Nước ta đang bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước theo đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng ta, sự hình thành các đô thị mới và mở rộng các đô th
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN LÊ DUY
ĐỀ TÀI:
ĐÁNH GIÁ SỰ BIẾN ĐỘNG ĐẤT ĐAI TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2005-2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Thái Nguyên – Năm 2011
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2.1.1.5 Vai trò của đô thị trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội 8
2.1.2.4 Mối quan hệ giữa quá trình đô thị hoá và quá trình
công nghiệp hoá
12
2.2 THỰC TIỄN QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT
NAM
17
2.2.4 Các công trình nghiên cứu về đô thị hóa trên thế giới
và Việt Nam
28
Trang 33.1 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 29
3.3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thành phố
Thái Nguyên
29
3.3.4 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất trong
quá trình đô thị hóa
30
4.1.2.1 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 40
4.2.1.3.Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp 60
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4.2.1.8 Công tác Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại tố cáo 63
4.2.3 Biến động sử dụng đất thành phố Thái Nguyên giai
4.4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT
TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA
92
Trang 5CHƯƠNG I MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Quá trình công nghiệp hoá ở mỗi quốc gia là sự hình thành hệ thống
cơ sở vật chất của các ngành kinh tế quốc dân mà trước hết là các ngành công nghiệp Kết quả chính của quá trình này còn bao gồm hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội trên phạm vi cả nước đáp ứng yêu cầu
phát triển kinh tế và nâng cao đời sống của nhân dân
Kết quả trên đây của quá trình công nghiệp hóa tất yếu gắn liền sự hình thành các cơ sở, các khu công nghiệp các khu thương mại, dịch vụ và các khu dân cư mới Điều đó dẫn tới sự hình thành các khu đô thị mới hoặc sự mở rộng quy mô của các khu đô thị đã có
Như vậy sự hình thành các khu đô thị mới và mở rộng các đô thị đã có bắt nguồn từ sự tác động của quá trình công nghiệp hoá và diễn ra song song với quá trình công nghiệp hoá Nói cách khác, quá trình đô thị hoá là một quá trình bắt nguồn từ quá trình công nghiệp hoá và gắn liền với quá trình công nghiệp hoá Do vậy, có thể khẳng định rằng đô thị hoá là một quá trình tất yếu
và phổ biến của mỗi quốc gia trong quá trình phát triển
Nước ta đang bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước theo đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng ta, sự hình thành các đô thị mới và mở rộng các đô thị hiện có là một xu hướng tất yếu
Sự hình thành các khu đô thị mới, các tuyến giao thông mới những năm qua tại thành phố Thái Nguyên và sự hình thành các phường xã mới là
xu thế tất yếu để hoà nhập với sự phát triển của đất nước Tuy nhiên, đồng thời với việc đô thị hoá thì vấn đề biến động đất đai trong quá trình đô thị hóa cũng là một vấn đề quan trọng liên quan đến việc sử dụng đất đai hiệu
Trang 6quả Nhận thức được tầm quan trọng đó, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài
“Đánh giá sự biến động đất đai trong quá trình đô thị hóa thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2005 - 2010”
- Tìm ra những giải pháp nhằm sử dụng đất hiệu quả trong quá trình đô thị hóa thành phố Thái Nguyên
1.3 YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
- Phản ánh sự biến động đất đai trong quá trình đô thị hóa của thành phố Thái Nguyên
- Xác định mối liên quan giữa đô thị hóa và sự biến động đất đai thành phố Thái Nguyên
- Các đề xuất và giải pháp nhằm sử dụng đất hiệu quả trong quá trình
đô thị hóa thành phố Thái Nguyên
1.4 Ý NGHĨA KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
Luận văn là công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực, luận văn được nghiên cứu nhằm đánh giá sự ảnh hưởng của đô thị hoá tới kinh tế - xã hội trên địa bàn thành phố Thái Nguyên đồng thời đưa ra một
số giải pháp giúp phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện cuộc sống
Trang 7CHƯƠNG II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÔ THỊ HÓA
2.1.1 Khái niệm, phân loại và chức năng của đô thị
2.1.1.1 Khái niệm về đô thị
Khái niệm về đô thị hóa rất đa dạng, bởi vì đô thị hóa chứa đựng nhiều hiện tượng và biểu hiện khác nhau trong quá trình phát triển Các nhà khoa học cũng xem xét và quan sát hiện tượng đô thị hóa từ nhiều góc độ khác nhau, phản ánh các đặc điểm của đô thị hóa quan sát được từ góc độ đó Dưới đây là một số khái niệm đô thị hóa:
Đô thị hóa (urbanization) là quá trình tập trung dân số các đô thị, và
sự hình thành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị trên cơ sở phát triển sản xuất đời sống
Theo khái niệm trên thì có thể hiểu đô thị hóa là quá trình mở rộng các
đô thị hiện có và sự hình thành các đô thị mới Đô thị hóa được diễn ra trên cơ
sở phát triển đời sống sản xuất và đời sống Có thể nói đô thị hóa là bạn đồng hành của công nghiệp hóa, bởi vì trong tiến trình phát triển đô thị hóa và công nghiệp hóa luôn tác động với nhau, hỗ trợ nhau
Trong quá trình đô thị hóa, diễn ra sự biến đổi sâu sắc về một số vấn đề sau:
+ Cơ sở sản xuất: Nếu như trước khi đô thị hóa diễn ra nền kinh tế chủ yếu là tự cung tự cấp thì sau đó sẽ là nền kinh tế hoạt động đa dạng hơn
+ Cơ cấu nghề nghiệp: Cơ cấu nghề nghiệp sẽ có sự thay đổi mạnh theo hưóng giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp, tăng tỷ lệ lao động phi nông ngiệp
+ Cơ cấu tổ chức hoạt động xã hội: Sau khi đô thị hóa diến ra tất yếu sẽ có những thay đổi về cơ cấu tổ chức hoạt động xã hội, mà điều đầu tiên chúng ta
Trang 8nhìn thấy đó là việc chuyển đổi từ “thôn”, “xóm”, “bản”, thành “phố”,
“phường”, “quận”…
+ Cơ cấu tổ chức không gian kiến trúc và hình thái xây dựng từ dạng nông thôn sang thành thị, Không gian kiến trúc sẽ trở nên gọn và đẹp, hiện đại hơn với hệ thống các công trình phúc lợi công cộng, hệ thống giao thông…tạo
ra sự thuận tiện nhất cho sinh hoạt người dân
Theo từ điển Bách khoa toàn thư thì: Đô thị hóa là sự mở rộng của đô thị tính theo tỷ lệ phần trăm dân số đô thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích một vùng hay khu vực Nó cũng có thể được tính tỷ lệ gia tăng của hai yếu tố theo thời gian Nếu tính theo cách đầu thì nó được gọi là mức đô thị hóa; còn tính theo cách hai thì được gọi là tốc độ đô thị hóa
Khái niệm trên cung cấp cho chúng ta các cách tính mức độ đô thị hóa
và tốc độ đô thị hóa Để so sánh mức độ đô thị hóa giữa các vùng, khu vực với nhau thông thường người ta hay dùng tỷ lệ dân số đô thị làm thước đo Tuy nhiên tỷ lệ phần trăm dân số đô thị cũng không phản ánh được đầy đủ mức độ đô thị hóa của một vùng hay khu vực mà phải xem xét chất lượng đô thị hóa
Ở các nước phát triển chất lượng đô thị hóa phát triển theo các nhân tố chiều sâu, nâng cao chất lượng cuộc sống, tận dụng tối đa những lợi ích và hạn chế tối thiểu những ảnh hưởng xấu của quá trình đô thị hóa, nhằm hiện đại hóa cuộc sống và nâng cao chất lượng môi trường đô thị
Ở các nước đang phát triển, hiện tượng bùng nổ dân số đô thị bên cạnh
sự yếu kém của công nghiệp đã làm cho quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa mất cân đối Sự mâu thuẫn của đô thị và nông thôn càng thêm sâu sắc Sự chênh lệch về mức sống đã thúc đẩy dân số nông thôn ra thành thị một cách ồ
ạt, làm cho dân số đô thị tăng lên một cách nhanh chóng, đặc biệt là đô thị
Trang 9lớn, đô thị trung tâm, tạo nên các điểm dân cư đô thị cực lớn, mất cân đối trong sự phát triển hệ thống dân cư
Theo tiến sĩ Gouming Wen, đô thị hóa là một quá trình chuyển đổi mang tính lịch sử tư liệu sản xuất và lối sống của con người từ nông thôn vào thành phố, Thường quá trình này được nhìn nhận như là sự di cư của nông dân nông thôn đến các đô thị và quá trình tiếp tục của bản thân các đô thị Ông cũng cho rằng, trong thực tế quá trình đô thị hóa là quá trình phức tạp hơn nhiều Bởi tiến trình này đã bộc lộ không ít dấu hiệu của tình trạng quá nóng và những dấu hiệu tiềm ẩn, như áp lực gia tăng đối với việc làm và an ninh xã hội, tình trạng bong bóng xà phòng trong lĩnh vực bất động sản buộc chính phủ Trung Quốc phải hãm phanh xu hướng này thông qua việc xem xét một cách thận trọng và từng bước kiểm soát đối với quá trình đô thị hóa
Tiến sĩ Toshio Kuroda (Nhật Bản) cho rằng đô thị hóa trên tổng số dân cư trú ở thành phố hoặc dựa trên quan điểm về các vừng có mật độ dân
cư đông Nghiên cứu thực tế nước Nhật, ông cho rằng đô thị hóa không đơn thuần là một hiện tượng xảy ra sau chiến tranh ở Nhật Bản mà là một quá trình diến ra từ đầu thế kỷ XX Sau năm 1945, quá trình đô thị hóa diễn
ra ở Nhật Bản khá rõ do yêu cầu của việc tái thiết nhanh chóng và tăng trưởng kinh tế đã đẩy nhanh quá trình đô thị hóa Sự di chuyển của một lượng lớn dân số trẻ từ nông thôn ra thành thị, chủ yếu là những người tản
cư về Quá trình diễn ra đặc biệt nhanh chóng từ cuối thập kỷ 50, đầu thập
ký 60 do người nhập cư mong muốn có cuộc sống tốt đẹp hơn
Tiến sỹ Jung Duk (Hàn Quốc) cho rằng đô thị hóa là sự gia tăng dân số chủ yếu từ nông thôn ra thành thị mà trước đây, thế hệ trẻ rời bỏ nông thôn với mục đích tìm kiếm việc làm, cơ hội giáo dục và những thú vui, tiện nghi nơi đô thị, trong giai đoạn đầu công nghiệp hóa (1967-1975)
Trang 10Như vậy, đô thị hoá là quá trình chuyển đổi một khu vực, một vùng nào
đó từ chưa "đô thị" thành "đô thị" Những vùng, khu vực có thể là vùng ven
đô thị hay ngoại thành, có thể thị trấn, thị tứ khi có cơ hội đô thị hoá, từ đô thị mở rộng không gian và diện tích cũng như thu hút luồng di cư của dân không nhất thiết từ đô thị trung tâm mà cả những vùng khác nhất là nông thôn trong cả nước Đô thị hoá biểu hiện dễ thấy là sự mở rộng không gian đô thị, không gian kiến trúc và sự tăng lên của dân nhập cư từ nhiều luồng khác nhau tạo nên sự tập trung dân cư lớn trong một thời gian nhất định Do đó, về mặt dân cư có thể xem đô thị hoá là một quá trình phức tạp bố trí lại dân cư, sắp xếp lại lao động Đô thị hoá nhanh chóng làm cho đô thị ổn định nhanh lại phải tiếp tục mở rộng không gian ra vùng ven Đó là một quá trình liên tục Quá trình này chỉ kết thúc khi đô thị đã đi vào ổn định
Đô thị hóa nông thôn cũng là một phần trong tiến trình đô thị hóa nói chung Đô thị hóa nông thôn là việc thay đổi trật tự sắp xếp của một vùng nông thôn theo các điều kiện của thành phố Đây là một trong những biện pháp biến nông thôn thành những nơi làm việc hấp dẫn, có điều kiện áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật, đáp ứng những nhu cầu về nông sản phẩm cho xã hội góp phần làm tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân Đô thị hóa nông dân có ý nghĩa rất lớn: Thứ nhất là tạo việc làm thu hút lao động
dư thừa ở nông thôn, giúp người dân cải thiện cuộc sống Thứ hai là làm giảm hiện tượng di cư vào các thành phố lớn như vậy là giảm sức ép cho các thành phố lớn Thứ ba là tạo ra sự phát triển đồng đều cho đất nước và xóa dần khoảng cách giữa đô thị và nông thôn
2.1.1.2 Phân loại đô thị
Ngày 5/5/1990, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ra quyết định về phân cấp, phân loại đô thị Đô thị nước ta chia làm 5 loại
- Đô thị loại 1: là loại đô thị rất lớn, dân số từ 1 triệu người trở lên,
Trang 11có thể thấp hơn)
2.1.1.3 Chức năng của đô thị
Tuỳ theo mỗi giai đoạn phát triển mà đô thị có thể có các chức năng khác nhau, nhìn chung có mấy chức năng chủ yếu sau:
* Chức năng kinh tế: Đây là chức năng chủ yếu của đô thị Sự phát triển kinh tế thị trường đã đưa đến xu hướng tập trung sản xuất có lợi hơn là phân tán Chính yêu cầu kinh tế ấy đã tập trung các loại hình xí nghiệp thành khu công nghiệp và cơ sở hạ tầng tương ứng, tạo ra thị trường ngày càng mở rộng và đa dạng hoá Tập trung sản xuất kéo theo tập trung dân cư, trước hết là thợ thuyền và gia đình của họ tạo ra bộ phận chủ yếu của dân cư
đô thị
* Chức năng xã hội: Chức năng này ngày càng có phạm vi lớn dần cùng với tăng quy mô dân cư đô thị Những nhu cầu về nhà ở, y tế, đi lại là những vấn đề gắn liền với yêu cầu kinh tế, với cơ chế thị trường Chức năng
xã hội ngày càng nặng nề không chỉ vì tăng dân số đô thị, mà còn vì chính những nhu cầu về nhà ở, y tế, đi lại thay đổi
* Chức năng văn hoá: Ở tất cả các đô thị đều có nhu cầu giáo dục và
Trang 12giải trí cao Do đó ở đô thị cần có hệ thống trường học, du lịch, viện bảo tàng, các trung tâm nghiên cứu khoa học ngày càng có vai trò lớn hơn
* Chức năng quản lý: Tác động của quản lý nhằm hướng nguồn lực vào mục tiêu kinh tế, xã hội, sinh thái và kiến trúc, bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc, vừa nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu công cộng, vừa quan tâm đến những nhu cầu chính đáng của cá nhân Do đó chính quyền địa phương phải
có pháp luật và quy chế quản lý về đô thị
2.1.1.4 Chức năng vùng ngoại thành, ngoại thị
Ngoại thành ngoại thị là vành đai chịu tác động ảnh hưởng trực tiếp của nội thị và nằm trong giới hạn hành chính thành phố, thị xã Theo Nghị định 72/2001/NĐ - CP ngày 5/10/2001, vùng ngoại thành, ngoại thị là một phần đất đai của đô thị nằm trong giới hạn hành chính của đô thị
Vùng ngoại thành ngoại có các chức năng sau:
Một là dự trữ đất đai để mở rộng, phát triển nội thành nội thị
Hai là sản xuất một phần lương thực, thực phẩm, rau quả tươi sống phục
vụ cho nội thành, nội thị
Ba là, bố trí công trình kỹ thuật đầu nối tập trung mà nội thị không bí trí được
Bốn là, xây dựng mạng lưới cây xanh, cân bằng hệ sinh thái, bảo vệ, môi sinh, môi trường
2.1.1.5 Vai trò của đô thị trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Đô thị thường đóng vai trò là trung tâm kinh tế, chính trị, thương mại, văn hoá của xã hội; là sản phẩm mang tính kế thừa của nhiều thế hệ cả
về cơ sở vật chất kỹ thuật và văn hoá
Đô thị là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân, có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, là điều kiện cho giao thương
và sản xuất phát triển, tạo điều kiện thúc đẩy CNH nhanh chóng Đô thị tối
Trang 13ưu hoá việc sử dụng năng lượng, con người và máy móc, cho phép vận chuyển nhanh và rẻ, tạo ra thị trường linh hoạt, có năng suất lao động cao Các đô thị tạo điều kiện thuận lợi phân phối sản phẩm và phân bố nguồn nhân lực giữa các không gian đô thị, ven đô, ngoại thành và nông thôn Đô thị có vai trò to lớn trong việc tạo ra thu nhập quốc dân của cả nước
Đô thị luôn phải giữ vai trò đầu tàu cho sự phát triển, dẫn dắt các cộng đồng nông thôn đi trên con đường tiến bộ và văn minh
2.1.2 Đô thị hoá
2.1.2.1 Khái niệm đô thị hoá
Các nhà khoa học thuộc nhiều bộ môn đã nghiên cứu quá trình đô thị hóa (ĐTH) và đưa ra không ít định nghĩa cùng với những định giá về quy
mô, tầm quan trọng và dự báo tương lai của quá trình này
“Đô thị hoá” được hiểu theo chiều rộng là sự phát triển của thành phố và việc nâng cao vai trò của đô thị trong đời sống của mỗi quốc gia với những dấu hiệu đặc trưng như: tổng số thành phố và tổng số cư dân đô thị Theo khái niệm này thì quá trình ĐTH chính là sự di cư từ nông thôn vào thành thị Đó cũng là quá trình gia tăng tỷ lệ dân cư đô thị trong tổng số dân của một quốc gia
Tuy nhiên, nếu chỉ hạn chế trong cách tiếp cận nhân khẩu học như trên thì sẽ không thể nào giải thích được toàn bộ tầm quan trọng và vai trò của ĐTH cũng như ảnh hưởng của nó tới sự phát triển của xã hội hiện đại Các nhà khoa học ngày càng ngả sang cách hiểu ĐTH như một phạm trù kinh tế -
xã hội, phản ánh quá trình chuyển hoá và chuyển dịch chủ yếu sang phương thức sản xuất và tiêu dùng, lối sống và sinh hoạt mới - phương thức đô thị Đây là một quá trình song song với sự phát triển công nghiệp hóa (CNH) và cách mạng khoa học công nghệ (CM KHCN)
Tóm lại, ĐTH là quá trình biến đổi và phân bố các lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư, hình thành, phát triển các hình thức
Trang 14và điều kiện sống theo kiểu đô thị đồng thời phát triển đô thị hiện có theo chiều sâu trên cơ sở hiện đại hóa (HĐH) cơ sở vật chất kỹ thuật và tăng quy
mô dân số
* Phân loại quá trình đô thị hóa
Quá trình ĐTH diễn ra trên thế giới có thể phân chia thành 2 loại:
- Quá trình ĐTH ở các nước đã phát triển: đặc trưng cho sự phát triển này là nhân tố chiều sâu và sự tận dụng tối đa những lợi ích, hạn chế những ảnh hưởng xấu của quá trình ĐTH ĐTH diễn ra do nhu cầu công nghiệp phát triển, mang tính tự nhiên
- Quá trình ĐTH ở các nước đang phát triển: có đặc trưng là ĐTH không đi đôi với CNH (trừ một số nước công nghiệp mới - NIC) Sự bùng nổ dân số đô thị quá tải không mang tính tự nhiên mà do sức hấp dẫn từ sự cách biệt sâu sắc về chất lượng cuộc sống giữa đô thị và nông thôn
* Quá trình ĐTH diễn ra theo 2 xu hướng
- ĐTH tập trung (ĐTH “hướng tâm”): đó chính là sự tích tụ các nguồn lực tư bản và chất xám hình thành nên các trung tâm đô thị công nghiệp tập trung cao độ, những thành phố toàn cầu như Tokyo, Seoul, Điều này sẽ dẫn đến xu hướng “CNH co cụm”, khi đó, chỉ những khu vực đô thị trung tâm là nơi thu hút vốn đầu tư, tập trung các hoạt động công nghiệp, trong khi các lĩnh vực vẫn chỉ là nông thôn và sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm vai trò chủ đạo tạo ra sự đối lập giữa đô thị và nông thôn, đồng thời gây ra mất cân bằng sinh thái
- ĐTH phân tán (ĐTH “ly tâm”): là xu hướng dịch chuyển đầu tư và hoạt động sản xuất công nghiệp từ các lĩnh vực trung tâm ra các vùng ngoại
vi, tạo nên hiệu ứng lan toả, thúc đẩy sự ra đời và hình thành các trung tâm vệ tinh công nghiệp Điều này dẫn đến tiến trình „công nghiệ hóa lan tỏa (CNH lan toả)”, các hoạt động công nghiệp ở đô thị trung tâm có xu hướng dịch
Trang 15chuyển ra ngoại vi để chuyển sang các hoạt động công nghiệp mức cao hơn, hay chuyên môn hoá các lĩnh vực kinh doanh, thương mại, dịch vụ Xu hướng này sẽ đảm bảo cân bằng sinh thái, tạo điều kiện việc làm, sinh hoạt và nghỉ ngơi tốt cho dân đô thị và nông thôn
2.1.2.2 Tính tất yếu của đô thị hoá
Bất cứ một quốc gia nào, dù là phát triển hay đang phát triển, khi chuyển biến từ nền kinh tế nông nghiệp lên nền kinh tế công nghiệp bằng con đường CNH thì đều gắn liền với ĐTH
Trong lịch sử cận đại, ĐTH trước hết là hệ quả trực tiếp của quá trình công nghiệp hoá tư bản chủ nghĩa (TBCN) và sau này là kết quả của quá trình cơ cấu lại các nền kinh tế theo hướng hiện đại hoá: tăng tỷ trọng của các ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng của ngành nông nghiệp trong cơ cấu và khối lượng GDP Nhìn chung, từ góc độ kinh tế, ĐTH là một xu hướng tất yếu của sự phát triển
Như vậy, ĐTH là một quy luật khách quan, phù hợp với đặc điểm tình hình chung của mỗi quốc gia và là một quá trình mang tính lịch sử, toàn cầu và không thể đảo ngược của sự phát triển xã hội ĐTH là hệ quả của sức mạnh công nghiệp và trở thành mục tiêu của nền văn minh thế giới
2.1.2.3 Quan điểm của đô thị hoá
Công nghiệp hoá và cùng với nó là ĐTH trở thành xu thế chung của mọi quá trình chuyển từ nền văn minh nông nghiệp lên nền văn minh công nghiệp Vấn đề quan trọng đặt ra là làm gì và bằng cách nào để phát huy tối đa mặt tích cực của đô thị hoá, đồng thời hạn chế và đi đến thủ tiêu mặt tiêu cực của nó Điều này cũng đồng nghiã với việc quá trình đô thị hoá phải gắn liền với khái niệm “Phát triển bền vững”
Theo Burger (1998) thì một xã hội phát triển bền vững phải thoả mãn nhu cầu con người không chỉ trong giai đoạn hiện tại (kể cả trong quá
Trang 16khứ) mà còn cho cả tương lai, ngoài ra xã hội đó còn đáp ứng đồng thời cả yêu cầu phát triển kinh tế lẫn bảo vệ môi trường
Như vậy, đô thị hóa phải vừa thúc đẩy sự phát triển kinh tế, vừa phải đảm bảo môi trường tự nhiên, xã hội trong lành, sự công bằng và tiến bộ xã hội Tuy rằng tăng trưởng kinh tế là yếu tố cần thiết và quan trọng bậc nhất của quá trình ĐTH song nó vẫn chỉ là một nhân tố, một phương tiện hơn là một mục tiêu tối thượng Mục tiêu của ĐTH là phải không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống vật chất và tinh thần của con người, tức là phát triển đô thị lấy con người làm trọng tâm
2.1.2.4 Mối quan hệ giữa quá trình đô thị hoá và quá trình công nghiệp hoá
Đô thị hóa là một quá trình song song với sự phát triển công nghiệp hóa
và cách mạng khoa học kỹ thuật Quá trình đô thị hóa phản ánh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong nền kinh tế thị trường Không ai phủ nhận rằng một quốc gia được coi là công nghiệp hóa thành công lại không có
tỷ lệ cư dân đô thị ngày càng chiếm vị trí áp đảo so với cư dân nông thôn Đó cũng là lý do mà kinh tế học phát triển đã coi sự gia tăng tỷ lệ cư dân đô thị như một trong những chỉ tiêu chủ yếu phản ánh tình trạng “có phát triển” của nền kinh tế chậm phát triển đang tiến hành công nghiệp hóa hiện nay Đô thị hóa trước hết là hệ quả trực tiếp của quá trình công nghiệp hóa và sau này là
hệ quả của quá trình cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng hiện đại hóa: tăng tỷ trọng của các ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng của ngành nông
Trang 17nghiệp trong cơ cấu và khối lượng GDP
Đồng thời, trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đô thị hóa giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá, đảm bảo an ninh quốc phòng và bảo vệ môi trường ĐTH xúc tiến tối đa công nghiệp hóa
- Hiện đại hóa đất nước Sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa muốn thực hiện thành công cần phải chuyển đổi căn bản cơ cấu kinh tế từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp với kỹ thuật cao, thay đổi cơ cấu lao động Trước hết có sự tập trung cao các điểm dân cư, kết hợp với xây dựng đồng bộ và khoa học các cơ quan và các xí nghiệp trung tâm Quá trình này là bước chuẩn bị lực lượng ban đầu cho công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Khi đó máy móc hiện đại được đưa vào sản xuất nhiều hơn kéo theo việc nâng cao trình độ tay nghề công nhân, đồng thời nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý Đô thị hóa sẽ đánh dấu giai đoạn phát triển mới của tiến trình công nghiệp hóa, trong đó, công nghiệp và dịch vụ trở thành lĩnh vực chủ đạo của nền kinh tế, không chỉ xét về phương diện đóng góp tỷ trọng trong GDP mà còn cả về phương diện phân bố nguồn lao động xã hội
Tuỳ theo mỗi giai đoạn phát triển mà đô thị có thể có các chức năng khác nhau, nhìn chung có mấy chức năng chủ yếu sau
* Chức năng kinh tế: đây là chức năng chủ yếu của đô thị Sự phát triển kinh tế thị trường đã đưa đến xu hướng tập trung sản xuất có lợi hơn là phân tán Chính yêu cầu kinh tế ấy đã tập trung các loại hình xí nghiệp thành khu công nghiệp và cơ sở hạ tầng tương ứng, tạo ra thị trường ngày càng mở rộng
và đa dạng hoá Tập trung sản xuất kéo theo tập trung dân cư, trước hết là thợ thuyền và gia đình của họ tạo ra bộ phận chủ yếu của dân cư đô thị
Trang 18* Chức năng xã hội: chức năng này ngày càng có phạm vi lớn dần cùng với tăng quy mô dân cư đô thị Những nhu cầu về nhà ở, y tế, đi lại, là những vấn đề gắn liền với yêu cầu kinh tế, với cơ chế thị trường Chức năng xã hội ngày càng nặng nề không chỉ vì tăng dân số đô thị, mà còn vì chính những nhu cầu về nhà ở, y tế, đi lại, thay đổi
* Chức năng văn hoá: Ở tất cả các đô thị đều có nhu cầu giáo dục và giải trí cao Do đó ở đô thị cần có hệ thống trường học, du lịch, viện bảo tàng, các trung tâm nghiên cứu khoa học ngày càng có vai trò lớn hơn
* Chức năng quản lý: tác động của quản lý nhẳm hướng nguồn lực vào mục tiêu kinh tế, xã hội, sinh thái và kiến trúc, bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc, vừa nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu công cộng, vừa quan tâm đến những nhu cầu chính đáng của cá nhân Do đó chính quyền địa phương phải có pháp luật và quy chế quản lý về đô thị
2.1.2.5 Tác động của đô thị hoá
ĐTH là một quá trình đã, đang và sẽ tiếp tục diễn ra một cách phổ biến trên thế giới ĐTH từng bước đưa con người tiếp cận cuộc sống văn minh, đồng thời cũng đặt ra không ít vấn đề tiêu cực, khó khăn - những vấn
đề ảnh hưởng xấu đối với quá trình ĐTH một cách bền vững
* Mặt tích cực:
Một là, ĐTH thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Sản xuất hàng hóa và dịch
vụ thường đạt hiệu quả cao tại những đô thị lớn - nơi có quy mô mật độ dân
số tương đối lớn với nguồn lao động dồi dào, có quy mô hoạt động kinh tế
đủ lớn do các doanh nghiệp tập trung đông, có hệ thống phân phối rộng khắp trên một không gian đô thị nhất định Đồng thời khi kinh tế của các đô thị lớn đạt tới độ tăng trưởng cao thì nó sẽ gây ra hiệu ứng lan toả kích thích mạnh tới tăng trưởng kinh tế của cả nước
Trang 19Hai là, ĐTH đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH Trong quá trình ĐTH, cơ cấu ngành kinh tế thay đổi theo hướng giảm tỷ trọng của khu vực nông nghiệp và gia tăng nhanh tỷ trọng của khu vực công nghiệp và dịch vụ Đối với sản xuất nông nghiệp nói riêng, ĐTH góp phần làm thay đổi về cơ cấu diện tích gieo trồng và cơ cấu giá trị sản xuất Các loại cây có giá trị kinh tế thấp, sử dụng nhiều lao động đang có xu hướng giảm dần diện tích Các loại cây cần ít lao động hơn và cho giá trị kinh tế cao hơn đang được tăng dần diện tích canh tác Trong tổng giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp thì xu hướng chung là giảm dần
tỷ trọng của ngành trồng trọt và tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi
Ba là, ĐTH cải tạo kết cấu hạ tầng Xu hướng ĐTH tạo ra sự tập trung sản xuất công nghiệp và thương mại, đòi hỏi phải tập trung dân cư, khoa học, văn hóa và thông tin Những điều kiện đáp ứng nhu cầu đó là sự phát triển kết cấu hạ tầng, nhà ở, các dịch vụ phục vụ cho sản xuất và đời sống dân cư Do đó mà hệ thống giao thông vận tải, năng lượng, bưu chính viễn thông và cấp thoát nước cũng sẽ được cải tiến về quy mô và chất lượng Ở nông thôn, việc cải tạo kết cấu hạ tầng đang được thực hiện với chủ trương “điện, đường, trường, trạm” tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và nâng cao đời sống của người nông dân
Bốn là, ĐTH nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật và công nghệ Các
đô thị ngày càng áp dụng nhiều tiến bộ kỹ thuật và kỹ năng quản lý tổ chức sản xuất hiện đại, làm tăng năng suất lao động và nâng cao chất lượng sản phẩm Trong sản xuất nông nghiệp, quá trình ĐTH cung cấp những cơ sở
kỹ thuật cần thiết cho người nông dân như thủy lợi hóa, điện khí hóa, cơ giới hóa, sinh học hóa để làm tăng năng suất lao động, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá có chất lượng tốt, đảm bảo an toàn lương thực, đáp ứng nhu cầu của công nghiệp chế biến và thị trường trong ngoài nước
Trang 20Năm là, ĐTH góp phần cải thiện đời sống của dân cư đô thị và các vùng lân cận Nhờ duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao mà các đô thị
có thể tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới cho người dân, góp phần quan trọng trong việc nâng cao thu nhập cho họ Khi mức thu nhập bình quân người/ tháng tăng lên thì nhu cầu chi tiêu đời sống của dân cư cũng tăng nhằm thỏa mãn tốt hơn nhu cầu tiêu dùng cá nhân Điều đó cho thấy ĐTH làm mức sống của dân cư được cải thiện đáng kể, góp phần vào việc thực hiện xóa đói giảm nghèo
Sáu là, ĐTH cũng đem lại một số tiến bộ về mặt xã hội đó là: nâng tuổi thọ trung bình, giảm tỷ lệ tử vong của trẻ em, giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng, tăng tỷ lệ dân cư dùng nước sạch, phát triển giáo dục, văn hóa,
“giải độc” cho môi trường sống, tạo khu nghỉ ngơi cho thị dân Đồng thời
sự suy giảm diện tích đất nông nghiệp đã ảnh hưởng không nhỏ tới việc cải thiện mức sống của nhiều người dân ở khu vực ngoại ô vì họ trở nên thiếu phương tiện lao động và kế sinh nhai truyền thống
Thứ hai, ĐT H khoét sâu hố phân cách giàu nghèo Quá trình ĐTH nhanh đã làm cho hố phân cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư trong
đô thị, giữa nông thôn và thành thị trở nên trầm trọng hơn
Thứ ba, ĐTH gia tăng tình trạng di dân Chính sự chênh lệch về
Trang 21mức sống, điều kiện sống, khả năng tìm kiếm việc làm và cơ hội tăng thu nhập đã và đang được coi là những nguyên nhân kinh tế quan trọng nhất thúc đẩy một bộ phận lớn người dân rời khỏi khu vực nông thôn để di dân tới thành thị Lực lượng lao động ở nông thôn chỉ còn lại những người già yếu và trẻ nhỏ, không đáp ứng được những công việc nhà nông vất vả Cơ cấu lao động ở nông thôn hoàn toàn bị thay đổi theo hướng suy kiệt nguồn lực lao động Đồng thời thị trường lao động ở thành thị lại bị ứ đọng
Thứ tư, ĐTH môi trường bị ô nhiễm Chất lượng môi trường đô thị bị suy thoái khá nặng nề do mật độ dân số tập trung cao, sản xuất công nghiệp phát triển mạnh làm phát sinh một lượng chất thải, trong đó chất thải gây hại ngày càng gia tăng; bùng nổ giao thông cơ giới gây ô nhiễm môi trường
và tiếng ồn
Thứ năm, ĐTH phát sinh các tệ nạn xã hội Đây chính là mặt trái của đời sống đô thị hay của cả quá trình ĐTH Trong khi nhiều khía cạnh tốt đẹp của văn hóa truyền thống bị mai một, thì lối sống lai căng, không lành mạnh lại đang ngự trị trong lối sống đô thị hiện nay Những tệ nạn xã hội phổ biến nhất hiện nay đều được phát sinh và phát triển tại các trung tâm đô thị lớn
Tóm lại, trong công cuộc CNH, HĐH đất nước thì quá trình ĐTH ngày càng gia tăng Vậy chúng ta phải làm thế nào để quá trình ĐTH phát triển lành mạnh và bền vững Tăng trưởng kinh tế do quá trình này đem lại phải được chú trọng đồng thời việc phát triển văn hóa, lấy việc biến động nguồn nhân lực con người làm trọng tâm
2.2 THỰC TIỄN QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
Tiến trình đô thị hoá gắn bó chặt chẽ với sự trường tồn phát triển của lịch sử nhân loại Quá trình này mới là sản phẩm của nền văn minh, vừa là động lực của những bước tiến kỳ diệu mà nhân loại đã đạt được trong mấy thiên nhiên kỷ qua
Trang 22Đối với Việt Nam, một nước nông nghiệp truyền thống với nền đô thị hoá thấp và chậm trong lịch sử đang bước vào thời kỳ mới của nền kinh tế thị trường, thời kì CNH - HĐH, việc nghiên cứu tìm hiểu diễn biến của quá trình đô thị hoá thế giới càng có ý nghĩa to lớn cả về mặt nhận thức, lý luận cũng như giá trị thực tiễn
2.2.1 Tình hình đô thị hoá trên thế giới
* Thời kỳ cổ đại và trung đại
Quá trình đô thị hóa trên thế giới đã diễn ra rất sớm Từ thời kỳ cổ đại
đã bắt đầu xuất hiện các đô thị lớn như: Đô thị cổ Ai Cập, Hy Lạp cổ đại, La
Mã cổ đại, văn minh Lưỡng Hà, Trung Quốc, Ấn Độ
Vào thời kỳ trung đại, các đô thị phát triển mạnh hơn tuy nhiên quy mô của các thành phố vẫn rất nhỏ, chỉ khoảng 5000 - 10000 người Ở châu Á với chế độ phong kiến kéo dài ảnh hưởng đên tính chất các đô thị phong kiến Tiêu biểu là Trung Quốc, thành phố có quy mô lớn trở thành chỗ ở và thể hiện
uy quyền của các vua chúa phong kiến, là trung tâm văn hóa chính trị văn hóa của giai cấp thống trị Thế kỷ XII, các đô thị phát triển do sự xuất hiện của tiểu thủ công nghiệp, xuất hiện nhiều đô thị cảng và đô thị nằm trên đầu mối giao thông Thế kỷ XV, XVI nền văn hóa Phục Hưng phát triển mạnh kéo theo sự phát triển của các đô thị ở châu Âu, đặc biệt là Pháp, Ý
Nói chung đô thị thời kỳ này phát triển chậm, bố cục thành phố lộn xộn, phát triển tự phát, thiếu quy hoạch và môi trường đô thị không hợp lý
* Thời kỳ cận đại
Giữa thế kỷ XVII công nghiệp phát triển thu hút nguồn nhân lực lớn, các khu nhà mọc lên nhanh chóng bên cạnh các khu vực sản xuất Các nước công nghiệp phát triển như Anh, Pháp, Đức, Mỹ dân số đô thị tưng lên nhanh chóng
Thời kỳ này các thành phố phát triển và phân bố không đều do ảnh hưởng của phát triển kinh tế Các thành phố lớn có dân số tập trung cao bao
Trang 23gồm: New York (5 triệu người), London (gần 5 triệu người), Berlin (trên 4 triệu người)
* Thời kỳ hiện đại
Đô thị hóa tuy diễn ra rất sớm, tuy nhiên phải phải đến thế kỷ XIX thì nó mới thực sự bùng nổ Gần 150 năm trước đô thị hóa bắt đầu diễn ra mạnh mẽ ở phương Tây rồi lan sang Mỹ vào những năm cuối thế kỷ XIX và lan sang các nước châu Á vào khoảng thập niên 60 - 70 của thế kỷ XX Đô thị hóa ở các nước này đi theo sau quá trình công nghiệp và hiện đại hóa đất nước
Thời kỳ này, quá trình đô thị hóa đã diễn ra nhanh chóng nhất là sau chiến tranh thế giới thứ II, việc ứng dụng các thành tựu của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật vào sản xuất làm cho nền kinh tế ở các nước tư bản phát triển mạnh, theo đà đó các đô thị lớn cũng dần được hình thành và phát triển Theo thống kê, vào năm 1990 con số này gần 30%, vào năm 2007 theo thống
kê của liên hợp quốc số người sống ở thành thị đã vượt số người sống ở nông thôn Vào năm 1975 chỉ có 3 thành phố với dân số hơn 10 triệu người là Tokyo, New York và Mexico Đến năm 2005 con số này là 20
Hiện nay, những khu vực phát triển nhất là những nơi có tỷ lệ đô thị hóa cao nhất, châu Âu, Bắc Mỹ chiếm vị trí hàng đầu với 3/4 dân số sống ở thành thị Các nước phát triển như Anh, Pháp, Mỹ là những nước phát triển từ rất sớm, họ đã tận dụng được các thành tựu trong cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật để thúc đẩy sản xuất làm cho nền kinh tế phát triển mạnh Quá trình đô thị hóa của họ theo đó cũng xuất hiện sớm Tốc độ đô thị hóa cao làm xuất hiện nhanh các đô thị khổng lồ và làm cho dân số các đô thị tăng nhanh Các con rồng châu Á tuy có xuất phát điểm phát triển kinh tế có chậm hơn, do ngay khi phát triển tốc độ đô thị hóa của họ được đẩy lên cao nên đến nay trình độ đô thị hóa của họ cũng có thể sánh ngang với các nước phát triển ở phương Tây Ví dụ như ở Hàn Quốc những năm 1950 chỉ có 18,4 dân số sống
Trang 24ở đô thị, đến năm 2007 đã tăng lên tới 88% Ở các nước này dường như đô thị hóa đã đạt đến mức bão hòa, tốc độ đô thị hóa tại đây đã bắt đầu giảm
Những nước đang phát triển là những nước có tốc độ đô thị hóa cao nhất Điều này thể hiện rõ nhất ở các nước Nam bán cầu, và các nước đang phát triển ở châu Á Ở các nước này đang diễn ra quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tốc độ phát triển kinh tế ở mức cao Sự tập trung phát triển các đô thị làm chênh lệch mức sống giữa đô thị và nông thôn, đô thị trở thành một nơi hấp dẫn đối với những người nghèo ở nông thôn, từ đó hình thành một luồng di dân từ nông thôn ra thành thị làm cho thành thị ngày càng phình to ra Mặt khác tốc độ phát triển kinh tế cao cũng làm hình thành các đô thị một cách nhanh chóng
Tốc độ đô thị hóa ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương diễn ra mạnh
mẽ nhất trong vòng hai thập kỷ qua Năm 1990 có 31% dân số sống ở đô thị, đến năm 2005 tăng lên 41% Tốc độ đô thị hóa cao biểu hiện rõ nhất là: Ấn
Độ, Trung Quốc, Singapo Ấn Độ là nước có tốc độ đô thị hóa cao nhất hiện nay, dự tính đến năm 2050 sẽ có 900 triệu người sống ở các đô thị chiếm
khoảng 55% dân số cả nước (hiện nay là 300 triệu người chiếm 30%)
Mức độ đô thị hóa và tốc độ đô thị hóa ở các nước kém phát triển là rất thấp Điều này thể hiện rõ nhất ở các nước châu Phi, khi mà kinh tế còn chậm phát triển, công cuộc CNH, HĐH còn diễn ra chậm chạp thì việc hình thành các đô thị mới là vấn đề khó khăn Đô thị hóa diễn ra ở các nước này chủ yếu
là hiện tượng người dân nông thôn di cư ra các đô thị làm cho dân cư đô thị tăng lên Hiện nay ở châu Phi chỉ mới có một trung tâm đô thị lớn đó là Cairo
Tiến trình phát triển đô thị đã góp phần to lớn vào sự nghiệp HĐH Song sự bùng nổ đô thị quá tải đã tạo ra hàng loạt vấn đề gay cấn đối với cuộc sống con người, tạo ra sự thiếu cân bằng trong phân bố dân cư và vùng lao động theo vùng lãnh thổ, khả năng cung ứng lương thực, thực
Trang 25CNH-phẩm ven đô tiêu hao nhiên liệu, năng lượng Nếu trong năm 1990, bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người ở mức 0,27 ha thì con số này dự báo sẽ tụt xuống 0,17 ha vào năm 2025 Chiến lược chung của vấn đề đô thị hiện nay là:
1 Hạn chế việc di cư từ nông thôn ra đô thị trong đó yêu cầu nhất thiết phải nâng cao mức sống nông thôn
2 Khi tập trung quá tải, cùng với việc hạn chế nhập cư vào các tụ điểm lớn thì đồng thời phải tạo nên sự cân bằng hài hoà dân số đô thị, khuyến khích các đô thị vừa và nhỏ, tăng cường đầu tư hệ thống dịch vụ, xây dựng cơ
sở hạ tầng, có cơ sở xã hội thoả đáng
2.2.2 Kinh nghiệm đô thị hoá ở một số nước trên thế giới
2.2.2.1 Hà Lan
Hà Lan là một quốc gia phát triển Theo Joanna Wilbers, để khắc phục những tác động tiêu cực của quá trình đô thị hoá, năm 1994, các nhà hoạch định cuộc sống thuộc bộ tài nguyên môi trường đã đưa ra “Chính sách hiệp ước” Theo chính sách này, các khu vực nông thôn vẫn giữ nguyên là nông thôn đồng thời cũng quy hoạch phát triển đô thị làm các khu dân cư, trung tâm tài chính và thương mại Chính sách này cũng đưa ra những nguy hại đối với việc đô thị hoá các khu vườn ven thành phố
Ngay từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất, Amsterdam đã bắt đầu tiến trình đô thị hoá và nhanh chóng trở thành một thành phố có tầm ảnh hưởng lớn đến kinh tế, chính trị của Hà Lan Tuy mật độ dân số hiện nay ở thành phố có những nơi đạt trên 20.000 người/km2 nhưng xung quanh thành phố vẫn tồn tại khoảng 600 khu vườn Diện tích vườn ở Amsterdam chiếm đến 300 ha trong tổng số diện tích 21.907 ha của thành phố
Những người nông dân ở thành phố Amsterdam đã thành lập các tổ chức gọi là “Hội những người nông dân đô thị” và “Hiệp hội những
Trang 26người làm vườn ở Amsterdam” (BVV) Các hiệp hội đại diện cho tầng lớp nông dân thương lượng với Chính phủ trong việc duy trì sự tồn tại của các khu vườn trong quá trình ĐTH Hiệp hội những người làm vườn đã đưa
ra lí luận về sự đa chức ngành của các khu vườn Các khu vườn được sử dụng để sản xuất lương thực, thực phẩm cung cấp cho nhu cầu của thành phố, đồng thời còn thực hiện nhiều chức năng khác nhau để bình đẳng hoá các nhóm lợi ích như: cung cấp cho thị dân một không gian mới, giáo dục cho trẻ em về thiên nhiên và môi trường; làm gia tăng số lượng loài động vật, côn trùng và cây cỏ; duy trì “không gian xanh” cho thành phố, làm trong sạch khí hậu thành phố
Vào năm 1995, khoảng 170 nông dân đã tổ chức “Diễn đàn đối thoại của nông dân vùng đất xám” Họ đã đưa ra những phân tích cuả mình về triển vọng kinh tế dài hạn của vùng đất này nếu tiếp tục sản xuất nông nghiệp và thay đổi phương pháp sử dụng đất Họ đã đối thoại trực tiếp với chính phủ và các tổ chức môi trường nhằm giữ vững và phát triển sản xuất nông nghiệp Bản thân những người nông dân đã trở thành người quản lý, giáo dục và hoạt động kinh tế ở địa phương mình
Một số nông trang quanh các khu đô thị đã thấy rõ tầm quan trọng của nông nghiệp đối với thành phố trong quá trình ĐTH Họ nhận thức được tính đa chức năng của một nền nông nghiệp đô thị Do đó trong quá trình ĐTH, sản xuất nông nghiệp vẫn không mất đi mà tiếp tục tồn tại hài hoà, kết hợp với sự phát triển bền vững của kinh tế đô thị
Trang 27thành phố, tỷ lệ bằng 37% Có những dự đoán cho rằng đến năm 2050, tỷ lệ ĐTH sẽ đạt 75% Tính trung bình mỗi năm có 12 triệu người ở nông thôn vào sinh sống ở đô thị
Như vậy là một lượng lớn nhân công đã di chuyển khỏi vòng nông thôn lạc hậu và hiệu quả kém sang các thành phố - nơi có trình độ tiên tiến hơn, năng suất cao, hiệu quả cao Không những bản thân người lao động có mức sống khá hơn mà gia đình họ cũng đỡ gặp khó khăn trong sản xuất nông nghiệp, có thể trang trải các khoản ăn mặc, học hành, thiết bị sản xuất, tình trạng đói nghèo ở nông thôn được giảm bớt Tuy nhiên, mặt trái của vấn đề di chuyển nhân công từ nông thôn ra thành phố là rất rõ rệt, trở thành mâu thuẫn chủ yếu của quá trình ĐTH ở Trung Quốc Nhiều hậu quả kinh tế-xã hội nghiêm trọng đang thách đố các giải pháp và khả năng quản lý của Nhà nước như thiếu nhà ở cho người nghèo, sự phân hoá xã hội, việc sinh để không thể kiểm soát, trật tự trị an kém, môi trường ô nhiễm, kết cấu hạ tầng thiếu thốn
Mặt khác, trước đây ở Trung Quốc đã có một thời kỳ công nghiệp hương trấn phân bố quá phân tán, xây dựng các thành phố nhỏ và thị trấn một cách bừa bãi, thiếu quy hoạch làm lãng phí nguồn lực của nông thôn, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và làm mất đi đặc điểm, ưu thế của nông thôn
Để đối phó với tình hình trên, Nhà nước Trung Quốc đã coi trọng tiếp tục giữ vững nguyên tắc phát triển hài hoà, tiên tiến, tránh tình trạng mở rộng ào ạt các đô thị lớn, làn sang nhân công lưu động tràn vào thành phố quá lớn, làm xáo trộn hoạt động kinh tế Tư tưởng chiến lược ĐTH của Trung Quốc nay là: khai thác tiềm lực các thành phố lớn, mở rộng và xây dựng các thành phố loại vừa, phát triển có lựa chọn và thích hợp các thành phố nhỏ và thị trấn
Đối với quá trình ĐTH nông thôn, Trung Quốc chủ trương tiếp tục xây dựng xí nghiệp hương trấn theo hướng khắc phục dần tình trạng thô sơ, phân tán trong phân công lao động giữa công nghiệp và nông nghiệp, thực hiện
Trang 28khẩu hiện “ly điền bất ly hương”, “ly hương bất ly điền”, dần dần tiến tới phân công lao động theo chiều sâu Nhà nước cũng chủ trương phải có chính sách giảm bớt bạn đồng hành của việc phát triển các đô thị nhỏ, đó là sự tụt hậu về văn hoá, giáo dục, trình độ quản lý, ô nhiễm môi trường, lấn chiếm nhiều đất canh tác
Tóm lại, kinh nghiệm ở một số nước cho thấy ĐTH không được bó hẹp trong phạm vi đô thị mà phải bao gồm cả địa bàn nông thôn Chúng ta còn phải phát triển mạng lưới đô thị hợp lý, xây dựng các đô thị có quy mô vừa phải, gắn kết với hệ thống đô thị vệ tinh Ngay từ bây giờ, chúng ta phải gắn ĐTH với quá trình CNH-HĐH đất nước Khi làm quy hoạch phát triển 1 thành phố cụ thể cần có kế hoạch xây dựng đồng bộ về nhà ở, kết cấu
hạ tầng, hệ thống dịch vụ, hệ thống xử lý nước thải
2.2.3 Tình hình đô thị hóa ở Việt Nam
Việt Nam vốn là một quốc gia nông nghiệp, ĐTH ở Việt Nam đã trải qua mỗi giai đoạn ĐTH, bộ mặt đô thị Việt Nam lại có những biến đổi nhất định Trải qua mỗi giai đoạn khác nhau hệ thống các đô thị mang những đặc điểm khác nhau
*Trước thế kỷ XVIII
Quá trình đô thị hóa ở nước ta diễn ra ngay từ thời trung đại, đó chính
là sự hình thành một số đô thị phong kiến Một số đô thị phong kiến cổ ở nước ta: Thành Cổ Loa của An Dương Vương, thành Tống Bình thời Bắc
thuộc (Hà Nội ngày nay), thành Thăng Long, thành Hoa Lư ở Ninh Bình,
thành Tây Đô ở Thanh Hóa
Trong thời kỳ phong kiến, Việt Nam luôn phải chống lại các cuộc ngoại xâm của phương Bắc Do đó đô thị mang tính phòng thủ, chủ yếu là để chống giặc ngoại xâm Đây là lý do làm cho quá trình đô thị hóa ở nước ta trong thời
kỳ này diễn ra một cách chậm chạp, mức độ phát triển dân cư thành thị thấp
Trang 29* Dưới thời nhà Nguyễn
Đầu thế kỷ XVIII khi các nước châu Âu có nền kinh tế lớn mạnh thì Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp lạc hậu Những điều luật phong kiến ngặt nghèo đã kìm hãm sự phát triển của đất nước, kể cả trong lĩnh vực kiến trúc, quy hoạch và xây dựng Dân số đô thị lúc bầy giờ chỉ chiếm khoảng 1% dân số cả nước
Trong thời kỳ này đã có nhiều đô thị bắt đầu hình thành và phát triển Hình thành chuỗi đô thị phía Nam: Chợ Lớn, Gia Định là nền móng của Sài Gòn sau này, xây dựng lại thành Hà Nội Năm 1830, nhà Nguyễn chọn Huế làm thủ đô, tuy nhiên với hình thức vẫn là thành quách
* Thời kỳ trước năm 1954
Nửa đầu thế kỉ XX, người Pháp đã mở đầu cho quá trình ĐTH Việt Nam thông qua việc thiết lập một mạng lưới đô thị - trung tâm hành chính thương mại và công nghiệp khai thác ở cả 3 miền Bắc - Trung - Nam Tuy vậy, tốc độ tăng dân số mới đạt 7,5%; năm 1936 là 7,9%; 20 năm sau - năm 1955 mới đạt 11%
Trang 30* Thời kỳ từ năm 1989 đến nay
Dưới tác động của công cụ đổi mới, cải tổ nền kinh tế theo định hướng thị trường thì cơ cấu kinh tế, cơ cấu xã hội, cơ cấu lao động, nghề nghiệp cũng như những khuôn mẫu của đời sống đô thị đã và đang diễn ra những biến đổi quan trọng
Quá trình ĐTH đã có những chuyển biến nhanh hơn, đặc biệt trong những năm gần đây tình hình CNH đang diễn ra mạnh mẽ Tốc độ ĐTH ở Việt Nam đang diễn ra khá nhanh: 18,5% (năm 1989), 20,5% (1997), 23,65% (1999) và 25% (năm 2004) Về số lượng đô thị, năm 1990, cả nước mới có khoảng 500 đô thị lớn nhỏ, đến năm 2000 đã có 703 đô thị, trong đó: 2 đô thị
có quy mô dân số trên 3 triệu người, 15 đô thị quy mô dân số từ 25 vạn đến 3 triệu người, 74 đô thị có quy mô dân số từ 5 vạn đến 25 vạn người và các đô thị còn lại có quy mô dân số dưới 5 vạn người
Tuy vậy ĐTH ở Việt Nam còn ở mức thấp so với khu vực và trên thế giới ĐTH cũng làm nảy sinh những mặt tiêu cực sau:
- Việc mở rộng không gian đô thị đang có nguy cơ làm giảm diện tích đất nông nghiệp Theo Hội nông dân Việt Nam, trong quá trình xây dựng, các khu công nghiệp, khu đô thị, cơ sở hạ tầng, mỗi năm Việt Nam
có gần 200 nghìn ha đất nông nghiệp bị chuyển đổi mục đích sử dụng, tương ứng mỗi hộ có khoảng 1,5 lao động mất việc làm
- Dân số đô thị tăng nhanh đã làm hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị bị quá tải, đặc biệt là tình trạng yếu kém của hệ thống cấp nước, thoát nước, thu gom và xử lý chất rắn
- Tốc độ phát triển quá nhanh của đô thị đã vượt khả năng điều hành của chính quyền địa phương
- Vấn đề đói nghèo và thất nghiệp đang diễn ra ở các đô thị Sự thiếu hiểu biết của người dân kéo theo sự mất an toàn xã hội
Trang 31Trước những thách thức trên, quá trình ĐTH đã đựơc Chính phủ quan tâm kịp thời Ngày 23 tháng 1 năm 1998, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Định hướng quy hoạch tổng thể phát triển đô thị đến năm 2020” trong quyết định số 10/1998/ QG-TTG, trong đó xác định phương hướng xây dựng và phát triển các đồ thị trên địa bàn cả nước và các vùng đặc trưng:
Mức tăng trưởng dân số dự báo:
- Năm 2010, dân số đô thị là 30,4 triệu người; chiếm 33% dân số cả nước
- Năm 2020, dân số đô thị là 46 triệu người; chiếm 45% dân số cả nước
Nhu cầu sử dụng đất đô thị:
- Năm 2020, diện tích đất đô thị là 460.000 ha, chiếm 1,4% diện tích đất tự nhiên cả nước
Tổ chức không gian hệ thống đô thị:
- Mạng lưới đồ thị cả nước được hình thành và phát triển trên cơ sở các đô thị trung tâm, gồm các thành phố trung tâm cấp quốc gia, cấp vùng, cấp tỉnh Các đô thị trung tâm lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh phải được tổ chức thành các chùm đô thị, có vành đai xanh bảo vệ để hạn chế tối đa sự tập trung dân số, cơ sở kinh tế và phá vỡ cân bằng sinh thái, tránh sự hình thành các siêu đô thị
- Quy hoạch sử dụng đất đô thị đảm bảo các khu chức năng và cơ sở
hạ tầng có quan hệ gắn bó
- Hình thành bộ mặt kiến trúc hiện đại nhưng vẫn kế thừa, bảo vệ, tôn tạo và giữ gìn các di sản lịch sử văn hoá, phát triển nền kiến trúc đậm đà bản sắc dân tộc
Phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật:
- Xây dựng và duy trì bộ khung bảo vệ thiên nhiên trên địa bàn cả nước
- Khai thác và sử dụng hợp lý các tài nguyên thiên nhiên vào mục đích cải tạo đô thị
Trang 32- Có biện pháp xử lý, tái sử dụng các chất thải sinh hoạt và sản xuất bằng công nghệ thích hợp
2.2.4 Các công trình nghiên cứu về đô thị hóa trên thế giới và Việt Nam
Có nhiều quan điểm khác nhau trong quá trình phát triển đô thị Francois Perrous với quan điểm “thuyết kinh tế chủ đạo” hay còn gọi là
“thuyết về các cực tăng trưởng” ông cho rằng chỉ ở các trung tâm đô thị của hai vùng có sự phát triển các ngành công nghiệp, có sức bành trướng mạnh mới có khả năng tăng trưởng lớn nhất Nông nghiệp trọng tâm đô thị ấy là những cực tăng trưởng đây chính là quan điểm phát triển đô thị lấy tăng trưởng kinh tế làm trọng tâm Tuy nhiên theo nghiên cứu của David C Korkn cần phát triển đô thị lấy con người làm trung tâm Ông cho rằng “phát triển là một tiến trình quá trình qua đó các thành viên của
xã hội tăng được khả năng cá nhân và định chế của mình để huy động các nguồn lực, tạo ra những thành quả bền vững và được phân phối công bằng nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống phù hợp với cuộc sống của họ”
Trong những năm gần đây các ngành khoa học xã hội và nhân văn cũng
đã có những công trình nghiên cứu về ĐTH ở Việt Nam Đó là các nghiên cứu
về “Tác động kinh tế xã hội và môi trường của quá trình đô thị hoá đối với các vùng nông thôn xung quanh các đô thị lớn”, nghiên cứu “Tri thức, thái độ hành
vi ứng xử của cộng đồng đối với vấn đề rác thải, môi trường đô thị”, “Phân tích quá trình đô thị hóa thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2000-2010”, “Ảnh hưởng của xu hướng đô thị hoá đối với kinh tế hộ nông dân trên địa bàn thành phố Thái Nguyên”, "Ảnh hưởng của đô thị hoá đến biến động hiện trạng sử dụng đất và kinh tế hộ nông dân mất đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Thái Nguyên"
Những đề tài nghiên cứu này đã cấp những cơ sở khoa học cho các
cơ quan liên quan đến việc hoạch định cuộc sống, kế hoạch và quá trình phát triển đô thị nói trên và cuộc sống, quan hệ phát triển KT-XH nói chung
Tháng 11/2004, Bộ xây dựng đã tổ chức các hội nghị nhằm trao đổi chiến lược phát triển đô thị gắn với xoá đói, giảm nghèo ở Việt Nam đây là một chiến lược quan trọng mà Việt Nam đang tích cực triển khai thực hiện
Trang 33CHƯƠNG III:
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Quá trình đô thị hoá tại thành phố Thái Nguyên
- Sự biến động đất đai trong quá trình đô thị hóa thành phố Thái Nguyên, các phường trung tâm thành phố giai đoạn 2005 - 2010
3.2 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
3.2.1 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 10/2010 đến tháng 5/2011
3.2.2 Địa điểm nghiên cứu
Thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
3.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thành phố Thái Nguyên
- Điều kiện tự nhiên
Trang 34- Điều kiện kinh tế - xã hội
+ Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội
+ Tình hình dân số, lao động, việc làm
3.3.2 Thực trạng công tác quản lý và biến động đất đai
- Thực trạng công tác quản lý đất đai
- Hiện trạng sử dụng đất năm 2010
- Biến động đất đai giai đoạn 2005-2010
3.3.3 Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến sự biến động đất đai
- Quá trình hình thành và phát triển đô thị hoá
- Ảnh hưởng của đô thị hóa đối với kinh tế hộ
- Tác động của đô thị hoá đến sản xuất nông nghiệp
- Tác động của đô thị hoá đến sản xuất phi nông nghiệp
3.3.4 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất trong quá trình đô thị hóa
- Nhóm giải pháp liên quan tới chính quyền Thành phố
- Các giải pháp từ phía nhà nước
3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.4.1 Phương pháp điều tra, thu thập tài liệu
Điều tra, thu thập các số liệu, tài liệu, bản đồ có liên quan đến điều kiện
tự nhiên, kinh tế - xã hội, hiện trạng sử dụng đất, kết quả thực hiện quy hoạch
sử dụng đất và các tài liệu, số liệu khác có liên quan đến đô thị hóa của thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
3.4.2 Phương pháp phỏng vấn điều tra thực địa
Phỏng vấn những người có trách nhiệm về quản lý, triển khai các dự
án, công trình trong quá trình đô thị hóa và những hộ dân bị mất đất Qua đó tìm hiểu những mặt được và chưa được cũng như nguyên nhân, giải pháp khắc phục cho những tồn tại trong quá trình đô thị hóa mang lại
Trang 353.4.3 Phương pháp chuyên gia
Tranh thủ tham vấn ý kiến của những chuyên gia có nhiều kinh nghiệm để trao đổi về cách nhìn nhận, đánh giá cũng như những gợi ý đề xuất về giải pháp
3.4.4 Phương pháp thống kê toán học
Trên các tài liệu, số liệu thu thập được tiến hành phân tích, thống kê, so sánh và tổng hợp số liệu
3.4.5 Phương pháp ứng dụng công nghệ GIS
Chồng xếp bản đồ hiện trạng sử dụng đất để xác định các yếu tố biến động
Trang 36CHƯƠNG IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý trung tâm
Thành phố Thái Nguyên nằm ở trung tâm Tỉnh Thái Nguyên Có toạ độ địa lý: 210
đến 22027‟ vĩ độ Bắc và 105025‟ đến 1060
14‟ kinh độ Đông, nằm cách trung tâm Hà Nội 80 Km về phía Bắc, có giới hạn:
Phía Bắc giáp: Huyện Đại Từ, huyện Phú Lương, huyện Đồng Hỷ Phía Nam giáp: Thị xã Sông Công
Phía Tây giáp: Huyện Đại Từ
Phía Đông giáp: Huyện Phú Bình
Trang 37Thành phố Thái Nguyên cách sân bay Quốc tế Nội bài 52 Km về phía Bắc Có Quốc lộ 3 nối Hà Nội - Thái Nguyên - Bắc Cạn - Cao Bằng Quốc lộ 1B đi Lạng Sơn Quốc Lộ 37 đi Bắc Giang, Tuyên Quang
+ Đường sắt có các tuyến: Tuyến Hà Nội - Quan Triều Tuyến Thái Nguyên - Lạng Sơn Thái Nguyên - Núi Hồng;
+ Đường thuỷ có sông Cầu, sông Công nối Thái Nguyên - Bắc Giang - Bắc Ninh - Hà Nội
Với vị trí địa lý trên, thành phố Thái Nguyên có rất nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội không chỉ trong hiện tại mà cả tương lai, nhất là trong các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ và trở thành một đô thị trung tâm của khu vực vùng Trung du miền núi Bắc bộ
- Vị trí chính trị
Thành phố Thái Nguyên được hình thành tương đối sớm so với các đô thị lớn khác trong vùng như thành phố Việt Trì, thành phố Yên Bái, thị xã Bắc Kạn Từ thời Pháp thuộc tỉnh Thái Nguyên đã là trung tâm công nghiệp lớn của vùng và cả nước
Đối với tỉnh Thái Nguyên, thành phố Thái Nguyên được xác định là
“trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học kỹ thuật, y tế, du lịch và dịch vụ của tỉnh”
Đối với vùng Trung du miền núi Bắc Bộ và cả nước, căn cứ vào lợi thế của thành phố Thái Nguyên và các yêu cầu phát triển của vùng Trung du miền núi Bắc Bộ, đặc biệt là Quyết định số 278/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 02/11/2005, thì ngoài việc giữ vị trí quan trọng về quốc phòng - an ninh và là đầu mối giao thông quan trọng nối các tỉnh miền núi Bắc Bộ với các tỉnh Đồng bằng Sông Hồng, thành phố Thái Nguyên còn là trung tâm kinh tế đối với vùng Trung du miền núi Bắc Bộ về công nghiệp, giáo dục - đào tạo, là trung tâm giáo dục đào tạo lớn thứ ba trong cả nước
Trang 38- Địa hình và địa chất
* Địa hình
Địa hình thành phố Thái Nguyên khá phong phú, đa dạng Tuy nhiên, muốn khai thác, sử dụng hiệu quả phải tính đến đặc tính của từng kiểu cảnh quan, đặc biệt là các kiểu cảnh quan đồi núi chiếm phần lớn diện tích của Thành phố Thành phố Thái Nguyên có bốn nhóm hình thái địa hình khác nhau:
Đặc điểm địa chất của Thành phố không tạo cho Thành phố có nhiều khoáng sản, cả nhiên liệu, kim loại và phi kim loại như nhiều địa phương khác trong Tỉnh
Trang 39- Tài nguyên thiên nhiên
- Lượng mưa trung bình 1.500 - 2.500 mm, tổng lượng nước mưa tự nhiên của thành phố Thái Nguyên khá lớn Đối với tỉnh dự tính lượng mưa lên tới 6,4 tỷ m3/năm và theo không gian lượng mưa tập trung nhiều ở thành phố Thái Nguyên, huyện Đài Từ; theo không gian lượng mưa tập trung khoảng 87% vào mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10) trong đó riêng lượng mưa tháng 8 chiếm đến gần 30% tổng lượng mưa cả năm nên đôi khi gây ra tình trạng lũ lụt lớn Vào mùa khô, đặc biệt là tháng 12, lượng mưa trong tháng chỉ bằng 0,5% lượng mưa cả năm
- Giống như tỉnh Thái Nguyên, Thành phố Thái Nguyên ít chịu ảnh hưởng lớn của gió mùa Đông Bắc nhờ được những dãy núi cao (Tam Đảo, Ngân Sơn, Bắc Sơn) che chắn
Như vậy, khí hậu thành phố Thái Nguyên tương đối thuận lợi cho việc phát triển một hệ sinh thái đa dạng và bền vững, thuận lợi cho việc phát triển ngành nông - lâm nghiệp, là nguồn nguyên liệu phục vụ cho ngành công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm
* Tài nguyên đất
Tổng diện tích tự nhiên thành phố Thái Nguyên là 18.970,48 ha Trong đó: Đất nội thành là 6.080,71 ha (chiếm 32%), đất ngoại thành là 12.889,77 ha (chiếm 68%), đất xây dựng đô thị 2.523,67 ha gồm: 1.941,79
Trang 40ha đất dân dụng (gồm: đất khu ở, đất CTCC đô thi, đất cây xanh, đất giao thông nội thị) và 58,88 ha đất ngoài dân dụng (gồm: đất CN, TTCN, kho tàng, đất cơ quan hành chính, đất trường chuyên nghiệp, đất du lịch, di tích, tôn giáo, đất giao thông đối ngoại, đất quốc phòng, an ninh, đất bãi xử
lý chất thải, đất nghĩa trang, nghĩa địa) Ngoài ra còn có 3.557,04 ha, các loại đất khác như: Đất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, đất bằng chưa
sử dụng, đất đồi chưa sử dụng và đất đầm, sông hồ
Thành phố Thái Nguyên nằm trong vùng Trung du Miền núi Bắc bộ, xung quang được bao bọc bởi hai con sông là sông Cầu và sông Công nên
có địa hình tương đối bằng phẳng so với các tỉnh xung quanh như Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên Quang, với độ cao trong khoảng 10-20m trên mực nước biển Thành phố có một hệ thống đê và các tuyến đường đã được tôn cao để ngăn lũ và bảo vệ thành phố
Ngoài ra tại khu vực phụ cận bao gồm các huyện Phổ Yên, huyện Phú Lương, huyện Đồng Hỷ, huyện Phú Bình chủ yếu là đất nông nghiệp,
có địa hình và địa chất công trình thuận lợi cho việc phát triển đô thị
Nhìn chung, diện tích đất đô thị bình quân đầu người của Thành phố vào loại thấp so với các đô thị lớn trong vùng và trong cả nước Tuy quỹ đất của thành phố Thái Nguyên không lớn, nhưng diện tích hiện tại còn khoảng 903 ha đất chưa sử dụng (chiếm khoảng 5,1%) và diện tích đất nông nghiệp còn lớn (chiếm khoảng 67% tổng diện tích tự nhiên) nên Thành phố vẫn còn quỹ đất khá lớn để mở rộng đô thị
* Tài nguyên nước
Thành phố Thái Nguyên lấy nước từ ba nguồn chính là:
(1) Sông Công có lưu vực 951 km2
bắt nguồn từ vúng núi Ba Lá huyện Định Hoá chạy dọc theo chân núi Tam Đảo Dòng sông đã được ngăn lại ở Đại Từ tạo thành hồ núi Cốc có mặt nước rộng khoảng 25km2
,