Nhiều phương án quy hoạch chưa dự báo được hết tốc độ phát triển kinh tế xã hội của địa phương trong kỳ quy hoạch, việc bố trí quỹ đất cho các thành phần kinh tế không sát với với nhu cầ
Trang 1PHẠM THỊ TRÀ GIANG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN QUY
HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT XÃ TÍCH LƯƠNG,
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thái Nguyên – 2010
Trang 2luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ trong quá trình thực hiện luận văn đã được cám ơn, các thông tin trích dẫn đã chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày 30 tháng 10 năm 2010
Tác giả luận văn
PHẠM THỊ TRÀ GIANG
Trang 3Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông, người đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn chỉnh luận văn của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Tài nguyên và Môi trường, khoa Sau đại học Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên, lãnh đạo, cán bộ UBND xã Tích Lương đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn này
Để hoàn thành luận văn, tôi còn nhận được sự động viên, khích lệ của bạn bè đồng nghiệp và những người thân trong gia đình Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả những sự giúp đỡ quý báu đó
Thái Nguyên, ngày 30 tháng 10 năm 2010
Tác giả luận văn
PHẠM THỊ TRÀ GIANG
Trang 4TT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
2 FAO Tổ chức Nông Lương Liên hiệp quốc
Trang 5STT Tên bảng Trang
2 Bảng 4.2: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp xã Tích Lương
Bảng 4.5: Kết quả thực hiện chuyển mục đích sử dụng đất nông
nghiệp sang các mục đích khác của xã Tích lương- Thành phố Thái Nguyên
72
6 Bảng 4.6: Kết quả thực hiện Thu hồi đất sử dụng đất nông nghiệp
7
Bảng 4.7: Kết quả thực hiện đất chưa sử dụng vào sử dụng trong
mục đích nông nghiệp của xã Tích lương- Thành phố Thái Nguyên
76
8 Bảng 4.8: Kết quả thực hiện chuyển mục đích PNN sang mục
9 Bảng 4.9: Kết quả thực hiện thu hồi đất PNN của xã Tích Lương 78
10 Bảng 4.10: Kết quả thực hiện đưa đất chưa sử dụng vào sử dụng
trong mục đích phi nông nghiệp của xã Tích Lương 81
11 Bảng 4.11: Kết quả thực hiện quy hoạch cac tuyến đường giao
thông của xã Tích Lương – thành phố Thái Nguyên 82
12 Bảng 4.12: Kết quả thực hiện quy hoạch các công trình xây dựng
13 Bảng 4.13: Kết quả thực hiện đưa đất chưa sử dụng vào sử dụng
Trang 6STT Tên biểu đồ Trang
1 Biểu đồ 4.1 Giá trị sản xuất các ngành giai đoạn 2005 – 2010
2 Biểu đồ 4.2 Hiệu quả kinh tế một số loại cây trồng và vật nuôi xã
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong xu thế hội nhập như ngày nay, cùng với nhu cầu của sự phát triển kinh tế, tốc độ đô thị hoá ngày càng cao, sự gia tăng của các khu công nghiệp ngày càng mạnh, là nhu cầu sử dụng đất vào các mục đích khác nhau
để đáp ứng nhu cầu cho sự tồn tại và sự phát triển của con người ngày càng gia tăng Điều này đã dẫn đến tình trạng đất đai bị khai thác và sử dụng một cách bừa bãi, môi trường đất bị huỷ hoại nghiêm trọng
Tuy nhiên, quá trình triển khai lập và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất còn nhiều hạn chế bất cập Việc tổ chức thực hiện phương
án quy hoạch sử dụng đất được phê duyệt còn thiếu đồng bộ, thiếu cơ chế kiểm tra, giám sát dẫn đến tình trạng “quy hoạch treo” Nhiều phương án quy hoạch chưa dự báo được hết tốc độ phát triển kinh tế xã hội của địa phương trong kỳ quy hoạch, việc bố trí quỹ đất cho các thành phần kinh tế không sát với với nhu cầu thực tế, dẫn đến qúa trình thực hiện phải điều chỉnh bổ sung nhiều lần; đặc biệt ở những địa phương có điều kiện thuận lợi về giao thông,
gần các trung tâm kinh tế lớn, tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra nhanh
(công nghiệp, dịch vụ phát triển) Trước thực trạng như vậy, việc quy hoạch
sử dụng đất là cần thiết và hữu hiệu
Đứng trước vấn đề đó, Ủy ban nhân dân xã Tích Lương đã tiến hành lập Quy hoạch sử dụng đất xã Tích Lương thời kỳ 2006- 2010 và được Ủy ban nhân dân thành phố Thái Nguyên phê duyệt tại Quyết đinh số 2574/ QĐ/UBND, ngày 30/08/2007 Kết quả thực hiện Quy hoạch sử dụng đất những năm qua đã góp phần tích cực vào mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt trong đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, đường, trường, trạm xây dựng nhà máy khai thác và chế biến khoáng sản một cách hiệu quả tiềm năng đất đai Đồng thời làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch sử dụng đất hàng năm
Trang 8Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ trước mắt mà cả lâu dài Với mục tiêu giúp địa phương nhìn nhận đánh giá kết quả thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006- 2010, phân tích, đánh giá những kết quả đã đạt được và những tồn tại bất cập trong quá trình thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao tính khả thi của phương án quy hoạch sử dụng đất; khắc phục những nội dung sử dụng đất bất hợp lý, đề xuất, kiến nghị điều chỉnh những nội dung của phương án quy hoạch sử dụng đất không theo kịp những biến động trong phát triển kinh tế – xã hội của địa phương Được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Sau Đại học- trường Đại học Nông Lâm - Thái Nguyên Dưới sự hướng dẫn của thầy giáo PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông - Phó Hiệu
Trưởng trường Đại học Nông Lâm, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh
giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất xã Tích lương, thành phố Thái Nguyên”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu công tác thực hiện quy hoạch sử dụng đất của xã Tích Lương nhằm đánh giá được những thành tựu, hạn chế trong việc thực hiện quy hoạch kế
hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006- 2010 đã phê duyệt
Đánh giá thực trạng và nhằm tìm ra những nguyên nhân chủ yếu gây cản trở việc quy hoạch trên địa bàn xã trong những năm qua
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao công tác thực hiện quy hoạch sử dụng đất của xã trong giai đoạn tới
Trang 9- Đánh giá công tác thực hiện quy hoạch sử dụng đất của xã Tích Lương
nhằm đánh giá kết quả thực hiện và tìm ra những thuận lợi, khó khăn, tìm ra những yếu tố tích cực, những hạn chế bất cập trong quá trình tổ chức thực hiện phương án quy hoạch, đánh giá kết quả thực hiện và tìm ra những thuận lợi, khó khăn, nguyên nhân của những tồn tại, bất cập trong công tác thực hiện quy
hoạch sử dụng đất
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao tổ chức thực hiện có hiệu quả phương án quy hoạch sử dụng đất trân địa bàn xã Đảm bảo hài hòa giữa các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế của xã
Trang 10TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học, lý luận của quy hoạch sử dụng đất
2.1.1 Khái niệm và nguyên tắc của quy hoạch sử dụng đất
2.1.1.1 Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất
Đất đai là một vùng lãnh thổ nhất định (vùng đất, khoanh đất, vạt đất, mảnh đất, miếng đất .) có vị trí, hình thể, diện tích với những tính chất tự nhiên hoặc mới tạo thành (đặc tính, thổ nhưỡng, điều kiện địa hình, điạ chất, thuỷ văn, chế độ nước, nhiệt độ, ánh sáng, thảm thực vật, các tính chất lý hoá tính ) tạo ra điều kiện nhất định cho việc sử dụng theo các mục đích khác nhau Như vậy, để sử dụng đất cần phải làm quy hoạch – đây là quá trình nghiên cứu, lao động sáng tạo nhằm phân định ý nghĩa, mục đích của từng phần lãnh thổ và đề xuất một trật tự sử dụng đất nhất định [13]
Về bản chất: Đất đai là đối tượng của mối quan hệ sản xuất trong lĩnh vực sử dụng đất (gọi là mối quan hệ đất đai) và tổ chức sử dụng đất như “tư liệu sản xuất đặc biệt” gắn chặt với phát triển kinh tế - xã hội [18] Như vậy, Quy hoạch sử dụng đất sẽ là một hiện tượng kinh tế - xã hội thể hiện đồng thời ba tính chất: kinh tế, kỹ thuật và pháp chế Trong đó cần hiểu:
- Tính kinh tế: Thể hiện ở hiệu quả sử dụng đất đai
- Tính kỹ thuật: Bao gồm các tác nghiệp chuyên môn kỹ thuật như điều tra, khảo sát, xây dựng bản đồ, khoanh định, xử lý số liệu
- Tính pháp chế: Xác nhận tính pháp lý về mục đích và quyền sử dụng đất theo quy hoạch nhằm đảm bảo sử dụng đất đai đúng pháp luật
Từ đó, có thể đưa ra khái niệm: quy hoạch sử dụng đất là hệ thống các biện pháp của Nhà nước về quản lý và tổ chức sử dụng đất đầy đủ, hợp lý, hiệu quả, khoa học thông qua việc phân bổ đất đai cho các mục đích sử dụng
và định hướng tổ chức sử dụng đất cho các cấp lãnh thổ, các ngành, tổ chức
Trang 11đường lối kinh tế của Nhà nước trên cơ sở dự báo theo quan điểm sinh thái bền vững [2]
Theo FAO [19]: “Quy hoạch sử dụng đất là quá trình đánh giá tiềm năng đất và nước một cách có hệ thống phục vụ việc sử dụng đất và kinh tế -
xã hội nhằm lựa chọn ra phương án sử dụng đất tốt nhất Mục tiêu của quy hoạch sử dụng đất là lựa chọn và đưa ra phương án đã lựa chọn vào thực tiễn
để đáp ứng nhu cầu của con người một cách tốt nhất nhưng vẫn bảo vệ được nguồn tài nguyên cho tương lai Yêu cầu cấp thiết phải làm quy hoạch là do nhu cầu của con người và điều kiện thực tế sử dụng đất thay đổi nên phải nâng cao kỹ năng sử dụng đất”
Phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định, xét duyệt là căn cứ để bố trí sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất đặc biệt là chuyển diện tích trồng lúa có hiệu quả cao sang các mục đích phi nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản hoặc trồng cây lâu năm Như vậy, mục đích của quy hoạch sử dụng đất nhằm tạo ra những điều kiện về tổ chức lãnh thổ, thúc đẩy các đơn vị sản xuất thực hiện đạt và vượt mức kế hoạch Nhà nước giao
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đóng vai trò quan trọng, là cơ sở để Nhà nước thống nhất quản lý đất đai hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả Nó được xây dựng trên định hướng phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển đô thị, yêu cầu bảo vệ môi trường, tôn tạo di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh; Hiện trạng quỹ đất và nhu cầu sử dụng; Định mức sử dụng đất, tiến bộ khoa học kỹ thuật; Kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất kỳ trước Những năm gần đây, quy hoạch đã góp phần không nhỏ tạo ra kết quả đáng khích lệ, giúp khai thác, sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm
và có hiệu quả, phát huy tiềm năng, nguồn lực về đất, mở rộng diện tích đất canh tác, nâng cao chất lượng, đảm bảo an toàn lương thực [16]
Trang 12các quyết định nhằm tạo điều kiện đưa đất đai vào sử dụng bền vững để mang lại lợi ích cao nhất, thực hiện đồng thời hai chức năng: Điều chỉnh các mối quan hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất đặc biệt với mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội, kết hợp với bảo vệ đất và môi trường [9]
Căn cứ vào đặc điểm, điều kiện tự nhiên, phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của mỗi vùng lãnh thổ, quy hoạch sử dụng đất được tiến hành nhằm định hướng cho các cấp, các ngành trên địa bàn lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất chi tiết của mình; xác lập sự ổn định về mặt pháp lý cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai; làm cơ sở tiến hành cấp đất và đầu tư phát triển sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực, phục vụ các nhu cầu dân sinh, văn hoá – xã hội
Mặt khác, quy hoạch sử dụng đất còn là biện pháp hữu hiệu của Nhà nước nhằm tổ chức lại việc sử dụng đất theo đúng mục đích, hạn chế sự chồng chéo gây lãng phí đất đai, tránh tình trạng chuyển mục đích tuỳ tiện, làm giảm sút nghiêm trọng quỹ đất nông nghiệp, lâm nghiệp (đặc biệt là diện tích trồng lúa và đất lâm nghiệp có rừng); Ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực, tranh chấp, lấn chiếm huỷ hoại đất, phá vỡ cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường dẫn đến những tổn thất hoặc kìm hãm sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội và hậu quả khó lường về tình hình bất ổn chính trị, an ninh quốc phòng ở từng địa phương, đặc biệt là trong giai đoạn chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường [2]
Trang 132.1.1.2 Những nguyên tắc của quy hoạch sử dụng đất
Với những áp lực và thực trạng sử dụng đất đai hiện nay cho thấy nguồn tài nguyên đất đai ngày càng khan hiếm và có giới hạn, dân số thế giới gia tăng Do đó, đòi hỏi phải có sự đối chiếu hợp lý giữa các kiểu sử dụng đất đai và loại đất đai để đạt được khả năng tối đa về sản xuất ổn định và an toàn lương thực, đồng thời cũng bảo vệ được hệ sinh thái cây trồng và môi trường sống Quy hoạch sử dụng đất đai là nền tảng cho quá trình này, thông qua quy hoạch sử dụng đất, Nhà nước thực hiện chức năng phân phối và tái phân phối quỹ đất nhằm đáp ứng nhu cầu về sử dụng đất cho các ngành, các đơn vị, cá nhân sử dụng đất và điều chỉnh các mối quan hệ đất đai Như vậy quy hoạch
sử dụng đất thực hiện đồng thời hai chức năng: điều chỉnh mối quan hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất như một tư liệu sản xuất đặc biệt được xây dựng dựa trên những nguyên tắc sau:
Một là, Chấp hành quyền sở hữu Nhà nước về đất đai
Nguyên tắc này là cơ sở của mọi hoạt động và biện pháp liên quan tới quyền sử dụng đất, là nguyên tắc quan trọng nhất trong hoạt động quy hoạch sử dụng đất Nó không chỉ mang tính ý nghĩa kinh tế, mà còn là một vấn đề chính trị quan trọng, bởi vì tài nguyên đất đã được quốc hữu hoá là đối tượng sở hữu Nhà nước, đồng thời là căn cứ quan trọng để phát triển sức sản xuất, để củng cố
và hoàn thiện phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là nông nghiệp
Luật pháp nhà nước tuyệt đối nghiêm cấm việc sử dụng đất không đúng mục đích, bảo vệ quyền bất khả xâm phạm quyền sử dụng đất và tính ổn định của mỗi đơn vị sử dụng đất, đó là cơ sở quan trọng nhất để phát triển sản xuất Theo quy định tại điều 5 của Luật đất đai năm 2003: đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu Quyền quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước được thể hiện theo luật pháp và thể hiện ở nhiều mặt như đại diện chủ quyền quốc gia về lãnh thổ; quyền giao đất sử dụng ổn định lâu dài
Trang 14cho các tổ chức, hộ gia đình cá nhân; quyền cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước thuê đất; quyền quyết định mục đích sử dụng đất; quyền xác định khung giá đất; quyền giám sát, xử lý các vi phạm pháp luật về đất đai Để thực hiện quyền quản lý tập trung, thống nhất của mình, Nhà nước phải nắm
và sử dụng tốt các công cụ quản lý cơ bản về quy hoạch sử dụng đất, công cụ tài chính, pháp luật và các chính sách kinh tế khác
Quy hoạch sử dụng đất còn có vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa các hành vi xâm phạm sự toàn vẹn lãnh thổ của các đơn vị sử dụng đất Khi quy hoạch sử dụng đất, người ta đã thiết lập nên đường ranh giới giữa các đơn
vị sử dụng đất, giữa sản xuất nông nghiệp với khu dân cư, giữa các chủ sử dụng đất với nhau, tức là đã xác định phạm vi quyền lợi của mỗi chủ sử dụng đất Nhà nước cho phép các chủ sử dụng đất có các quyền về sử dụng đất, quyền sử dụng đất của các chủ sử dụng được xác nhận bằng các văn bản pháp luật và được luật pháp Nhà nước bảo hộ Mọi thay đổi trong cơ cấu đơn vị sử dụng đất phải được phản ánh kịp thời trong các tài liệu thích hợp
Hai là, sử dụng đất tiết kiệm, bảo vệ đất và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, là điều kiện tồn tại cơ bản, gắn liền với hoạt động của con người, của các tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội của Nhà nước, có vai trò quan trọng với con người Đất đai có một đặc điểm rất quan trọng là nếu được sử dụng đúng mục đích và hợp lý thì chất lượng ngày càng tốt lên Tính chất đặc biệt này của đất đòi hỏi chúng ta phải hết sức chú
ý trong việc sử dụng đất Trong điều kiện diện tích đất đai có hạn, trong khi dân số không ngừng tăng nhanh, gây áp lực lớn đối với việc sử dụng đất đai Điều này đòi hỏi việc sử dụng đất phải tiết kiệm và hiệu quả Sử dụng đất tiết kiệm nghĩa là phải bố trí hài hoà giữa nhu cầu sử dụng đất của các ngành, hạn chế tối đa việc chuyển đất canh tác có hiệu quả cao sang sử dụng và các mục đích phi nông nghiệp, đảm bảo an toàn lương thực quốc gia, thoả mãn nhu
Trang 15cầu nông sản cho toàn xã hội và nguyên liệu cho công nghiệp, đồng thời cân đối quỹ đất thích hợp với nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nâng cao chất lượng đất và mở rộng diện tích
Một trong những vấn đề bảo vệ đất quan trọng nhất là ngăn ngừa và dập tắt các quá trình xói mòn do gió và nước gây nên Đặc biệt đối với nước
ta với đặc điểm địa hình đồi núi chiếm tới 3/4 lãnh thổ, lại nằm ở vùng nhiệt đới, mưa nhiều và tập trung, nhiệt độ không khí cao, các quá trình khoáng hoá diễn ra mạnh trong đất nên dễ bị rửa trôi, xói mòn, nghèo chất hữu cơ và chất dinh dưỡng dẫn đến suy thoái; quan trọng hơn nữa trong thời gian qua do nạn chặt phá, đốt rừng diễn ra bừa bãi, sử dụng đất không bền vững làm cho nhiều vùng đất bị thoái hoá ngày càng nghiêm trọng, nhiều nơi mất khả năng sản xuất và xu hướng hoang mạc hoá ngày càng tăng Những điều này có tác hại rất lớn đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp, nếu chúng ta không có biện pháp chống xói mòn một cách có hệ thống thì hậu quả ngày càng lớn Xói mòn sẽ làm mất đi lớp đất mặt mầu mỡ nhất Khi tổ chức các biện pháp chống xói mòn cần tính đến các đặc điểm địa hình, thổ nhưỡng, thuỷ văn của từng vùng Tổ hợp các biện pháp chống xói mòn sẽ được giải quyết trong một
đồ án quy hoạch có luận chứng khoa học
Nhưng trong lĩnh vực bảo vệ đất, quy hoạch sử dụng đất không chỉ làm nhiệm vụ chống xói mòn, mà còn phải chống các quá trình ô nhiễm đất, bảo
vệ các yếu tố của môi trường thiên nhiên
Ô nhiễm môi trường là vấn đề đáng quan tâm của toàn xã hội Đất có thể bị ô nhiễm bởi chất thải công nghiệp, chất thải sinh hoạt, nước thải ra từ các nhà máy và nước thải sinh hoạt từ các đô thị lớn, ô nhiễm bởi các chất phóng xạ, bởi việc sử dụng quá mức các hoá chất bảo vệ thực vật độc hại và lạm dụng phân hoá học Trong các phương án quy hoạch sử dụng đất cần dự
Trang 16kiến các biện pháp chống ô nhiễm một cách có hiệu quả
Để tránh lãng phí, khi cấp đất cho các nhu cầu phi nông nghiệp, trong các phương án quy hoạch sử dụng đất phải bố trí hợp lý các công trình nhà ở
và phục vụ sản xuất theo tinh thần tiết kiệm đất
Ba là, tổ chức phân bổ quỹ đất cho các ngành đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội
Khi phân bổ quỹ đất cho các ngành, cần bảo đảm nguyên tắc tổ chức sử dụng tài nguyên đất vì lợi ích của nền kinh tế quốc dân nói chung và từng ngành nói riêng, trong đó ưu tiên cho ngành nông nghiệp
Sự phát triển của các ngành nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, thuỷ điện, dầu khí đều đòi hỏi phải có đất Việc bố trí các xí nghiệp công nghiệp, các tuyến giao thông vận tải, các khu khai thác khoáng sản và công trình xây dựng lớn thường được dự kiến trước trong kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân dài hạn, với tiêu chí: những khoanh đất giao cho các nhu cầu phi nông nghiệp nên lấy từ đất chưa sử dụng hoặc đất sử dụng kém hiệu quả trong nông nghiệp
Khi giao đất cho các nhu cầu phi nông nghiệp, hầu như bao giờ cũng làm thay đổi cơ cấu sử dụng đất của đơn vị bị mất đất Do đó, khi xây dựng
dự án giao đất cần lưu ý để hoạt động sản xuất của các cơ sở đó không bị hoặc
ít bị ảnh hưởng nhất Trong trường hợp, nếu việc giao đất cho nhu cầu phi nông nghiệp làm cho cơ cấu sử dụng đất bị thay đổi nhiều, tổ chức lãnh thổ bên trong bị đảo lộn thì phải quy hoạch lại toàn bộ hoặc một phần hoặc từng
bộ phận cho đơn vị sử dụng đất đó
Khi đánh giá về mặt kinh tế những hậu quả do việc giao đất gây ra Chủ
sử dụng đất bị mất đất có quyền đòi hỏi chủ được giao đất phải bồi thường toàn bộ những khoản thiệt hại do việc thu hồi đất và giao đất gây ra và cả
Trang 17những chi phí để quy hoạch lại Việc bồi thường những khoản chi phí trên cho chủ bị mất đất là nghĩa vụ và trách nhiệm của chủ được giao đất
Bốn là, quy hoạch sử dụng đất phải tạo ra những điều kiện tổ chức lãnh thổ hợp lý
Quy hoạch sử dụng đất được tiến hành theo kế hoạch chung của Nhà nước, của ngành và của từng đơn vị sử dụng đất cụ thể Trên cơ sở đó có thể
áp dụng các hình thức quản lý kinh tế tiên tiến, ứng dụng các công nghệ mới, các tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, hiệu quả sử dụng đất và sử dụng lao động
Quy hoạch sử dụng đất phải nhằm mục đích tạo ra những điều kiện về
tổ chức lãnh thổ thúc đẩy các đơn vị sản xuất thực hiện đạt và vượt mức kế hoạch Nhà nước giao Khi quy hoạch sử dụng đất, người ta dự kiến phương hướng sử dụng đất trong một thời gian dài
Quy hoạch sử dụng đất phải có sự kết hợp hài hoà nhu cầu sử dụng đất của các ngành, tổ chức lãnh thổ hợp lý mới giúp cho việc phát triển các ngành cân đối theo chỉ tiêu và nhu cầu sử dụng đất đã định
Năm là, phải phù hợp với điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội của vùng lãnh thổ
Mỗi vùng, mỗi đơn vị sử dụng đất đều có những điểm khác biệt về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội nên phương án quy hoạch xây dựng phù hợp cho từng vùng cũng khác nhau Nếu không thì không thể tổ chức sử dụng hợp
lý đất đai
Điều kiện tự nhiên là các yếu tố về khí hậu, điều kiện đất đai (địa hình, thổ nhưỡng), khí hậu, ánh sáng, nguồn nước và các điều kiện khác đây là các yếu tố cơ bản để xác định công dụng của đất đai, có ảnh hưởng trực tiếp, cụ thể và sâu sắc nhất đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp Vì vậy, trong thực tiễn việc sử dụng đất cần tuân thủ quy luật tự nhiên, tận dụng các lợi thế
Trang 18nhằm đạt hiệu ích cao nhất về kinh tế, xã hội và môi trường.[1]
Trong số các điều kiện kinh tế - xã hội phải kể đến các yếu tố như chế
độ xã hội, dân số, lao động, chính sách đất đai, sức sản xuất và trình độ phát triển của kinh tế hàng hoá, cơ cấu kinh tế và phân bổ sản xuất, các điều kiện
về công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, giao thông vận tải Căn cứ vào yêu cầu của thị trường và xã hội, xác định mục đích sử dụng đất, kết hợp chặt chẽ yêu cầu sử dụng đất với ưu thế tài nguyên thiên nhiên đất đai để đạt tới cơ cấu tổng thể hợp lý nhất, với diện tích đất đai có hạn sẽ mang lại hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội ngày càng cao và sử dụng đất đai được bền vững
2.1.2 Một số lý luận về sử dụng đất hợp lý
2.1.2.1 Đất đai và chức năng của đất đai
Định nghĩa đất đai theo Brinkman và Smyth (1976), về mặt địa lý mà nói đất đai “là một vùng đất chuyên biệt trên bề mặt của trái đất có những đặc tính mang tính ổn định, hay có chu kỳ dự đoán được trong khu vực sinh khí quyển theo chiều thẳng từ trên xuống dưới, trong đó bao gồm: không khí, đất
và lớp địa chất, nước, quần thể thực vật và động vật và kết quả của những hoạt động bởi con người trong việc sử dụng đất đai ở quá khứ, hiện tại và trong tương lai”
Đến năm 1993, trong Hội nghị quốc tế về môi trường ở Rio de janerio, Brazinl, (1993), đất đai về mặt thuật ngữ khoa học được hiểu theo nghĩa rộng được xác định đất đai là: “diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó, bao gồm: khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước (hồ, sông, suối, đầm lầy), các lớp trầm tích sát bề mặt, cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật và động vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước, hay hệ thống thoát nước, đường xá, nhà cửa )
Trang 19Như vậy, đất đai có thể gồm: Khí hậu, Đất, Nước, Địa hình/địa chất, Thực vật, Động vật, Vị trí, Diện tích, Kết quả hoạt động của con người [14]
Theo định nghĩa về đất đai của Luật đất đai năm (2003) [11] thì: “Đất
là tài sản quốc gia, là tư liệu sản xuất chủ yếu, là đối tượng lao động đồng thời cũng là sản phẩm lao động Đất còn là vật mang của hệ sinh thái tự nhiên và
hệ sinh thái canh tác, đất là mặt bằng để phát triển nền kinh tế quốc dân.”
Theo FAO (1995), các chức năng của đất đai đối với hoạt động sản xuất
và tồn tại của xã hội loài người được thể hiện qua các mặt như sau: sản xuất, môi trường sống, điều chỉnh khí hậu, cân bằng sinh thái, tồn trữ và cung cấp nguồn nước, dự trữ (nguyên liệu, khoáng sản trong lòng đất); không gian sự sống, bảo tồn, lịch sử; vật mang sự sống; phân vị lãnh thổ Như vậy, có thể khái quát Đất đai là điều kiện chung nhất đối với mọi ngành sản xuất và hoạt động của con người, vừa là đối tượng lao động (cho môi trường để tác động như: xây dựng nhà xưởng, bố trí máy móc, làm đất ), vừa là phương tiện lao động (cho công nhân nơi đứng, dùng để gieo trồng, nuôi gia súc ) Như vậy, đất không phải là đối tượng của từng cá thể mà chúng ta đang sử dụng coi là của mình, không chỉ thuộc về chúng ta Đất là điều kiện vật chất cần thiết để tồn tại và tái sản xuất các thế hệ tiếp nhau của loài người Vì vậy trong sử dụng đất cần làm cho đất tốt hơn cho các thế hệ mai sau (Tổng cục Địa chính 1996)
Nhu cầu tăng trưởng kinh tế xã hội phát triển mạnh, cùng với sự bùng
nổ dân số đã làm cho mối quan hệ giữa con người và đất ngày càng căng thẳng, những sai lầm liên tục của con người trong quá trình sử dụng đất (có
ý thức hoặc vô ý thức) dẫn đến huỷ hoại môi trường đất, một số chức năng nào đó của đất bị yếu đi Vấn đề sử dụng đất đai ngày càng trở nên quan trọng và mang tính toàn cầu Với sự phát triển không ngừng của sức sản xuất, chức năng của đất đai cần được nâng cao theo hướng đa dạng nhiều tầng nấc, để truyền lại cho các thế hệ mai sau [14]
Trang 20Các chức năng của đất đai đối với hoạt động sản xuất và sinh tồn của
xã hội loài người theo Lê Quang Trí [14], được thể hiện ở các mặt sau:
- Chức năng sản xuất: Đất đai là nền tảng cho hệ thống hỗ trợ sự sống, thông qua việc sản xuất sinh khối để cung cấp lương thực, thực phẩm chăn nuôi, sợi, dầu, gỗ và các vật liệu sinh vật sống khác cho con người sử dụng, một cách trực tiếp hay thông qua các vật nuôi như nuôi trồng thuỷ sản và đánh bắt thuỷ sản vùng ven biển
- Chức năng về môi trường sống: Đất đai là nền tảng của đa dạng hoá sinh vật trong đất thông qua việc cung cấp môi trường sống cho sinh vật và nơi dự trữ nguồn gen cho thực vật, động vật, và vi sinh vật, ở trên và bên dưới
bề mặt đất
- Chức năng điều hoà khí hậu: Đất đai và sử dụng đất đai là nguồn và nơi chứa khí ga từ nhà kính hay hình thành một sự cân bằng năng lượng toàn cầu giữa phản chiếu, hấp thu hay chuyển đổi năng lượng bức xạ mặt trời và của chu kỳ thuỷ văn của toàn cầu
- Chức năng trữ nước: Đất đai điều hoà sự tồn trữ và lưu thông của nguồn tài nguyên nước mặt và nước ngầm, và những ảnh hưởng của chất lượng nước
- Chức năng tồn trữ: đất đai là kho chứa các vật liệu và chất khoáng thô cho việc sử dụng của con người
- Chức năng kiểm soát chất thải và ô nhiếm: Đất đai có khả năng hấp thụ, lọc, đệm và chuyển đổi những thành phần nguy hại
- Chức năng không gian sống: Đất đai cung cấp nền tảng tự nhiên cho việc xây dựng khu dân cư, nhà máy và các hoạt động xã hội như thể thao, nghỉ ngơi
- Chức năng bảo tồn di tích lịch sử: Đất đai là nơi chứa đựng và bảo vệ
Trang 21các chứng tích lịch sử văn hoá của loài người, và nguồn thông tin về các điều kiện khí hậu và những sử dụng đất đai trong quá khứ
- Chức năng nối liền không gian: Đất đai cung cấp không gian cho sự vận chuyển của con người, đầu tư và sản xuất, và cho sự di chuyển của thực vật, động vật giữa những vùng riêng biệt của hệ sinh thái tự nhiên
Sự thích hợp của đất cho nhiều chức năng trên thể hiện rất khác nhau ở mọi nơi trên thế giới Các khu vực cảnh quan là khu vực tài nguyên thiên nhiên, có động thái riêng của chúng Nhưng con người lại có rất nhiều tác động ảnh hưởng đến động thái này (kể cả không gian và thời gian) Có thể cải thiện chất lượng của đất cho một hoặc nhiều chức năng, nói chung đất đã và đang bị các hoạt động của con người gây thoái hoá
Mức độ suy thoái đất đai có thể tiếp tục xảy ra hay cũng có thể gia tăng thêm dưới điều kiện ảnh hưởng của con người trong việc thay đổi khí hậu toàn cầu Sự suy thoái đất có thể được kiểm soát, cải thiện tốt lên hay ngay cả
dự trữ cho các loại hình sử dụng khác nhau một cách rộng rãi, nếu như các chức năng phải được chú ý, các mong ước điều lợi trước mắt ngắn hạn được thau thế bằng các mong ước lợi nhuận lâu dài và bền vững ở các cấp từ toàn cầu cho đến quốc gia và địa phương [14]
Sự suy thoái Đất đai đã và đang trầm trọng hơn ở những nơi sử dụng đất đai không có quy hoạch, hay những lý do khác về pháp chế và tài chính làm cho các quyết định sử dụng đất đai sai hay chỉ có quy hoạch một chiều từ Trung ương xuống mà không có tham khảo ý kiến thực tế của địa phương đưa đến việc khai thác quá độ nguồn tài nguyên Hậu quả của các hành động này là làm cho một số lớn người dân địa phương ngày càng gặp khó khăn trong cuộc sống và đồng thời cũng phá huỷ dần hệ sinh thái có giá trị Như thế, những phương pháp hạn hẹp cần phải được thay thế bằng một kỹ thuật mới trong quy hoạch và quản lý nguồn tài nguyên đất đai, đó là tổng hợp hay
Trang 22tổng thể và đặt người sử dụng đất đai là trung tâm Điều này sẽ bảo đảm chất lượng lâu dài của đất đai cho con người sử dụng, hạn chế hay có những giải pháp cho các mẫu chuẩn về mặt xã hội liên quan đến sử dụng đất đai và bảo
vệ hệ sinh thái có các giá trị đa dạng sinh học cao [14]
2.1.2.2 Những lợi ích khác nhau về sử dụng đất
Đất đai là điều kiện chung nhất (khoảng không gian lãnh thổ cần thiết) đối với mọi quá trình sản xuất trong các ngành kinh tế quốc dân và hoạt động của con người Điều này có nghĩa - thiếu khoảnh đất (vị trí, hình thể, quy mô, diện tích và yêu cầu về chất lượng nhất định) thì không một ngành nào, một xí nghiệp nào có thể bắt đầu công việc và hoạt động được Nói khác đi – không có đất sẽ không có sản xuất cũng như không có sự tồn tại của chính con người
- Lợi ích của việc sử dụng đất trong các ngành phi nông nghiệp:
Trong các ngành phi nông nghiệp, đất đai giữ vai trò thụ động với chức năng là cơ sở không gian và vị trí để hoàn thiện quá trình lao động, là kho tàng dự trữ trong lòng đất (các ngành khai thác khoáng sản) Quá trình sản xuất và sản phẩm được tạo ra không phụ thuộc vào đặc điểm, độ phì nhiêu của đất, chất lượng thảm thực vật và tính chất tự nhiên sẵn có trong đất
- Lợi ích của việc sử dụng đất trong ngành nông nghiệp – lâm nghiệp: Đất giữ vai trò tích cực trong quá trình sản xuất, là điều kiện vật chất,
cơ sở không gian, đồng thời là đối tượng lao động (luôn chịu sự tác động trong quá trình sản xuất) và là công cụ hay phương tiện hoạt động (sử dụng đất để trồng trọt, chăn nuôi .) Quá trình sản xuất nông – lâm nghiệp luôn liên quan chặt chẽ với độ phì nhiêu và quá trình sinh học tự nhiên trong đất
Lợi ích của việc sử dụng đất rất đa dạng, song có thể chia thành ba nhóm lợi ích cơ bản sau:
Trang 23+ Sử dụng đất làm tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt để thoả mãn nhu cầu sinh tồn và phát triển của con người;
+ Dùng đất làm cơ sở sản xuất và môi trường hoạt động;
+ Cung cấp không gian môi trường cảnh quan mỹ học cho việc hưởng thụ tinh thần
2.1.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất
Mục tiêu của việc sử dụng hợp lý tài nguyên đất là phát huy tối đa tiềm năng đất đai nhằm đạt hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường và sự phát triển bền vững Vì vậy, phạm vi, cơ cấu và phương thức sử dụng đất vừa bị chi phối bởi các điều kiện quy luật sinh thái tự nhiên vừa bị chi phối bởi các điều kiện quy luật kinh tế - xã hội và các yếu tố kỹ thuật Theo nghiên cứu của Viện điều tra quy hoạch đất đai [16]: có ba nhóm nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng đất:
- Nhân tố điều kiện tự nhiên:
Khi sử dụng đất đai, ngoài bề mặt không gian cần chú ý đến việc thích ứng với các điều kiện tự nhiên và quy luật sinh thái của đất cũng như của các yếu tố bao quanh mặt đất như nhiệt độ, ánh sáng, bức xạ, độ ẩm, yếu tố địa hình, thổ nhưỡng, xói mòn để xác định yếu tố hạn chế hay tích cực cho việc
sử dụng đất Trong điều kiện tự nhiên khí hậu là yếu tố hàng đầu tác động đến việc sử dụng đất đai, sau đó là điều kiện đất đai và các yếu tố khác
+ Yếu tố khí hậu: Khí hậu là một thành phần rất quan trọng của hệ sinh thái đồng ruộng Nó cung cấp năng lượng chủ yếu cho quá trình tạo thành chất hữu cơ, mang lại năng suất cho cây trồng Tổng tích ôn nhiều hay ít, nhiệt độ bình quân cao thấp, sự sai khác nhiệt độ về thời gian và không gian,
sự sai khác giữa nhiệt độ tối cao và tối thấp, sai khác về độ ẩm trong ngày, giữa các mùa trong năm hay các khu vực khác nhau trực tiếp ảnh hưởng đến sự phân bố, sinh trưởng và phát triển của cây trồng, rừng tự nhiên và thực
Trang 24vật thuỷ sinh Cường độ ánh sáng mạnh hay yếu, thời gian chiếu dài hay ngắn cũng có tác dụng nhất định tới sinh trưởng, phát triển và quang hợp của cây trồng Chế độ nước, lượng mưa nhiều hay ít, bốc hơi mạnh hay yếu có ý nghĩa quan trọng cho việc giữ nhiệt độ và độ ẩm của đất, cũng như khả năng đảm bảo cung cấp nước cho sinh trưởng của cây trồng, thảm thực vật, gia súc
và thuỷ sản
+ Điều kiện đất đai: Sự khác nhau giữa địa hình, địa mạo, độ cao so với mặt nước biển, độ dốc và hướng dốc, sự bào mòn mặt đất và mức độ xói mòn thường dẫn tới sự khác nhau về đất đai và khí hậu, ảnh hưởng tới sản xuất
và phân bổ các ngành nông, lâm nghiệp
Địa hình là yếu tố phức tạp ảnh hưởng đến nhiều yếu tố khác nhau Ở vùng đồi núi, địa hình và độ dốc ảnh hưởng đến phương thức sử dụng đất nông nghiệp, đặt ra yêu cầu xây dựng hệ thống đồng ruộng để thuỷ lợi hoá và
cơ giới hoá Đối với ngành phi nông nghiệp, địa hình quyết định những thuận lợi hay khó khăn của việc thi công công trình hay khả năng lưu thông hàng hoá, gián tiếp ảnh hưởng đến khả năng và quy mô sản xuất
Đặc thù của điều kiện tự nhiên mang tính khu vực, Vị trí địa lý của vùng với sự khác biệt về điều kiện ánh sáng, nhiệt độ, nguồn nước và các điều kiện tự nhiên khác sẽ quyết định đến khả năng, công dụng và hiệu quả sử dụng đất đai Vì vậy, trong thực tiễn sử dụng đất cần tuân thủ các quy luật tự nhiên, tận dụng các lợi thế nhằm đạt lợi ích cao nhất về kinh tế, xã hội và môi trường
- Nhân tố kinh tế xã hội:
Điều kiện kinh tế - xã hội bao gồm các yếu tố: Điều kiện dân số và lao động, điều kiện vốn và cơ sở vật chất kỹ thuật của sản xuất xã hội, trình độ quản lý và tổ chức sản xuất, Sự phát triển của khoa học và ứng dụng tiến bộ
kỹ thuật, chế độ kinh tế, xã hội
Trang 25Các điều kiện tự nhiên của đất đai là cơ sở cho phép xác định khả năng thích ứng về phương thức sử dụng đất; còn phương hướng sử dụng đất được quyết định bởi yêu cầu của xã hội và mục tiêu kinh tế trong từng thời kỳ nhất định Việc sử dụng đất như thế nào được quyết định bởi sự năng động của con người và các điều kiện kinh tế - xã hội, kỹ thuật hiện có; quyết định bởi tính hợp lý, tính khả thi về kỹ thuật và mức độ đáp ứng của chúng ; quyết định bởi nhu cầu thị trường
Trên thực tế điều kiện tự nhiên của mỗi vùng thì ít có sự khác biệt nhưng hiệu quả sử dụng đất thì có sự khác biệt lớn, nguyên nhân chủ yếu là
do các điều kiện kinh tế, xã hội: vốn, nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng quyết định; với điều kiện tự nhiên đồng nhất nhưng vùng nào có kinh tế phát triển, vốn đầu tư lớn, nhận thức và trình độ của người lao động cao thì sử dụng có hiệu quả
Trình độ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau dẫn đến trình độ sử dụng đất khác nhau Khi khoa học công nghệ ngày càng phát triển thì hiệu quả sử dụng đất cũng được nâng lên Nhờ có thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến
mà chúng ta có những nghiên cứu về lai tạo giống cây trồng cho năng suất cao, phù hợp với điều kiện sinh thái của từng vùng, chế tạo ra máy móc, công
cụ sản xuất theo công nghệ tiên tiến tạo điều kiện nâng cao tối đa hiệu quả sản xuất, đảm bảo cho sự phát triển bền vững
Từ những lý luận trên cho thấy, các điều kiện kinh tế - xã hội có tác động không nhỏ tới sử dụng đất đai, thúc đẩy hoặc kìm hãm quá trình sử dụng đất hiệu quả của con người Vì vậy, khi lựa chọn phương án sử dụng đất, ngoài việc dựa vào quy luật tự nhiên thì các yếu tố kinh tế - xã hội cũng không kém phần quan trọng
Trang 26- Nhân tố không gian:
Trong thực tế, đất đai là điều kiện không gian đảm bảo hoạt động của bất kỳ ngành sản xuất nào (nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, khai thác khoáng sản ) Tính không gian của đất đai bao gồm: vị trí địa lý, địa hình, hình dạng, diện tích Đất đai phải khai thác tại chỗ nên sự thừa thãi của nơi này không thể sử dụng để đáp ứng sự thiếu đất ở địa phương khác Do đó, không gian là yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả của việc sử dụng đất
Sự bất biến của tổng diện tích đất đai không chỉ hạn chế khả năng mỏ rộng không gian sử dụng đất, mà còn chi phối giới hạn thay đổi của cơ cấu đất đai Điều này quyết định việc điều chỉnh cơ cấu đất đai theo loại, số lượng được sử dụng căn cứ sức sản xuất của đất và yêu cầu sản xuất của xã hội nhằm đảm bảo nâng cao năng lực của đất đai
Đối với đất xây dựng đô thị, đất dùng cho công nghiệp, xây dựng, nhà xưởng, giao thông mặt bằng không gian và vị trí của đất đai có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và giá trị kinh tế cao
Như vậy nhân tố không gian ảnh hưởng tới quá trình sử dụng đất, nó sẽ gián tiếp quyết định hiệu quả sử dụng đất
2.1.2.4 Các xu thế phát triển sử dụng đất
Sử dụng đất là hệ thống các biện pháp nhằm điều hoà mối quan hệ người - đất trong tổ hợp các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và môi trường Căn cứ nhu cầu thị trường sẽ phát hiện, quyết định phương hướng chung và mục tiêu sử dụng hợp lý tài nguyên đất, phát huy tối đa công dụng của đất nhằm đạt tới lợi ích sinh thái, kinh tế và xã hội cao nhất Vì vậy, sử dụng đất thuộc phạm trù hoạt động kinh tế của nhân loại Trong mỗi phương thức sản xuất xã hội nhất định, việc sử dụng đất theo yêu cầu của sản xuất và đời sống cần căn cứ vào thuộc tính tự nhiên của đất đai Với ý nghĩa là nhân tố
Trang 27của sức sản xuất, các nhiệm vụ và nội dung sử dụng đất thể hiện ở các mặt sau:
- Sử dụng đất hợp lý về không gian, hình thành hiệu quả kinh tế không gian sử dụng đất;
- Phân phối hợp lý cơ cấu đất đai trên diện tích đất được sử dụng, hình thành cơ cấu kinh tế sử dụng đất;
- Quy mô sử dụng đất cần có sự tập trung thích hợp, hình thành quy mô kinh tế sử dụng đất;
- Giữ mật độ sử dụng đất thích hợp, hình thành việc sử dụng đất một cách kinh tế, tập trung, thâm canh
Hiện nay, các xu thế sử dụng đất được phát triển theo các hướng sau:
* Sử dụng đất theo chiều rộng và tập trung:
Lịch sử phát triển của xã hội loài người chính là lịch sử biến đổi của quá trình sử dụng đất Thời kỳ du mục, con người sống trong lều cỏ, những vùng đất có nước và cỏ bắt đầu được sử dụng Khi xuất hiện ngành trồng trọt với những công cụ sản xuất thô sơ, diện tích đất đai được sử dụng tăng lên nhanh chóng, năng lực sử dụng cũng như ý nghĩa kinh tế của đất đai cũng gia tăng Tuy nhiên, trình độ sử dụng đất còn rất thấp Với sự tăng trưởng của dân
số và phát triển kinh tế, kỹ thuật, văn hoá, khoa học, quy mô, phạm vi và chiều sâu của việc sử dụng đất ngày một nâng cao Yêu cầu sinh hoạt vật chất
và tinh thần của người dân ngày càng tăng cao, các ngành nghề cũng phát triển theo xu hướng phức tạp và đa dạng, phạm vi sử dụng đất được mở rộng
Cùng với việc phát triển đất theo không gian, trong điều kiện gia tăng nhu cầu sử dụng đất của các ngành, các lĩnh vực thì đất canh tác cũng như đất
sử dụng cho các mục đích khác được sử dụng theo hướng kinh doanh tập trung, với diện tích ít nhưng hiệu quả sử dụng cao
Trang 28Tuy nhiên, trong thời kỳ quá độ từ kinh doanh quảng canh sang kinh doanh thâm canh cao, để nâng cao sức sản xuất của một đơn vị diện tích, đòi hỏi phải liên tục nâng cao mức đầu tư về vốn và lao động, thường xuyên cải tiến kỹ thuật và công tác quản lý
* Sử dụng đất phát triển theo hướng phức tạp và chuyên môn hoá
Khoa học kỹ thuật và kinh tế - xã hội phát triển, sử dụng đất từ hình thức quảng canh chuyển sang thâm canh, kéo theo xu thế từng bước phức tạp hoá và chuyên môn hoá cơ cấu sử dụng đất
Khi kinh tế phát triển, nhu cầu của con người về vật chất, văn hoá, tinh thần và môi trường ngày một cao sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp đòi hỏi yêu cầu cao hơn đối vơi đất đai Khi mức sống còn thấp, việc sử dụng đất chủ yếu tập trung vào sản xuất nông nghiệp nhằm giải quyết vấn đề thường nhật của cuộc sống là đủ cơm ăn, áo mặc và chỗ ở Khi đời sống nâng cao, chuyển sang giai đoạn hưởng thụ, vấn đề sử dụng đất ngoài việc sản xuất vật chất còn phải thoả mãn nhu cầu vui chơi, giải trí, văn hoá, thể thao và môi trường đã làm cho
cơ cấu sử dụng đất trở nên phức tạp hơn
Tiến bộ khoa học kỹ thuật đã cho phép mở rộng khả năng kiểm soát tự nhiên của con người, áp dụng các biện pháp thâm canh, cải tạo và nâng cao sức sản xuất của đất đai, thoả mãn các loại nhu cầu của xã hội Khi nền kinh
tế khoa học kỹ thuật còn ở trình độ thấp, chủ yếu sử dụng bề mặt đất đai, nông nghiệp độc canh, trồng cỏ, khai thác khoáng sản còn hạn chế, xây dựng chủ yếu chọn đất bằng Khi khoa học kỹ thuật hiện đại phát triển, ngay cả đất xấu cũng được khai thác triệt để, hình thức sử dụng đa dạng, ruộng nước phát triển, đã làm cho nội dung sử dụng đất ngày một phức tạp hơn theo hướng
sử dụng toàn diện, triệt để các chất dinh dưỡng, sức tải, vật chất cấu thành và sản phẩm của đất đai để phục vụ cho lợi ích con người
Trang 29Hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân và phát triển kinh tế hàng hoá, dẫn đến sự phân công trong sử dụng đất theo hướng chuyên môn hoá Do đất đai
có đặc tính khu vực rất mạnh, sự sai khác về ưu thế tài nguyên hết sức rõ rệt, phương hướng và biện pháp sử dụng đất của các vùng cũng rất khác nhau Để sử dụng hợp lý đất đai, đạt sản lượng và hiệu quả kinh tế cao rất cần có sự phân công và chuyên môn hóa theo khu vực Cùng với việc đầu
tư trang thiết bị và ứng dụng công nghệ kỹ thuật, công cụ quản lý hiện đại
sẽ nảy sinh yêu cầu phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp có quy mô lớn và tập trung, đồng thời cũng hình thành các khu vực chuyên môn hoá sử dụng đất khác nhau về hình thức và quy mô
* Sử dụng đất phát triển theo hướng xã hội hoá và công hữu hoá
Mỗi vùng đất thực hiện sản xuất tập trung một sản phẩm và hỗ trợ bổ sung lẫn nhau đã hình thành nên sự phân công hợp tác mang tính xã hội hoá sản xuất, cũng như xã hội hoá việc sử dụng đất đai
Đất đai là cơ sở vật chất và là công cụ để con người sinh sống và xã hội tồn tại Vì vậy, việc chuyên môn hoá theo yêu cầu xã hội hoá sản xuất phải đáp ứng nhu cầu của xã hội hướng tới lợi ích cộng đồng và tiến bộ xã hội Ngay cả ở xã hội mà mục tiêu sử dụng đất chủ yếu vì lợi ích của tư nhân, những vùng đất đai hướng dụng cộng đồng như: nguồn nước, núi rừng, khoáng sản, sông ngòi, mặt hồ, biển cả, hải cảng, danh lam thắng cảnh, động thực vật quý hiếm vẫn có những quy định về chính sách thực thi hoặc tiến hành công quản, kinh doanh của Nhà nước nhằm ngăn chặn, phòng ngừa việc tư hữu tạo nên những mâu thuẫn gay gắt của xã hội
Xã hội hoá sử dụng đất là sản phẩm tất yếu và là yêu cầu khách quan của sự phát triển xã hội hoá sản xuất Vì vậy, xã hội hoá sử dụng đất và công hữu hoá là xu thế tất yếu Muốn kinh tế phát triển và thúc đẩy xã hội hoá sản xuất cao hơn, cần phải thực hiện xã hội hoá và công hữu hoá sử dụng đất
Trang 302.1.2.5 Sử dụng đất và các mục tiêu kinh tế - xã hội, môi trường
Những năm gần đây, sự bùng nổ dân số cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ đã kéo theo nhu cầu của con người ngày càng cao Để đáp ứng nhu cầu trên, con người đã áp dụng những thành tựu, tiến bộ khoa học
và sử dụng đất nhằm khai thác triệt để, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, nhằm đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm và các điều kiện tồn tại và phát triển của loài người Điều này đòi hỏi việc sử dụng đất phải đảm bảo như một thể thống nhất tạo ra điều kiện để giảm thiểu những xung đột, tạo hiệu quả sử dụng cao và liên kết được sự phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ môi trường Sử dụng đất hợp
lý, bền vững là hài hoà các mục tiêu kinh tế - xã hội, môi trường
Trong quá trình sử dụng đất trước hết bao giờ cũng gắn với mục tiên kinh tế, những mục tiêu kinh tế trong sử dụng đất giữa chủ sử dụng thực tế và cộng đồng lớn hơn có lúc trùng nhau và có lúc không trùng nhau
Trong sản xuất nông nghiệp việc sử dụng đất của các hộ dân là nhằm làm ra sản phẩm để bán hoặc tự tiêu dùng, họ luôn cố gắng tìm ra phương thức canh tác, chăm sóc để nâng cao tối đa hiệu quả sản xuất: năng suất, sản lượng và chất lượng sản phẩm cây trồng; đồng thời áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào các khâu chăm sóc, canh tác, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật nên hệ số sử dụng đất và năng suất cây trồng không ngừng tăng lên
Bên cạnh những tín hiệu đáng mừng về chỉ số kinh tế, nền nông nghiệp nước ta đang phải đối mặt với những thử thách về xã hội và môi trường Do diện tích rừng bị chặt phá, đốt nương làm rãy nhưng thiếu các biện pháp kiểm soát xói mòn dẫn đến suy thoái độ phì Đồng thời, do đầu tư phân bón, kỹ thuật không hợp lý và khai thác nước ngầm quá mức gây ra những hậu quả xấu về môi trường, ô nhiễm đất, ảnh hưởng đến việc sử dụng đất bền vững và gặp khó khăn trong vấn đề kiểm soát sâu bệnh, mất các nguồn gen quý, một
số động vật, thực vật quý hiếm bị tuyệt chủng
Trang 31Quá trình đô thị hoá, công nghiệp đang diễn ra mạnh mẽ đòi hỏi một quỹ đất rất lớn để đáp ứng cho các nhu cầu này Rất nhiều diện tích đất chuyên trồng lúa, đất
có ưu thế sản xuất nông nghiệp đã được sử dụng để xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất đã làm mất đi ngày càng nhiều đất mầu mỡ trồng cây lương thực Một
bộ phân không nhỏ nông dân đã không còn đất để canh tác, gây ra thất nghiệp và các
tệ nạn xã hội gia tăng, môi trường bị ô nhiễm do các chất thải đô thị, công nghiệp Do vậy, quá trình sử dụng đất luôn phải đảm bảo hài hoà ba mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường Có như vậy sử dụng đất mới đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả, và bền vững
2.1.2.6 Các nội dung quản lý nhà nước về đất đai
* Năm 1987 Luật Đất đai đầu tiên của Việt Nam ban hành trong đó có một số điều nói về quy hoạch sử dụng đất nhưng nội dung quy hoạch chưa được nêu ra
* Tháng 07/ 1993 Luật đất đai sửa đổi được công bố các điều khoản về quy hoạch sử dụng đất cụ thể hơn Luật Đất đai 1987
* Điều 13 Luật Đất đai năm 1993 quy định 7 nội dung quản lý nhà nước về đất đai bao gồm:
1 Điều tra, khảo sát, đo đạc, đánh giá và phân hạng đất, lập bản đồ địa chính
2 Quy hoạch và kế hoạch hoá việc sử dụng đất
3 Ban hành các văn bản pháp luật về quản lý, sử dụng đất và tổ chức
sử dụng các văn bản đó
4 Giao đất, cho thuê đất và thu hồi đất
5 Đăng ký đất đai, lập và quản lý sổ địa chính, quản lý các hợp đồng
sử dụng đất
6 Thanh tra việc chấp hành các chế độ, thể lệ về quản lý, sử dụng đất
7 Giải quyết các tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo các
vi phạm trong quản lý và sử dụng đất đai
Trang 32* Luật Đất đai năm 2003 ra đời và chính thức có hiệu lực vào ngày 01/01/2004 là một bước đột phá trong việc đổi mới hệ thống pháp luật Việt Nam, giúp cho công tác quản lý và sử dụng đất đai phù hợp với thực tiễn, phù hợp với sự phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Tại Khoản 2 Điều 6 Luật Đất đai 2003 quy định quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất là một trong 13 nội dung về quản lý đất đai như sau:
1 Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó
2 Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ địa chính
3 Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất, lập bản đồ địa chính, bản
đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất
4 Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
5 Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất
6 Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
7 Thống kê, kiểm kê đất đai
8 Quản lý tài chính về đất đai
9 Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản
10 Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất
11 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và sử lý vi phạm pháp luật về đất đai
12 Giải quyết các tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại tố cáo các
vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai
13.Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai
Trang 332.1.2.7 Các văn bản pháp quy của nhà nước quy định về quy hoạch sử dụng đất
Nghị quyết số 29/2004/QH XI ngày 15/ 06/2004 của Quốc hội về quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất của cả nước
Ngày 01/ 07/ 2004 Luật Đất đai 2003 chính thức có hiệu lực thi hành Luật ghi rõ “ Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong 13 nội dung quản
lý nhà nước về đất đai” Từ mục 2 điều 21 đến điều 30 Luật Đất đai 2003 quy định cụ thể về công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Nghị định 181/ 2004/ NĐ - CP ngày 29/ 10/ 2004 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 2003
Thông tư số 30/2004/TT- BTNMT, ngày 01-11-2004 về việc hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Thông tư 08/2007/TT- BTNMT hướng dẫn thực hiện thống kê kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất
Thông tư 19/2009/TT- Bộ TNMT ngày 2/11/2009 của Bộ tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết việc lập điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
2.1.2.8 Các văn bản của địa phương về xét duyệt quy hoạch sử dụng đất
- Quyết định số 2574/ QĐ- UBND, ngày 30/08/2007 của UBND thành phố Thái Nguyên về việc xét duyệt quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và
kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006- 2010 của xã Tích Lương- TP Thái Nguyên
- Nghị quyết số 05/ NĐ- HĐND ngày 30/01/2007 của Hội đồng nhân dân xã Tích Lương về việc thông qua nội dung Quy hoạch sử dụng đất chi tiết đến năm 2010, kế hoạch sử dụng đất chi tiết giai đoạn 2006- 2010 và định hướng quy hoạch đến năm 2020 của xã Tích Lương- thành phố Thái Nguyên
Trang 342.2 Tình hình quy hoạch và thực hiện quy hoạch ở nước ngoài
Quy hoạch sử dụng đất luôn có vị trí quan trọng trong thực hiện công tác quản lý đất đai của mỗi quốc gia và được tiến hành từ nhiều năm trước đây Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào điều kiện của mỗi nước mà phương pháp và quan điểm quy hoạch sử dụng đất có đặc thù khác nhau và quá trình thực hiện cũng vậy
Ở các quốc gia phát triển như Đức, Mỹ quy hoạch sử dụng đất luôn gắn liền với việc giải quyết các yêu cầu về môi trường, đảm bảo sử dụng đất hiệu quả bền vững Vì vậy, quy hoạch sử dụng đất tại các nước này có tính khả thi cao Những nguyên tắc về sử dụng đất được thông qua ở thành phố NewYork
từ năm 1916 đến những năm 30 và hầu hết các Bang của nước Mỹ tuân thủ theo nguyên tắc này Đến những năm 70, các Bang ngày gặp phải một số vấn
đề về môi trường và sự bảo tồn các di tích lịch sử nên đòi hỏi phải có những nguyên tắc và tầm nhìn xa hơn Từ đòi hỏi trên, Luật đất đai mới của Mỹ đã hình thành hệ thống quy hoạch sử dụng đất mới [21]
Ở Đức, điển hình là thành phố Berlin [20], hệ thống quy hoạch sử dụng đất đã được xây dựng từ rất sớm Chỉ vài năm sau khi có sự thống nhất toàn vẹn lãnh thổ đất nước, năm 1994, hệ thống quy hoạch sử dụng đất được xây dựng với bản đồ tỉ lệ 1:50.000 Sau đó, việc điều chỉnh và cập nhật những biến động đất đai cho phù hợp với sự thay đổi của nền kinh tế, xã hội và mục tiêu của Chính phủ được tiến hành thường xuyên Do đó, hệ thống quy hoạch
sử dụng đất ở thành phố Berlin nói riêng, của Đức nói chung có hiệu quả cao, đảm bảo sử dụng đất hiệu quả, tiết kiệm và bền vững, tạo đà cho sự phát triển nền kinh tế
Ở Pháp, quy hoạch sử dụng đất được xây dựng theo hình thức mô hình hoá nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao trong việc sử dụng tài nguyên, môi trường
và lao động, áp dụng bài toán quy hoạch tuyến tính có cấu trúc sản xuất hợp
lý, thúc đẩy nền kinh tế phát triển [5]
Trang 35Ở Campuchia, do nền kinh tế kém phát triển, có xuất phát diểm thấp, tình hình chính trị rối loạn, nhiều nhà khoa học đã bị giết, nên trước những năm 2000, công tác quản lý đất đai chưa được quan tâm, chưa hình thành được hệ thống Luật Đất đai và quy hoạch sử dụng đất Đến năm 2000, Bộ quy hoạch đất đai và xây dựng đã hoàn thiện Luật Đất đai, nhưng công tác quy hoạch sử dụng đất còn gặp niều khó khăn, kế hoạch sử dụng đất ở từng địa phương không rõ ràng nên sử dụng đất kém hiệu quả và làm suy thoái đất Mặc dù vậy, nhờ có sự cố gắng tìm hiểu, học hỏi, nghiên cứu công tác quản
lý, sử dụng đất đai của các nhà khoa học nên Campuchia đã xây dựng được hệ thống Luật Đất đai, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đồng bộ [5]
Nhìn chung, hệ thống pháp luật đất đai ở các nước phát triển tương đối hoàn thiện nên công tác xây dựng và thực hiện quy hoạch sử dụng đất được triển khai tốt, sử dụng đảm bảo hiệu quả 3 mặt: kinh tế, xã hội và môi trường
Ở các nước kém phát triển, do thiếu kinh phí, thiếu cán bộ có trình độ chuyên môn, nên hệ thống Luật Đất đai không đồng bộ, hệ thống quy hoạch sử dụng đất có hiệu quả không cao, ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế
2.3 Tình hình quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam
Ở Việt Nam, từ năm 1994 Chính phủ đã đã triển khai xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai cả nước đến năm 2010 Năm 1997, Quốc hội
có Nghị quyết số: 01/1997/QH9 về quy hoạch sử dụng đất cả nước 5 năm
1996 – 2000 và được Quốc hội khoá XI phê duyệt tại kỳ họp thứ 5
Hiện nay, quy hoạch sử dụng đất nước ta được triển khai theo lãnh thổ hành chính ở 4 cấp (Quốc gia, tỉnh, huyện, xã) và thực hiện theo các quy định tại Luật đất đai năm 2003
Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh: Đến nay có 60/64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoàn thành việc lập quy hoạch sử dụng đất đai đến năm
2010 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
Trang 36Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện: có 450/668 đơn vị hành chính cấp huyện, chiếm 66,57 % hoàn thành quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch đô thị của hầu hết các tỉnh, thành phố chưa lập quy hoạch đô thị
Quy hoạch sử dụng đất cấp xã: có 5878/10761 đơn vị hành chính cấp
xã hoàn thành quy hoạch sử dụng đất đai đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm 2006 – 2010
Việc lập quy hoạch sử dụng đất đã góp phần xác định cơ cấu sử dụng đất hợp lý và tiến hành thực hiện theo căn cứ, trình tự mà các văn bản hiện hành có liên quan đến Luật đất đai quy định Điều này đã làm tăng hiệu lực và ngày càng hiệu quả cao trong quản lý, sử dụng đất đai phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng trong quá trình phát triển của đất nước, góp phần làm thay đổi cuộc sống nhân dân
Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất đến năm
2005 của cả nước [15]: nhờ có quy hoạch và chính sách hợp lý để khuyến khích việc khai hoang, phục hoá, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, bảo vệ và phát triển rừng nên diện tích đất nông nghiệp, lâm nghiệp đã tăng lên đáng kể, mỗi năm đưa gần 500 nghìn ha đất trống, đồi núi trọc vào sử dụng và năng suất tăng từ 31,9 tạ/ha lên 42,5 tạ/ha (năm 2000)
Đồng thời chủ trương giao đất nông nghiệp ổn định cùng các chính sách đẩy mạnh sản xuất hàng hoá, làm cho nông dân năng động hơn, bố trí hợp lý cây trồng, vật nuôi, khôi phục và phát triển vườn cây ăn trái, cây công nghiệp có giá trị cao, phát triển nuôi trồng thuỷ sản tạo hiệu quả cao trong sản xuất nông nghiệp, hạn chế được chuyển đất nông nghiệp sang sử dụng vào mục đích khác
Theo TS Nguyễn Quang Học [4]: “Quy hoạch sử dụng đất đã góp phần tăng cường hiệu lực và ngày càng có hiệu quả cao trong quản lý sử dụng đất,
Trang 37phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng trong quá trình phát triển của đất nước theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã góp phần thay đổi diện mạo nông nghiệp, nông thôn, đất đai được sử dụng phát triển công nghiệp theo hướng hàng hoá Đất nông thôn được cải tạo, chỉnh trang phát triển theo hướng đô thị hoá Đất có mục đích công cộng được quy hoạch đồng bộ với kết cấu hạ tầng phát triển đã góp phần tăng khả năng phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân ”
Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức triển khai công tác Quy hoạch sử dụng đất ở nước ta cho thấy còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ; Quy hoạch chồng chéo giữa địa phương và Trung ương, thu hồi nhưng không sử dụng hoặc sử dụng quá chậm, đặc biệt với các dự án khu công nghiệp, khu đô thị mới Diện tích đất thực tế đã sử dụng xây dựng nhà xưởng so với diện tích đã giao, cho thuê tại các KCN chiếm tỷ lệ thấp, so với diện tích quy hoạch đã thu hồi còn thấp hơn nữa
Chất lượng quy hoạch sử dụng đất ở nước ta còn thấp, sự phối hợp giữa quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế, xã hội và quy hoạch phát triển các ngành, địa phương chưa đồng bộ Quy hoạch sử dụng đất chủ yếu dừng lại ở việc giải quyết, sắp xếp quỹ dất theo mục đích sử dụng, chưa căn cứ vào tiềm năng đất, chưa thực sự tính toán đầy đủ tới mục tiêu, hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường Vấn đề này dẫn đến thực trạng sản xuất nông nghiệp còn manh mún, rừng tiếp tục bị tàn phá, diện tích đất trống đồi núi trọc, đất bị xói mòn còn lớn Đặc biệt là sử dụng đất tại các khu công nghiệp, doanh nghiệp, đô thị, công trình hạ tầng ở tình trạng vừa thừa, vừa thiếu quỹ đất, nhiều nhà đầu tư được giao đất, cho thuê đất nhưng không sử dụng hoặc sử dụng không hiệu quả gây lãng phí quỹ đất
Trang 382.4 Tình hình quy hoạch sử dụng đất và thực hiện quy hoạch tỉnh Thái Nguyên
Quy hoạch sử dụng đất là nội dung được các cấp chính quyền ở tỉnh Thái nguyên rất quan tâm Thái nguyên là một trong số ít các tỉnh trong cả nước đã hoàn thành công tác lập quy hoạch sử dụng đất cho cả 3 cấp tỉnh, huyện, xã đến năm 2010 Đây là cơ sở pháp lý quan trọng góp phần nâng cao hiệu lực công tác quản lý Nhà nước về đất đai của tỉnh Quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất được duyệt là phương tiện để các cấp chính quyền định hướng việc sử dụng đất đai, làm tăng lợi ích cộng đồng Nhờ có quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất, Thái nguyên đã kiểm soát chặt chẽ việc chuyển đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp có rừng để sử dụng vào các mục đích khác; chủ động trong việc khai hoang mở rộng diện tích đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai góp phần giúp cho các điạ phương đánh giá chính xác tiềm năng đất đai của mình
Tuy nhiên, thực tế triển khai công tác thực hiện quy hoạch kế hoạch sử dụng đất tại địa phương cho thấy còn nhiều bất cập, hạn chế Nhiều cấp uỷ đảng chính quyền, còn xem nhẹ vai trò của công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất coi đây là nhiệm vụ của riêng ngành Tài nguyên – Môi trường Một số địa phương khi xây dựng kế hoạch sử dụng đất đai chưa tổ chức tốt việc đăng
ký kế hoạch sử dụng đất đai ở các cấp, các ngành nên nhiều dự án có nhu cầu
sử dụng đất không đăng ký, hoặc có dự án đã đăng ký nhưng không khả thi do nguồn vốn thiếu, do chưa điều tra xử lý tốt nguồn thông tin Vì vậy tính khả thi của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa cao, nội dung quy hoạch chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, chưa tính toán đầy đủ về hiệu quả kinh tế và môi trường trong sử dụng đất nên hiệu quả sử dụng không cao
Công tác phối hợp giữa các ngành trong việc lập, thẩm định quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất đai chưa chặt chẽ, đồng bộ, còn chồng chéo giữa các
Trang 39quy hoạch ngành và giữa quy hoạch sử dụng đất đai với quy hoạch xây dựng
đô thị Trong khi quy hoạch sử dụng đất đai phải căn cứ vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội và quy hoạch các ngành như nông – lâm nghiệp, xây dựng, giao thông, thuỷ lợi, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp do vậy việc cập nhật thông tin, tài liệu, số liệu điều chỉnh để bổ sung vào phương án quy hoạch sử dụng đất không đạt kết quả như yêu cầu
Trang 40Phần 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Về địa điểm nghiên cứu: UBND xã Tích Lương và phòng Tài nguyên
Môi trường thành phố Thái Nguyên
- Về đối tượng nghiên cứu: Kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất
xã Tích Lương- thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2006- 2010
- Về thời gian nghiên cứu: Đề tài được tiến hành từ ngày 06/03/2010
đến 30/9/2010
3.2 Nội dung nghiên cứu
3.2.1 Điều tra đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội của xã Tích Lương, thành phố Thái Nguyên
- Vị trí địa lý, địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu, nguồn nước
- Tình hình tăng trưởng kinh tế chung của xã
- Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội (ngành nông nghiệp; ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; ngành thương mại, dịch vụ)
- Tình hình phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội
- Điều kiện tự nhiên- tài nguyên thiên nhiên của xã
3.2.2 Đánh giá tình hình sử dụng đất và công tác quản lý đất đai của UBND xã Tích Lương
* Sơ lược về tình hình cơ bản của UBND xã Tích Lương
Điều kiện tự nhiên- tài nguyên thiên nhiên của xã
Điều kiện kinh tế xã hội của xã
Trên cơ sở đánh giá việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất xã Tích