1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

bài giảng ATLD và Môi trường công nghiệp

128 517 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông qua các biện pháp về khoa học kỹ thuật, tổ chức, kinh tế, xã hội để loại trừ cácyếu tố nguy hiểm và có hại phát sinh trong quá trình lao động, sản xuất của con người; Từ đó cải thi

Trang 1

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHOA HỌC BẢO HỘ LAO ĐỘNG

1.1 Mục đích, ý nghĩa, tính chất của công tác Bảo hộ lao động (BHLĐ)

1.1.1 Mục đích của công tác BHLĐ

Bảo hộ lao động gồm: An toàn lao động, vệ sinh lao động và luật lao động

An toàn lao động là nghiên cứu những nguyên nhân gây tai nạn lao động, đề ra cách

phòng chống tai nạn trong quá trình lao động, gây thương tích đối với cơ thể hoặc gây tửvong cho người lao động

Vệ sinh lao động là việc ngăn ngừa bệnh nghề nghiệp trong quá trình lao động , bảo vệ

sức khoẻ cho người lao động

ATLĐ không tốt thì gây ra tai nạn lao động, VSLĐ không tốt thì gây ra bệnh nghề nghiệp

Thông qua các biện pháp về khoa học kỹ thuật, tổ chức, kinh tế, xã hội để loại trừ cácyếu tố nguy hiểm và có hại phát sinh trong quá trình lao động, sản xuất của con người;

Từ đó cải thiện điều kiện lao động, tạo điều kiện thuận lợi, an toàn trong lao động,ngăn ngừa bệnh nghề nghiệp, hạn chế ốm đau làm giảm sút sức khoẻ cũng như các thiệt hạikhác đối với người lao động;

Nhằm bảo vệ sức khoẻ, đảm bảo an toàn về tính mạng người lao động và cơ sở vậtchất, góp phần bảo vệ và phát triển lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động

1.1.2 Ý nghĩa của công tác BHLĐ

Lao động tạo ra của cải vật chất, làm cho xã hội tồn tại và phát triển Bất cứ dưới chế

độ xã hội nào, lao động của con người cũng là yếu tố quyết định nhất Xây dựng quốc gia, xãhội giàu có, tự do, dân chủ cũng là nhờ người lao động Tri thức mở mang cũng nhờ laođộng (lao động trí óc) Vì vậy lao động là động lực chính của sự tiến bộ loài người

Bảo hộ lao động (BHLĐ) trước hết là phạm trù của lao động sản xuất, do yêu cầu củasản xuất và gắn liền với quá trình sản xuất

Bảo hộ lao động mang lại niềm vui, hạnh phúc cho mọi người nên nó mang ý nghĩanhân văn sâu sắc Mặt khác, nhờ chăm lo sức khoẻ của người lao động mà công tác BHLĐmang lại hiệu quả xã hội và ý nghĩa nhân đạo rất cao

BHLĐ là nhiệm vụ quan trọng không thể thiếu được trong các dự án, từ khâu thiết kế,điều hành đến triển khai sản xuất BHLĐ mang lại những lợi ích về kinh tế, chính trị và xãhội

BHLĐ là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước: Đảng và Nhà nước ta đã có nhiềuChỉ thị, Nghị quyết, hướng dẫn về công tác BHLĐ Các ngành chức năng của Nhà nước (Bộ

Trang 2

LĐ và TBXH, Bộ Ytế, TLĐ LĐVN, ) đã có nhiều cố gắng trong công tác BHLĐ Tuynhiên, hệ thống tổ chức quản lý về BHLĐ từ trung ương đến địa phương chưa được củng cố.Các văn bản pháp luật về BHLĐ chưa được hoàn chỉnh, việc thực hiện chưa nghiêm chỉnh.Nhiều cơ quan, doanh nghiệp chưa nhận thức một cách nghiêm túc công tác BHLĐ; coi nhẹhay thậm chí vô trách nhiệm với công tác BHLĐ Điều kiện làm việc còn nhiều nguy cơ đedoạ về ATLĐ; điều kiện VSLĐ bị xuống cấp nghiêm trọng Tình hình tai nạn lao động vàbệnh nghề nghiệp còn là thách thức lớn đối với nước ta.

Ngày nay, công tác bảo hộ đã được nâng lên một tầm cao mới Hàng tuần công nhânchỉ phải làm việc 5 ngày, các công xưởng, xí nghiệp phải được kiểm tra công tác bảo đảm antoàn và vệ sinh lao động định kỳ và chặt chẽ

Những chính sách, chế độ, quy phạm, tiêu chuẩn, được ban hành trong công tác

BHLĐ là luật pháp của Nhà nước Xuất phát từ quan điểm: “Con người là vốn quý nhất”,

nên luật pháp về BHLĐ được nghiên cứu, xây dựng nhằm bảo vệ con người trong sản xuất,mọi cơ sở kinh tế và mọi người tham gia lao động phải có trách nhiệm tham gia nghiên cứu

và thực hiện

Nếu để xảy ra tai nạn đến con người hay thiệt hại cho tài sản, sản xuất, các tổ chức nhànước, các tổ chức xã hội, người sử dụng lao động và người lao động trong các thành phầnkinh tế phải chịu trách nhiệm trước pháp luật Đó là tính pháp lý của công tác bảo hộ laođộng

b/ BHLĐ mang tính KHKT

Mọi hoạt động của BHLĐ hiện đã và đang áp dụng những thành tựu của KHKT đểphát hiện nhằm loại trừ các yếu tố nguy hiểm, có hại, phòng và chống tai nạn, các bệnh nghềnghiệp , ngăn ngừa những trường hợp đáng tiếc trong lao động cũng như bảo vệ sức khỏecho người lao động

Các hoạt động điều tra, khảo sát, phân tích điều kiện lao động, đánh giá ảnh hưởng củacác yếu tố độc hại đến con người từ đó đề ra các giải pháp chống ô nhiễm, giải pháp đảmbảo an toàn đều là những hoạt động dựa trên cơ sở KHKT

Ví dụ: Trong quá trình kiểm tra mối hàn bằng tia gamma (γ), nếu không hiểu biết vềγ), nếu không hiểu biết về), nếu không hiểu biết về tính chất và tác dụng của các tia phóng xạ thì không thể có biện pháp phòng tránh có hiệu quả

Trang 3

Nghiên cứu các biện pháp an toàn khi sử dụng cần trục, không thể chỉ có hiểu biết về

cơ học, sức bền vật liệu mà còn nhiều vấn đề khác như sự cân bằng của cần cẩu, tầm với, cơ cấu điều khiển điện, tốc độ nâng chuyển v.v

Muốn biến điều kiện lao động cực nhọc thành điều kiện làm việc thoải mái, muốn loạitrừ tai nạn lao động trong sản xuất, phải giải quyết nhiều vấn đề tổng hợp phức tạp khôngnhững phải có hiểu biết về kỹ thuật chiếu sáng, kỹ thuật thông gió, cơ khí hoá, tự động hoáv.v mà còn cần có các kiến thức về tâm lý lao động, thẩm mỹ công nghiệp, xã hội học laođộng v.v Vì vậy công tác bảo hộ lao động mang tính chất KHKT tổng hợp

c/ BHLĐ mang tính Quần chúng

BHLĐ có liên quan đến tất cả mọi người tham gia sản xuất Tất cả mọi người từ người

sử dụng lao động đến người lao động đều là đối tượng cần được bảo vệ Đồng thời họ cũng

là chủ thể phải tham gia vào công tác BHLĐ để bảo vệ mình và bảo vệ người khác

Công nhân, người lao động là những người thường xuyên tiếp xúc với máy móc, trựctiếp thực hiện các quá trình công nghệ, v.v Do đó họ có nhiều khả năng phát hiện những sơ

hở trong công tác bảo đảm ATLĐ, đóng góp xây dựng các biện pháp về kỹ thuật an toàn,tham gia ý kiến về chuẩn mực, quy cách dụng cụ phòng hộ, quần áo làm việc v.v Mặt khác

dù các quy trình, quy phạm an toàn được đề ra tỉ mỉ đến đâu, nhưng công nhân chưa đượchọc tập, chưa được thấm nhuần, chưa thấy rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của nó thì rất dễ viphạm

Muốn làm tốt công tác bảo hộ lao động, phải vận động được đông đảo mọi người thamgia Cho nên BHLĐ chỉ có kết quả khi được mọi cấp, mọi ngành quan tâm, được mọi ngườilao động tích cực tham gia và tự giác thực hiện các luật lệ, chế độ, tiêu chuẩn, biện pháp đểcải thiện điều kiện làm việc, phòng chống tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

BHLĐ là hoạt động hướng về cơ sở sản xuất và con người mà trước hết là người trựctiếp lao động Nó liên quan tới quần chúng lao động, bảo vệ quyền lợi và hạnh phúc cho mọingười, mọi nhà, cho toàn xã hội Vì thế BHLĐ luôn mang tính quần chúng sâu rộng

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Điều kiện lao động

Là tập hợp tổng thể các yếu tố tự nhiên, kỹ thuật, tổ chức, kinh tế, xã hội được biểuhiện thông qua các công cụ và phương tiện lao động, đối tượng lao động, quy trình côngnghệ, môi trường lao động, và sự sắp xếp bố trí cũng như các tác động qua lại của chúngtrong mối quan hệ với con người tạo nên những điều kiện nhất định cho hoạt động của conngười trong quá trình lao động Điều kiện lao động có ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ vàtính mạng con người

Điều kiện lao động nên xét cả về hai mặt: công cụ, phương tiện lao động và đối tượnglao động Những công cụ và phương tiện tạo tiện nghi, thuận lợi hay gây khó khăn nguyhiểm cho người lao động; Đối tượng lao động rất đa dạng như dòng điện, chất nổ, phóng

Trang 4

Những ảnh hưởng đó còn phụ thuộc quy trình công nghệ, trình độ sản xuất (thô sơ hayhiện đại, lạc hậu hay tiên tiến), môi trường lao động (có nhiều yếu tố tiện nghi, thuận lợi hayngược lại rất khắc nghiệt, độc hại), tất cả đều có tác động lớn đến sức khoẻ của người laođộng.

1.2.2 Khái niệm về vùng nguy hiểm

Là khoảng không gian trong đó các nhân tố nguy hiểm có ảnh hưởng trực tiếp hay luôn

đe doạ đối với sự sống và sức khoẻ của người lao động

Vùng nguy hiểm có thể là:

• Phạm vi hoạt động của các cơ cấu truyền động: Bộ truyền bánh răng, mâm cặp,

• Phạm vi chuyển động của các bộ phận máy như đầu bào (theo phương ngang), đầu máybúa (theo phương thẳng đứng) v.v

• Phạm vi hoạt động của các bộ phận quay: Bán kính quay đánh búa khi rèn,

• Phạm vi mà các vật gia công, phoi, bột đá mài v.v có thể văng ra, phạm vi mà các ngọnlửa hàn, giọt kim loại lỏng bắn toé v.v

• Phạm vi mà cần cẩu đang hoạt động, xe, cầu trục chuyển động qua lại

• Khu vực điện cao thế, nơi đặt các thiết bị điện

• Khu vực có vật dễ cháy, nổ

• Khu vực có nguồn phóng xạ

1.2.3 Các yếu tố nguy hiểm và có hại phát sinh trong sản xuất

Trong một điều kiện lao động cụ thể, bao giờ cũng xuất hiện các yếu tố vật chất có ảnhhưởng xấu, nguy hiểm, có nguy cơ gây tai nạn hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động,

ta gọi đó là các yếu tố nguy hiểm và có hại Cụ thể:

• Các yếu tố vật lý: nhiệt độ, độ ẩm, tiếng ồn, rung động, các bức xạ có hại, bụi,

• Các yếu tố hoá học: hoá chất độc, các loại hơi, khí, bụi độc, các chất phóng xạ,

• Các yếu tố sinh vật, vi sinh vật: các loại virut, vi khuẩn, siêu vi, ký sinh trùng, nấm, côntrùng, rắn,

• Các yếu tố bất lợi về tư thế lao động, không tiện nghi do không gian chỗ làm việc, nhàxưởng chật hẹp, mất vệ sinh

• Các yếu tố tâm lý không thuận lợi đều là những yếu tố nguy hiểm và có hại

1.2.4 Tai nạn lao động

Tai nạn lao động là tai nạn không may xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền vớiviệc thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ lao động, gây tổn thương, ảnh hưởng xấu tới sứckhoẻ, làm giảm khả năng lao động hay chết người

Trang 5

Tai nạn lao động được phân chia ra: chấn thương, nhiễm độc nghề nghiệp và bệnhnghề nghiệp

• Chấn thương: là tai nạn mà kết quả gây nên những vết thương hay huỷ hoại một

phần cơ thể người lao động, làm tổn thương tạm thời hay mất khả năng lao động vĩnh viễnhay thậm chí gây tử vong Chấn thương thường xảy ra đột ngột

• Nhiễm độc nghề nghiệp: là sự huỷ hoại sức khoẻ do tác dụng của các chất độc xâm

nhập vào cơ thể người lao động trong quá trình lao động, sản xuất Sự tác động lâu dài với

những liều lượng nhỏ của các chất độc lên cơ thể con người gây ra nhiễm độc mãn tính Nhiễm độc đột ngột với liều lượng lớn của chất độc gọi là nhiễm độc cấp tính.

• Bệnh nghề nghiệp: là bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp

tác động tới người lao động Biểu hiện là sự suy yếu dần dần sức khoẻ, làm ảnh hưởng đếnkhả năng làm việc và sinh hoạt của người lao động Đó là kết quả do tác dụng của nhữngđiều kiện làm việc bất lợi (tiếng ồn, rung, ) hoặc do thường xuyên tiếp xúc với các chất độchại như sơn, bụi, Bệnh nghề nghiệp thường có ảnh hưởng làm suy yếu sức khoẻ một cách

từ từ và lâu dài

1.2.5 Nguyên nhân gây tai nạn lao động

a/ Nhóm các nguyên nhân kỹ thuật

- Các trang thiết bị sản xuất, máy móc, các quá trình công nghệ chứa đựng các yếu tố nguyhiểm, có hại như bụi độc, ồn, rung, bức xạ, điện áp cao,

- Máy móc thiết kế không phù hợp đặc điểm tâm sinh lý của người sử dụng;

- Độ bền của chi tiết máy không đảm bảo, gây sự cố trong quá trình sử dụng;

- Thiếu các thiết bị che chắn an toàn;

- Không có hệ thống phát tín hiệu an toàn, các cơ cấu phòng ngừa quá tải, như van an toàn,phanh hãm, cơ cấu khống chế hành trình,

- Không thực hiện hay thực hiện không đúng các quy tắc an toàn, chẳng hạn thiết bị chịu áplực không được kiểm nghiệm trước khi đưa vào sử dụng

- Không thực hiện cơ khí hoá, tự động hoá những khâu lao động nặng nhọc, nguy hiểm, độchại, vận chuyển vật nặng lên cao

- Thiếu các phương tiện phòng hộ cá nhân thích hợp; chẳng hạn dùng thảm cách điện khôngđúng tiêu chuẩn, dùng nhầm mặt nạ phòng độc

b/ Nhóm các nguyên nhân về tổ chức

- Bố trí chỗ làm việc không hợp lý: chật hẹp, tư thế thao tác khó

- Bố trí các trang thiết bị trên mặt bằng sai nguyên tắc, dễ gây ra nguy hiểm

- Không thực hiện nguyên tắc an toàn khi bảo quản thành phẩm và bán thành phẩm (γ), nếu không hiểu biết vềví

dụ: xếp các đồ vật quá cao gây đổ vỡ)

Trang 6

- Thiếu các phương tiện đặc chủng phù hợp cho người lao động làm việc

- Không tổ chức huấn luyện, giáo dục cho người lao động theo đúng yêu cầu

c/ Nhóm các nguyên nhân về vệ sinh công nghiệp

- Vi phạm các yêu cầu về vệ sinh công nghiệp khi thiết kế nhà xưởng, chẳng hạn bố trínguồn khí độc ở đầu hướng gió, không khử độc, lọc bụi trước khi xả thải

- Để bụi, khí độc rò rỉ;

- Điều kiện vi khí hậu xấu, vi phạm tiêu chuẩn cho phép;

- Chiếu sáng không hợp lý

- Độ ồn rung vượt quá tiêu chuẩn cho phép

- Trang bị phòng hộ cá nhân không đảm bảo, không phù hợp

- Không thực hiện các yêu cầu vệ sinh cá nhân

1.2.6 Các biện pháp và phương tiện kỹ thuật an toàn cơ bản

a/ Biện pháp dự phòng đối với người lao động

• Thao tác lao động, nâng và mang vác nặng đúng nguyên tắc an toàn, tránh các tư thếcúi, gập người, lom khom, vặn mình giữ cột sống thẳng, tránh vi chấn thương cộtsống,v.v

• Đảm bảo không gian thao tác, vận động trong tầm với tối ưu, tư thế làm việc thuậnlợi với các cơ cấu điều khiển; giữ khoảng cách với vùng nguy hiểm;

• Đảm bảo điều kiện thị giác, tầm quan sát: khả năng nhìn rõ quá trình làm việc, nhìn

rõ các phương tiện thông tin, cơ cấu điều khiển, các ký hiệu, biểu đồ, màu sắc

• Đảm bảo điều kiện sử dụng thông tin thính giác, xúc giác

• Đảm bảo tải trọng thể lực, tâm lý phù hợp, tránh quá tải hay đơn điệu

b/ Thiết bị che chắn an toàn

Thiết bị an toàn là những dụng cụ thiết bị nhằm phòng ngừa những tai nạn có thể xảy

ra trong sản xuất Nhờ có thiết bị che chắn an toàn mà công nhân được bảo vệ khỏi bị ảnhhưởng của các nhân tố có hại trong quá trình sản xuất như phóng xạ, bức xạ, vật rắn bắn vàongười,

Thiết bị che chắn an toàn là thiết bị ngăn cách người lao động với vùng nguy hiểm,cách ly các bộ phận quay, chuyển động, không cho công nhân tiếp xúc hoặc đi vào vùng

có thể gây nguy hiểm Thiết bị che chắn có các loại tấm kín, lưới hoặc rào chắn

Có thể chia thành 2 loại: tạm thời và cố định.

• Thiết bị che chắn tạm thời được sử dụng ở những nơi làm việc không ổn định

Ví dụ: ở những nơi đang sửa chữa, lắp đặt thiết bị,

Trang 7

• Che chắn cố định đối với các bộ phận chuyển động của máy như dây cua-roa, các bộtruyền bánh răng, xích, vít quay, trục truyền, các khớp truyền động,

Loại kín có các dạng hộp giảm tốc, hộp tốc độ,

Loại hở dùng cho những cơ cấu cần theo dõi, xem xét sự làm việc của các chi tiết phía

bên trong và thường được làm bằng lưới sắt hoặc bằng thép tấm rồi bắt vít vào khung để che

chắn bộ truyền đai, chắn xích và các cơ cấu con lăn cấp phôi,

Yêu cầu đối với thiết bị che chắn: hình dáng, cấu tạo, vật liệu chế tạo của các thiết bị

che chắn rất khác nhau, phụ thuộc vào công dụng và điều kiện làm việc của nó Chúng đềuphải đảm bảo các yêu cầu sau:

+ Ngăn ngừa được tác động xấu do các bộ phận của thiết bị sản xuất gây ra;

+ Không gây cản trở cho thao tác của người lao động;

+ Không gây ảnh hưởng đến công suất của thiết bị và năng suất lao động

c/ Thiết bị và cơ cấu phòng ngừa

Đây là các cơ cấu đề phòng sự cố của thiết bị có liên quan đến điều kiện an toàn củacông nhân Sự cố và hỏng hóc của thiết bị có thể do các nguyên nhân kỹ thuật khác nhau Cóthể do quá tải, do bộ phận chuyển động đã đi quá vị trí giới hạn, do nhiệt độ, vận tốc chuyểnđộng, cường độ dòng điện vượt quá giá trị giới hạn cho phép Nhiệm vụ của cơ cấu phòngngừa là tự động ngắt máy, thiết bị, hoặc bộ phận của máy khi có một thông số nào đó vượtquá giá trị giới hạn cho phép Theo cách phục hồi lại khả năng làm việc của thiết bị, máymóc cơ cấu phòng ngừa được chia ra làm 3 loại:

Các hệ thống có thể tự động phục hồi khả năng làm việc khi thông số kiểm tra đã

giảm đến mức quy định như ly hợp ma sát, rơle nhiệt, ly hợp vấu, lò xo, van an toàn kiểu đốitrọng hoặc lò xo, v.v

Ví dụ: Các loại ly hợp an toàn có tác dụng cắt chuyển động của xích truyền động, trục quay khi máy quá tải, rồi lại tự động đóng chuyển động của xích truyền động khi tải trọng trở về mức bình thường Ly hợp an toàn có ưu điểm hơn các chốt cắt và then cắt quá tải vì chúng không bị phá hỏng mà chỉ bị trượt.

Các hệ thống phục hồi khả năng làm việc bằng cách thay thế cái mới như cầu chì,

chốt cắt, then cắt Các bộ phận này thường là yếu nhất trong hệ thống

Các hệ thống phải phục hồi khả năng làm việc bằng tay: Rơle đóng ngắt điện, cầu

dao điện, v.v

Không một máy móc thiết bị nào được coi là hoàn thiện và đưa vào hoạt động nếukhông có các thiết bị phòng ngừa thích hợp

d/ Các cơ cấu điều khiển và phanh hãm

Với những tiến bộ của KHKT, người ta có thể ứng dụng việc cơ khí hoá, tự động hoá

thay thế cho người lao động ở những vị trí làm việc không tốt cho con người, chẳng hạn như

Trang 8

khu vực chịu nhiệt độ cao, có bức xạ, phóng xạ Cơ khí hoá, tự động hoá với mục đích tạo

ra năng suất lao động cao hơn đồng thời giải phóng người lao động khỏi những công việcnặng nhọc nguy hiểm Có thể cơ khí hoá, tự động hoá từng phần hay toàn bộ quá trình sảnxuất

• C ơ cấu điều khiển gồm các nút mở, đóng máy, hệ thống tay gạt, các vô lăng điều

khiển, v.v cần phải làm việc tin cậy, dễ với tay tới, dễ phân biệt, v.v Đối với những núm quay có đường kính nhỏ hơn 20mm, mômen lớn nhất không nên quá 1,5N.m; Các tay quay cần quay nhanh, tải trọng đặt không nên quá 20N; các tay gạt ở các hộp tốc độ lực yêu cầu

không nên quá 120N Các nút bấm “điều khiển” nên sơn màu để phân biệt Nút bấm “mở máy” nên sơn màu đen hoặc xanh và làm thụt vào thân hộp 3mm, trái lại nút bấm “ngừng máy” nên sơn đỏ và làm thò ra 3÷5mm.

• Phanh hãm là bộ phận dùng cho hãm nhanh những bộ phận đang chuyển động củamáy để có thể ngăn chặn kịp thời những trường hợp hỏng hóc hoặc tai nạn Yêu cầu cơ cấuphanh phải gọn, nhẹ, nhanh nhạy, không bị trượt, không bị kẹt, Phanh không rạn nứt,không tự động đóng mở khi không có sự điều khiển

• Khóa liên động là cơ cấu tự động loại trừ khả năng gây ra nguy hiểm cho thiết bị vàcông nhân trong khi sử dụng máy nếu vì một lý do nào đó thao tác không đúng các nguyêntắc an toàn Khoá liên động có thể dùng điện, cơ khí, thuỷ lực, điện-cơ kết hợp hoặc dùng tếbào quang điện

Ví dụ: máy hàn khi chưa đóng cửa che chắn, khi quạt làm mát chưa làm việc thì máy không làm việc được.

• Điều khiển từ xa: có tác dụng tách người lao động ra khỏi vùng nguy hiểm đồng thờigiảm nhẹ điều kiện lao động nặng nhọc như điều khiển đóng mở hoặc điều chỉnh các vantrong công nghiệp hoá chất, điều khiển sản xuất từ phòng điều khiển trung tâm ở nhà máyđiện,

e/ Tín hiệu an toàn

Là các thiết bị phát ra tín hiệu nhằm báo trước nguy cơ hư hỏng hay có trục trặc sắpxảy ra khi vận hành máy để công nhân đề phòng và kịp thời xử lý Tín hiệu có thể bằng ánhsáng (màu sắc) và tín hiệu bằng âm thanh

Tín hiệu bằng màu sắc thường dùng trong giao thông: đèn đỏ, xanh, vàng; thiết bị điện

(đỏ là có điện nguy hiểm hay mức điện áp cao nguy hiểm, xanh là an toàn; nhiệt độ cao thìđèn sáng đỏ, )

Tín hiệu âm thanh thường sử dụng là còi, chuông dùng cho các xe nâng hạ qua lại, các

phương tiện giao thông vận tải, chuông báo hiệu tàu sắp chạy qua, chuông báo động khi có

sự cố,

Dấu hiệu/Ký hiệu (Màu sơn, hình vẽ, chữ) có tác dụng nhắc nhở đề phòng tai nạn Các

dấu hiệu này thường được đặt trên bảng điều khiển, trên vùng đất sản xuất, trên từng máy,

Trang 9

f/ Biển báo phòng ngừa

Là các bảng báo hiệu cho người lao động biết nơi nguy hiểm để cẩn thận khi đi quan lạihay cấm qua lại Có 3 loại:

Bảng, biển báo hiệu: “Nguy hiểm chết người”, “STOP”;

Biển cấm: “Khu vực cao áp, cấm đến gần”, “Cấm đóng điện đang sửa chữa”,

“Cấm hút thuốc lá”

 Bảng hướng dẫn: Khu vực làm việc, khu vực cấm hút thuốc lá, hướng dẫn đóng

mở các thiết bị,

Ví dụ: biển báo giao thông

g/ Phương tiện bảo vệ cá nhân:

Là những vật dụng dành cho công nhân để sử dụng nhằm bảo vệ cơ thể khỏi bị tácđộng của các yếu tố nguy hiểm và được phân theo các nhóm chính:

 Trang bị bảo vệ mắt: kính bảo hộ trong suốt, kính màu, kính hàn;

 Trang bị bảo vệ cơ quan hô hấp: khẩu trang, mặt nạ phòng độc, bình oxy,

 Bảo vệ thính giác: nút tai chống ồn, chụp tai chống ồn

 Bảo vệ đầu: các loại mũ mềm/cứng, mũ cho công nhân hầm lò, mũ chống mưanắng, mũ chống lửa, mũ chống va chạm mạnh,

 Bảo vệ tay: găng tay các loại, bảo vệ chân: giầy, ủng, dép các loại,

 Bảo vệ thân thể: áo quần bảo hộ loại thường, loại chống nóng, chống cháy,

Các trang bị bảo vệ cá nhân được sản xuất theo tiêu chuẩn của Nhà nước Việc cấpphát và sử dụng phải theo quy định của pháp luật

h/ Kiểm nghiệm dự phòng thiết bị

Kiểm nghiệm độ bền độ tin cậy của máy, thiết bị, công trình, các bộ phận của chúngtrước khi đưa vào sử dụng

Mục đích của kiểm nghiệm dự phòng là đánh giá chất lượng của thiết bị về các mặttính năng, độ bền, độ tin cậy trước khi đưa thiết bị vào sử dụng

Kiểm nghiệm dự phòng được tiến hành định kỳ, hoặc sau những kỳ sửa chữa, bảodưỡng

Ví dụ: • Thử nghiệm độ tin cậy của phanh hãm.

• Thử nghiệm độ bền, phát hiện rạn nứt của đá mài

• Thử nghiệm độ bền (γ), nếu không hiểu biết vềtĩnh hoặc động) theo tải trọng và thời gian của cáp, xích.

• Thử nghiệm độ bền, độ kín khít của thiết bị áp lực, đường ống, van an toàn.

• Thử độ cách điện của các dụng cụ kỹ thuật điện và phương tiện bảo vệ cá nhân

Trang 10

1.3 Hệ thống luật pháp, chế độ chính sách về BHLĐ ở Việt Nam

Trong thập niên 90 nhằm đáp ứng nhu cầu của công cuộc đổi mới và sự nghiệp côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước chúng ta đã đẩy mạnh công tác xây dựng pháp luật nóichung và pháp luật BHLĐ nói riêng Đến nay chúng ta đã có một hệ thống văn bản pháp luậtchế độ chính sách BHLĐ tương đối đầy đủ Hệ thống pháp luật BHLĐ gồm 3 phần:

a/ Phần I: Bộ Luật Lao động và các luật khác có liên quan đến ATVSLĐ.

Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân (1989) có đề cập đến vệ sinh trong sản xuất, bảo

quản, vận chuyển và bảo vệ hoá chất, vệ sinh các chất thải trong công nghiệp và trong sinhhoạt, vệ sinh lao động

Pháp lệnh qui định về việc quản lý nhà nước đối với công tác PCCC (1961).

Luật Công đoàn (1990) Trong luật này trách nhiệm và quyền Công đoàn trong công

tác BHLĐ được nêu rất cụ thể trong điều 6 chương II, từ việc phối hợp nghiên cứu ứng dụngKHKT BHLĐ, xây dựng tiêu chuẩn quy phạm ATLĐ, VSLĐ đến trách nhiệm tuyên truyềngiáo dục BHLĐ cho người lao động, kiểm tra việc chấp hành pháp luật BHLĐ, tham giađiều tra tai nạn lao động

Luật Hình sự (1999) Có nhiều điều liên quan đến ATLĐ, VSLĐ như Điều 227 Tội vi

phạm quy định về ATLĐ, VSLĐ ; Điều 229 Tội vi phạm quy định về xây dựng gây hậuquả nghiêm trọng; Điều 236, 237 liên quan đến chất phóng xạ; Điều 239, 240 liên quan đếnchất cháy, chất độc và vấn đề phòng cháy

b/ Phần II: Nghị định 06/CP và các nghị định khác liên quan đến AT&VSLĐ.

Nghị định 06/CP ngày 20/1/1995 qui định chi tiết một số điều của Bộ Luật Lao động

về AT&VSLĐ

Nghị định 195/CP (31/12/1994) qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều

của Bộ Luật Lao động về thời giờ làm việc, thời gian nghỉ ngơi

Nghị định 38/CP (25/6/1996) qui định về xử phạt hành chính về hành vi vi phạm pháp

luật lao động trong đó có những qui định liên quan đến hành vi vi phạm về AT&VSLĐ

Nghị định 46/CP (6/8/1996) qui định xử phạt hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà

nước về y tế, trong đó có một số quy định liên quan đến hành vi vi phạm về VSLĐ

c/ Phần III: Các thông tư, Chỉ thị, Tiêu chuẩn qui phạm ATVSLĐ.

Chỉ thị số 237/TTg (19/4/1996) của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường các biện

pháp thực hiện công tác PCCC

Chỉ thị số 13/1998/CT-TTg (26/3/1998) của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường

chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác BHLĐ trong tình hình mới

Thông tư liên tịch số 14/1998/TTLT-BLĐTBXH-BYT-TLĐLĐVN hướng dẫn việc tổ

Trang 11

Thông tư số 10/1998/TT-LĐTBXH hướng dẫn thực hiện chế độ trang bị phương tiện

bảo vệ cá nhân

Thông tư số 13/TT-BYT (24/10/1996) của Bộ Y tế hướng dẫn thực hiện quản lý vệ

sinh lao động, quản lý sức khoẻ của người lao động, bệnh nghề nghiệp

Thông tư số 10/1999/TTLT-BLĐTBXH-BYT hướng dẫn thực hiện chế độ bồi dưỡng

bằng hiện vật đối với người lao động làm việc trong điều kiện có yếu tố nguy hiểm, độc hại

Trang 12

CHƯƠNG II

VỆ SINH LAO ĐỘNG

2.1 Các vấn đề chung về vệ sinh lao động

2.1.1 Đối tượng và nhiệm vụ của VSLĐ

Vệ sinh lao động (VSLĐ) là môn khoa học dự phòng, nghiên cứu điều kiện thiên nhiên,điều kiện sản xuất, sức khoẻ con người, ngưỡng sinh lý cho phép và những ảnh hưởng củađiều kiện lao động, quá trình lao động, nguyên nhân gây tai nạn lao động và bệnh nghề

nghiệp VSLĐ chủ yếu đi sâu nghiên cứu các tác hại nghề nghiệp, từ đó mà có biện pháp

phòng ngừa các tác nhân có hại một cách có hiệu quả, nhằm bảo vệ sức khoẻ của người laođộng đồng thời nâng cao năng suất lao động

2.1.2 Các yếu tố tác hại nghề nghiệp trong sản xuất

Phát hiện các yếu tố tác hại nghề nghiệp và đánh giá mức độ ảnh hưởng của nó đối với

cơ thể người lao động là nội dung quan trọng của VSLĐ

Các yếu tố tác hại nghề nghiệp có thể chia thành:

a/ Tác hại liên quan đến quá trình sản xuất:

Các yếu tố vật lý (tiếng ồn, độ rung, áp suất); Các yếu tố hoá học (khí, bụi có hoá chất độc); Các yếu tố sinh vật (Vi khuẩn, siêu vi khuẩn, ký sinh trùng)

b/ Tác hại liên quan đến tổ chức lao động

Thời gian lao động không hợp lý: làm việc liên tục, thông ca

Cường độ lao động không phù hợp với sức khoẻ người lao động

Điều kiện chỗ làm việc không đúng tiêu chuẩn quy định

Công cụ và phương tiện lao động không phù hợp

c/ Tác hại liên quan đến điều kiện vệ sinh và an toàn

Chiếu sáng không hợp lý; Thiếu các phương tiện phòng hộ lao động;

Không có các hệ thống thông gió, chống bụi, chống nóng, tiếng ồn,

Môi trường sản xuất cơ khí và ảnh hưởng của nó đến sức khoẻ của người lao động có thể

kể đến các yếu tố: vi khí hậu, tiếng ồn, rung động, nhiệt độ nóng lạnh nơi làm việc, bức xạ ionhoá, bụi, hoá chất, độ ẩm, chế độ chiếu sáng, hệ thống thông gió, v.v

2.1.3 Các bệnh nghề nghiệp

Từ tháng 2/1997 đến nay, Nhà nước Việt Nam đã công nhận 21 bệnh nghề nghiệp đượcbảo hiểm, đó là:

Nhóm I: Các bệnh bụi phổi và phế quản ( Bệnh bụi phổi – silic; Bệnh bụi phổi atbet hay

bệnh bụi phổi amiăng; Bệnh bụi phổi – bong; Bệnh viêm phế quản mãn tính nghề nghiệp)

Trang 13

Nhóm II: Các bệnh nhiễm độc nghề nghiệp ( Bệnh nhiễm độc chì và các hợp chất chì;

Bệnh nhiễm độc benzen và các đồng đẳng của benzen; Bệnh nhiễm độc thủy ngân; Bệnhnhiễm độc mangan; Bệnh nhiễm độc TNT (Trinitrotoluen); Bệnh nhiễm độc Asen và các hợpchất Asen nghề nghiệp; Bệnh nhiễm độc nicotin nghề nghiệp; Bệnh nhiễm độc hóa chất trừsâu )

Nhóm III: Các bệnh nghề nghiệp do yếu tố vật lý ( Bệnh do quang tuyến X và các tia

phóng xạ; Bệnh điếc do tiếng ồn; Bệnh rung chuyển nghề nghiệp; Bệnh giảm áp )

Nhóm IV: Các bệnh da nghề nghiệp ( Bệnh sạm da; Bệnh loét da, loét vách ngăn mũi,

viêm da, chàm tiếp xúc)

Nhóm V: Các bệnh nhiễm khuẩn nghề nghiệp ( Bệnh lao nghề nghiệp; Bệnh viêm gan

virus nghề nghiệp; Bệnh do leptospira nghề nghiệp )

2.1.4.Các biện pháp đề phòng bệnh nghề nghiệp

Loại trừ các yếu tố tác hại nghề nghiệp là một vấn đề rất phức tạp, đòi hỏi phải có sựphối hợp chặt chẽ của nhiều bộ phận như: kỹ thuật sản xuất, an toàn lao động, y tế, thiết kế thicông,…

Biện pháp kỹ thuật công nghệ: ứng dụng các tiến bộ KHKT, đổi mới công nghệ, cơ

khí hoá và tự động hoá những khâu có thể gây nguy hại cho con người

Biện pháp bảo đảm vệ sinh lao động: ứng dụng kỹ thuật để thực hiện các giải pháp vệ

sinh lao động như thông gió, chiếu sáng, chống ồn, chống rung

Biện pháp tổ chức lao động khoa học: việc tổ chức lao động khoa học phụ thuộc vào

nhiều yếu tố như tính chất công việc, khả năng và thể trạng của người lao động, điều kiện vàphương tiện lao động

Biện pháp y tế bảo vệ sức khoẻ người lao động: thực hiện đúng các quy định về bảo

vệ sức khoẻ cho người lao động: khám, giám định khả năng lao động định kỳ, điều chỉnh giữa khả năng lao động và nhiệm vụ lao động cho phù hợp

Biện pháp phòng hộ lao động cá nhân: mỗi người lao động được trang bị dụng cụ phòng hộ cá nhân thích hợp đảm bảo đạt yêu cầu sử dụng tốt nhất Đây là biện pháp bổ trợ

nhưng đóng vai trò rất quan trọng khi các biện pháp cải tiến công nghệ, biện pháp kỹ thuật vệsinh chưa thực hiện được

2.2 Ảnh hưởng của vi khí hậu trong sản xuất

2.2.1.Định nghĩa

Vi khí hậu là trạng thái lý học của không khí trong khoảng không gian thu hẹp gồm cácyếu tố nhiệt độ không khí, độ ẩm tương đối của không khí, vận tốc chuyển động không khí vàbức xạ nhiệt

Trang 14

Điều kiện vi khí hậu trong sản xuất phụ thuộc vào tính chất của quá trình công nghệ vàkhí hậu địa phương.

2.2.2.Phân loại

Tuỳ theo tính chất toả nhiệt của quá trình sản xuất người ta chia ra 3 loại vi khí hậu:

•Vi khí hậu tương đối ổn định, nhiệt toả ra khoảng 20kcal/m3 không khí/giờ (γ), nếu không hiểu biết vềtrong xưởng cơ khí, dệt v.v ).

• Vi khí hậu nóng, nhiệt toả ra hơn 20kcal/m3kk/giờ (γ), nếu không hiểu biết vềtrong xưởng đúc, rèn, cán, luyện gang thép v.v ).

• Vi khí hậu lạnh, nhiệt toả ra dưới 20kcal/m3kk/giờ (γ), nếu không hiểu biết vềtrong xưởng lên men rượi bia, nhà ướp lạnh, chế biến thực phẩm v.v ).

Về mặt vệ sinh, vi khí hậu có ảnh hưởng đến sức khoẻ, bệnh tật của công nhân Làm việclâu trong điều kiện vi khí hậu lạnh và ẩm có thể mắc bệnh thấp khớp, viêm đường hô hấp trên,viêm phổi và làm cho bệnh lao nặng thêm Vi khí hậu lạnh và khô làm cho rối loạn vận mạchthêm trầm trọng, gây khô niêm mạc, nứt nẻ da Vi khí hậu nóng ẩm làm giảm khả năng bayhơi mồ hôi, gây ra rối loạn thăng bằng nhiệt, nhanh mệt mỏi, nó còn tạo điều kiện cho vi sinhvật phát triển, gây các bệnh ngoài da

2.2.3.Ảnh hưởng của vi khí hậu đối với cơ thể người

a Ảnh hưởng của vi khí hậu nóng

Biến đổi về sinh lý: Nhiệt độ da (đặc biệt là vùng trán) rất nhạy cảm đối với nhiệt độ

không khí bên ngoài Biến đổi về cảm giác của da trán như sau:

28,0 ÷ 29,0oC → cảm giác lạnh; 29,0 ÷ 30,0oC → cảm giác mát; 30,0 ÷ 31,0oC → cảmgiác dể chịu; 31,5 ÷ 32,5oC → cảm giác nóng;32,5 ÷ 33,5oC → cảm giác rất nóng;

> 33,5oC → cảm giác cực nóng

Thân nhiệt (ở dưới lưỡi) nếu thấy tăng thêm 0,3÷1oC là cơ thể có sự tích nhiệt Thânnhiệt ở 38,5oC coi là nhiệt báo động nguy hiểm, sinh chứng say nóng

Chuyển hoá nước: lượng nước cần cung cấp hàng ngày cho cơ thể khoảng 2÷3lít (kể cả

phần thức ăn) Nước thải ra qua thận từ 1÷1,5lít, 0,2lít qua phân, lượng còn lại theo mồ hôi vàhơi thở để ra ngoài Nếu nhiệt độ quá cao, cơ thể phải tiết mồ hôi để hạ nhiệt độ, lượng nước

có thể bị mất nhiều (có khi tới 5÷7lít sau 8 giờ lao động) làm cho cơ thể giảm sút trọng lượng.Khi thoát mồ hôi cơ thể mất theo muối khoáng: K, Na, I, Fe, các vitamin C, B1, B2, Do mấtnước nên tỷ trọng máu tăng lên, tim phải làm việc nhiều để thải lượng nhiệt thừa của cơ thểlàm cho người mệt mỏi Lượng nước bài tiết qua thận giảm chỉ còn khoảng 10÷15% so với lúcbình thường làm cho chức năng hoạt động của thận bị ảnh hưởng Trong nước tiểu xuất hiệnhồng cầu Lúc này nếu uống nhiều nước, dịch vị sẽ bị loãng nên mất cảm giác thèm ăn, ănkhông ngon, khả năng diệt trùng của dịch vị giảm sút làm đường ruột dễ bị viêm nhiễm

Trang 15

Trong điều kiện vi khí hậu nóng, các bệnh thường tăng lên gấp đôi so với lúc bìnhthường Rối loạn bệnh lý do vi khí hậu nóng thường gặp là chứng say nóng và chứng co giật,làm cho con người bị chóng mặt, đau đầu, buồn nôn và đau thắt lưng Thân nhiệt có thể lêncao tới 39÷40oC, mạch nhanh, nhịp thở nhanh Trường hợp nặng cơ thể bị choáng, mạch nhỏ,thở nông.

b Ảnh hưởng của vi khí hậu lạnh

Nhiệt độ môi trường xung quanh xuống thấp làm cho cơ thể mất nhiệt nhiều, nhịp tim,nhịp thở giảm và tiêu thụ ôxy tăng; làm các mạch máu co thắt sinh cảm giác tê cóng chân tayvận động khó khăn

Trong điều kiện vi khí hậu lạnh thường xuất hiện một số bệnh viêm dây thần kinh, viêmkhớp, viêm phế quản, hen và một số bệnh mãn tính khác do máu lưu thông kém và sức đềkháng của cơ thể giảm

c Ảnh hưởng của bức xạ nhiệt

Trong các phân xưởng nóng, các dòng bức xạ chủ yếu do các tia hồng ngoại có bước

sóng đến 10μm, hấp thụ tia này sẽ toả ra nhiệt, bức xạ nhiệt phụ thuộc vào độ dài bước sóng,

cường độ bức xạ, thời gian chiếu xạ, diện tích bề mặt bị chiếu, vùng bị chiếu, góc chiếu, luồngbức xạ gián đoạn hay liên tục

Tia hồng ngoại bước sóng ngắn (đặc biệt là loại có bước sóng khoảng 3μm) rọi sâu vào

dưới da đến 3mm, gây bỏng da, rộp phồng da, ngoài ra còn gây ra bệnh đục nhân mắt

Làm việc ngoài trời nóng, im gió, oi bức, tia bức xạ nhiệt có thể xuyên qua hộp xương sọvào tổ chức não, hun nóng tổ chức não, màng não gây ra các biến đổi quan trọng mà ta gọi làsay nắng

Tia tử ngoại có 3 loại:

Loại A có bước sóng từ 400 => 315 nm;

Loại B có bước sóng từ 315 => 280 nm;

Loại C có bước sóng nhỏ hơn 280 nm

Tia tử ngoại loại A thường có trong tia lửa hàn, đèn dây tóc, đèn huỳnh quang; tia tửngoại B xuất hiện trong đèn thuỷ ngân, lò hồ quang,v.v Tia tử ngoại làm bỏng da, phá huỷgiác mạc, gây đau đầu, chống mặt, ung thư da

2.2.4.Các biện pháp phòng chống vi khí hậu xấu

a Biện pháp kỹ thuật

Áp dụng các tiến bộ KHKT như điều khiển từ xa, cơ khí hoá, tự động hoá các quá trìnhsản xuất, thực hiện điều hoà không khí, thông gió tốt, đảm bảo nơi làm việc thông thoáng

Trang 16

Cách ly nguồn nhiệt đối lưu và bức xạ ở nơi lao động, bằng cách dùng những vật liệucách nhiệt để bao bọc quanh lò, quanh ống dẫn; dùng màn nước để hấp thụ các tia bức xạ ởtrước cửa lò.

b Biện pháp vệ sinh y tế

Trước hết cần quy định chế độ lao động thích hợp cho các ngành nghề có môi trườnglàm việc trong điều kiện vi khí hậu xấu Khám tuyển khi nhận người, khám kiểm tra sức khoẻđịnh kỳ để kịp thời phát hiện bệnh và điều trị

c Biện pháp tổ chức

Tổ chức lao động, chế độ ăn uống, bồi dưỡng, nghỉ ngơi hợp lý để nhanh chóng phục hồisức lao động Trang bị đầy đủ các phương tiện BHLĐ như áo quần chống nóng, chống lạnh,khẩu trang, kính mắt v.v

2.3 Tiếng ồn và rung động trong sản xuất

2.3.1.Tiếng ồn

a Khái niệm về tiếng ồn

Tiếng ồn là tập hợp những âm thanh khác nhau về cường độ và tần số không có nhịpđiệu, không phù hợp với mong muốn của người nghe, gây cho con ngươì cảm giác khó chịu

Về mặt vật lý, âm thanh là dao động sóng của môi trường đàn hồi gây ra bởi sự dao độngcủa các vật thể, không gian trong đó có sóng âm lan truyền gọi là trường âm Áp suất dư trong

trường âm gọi áp suất âm p, đơn vị dyn/cm2 hoặc bar

Tần số âm f được thể hiện bằng Hertz (Hz), bước sóng λ, vận tốc lan truyền c, biên độ y.

Chúng có liên hệ với nhau qua công thức:

c = λ.f (m/s)

Vận tốc lan truyền sóng âm phụ thuộc vào các tính chất và mật độ môi trường Ví dụ ở nhiệt độ 0 o C vận tốc sóng âm trong không khí là 330m/s, trong nước là 1440m/s, trong thép, nhôm, thuỷ tinh là 5000m/s, trong đồng 3500m/s, trong cao su 40÷50m/s.

Dao động âm nghe được có tần số từ 16Hz ÷ 20kHz Giới hạn này ở mỗi người khônggiống nhau, tuỳ theo lứa tuổi và cơ quan thính giác

Dao động có tần số dưới 16Hz gọi là hạ âm, tai người không nghe được; dao động có tần

số trên 20kHz gọi là siêu âm, tai người cũng không nghe được.

b Phân loại tiếng ồn

Trong thực tế người ta phân ra nhiều loại tiếng ồn, tuy nhiên theo đặc tính của nguồn ồn

có thể phân ra:

- Tiếng ồn cơ học: sinh ra do sự chuyển động của các chi tiết hay bộ phận máy móc có khối

lượng không cân bằng ví dụ tiếng ồn của máy phay.

Trang 17

- Tiếng ồn va chạm: sinh ra do một số quy trình công nghệ, ví dụ: rèn, tán.

- Tiếng ồn khí động: sinh ra khi hơi chuyển động với vận tốc cao, như động cơ phản lực, máy

Tiếng ồn khí động: Môtô: 105 dB; Máy bay tuốc bin phản lực: 135 dB

Để đánh giá sơ bộ tiếng ồn có thể dùng mức ồn tổng cộng đo theo thang A của máy đotiếng ồn gọi là mức âm theo đơn vị dBA

Bảng2.1: Tiếng ồn phương tiện giao thông đường bộ

Mức ồn tối đa cho phép (TCVN 5948 - 1995)

9 Máy kéo, xe ủi đất, xe tải đặc biệt lớn 90

c Tác hại của tiếng ồn

Trang 18

Trị số cường độ tối thiểu của tiếng ồn có thể gây ra tác dụng mệt mỏi đối với cơ quanthính giác phụ thuộc vào tần số của nó Đối với âm tần số 2000÷4000 Hz, tác dụng mệt mỏi sẽbắt đầu từ 80 dB, đối với âm 5000÷6000 Hz thì từ 60 dB.

Tiếng ồn gây mệt mỏi thính lực, đau tai, mất trạng thái cân bằng, ngủ chập chờn, giậtmình, mất ngủ, loét dạ dày, tăng huyết áp, hay cáu gắt, giảm sức lao động sáng tạo, giảm sựnhạy cảm, đầu óc mất tập trung, rối loại cơ bắp

Tiếng ồn gây điếc nghề nghiệp với đặc điểm là điếc không phục hồi được, điếc khôngđối xứng và không tự tiến triển khi công nhân thôi tiếp xúc với tiếng ồn Tiếng ồn tác dụngvào các cơ quan bộ phận của cơ thể, lâu ngày làm cho cơ quan này mất trạng thái cân bằng.Kết quả là cơ thể bị suy nhược, máu lưu thông bị hạn chế, tai bị ù, đầu óc bị căng thẳng, khảnăng lao động sẽ bị giảm, sự chú ý của con người cũng bị giảm sút và từ đó có thể gây ra tainạn

Những cơ thể khác nhau thì tác hại của tiếng ồn cũng khác nhau Con người có khả năngthích nghi với điều kiện làm việc có tiếng ồn nhưng mức độ thích nghi này chỉ giới hạn trongkhoảng nhất định

Khi làm việc lâu trong môi trường có tiếng ồn thì khả năng nghe sẽ bị rối loạn, mất khảnăng nghe những âm thanh có tần số cao, thanh bổng, khả năng phục hồi thính giác rất thấp.Tiếng ồn lớn hơn cường độ 70 dB thì không còn nghe tiếng nói của người với nhau nữa

và mọi sự thông tin bằng âm thanh của con ngườì trở nên vô hiệu

Bảng2.2: Thời gian chịu đựng của cơ thể với mức ồn trong ngày

Mức ồn (dB)

8643

90929597

21.510.5

100102105110

2.3.2.Rung động

a Khái niệm

Khi các máy móc và động cơ làm việc không chỉ sinh ra các dao động âm tai ta ngheđược mà còn sinh ra các dao động cơ học dưới dạng rung động của các vật thể và các bề mặtxung quanh

Trang 19

Rung động là dao động cơ học của vật thể đàn hồi sinh ra khi trọng tâm hoặc trục đốixứng của chúng xê dịch trong không gian hoặc do sự thay đổi có tính chu kỳ hình dạng màchúng có ở trạng thái tĩnh.

Rung động của một tần số vòng nào đấy được đặc trưng bằng 3 thông số: biên độ dịch

chuyển λ, biên độ của vận tốc γ), nếu không hiểu biết về và biên độ của gia tốc β

Mức vận tốc dao động của rung động:

0

lg 20

trong đó, γ0 = 5.10-8m/s - ngưỡng quy ước của biên độ vận tốc dao động

Các bề mặt dao động bao giờ cũng tiếp xúc với không khí xung quanh nó Khi bề mặtdao động sẽ hình thành những sóng âm trong lớp không khí kề sát với nó Mức to của âm nàyđược đo bằng áp suất âm hình thành

Tiêu chuẩn cho phép:

Bảng 2.3: Rung cục bộ khi điều khiển trong 8 giờ

Tần số (Hz) Vận tốc rung (cm/s)

1631.563125250

4.02.82.01.41.0

4.02.82.01.41.0

Bảng 2.4: Rung cục bộ của dụng cụ cầm tay trong 8 giờ

Tần số (Hz) Vận tốc rung

(cm/s)8

1631.563125250

5.05.03.52.51.81.2

Trang 20

0.90.630.45

b Tác hại của rung động

Phạm vi dao động mà ta thu nhận như rung động âm nằm trong giới hạn từ 12÷8000 Hz.Theo hình thức tác động, người ta chia ra chấn động chung và chấn động cục bộ Rung độngchung gây ra dao động cho toàn cơ thể, còn chấn động cục bộ chỉ làm cho từng bộ phận cơ thểdao động Trong nhiều trường hợp người lao động có thể chịu tác động của cả rung động

chung và rung động cục bộ gọi là rung động tổ hợp.

Khi chịu tác dụng của rung động, thần kinh sẽ bị suy mòn, rối loạn dinh dưỡng, conngười nhanh chóng cảm thấy uể oải và thờ ơ, lãnh đạm, tính thăng bằng ổn định bị tổn thương.Chấn động cũng gây ra bệnh ở khớp xương, làm rối loạn hệ thần kinh ngoại biên và trungương

Tần số thấp (<2Hz) gây nên say, tần số từ 2÷20Hz thường gây nên tổn thương cột sống

và một số bệnh khác Tần số từ 20÷1000Hz rung cục bộ thường gây nên bệnh rung nghềnghiệp điển hình Nếu rung toàn thân thường gây nên rối loạn thần kinh, tuần hoàn và hộichứng tiền đình

Các biểu hiện bệnh lý rung động nghề nghiệp:

2.3.3.Các biện pháp phòng chống tiếng ồn và rung động

(1880) Robert Koch, nhà y học người Đức, đã cảnh báo về tiếng ồn như sau: Một ngàynào đó con người sẽ phải đấu tranh với tiếng ồn như đã từng đấu tranh chống lại bệnh dịch tảhay dịch hạch

Một nhà chuyên môn khác nói: Nếu chúng ta không tiêu diệt tiếng ồn thì tiếng ồn sẽ tiêudiệt ta Vì vậy chống ồn là nhiệm vụ rất quan trọng Các biện pháp chủ yếu là:

a Làm giảm hay triệt tiêu tiếng ồn ngay từ nơi phát sinh

Đây là biện pháp chống ồn chủ yếu bao gồm việc lắp ráp có chất lượng các máy móc vàđộng cơ, sửa chửa các máy móc đã cũ hay bị rơ

Trang 21

 Thay đổi tính đàn hồi và khối lượng của các bộ phận máy móc để thay đổi tần sốdao động riêng của chúng tránh hiện tượng cộng hưởng.

 Thay thép bằng chất dẻo, cao su,v.v hoặc quét mặt các chi tiết bằng sơn hoặcdùng các hợp kim ít vang hơn khi va chạm

 Tự động hoá quá trình công nghệ và áp dụng hệ thống điều khiển từ xa

 Bố trí các xưởng ồn làm việc vào thời gian các khu khác có ít người làm việc

 Nâng cao độ chính xác của các khâu truyền động

 Nâng cao độ cứng, vững của hệ thống công nghệ

 Dùng bộ tắt rung động lực: khi một vật có khối lượng m1 dao động dưới tác dụngcủa lực F, để làm tắt rung động người ta có thể lắp thêm một khối lượng m2 nhờ lo xo có độcứng C thích hợp để tắt hoàn toàn dao động của m1

b Giảm tiếng ồn trên đường lan truyền

Áp dụng các nguyên tắc hút âm và cách âm Năng lượng âm lan truyền trong không khíthì một phần năng lượng bị phản xạ một phần bị vật liệu của kết cấu hút và một phần xuyênqua kết cấu sang phòng bên cạnh

Sự phản xạ và hút âm phụ thuộc vào tần số và góc tới của sóng âm, nó xảy ra do sự biếnđổi cơ năng mà các phần tử không khí mang theo thành nhiệt năng do ma sát nhớt của khôngkhí trong các mao quản nhỏ của vật liệu xốp, hoặc do ma sát trong của vật liệu chế tạo các tấmmỏng chịu dao động dưới tác dụng của sóng âm

Vật liệu hút âm có các loại: vật liệu có nhiều lỗ nhỏ; vật liệu có nhiều lỗ nhỏ đặt sau tấmđục lỗ; kết cấu cộng hưởng; tấm hút âm đơn

Để cách âm thông thường là làm vỏ bọc động cơ, máy nén và các thiết bị công nghiệpkhác Vỏ bọc làm bằng kim loại, gỗ, chất dẻo, kính và các vật liệu khác Để giảm dao độngtruyền từ máy vào vỏ bọc, liên kết giữa chúng không làm cứng Vỏ bọc nên đặt trên đệm cáchchấn động làm bằng vật liệu đàn hồi

Để chống tiếng ồn khí động người ta có thể sử dụng các buồng tiêu âm, ống tiêu âm vàtấm tiêu âm

Đưa vào hệ dao động một liên hệ đàn hồi trung gian như: Đặt một lớp vật liệu cách rungdưới bệ máy; Tạo nền móng có khe hở được nhét đầy vật liệu xốp; Đặt giữa máy và nền một

hệ thống giằng cứng nhờ cơ cấu đàn hồi để giảm rung từ nguồn đến nền

c Dùng phương tiện bảo vệ cá nhân

Cần sử dụng các loại dụng cụ như cái bịt tai làm bằng chất dẻo, cái che tai và bao ốp tai

để chống ồn Để chống rung động sử dụng các bao tay có đệm đàn hồi, giày có đế chống rung

2.4 Phòng chống nhiễm độc trong sản xuất

Trang 22

Chất độc công nghiệp là những chất dùng trong sản xuất, khi xâm nhập vào cơ thể dù chỉmột lượng nhỏ cũng gây nên tình trạng bệnh lý Bệnh do chất độc gây ra trong sản xuất gọi lànhiễm độc nghề nghiệp Khi độc tính chất độc vượt quá giới hạn cho phép, sức đề kháng của

cơ thể yếu, độc chất sẽ gây ra nhiễm độc nghề nghiệp

Các hoá chất độc có trong môi trường làm việc có thể xâm nhập vào cơ thể qua đường

hô hấp, tiêu hoá và qua tiếp xúc với da Các loại hoá chất có thể gây độc hại: CO, C2H2, MnO,ZnO2, hơi sơn, hơi ôxid Crôm (mạ), hơi các axit

• Tính độc hại của các hoá chất phụ thuộc vào các loại hoá chất, nồng độ, thời gian tồntại trong môi trường mà người lao động tiếp xúc với nó

• Các chất độc càng dễ tan vào nước thì càng độc vì chúng dể thấm vào các tổ chức thầnkinh của người và gây tác hại

• Trong môi trường sản xuất có thể cùng tồn tại nhiều loại hoá chất độc hại Nồng độ củatừng chất có thể không đáng kể, chưa vượt quá giới hạn cho phép, nhưng nồng độ tổng cộngcủa các chất độc cùng tồn tại có thể vượt quá giới hạn cho phép và có thể gây trúng độc cấptính hay mãn tính

2.4.2.Tác hại của hoá chất độc

a Phân loại các nhóm hoá chất độc

Nhóm 1: Chất gây bỏng, kích thích da, niêm mạc: như axit đặc, kiềm đặc và loãng (vôi

tôi, NH3), Nếu bị trúng độc nhẹ thì dùng nước lã dội rửa ngay

Chú ý bỏng nặng có thể gây choáng, mê man, nếu trúng mắt có thể bị mù

Nhóm 2: Các chất kích thích đường hô hấp trên và phế quản: hơi clo (Cl2), NH3, SO3 ,

NO, SO2, hơi flo (F2), hơi crôm v.v Các chất gây phù phổi: NO2, NO3-, Các chất này thường

là sản phẩm cháy các hơi đốt ở nhiệt độ trên 800oC

Nhóm 3: Các chất làm người bị ngạt do làm loãng không khí như: CO2, C2H5, CH4, N2,CO

Nhóm 4: Các chất độc đối với hệ thần kinh như các loại hydro cacbua, các loại rượu,

xăng, H2S, CS2, v.v

Nhóm 5: Các chất gây độc với cơ quan nội tạng như hydrocacbon, clorua metyl, bromua

metyl v.v Chất gây tổn thương cho hệ tạo máu: Benzen, phenol Các kim loại và phi kim độcnhư chì, thuỷ ngân, mangan, asen, v.v

b Một số chất độc và các dạng nhiễm độc nghề nghiệp thường gặp

Nhiễm độc chì :

Tác hại của chì (Pb) là làm rối loạn việc tạo máu, làm rối loạn tiêu hoá và làm suy hệthần kinh, viêm thận, đau bụng chì, thể trạng suy sụp

Trang 23

Nhiễm độc chì mản tính có thể gây mệt mỏi, ít ngủ, ăn kém, nhức đầu, đau cơ xương, táobón ở thể nặng có thể liệt các chi, gây tai biến mạch máu não, thiếu máu, phá hoại tuỷ xương.Nhiễm độc chì có thể xảy ra khi in ấn, khi làm ắc quy,

Chì còn có thể xuất hiện dưới dạng Pb(C2H5)4, hoặc Pb(CH3)4 Những chất này pha vàoxăng để chống kích nổ, song khí xả động cơ có chì có thể xâm nhập cơ thể qua đường hô hấp,đường da (rất dễ thấm qua lớp mỡ dưới da) Với nồng độ các chất này ≥ 0,182ml/lít không khíthì có thể làm cho súc vật thí nghiệm chết sau 18 giờ

Nhiễm độc thuỷ ngân:

Thuỷ ngân (Hg) dùng trong công nghiệp chế tạo muối thuỷ ngân, làm thuốc giun, thuốclợi tiểu, thuốc trừ sâu thâm nhập vào cơ thể bằng đường hô hấp, đường tiêu hoá và đường da.Thường gây ra nhiễm độc mãn tính: gây viêm lợi, viêm miệng, loét niêm mạc,viêm họng, runtay, gây bệnh Parkinson, buồn ngủ, kém nhớ, mất trí nhớ, rối loạn thần kinh thực vật

Nhiễm độc asen

Các hợp chất của asen như As2O3 dùng làm thuốc diệt chuột; AsCl3 để sản xuất đồ gốm;

As2O5 dùng trong sản xuất thuỷ tinh, bảo quản gỗ, diệt cỏ, nấm Chúng có thể gây ra:

• Nhiễm độc cấp tính: đau bụng, nôn, viêm thận, viêm thần kinh ngoại biên, suy tuỷ, cơ

tim bị tổn thương và có thể gây chết người

• Nhiễm độc mãn tính: gây viêm da mặt, viêm màng kết hợp, viêm mũi kích thích, thủng

vách ngăn mũi, viêm da thể chàm, dầy sừng và xạm da, gây bệnh động mạch vành, thiếu máu,gan to, xơ gan, ung thư gan và ung thư da

Cacbon monoxit (CO)

Cácbon ôxid là thứ hơi không màu, không mùi, không vị Rất dễ có trong các phânxưởng đúc, rèn, nhiệt luyện, và có cả trong khí thải của ô tô hoặc động cơ đốt trong CO gâyngạt thở, hoặc làm cho người bị đau đầu, ù tai; ở dạng nhẹ sẽ gây đau đầu ù tai dai dẳng, sútcân, mệt mỏi, chống mặt, buồn nôn, khi bị trúng độc nặng có thể bị ngất xỉu ngay, có thể chết

Benzen (C 6 H 6 )

Benzen có trong các dung môi hoà tan dầu, mỡ, sơn, keo dán, trong xăng ô tô, Benzengây chứng thiếu máu, chảy máu răng lợi, khi bị nhiễm nặng có thể bị suy tuỷ, nhiễm trùnghuyết, nhiễm độc cấp có thể gây cho hệ thần kinh trung ương bị kích thích quá mức

Trang 24

Xianua (CN - )

Xianua xuất hiện dưới dạng hợp chất với NaCN khi thấm cácbon và thấm nitơ Đây làchất rất độc Nếu hít phải hơi NaCN ở liều lượng 0,06g có thể bị chết ngạt Nếu ngộ độcxianua thì xuất hiện các chứng rát cổ, chảy nước bọt, đau đầu tức ngực, đái dắt, ỉa chảy, Khi

bị ngộ độc xianua phải đưa đi cấp cứu ngay

Axit cromic (H 2 CrO 4 )

Loại này thường khi mạ crôm cho các đồ trang sức, mạ bảo vệ các chi tiết máy Hơi axitcrômic làm rách niêm mạc gây viêm phế quản, viêm da

Hơi ôxit nitơ ( NO 2 )

Chúng có nhiều trong các ống khói các lò phản xạ , trong khâu nhiệt luyện thấm than,trong khí xả của động cơ Diezel và trong khi hàn điện Hơi NO2 làm đỏ mắt, rát mắt, gây viêmphế quản, tê liệt thần kinh, hôn mê

Khi hàn điện có thể các các hơi độc và bụi độc : FeO, Fe2O3, SiO2, MnO, CrO3, ZnO,CuO,

2.4.3.Các biện pháp phòng tránh và cấp cứu

a Cấp cứu:

• Đưa bệnh nhân ra khỏi nơi nhiễm độc, thay quần áo bị nhiễm độc, ủ ấm cho nạn nhân

• Cho ngay thuốc trợ tim, hay hô hấp nhân tạo, nếu bị bỏng do nhiệt phải cấp cứu bỏng,rửa da bằng xà phòng nơi bị thấm chất độc kiềm, axit phải rửa ngay bằng nước sạch

• Nếu bệnh nhân bị nhiễm độc nặng đưa cấp cứu bệnh viện

b Biện pháp chung đề phòng về kỹ thuật

• Cấm để thức ăn, thức uống và hút thuốc gần khu vực sản xuất

• Các hoá chất phải bảo quản trong thùng kín, phải có nhãn rõ ràng

• Chú ý công tác phòng cháy chữa cháy

• Tự động hoá quá trình sản xuất hoá chất

• Tổ chức hợp lý hoá quá trình sản xuất: bố trí riêng các bộ phận toả ra hơi độc, đặt ởcuối chiều gió Phải thiết kế hệ thống thông gió hút hơi khí độc tại chỗ

c Dụng cụ phòng hộ cá nhân

Phải trang bị đủ dụng cụ bảo hộ lao động: mặt nạ phòng độc, găng tay, ủng, khẩu trang,v.v

d Biện pháp vệ sinh - ytế

• Xử lý chất thải trước khi đổ ra ngoài

• Có kế hoạch kiểm tra sức khoẻ định kỳ, có chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật

Trang 25

2.5 Phòng chống bụi trong sản xuất

2.5.1.Khái niệm chung

- Theo nguồn gốc: bụi kim loại (γ), nếu không hiểu biết vềMn, Si, gỉ sắt, ); bụi cát, bụi gỗ; bụi động vật (γ), nếu không hiểu biết vềbụi

lông, bụi xương); bụi thực vật (γ), nếu không hiểu biết vềbụi bông, bụi gai, phấn hoa); bụi hoá chất (grafit, bột phấn, bột hàn the, bột xà phòng, vôi, )

- Theo kích thước hạt bụi:

Bụi bay có kích thước từ 0,001÷10 μm;

các hạt từ 0,1÷10 μm gây ra (khói/sương) mù;

các hạt từ 0,001÷0,1 μm tạo thành khói; chúng chuyển động Brao trong không khí Bụi lắng có kích thước >10 μm thường gây tác hại cho mắt.

- Theo tác hại: Bụi gây nhiễm độc (Pb, Hg, benzen ); bụi gây dị ứng; bụi gây ung thư

(nhựa đường, phóng xạ, các chất brôm); bụi gây xơ phổi (bụi silic, amiăng)

c Tính chất lý hoá của bụi

Độ phân tán của bụi: là trạng thái của bụi trong không khí, nó phụ thuộc vào kích

thước, trọng lượng của hạt bụi và vào sức cản không khí Với hạt bụi có kích thước nhỏ hơn0,1m thì có chuyển động Brawn trong không khí

Tính chất này cho thấy rõ ảnh hưởng của hạt bụi đến việc xâm nhập vào cơ quan hô hấp

và đến phương pháp xử lý bụi

Sự nhiễm điện của bụi: Dưới tác động của một điện trường mạnh, các hạt bụi bị nhiễm

điện và bị hút với những vận tốc khác nhau phụ thuộc vào kích thước hạt bụi Tính chất nàyđược ứng dụng để lọc bụi bằng phương pháp tĩnh điện

Tính cháy nổ của bụi: hạt bụi càng nhỏ thì diện tích tiếp xúc với oxy càng lớn, hoạt tính

hoá học càng mạnh và dễ bốc cháy trong không khí Ví dụ bột cacbon, bột sắt, bột coban,bông vải, có thể tự bốc cháy trong không khí nếu có những mồi lửa như tia lửa điện

Tính lắng trầm nhiệt của bụi: Cho một luồng khói bụi đi qua một ống dẫn từ vùng nóng

chuyển sang vùng lạnh hơn, phần lớn khói bị lắng trên bề mặt buồng lạnh, hiện tượng này là

do các phân tử khí bị giảm vận tốc từ vùng nóng sang vùng lạnh Sự lắng trầm của bụi đượcứng dụng để lọc bụi

Trang 26

d Lọc bụi trong sản xuất công nghiệp

Trong các nhà máy xí nghiệp sản xuất (γ), nếu không hiểu biết vềví dụ các nhà máy hoá học, các nhà máy luyện kim v.v ) thải ra một lượng khí và hơi độc hại đối với sức khoẻ con người và động thực vật.

Vì vậy, để đảm bảo môi trường trong sạch, các khí thải công nghiệp trước khi thải ra bầu khíquyển cần được lọc tới những nồng độ cho phép Có các phương pháp làm sạch khí thải sau:

• Phương pháp ngưng tụ: chỉ áp dụng được khi áp suất hơi riêng phần trong hỗn hợp khícao;

• Phương pháp đốt cháy có xúc tác: (tạo thành CO2 và H2O) có thể đốt cháy nhiều loạichất hữu cơ;

• Phương pháp hấp thụ: chất hấp thụ là nước, hoặc dung dịch kiềm

• Phương pháp hấp phụ: thường dùng silicagen để hấp thụ khí và hơi độc Cũng có thểdùng than hoạt tính, thường dùng để lọc sạch các chất hữu cơ rất độc

Để lọc bụi người ta sử dụng các thiết bị lọc bụi, các thiết bị này được phân ra các nhómchính sau đây:

- Buồng lắng bụi: dựa vào tác dụng của trọng lực

- Thiết bị lọc bụi kiểu quán tính: lợi dụng quán tính khi thay đổi chiều hướng chuyển đọng đểtách bụi ra khỏi không khí

- Thiết bị lọc bụi kiểu ly tâm (xiclon)

- Lọc bụi bằng vải, lưới thép, giấy, vật liệu xốp trong các thiết bị lọc bụi này các lực quántính, trọng lực và cả lực khuếch tán đều phát huy tác dụng

- Thiết bị lọc bụi tĩnh điện: dưới tác dụng của điện trường với điện áp cao, các hạt bụi đượctích điện và bị hút vào các bản cực khác dấu

2.5.2.Tác hại của bụi

Bụi có tác hại đến da, mắt, cơ quan hô hấp, cơ quan tiêu hoá, các hạt bụi này bay lơ lửngtrong không khí, khi bị hít vào phổi chúng sẽ gây thương tổn đường hô hấp

Khi chúng ta thở nhờ có lông mũi và niêm mạc của đường hô hấp mà những hạt bụi có

kích thước lớn hơn 5μm bị giử lại ở hốc mũi tới 90% Các hạt bụi kích thước ~2.5μm dể dàng

theo không khí vào tới phế quản, phế nang, ở đây bụi được các lớp thực bào bao vây và tiêudiệt khoảng 90% nữa, số còn lại đọng ở phổi gây nên bệnh bụi phổi và các bệnh khác (bụisilic, bụi amiăng/asbestos, )

Bệnh phổi nhiễm bụi thường gặp ở những công nhân khai thác chế biến, vận chuyển

quặng đá, kim loại, than v.v

Bệnh silicose là bệnh do phổi bị nhiễm bụi silic ở thợ khoan đá, thợ mỏ, thợ làm gốm sứ,

vật liệu chịu lửa v.v Bệnh này chiếm 40÷70% trong tổng số các bệnh về phổi Ngoài còn cócác bệnh asbestose (nhiễm bụi amiăng), aluminose (bụi bôxit, đất sét), siderose (bụi sắt)

Trang 27

Bệnh đường hô hấp: viêm mũi, viêm họng, phế quản, viêm teo mũi do bụi crôm, asen Bệnh ngoài da: bụi có thể dính bám vào da làm viêm da, bịt kín các lỗ chân lông và ảnh

hưởng đến bài tiết; bụi có thể bịt các lỗ của tuyến nhờn gây ra mụn; lở loét ở da; viêm mắt,giảm thị lực, mộng thịt

Bệnh đường tiêu hoá: Các loại bụi sắc cạnh nhọn vào dạ dày có thể làm tổn thương

niêm mạc dạ dày, gây rối loạn tiêu hoá

Bụi hoạt tính dễ cháy nếu nồng độ cao, khi tiếp xúc với tia lửa dễ gây cháy, nổ rất nguy

- Bao kín thiết bị và dây chuyền sản xuất

- Cơ khí hoá và tự động hoá quá trình sản xuất sinh bụi để công nhân không phải tiếp xúc vớibụi

- Thay đổi phương pháp công nghệ: làm sạch bằng nước thay cho việc làm sạch bằng phuncát

- Sử dụng hệ thống thông gió, hút bụi trong các phân xưởng có nhiều bụi

Hạt nhân nguyên tử có thể phát ra những tia phóng xạ sau đây:

- Tia  là chùm hạt nhân 2 He, mang điện tích dương Khả năng đâm xuyên của tia  yếunhưng khả năng iôn hoá lại rất lớn Trong không khí đi được khoảng 10÷20 cm, tạo được

6000 iôn/1mm đường đi

- Tia - là chùm các hạt electron, có khả năng đâm xuyên mạnh hơn tia 

- Tia + là những hạt có khối lượng bằng khối lượng e, mang điện tích dương, được tạo nên do

Trang 28

- Tia  là sóng điện từ có bước sóng rất ngắn (dưới 0,1 nm), cũng là hạt phôtôn có năng lượngcao, có khả năng đâm xuyên rất lớn, có thể đi qua lớp chì dày vài dm, gây nguy hiểm cho conngười

- Tia Rơnghen (tia X) về bản chất cũng là bức xạ điện từ giống tia  nhưng có bước sóng dàihơn, khả năng đâm xuyên và iôn hoá tương tự tia 

- Tia nơtron là chùm tia gồm những hạt nơtron chứa trong hạt nhân nguyên tử của các nguyên

tố (trừ H2), không mang điện tích, khối lượng bằng 1

Tia phóng xạ có tính oxi hoá mạnh và có khả năng đâm xuyên qua các vật chất Các chấtđồng vị phóng xạ ngày nay được ứng dụng rộng rãi trong nông nghiệp, công nghiệp, y tế trong kỹ thuật BHLĐ dùng tia phóng xạ P210 để ion hoá không khí và trung hoà các điện tíchtĩnh điện xuất hiện bên trong phân xưởng nóng và nhiễm bụi để chống cháy nổ; dùng khíphóng xạ Ar để xác định hiệu quả của hệ thống thông gió

2.6.2.Tác hại của tia phóng xạ

a Làm việc với các chất phóng xạ có thể bị nhiễm xạ

Khi tia bức xạ chiếu từ bên ngoài vào bề mặt cơ thể thì gọi là nhiễm độc ngoại chiếu.Khi các chất phóng xạ xâm nhập vào cơ thể (qua đường hô hấp, tiếu hoá, và qua da) tới tậncác tổ chức của cơ thể đồng thời gây ra tác dụng chiếu xạ thì gọi là nhiễm độc nội chiếu Cótrường hợp là tác dụng hỗn hợp của cả nội chiếu và ngoại chiếu Nhiễm xạ do nội chiếu nguyhiểm hơn vì sự đào thải chất phóng xạ ra khỏi cơ thể không dễ dàng, thời gian bị chiếu xạ lâuhơn

b.Tác hại của nhiễm xạ

- Ảnh hưởng sớm - nhiễm phóng xạ cấp tính

Nhiễm xạ cấp tính xảy ra sớm vài giờ hoặc vài ngày sau khi cơ thể bị nhiễm xạ toàn thântrong một lúc với liều lượng phóng xạ trên 200Rem Khi bị nhiễm xạ cấp tính thường có cáctriệu chứng sau: Chức năng thần kinh trung ương bị rối loạn; Da bị bỏng, tấy đỏ ở chỗ tiaphóng xạ chiếu vào; Cơ quan tạo máu bị tổn thương nặng; Gầy sút cân, chết dần mòn trongtình trạng suy kiệt

Nhiễm xạ cấp tính thường ít gặp trong sản xuất và nghiên cứu mà chủ yếu xảy ra từ các

vụ nổ hạt nhân

- Ảnh hưởng muộn - nhiễm phóng xạ mãn tính

Khi nhiễm xạ mãn tính, các triệu chứng bệnh xuất hiện muộn, có thể tới hàng năm, hàngchục năm kể từ khi bị chiếu tia phóng xạ hoặc nhiễm chất phóng xạ với liều lượng nhỏ hơn200Rem Có các triệu chứng sau: Suy nhược thần kinh, suy nhược cơ thể; Rối loan các chứcnăng tạo máu; Có hiện tượng đục nhân mắt, ung thư da, ung thư xương

2.6.3.Các yêu cầu vệ sinh và an toàn khi làm việc tiếp xúc với tia phóng xạ

Trang 29

Nguồn phóng xạ kín là nguồn mà chất phóng xạ được bọc kín trong một vỏ bọc nào đóhoặc ở trong một trạng thái vật lý đảm bảo cho chất đó không thoát ra ngoài môi trường khi

sử dụng nó

Tiếp xúc với nguồn phóng xạ kín là tiếp xúc với tia phóng xạ chứ không phải trực tiếp

đụng chạm đến chất phóng xạ trong quá trình làm việc Ví dụ: dùng tia Rơnghen để chẩn đoán

và điều trị bệnh; dùng tia của Co 60 để kiểm tra những vết rạn nứt ở kim loại hoặc đường ống, Trong điều kiện bình thường không xuất hiện phóng xạ nhưng cần đề phòng tia phóng

- Bóng phát tia Rơnghen phải bọc bớt lại bằng vỏ chì

- Trong thao tác càng xa nguồn càng tốt vì cường độ chiếu xạ tỷ lệ nghịch với khoảng cách từ

cơ thể đến nguồn; khoảng cách xa gấp 2, cường độ chiếu giảm 4 lần

- Các buồng sử dụng tia phóng xạ phải có kích thước đủ lớn, không được để nhiều đồ đạc đểtránh các tia phóng xạ thứ phát

- Thao tác nhanh nhẹn để giảm thời gian tiếp xúc với tia phóng xạ

- Sử dụng trang bị BHLĐ phù hợp (găng tay cao su, ủng cao su, đeo kính,…)

b Tiếp xúc với nguồn phóng xạ hở

Nguồn phóng xạ hở là nguồn mà chất phóng xạ trong một trạng thái vật lý mà chất đó cóthể thoát ra ngoài

Khi tiếp xúc với các quặng phóng xạ, dung dịch lỏng, khí, pin phóng xạ, nhân viên côngtác sẽ chịu ảnh hưởng của cả tác dụng ngoại chiếu và nội chiếu

Thông thường đối tượng tiếp xúc với nguồn phóng xạ hở này là: nhân viên các phòng thìnghiệm phóng xạ; công nhân khai thác, vận chuyển và chế biến quặng phóng xạ

c Yêu cầu an toàn với các buồng thí nghiệm phóng xạ

Phòng thí nghiệm (PTN) phải bố trí riêng biệt trừ những PTN dùng chất phóng xạ cóhoạt tính thấp, có chu vi bảo vệ từ 50÷300 m tuỳ theo độc tính và khối lượng chất phóng xạ sửdụng; diện tích tối thiểu là 4,7 m2/1 thí nghiệm viên

Kiến trúc và trang thiết bị của PTN cần hết sức giảm bớt tính hấp thụ phóng xạ, dễ cọrửa và tẩy xạ; phòng càng kín càng tốt

Nhân viên tiếp xúc với chất phóng xạ ở PTN phải được trang bị các phương tiện phòng

hộ cá nhân cần thiết như: găng tay cao su, quần áo công tác, mặt nạ, tất và giầy, khẩu trangphòng bụi phóng xạ,…

Trang 30

Phải có kế hoặc tẩy xạ cho người, quần áo, bàn làm việc,…

d/ Yêu cầu khi khai thác, chế biến, vận chuyển quặng phóng xạ

- Tổ chức thông gió tốt

- Phải sử dụng các trang thiết bị phòng hộ cá nhân đầy đủ

- Không hút thuốc, ăn uống ở dưới mỏ

- Phải tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo trước khi về

2.7 Phòng chống điện từ trường tần số cao

2.7.1.Tác hại của điện từ trường

Ở các thiết bị điện, đặc biệt các thiết bị cao tần, siêu cao tần, tạo ra một trường điện từ cóhại đối với sức khoẻ con người Đáng lo ngại ở chỗ là cơ thể con người không có cảm giác gìdưới tác dụng của điện từ trường

Gần nguồn cao tần hình thành hai vùng: cảm ứng và bức xạ Cách nguồn với khoảngcách bằng 1/6 bước sóng là vùng cảm ứng chiếm ưu thế, ngoài vùng này là vùng bức xạ

Ở trong vùng cảm ứng con người chịu tác động của từ trường và điện trường thay đổitheo chu kỳ

Ở vùng bức xạ thì con người chịu tác động của một điện trường với các thành phần điện,

từ thay đổi đều đặn

Cường độ điện từ trường nơi làm việc có thể thay đổi phụ thuộc vào công suất máy phátsóng, khoảng cách tới nguồn và sự phản xạ các bề mặt bao quanh

Mức độ tác động của điện từ trường lên cơ thể con người phụ thuộc vào độ dài bướcsóng, chế độ làm việc của nguồn (xung hay liên tục), cường độ bức xạ, thời gian tác dụng,khoảng cách từ nguồn tới cơ thể và sự cảm thụ riêng của từng người Tần số càng cao, nănglượng điện từ mà cơ thể hấp thụ càng tăng

Tác hại của sóng điện từ không chỉ phụ thuộc vào năng lượng bức xạ bị hấp thụ mà cònphụ thuộc vào độ thấm sâu của sóng bức xạ vào cơ thể Độ thấm sâu càng cao thì tác hại càngnhiều, độ thấm sâu này phụ thuộc vào bước sóng điện từ

Bảng 2.5

Loạisóng

Độ thấm sâu

Loại mmLoại cmLoại dmLoại m

Bề mặt lớp da

Da và các tổ chức dưới daVào sâu trong các tổ chức khoảng 10-15cmVào sâu lớn hơn 15 cm

Trang 31

Dưới tác dụng của điện từ tần số cao, các ion của các tổ chức của cơ thể sẽ chuyển động,trong các tổ chức này sẽ xuất hiện một dòng điện cao tần Do đó, một phần năng lượng củatrường điện từ bị thấm hút.

Chịu tác dụng của điện từ trường với tần số khác nhau và cường độ lớn hơn cường độgiới hạn cho phép một cách có hệ thống và kéo dài sẽ dẫn tới sự thay đổi một số chức năngcủa cơ thể như hệ thống thần kinh trung ương, chủ yếu là làm rối loạn hệ thần kinh thực vật vàrối loạn hệ thống tim mạch, gây ra nhức đầu, mệt mỏi, suy yếu toàn thân Ngoài ra nó còngây ra giảm áp lực máu, đau tim, khó thở, ảnh hưởng đến gan, lá lách

Với năng lượng điện từ tần số siêu cao có thể làm biến đổi máu, biến đổi nhân mắt phụ

nữ chịu tác hại của sóng điện từ nhiều hơn nam giới

Đánh giá tác hại của điện từ trường bằng cường độ tác dụng của trường, biểu thị bằngvôn/mét Trị số giới hạn cho phép ở chỗ làm việc là 5V/m; còn đối với các lò cảm ứng để tôi,đúc kim loại thì cho phép đến 10V/m do điều kiện không bao che được thiết bị

Ngoài ra người ta còn dùng mật độ dòng công suất được xác định bằng số năng lượngtruyền qua diện tích 1cm2 vuông góc với phương truyền sóng trong 1 giây Đơn vị tính toán là

W/cm2, mW/cm2, W/cm2

Trị số cường độ bức xạ giới hạn cho phép của trường điện từ tần số cực cao tại chỗ làmviệc được xác định như sau:

- Khi chịu tác động cả ngày thì cường độ bức xạ phải nhỏ hơn 10 W/cm2;

- Khi chịu tác động không quá 2 giờ thì nhỏ hơn 100W/cm2;

- Khi chịu tác động không quá 15-20 phút trong ngày thì nhỏ hơn 1mW/cm2

2.7.2.Các biện pháp phòng chống

Khi sử dụng các thiết bị cao tần cần tuân thủ quy tắc an toàn, phần kim loại của thiết bịphải được nối đất Các thiết bị cao tần cần có rào chắn bao bọc Để bao bọc vùng có điện từtrường người ta dùng các màn chắn kim loại có độ dẫn điện cao, xung quanh các thiết bị caotần không nên có những vật dụng bằng kim loại nếu không cần thiết, vì nó sẽ tạo ra nguồn bức

xạ điện từ thứ cấp

Bức xạ RF là dạng bức xạ không Ion hoá Bức xạ không Ion hoá không gây tác hại trựctiếp lên các phân tử, các mô sống hoặc không phá vỡ cấu trúc dây liên kết các phân tử trong tếbào sống để tạo nên sự Ion hoá (tức là nó không tích điện dương và âm lên các phân tử, môsống)

Ảnh hưởng trước tiên của bức xạ RF là nung nóng các vật thể ở trong trường bức xạ của

nó nếu mức công suất đủ lớn Cơ chế hoạt động như sau : khi ta đứng trong trường bức xạ

RF có cường độ mạnh thì các phân tử bị điện trường mạnh tác động buộc chúng dao động ởtần số bức xạ Dao động này làm cho các phân tử va đập vào nhau tạo ra nhiệt nung nóng

Trang 32

chính các phân tử Năng lượng để từng phân tử trong cơ thể sống dao động phụ thuộc cường

độ điện trường, bức xạ có cường độ mạnh hơn sẽ tạo ra năng lượng lớn hơn cho các phân tửdao động Ví dụ một người đứng đối diện một antenna phát xạ tín hiệu ở tần số 10MHz vớicông suất rất lớn thì các phân tử trong cơ thể sẽ dao động ở tần số 10MHz (tức là dao động 10triệu lần trong một giây - bằng các giác quan bình thường con người không thể nhận biết đượcdao động ấy) gây ra va chạm giữa các phân tử và sinh nhiệt nung nóng cơ thể Các lò nướngsiêu cao tần hoạt động theo nguyên lý này

Như đã nói ở trên, bức xạ RF nung nóng trên cơ thể sống, có thể là dạng nung nóng từngphần hoặc toàn thân Chẳng hạn như toàn bộ cơ thể bị nung nóng thì ta dễ nhận biết theo kinhnghiệm là nóng ở tay, chân và bàn chân Các bộ phận cơ thể bị tác động bởi các bức xạ RFkhác nhau vì vậy xảy ra hiện tượng bị nung nóng từng phần, có thể nhận biết nóng ở tay vàngón tay Khi đứng trong trường bức xạ RF cơ thể con người giống như một anten, nếu đượctiếp đất tốt thì được coi như anten một phần tư bước sóng cộng hưởng ở tần số từ 35MHz đến40MHz Nếu không được tiếp đất (lơ lửng trong không gian hoặc đứng trên thảm cách điện)thì giống như một antenna nửa bước sóng, cộng hưởng trong khoảng tần số từ 70MHz đến80MHz

Trang 33

2.8 Chiếu sáng trong sản xuất

2.8.1 Một số khái niệm

a Một số khái niệm về ánh sáng

Là nhân tố ngoại cảnh rất quan trọng đối với sức khoẻ và khả năng làm việc củacông nhân Trong sinh hoạt và lao động con mắt đòi hỏi phải được chiếu sáng thích hợp.Chiếu sáng thích hợp tránh mệt mỏi thị giác, tránh tai nạn lao động và bệnh nghềnghiệp

Ánh sáng thấy được: là những bức xạ (photon) có bước sóng trong khoảng

380÷760 ™m (tương ứng với 7 dải màu tím, chàm, lam, lục, vàng, da cam, đỏ)

Mắt chúng ta nhạy với bức xạ đơn sắc màu vàng lục λ = 555™m Để đánh giá độsáng tỏ của các loại bức xạ khác nhau, người ta lấy độ sáng tương đối của bức xạ vànglục làm chuẩn để so sánh

Quang thông (Φ): là đại lượng để đánh giá khả năng phát sáng của vật, là phần

công suất bức xạ có khả năng gây ra cảm giác sáng cho thị giác của con người

Bức xạ ánh sáng của một nguồn vào không gian trước hết được đánh giá bằng nănglượng bức xạ, đo bằng watt (W) Các thực nghiệm về ánh sáng cho thấy cùng một nănglượng nhưng bức xạ dưới các bước sóng khác nhau lại không gây hiệu quả giống nhautrong mắt chúng ta, do vậy cần phải hiệu chỉnh đơn vị đo theo độ nhạy cảm phổ của mắtngười

Nếu gọi công suất bức xạ ánh sáng đơn sắc bước sóng λ của vật là Fλ, thì quangthông (Φ) do chùm tia đơn sắc đó gây ra là:

Φλ = C.Fλ.Vλ

trong đó, Vλ - độ sáng tỏ tương đối của ánh sáng đơn sắc λ;

C - hằng số phụ thuộc vào đơn vị đo

Quang thông được đo bằng lumen (lm), công suất bức xạ Fλ đo bằng watt thì hằng

Quang thông của một nguồn sáng nói chung phân bố không đều theo các phương

do đó để đặc trưng cho khả năng phát sáng theo các phương khác nhau của nguồn người

ta dùng đại lượng cường độ sáng

Trang 34

Cường độ sáng theo phương n là mật độ quang thông bức xạ phân bố theo phương

n đó Cường độ sáng I n là tỷ số giữa lượng quang thông bức xạ dΦ trên vi phân góc khối

dS

d

E M   [lux] = [lm/m2]

Máy đo ánh sáng là luxmet

Ví dụ: • Nắng giữa trưa: 100.000 lux.

• Trời nhiều mây: 1.000 lux.

• Đủ để đọc sách: 30 lux

• Đủ để làm việc tinh vi: 500 lux.

• Đủ để lái xe: 0,5 lux.

dS

dI

B n

Đơn vị đo độ chói là nit (nt)

Ví dụ: Độ chói của một vài vật:

• Đội chói nhỏ nhất mắt người có thể nhận biết: 10 -6 nt.

• Mặt trời giữa trưa:: 2.10 9 nt.

• Dây tóc của bóng đèn: 10 6 nt.

• Đèn neon: 1000 nt.

b Quan hệ giữa chiếu sáng và sự nhìn của mắt

Ánh sáng yêu cầu vừa phải, không quá sáng làm loá mắt, gây đầu óc căng thẳng;hoặc quá tối, không đủ sáng, nhìn không rõ cũng dễ gây tai nạn Nhu cầu ánh sáng đốivới một số trường hợp cụ thể như sau:

Trang 35

Phòng đọc sách: 200 lux; Xưởng dệt: 300 lux; Nơi sửa chữa đồng hồ: 400 lux.

Sự nhìn rõ của mắt liên hệ trực tiếp với những yếu tố sinh lý của mắt, cần phân biệtthị giác ban ngày và thị giác ban đêm

Thị giác ban ngày:

Thị giác ban ngày liên hệ với sự kích thích của tế bào hữu sắc Khi độ rọi E đủ lớn, với E ≥ 10 lux (ánh sáng ban ngày) thì tế bào hữu sắc cho cảm giác màu sắc và phân biệt chi tiết của vật quan sát Như vậy khi độ rọi E ≥ 10 lux thì thị giác ban ngày làm việc.

Thị giác ban đêm:

Thị giác ban đêm liên hệ với sự kích thích của các tế bào vô sắc Khi độ rọi E ≤ 10

lux (ánh sáng ban đêm) thì tế bào vô sắc làm việc

Thông thường 2 thị giác đồng thời tác dụng với mức độ khác nhau, nhưng E ≤ 0,01 lux thì chỉ có tế bào vô sắc làm việc Khi E = 0,01÷10 lux thì cả 2 tế bào cùng làm việc.

Quá trình thích nghi

Khi chuyển từ độ rọi lớn qua độ rọi nhỏ, tế bào vô sắc không thể đạt ngay độ hoạtđộng cực đại mà cần có thời gian quen dần, thích nghi và ngược lại từ môi trường tốisang môi trường sáng mắt cũng cần thời gian làm quen nhất định, thời gian đó gọi chung

là thời gian thích nghi Thời gian đó khoảng 15÷20 phút từ sáng qua tối còn ngược lại thìkhoảng 8÷10 phút

Tốc độ phân giải của mắt

Quá trình nhận biết một vật của mắt không xảy ra ngay lập tức mà phải qua mộtthời gian nào đó Tốc độ phân giải phụ thuộc vào độ chói và độ rọi sáng trên vật quansát Tốc độ phân giải tăng nhanh với độ rọi từ 0 đến 1200 lux sau đó tăng không đáng kể

Người ta đánh giá khả năng phân giải của mắt bằng góc nhìn tối thiểu α ng mà mắt

có thể nhìn thấy được vật Mắt có khả năng phân giải trung bình nghĩa là có khả năng

nhận biết được 2 vật nhỏ nhất dưới góc nhìn α ng = 1’ trong điều kiện chiếu sáng tốt

c Độ tương phản giữa vật quan sát và nền

Tỷ lệ độ chói giữa vật quan sát và nền chỉ mức độ khác nhau về cường độ sánggiữa vật quan sát và nền của nó

Tỷ lệ này biểu thị bằng hệ số tương phản K:

n n

n v

B

B B

B B

K   trong đó, B n - độ chói của nền;

B v - độ chói của vật

Trang 36

Giá trị K nhỏ nhất mà mắt có thể phân biệt được vật quan sát gọi là ngưỡng tương phản hay độ phân biệt nhỏ nhất Kmin = 0,01 Nghịch đảo của nó gọi là độ nhạy tương

phản Smin đặc trưng cho độ nhạy của mắt khi quan sát

Độ nhạy tương phản phụ thuộc vào mắt và với mức độ khá lớn, phụ thuộc vào độ

chói của nền Độ chói của nền bé, độ tương phản tăng khá nhanh và đạt cực đại khi Bn =

103 nit, Bn tăng lên nữa độ nhạy tương phản giảm và giảm nhanh, vì khi đó độ chói đãgây ra hiện tượng loá mắt

2.8.2.Kỹ thuật chiếu sáng

Trong sản xuất người ta thường dùng hai nguồn sáng: ánh sáng tự nhiên và ánhsáng điện Ánh sáng mặt trời đi qua bầu khí quyển là ánh sáng có sẵn, thích hợp và cótác dụng tốt về mặt sinh lý đối với con người, song thất thường phụ thuộc vào thời tiếtthiên nhiên

Độ rọi do ánh sáng tán xạ của bầu trời gây ra trên mặt đất về mùa hè đạt đến60.000÷70.000 lux; về mùa đông cũng đạt tới 8.000 lux

Dùng điện thì có thể điều chỉnh được ánh sáng một cách chủ động nhưng lại rất tốnkém

a Chiếu sáng tự nhiên

Ánh sáng mặt trời khi chiếu xuống Trái Đất đi xuyên qua lớp khí quyển bị các hạttrong tầng khí hấp thụ nên các tia truyền thẳng một mặt bị yếu đi, mặt khác bị khuếch tánsinh ra ánh sáng tán xạ

Bức xạ trực tiếp là những tia truyền thẳng xuống mặt đất tạo nên độ rọi trực xạ Etx.Trong khí quyển thường xuyên có những hạt lơ lửng làm khuếch tán và tán xạ ánh sáng

mặt trời tạo nên nguồn ánh sáng khuếch tán với độ rọi Ekt Ngoài ra sự phản xạ của mặt

đất và các bề mặt xung quanh ta có độ rọi do phản xạ Ep Như vậy ở một nơi quang đãng

và một điểm bất kỳ nào ngoài nhà độ rọi sẽ là:

Eng = Etx + Ekt + Ep

Độ rọi Eng thay đổi thường xuyên theo từng giờ, từng ngày, từng tháng, từng năm

và theo từng vị trí địa lý từng vùng, theo thời tiết khí hậu vì thế ánh sáng trong phòngcũng thay đổi theo

Hệ thống cửa chiếu sáng trong nhà công nghiệp thường dùng là cửa sổ, cửa trời(cửa mái), cửa sổ - cửa trời hỗn hợp Cửa sổ chiếu sáng thường dùng là loại cửa sổ mộttầng, cửa sổ nhiều tầng, cửa sổ liên tục hoặc gián đoạn Cửa trời chiếu sáng là loại cửatrời hình chữ nhật, hình M, hình thang, hình chỏm cầu, hình răng cưa v.v Do điều kiệnkhí hậu ở nước ta, thích hợp nhất là kiểu mái hình răng cưa là tốt nhất

Trang 37

Thiết kế chiếu sáng tự nhiên cho phòng phải dựa vào đặc điểm và tính chất của nó,yêu cầu thông gió thoát nhiệt cùng với những giải pháp che mưa nắng mà chọn hình thứccửa chiếu sáng thích hợp.

Cần tính toán diện tích cửa lấy ánh sáng đầy đủ, các cửa phân bố đều, cần chọnhướng bố trí cửa Bắc-Nam; cửa chiếu sáng đặt về hướng bắc, cửa thông gió mở rộng vềphía nam để tránh chói loá, phải có kết cấu che chắn hoặc điều chỉnh được mức độ chiếusáng

b Chiếu sáng nhân tạo

Chiếu sáng điện cho sản xuất phải tạo ra trong phòng một chế độ ánh sáng đảm bảođiều kiện nhìn rõ, nhìn tinh và phân giải nhanh các vật nhìn của mắt trong quá trình laođộng

Nguồn sáng (điện)

Đèn điện chiếu sáng thường dùng đèn nung nóng, đèn huỳnh quang, đèn thuỷ ngâncao áp

- Đèn nung sáng: Phát sáng theo nguyên lý các vật rắn khi được nung trên 500oC

sẽ phát sáng Đèn này có nhiều loại với công suất 1÷1.500 W Đèn phát ánh sáng rất phùhợp với tâm sinh lý con người vì chứa nhiều màu đỏ, vàng, lại rẻ tiền, dễ chế tạo, dễ bảoquản và sử dụng Nhưng có hiệu suất phát quang thấp

- Đèn huỳnh quang: là nguồn sáng nhờ phóng điện trong chất khí, có nhiều loại

như đèn thuỷ ngân thấp/cao áp; đèn huỳnh quang thấp/cao áp; và các đèn phóng điệnkhác Chúng có ưu điểm hiệu suất phát sáng cao, thời gian sử dụng dài, có quang phổgần giống ánh sáng ban ngày Tuy nhiên giá thành cao, sử dụng phức tạp hơn, lại khónhìn

Phương thức chiếu sáng cơ bản

- Chiếu sáng chung: trong toàn phòng có một hệ thống chiếu sáng từ trên xuống

gây ra một độ chói không gian nhất định và một độ rọi nhất định trên toàn bộ các mặtphẳng lao động

- Chiếu sáng cục bộ: chia không gian lớn của phòng ra nhiều không gian nhỏ, mỗi

không gian nhỏ có một chế độ chiếu sáng khác nhau

- Chiếu sáng hỗn hợp: vừa chiếu sáng chung vừa kết hợp với chiếu sáng cục bộ.

Dụng cụ chiếu sáng

Bao gồm toàn bộ những thiết bị, phụ kiện kèm theo nguồn sáng, hình thành hệthống chiếu sáng hoàn chỉnh, một mặt đảm bảo những điều kiện làm việc tối ưu của đèn,mặt khác đảm bảo nâng cao hiệu quả của nguồn sáng

- Phân bố ánh sáng của nguồn phù hợp với mục đích chiếu sáng

Trang 38

- Bảo vệ, không để mắt nhìn thấy độ chói quá cao của nguồn sáng.

- Bảo vệ nguồn sáng không bị hư hỏng do tác động cơ học, bám bụi, che mưa, nắng, gió

- Để cố định và đưa điện vào nguồn sáng

2.9 Thông gió công nghiệp

2.9.1.Mục đích của thông gió công nghiệp

Môi trường không khí có tính chất quyết định đối với việc tạo ra cảm giác dễ chịu,không bị ngột ngạt không bị nóng bức hay quá lạnh

Môi trường làm việc luôn bị ô nhiễm bởi các hơi ẩm, bụi bẩn, các chất khí do hô hấpthải ra và bài tiết của con người: CO2, NH3, hơi nước, Ngoài ra còn các chất khí khác

do quá trình sản xuất sinh ra như CO, NO2, các hơi axít, bazơ, Cho nên thông gió có 2mục đích hết sức quan trọng:

- chống nóng;

- khử bụi, khử hơi khí độc; đảm bảo cho môi trường làm việc trong sạch

2.9.2.Các biện pháp thông gió

a Thông gió tự nhiên

Thông gió tự nhiên là trường hợp thông gió mà sự lưu thông không khí từ bênngoài vào nhà và từ trong nhà thoát ra ngoài, thực hiện được nhờ những yếu tố tự nhiênnhư nhiệt thừa và gió

Sử dụng và bố trí hợp lý các cửa gió vào và ra Các cửa có cấu tạo lá chớp khép mởđược để làm lá hướng dòng và thay đổi diện tích cửa Như vậy ta có thể thay đổi đượchướng và hiệu chỉnh được lưu lượng gió vào, ra

Khi thông gió tự nhiên, phạm vi tác dụng của luồng không khí trao đổi hầu như đềukhắp vùng làm việc hay không gian của nhà

b Thông gió cơ khí (nhân tạo)

Thông gió cơ khí là thông gió có sử dụng máy quạt chạy bằng động cơ điện để làmkhông khí vận chuyển từ chỗ này đến chỗ khác

Bằng hệ thống đường ống dẫn, người ta có thể lấy không khí sạch ngoài trời thổivào trong nhà hoặc hút không khí nóng và ô nhiễm bên trong nhà thải ra ngoài Tuỳ theođiều kiện cụ thể mà trong một công trình có thể bố trí cả hai hệ thống thổi và hệ thốnghút hoặc chỉ bố trí một trong hai hệ thống đó Hệ thống hút thường được áp dụng khi lưulượng không khí cần trao đổi không lớn hoặc khi trong phân xưởng có một số nguồn thảiđộc hại nhưng không nhiều

Trong thực tế thường dùng hệ thống thông gió cơ khí thổi khí vào và hút khí ra

2.9.3.Các hệ thống thông gió

Trang 39

a Hệ thống thông gió chung

Là hệ thống thông gió thổi vào hoặc hút ra có phạm vi tác dụng trong toàn bộkhông gian của phân xưởng Nó phải có khả năng khử nhiệt thừa và các chất độc hại toả

ra trong phân xưởng Có thể sử dụng thông gió tự nhiên hoặc cơ khí

b Hệ thống thông gió cục bộ

Là hệ thống thông gió có phạm vi tác dụng trong từng vùng hẹp riêng biệt của phânxưởng

Hệ thống thổi cục bộ: gọi là hoa sen không khí, thường được bố trí để thổi không

khí sạch và mát vào những vị trí thao tác cố định của công nhân, mà tại đó toả nhiều hơikhí có hại và nhiều nhiệt

Hệ thống hút cục bộ: là hệ thống dùng để hút các chất độc hại ngay tại nguồn sản

sinh ra chúng và thải ra ngoài, không cho lan toả ra các vùng chung quanh trong phânxưởng Đây là biện pháp thông gió tích cực và triệt để nhất để khử độc hại

Trang 40

CHƯƠNG III

KỸ THUẬT AN TOÀN

3.1 Kỹ thuật an toàn điện

3.1.1 Khái niệm cơ bản về an toàn điện

Điện là nguồn năng lượng cơ bản trong các công xưởng, xí nghiệp, từ nông thônđến thành thị Số người tiếp xúc với điện ngày càng nhiều Thiếu các hiểu biết về an toànđiện, không tuân theo các quy tắc về an toàn điện có thể gây ra tai nạn Vì vậy vấn đề antoàn điện đang trở thành một trong những vấn đề quan trọng của công tác bảo hộ laođộng

Dòng điện đi qua cơ thể con người gây nên phản ứng sinh lý phức tạp như làm huỷhoại bộ phận thần kinh điều khiển các giác quan bên trong của người làm tê liệt cơ thịt,sưng màng phổi, huỷ hoại cơ quan hô hấp và tuần hoàn máu Trường hợp chung thì dòngđiện có thể làm chết người có trị số khoảng 100mA Tuy vậy có trường hợp trị số dòngđiện chỉ khoảng 5÷10mA đã làm chết người tuỳ thuộc điều kiện nơi xảy ra tai nạn vàtrạng thái sức khoẻ của nạn nhân

a Điện trở của người

Thân thể người gồm có da thịt xương, thần kinh, máu.v.v tạo thành Lớp da cóđiện trở lớn nhất mà điện trở của da lại do điện trở của lớp sừng trên da (dày khoảng0,05÷0,2mm) quyết định, xương và da có điện trở tương đối lớn còn thịt và máu có điệntrở bé Điện trở của người rất không ổn định và không chỉ phụ thuộc vào trạng thái sứckhoẻ của cơ thể từng lúc mà còn phụ thuộc vào môi trường xung quanh, điều kiện tổnthương

Khi khô ráo điện trở của người là 10.000÷100.000 Ω Nếu mất lớp sừng trên da thìđiện trở người còn khoảng 800÷1000 Ω Điện trở người phụ thuộc vào độ dày lớp sừng

da, trạng thái thần kinh của người

Mặt khác nếu da người bị dí mạnh trên các cực điện, điện trở da cũng giảm đi Vớiđiện áp bé 50÷60 V có thể xem điện trở tỷ lệ nghịch với diện tích tiếp xúc Khi có dòngđiện đi qua người, da bị đốt nóng, mồ hôi thoát ra và làm điện trở người giảm xuống

Thí nghiệm cho thấy:

• Với dòng điện 0,1 mA điện trở người R ng = 500.000 Ω.

• Với dòng điện 10 mA điện trở người R ng = 8.000 Ω.

Điện trở người giảm tỷ lệ với thời gian tác dụng của dòng điện, vì da bị đốt nóng và

có sự thay đổi về điện phân Ngoài ra còn có hiện tượng chọc thủng khi U > 250 V (cókhi chỉ cần 10÷30V) lúc này điện trở người xem như tương đương bị bóc hết lớp dangoài

Ngày đăng: 10/11/2014, 00:09

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.3: Rung cục bộ khi điều khiển trong 8 giờ - bài giảng ATLD và Môi trường công nghiệp
Bảng 2.3 Rung cục bộ khi điều khiển trong 8 giờ (Trang 19)
Bảng 2.4: Rung cục bộ của dụng cụ cầm tay trong 8 giờ - bài giảng ATLD và Môi trường công nghiệp
Bảng 2.4 Rung cục bộ của dụng cụ cầm tay trong 8 giờ (Trang 19)
Bảng 3.1: Quy định điện áp và thời gian tiếp xúc cho phép: - bài giảng ATLD và Môi trường công nghiệp
Bảng 3.1 Quy định điện áp và thời gian tiếp xúc cho phép: (Trang 42)
Bảng 3.3: Khoảng cách thẳng đứng tại mọi vị trí tới dây cuối cùng tối thiểu: - bài giảng ATLD và Môi trường công nghiệp
Bảng 3.3 Khoảng cách thẳng đứng tại mọi vị trí tới dây cuối cùng tối thiểu: (Trang 46)
Hình vẽ sơ đồ bảo vệ nối đất cho mạng điện dưới 1000V. Lúc cách điện của thiết bị bị - bài giảng ATLD và Môi trường công nghiệp
Hình v ẽ sơ đồ bảo vệ nối đất cho mạng điện dưới 1000V. Lúc cách điện của thiết bị bị (Trang 48)
Hình 4.2:  Sơ đồ nguyên lí hệ thống chữa cháy tự động: - bài giảng ATLD và Môi trường công nghiệp
Hình 4.2 Sơ đồ nguyên lí hệ thống chữa cháy tự động: (Trang 70)
Hình 4.1: Sơ đồ hệ thống báo cháy tự động của thành phố - bài giảng ATLD và Môi trường công nghiệp
Hình 4.1 Sơ đồ hệ thống báo cháy tự động của thành phố (Trang 70)
Bảng 7.2: Số lượng xe cơ giới đã đăng ký từ 1996 - 1998 ở Việt Nam - bài giảng ATLD và Môi trường công nghiệp
Bảng 7.2 Số lượng xe cơ giới đã đăng ký từ 1996 - 1998 ở Việt Nam (Trang 101)
Bảng 7.3: Số lượng xe ô tô lưu hành (Tính đến tháng 9/1999) - bài giảng ATLD và Môi trường công nghiệp
Bảng 7.3 Số lượng xe ô tô lưu hành (Tính đến tháng 9/1999) (Trang 101)
Bảng 7.7: Các phương pháp phân tich dự báo tác động môi trường do dự án giao thông - bài giảng ATLD và Môi trường công nghiệp
Bảng 7.7 Các phương pháp phân tich dự báo tác động môi trường do dự án giao thông (Trang 111)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w