinh THPT), chưa có một công trình nào nghiên cứu cụ thể
Từ tất cả những ý kiến của các nhà nghiên cứu, chúng ta nhận thấy ca dao là một thể loại trữ tình dân gian, bản thân thể loại này đã mang trong mình nó tính dân tộc và truyền thống Cùng với ca dao trữ tình, ca dao than thân, ca dao yêu tình nghĩa, ca dao hài hước cũng là một nội dung quan trọng của ca dao Việt Nam Trong cuốn Văn học dân gian Việt Nam (Đinh Gia
Trang 12Khánh chủ biên) trang 465 có đoạn viết: “Tiếng cười là một biểu hiện của thái
độ đối với thực tại trong các thể loại tự sự và trong thể loại trữ tình Trong ca dao dân ca trữ tình Việt Nam, tiếng cười có mặt trong tất cả các loại đề tài khác nhau Song do phương pháp điển hình hoá thái độ chủ quan của con người đối với thực tại có những đặc điểm riêng, nên ở đây cần xét riêng ca dao trào phúng như là một thể loại của ca dao, dân ca Việt Nam”
Ca dao trào phúng hay nói theo SGK lớp 10 THPT là ca dao hài hước bộc lộ rõ nghệ thuật trào lộng dân gian Việt Nam Cũng giống như tiếng cười, bản thân tính trào phúng của ca dao hài hước đã là điều hấp dẫn, học sinh rất
ưa thích Đồng thời, các biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong ca dao hài hước cũng nằm trong hệ thống biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong ca dao hài hước cũng nằm trong hệ thống biện pháp nghệ thuật thường được sử dụng trong ca dao Việt Nam, rất quen thuộc với người Việt Nam Ca dao hài hước cũng ngắn gọn, dễ đọc, dễ nhớ Nếu học sinh được hướng dẫn cách tiếp xúc với văn bản một cách trực tiếp, tự đọc, tự tìm tòi ý nghĩa sâu sắc của tiếng cười trong ca dao, dưới sự chỉ đạo của giáo viên thì học sinh sẽ khám phá được nhiều điều bổ ích
3.Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là:
3.1 Phát hiện ra cách tiếp cận ca dao hài hước từ đặc trưng thể loại
của nó
3.2 Tìm ra phương pháp tổ chức hướng dẫn học sinh THPT học các văn bản ca dao hài hước trong SGK sao cho hiệu quả
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là: Vấn đề tiếp cận ca dao hài hước từ đặc trưng thể loại của nó và cách thức hoạt động của thầy và trò trong quá trình dạy và học ca dao hài hước
Trang 134.2 Phạm vi nghiên cứu: Chúng tôi chỉ bàn tới cách dạy học các bài ca dao hài hước có trong SGK Ngữ văn 10 (bộ cơ bản và bộ nâng cao) Chỉ thực hiện ở học sinh lớp 10 THPT miền núi (tỉnh Hà Giang)
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Vận dụng các phương pháp nghiên cứu về lý thuyết phân tích tổng hợp lý luận
5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Điều tra khảo sát: Khảo sát thực trạng dạy và học ca dao hài hước lớp
10 THPT ở một số trường THPT miền núi (tỉnh Hà Giang), tìm ra những vấn
đề cần giải quyết nhằm nâng cao hiệu quả giờ dạy học ca dao hài hước ở lớp
10 THPT theo hướng thể loại
- Phương pháp quan sát sư phạm: Quan sát một số giờ học ca dao hài hước ở lớp 10 THPT để xem xét hoạt động định hướng tiếp cận, hoạt động chiếm lĩnh tác phẩm của thầy và trò, thái độ của học sinh với giờ dạy, thu thập thông tin để có cơ sở nhận xét giờ học
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn sẽ gồm 3 chương:
Chương 1: Khái niệm và đặc trưng thể loại của ca dao hài hước Chương 2: Thực tế và định hướng dạy học ca dao hài hước ở THPT theo đặc trưng thể loại
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 14PHẦN NỘI DUNG Chương 1: KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI CỦA
CA DAO HÀI HƯỚC.
1.1 Khái niệm ca dao và ca dao hài hước
- Khái niệm ca dao:
“Từ điển thuật ngữ văn học” (Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc
Do tác động của hoạt động sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian, ca dao
đã dần dần chuyển nghĩa Từ một thế kỷ nay, các nhà nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam đã dùng danh từ ca dao để chia riêng thành phần nghệ thuật ngôn từ (phần lời thơ) của dân ca (không kể những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi) Với nghĩa này, ca dao là thơ dân gian truyền thống
danh) chớ vội (chứ đã ), nợ nần (mà nợ nần) chớ lo (ý y y ý y)…
Từ sau cách mạng tháng tám 1945 trên sách báo nước ta đã xuất hiện
danh từ ca dao mới để phân biệt với ca dao cổ (hay ca dao cổ truyền)
Trang 15Ca dao mới khác ca dao cổ về khá nhiều phương diện (về thời gian,
hoàn cảnh, lực lượng sáng tác, hệ thống đề tài, chủ đề, phương thức và phương tiện lưu truyền, phổ biến…) Ngoài phương thức sáng tác và lưu
truyền bằng miệng của nhân dân ca dao mới còn được sáng tác và phổ biến
bằng văn tự của các văn nghệ sĩ chuyên nghiệp hoặc nghiệp dư Những tập ca dao thành văn được xuất bản trong mấy chục năm qua (như ca dao kháng chiến, ca dao chống Mỹ, ca dao chống hạn ) thiên về tuyên truyền chính trị,
là một hiện tượng chưa từng có trong lịch sử ca dao trước cách mạng tháng Tám (1945)
Dựa vào chức năng kết hợp với hệ thống đề tài, có thể phân ca dao cổ (hay
ca dao cổ truyền) thành những loại ca dao khác nhau, như ca dao ru con, ca dao tình yêu, ca dao về tình cảm gia đình, ca dao than thân, ca dao trào phúng.v v.” [49, tr.31-32]
“Ca dao là một thuật ngữ Hán Việt Theo cách hiểu thông thường thì ca dao là lời của các bài hát dân ca đã tước bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy…
hoặc ngược lại, là những câu thơ có thể “bẻ” thành những làn điệu dân ca
Giữa ca dao và dân ca như vậy là không có ranh giới rõ rệt Sự phân biệt giữa ca dao và dân ca chỉ là ở chỗ khi nói đến ca dao, người ta thường nói đến những lời thơ dân gian, còn khi nói đến dân ca người ta nghĩ đến cả những làn điệu, những thể thức hát nhất định nữa…” [19, tr.436-437]
Trước khi tìm hiểu khái niệm ca dao hài hước ta tìm hiểu tiếng cười dân gian:
Cuốn “Văn học dân gian Việt Nam” (Đinh Gia Khánh chủ biên) đã có nghiên cứu khá sâu sắc về cơ sở phát sinh, nền tảng tồn tại của tiếng cười Nhà nhân văn chủ nghĩa Rabơle đã từng nhận xét: “Cười là một đặc tính của người” Trạng thái tâm hồn con người được biểu hiện một cách phức tạp,
mà biểu hiện trạng thái cơ bản nhất là tiếng cười và nước mắt Tất nhiên, ở
Trang 16đây chúng ta không đề cập đến tiếng cười đơn thuần sinh lý, cơ giới Ví dụ như tiếng cười khi bị cù hay tiếng cười vô thức của con người có vấn đề về thần kinh Tiếng cười ở đây được nhìn nhận ở góc độ tâm lý học Tiếng cười tâm lý bao giờ cũng gắn với một mục đích nhất định Trước hết và gần gũi với
cơ sở sinh lý hơn cả là tiếng cười vui thú Khi người ta cười, người ta hít không khí nhiều, thở ra cũng mạnh Nhìn ở góc độ khoa học, nếu cười có điều
độ, giúp lồng ngực nở nang, gân cốt, trí não bớt căng thẳng, trong người cảm thấy dễ chịu Trước một cảnh tượng vui vẻ, khi cảm thấy thích thú một việc gì
đó, người ta cười và tiếng cười làm tăng sự sung sướng của con người Khoái lạc về sinh lý và sự vui sướng về tâm lý kết hợp hài hoà với nhau Từ đó các tác giả nhận định:
“Có thể cho rằng tiếng cười là biểu hiện sinh thú mà con người cảm thấy, tuy rằng cũng có khi vui sướng mà người ta không cười”
Trong loại tiếng cười có tính chất tâm lí, không phải tất cả đều có sự giải thích bằng sự vui sướng, mục đích tiếng cười không phải lúc nào cũng là để vui Cổ nhân đã có câu: “ Khốc như nữ tử vu quy nhật; Tiếu tự văn nhân lạc
đệ thời” Có nghĩa là: Khóc như cô gái về nhà chồng, cười như ông đồ đi thi trượt Tiếng khóc của cô gái là khóc vì sung sướng, còn tiếng cười của ông đồ
là xót xa, chua chát Tuy nhiên, thông thường, tiếng khóc gắn với sự đau khổ, uất ức và tiếng cười gắn với sự vui vẻ thoả mãn
Bên cạnh tiếng cười gắn với sự vui sướng, còn có một loại tiếng cười khác Trước một hoàn cảnh, một hành động, một cử chỉ, một sự việc nào đó trong cuộc sống, người ta có thể bật cười Ví dụ như ta xem chú hề mũi đỏ trồng cây chuối, một người rất đạo mạo bỗng nhiên ngã sõng soài, đọc truyện cười “Tam đại con gà” người ta cười ông thầy dốt nát và giấu dốt Đó là những tiếng cười có tính chất hài hước
Trang 17Đứng trước tiếng cười hài hước, các nhà mĩ học thường giải thích bằng nguyên nhân tương phản, mâu thuẫn Theo Aritxtốt, đó là sự mâu thuẫn giữa cái xấu xa và cái đẹp đẽ Theo Kangtơ, đó là mâu thuẫn giữa cái tầm thường
và cái cao quý Richsơtơ thì cho rằng tiếng cười xảy ra là do mâu thuẫn giữa cái phi lý và cái có lý Theo Heghen, đó là mâu thuẫn giữa hiện tượng và tư tưởng Tiếng cười là mâu thuẫn giữa cái máy móc và cái sinh động… Tsecnưsepxki lại nhấn mạnh vào cái mâu thuẫn giữa sự trống rỗng bên trong
và vẻ bề ngoài muốn tỏ ra là có ý nghĩa
Nói chung, các nhà mĩ học đã đưa ra nhiều loại mâu thuẫn mà theo họ là nguyên nhân gây ra tiếng cười Nhưng xét kỹ thì chỉ có một loại nguyên nhân gây ra tiếng cười Đó là mâu thuẫn đặc biệt “Tiếng cười hài hước có cơ sở ở một loại mâu thuẫn đặc biệt, một loại mâu thuẫn trong đó hai mặt trái ngược nhau, không mặt nào muốn nhường mặt nào Tiếng cười hài hước bật ra là do sức mạnh nội tại của tâm trí chúng ta, tức là sự phản kháng và sự thắng lợi của tư duy đối với những hiện tượng muốn lọt ra khỏi phạm vi giải quyết của
nó Tiếng cười hài hước thể hiện thắng lợi của trí tuệ Trong sự hài hước, có những hình thức đơn giản và những hình thức phức tạp Tiếng cười hài hước chỉ có tính chất sâu sắc khi nó mang ý nghĩa xã hội Mọi hiện tượng mâu thuẫn với khuynh hướng phát triển khách quan của lịch sử - Khuynh hướng này được phản ảnh trong tư tưởng tiên tiến của xã hội đều có thể mang tính chất hài hước Những cái lỗi thời mà vẫn cứ muốn bám lấy cuộc sống Vẫn cứ làm ra vẻ sinh động, vẫn cứ ra vẻ cần thiết đối với cuộc sống đều có thể làm bật ra tiếng cười hài hước Giữa thực chất của hiện tượng và vai trò giả tạo mà
lo muốn giữ đã có mâu thuẫn và mâu thuẫn này có tính chất hài hước sâu sắc Tiếng cười hài hước tống khứ những cái lạc hậu độc ác, giả dối và do đó giúp cho sự toàn thắng của những cái gì tiên tiến, tốt đẹp, trung thực Mác đã viết:
“giai đoạn cuối cùng của một hình thái lịch sử chính là tấn hài kịch của nó”
Trang 18Giải thích tại sao lịch sử lại diễn ra theo tiến trình ấy, Mác cho rằng: “Đó là
để cho nhân loại rời bỏ được quá khứ một cách vui vẻ” Chính vì thế, một hiện tượng xã hội nếu xét về mặt triết học là lỗi thời, về mặt chính trị là phản động, thì xét về mặt mĩ học có thể (không phải là tất nhiên) là hài hước
Nói chung, tiếng cười hài hước được xây dựng trên cơ sở một mâu thuẫn nào đó Đối với người bình dân, trong những sáng tác dân gian của mình, họ biết sử dụng những mâu thuẫn trong cuộc sống theo ý mình để tạo nên tiếng cười hài hước mang tính chất tâm lý Tiếng cười hài hước nhằm giải toả cuộc sống căng thẳng, nâng cao niềm lạc quan, ham sống, giúp con người hài lòng với cuộc sống dù còn nhiều khó khăn
Ca dao là một trong những thể loại văn học dân gian được người bình dân sáng tạo để phục phụ cho đời sống tinh thần của mình Ca dao hài hước được sáng tạo từ nền tảng tiếng cười hài hước trong dân gian
Từ “hài hước” trong cuốn “Từ điển Tiếng Việt” (Viện ngôn ngữ học 1992): “Hài hước: vui đùa nhằm mục đích gây cười (thường nói về hình thức văn nghệ) lối văn hài hước Câu chuyện hài hước Giọng hài hước”
-Khái niệm ca dao hài hước:
Sách giáo khoa Ngữ Văn 10 (cơ bản) định nghĩa ca dao hài hước như sau:
“Ca dao hài hước là tiếng cười giải trí, tiếng cười tự trào (tự cười mình)
và tiếng cười châm biếm, phê phán thể hiện tâm hồn lạc quan yêu đời và triết
lí nhân sinh lành mạnh trong cuộc sống còn nhiều vất vả, lo toan của người bình dân”
Cuốn “Ca dao hài hước” của Đào Thản (Nhà Xuất Bản Đà Nẵng 2005) lại định nghĩa:
“Hài hước có nghĩa là vui đùa, gây cười Ca dao hài hước vì vậy cũng được hiểu là những câu, những bài thuộc nhiều nội dung khác nhau nhưng đều có tính chất hài hước, có mang yếu tố hài hước”
Trang 19- Nguồn gốc sản sinh ca dao hài hước: Đào Thản trong cuốn “ca dao hài hước” lí giải rằng:
“Trong ngôn ngữ của con người, có lẽ hài hước là cách thể hiện có khả năng đạt được hiệu quả cao nhất so với các phương thức khác Năng lực hài hước chỉ có thể có ở con người, được thể hiện trong ngôn ngữ, và chứng tỏ một trình độ phát triển đột xuất của trí tuệ con người, nếu như chưa muốn nói
đó chính là tài năng thật sự
Rabelơ, một nhà văn chủ nghĩa Pháp có nói: “Cười là một đặc tính của
con người” Quả thật, nhờ biết cười và đặc biệt là biết gắn cái cười với nhận
thức, trí tuệ mà con người phân biệt hẳn với các loài động vật khác Không kể cái cười do kích thích cơ năng (do bị cù, nhột), con người có khả năng bật ra tiếng cười do trực tiếp nhìn thấy và nhận thức được các hình ảnh sự việc tức cười, đáng cười trong thực tế Con người nhờ có tri năng ngôn ngữ cho nên còn có thể cười do các sản phẩm của lời nói và ngôn ngữ đem lại, là những điều đáng cười Cũng nhờ có ngôn ngữ, con người còn biết cách diễn đạt một cách hài hước điều muốn nói của mình Và trên cơ sở những năng lực đặc biệt này mà con người còn biết tạo ta cái cười bằng cả chuỗi lời nói hoặc truyện cười” [38, tr.12]
1.2 Đặc trưng về nội dung của ca dao hài hước
Theo tác giả Đào Thản trong cuốn “Ca dao hài hước” (Nhà xuất bản Đà Nẵng 2005):
Hài hước không đơn thuần là một chủ đề nội dung Ca dao hài hước có thể mang những nội dung khác nhau: có ca dao hài hước về quê hương xứ sở,
có ca dao hài hước về tình yêu, về hôn nhân, về gia đình, về triết lí nhân sinh,
về thế sự…Một tác phẩm hài hước do đó có thể chứa đựng nội dung hài hước hoặc thể hiện bằng hình thức hài hước, hoặc kết hợp cả hai Bởi lẽ có những
sự việc, hiện tượng hoặc đối tượng, tự bản thân nó đã có tính hài hước, lại có
Trang 20những sự việc, hiện tượng chỉ có thể trở thành hài hước do một cách nhìn và một cách thể hiện nào đó (giống như trong việc vẽ tranh biếm hoạ) Ở ca dao hài hước, tình hình cũng như vậy
Trong thực tế đời sống xã hội, thời nào cũng vậy, có thể quan sát thấy vô số những điều đáng cười, chỉ cần phản ánh y nguyên hiện thực, chưa cần thêm bớt, cũng đã đủ để gây cười cho thiên hạ Ví dụ ở một làng nọ, có anh chàng kia:
Làm thì chẳng muốn bằng ai,
Ăn thì thứ nhất thứ hai trong làng
Hoặc ở chỗ khác, có những kẻ bị người đời nhận xét bằng một câu khái quát về cái nết “làm ăn” láu cá:
Ăn thì ăn những món ngon, Làm thì chọn việc cỏn con mà làm
Một ông bố bà mẹ nào đó có thể chép miệng nghĩ về cảnh cùng giỗ linh đình hoặc làm ma, làm chay cho người chết:
Sống thì con chẳng cho ăn, Chết thì xôi thịt làm văn tế ruồi
Rồi rút ra kết luận về sự khôn dại ở đời:
Thế gian còn dại chưa khôn, Sống mặc áo rách, chết chôn áo lành
Đến như cái cảnh “mèo tha miếng thịt xôn xao; kễnh tha con lợn thì nào thấy chi” cũng có thể nói là một hiện tượng hoàn toàn có thật trong gia đình, trong làng bản và nói rộng ra trong cả xã hội Đây là một chuyện thường tình:
Cả nhà chỉ có được miếng thịt, mua khi có công việc, thế mà con mèo lại tha
đi, làm chi bố mẹ con cái phải nháo nhác cả lên Ngược lại khi con cọp vào bản vác cả con lợn đi thì mọi người lại im thin thít sợ hãi, không ai dám lên tiếng Từ cái cảnh thực có này, ca dao chỉ cần nhấn vào cái mâu thuẫn có tính hài hước đó để nêu bật ý nghĩa xã hội của nó:
Trang 21Mèo tha miếng thịt thì đòi, Kễnh tha con lợn mắt coi trừng trừng
Trong lĩnh vực tâm lý, tình cảm nhiều khi chỉ cần miêu tả, nói lên
được cái rất thật của đời sống nội tâm một cách đơn giản, chưa đòi hỏi phải
hư cấu hay tưởng tượng gì, cũng đã có thể làm lộ ra tính hài hước, khó mà nhịn được cười:
- Bực mình chẳng muốn nói ra, Muốn đi ăn cỗ chẳng ma nào mời
- Tai nghe có đám giỗ gần, Trong bụng bần thần chẳng muốn ăn cơm
Và chỉ cần phản ánh, miêu tả sự thực đơn thuần như vậy, ca dao hài hước đã có thể bắt đúng tâm trạng, “nói đúng tim đen” của các cô gái đang yêu, chàng trai mê vợ:
- Gặp anh không ăn cũng no, Đau đầu cũng nhẹ, hen ho cũng lành
- Đi đâu đi đó tần ngần,
Đi về nhà vợ, mấy lần cũng đi
Tuy nhiên, những chuyện tức cười có sẵn nguyên mẫu trong thực tế đời sống hoặc trong tâm tư suy nghĩ của con người không phải, và không thể là nội dung duy nhất của ca dao hài hước Trên cơ sở vốn sống, kinh nghiệm thực tế và đặc biệt là với năng lực đối chiếu, kết hợp và nhào nặn những gì có được, cộng với một sự liên tưởng nhiều khi hết sức bất ngờ có khả năng dẫn
đến mọi yếu tố của tưởng tượng, hư cấu, người sáng tác ca dao hài hước,
những tác giả dân gian vô danh, cũng có thể đạt đến trình độ cao trong sáng tác nghệ thuật, khiến cho các nghệ sĩ thực thụ cũng phải khâm phục
Đó là trường hợp khi nhà hài hước dân gian không còn dừng lại ở mức
kể chuyện “người thật việc thật” đơn thuần, mà đã bắt đầu tìm đến một số biện pháp, thủ thuật trong việc thể hiện nội dung hài hước
Trang 22Đó cũng là khi trong thực tế đời sống cũng như trong thế giới nội tâm, con người không phải bao giờ cũng có sẵn cái hài hước đáng cười; hoặc giả
có đấy, nhưng không phơi bầy lộ liễu, mà tồn tại dưới sự che đậy hoặc biết cách ẩn giấu kín đáo, tinh vi, không dễ mà phát hiện, vạch ra cho mọi người cũng thấy Phải có cách nhìn sâu sắc, soi chiếu vào thực chất bên trong của hiện tượng, thấy cả được những mặt trái của nó, mới có thể khám phá và bộc
lộ ra được cái mâu thuẫn, cái nghịch lý, trái khoáy, trái lẽ thường, đến mức phải bật ra tiếng cười:
- Ra đường bà nọ bà kia,
Về nhà không khỏi cái nia, cái sàng
- Hòn đất mà biết nói năng, Thì thầy địa lý hàm răng chẳng còn
Nếu như ở trên kia, nội dung ca dao là phản ánh sự thực một cách trực
tiếp, trung thành, có sao nói vậy, thì đến đây bắt đầu đã có sự gia giảm, thêm dấm thêm ớt Để tạo ra những tiếng cười hài hước đa dạng hơn, sắc bén hơn, lắm khi tinh vi hơn và đặc biệt là giàu trí tuệ và có sức mạnh hơn, ca dao đã cái biến mọi tài liệu thực tế, không dùng đến những bức ảnh chụp nữa, mà đưa ra cho thấy những bức tranh với nhiều nét phác họa, tô điểm, thậm chí
thêu dệt, theo cách nhìn, cách nghĩ chủ quan của người sáng tác Nội dung các
sự kiện được đề cập ở đây do đó hoàn toàn là những cái không thể có trên đời, không bao giờ xảy ra trên thực tế:
- Ba đồng một mớ đàn ông, Đem bỏ vào lồng cho kiến nó tha
Ba trăm một mụ đàn bà, Đem về mà trải chiếu hoa cho ngồi
- Bắc thang lên đến tận trời, Bắt ông Nguyệt Lão, đánh mười cẳng tay
Trang 23Đánh thôi lại trói vào cây…
- Người yêu ta để trên cơi, Nắp vàng đậy lại để trên bàn thờ
Đêm qua ba bốn lần mơ, Chiêm bao thì thấy, dậy sờ thì không
v.v
Chính nhờ những sự kiện có tính chất vô lí, nghịch lí, ngược đời này đã giúp cho chúng ta nhận ra cái dụng ý hài hước, và phân biệt được trong ca dao những câu, những bài mang tính chất hài hước bên cạnh những câu, những bài không mang tính chất đó
Cần thấy rằng việc đưa ra những sự kiện phi thực tế như vậy không phải
là không có cơ sở của nó Trong mấy ví dụ trên đây, hài hước đã thể hiện ý thức miệt thị đàn ông, đề cao đàn bà về một phương diện nào đó Hài hước cũng nói nên sự phẫn nộ, bất mãn với kẻ xe duyên, hay cái thái độ trân trọng tôn thờ người yêu một cách khác thường Tất cả đều là cách nói đặc trưng của
ca dao hài hước: điều nói ra tưởng như là thật mà không phải là thật, không phải là cái có thật nhưng lại là sự thật; cái ỡm ờ nửa nạc nửa mỡ ấy lại chính
là cơ sở của tiếng cười Ngay cả khi trong ca dao, câu chuyện là câu chuyện
dựng đứng, bịa đặt hoàn toàn, như chuyện “có ông bảy vợ”, chuyện “bà già
tấp tểnh mua heo cưới chồng”, chuyện các kiểu thách cưới nói ngoa đến cực
đại hay cực tiểu hay chuyện phân công tổ chức trong đám cưới, “Hưng Yên
quạt nước hoả lò, Thái Bình thì phải giã giò gói nem”, v.v… đầy tính chất
điển hình hóa, hư cấu nghệ thuật, cũng cần được hiểu cho đúng dụng ý hài hước của người sáng tác Không ai có thể lầm tưởng những điều huênh hoang, khoác lác, nói trạng một tấc đến giời ở những bài này là điều nói thật, song cũng không thể nghĩ rằng tất cả những điều ấy là vô nghĩa, chẳng có chút giá
Trang 24trị gì Cần phải tự đặt câu hỏi tại sao lại có thể nói ngoa đến mức như vậy, và câu trả lời sẽ cho ta thấy dụng ý hài hước một cách hiển nhiên
Trong thể loại truyện cười dân gian, người ta phân biệt ra hai loại truyện khôi hài và truyện trào phúng, nhằm mục đích chỉ ra hai mức độ của hài hước: một bên có tính chất mua vui, giải trí nhẹ nhàng, một bên nặng về châm biếm
đả kích, có giá trị như một vũ khí đấu tranh xã hội Ca dao hài hước thì không chỉ có hai loại đó Bên cạnh những bài là vũ khí đấu tranh với kẻ địch, kẻ thống trị, đả kích châm biếm mọi thói hư tật xấu, mọi quan niệm sống nỗi thời, những bài có tác dụng phê phán, giáo dục trong nội bộ nhân dân bằng tiếng cười khoẻ khoắn, lành mạnh
Điều đáng chú ý ở đây là cái hài hước không ở trong bản thân sự kiện hay sự việc được chỉ ra, mà lại nằm ngay trong cách nói, trong lời diễn đạt Câu ca dao mang đến cho ta sự cảm nhận một điều thú vị, làm hé nở một nụ cười Đó chính là tác dụng, hiệu quả của hài hước
Đương nhiên, mức độ của hài hước không chỉ dừng lại ở đấy Cũng như trong ngôn ngữ thường ngày của những người vui tính, thích khôi hài, pha trò; ca dao truyền thống của ta không ngớt vang lên tiếng cười đùa vui, nhẹ thì giễu cợt, chế nhạo, nặng thì mỉa mai, châm biếm hoặc bài xích phê phán Nặng hơn nữa - và là nặng nhất thì đả kích, đập phá không tiếc tay, như một
vũ khí sắc bén trong đấu tranh xã hội Mức độ hài hước từ thấp lên cao như vậy tuỳ thuộc vào nội dung hài hước, đồng thời cũng tuỳ thuộc vào tính cực đoan của cách thể hiện, đẩy cái cười đến cực điểm của khoái trá mà chúng ta
có thể gọi chúng bằng một vài tên gọi khác mạnh hơn như trào lộng, trào phúng, một nét đặc trưng của thơ
Ca dao hài hước nhiều khi là sản phẩm của lối nói nửa đùa nửa thật, bạo mồm bạo miệng, hoặc liều lĩnh đến mức quá quắt, chua ngoa Trong
sự tìm hiểu và phân tích những loại câu như vậy không nên gán cho tác giả
Trang 25dân gian hoặc nhân vật đã phát ngôn các lời lẽ ấy một quan điểm, tính cách hoặc phẩm chất đáng chê nào đấy Chẳng hạn đối với những câu như:
- Lẳng lơ mới có con bồng Nhu mì như chị, nằm không cả đời
- Mẹ chồng là mẹ chồng tôi, Năm bảy cái quạ nó lôi mẹ chồng
- Anh đánh thì em chịu đòn, Tính em hoa nguyệt mười con chẳng chừa
Hay đối với những câu như:
Anh có tiền riêng cho mượn ít đồng, Mua gan công mật cóc, thuốc chồng theo anh
- Anh về rẫy vợ anh ra, Thì em bỏ cửa, bỏ nhà theo anh
Rõ ràng là những câu vừa dẫn tiêu biểu cho cách thể hiện cực đoan của
ca dao hài hước Chắc chẳng ai ngây thơ lại nghĩ rằng trong thực tế lại có những cô gái như thế, nàng dâu như thế Cái quá quắt ở đây, ngoài tác dụng gây cười khi phê phán tính lẳng lơ, thói đanh đá nói chung của đàn bà, cũng còn có thể chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu xa hơn Câu “Anh có tiền riêng…”,
“Anh về rẫy vợ anh ra” không thể hiểu một cách thật thà đó là lời hỏi vay tiền, lời đề nghị rẫy vợ của một cô gái, mà cần phải hiểu đây chỉ là lời cự tuyệt mạnh mẽ của cô gái trước sự tỏ tình của một chàng trai nào đó mà cô
không thích Còn các chi tiết khác như ý định “mua gan mật cóc” làm thuốc đầu độc để có thể “bỏ cửa bỏ nhà theo anh” là những chi tiết đắt giá chắp
cánh cho hài hước, đảm bảo cho hiệu quả nghệ thuật của hài hước
Cười người chớ có cười lâu, Cười người hôm trước hôm sau người cười
Trang 26Một quan điểm có tính nhân văn thế tục ấy của ca dao cũng được thể hiện rất rõ Con người không phải chỉ biết cười cái sự đời, cười người khác, cười cả sự vật và thế giới xung quanh ta, mà con người còn biết cười cả chính mình, tự cười mình, giễu mình một cách công bằng, thẳng thắn Biết tự cười mình không phải là chuyện dễ; nó đòi hỏi một bản lĩnh, phải biết đứng ở một chỗ đứng cao hơn Ca dao nói chung không đi vào “cái tôi” cá nhân mặc dầu
vẫn có những câu trong đó chủ thể xưng tôi, ta, em, anh ở ngôi thứ nhất
Ngoại trừ những câu, bài thể hiện sự đối đáp như:
- Chồng gì anh vợ gì tôi, Chẳng qua là cái nợ đời chi đây…
- Ở đâu mà chẳng biết ta,
Ta con ông Sấm, cháu bà Thiên lôi…
- Sang đây anh nắm cổ tay
Anh hỏi câu này: có lấy anh chăng
Thì những câu nói về cái nhược điểm, cái chỗ đáng cười của chủ thể xưng “tôi” vẫn không phải là ít:
- Lạy trời cho cả gió nồm Cho kẹo tôi chảy cho mồm tôi xơi
- Vốn khi xưa anh cũng đi hàn, Hàn từ nồi bảy nồi ba, Bắt cô mười tám đem ra anh cũng hàn…
Tuy nhiên nhiều nhất vẫn là những câu, bài tự giễu cợt, phê phán tất cả những gì thuộc về nhân tình thế thái, những thói tục mà chính mình tạo ra, chính mình phải chấp nhận, những quan niệm chung của xã hội, những hạn chế và bất cập của đời người, trong đó có mình:
- Ngồi buồn kể ruốc nhau ra, Ruốc ông thì thối, ruốc bà thi thơm
Trang 27Màn treo chiếu rách cũng treo, Hương xông nghi ngút, củi rều cũng xông
- Nước giữa dòng chê trong chê đục, Vũng trâu đằm hì hục khen ngon
- Ai lên Hương Tích chùa Tiên, Gặp cô sư bác anh khuyên đôi lời:
Đem thân làm cái kiếp người,
Tu sao cho trọn nước đời mà tu
Ca dao hài hước, như chúng ta thấy, đề cập đến mọi phương diện trong
cuộc sống xã hội Có lẽ chưa có một lĩnh vực nào, một chủ đề nội dung nào,
tiếng cười hài hước không len vào được, cho dù ở đấy có thể là nơi tôn nghiêm nhất, thiêng liêng nhất đối với con người Cuộc sống và con người luôn luôn còn phải hướng tới cái đúng, cái hoàn thiện và cái đẹp thì thế tất còn cần đến hài hước để rũ bỏ, từ giã những gì đã và đang làm tổn hại đến con đường tiến lên phía trước
Sự sắp xếp phân loại ca dao hài hước theo chủ đề nội dung do vậy cũng chỉ là sự sắp xếp của ca dao tục ngữ nói chung Trong các mối quan
tâm của con người đối với tự nhiên, hay đối với đời sống vật chất và con người với đời sống tinh thần, đương nhiên là cũng có thể tách ra từng cụm
chủ đề nhỏ hơn như: con người với đất nước quê hương xứ sở; con người và
cuộc đời và lẽ sống; con người với tình yêu, tình cảm; con người với hôn nhân, duyên phận; con người trong quan hệ gia đình; con người với phong tục tập quán làm ăn, sinh hoạt; con người với tôn giáo và tín ngưỡng; con người và các quan niệm sống, thế giới quan…Cần thấy một điều là tính chất
và mức độ hài hước thường tuỳ thuộc vào nội dung chủ đề, nhưng số lượng nhiều hay ít các câu, bài hài hước lại không tuỳ thuộc vào chủ đề lớn hay nhỏ
Sự phân giới không rạch ròi giữa các cụm chủ đề cũng như sự khác nhau về
Trang 28số lượng trong từng cụm cũng có thể giải thích bằng chức năng của hài hước trong ca dao Chúng ta dễ dàng nhận thấy cái thâm trầm, sâu sắc đầy tính triết
lý của ca dao hài hước về con người, cuộc đời và lẽ sống, cái đùa vui giễu cợt rất hóm hỉnh khi nói về phong tục tập quán hay về những nét riêng của từng
xứ sở quê hương, sự phê phán táo bạo đối với khuôn phép lễ giáo trong những vấn đề về hôn nhân và gia đình, sự đả kích gay gắt không khoan nhượng vào thói dị đoan và vào bọn lừa bịp đội lốt tôn giáo, tín ngưỡng Có thể nói về mặt này ca dao hài hước đã khai thác sâu thêm nhiều khía cạnh có giá trị phát hiện
về con người và cuộc sống khiến cho tác phẩm dân gian giàu có hơn, tinh tế
và sắc sảo hơn
Tác giả Đinh Gia Khánh (chủ biên) trong cuốn “Văn học dân gian Việt
Nam” (Nhà xuất bản giáo dục 1998) lại quan niệm về nội dung ca dao hài
hước như sau:
Những câu và những nhóm câu hát có tính chất đùa cợt, châm chọc nhau, thể hiện tính thích trào lộng của nhân dân
Chẳng hạn trong hát Phường Vải Nghệ Tĩnh, để đáp lại những câu hỏi về tên tuổi, quê quán của nhau, có những câu trả lời nghịch ngợm như câu sau đây của một chàng trai:
Quê anh thì ở Nam Đàn,
Họ anh là Nguyễn, tên chàng “Lí Mây”
“Lí Mây” là một cái tên bâng quơ, nhưng cũng là cách nói lái của hai chữ “lấy mi”
Cũng trong hát Phường Vải, còn lưu truyền câu hát của một cô gái dùng thơ Kiều, lên giọng người bề trên châm chọc bên trai như sau:
Khen cho con mắt tinh đời, Anh hùng đoán giữa trần ai mới tài
Trang 29Trong Truyện Kiều, khi viết câu này, Nguyễn Du đã dùng hai chữ “con mắt” theo lối hoán dụ Ở đây cô gái sử dụng câu thơ Kiều một cách sáng tạo, nghĩa là vừa dùng theo lối hoán dụ, vừa bằng cách ngắt câu theo nhịp 3/3 đã biến chữ “con” vốn là một loại từ thành một đại từ nhân xưng Song chàng trai cũng không vừa, dùng ngay thơ Kiều để đối lại:
Vả bây giờ mới thấy đây,
- Chàng dẫn thế, em lấy làm sang,
Nỡ nào em lại phá ngang như là…
Người ta thách lợn thách gà, Nhà em thách cưới một nhà khoai lang,
Củ to thì để mời làng, Còn như củ nhỏ họ hàng ăn chơi
Bao nhiêu củ mẻ chàng ơi!
Để cho con trẻ ăn chơi giữ nhà
Trang 30Yếu tố hài hước trong nhiều bài ca trữ tình thường tạo nên một giọng bông lơn, cười cợt làm cho những vấn đề được đề cập tới trong đó mất
tính chất trang nghiêm thường có của nó
Về tâm trạng của một cô gái chưa chồng:
- Cô kia nước lọ cơm niêu, Chồng con chẳng có nằm liều nuôi thân
- Chồng con là cái nợ nần, Chẳng thà ở vậy nuôi thân béo mầm
Về tâm trạng của một người đàn bà goá:
Giàu thì thịt cá cơm canh, Khó thì lưng rau đĩa muối, cúng anh tôi đi lấy chồng
Hỡi anh chồng cũ tôi ơi!
Anh có khôn thiêng thì xin anh trở dậy ăn xôi nghe kèn Thôi anh đã về nghiệp ấy, anh đừng ghen,
Để cho người khác cầm quyền thê nhi
Miệng em khóc, tay em bế ẵm ông thần vì, Tay em gạt nước mắt, tay em thắp nén nhang, Bởi vì đâu mà nên nỗi xót xa muôn vàn!
Phạm vi đề tài của ca dao trào phúng rất rộng rãi Lắm khi tiếng cười
trong ca dao chỉ có tính chất mua vui Trong nhiều trường hợp, sự việc hay
hoàn cảnh gây cười tuy rằng trái với tự nhiên, bất thường mà không phải là một tội lỗi gì, cho nên không có sự đả kích, ví dụ:
- Chồng hen mà lấy vợ hen, Đêm nằm cò cử như kèn thổi đôi
- Chồng còng mà lấy vợ còng, Nằm phản thì chật nằm nong thì vừa
Trang 31- Chồng què lấy vợ kiễng chân, Nuôi được đứa ở đứt gân cũng què
Trong nhiều câu ca dao khác, tuy bản chất tiếng cười là để mua vui
nhưng bắt đầu đã có ngụ ý châm biếm các thói xấu nhỏ, nhưng thói xấu
không tai hại lắm nên có thể khoan dung được:
- Lậy trời cho cả gió nồm, Cho kẹo tôi chảy cho mồm tôi xơi
- Lấy ai thì cũng một chồng, Lấy anh hàng thịt ăn lòng sớm mai
Thành ra có những việc rất lớn trong đời lại chỉ là nhằm phục vụ cho những mục đích rất nhỏ bé, tầm thường Tiếng cười ở đây cũng có ý vị trào phúng Đại bộ phận ca dao trào phúng có nội dung với những mức độ sâu sắc khác nhau tuỳ theo đối tượng đả kích là những thói xấu trong nhân dân hay những kẻ thù giai cấp
Trong nội bộ nhân dân, ca dao trào phúng thường chế giễu những
thói xấu không hợp với bản chất của người lao động Có một điểm đáng
chú ý là vì hay sử dụng phương pháp kể truyện, ca dao trào phúng có nhiều khả năng xây dựng nhân vật hơn là các loại dân ca trữ tình khác Nhưng trong
ca dao trào phúng bạn, những tính cách đáng cười được biểu hiện qua những tâm trạng, lời nói, hành động thường không tập trung lắm để có thể hình
thành nên những nhân vật tiêu biểu cho một tầng lớp nào đó Những thói xấu,
những con người xấu thường gặp thấy tản mạn ở các tầng lớp khác nhau trong nhân dân lao động
Những thói xấu, những con người xấu ấy, nhân dân gặp đâu thì chế giễu, đả kích đấy
Đối tượng bị cười có khi thì là một anh lười:
Trang 32Ăn no rồi lại nằm khoèo,
Hễ giục trồng chèo bế bụng đi xem
Có khi là những anh chàng tham ăn:
- Làm trai cho đáng nên trai,
Ăn cơm với vợ lại nài vét niêu
- Làm trai cho đáng nên trai, Vót đũa cho dài ăn vụng cơm con
Có khi lại là một phụ nữ chửa hoang còn cố giấu giếm lỗi lầm của
mình:
Chém cha cái nước sông Bờ, Tưởng rằng “báng nước” ai ngờ “báng con”
Có khi thì lại là loại người đã già mà còn muốn “chơi trống bỏi”:
Bà già đi chợ cầu Đông, Xem một quẻ bói lấy chồng lợi chăng?
Thầy bói xem quẻ nói rằng:
Lợi thì có lợi nhưng răng chẳng còn
Trong số những đối tượng đả kích của ca dao trào phúng, những đối tượng mà đông đảo nhân dân lao động tiếp xúc luôn không phải là những
“ngài” quan văn, những “ông” quan võ mà thường là những kẻ thừa hành, hoặc những kẻ tai to mặt lớn trong phạm vi một địa phương nhỏ là làng, xã:
Đó là các cậu cai, ông đội, là các ông xã, ông trùm
Ngày xưa khi đi đường, nhất là khi có việc cần phải lên cửa quan, người
phụ nữ lao động rất sợ gặp phải các “cậu” cai Các “cậu” thường hay nắm tay
các cô gái mà buông lời ghẹo cợt, nhiều khi lại dùng chính ngay dân ca để ghẹo cợt:
Gặp đây anh nắm cổ tay
Buộc phải cách gỡ ra, cô gái có thể mềm mỏng mà nói:
Trang 33Cậu cai buông áo em ra,
Để em đi chợ kẻo mà chợ trưa
Chợ trưa rau nó héo đi, Lấy gì nuôi mẹ, lấy gì nuôi con?
Trong câu hát trên, hình ảnh “cậu” cai cũng đã không ra gì rồi Nhưng ca dao trào phúng còn đả kích sâu cay hơn nữa loại nhân vật đó Một bài ca dao
đã “định nghĩa” “cậu” cai một cách cay độc:
Cậu cai nón dấu lông gà,
Cổ tay đeo nhẫn gọi là cậu cai
Ba năm được một chuyến sai,
Áo ngắn đi mượn, quần dài đi thuê
Và qua câu hát châm biếm sau đây về một cô gái chửa hoang, nhân dân
đã vạch trần sự xấu xa của cả cái tập đoàn những kẻ thừa hành và đại biểu cho giai cấp thống trị ở địa phương:
Đẻ đứa con trai,
Chẳng biết nó giống ai
Cái mặt thì giống ông cai
Cái đầu ông xã, cái tai ông trùm
Trong ca dao trào phúng, những bài đả kích vào các đại biểu trụy lạc
của nhà chùa và các loại thầy cúng, thầy bói chiếm một số lượng khá
nhiều Đó là vì trong đời sống thực tế, nhân dân tiếp xúc với loại người này thường xuyên hơn, thấy được nhiều bản chất của họ hơn Cũng như trong truyện cười dân gian, trong ca dao trào phúng, nhân dân vạch rõ và đả kích vào những hành động, ý nghĩ ngược hẳn với danh nghĩa của loại người này: Thầy phù thuỷ thì sợ ma, thầy bói thì nó dựa, thầy cúng thì không thành tâm, miệng ê a mà đầu óc chỉ nghĩ đến đĩa xôi, con gà ở nhân vật nhà sư hổ mang,
bị đả kích tập trung nhất là tính cách thoát tục giả dối Tính cách này thường
Trang 34biểu hiện ra ở mâu thuẫn giữa sự chay tịnh cần phải có của nhà sư với những dục vọng về ăn uống và trai gái, những dục vọng của con người trần tục nhất Những nhà sư tương tư gái đến “ốm lăn ốm lóc”, “bỏ kinh bỏ kệ”, những loại
“Nam mô bồ tát bồ hòn, ông sư bà vãi quận tròn lấy nhau”, những nhà sư miệng thì nam mô, bụng thì “một bồ dao găm, một trăm con chó, một lọ mắm tôm, một ôm rau húng, một thúng rau răm ” là những đối tượng đả kích không thương xót của ca dao trào phúng Đáng chú ý là ca dao, qua việc miêu
tả tâm trạng con người, còn nêu lên được một cách trực tiếp quan điểm của nhân dân đối với vấn đề tôn giáo nữa:
Ai lên Hương Tích Chùa Tiên, Gặp cô sư bác anh khuyên đôi lời:
Đem thân làm kiếp con người,
Tu sao cho trọn nước đời mà tu
Trong ca dao trào phúng, chúng ta cũng có những yếu tố tục như trong
truyện cười dân gian Và cũng như trong truyện cười dân gian, yếu tố tục
trong ca dao trào phúng không những chỉ là một phương tiện nghệ thuật, mà
thường còn mang ý nghĩa xã hội: Đem ghép những cái rất tục vào những cái rất nghiêm của trật tự phong kiến, lễ giáo phong kiến, cũng là một trong những cách đấu tranh mạnh mẽ và có hiệu quả:
Gặp cô yếm thắm Đội gạo lên chùa, Thò tay bóp vú
Khoan khoan tay chú,
Đổ thúng gạo tôi, Hôm nay ba mươi, Mai là mùng một,
Trang 35Đội gạo lên chùa cúng Bụt, Bụt ngoảnh mặt đi,
Ông Thích Ca mỉm miệng cười khì:
Của tam bảo để làm gì chẳng bóp !
1.3 Đặc trưng về nghệ thuật của ca dao hài hước
Theo tác giả Đào Thản trong cuốn “ca dao hài hước”(Nhà xuất bản Đà
Nẵng 2005):
Từ những mẫu đề, mô típ có sẵn, chẳng hạn như: Trăm năm, chiều
chiều…Làm trai cho đáng nên trai, trong các câu “Trăm năm ai chớ quên ai; chỉ thêu nên gấm, sắt mài nên kim”, “Chiều chiều lại nhớ chiều chiều; Nhớ người đãy gấm khăn điều vắt vai”, “Làm trai cho đáng nên trai; Xuống Đông Đông tĩnh, lên Đoài Đoài tan”, sẽ có vô số những câu ca với những nội dung
khác xuất hiện, và cũng từ đây xuất hiện những câu ca hài hước:
- Trăm năm, trăm nẳm, trăm nằm, Không yêu nhau nữa trả đôi trằm lại đây
- Trăm năm trăm tuổi trăm chồng,
Mà duyên chả lợt, má hồng chả phai
- Chiều chiều lại nhớ chiều chiều, Nhớ thầy ký lục ăn liều bánh ngô,
Ăn rồi lại thế đồng hồ…
- Làm trai cho đáng nên trai,
Ăn cơm với vợ lại nài vét niêu
Phỏng nhại có cải biến và đôi khi bóp méo một mẫu đề có sẵn từ trước, nhằm thể hiện một nội dung khác, là một trong những phương thức thô sơ nhưng khá phổ biến để tạo ra nhiều câu ca hài hước Sự trùng
lặp về khuân mẫu không làm cho ca dao bị nhàm chán, mà trái lại vẫn có khả năng gây được nhiều thú vị mới mẻ chính vì cách cải biến bất ngờ, đột xuất
Trang 36và không thiếu những yếu tố sáng tạo trong kết hợp từ ngữ Chúng ta đã quen với mô típ “bạn vàng” trong ca dao truyền thống và không sao quên được cái
cảnh từ giã “bạn về ta nắm lấy tay”, “chàng về cho chóng mà ra” do đó
không thể nào hết ngạc nhiên khi bắt gặp mấy câu:
- Bạn chơi với bạn vàng, Đừng chơi bạn vện ra đàng cắn nhau
- Bạn về ta nắm lấy đuôi,
Ta trói bốn cẳng ta thui cho vàng
- Chàng về thì đục cũng về, Dùi cui ở lại làm nghề chi đây
Đặc biệt việc cải biến một yếu tố trong ca dao trữ tình nghiêm túc để
chuyển thành ca dao hài hước mà không làm thay đổi nội dung trữ tình, hơn
nữa lại có khả năng đào sâu thêm vào những tình huống tế nhị khác cũng có thể tìm thấy ví dụ trong hai câu sau đây:
- Hai ta ăn một quả cau, Giấu thầy giấu mẹ ăn sau bóng đèn
- Hai ta ăn một quả hồng, Giấu cha, giấu mẹ, giấu chồng mà ăn
Chỉ cần thay quả cau bằng quả hồng, tác giả dân gian đã làm được một
phép chuyển hoá tài tình từ trái cấm lễ giáo phong kiến sang trái cấm của vườn địa đàng Sắc thái hài hước của câu sau được thể hiện ra từ đấy
Đối đáp cũng là một phương thức thể hiện đặc trưng trong nghệ thuật ca dao hài hước Đối đáp khiến cho ngôn ngữ sống động sắc bén, có
điều kiện va chạm, cọ sát làm sảy ra nhiều tình huống mới hấp dẫn, thích hợp với việc gây cười
Trang 37Có những cặp đối đáp ra đời từ những câu ca dao nghiêm túc có sẵn
từ trước Nhưng phần lớn ca dao hài hước thường được tạo ra theo kết cấu
đối đáp:
- Ai làm cho cải tôi ngồng, Cho dưa tôi khú cho chồng tôi chê?
Chồng chê thì mặc chồng chê, Dưa khú nấu với cá trê ngọt lừ!
- Thân em tội nghiệp vì đâu, Ngày ngày em chổng phao câu lên trời
Bây giờ nông vụ chí kỳ,
Em mà không chổng lấy gì anh ăn.?
- Mẹ ơi con muốn lấy chồng, Con ơi mẹ cũng một lòng như con
Nhiều khi chỉ một câu, một lời độc thoại thôi, mà vẫn có tính chất như đang đối đáp, tranh cãi hay đang cật vấn nảy lửa với ai đó:
- Có chồng càng dễ chơi ngang,
Đẻ ra con thiếp, con chàng, con ai?
- Tội lội xuống sông, Đánh ba tiếng cồng lại nổi tội lên!
- Tham giàu đã thấy giàu cha, Vừa ăn vừa khóc như ma táng hè!
Giống như nghệ thuật trong truyện cười nói chung, ở đấy điểm nút gây
cười bao giờ cũng được đẩy về cuối, cách dẫn dắt của ca dao hài hước cũng
luôn luôn đi từ không cười đến tức cười Mới vào đầu, ta chả thấy có gì đáng
cười cả, mà cũng khó thấy có dấu hiệu gì báo truớc sẽ xuất hiện cái cười Thí dụ:
Thương anh hãy đứng xa xa, Đừng có đứng cận người ta nghi ngờ
Cho đến câu tiếp theo ngay sau đó, vẫn chả có bóng dáng nụ cười đâu cả:
Trang 38Thương anh hãy đứng cho xa, Phải đến câu cuối, tiếng cời mới lộ ra, không dừng được, bằng những chi tiết diễn đạt vừa cụ thể vừa có sức hấp dẫn:
Con mắt liếc cũng bằng ba đứng gần
Trình tự các ý tứ hình ảnh, chi tiết đa rạng bao giờ cũng lần lượt từ cái chung khái quát đến cái riêng, cái riêng biệt, cá biệt rồi mới đến cái
cụ thể và hết sức cụ thể:
- Có nam có nữ mới nên xuân,
Có xôi có thịt mới nên phần,
Có tre có trúc mới nên cần câu rô
- Ăn quả nhớ kẻ trồng cây
Ăn khoai nhớ kẻ cho dây mà trồng
Cứ thế hình ảnh so sánh ví von muốn gợi được tiếng cười hài hước
không thể là những gì mây gió xa xôi, mà phải là thứ gây được ấn tượng trực tiếp, đậm nét, thật sự gần gũi và thiết thực:
- Lấy anh, anh sắm sửa cho:
Cái bị, cái bát, cái quạt mo đập ruồi
- Lấy ai thì lấy một người, Tàu bè duyên buôn mít cho chồng gặm xơ
Gặm xơ trở lại gặm cùi, Còn dăm ba cái hột để lùi cho con
Cường điệu, phóng đại, nói ngoa, nói ngược, nói mỉa, nói giảm đủ các kiểu kết hợp với nhiều lối chơi chữ, đối âm, ám chỉ…đều là những biện pháp hữu hiệu được dùng để thiết kế nên những văn bản ca dao đặc sắc
giàu tính gợi cảm và ý vị hài hước, với các mức độ từ thấp đến cao Có thể nói rằng năng khiếu hài hước, trào lộng của người nghệ sĩ dân gian không những đã khiến cho ca dao dân ca có thêm những phẩm chất và giá trị mới
Trang 39làm tăng sức truyền cảm, sức lưu giữ sâu lắng của thơ ca mà còn là một thứ năng khiếu sáng tạo nghệ thuật thật sự
Tác giả Đinh Gia Khánh (chủ biên) trong cuốn “Văn học dân gian Việt Nam”
(NXB Giáo dục 1998) lại quan niệm về nghệ thuật ca dao hài hước như sau:
Nghệ thuật ca dao trào phúng kết hợp được nhiều biện pháp của truyện cười dân gian và của các loại ca dao trữ tình khác Kể chuyện ở đây thường xen lẫn với miêu tâm trạng Đặc điểm này, biểu hiện ra ở chỗ
các tác giả dân gian hay dùng ngay những lời nói, ý nghĩ ở ngôi thứ nhất, để cho nhân vật tự vạch cái xấu xa của mình ra Hình thức kể chuyện trong ca dao trào phúng ngắn gọn, súc tích, nhờ ở ngôn ngữ lựa chọn, điêu luyện,
nhiều hình ảnh, nhờ ở nhịp điệu của thơ ca Nhiều cách chơi chữ được sử
dụng để nêu bật mâu thuẫn trong tính cách, tâm trạng của nhân vật, gây ra
tiếng cười tế nhị, sâu sắc (ví dụ “lợi” với nghĩa “răng lợi” và “ích lợi”; “báng nước” và “báng con”…)
Từ những ý kiến trên của các nhà nghiên cứu, chúng ta có thể tóm lược
lại như sau:
Về đặc trưng nội dung của ca dao hài hước:
*Nội dung theo chủ đề
- Hài hước những chuyện đáng cười trong thực tế đời sống
Trong thực tế đời sống xã hội, thời nào cũng vậy, có thể quan sát thấy vô
số những điều đáng cười Ví dụ một ông bố bà mẹ nào đó có thể chép miệng nghĩ về cảnh cúng giỗ linh đình hoặc làm ma, làm chay cho người chết:
Sống thì con chẳng cho ăn, Chết thì xôi thịt làm văn tế ruồi
- Hài hước những thói hư tật xấu
+Phê phán những thói hư tật xấu của phụ nữ:
Trang 40- Lỗ mũi mười tám gánh lông, Chồng yêu chồng bảo: Râu rồng trời cho,
Đêm nằm thì ngáy o o, Chồng yêu chồng bảo: Gáy cho vui nhà,
Đi chợ thì hay ăn quà, Chồng yêu chồng bảo: Về nhà đỡ cơm
Trên đầu những rác cùng rơm,
Chồng yêu chồng bảo: Hoa thơm rắc đầu
- Hài hước nạn tảo hôn
Cuộc sống thật lắm màu sắc, muôn hình muôn vẻ Có cảnh tượng hùng
vĩ, cao cả khiến ta phải cúi đầu khâm phục Có cảnh ngộ thương tâm làm trái tim ta thổn thức, chua xót Nhưng lắm khi cuộc sống lại bày ra những trò trớ trêu mà ta không khỏi tức cười Bài ca dao sau đây bêu riếu đứa con tí hon còn phải cõng trên vai người khác, có thể nằm vừa trong chiếc gàu sòng để người ta múc lên như múc một vật nhỏ rơi xuống nước mà đã “làm chồng”
Bồng bồng cõng chồng đi chơi,
Đi qua chỗ lội, đánh rơi mất chồng
Chị em ơi cho tôi mượn cái gàu sòng,
Để tôi tát nước múc chồng tôi nên
Qua đó phê phán nạn tảo hôn Nhưng bài ca dao còn là lời than thân trách phận, lời kêu gào thảm thiết của cô gái đang là nạn nhân của hủ tục đó Đọc bài ca dao chúng ta thấy buồn cười trước một tình thế trớ trêu nhưng liền
đó ta thấy chua xót, ngậm ngùi thay cho thân phận người phụ nữ xưa kia
- Hài hước những ông chồng cờ bạc
- Cờ bạc là bác thằng bần, Cửa nhà bán hết, tra chân vào cùm