HOÀNG XUÂN TRƯỜNG SỞ HỮU RUỘNG ĐẤT VÀ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN ĐẠI TỪ THÁI NGUYÊN NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam Mã số: 60.22.54 LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ Ngư
Trang 1HOÀNG XUÂN TRƯỜNG
SỞ HỮU RUỘNG ĐẤT VÀ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Ở HUYỆN ĐẠI TỪ (THÁI NGUYÊN)
NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60.22.54
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐÀM THỊ UYÊN
THÁI NGUYÊN - 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Luận văn “Sở hữu ruộng đất và kinh tế nông nghiệp ở huyện Đại Từ
(Thái Nguyên) nửa đầu thế kỉ XIX” được thực hiện từ tháng 10/2011 đến
tháng 8/2012 Luận văn sử dụng những thông tin từ nhiều nguồn khác nhau Các thông tin này đã được chỉ rõ nguồn gốc Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học
vị nào Các tài liệu tham khảo có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng
Thái Nguyên, ngày …tháng…năm 2012
Tác giả luận văn
Hoàng xuân Trường
Trưởng Khoa Xác nhận của cán bộ hướng dẫn
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Mục lục ii
Danh mục các chữ viết tắt iv
Danh mục bảng biểu v
Danh mục biểu đồ vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục đích, đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu của đề tài 5
4 Nguồn tư liệu của đề tài 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp của đề tài 6
7 Cấu trúc của đề tài 7
Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN ĐẠI TỪ - TỈNH THÁI NGUYÊN 10
1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 10
1.2 Dựng đặt và diên cách huyện 15
1.3 Đặc điểm dân cư và quá trình tộc người 18
1.4 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội huyện Đại Từ 28
1.5 Truyền thống lịch sử huyện Đại Từ 31
Chương 2 SỞ HỮU RUỘNG ĐẤT Ở HUYỆN ĐẠI TỪ NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX 36
2.1 Địa bạ huyện Đại Từ nửa đầu thế kỉ XIX 36
Trang 42.2 Sở hữu ruộng đất ở huyện Đại Từ theo địa bạ năm Gia Long
4 (1805) 40
2.3 Sở hữu ruộng đất ở huyện Đại Từ theo địa bạ Minh Mạng 21 (1840) 60
2.4 So sánh sở hữu ruộng đất ở Đại Từ nửa đầu thế kỉ XIX theo địa bạ Gia Long 4 (1805) và Minh Mạng 21 (1840) 72
2.5 Chế độ tô thuế 81
Chương 3 KINH TẾ NÔNG NGHIỆP HUYỆN ĐẠI TỪ NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX 86
3.1 Trồng trọt 86
3.2 Chăn nuôi 96
3.3 Kinh tế tự nhiên 98
3.4 Nghi lễ và tín ngưỡng liên quan đến trồng trọt 101
KẾT LUẬN 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
Trang 5Thí dụ: 18 mẫu 6 sào 6 thước 5 tấc 2 phân sẽ được viết tắt là 18.6.6.5.2
Nxb : Nhà xuất bảnPGS : Phó giáo sư
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 1.1: Thành phần các dân tộc của huyện Đại Từ 20
Bảng 2.1: Thống kê địa bạ huyện Đại Từ nửa đầu thế kỉ XIX 38
Bảng 2.2: Thống kê địa bạ huyện Đại Từ năm Gia Long 4 (1805) 43
Bảng 2.3: Tổng diện tích các loại ruộng đất năm Gia Long 4 (1805) 44
Bảng 2.4: Quy mô sở hữu ruộng tư của Đại Từ (1805) 48
Bảng 2.5: Diện tích thổ trạch, viên trì (1805) 50
Bảng 2.6: Tình hình giới tính trong sở hữu tư nhân năm 1805 53
Bảng 2.7: Quy mô sở hữu ruộng tư theo các nhóm họ năm 1805 55
Bảng 2.8: Sở hữu ruộng đất của các chức sắc theo địa bạ Gia Long 4 (1805) 57
Bảng 2.9: Thống kê địa bạ huyện Đại Từ năm Minh Mạng 21 (1840) 61
Bảng 2.10: Tổng diện tích các loại ruộng đất năm Minh Mạng 21 (1840) 62
Bảng 2.11: Quy mô sở hữu ruộng tư của Đại Từ (1840) 63
Bảng 2.12: Diện tích thổ trạch, viên trì năm 1840 65
Bảng 2.13: Tình hình giới tính trong sở hữu tư nhân năm 1840 66
Bảng 2.14: Quy mô sở hữu ruộng tư theo các nhóm họ năm 1840 67
Bảng 2.15: Sở hữu ruộng đất của các chức sắc theo địa bạ Minh Mạng 21 (1840) 69
Bảng 2.16: So sánh sự phân bố các loại ruộng đất của Đại Từ theo địa bạ Gia Long 4 (1805) và Minh Mạng 21 (1840) 73
Bảng 2.17: Quy mô sở hữu ruộng tư của 7 xã thôn năm 1805 và 1840 74
Bảng 2.18: Quy mô sở hữu ruộng đất của các nhóm họ năm 1805 và 1840 77
Bảng 2.19: So sánh tình hình sở hữu ruộng đất của các chức sắc năm 1805 và 1840 80
Bảng 2.20: Biểu thuế ruộng công, tư năm 1803 82
Bảng 2.21: Biểu thuế thời Minh Mạng (1840) 84
Trang 7DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 2.1: Sự phân bố các loại ruộng đất ở Đại Từ năm 1805 44
Biểu đồ 2.2: Quy mô sở hữu ruộng tư của Đại Từ (1805) 48
Biểu đồ 2.3: Mối tương quan giữa ruộng đất của chức sắc và các tầng lớp xã hội khác năm 1805 58
Biểu đồ 2.4: Sự phân bố các loại ruộng đất của Đại Từ năm 1840 62
Biểu đồ 2.5: Quy mô sở hữu ruộng tư ở Đại Từ năm 1840 63
Biểu đồ 2.6: Mối tương quan giữa ruộng đất của chức sắc và các tầng lớp xã hội khác năm 1840 71
Biểu đồ 2.7: Sự thay đổi các loại ruộng đất năm 1805, 1840 73
Biểu đồ 2.8: Quy mô sở hữu ruộng đất của 7 xã thôn tại thời điểm 1805 và 1840 75
Biểu đồ 2.9: So sánh quy mô sở hữu theo nhóm họ giữa 2 thời điểm 1805, 1840 78
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Chúng ta đang được hưởng một món quà vô cùng quý giá mà thiên nhiên ban tặng đó là đất đai Từ xa xưa, ruộng đất như gắn liền với cuộc sống của nhân loại Bước phát triển vĩ đại nhất trong lịch sử loài người đó là chuyển từ săn bắt hái lượm sang trồng trọt chăn nuôi mà ruộng đất là một trong những điều kiện tiên quyết cho cuộc cách mạng này Và kể từ sau cuộc cách mạng này ruộng đất luôn gắn liền với lịch sử của nhân loại, gắn liền với cuộc sống con người Ruộng đất là một bộ phận không thể thiếu để con người tồn tại và phát triển Những vấn đề như phân chia giai cấp, hình thức sở hữu,
địa tô thuế khóa… là những vấn đề nổi cộm trong lịch sử nhân loại
Nước ta dưới chế độ phong kiến, nông nghiệp luôn giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế Vấn đề ruộng đất cùng với các vấn đề khác như thuỷ lợi, tập quán sản xuất…được coi là những yếu tố kinh tế cơ bản của quốc gia.,
là thứ tài sản vô giá, thiêng liêng và trường tồn với thời gian Vì vậy, mà các vương triều phong kiến bằng cách trực tiếp hay gián tiếp đều cố gắng nắm lấy ruộng đất.Và thông qua chính sách ruộng đất của các triều đại sẽ cho chúng ta một bức tranh toàn cảnh về xã hội Việt Nam nhất là chế độ phong kiến Việt Nam trong lịch sử
Chính sách ruộng đất sẽ góp phần phản ánh tình hình kinh tế xã hội của nước ta qua các triều đại khác nhau, từ đời sống của nhân dân cũng như của giai cấp địa chủ phong kiến, cho đến tình hình văn hoá xã hội diễn ra và biến
đổi như thế nào Thông qua chính sách ruộng đất dưới triều đại này sẽ là một
minh chứng cụ thể, sắc nét phản ánh tình hình của quốc gia, vai trò của Nhà nước đối với nông dân, đồng thời cũng cho thấy bản chất bóc lột mang tính triệt để của giai cấp phong kiến và sự bần cùng hoá của người nông dân
Trang 9Mặt khác, vấn đề ruộng đất ở mỗi địa phương bên cạnh những nét chung còn chứa đựng những nét đặc thù mà chúng ta cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu Chính vì lẽ đó mà việc tìm hiểu tình hình ruộng đất của một địa phương trong một giai đoạn lịch sử nhất định sẽ giúp chúng ta có cái nhìn và
sự hiểu biết khá căn bản và toàn diện về tình hình kinh tế - xã hội địa phương
đó đặt ra Có như vậy mới có thể rút ra được những bài học để có phương
hướng đúng xử lí vấn đề, tạo cơ sở cho sự phát triển sản xuất
Việc nghiên cứu địa bạ nhằm tìm hiểu vấn đề ruộng đất và kinh tế nông nghiệp còn mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn như giáo sư Trương Hữu Quýnh đã từng cho rằng việc nghiên cứu chế độ ruộng đất là phương pháp luận trong việc nghiên cứu khái quát tiến trình phát triển của xã hội Việt Nam
Đồng thời ta thấy rằng “Lịch sử là thầy dạy của cuộc sống” Do đó sự tồn tại
của mỗi triều đại lịch sử bao giờ cũng gắn liền với việc giải quyết vấn đề ruộng đất của xã hội trước đó đặt ra Vì vậy, lịch sử đã để lại cho chúng ta
những bài học bổ ích chừng nào nước ta còn là một nước nông nghiệp
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng cộng sản Việt Nam luôn luôn khẳng định vị thế chiến lược của vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân Ngày nay chúng ta đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh trong đó công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn giữ
vị trí quan trọng Nói một cách khác tìm hiểu nông nghiệp cổ truyền Việt Nam không chỉ để giải quyết những vấn đề của quá khứ mà trên một mức độ không kém phần quan trọng trong công cuộc xây dựng và cải tạo nông thôn mới, bảo đảm kết hợi hài hoà giữa văn minh hiện đại với bản sắc truyền thống Đó cũng là nguyên lý của việc nghiên cứu lịch sử: Muốn hiểu biết hiện tại, cần nắm vững quá khứ, hiểu biết quá khứ càng sâu sắc thì nhận thức hiện tại càng chính xác, là mối liên hệ giữa quá khứ và hiện tại
Trang 10Với những lý do trên, tôi quyết định chọn vấn đề: “Sở hữu ruộng đất và kinh tế nông nghiệp ở huyện Đại Từ (Thái Nguyên) nửa đầu thế kỉ XIX” làm vấn
đề nghiên cứu Thông qua đó, chúng tôi hi vọng góp phần nhỏ bé của mình vào
việc tìm hiểu cơ cấu sử dụng và khai phá đất đai, các hình thái sở hữu ruộng đất,
sự phân hoá xã hội, mức độ sở hữu điền thổ của các giai tầng trong xã hội cũng như tập quán sản xuất nông nghiệp của địa phương Từ đó chúng ta có thể hình dung được phần nào bức tranh làng xã ở huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên nửa đầu thế kỉ XIX và kết hợp với những tư liệu khác có thể nghiên cứu về dân số học lịch
sử Bên cạnh đó, tác giả mong muốn góp thêm cơ sở khoa học cho Đảng bộ và chính quyền địa phương trong việc quản lý ruộng đất, phát triển kinh tế nông nghiệp trong giai đoạn cách mạng hiện tại
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tình hình ruộng đất và kinh tế nông nghiệp từ lâu đã được các sử gia Có thể ra các tác phẩm tiêu biểu có đề cập đến vấn đề nông nghiệp và ruộng đất như:
Lịch triều hiến chương loại chí, Kiến văn tiểu lục, Vân đài loại ngữ, Đại Nam
nhất thống chí, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Đồng Khánh dư địa chí
Vào cuối thập kỉ 50 và đầu thập kỉ 60 xuất hiện cuốn “Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê sơ”(1959) của tác giả Phan Huy Lê
Trong tác phẩm này, tác giả đã trình bày những nét lớn về chính sách ruộng
đất – nông nghiệp của Nhà nước Lê sơ thế kỉ XV Nguồn tư liệu chủ yếu
của tác phẩm là những bộ sử cũ của các sử gia phong kiến
Từ những năm cuối thập kỉ 70, đầu thập kỉ 80 đến nay xuất hiện một số chuyên khảo khá quy mô, đánh dấu một bước tiến mới trong việc nghiên cứu vấn đề ruộng đất
Tác giả Đặng Phong (1970) trong tác phẩm “Kinh tế thời nguyên thủy ở Việt Nam” trình bày, phân tích một cách sâu sắc về các ngành
kinh tế ở Việt Nam như hái lượm, săn bắt, trồng trọt, chăn nuôi, các nghành thủ công…
Trang 11Vũ Huy Phúc (1979), Tìm hiểu chế độ ruộng đất Việt Nam nửa đầu thế
kỷ XIX, đã hệ thống hoá những chính sách lớn về ruộng đất của nhà Nguyễn,
thiết chế và kết cấu ruộng đất được hình thành từ chính sách đó, cũng như tác
động và hậu quả của nó đối với yêu cầu phát triển của lịch sử
Trương Hữu Quýnh trong công trình gồm 2 tập“Chế độ ruộng đất ở Việt Nam thế kỉ XI – XVIII” (1982 và 1983), tác giả đã phác ra những nét chính về sự
tiến triển của chế độ ruộng đất ở nước ta từ thế kỉ XI đến thế kỉ XVIII, qua đó bước đầu vạch ra xu thế phát triển chủ yếu cũng như tính chất kinh tế - xã hội của
nó Bên cạnh việc sử dụng các bộ chính sử, tác giả còn huy động một nguồn tư liệu địa phương khá phong phú (bao gồm văn bia, gia phả…) Vì vậy, chuyên khảo này còn có ý nghĩa trong việc cung cấp những tư liệu tham khảo có giá trị về vấn đề sở hữu ruộng đất dưới thời phong kiến
Tác phẩm “Tình hình ruộng đất, nông nghiệp và đời sống nông dân dưới triều Nguyễn” (1997), do Trương Hữu Quýnh và Đỗ Bang chủ biên
nghiên cứu một cách cụ thể về tình hình ruộng đất chủ yếu thông qua tài liệu
địa bạ Bên cạnh đó tác phẩm còn nêu lên các chính sách về nông nghiệp đặc
biệt là các chính sách về ruộng đất của triều Nguyễn
Trong luận án “Công cuộc khẩn hoang thành lập huyện Kim Sơn (1829)” (1999), tác giả Đào Tố Uyên đã vạch ra những điểm cơ bản và
diễn biến của chế độ ruộng đất ở huyện Kim Sơn nửa đầu thế kỉ XIX
“Huyện Quảng Hòa (tỉnh Cao Bằng) từ khi thành lập đến giữa thế kỉ XIX” của tiến sĩ Đàm Thị Uyên đã trình bày khái quát về vị trí địa lý, điều
kiện tự nhiên, dân cư và kinh tế xã hội của huyện Đồng thời luận án cũng làm rõ tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của huyện từ khi thành lập đến giữa thế kỉ XIX Đặc biệt trong phần kinh tế, tác giả đã đi sâu nghiên cứu vấn đề ruộng đất và kinh tế nông nghiệp của Quảng Hòa dưới triều Nguyễn Luận án đã giúp ích coi việc nghiên cứu tình hình ruộng đất và kinh
tế nông nghiệp miền núi
Trang 12Năm 2009, Nhà xuất bản chính trị quốc gia đã xuất bản cuốn “Địa chí Thái Nguyên” Cuốn sách đã trình bày cụ thể về kinh tế, văn hoá, xã hội của
tỉnh Thái Nguyên cũng như của các huyện trên địa bàn tỉnh
Như vậy, cho đến nay chưa có một công trình nào đi sâu tìm hiểu “Sở hữu ruộng đất và kinh tế nông nghiệp ở huyện Đại Từ (Thái Nguyên) nửa đầu thế kỉ XIX” Chính vì vậy, vẫn còn nhiều vấn đề về chế độ sở hữu ruộng đất,
thành phần dân tộc, tình hình kinh tế nông nghiệp của vùng này còn trống
vắng cần được nghiên cứu Mặc dù vậy, chúng tôi vẫn xem thành quả của
những nhà nghiên cứu đi trước là những ý kiến gợi mở quý báu giúp chúng tôi có thể hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu của mình
3 Mục đích, đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu của đề tài
- Mục đích của đề tài: Phản ánh khách quan, khoa học tình hình sở hữu
ruộng đất nửa đầu thế kỉ XIX và kinh tế nông nghiệp của huyện Đại Từ nhằm tái hiện lại một phần bức tranh lịch sử địa phương Đồng thời góp phần hoàn thiện kiến thức chuyên môn cho bản thân, phục vụ cho công tác giảng dạy
- Đối tượng nghiên cứu: Tình hình ruộng đất và kinh tế nông nghiệp
huyện Đại Từ nửa đầu thế kỷ XIX
- Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn về không gian: vấn đề được tìm hiểu là
huyện Đại Từ (tỉnh Thái Nguyên) giai đoạn nửa đầu thế kỉ XIX gồm 7 tổng với 27 xã, trang Giới hạn về thời gian nghiên cứu của đề tài là huyện Đại Từ
ở hai thời điểm Gia Long 4 (1805) và Minh Mạng 21 (1840) Tuy nhiên vấn
đề hành chính của huyện được xem xét theo tiến trình lịch sử của tỉnh Thái
Nguyên từ khi lập nước (thời Hùng Vương) cho đến hiện tại
- Nội dung nghiên cứu: Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, dân cư, đặc
điểm kinh tế - xã hội của huyện trong quá khứ và hiện tại Nội dung chính cần
phải làm rõ là tình hình sở hữu ruộng đất và kinh tế nông nghiệp của huyện
Đại Từ nửa đầu thế kỉ XIX
Trang 134 Nguồn tư liệu của đề tài
- Tài liệu chung: Các cuốn sách cổ có đề cập đến nội dung nghiên cứu
như: Đại Nam nhất thống chí, Đại Nam thực lục, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Đồng Khánh dư địa chí, Kiến văn tiểu lục, Vân đài loại ngữ…
Bên cạnh đó là các tài liệu nghiên cứu về ruộng đất cũng như kinh tế
nông nghiệp như: Chế độ ruộng đất ở Việt Nam từ thế kỷ XI-XVIII của Trương Hữu Quýnh, Tìm hiểu chế độ ruộng đất Việt Nam của Vũ Huy Phúc, Địa Bạ Hà Đông của Phan Huy Lê và P.Brocheux, Nghiên cứu địa
bạ triều Nguyễn của Nguyễn Đình Đầu
- Nguồn tư liệu thực địa, điền dã: các tài liệu truyền miệng, truyện kể,
truyền thuyết, ca dao, tục ngữ địa phương…có đề cập đến vấn đề ruộng đất và kinh tế nông nghiệp
- Nguồn tư liệu địa bạ: 21 địa bạ có niên đại Gia Long 4 (1805) và 13
địa bạ thời Minh Mạng 21 (1840) của huyện được khai thác tại Trung tâm lưu
trữ Quốc gia I (Hà Nội)
5 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở thực tế là nguồn tư liệu địa bạ triều Nguyễn, chúng tôi đặc biệt chú ý khâu giám định, xử lý số liệu, so sánh, đối chiếu với các nguồn tư liệu khác có liên quan
Đồng thời chúng tôi sử dụng phương pháp hồi cố và điền dã làm trọng
tâm Sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc, phương pháp thống
kê, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp phân loại, phương pháp phê phán tư liệu nhằm mục đích làm rõ vấn đề nghiên cứu
6 Đóng góp của đề tài
- Đề tài là sự tổng hợp các tài liệu có đề cập đến huyện Đại Từ về: Điều
kiện tự nhiên, đặc điểm dân cư và quá trình tộc người, tình hình kinh tế
- Thống kê địa bạ huyện Đại Từ góp phần làm rõ tình hình ruộng đất của
huyện nửa đầu thế kỉ XIX Trên cơ sơ phân tích địa bạ, đề tài tìm hiểu phong tục
Trang 14tập quán liên quan đến ruộng đất và nông nghiệp của đồng bào các dân tộc huyện Đại Từ nửa đầu thế kỷ XIX
- Học hỏi kinh nghiệm của cha, ông trong việc quản lý và khai thác đất
đai Cung cấp thêm tư liệu giúp địa phương phát triển kinh tế nông nghiệp
một cách có hiệu quả nhất, góp phần vào công cuộc xây dựng nông thôn mới
do ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa 10 ngày 5/8/2008 đã ra Nghị quyết
số 26 về nông nghiệp, nông dân và nông thôn
7 Cấu trúc của đề tài
Luận văn được chia làm 3 phần, phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận Ngoài ra còn có tài liệu tham khảo và phần phụ lục
Phần nội dung được chia làm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về huyện Đại Từ - Tỉnh Thái Nguyên (25 trang) Chương 2: Sở hữu ruộng đất ở huyện Đại Từ nửa đầu thế kỷ XIX (50 trang)
Chương 3: Kinh tế nông nghiệp huyện Đại Từ nửa đầu thế kỷ XIX (21 trang)
Trang 15B Ả N ĐỒ HÀNH CHÍNH T Ỉ NH THÁI NGUYÊN
Trang 17Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN ĐẠI TỪ - TỈNH THÁI NGUYÊN
1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lý
Đại Từ là một huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Thái
Nguyên Địa giới của huyện vào nửa đầu thế kỉ XIX đã được sách Đại Nam
nhất thống chí chép lại như sau: “Huyện Đại Từ ở cách phủ 60 dặm về phía nam, đông tây cách nhau 80 dặm, nam bắc cách nhau 30 dặm, phía đông giáp địa giới huyện Phổ Yên 68 dặm; phía tây giáp địa giới huyện Văn Lãng 12 dặm, phía nam đến núi Tam Đảo thuộc huyện Sơn Dương tỉnh Sơn Tây 18 dặm, phía bắc đến địa giới huyện Phú Lương 12 dặm” [24; tr 159] Như vậy,
diện tích xưa của huyện Đại Từ nếu xét với ngày nay nhỏ hơn rất nhiều
(huyện Đại Từ ngày nay bao gồm cả huyện Văn Lãng khi xưa)
Sau này, sách Đồng Khánh dư địa chí miêu tả chi tiết về vị trí xưa của
huyện Đại Từ:“Huyện Đại Từ cách phủ lỵ 60 dặm, kiêm nhiếp huyện Phú Lương Huyện lỵ đặt tại xã Hùng Sơn, tổng Hùng Sơn Thành đất đắp hình vuông, mỗi chiều dài 15 trượng, chu vi 72 trượng, cao 5 thước, dày 1 trượng,
4 mặt có hào rộng 1 trượng, sâu 3 thước, ngoài hào có lũy trúc bao quanh Huyện hạt phía đông giáp xã Kim Bảng huyện Phổ Yên, phía tây giáp xã Thượng Lãm huyện Văn Lãng, phía nam giáp xã Tam Đảo huyện Tam Dương tỉnh Sơn Tây, phía bắc giáp xã Phục Linh huyện Phú Lương Đông tây cách
nhau 80 dặm, nam bắc cách nhau 30 dặm” [3, tr 810]
Trải qua những biến động về lịch sử hành chính, địa giới của huyện cũng có những thay đổi Ngày nay, Đại Từ nằm ở phía tây bắc của tỉnh Thái Nguyên, cách thành phố Thái Nguyên 25 km trong tọa độ 21030’ đến 21050’ vĩ
Trang 18độ Bắc, 1050
32’ đến 105042’ kinh độ Đông Phía bắc giáp huyện Định Hóa và Phú Lương, phía Đông giáp thành phố Thái Nguyên, phía nam giáp huyện
Phổ Yên, phía tây là dãy núi Tam Đảo chạy dọc theo hướng tây bắc - đông
nam, cũng là địa giới tự nhiên của huyện và tỉnh Thái Nguyên với 2 tỉnh Tuyên Quang và Vĩnh Phúc
Với vị trí địa lý này, Đại Từ luôn giữ vai trò là vùng đất hiểm yếu của tỉnh Thái Nguyên Là căn cứ quân sự có tính chất công thủ toàn diện trong các cuộc kháng chiến của dân tộc nhất là giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp Đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi cho sự tiếp xúc, giao thoa văn hóa giữa đồng bằng và miền núi
1.1.2 Điều kiện tự nhiên
Địa hình huyện Đại Từ nằm trong vùng thuộc chu kì tạo sơn Canêđôni,
cách ngày nay khoảng 480 triệu năm và hình thành xong trong thời kì Đại Cổ sinh cách ngày nay khoảng 225 triệu năm Trong lần vận động kiến tạo cách ngày nay khoảng từ 25 – 28 triệu năm đã làm cho khu vực Đại Từ được nâng cao thêm 200m đến 500m
Sự tác động của quá trình vận động địa chất trên đã quy định đặc điểm của địa hình nơi đây là vùng trung du và miền núi, có độ dốc thoai thoải từ
đông bắc xuống đông nam với độ cao trung bình là 300m Nơi địa hình cao
nhất ở phía tây bắc của huyện thuộc dãy Tam Đảo với độ cao trên 1400m rồi giảm nhanh xuống thung lũng sông Công và lòng hồ Núi Cốc Song song với dãy Tam Đảo là những dãy núi thấp ở phía đông nam như núi Thằn Lằn, núi Pháo… Nhìn từ trên xuống, huyện Đại Từ giống như một thung lũng nhỏ
được bao quanh bởi một vành đai núi xanh mướt, nằm nép mình bên dãy Tam Đảo sừng sững
Với địa thế này, Đại Từ có vai trò quan trọng trong lĩnh vực quân sự Tuy nhiên lại gây trở ngại rất lớn cho việc giao thông của huyện
Trang 19Vùng đất Đại Từ nhiều suối, ít sông “Một dòng sông từ bến Tuân Độ,
xã Cổ Lãm chảy xuống xã Yên Thái, thông sang huyện Phú Lương dài 108 dặm, rộng 6 trượng, sâu 7 thước rải rác có bãi đá ngầm, thuyền bè đi lại khó khăn” [3, tr 811]
Con sông lớn nhất ở Đại Từ là sông Công, bắt nguồn từ vùng rừng núi
Điềm Mạc (huyện Định Hóa) chảy theo hướng tây bắc – đông nam Đoạn
sông Công chảy qua Đại Từ bắt đầu từ xã Minh Tiến qua các xã Phú Cường, Phú Thịnh, Bản Ngoại, Tiên Hội, thị trấn Đại Từ xuống các xã Hùng Sơn, Tân Thái rồi đổ vào hồ Núi Cốc
Mặc dù có duy nhất một con sông nhưng Đại Từ lại được ưu đãi từ dãy Tam Đảo và hệ thống các núi khác tạo ra 53 con suối lớn nhỏ đổ vào sông Công Các suối này có chung đặc điểm là ngắn và chảy mạnh Hệ thống thủy văn của Đại Từ không có giá trị lớn về vận tải đường thủy nhưng có một vai trò cực kì quan trọng trong việc cung cấp nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và cuộc sống sinh hoạt cho người dân trong huyện
Từ thời Pháp thuộc, khi đặt chế độ cai trị ở Việt Nam, người Pháp đã nhận thấy giá trị kinh tế của hệ thống sông suối Đại Từ Công sứ Thái Nguyên
Ê-si-na đã nhận xét: “Đây là một huyện hứa hẹn đầy tương lai…, việc tưới nước cũng được thuận lợi nhờ có con sông chảy từ tây bắc xuống đông nam
và rất nhiều dòng thác từ dãy Tam Đảo đổ xuống” [38, tr.12]
Đại Từ còn có nhiều hồ đập nhân tạo, có thể kể đến như hồ Núi Cốc (Tân
Thái), hồ Vai Miếu (Kí Phú) Trong đó lớn nhất là hồ Núi Cốc có diện tích 2500ha trong đó diện tích mặt nước là 769ha, có đập chính dài 48m và 6 đập phụ
độ sâu trung bình là 23m, dung tích 175 triệu m3
đảm bảo cung cấp cho các khu công nghiệp thành phố Thái Nguyên, thị xã Sông Công và cung cấp nước tưới cho 12.000 ha lúa, 6.900 ha cây công nghiệp của các huyện Đại Từ, Phổ Yên, Phú Bình, thị xã Sông Công và thành phố Thái Nguyên Hồ Núi Cốc cũng là một
Trang 20danh lam thắng cảnh nổi tiếng của tỉnh Thái Nguyên, hàng năm đón hàng chục vạn khách du lịch trong và ngoài nước đến tham quan và nghỉ mát
Khí hậu Đại Từ mang nét rất chung của vùng trung du miền núi phía Bắc
Sách Đại Nam nhất thống chí chép về khí hậu tỉnh Thái Nguyên trong đó có
phản ánh những đặc điểm mang tính khác biệt nơi đây: “Hàng năm cuối mùa xuân mới hơi nóng, đến mùa hè nóng lắm, đầu mùa thu lạnh dần, đến mùa đông rét lắm Vì địa thế có nhiều núi cao nên rét nhiều nóng ít… các huyện Tư Nông, Đồng Hỷ, Phú Bình, Bình Xuyên khí lam chướng nhẹ còn các huyện khác thì nặng mà huyện Đại Từ và Vũ Nhai lại nặng hơn cả” [24, tr 162-163] “Dư địa chí của Nguyễn Trãi nói trong cả nước có 29 xứ nước độc, mà nước ở Đại Từ
và Vũ Nhai thuộc Thái Nguyên là 2 xứ Ngô (Thì) Sĩ nói: Vũ Nhai và Đại Từ nước rất độc, dầu người địa phương cũng không chịu nổi, phần nhiều mắc bệnh sốt rét” [24, tr 173]
Và đặc điểm nổi bật của khí hậu huyện Đại Từ được ghi chép khá chi
tiết trong sách Đồng Khánh dư địa chí: “Các tháng giêng, tháng hai thường
có gió bắc lạnh rét, mưa dầm cả tuần đến tháng ba trời mới ấm Tháng 5, tháng 6 mùa hạ nóng bức thường có gió đông nam thổi mạnh Mùa thu thường có mưa to, gió lớn, khí lạnh Đến mùa đông càng rét đậm Sương mù che phủ khắp trời đến giờ Tỵ mới tan” [3, tr 811]
Ngày nay, chúng ta thấy rằng khí hậu của Đại Từ được hình thành do
đặc điểm của khu vực tạo nên bởi các cánh cung lớn Tây Bắc và Việt Bắc gần
như đồng quy về tỉnh Thái Nguyên nói chung và huyện Đại Từ nói riêng, dạng địa hình này tạo điều kiện thuận lợi cho sự xâm nhập khí lạnh từ phương Bắc vào sâu suốt lãnh thổ qua các huyện miền núi của tỉnh vào Đại Từ, đồng thời cũng chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Nam thổi tới Đặc trưng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thể hiện qua các chỉ số: Nhiệt độ trung bình 22,90C, nhiệt
độ cao nhất trung bình trong năm là 27,20
C, nhiệt độ thấp nhất trung bình
Trang 21trong năm là 200C; tổng nhiệt độ năm của huyện Đại Từ là 7.000 – 8.0000C
Đại Từ có lượng mưa cao bình quân từ 1.872mm/năm, hệ số ẩm ướt của Đại
Từ cao phù hợp cho cây trồng phát triển đặc biệt là cây chè Lượng mưa phân
bố không đều theo không gian và thời gian, lượng mưa có chênh lệch lớn giữa mùa mưa và mùa khô Về mùa mưa cường độ mưa lớn, chiếm tới gầm 80% tổng lượng mưa trong năm Độ ẩm không khí khá cao, trung bình theo tháng biến thiên từ 78 – 86%, trung bình năm 82%
Khí hậu có 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, gió Đông Nam khí hậu nóng ẩm và mưa nhiều Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 gió
Đông Bắc chiếm ưu thế lượng mưa ít thời tiết hanh khô Những đặc điểm của
khí hậu làm cho hoạt động kinh tế văn hóa của vùng vừa có nét chung lại vừa
có nét riêng đặc thù
Huyện Đại Từ có diện tích đất tự nhiên là 57.890ha (năm 2003), trong
đó đất nông nghiệp chiếm 26,87% (15.557ha), đất lâm nghiệp 45,13%
(26.123ha), còn lại là đất phi nông nghiệp chiếm 10,65% (6.165ha) trong tổng diện tích hiện có thì diện tích đất chưa sử dụng chiếm 17,35% (10.045ha) chủ yếu là đất đồi núi và sông suối Đất đai ở Đại Từ khá phì nhiêu phần lớn là đất dốc tụ trên nền đá mẹ Gabrô nên việc canh tác dễ dàng Đặc biệt ở đây có loại
đất trên sườn đồi rất thích hợp cho việc phát triển các loại cây công nghiệp
Nhóm khoáng sản, gồm nhiều loại khoáng sản quý như thiếc (Hà Thượng khoảng 13.000 tấn), vonfram (ở khu vực Đá Liền trữ lượng khoảng
Trang 2228.000 tấn), quặng ti tan và quặng sắt trữ lượng lớn có rải rác ở các xã vùng phía bắc huyện, phốt pho có nhiều ở núi Vai (thuộc xã Kí Phú và Văn Yên)…Ngoài ra, còn nhiều kim loại khác tập trung nhiều nhất ở mỏ đa kim Núi Pháo với trữ lượng khoảng 100 triệu tấn
Vật liệu xây dựng gồm các mỏ đất sét, đá, cát, sỏi…
Động thực vật, là một huyện thuộc khu vực trung du miền núi phía Bắc
nhưng sản vật của địa phương khá nghèo nàn Đại Nam nhất thống chí thấy
ghi chép có “củ nâu” và ghi một cách chung chung rằng “nhung hươu, mật gấu, sáp ong sơn phận các huyện đều có” [24; tr 182] phần nào giúp chúng
ta khắc họa được lâm thổ sản nơi đây Đồng Khánh dư địa chí nhấn mạnh:
“Trong huyện sản vật chỉ có tre, vầu, nứa, củ nâu cùng các loài gỗ tạp, ngoài
ra không có sản vật gì quý” [3; tr 811]
Tóm lại, nhìn chung vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của huyện Đại
Từ rất thuận lợi để phát triển các ngành nông, lâm nghiệp…Tuy vậy, hiện nay nhìn chung mức sống của người dân nơi đây còn khá thấp, chất lượng cuộc sống còn nhiều khó khăn
1.2 Dựng đặt và diên cách huyện
Trong lịch sử phát triển, vùng đất Đại Từ luôn gắn liền với quá trình vận động của lịch sử Thái Nguyên qua các thời đại
Vào thời kì các vua Hùng dựng nước đã chia đất nước ta thành 15 bộ,
Đại Từ hồi ấy thuộc bộ Vũ Định
Đời Đường là đất châu Long và châu Võ Nga Trải qua các triều đại
phong kiến, Đại Từ thuộc các dơn vị hành chính khác nhau
Dưới triều Lý, nước ta là châu Thái Nguyên và châu Vũ Lặc
Đến triều Trần, năm Quang Thái thứ 10 (1397), Trần Thuận Tông đổi
châu Vũ Lặc thành trấn Thái Nguyên, phủ Phú Lương, trong đó có huyện Đại
Từ thuộc trấn Thái Nguyên
Trang 23“Thời thuộc Minh là phủ (Năm Vĩnh Lạc, mới đổi trấn Thái Nguyên làm châu Thái Nguyên gồm 11 huyện: Phú Lương, Tư Nông, Vũ Lễ, Đồng Hỉ, Vĩnh Thông, Tuyên Hóa, Lộng Thạnh, Đại Từ, An Định, Cảm Hóa, Thái Nguyên” [3, tr 810] Như vậy tên huyện có từ thời thuộc Minh
Năm 1412, đổi thành phủ Thái Nguyên Năm 1423, nhập huyện Tư Nông vào huyện An Định, huyện Đồng Hỉ vào huyện Phú Lương, huyện Đại
Từ vào huyện Tuyên Hóa (còn 8 huyện)
Đầu nhà Lê, huyện Đại Từ thuộc phủ Thái Nguyên, năm Quang Thuận
thứ 7 (1466) chia nước ta thành 12 đạo, Đại Từ thuộc phủ Phú Bình đạo Thái Nguyên Năm Quang thuận thứ 10 (1469) trên cơ sở hoạch định lại bản đồ hành chính, nhà Lê chia nước ta thành 12 thừa tuyên Đại Từ và những đơn vị hành chính khác của phủ Phú Bình thuộc thừa tuyên Ninh Sóc đời Hồng Đức năm thứ 21 (1490), thừa tuyên Ninh Sóc được lấy lại tên cũ là xứ Thái Nguyên lãnh 3 phủ, 8 huyện và 7 châu là:
Phủ phú Bình gồm 7 huyện: Phổ Yên, Đại Từ, Tư Nông, Bình Xuyên,
Đồng Hỉ, Phú Lương, Văn Lãng và 2 châu (Định Châu, Vũ Nhai)
Phủ Thông Hóa gồm 1 huyện (Cảm Hóa), 1 châu (Bạch Thông)
Phủ Cao Bằng (đời Quang Thuận gọi là Bắc Bình) lãnh 4 châu: Thượng Lang, Hạ Lang, Thạch Lâm, Quảng Uyên
Đời Lê Trung Hưng, sau chiến tranh Lê Mạc năm Vĩnh Trị thứ II
(1677) 4 châu phía Bắc bị nhà Mạc chiếm cứ gầm 70 năm nay mới được bình
định đặt riêng làm trấn Cao Bằng Trấn Thái Nguyên chỉ còn phần đất của 2
phủ Phú Bình và Thông Hóa Huyện Đại Từ thuộc phủ Phú Bình
Đầu thời Nguyễn, Gia Long vẫn gọi là trấn Thái Nguyên gồm 2 phủ,
9 huyện, 2 châu (như cũ, chỉ châu Vũ Nhai đổi làm huyện)
“Năm Minh Mạng thứ 12 (1831) chia tỉnh hạt goi là tỉnh Thái Nguyên, đặt các chức bố chánh và án sát, dưới quyền tổng đốc Ninh –
Trang 24Thái Năm thứ 16 (1835) trích lấy 4 châu huyện là Định Châu, Văn Lãng, Đại Từ và Phú Lương đặt thành phủ Tùng Hóa, các phủ huyện đều đổi đặt lưu quan” [24; tr 154-155] Huyện Đại Từ và châu Văn Lãng phía bắc Đại
Từ hiện nay thuộc phủ Tòng Hóa
Thời vua Đồng Khánh (1886 – 1889), huyện Đại Từ có 7 tổng gồm 28
xã, trang, phường: Tổng Kí Phú (2 xã): Kí Phú, Vân Yên; Tổng Yên Đổ (5 xã, trang): Yên Đổ, Cổ Lãm, Phúc Lâm, Du Châu, Cương Lăng; Tổng Tiên Sơn
(6 xã): Tiên Sơn, La Bình, Hoằng Nông, Tiên Hội, Phú Lá, Khôi Kì (Từ thời Minh Mạng về trước là Hoa Kì, năm Thiệu Trị kiêng chữ “hoa” đổi thành
Khôi Kì); Tổng Phú Minh Thượng (3 xã): Phú Minh Thưưọng, Phú Minh Hạ, Bản Ngoại; Tổng Hùng Sơn (6 xã, phường): Hùng Sơn, Yên Bằng, Huy Ngạc
(từ đời Minh Mạng về trước là Hoa Ngạc, năm Thiệu Trị kiêng chữ “hoa” nên
đổi thành Huy Ngạc), Yên Dã, Mỹ Trạng, phường Thuỷ Cơ xã Hùng Sơn; Tổng
Trường Lang (4 xã): Trường Lang, Lục Ba, Tràng Dương, Phúc Khánh; Tổng
Yên Thuận (2 xã): Yên Thuận, Yên Thái [3; tr 810 - 811]
Thời Pháp thuộc, tỉnh Thái Nguyên lại bị chia cắt một lần nữa Ngày 14 tháng 1 năm 1900, chúng lấy phần đất thuộc phủ Thông Hoá để thành lập tỉnh mới gọi là Bắc Kạn gồm 4 huyện: Bạch Thông, Na Rì, Ngân Sơn, Chợ Đồn Huyện Đại Từ thuộc địa phận tỉnh Thái Nguyên
Ngày 1 tháng 8 năm 1922, Đại Từ và Văn Lãng hợp lại làm một gọi là huyện Đại Từ gồm 9 tổng, 38 xã
Trong thời kì vận động cách mạng tháng Tám năm 1945, Đại Từ cùng
Định Hoá và Sơn Dương có vị trí trung tâm của chiến khu Nguyễn Huệ, có
thời gian được mang tên châu Giải phóng nằm trong chiến khu
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, đơn vị hành chính cấp tổng không tồn tại, các xã, làng, xóm ở Đại Từ có nhiều biến động do việc phân chia địa giới hành chính và đặt tên mới cho phù hợp
Trang 25Ngày 21 tháng 4 năm 1965, Uỷ ban thường vụ Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam) ra quyết định số 103-QN-TVQH thành lập tỉnh Bắc Thái trên cơ sở hợp nhất 2 tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn
Ngày 27 tháng 10 năm 1967, thành lập thị trấn Quân Chu
Ngày 1 tháng 10 năm 1983, xã Phúc Thọ sáp nhập với các xóm Tân Thắng, Đồng Đẳng của xã Phúc Thuận (huyện Phổ Yên), xóm Yên Ninh của
xã Phúc Trìu (huyện Đồng Hỷ) thành xã Phúc Tân thuộc huyện Phổ Yên Cùng ngày xóm Quyết Tiến của xã Tân Thái sáp nhập vào xã Bình Thuận thuộc huyện Đại Từ
Để đáp ứng yêu cầu và nguyện vọng của nhân dân các dân tộc và yêu
cầu của sự nghiệp cách mạng trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, ngày 6 tháng 11 năm 1996, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX kì họp thứ 10 đã phê chuẩn việc phân chia lại địa giới hành chính của một số tỉnh, trong đó chia tỉnh Bắc Thái thành 2 tỉnh Thái Nguyên
và Bắc Kạn Từ đó đến nay huyện Đại Từ thuộc tỉnh Thái Nguyên
Năm 2002, xã Phục Linh lại được chia thành 2 xã Phục Linh và Tân Linh Hiện nay, huyện Đại Từ gồm 29 xã và 2 thị trấn được chia làm 474 xóm và 8 tổ dân phố Thị trấn: Đại Từ và Quân Chu Xã: Anh Khánh, Bản Ngoại, Bình Thuận, Cát Nê, Cù Vân, Đức Lương, Hà Thượng, Hoằng Nông, Hùng Sơn, Khôi Kì, Kí Phú, La Bằng, Lục Ba, Minh Tiến, Mĩ Yên, Na Mao, Phú Cường, Phú Lạc, Phú Thịnh, Phú Xuyên, Phúc Lương, Phục Linh, Quân Chu, Tân Thái, Tiên Hội, Vạn Thọ, Văn Yên, Yên Lãng và Tân Linh
1.3 Đặc điểm dân cư và quá trình tộc người
Đại Từ là vùng đất đã được hình thành từ lâu đời Nơi này rừng sâu
nước độc, cỏ cây rậm rạp, xa xôi cách trở Với lịch sử lâu dài, quy tụ sự hình thành và tồn tại của nhiều dân tộc anh em đến sinh sống đã tạo nên một bộ
Trang 26mặt xã hội có những nét đặc trưng riêng biệt Tiến trình lịch sử của huyện Đại
Từ cũng chính là tiến trình lịch sử hình thành và phát triển của các dân tộc như Kinh, Tày – Nùng, Dao, Cao Lan – Sán Chí,… Mỗi dân tộc trong huyện đều có bản sắc văn hóa riêng của mình Trong sự nương tựa, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau giữa các làng bản, giữa các vùng trong quan hệ vừa
là thân thiện, vừa là láng giềng, bà con người Kinh cũng như người Tày, Nùng và các dân tộc khác đã tiếp nhận văn hóa của nhau, góp phần tạo nên tính cộng đồng cao của nhiều thế hệ người dân nơi đây
Đặc điểm nổi bật của cư dân trong huyện là gồm nhiều dân tộc khác
nhau cùng “Chung lưng đấu cật” xây bản, dựng làng Sách Đồng Khánh
dư địa chí chép: “Trong huyện người Kinh, người Thổ (Tày), người Mán ở xen nhau, tính tình phần nhiều quê mùa chỉ làm nghề nông, nghề rừng, chuộng quỷ thần, việc hôn nhân đều cẩu thả Hàng năm, cứ 3 tháng đông 3 tháng xuân vào đám tế thần, ca hát làm vui Người Mán Sơn Miêu ngụ cư ở các xã thì tập tục khác với người Kinh và người Thổ” [3, tr 811] Ý kiến
này không những phản ánh đặc điểm cư dân nơi đây mà còn cho chúng ta thấy những nét đặc trưng về hình thái kinh tế văn hóa nơi đây
Đặc điểm thứ hai của cư dân huyện Đại Từ là số người Kinh nhiều
hơn so với các dân tộc khác “Trong phủ hạt người Kinh, người Thổ (Tày), người Mán ở xen nhau Huyện Văn Lãng, thuộc Định Châu ở về miền thượng du, người Thổ và người Mán khá nhiều, các huyện Phú Lương, Đại
Từ ở vùng hạ du thì người Kinh nhiều hơn, trong đó có một số người biết chữ” [3, tr 806]
Theo tổng số liệu điều tra dân số trong năm 2009, huyện Đại từ có tổng số 159.667 người, là huyện có dân số lớn thứ hai của tỉnh, chỉ sau thành phố Thái Nguyên
Trang 27Bảng 1.1: Thành phần các dân tộc của huyện Đại Từ
STT Dân tộc Số lượng (người) Tỷ lệ (%) Ghi chú
(Nguồn: Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên, năm 2009)
Đặc điểm thứ ba của cư dân huyện Đại Từ có nhiều dân di cư đến, đông
nhất là từ các tỉnh Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình phiêu bạt đến sinh cơ lập nghiệp Họ đến Đại Từ do nhiều nguyên nhân chính trị - xã hội Một bộ phận là dân phu được tuyển mộ vào làm thuê cho bọn tư bản Pháp trong các đồn điền và hầm mỏ Một bộ phận khác vốn là đồng bào các tỉnh miền xuôi di cư lên khai phá đồi nương, mở rộng làng bản
Chính nét đặc thù về vị trí địa lý – là nơi chuyển tiếp giữa miền núi và miền xuôi – đã tạo nên sự đa dạng phong phú không chỉ về văn hóa mà còn làm phong phú thêm thành phần các dân tộc sinh sống trong huyện
Dân tộc Kinh: Là cư dân bản địa ở Đại Từ Từ xa xưa, họ đã cư trú nơi
đây Vào các thời điểm nhà Trần, nhà Lê, nhà Nguyễn nhiều xóm làng người
Kinh được hình thành thêm do các cuộc di thực từ Thanh Hóa, Bắc Giang, Bắc Ninh, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Hưng Yên… Do cuộc sống đói kém cơ cực, mất mùa hạn hán…họ đã bỏ làng đi phiêu tán và đã ngụ cư làm
Trang 28ăn sinh sống tại Đại Từ Bên cạnh đó còn có các quan lại triều đình phong
kiến cử lên làm quan tại tỉnh Thái Nguyên (dưới tác động của chính sách
“phiên thần” thời Lê và “lưu quan” thời Nguyễn) đã mang theo gia đình, bà
con trong dòng tộc tới định cư Qua khảo cứu địa bạ thì các dòng Nguyễn, Trần… chiếm số lượng lớn ở Đại Từ
Đáng chú ý là thời Pháp thuộc, khi thực dân Pháp đẩy mạnh khai thác
thuộc địa, cướp đoạt ruộng đất lập đồn điền, chúng đã mộ lao động từ các tỉnh miền xuôi lên làm cu li trong các đồn điền, hầm mỏ của chính quyền thực dân, vì vậy số lượng người Kinh trong huyện tăng lên Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, đồng bào từ các tỉnh vùng xuôi, từ các đô thị lên tản cư kháng chiến và cán bộ, bộ đội chuyển đến ở, sau đó sinh cơ lập nghiệp ở Đại Từ Hòa bình lập lại, Đại Từ tiếp tục nhận những người Kinh
đến sinh cơ, lập nghiệp, theo các chương trình kinh tế mới của Đảng và Nhà
nước Kết quả đưa đến là ngày nay người Kinh là bộ phận dân cư chiếm tới gần 3/4 dân số của huyện
Dân tộc Kinh sống hòa đồng cùng các dân tộc khác trong huyện trong
quá trình “người Kinh, người Thổ ở lẫn nhau”, họ đã mang theo phương thức
canh tác, kinh nghiệm sản xuất cũng như phong tục tập quán từ miền xuôi lên
Điều đó làm cho văn hóa của cư dân nơi đây thêm đa dạng, phong phú Đó là
tín ngưỡng thờ thành hoàng làng, xây dựng đình làng Trong quá trình phát triển người Kinh cũng đã Việt hóa các dân tộc khác đến sinh sống và tiếp thu những nét văn hóa của các dân tộc anh em khác trên địa bàn
Dân tộc Tày: Là một cộng đồng tộc người thuộc ngôn ngữ Tày – Thái,
có dân số đông thứ 2 trong số các dân tộc ở Đại Từ (sau người Kinh) Vì vậy, người Tày có vai trò chủ lực trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội… Nhìn chung cộng đồng Tày là một cộng đồng khá thuần nhất
Trang 29với những nét bản sắc văn hóa rất đặc trưng và có quan hệ thân thuộc, gần gũi với các dân tộc khác như Nùng, Cao Lan – Sán Chí…
Về tên gọi, bắt đầu từ thế kỉ XV dưới triều nhà Lê đến thời nhà Nguyễn, thậm chí cho đến hết thời Pháp thuộc, một tên gọi thống nhất vừa là tên gọi
mang ý nghĩa tộc người, vừa mang ý nghĩa thổ dân, dân bản xứ -“người Thổ”
đã xuất hiện trong các sách sử, sách địa lý của các học giả đương thời để phân
biệt với các nhóm tộc người khác như Mường, Mán, Nùng… Sau cách mạng tháng Tám đến nay, đa số ở các địa phương, cư dân đều thống nhất tên gọi là Tày và tên đó đã trở thành tộc danh chính thức của dân tộc trong giao dịch ở mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội nói chung
Có thể nói rằng trong số các dân thiểu số định cư và phát triển ở vùng núi phía Bắc của Việt Nam, người Tày là cư dân có mặt sớm nhất Mặc dù chính sử ghi chép muộn màng nhưng nghiên cứu lịch sử của tộc người này qua dân gian đã khẳng định rằng Thục Phán An Dương Vương chính là người sáng lập ra quốc gia Âu Lạc Các nhà khảo cổ học, các nhà nghiên cứu dân tộc đều thống nhất cho rằng ít nhất từ cuối thiên niên kỉ I TCN cộng đồng người Tày đã được xác lập ở Bắc Việt Nam Truyền thuyết dân gian của người Việt (Kinh) cũng gặp truyền thuyết dân gian người Tày ở các sự kiện lịch sử về sự tranh chấp và đi đến liên minh với nhau giữa bộ lạc Lạc Việt của nhóm Việt Mường (Hùng Vương đứng đầu) với bộ lac Âu Việt của nhóm người Tày - Nùng (do An Dương Vương đứng đầu) để lập ra nhà nước Âu – Lạc trong lịch sử đóng đô ở Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội)
Hiện nay ở Đại Từ, người Tày chủ yếu gồm các bộ phận sau do quá trình lịch sử đem lại:
Người Tày bản địa, họ là chủ nhân của nghề trồng lúa nước, các nhà khoa học cho rằng nghề nông trồng lúa nước đã ra đời ở vùng thung lũng từ
Trang 30Vân Nam – Quý Châu đến Tây Bắc, Việt Bắc, “vùng, cái nôi” của các dân tộc nói tiếng Tày – Thái
Bộ phận người Tày gốc Kinh từ miền xuôi lên, theo kiểu “Kinh già hóa Thổ” quá trình đó diễn ra như sau: Thứ nhất, là những quan chức Việt được
cử lên cai trị miền núi hoặc quan lính lên chinh chiến, đánh dẹp các cuộc nổi dậy ở miền núi sau phải lưu lại lâu dài…nên đã mang theo vợ con thân thuộc
đi theo, chiêu dân lập ấp…sau đã Tày hóa Một bộ có chức có quyền được cha
chuyền con nối cai trị từng địa phương, trở thành tầng lớp quý tộc địa
phương Thứ hai, do tranh chấp giữa các thế lực phong kiến, một số thế lực
người Việt đã dựa vào miền núi để xây dựng lực lượng cát cứ, về sau suy yếu, mai một…dư đảng nhiều khi phải thay tên đổi họ sống hòa vào nhân dân địa phương đồng hóa với cư dân địa phương như trường hợp dòng họ Mạc chẳng
hạn (ở Đại Từ có thành nhà Mạc do Mạc Kính Khoan xây dựng) Thứ ba, là
nhân dân miền xuôi do loạn lạc, tránh sự áp bức bóc lột nặng nề của phong kiến, hoặc đi sơ tán… lên miền núi kiếm ăn, buôn bán, dạy học… lâu rồi trở thành một bộ phận cùng địa phương hòa
Nói chung người Tày thuộc các dòng họ Đinh, Nguyễn, Trần đều là gốc người Kinh trong đó theo khảo sát địa bạ họ Nguyễn chiếm đa số trong các dòng họ nơi đây
Trong thực tế lịch sử, những người Tày đã góp phần sáng tạo nên nền văn hóa bản địa ở khắp các vùng trong huyện Sống xen kẽ vào các khu vực sinh sống của người Tày là các cư dân thuộc tộc người khác Chính vì thế,
văn hóa Tày đã ảnh hưởng, chi phối thậm chí “Tày hóa” không ít bộ phận tộc
người khác Và ngược lại, người Tày qua mối giao lưu kinh tế, văn hóa cũng hấp thụ những yếu tố văn hóa của các dân tộc láng giềng Năm 1999, xã Phúc Cường huyện Đại Từ có 80% người Tày sinh sống
Trang 31Quá trình giao lưu về văn hóa đó đã thúc đẩy các dân tộc trong huyện ngày một gần gũi nhau và phát triển với một nề văn hóa ngày càng phong phú
và đồng thời cũng có tác động qua lại, làm cho diện mạo văn hóa của từng dân tộc có những dáng vẻ, bản sắc khác nhau
Dân tộc Nùng: Chiếm tỷ lệ nhỏ hơn so với người Kinh và người Tày Đa
số người Nùng ở Việt Nam nói chung và ở Thái Nguyên nói riêng đều có nguồn gốc từ Trung Quốc Nguồn gốc xa xưa tộc danh Nùng có thể bắt nguồn
từ dòng họ Nùng – một trong 4 dòng họ có thế lực lớn (Nùng, Hoàng, Chu, Vi) ở vùng Tả Hữu Giang tức là các miền ở biên giới Đông Bắc Việt Nam và Quảng Tây ngày nay
Lê Quý Đôn trong “Kiến Văn Tiểu Lục” đã chép về sự có mặt của tộc Nùng
ở Tuyên Quang như sau: “Giống người Nùng đều là người 12 Thổ Châu ở Tiểu
Trấn Yên, Quy Thuận, Long Châu, Phù Châu, Thái Bình, Lôi Tử Thành và Hướng
Vũ thuộc Trung Quốc làm nghề cày cấy, trồng trọt cũng chịu thuế khóa, lao dịch, mặc áo vằn vải xanh, cắt tóc, trắng răng, có người trú ngụ đã đến vài ba đời, đổi theo tập tục người Nam, quan bản Thổ thường cấp cho họ một số ruộng làm khẩu phần, bắt họ chịu binh xuất Các xứ Lạng Sơn, Cao Bằng và Thái Nguyên đều có
giống người này” [6, tr 334] Đồng Khánh dư địa chí chép: “Người Nùng nguyên
là dân miền biên giới nước Thanh đến lưu cư, cách ăn mặc và tiếng nói hơi giống người Thanh [3, tr 789]
Ở Đại Từ chủ yếu là nhóm Nùng Cháo (quê ở Long Châu) Họ thiên
cư vào Đại Từ khoảng 300 – 400 năm, cũng có nhóm nhập cư không lâu Nguyên nhân có những người Nùng do bị áp bức, bóc lột của các thế lực phong kiến Hán, họ đã bỏ quê hương ở các tỉnh biên giới phía Bắc rồi dần
đi sâu vào nội địa trong đó có Đại Từ Cũng có người do giặc giã cướp bóc,
dịch bệnh mà di cư đến vùng này, thậm chí người mới đến đây cư trú sau chiến tranh biên giới
Trang 32Đến với Đại Từ, dân tộc Nùng đã hòa hợp với cư dân địa phương vừa đấu tranh khai phá thiên nhiên, vừa đoàn kết đấu tranh chống ngoại xâm trong
lịch sử phát triển của huyện
Dân tộc Sán Chay: Cộng đồng người Sán Chay ở Thái Nguyên nói
chung gồm 2 nhóm địa phương là Cao Lan và Sán Chí Về thành phần dân tộc tuy vẫn còn một số vấn đề đang được xem xét lại, song theo công bố chính thức vào tháng 3 – 1979 của Tổng Cục thống kê Cao Lan và Sán Chí đều thuộc cùng một dân tộc Đó là dân tộc Sán Chay Tại các địa phương ở Thái Nguyên, người Cao Lan có nhiều tên gọi khác nhau: Cao Lan, Hờn Bán, Sán Chay trong đó tên tự gọi Sán Chay là phổ biến hơn cả
Theo các nhà nghiên cứu, Cao Lan và Sán Chí là những cộng đồng mới di cư vào Việt Nam cách đây một vài trăm năm Trong Đại Nam nhất thống chí ở mục
phong tục tỉnh Thái Nguyên khi đề cập đến người Cao Lan có ghi: “Mán Cao Lan
cứ 3 năm 1 lần thay đổi chỗ ở, không có chỗ nào nhất định” [24, tr 163]
Trong những tài liệu cũ đều cho rằng Cao Lan là người Mán như Phong Thổ kí Tuyên Quang, Vĩnh Yên, Quảng Yên, Thái Nguyên, cho rằng Cao Lan
là Mán Quần Trắng, Mán Đại Bản… theo những người Cao Lan ở Đoan Hùng (Phú Thọ), tổ tiên của họ là người Bạch Vân Sơn, thuộc Khâu Châu, Khâu Liêm, Quảng Đông (Trung Quốc) đến đời Minh dưới sự chỉ huy của thủ lĩnh Ninh Văn Bính họ di cư sang Việt Nam Đầu tiên họ sang đến Hoành Bồ (Quảng Ninh) sau đó di cư sang Lạng Sơn Sau khi Ninh Văn Bính chết, tù trưởng Hoàng Văn Thân đã đưa một bộ phận người Cao Lan, Sán Chay sang Thái Nguyên sinh sống trong đó có Đại Từ
Trong thông báo khoa học của trường Đại học Tổng hợp (NXBGD, Hà Nội, 1966) Đặng Nghiêm Vạn cho rằng Cao Lan – Sán Chí là một, chịu ảnh hưởng của văn hóa Hán…
Trang 33Dân tộc Dao, Về tên tự gọi của bộ tộc này là “Kiềm Miền”, “Dìu Miền”,
“Kiềm Mùn” “Kiềm” có nghĩa là “rừng”; “Miền , Mùn” là “người” Kiềm Miền, Kiềm Mùn có nghĩa là “người ở rừng” Tên gọi này có tính chất phân
biệt, nó không phải là tên dân tộc chính thức của người Dao mà họ còn có tên
chính thức khác là “Dìu Miền”, người Áo Dài phát âm là “Tù Miền” Nhưng tựu chung đều phát âm “Dìu” theo Hán Việt là “Dao”, Dìu Miền là người
Dao Tên gọi này cũng được nhắc đến trong một số tài liệu cổ của người Dao
“Phát thượng sơn dầu thành Dao tính
Phát hạ đồng đầu thành tỉnh dân” [29; tr 17]
Người Dao có nguồn gốc từ Trung Quốc và thiên di vào Việt Nam trong khoảng thời gian từ thế kỉ VI đến thế kỉ X, dân tộc Dao chủ yếu cư trú tại đại bộ phận Hồ Nam, Đông Bắc Bộ Trung Quốc, Bắc Bộ Quảng Đông Thời Tống trở về sau, thế lực của người Dao ở Lưỡng Quảng dần dần nổi lên
ở miền Đông Bắc Quảng Tây và các vùng Thiều Châu, Liên Châu, Hạ Châu,
Quế Dương, Uất Lâm… Từ thế kỉ XIII đến thế kỉ XVII, tộc Dao thiên di dần
về phía Nam do sự tăng cường thống trị của vương triều phong kiến Trung Nguyên và người Hán không ngừng di cư xuống phía Nam Đồng thời do cuộc sống du canh du cư cũng thúc đẩy họ tiến xuống phía Nam Trong Quá sơn bảng văn (Bình Hoàng khoán điệp) hiện được lưu giữ ở một số gia đình người Dao thuộc xã Quân Chu do bà Dương Thị Đăng cung cấp có đoạn viết:
…Bình Hoàng khoán điệp được phát xuống 13 tỉnh và các nơi, ghi tên sông núi cho con cháu bàn Vương được khai phá…tất cả núi và ruộng thuộc những núi kể trên đều giao cho con cháu Dao Vương cai quản Con cháu Dao Vương sinh sống nhờ núi rừng được miễn các thứ thuế và tạp dịch… triều đình cho phép con cháu Bàn Vương khai phá núi Cối Kê bằng cách đao canh hỏa chủng, trồng lúa nếp và các thứ ngũ cốc nuôi thân, về sau này người đông đất bạc màu hết đất làm ăn một nhà chia làm nhiều nhà lệnh nhà vua cho phép di
Trang 34chuyển nơi khác chọn núi rừng làm ăn… Vào thế kỉ XVII, người Dao lại từ Lưỡng Quảng di cư vào Quý Châu và Vân Nam và một bộ phận đã di cư vào Việt Nam
Theo như các nhà nghiên cứu cho rằng người Dao có mặt sớm nhất ở Việt Nam là thời Lê Và quá trình này diễn ra liên tục cho đến đầu thế kỉ XX Nguyên nhân của những đợt thiên di này là vì hạn hán, mất mùa và đói kém, một phần vì
bị áp bức, bóc lột của địa chủ phong kiến Trung Quốc Trong truyện Đặng Hành
và Bàn Đại Hộ của người Dao Quần Chẹt đã kể về sự di cư của họ
“Dần, Mão hai năm trời đại hạn Rồng nhảy lên bờ sông nước khô Kho thóc khắp nơi đều hết sạch Rời bỏ làng quê tới Việt Nam” [5; tr 172]
Người Dao đến Việt Nam chủ yếu là từ Quảng Đông – Quảng Tây và một bộ phận từ Vân Nam sang bằng nhiều con đường khác nhau Họ sống rải rác, ít tập trung với nhiều nhóm dân tộc học khác nhau
Người Dao ở Đại Từ thuộc hai nhóm địa phương: Dao Lô Gang và Dao Quần Chẹt Tuy thuộc 2 nhóm khác nhau nhưng đều tự gọi là Dao Đại Bản (Tầm Mả Miền), cùng nói phương ngữ Kiềm Miền (hoặc Miền Vả) [23; tr 611] Người Dao ở Đại Từ hiện nay chiếm 4,48% dân cư của huyện và chủ yếu là do người Dao ở Cao Bằng xuống cũng như từ các huyện lân cận như
Võ Nhai, Phú Lương… sang Địa bàn cư trú của họ có độ cao từ 300 – 500m trong vùng núi sâu Họ thường làm nhà ở những nơi cao ráo, gần suối, ven rừng Hiện nay 31/31 xã có người Dao sinh sống Những xã có đông người Dao sinh sống như Quân Chu, Hoàng Nông, Phú Xuyên, Tân Linh…Do cuộc sống phải thường xuyên di cư, phân cư rộng nên người Dao có điều kiện tiếp xúc với các tộc người khác tạo thành khu vực văn hóa lịch sử phong phú, đa dạng
Trang 35Các dân tộc khác (Mường, Ngái…)chiếm số lượng và tỷ lệ rất nhỏ
trong thành phần dân cư của huyện Các dân tộc này chủ yếu có nguồn gốc từ Trung Quốc di cư xuống các tỉnh miền núi Bắc như Cao Bằng, Bắc Kạn…cách đây một vài trăm năm
Tóm lại, do là nơi chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền núi nên Đại Từ
là địa bàn sinh sống của nhiều thành phần dân tộc khác nhau, trong đó người Kinh là chủ yếu Các dân tộc trong huyện sống xen kẽ, hòa đồng, quần tụ bên nhau tạo nên nét văn hóa đặc sắc, phong phú đa dạng của huyện như lòng
mong mỏi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Giarai hay Ra Đê, Xê đăng hay Bana và các dân tộc thiểu số khác đều
là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt Chúng ta sống chết có nhau,
no đói giúp nhau…Chúng ta phải thương yêu nhau để mưu hạnh cầu phú chung của chúng ta và con cháu chúng ta Sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt” [32; tr 386]
1.4 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội huyện Đại Từ
1.4.1 Về kinh tế
Nền kinh tế của huyện Đại Từ chủ yếu làm “nghề nông, nghề rừng” [3; tr 811]
Cũng giống như các huyện khác trong tỉnh, Đại Từ là một huyện thuần nông với 95% dân số sống ở nông thôn, trong đó lao động nông nghiệp chiếm 50% Đại Từ được khẳng định là vựa lúa của Thái Nguyên cả về diện tích và sản lượng Diện tích lúa gieo cấy hàng năm từ 12.000 ha đến 12.500 ha Sản lượng lương thực có hạt năm 2004 đạt 68.150 tấn, tăng 3% so với năm trước
Ngoài ra huyện còn phát triển mạnh mẽ các cây trồng công nghiệp có giá trị trong đó cây chè là cây kinh tế mũi nhọn, là cây tạo ra sản phẩm hàng hoá vừa tạo tiêu thụ nội địa Ngay từ thời Pháp thuộc, ở Đại Từ đã có những
đồn điền chè như Phủ Khiêm (Bình Thuận), Dốc Hoán (Hà Thượng) Chè
thực sự là sản phẩm hàng hoá ở Đại Từ từ năm 1959 khi nông trường Bắc Sơn
Trang 36được thành lập Từ đó diện tích, sản lượng, chất lượng chè của huyện ngày
càng cao Năm 2004, toàn huyện có 5.124 ha trong đó chè kinh doanh là 4.470 ha, hằng năm cho sản lượng búp tươi đạt gần 30.000 tấn
Về chăn nuôi: Do thiên nhiên ưu đãi nên Đại Từ có diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản khá lớn, đó là các hồ đập thuộc công trình thuỷ nông hồ Núi Cốc và các hồ ao của những hộ gia đình đơn lẻ
Về sản xuất lâm nghiệp: Diện tích rừng toàn huyện là 24.468 ha trong đó rừng trồng trên 9.000 ha, rừng tự nhiên là 15.000 ha Hiện nay nhiều diện tích rừng trồng đã đến tuổi khai thác, mặt khác diện tích đất có khả năng lâm nghiệp khá lớn, cần phủ xanh để nâng cao độ che phủ và cũng là tiềm năng để phát triển cây lâm nghiệp có giá trị cao Các xã phát triển mạnh kinh tế rừng là các xã phía Bắc huyện như: Phú Lương, Đức Lương, Minh Tiến, Phú Cường, Na Mao…
Về sản xuất công nghiệp: Chủ yếu khai thác, sơ chế khoáng sản và chế biến nông sản Huyện có 2 mỏ than lớn là mỏ Làng Cẩm và mỏ Núi Hồng Dự án mỏ đa kim núi Pháo (liên doanh với một công ty của Canada) bắt đầu được triển khai
Về hoạt động du lịch: Điểm du lịch quan trọng nhất của Đại Từ là khu
du lịch hồ Núi Cốc Ngoài ra còn có một số điểm du lịch khác như: núi Văn – Núi Võ ở xã Văn Yên và xã Kí Phú; di tích 27/7 (xã Hùng Sơn); Khu đài tưởng niệm Thanh Niên xung phong (xã Yên Lãng); Khu di tích chiến khu Nguyễn Huệ (xã Yên Lãng); Nơi thành lập chi bộ Đảng đầu tiên (xã La Bằng)
và các khu du lịch sinh thái vườn quốc gia Tam Đảo trải dài trên 11 xã
Có thể nói rằng trong những năm gần đây cùng với sự thay đổi của nền kinh tế đất nước, Đại Từ cũng từng ngày khởi sắc Những thành tựu đạt được phản ánh sự nỗ lực của các dân tộc anh em trong huyện cùng nhau xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp hơn
Trang 37Tuy vậy, hiện nay huyện còn rất nhiều vấn đề cấp bách đặt ra trước mắt cần phải giải quyết như: Tình trạng đói nghèo, sự gia tăng dân số, nạn chặt phá rừng bừa bãi…đòi hỏi phải có biện pháp hữu hiệu nhằm đưa Đại Từ phát triển ổn định và bền vững
1.4.2 Về văn hóa - xã hội
Huyện Đại Từ trong những năm qua đã được chính phủ đầu tư cùng với
sự tham gia đóng góp của nhân dân tình hình văn hóa - xã hội có những bước tiến đáng kể Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng phục vụ cho an sinh xã hội của huyện vẫn nằm trong tình trạng chung của nông thôn miền núi là thấp kém, lạc hậu, chậm phát triển và không đồng bộ Để thấy rõ hơn về văn hóa – xã hội của huyện chúng ta xem xét cụ thể trên các mặt sau:
Giáo dục đào tạo
Về cơ sở vật chất: Toàn huyện có 1.231 phòng học, trong đó mầm non
209 phòng (14 phòng học 2 tầng, 151 phòng cấp 4, 44 phòng học tạm, 78 phòng học thiếu); tiểu học 573 phòng (144 phòng học 2 tầng, 220 phòng học cấp 4, 109 phòng học tạm, 19 phòng học thiếu); Trung học cơ sở 449 phòng (90 phòng học 2 tầng, 240 phòng học cấp 4, 119 phòng học tạm, 8 phòng học thiếu); Trung tâm giáo dục thường xuyên 6 phòng (6 phòng cấp 4 xuống cấp, thiếu 5 phòng); Trung học phổ thông 85 phòng học (58 phòng học 2-3 tầng,
27 phòng học cấp 4, 60 phòng học thiếu)
Năm 1993 cả 31 xã thị trấn được công nhận phổ cập trung học - xoá mù chữ và năm 2002 phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, năm 2003 toàn huyện được công nhận phổ cập giáo dục Trung học cơ sở, chỉ có 1 xã chưa có trường Trung học cơ sở
Huyện đang thực hiện chương trình kiên cố hoá trường lớp học và nhà
ở cho giáo viên bắt đầu từ năm 2008 đến 2012, 401 phòng học 3 cấp với tổng
kinh phí xây dựng 70 tỷ đồng
Trang 38Về giáo dục đào tạo: những năm gần đây giáo dục đào tạo của huyện
Đại Từ tiếp tục phát triển cả về số lượng, chất lượng dạy và học ở các cấp học
bậc học, tỷ lệ huy động các cháu trong độ tuổi đến trường tăng, cơ sở vất chất từng bước được đầu tư nâng cấp
Phát triển y tế, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng
Mạng lưới y tế địa phương trên địa bàn huyện: có 1 bệnh viện huyện, 1 phòng khám đa khoa huyện và 31 xã thị trấn đều có trạm y tế xã, tuy nhiên chỉ có 1 trạm y tế xã La Bằng có điều kiện làm việc, còn lại 30 trạm chưa đủ diện tích làm việc theo quy định, đều là nhà cấp 4 cũ xây dựng từ lâu đã xuống cấp không đảm bảo an toàn cho sử dụng
Tổng số giường bệnh 282 giường, trong đó bệnh viện 100 giường bệnh, phòng khám đa khoa có 10 giường bệnh, còn lại là các trạm y tế xã thị trấn, (trung bình 18,28 giường bệnh/1 vạn dân) Tổng số cán bộ ngành y dược trên
địa bàn là 300 người, trong đó có 62 bác sỹ đại học và trên đại học (đạt tỷ lệ
38 bác sỹ trên 10 vạn dân), 135 y sỹ, kỹ thuật viên, 86 y tá, điều dưỡng viên,
2 dược sỹ cao cấp, 6 dược sỹ trung cấp và 9 dược tá
Ngành y tế huyện duy trì tốt các hoạt động khám chữa bệnh ở cả hai tuyến huyện và xã, hiện nay đã có 19 xã thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế Việc nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho nhân dân được tăng cường, trong đó duy trì khám chữa bệnh cho người nghèo đạt kết quả cao Hàng năm
có khoảng 30.000 lượt người khám bệnh
Các công trình xây dựng khác: Như vấn đề nước sạch nông thôn, điện
đã được chính quyền huyện quan tâm Tại các xã vùng cao đã ổn định được
vấn đề du canh du cư, giải quyết nước sạch ở các vùng xa đô thị, đưa điện lưới quốc gia tới 31/31 xã thị trấn của huyện
1.5 Truyền thống lịch sử huyện Đại Từ
Bên cạnh truyền thống lao động cần cù, sáng tạo, người dân Đại Từ còn nổi bật với truyền thống yêu nước và cách mạng, đấu trang giải phóng
Trang 39dân tộc, bảo vệ đất nước Tinh thần ấy đã được thể hiện trong suốt chiều dài của lịch sử dân tộc Nổi bật lên từ thế kỷ XV, năm 1410, nghĩa quân Áo
Đỏ phất cờ khởi nghĩa chống giặc Minh xâm lược Cuộc khởi nghĩa lan
nhanh khắp vùng Việt Bắc, Tây Bắc vào đến Thanh Hóa Nghệ An gây cho giặc Minh nhiều tổn thất
Năm 1416, từ quê hương làng Thuận Thượng (nay là xã Văn Yên) cha con Lưu Trung, Lưu Nhân Chú, Phạm Cuống đã vào Thanh Hóa theo Lê Lợi chuẩn bị khởi nghĩa chống giặc Minh Suốt 10 năm (1418 – 1428) cha con Lưu Nhân Chú đã lập nên nhiều chiến công hiển hách
Bốn trăm năm sau, Thực dân Pháp xâm lược nước ta, năm 1884 những tên lính Pháp đầu tiên đặt chân lên đất Đại Từ, chúng đã vấp phải sự kháng cự quyết liệt của nhân dân các dân tộc trong huyện
Năm 1892, binh lính ở đồn Hùng Sơn, dưới sự chỉ huy của Cai Bát đã nổi dậy làm binh biến chiếm đồn, thu vũ khí của giặc và kêu gọi nhân dân hưởng ứng đấu tranh chống thực dân Trong những tháng đầu năm 1896, dưới sự chỉ huy của Đề Dinh, nhân dân Đại Từ đã cùng với nghĩa quân đánh nhiều trận, làm cho bọn Pháp ở các đồn Lục Ba, Cát Nê phải khiếp sợ
Nhân dân Đại Từ còn tích cực ủng hộ cuộc khởi nghĩa Yên Thế (1887 – 1913) do cụ Đề Thám lãnh đạo Năm 1896, trên địa bàn huyện Đại Từ nghĩa quân Yên Thế đã đánh 16 trận trong đó nổi bật là trận Hùng Sơn ngày 21/7/1896 diệt hàng chục tên Pháp
Đầu thế kỉ XX, nhân dân Đại Từ đã tích cực hưởng ứng và tham gia cuộc
khởi nghĩa Thái Nguyên nổ ra đêm 30 rạng ngày 31/8/1917 cuộc khởi nghĩa của binh lính Thái Nguyên do Đội Cấn và Lương Ngọc Quyến lãnh đạo nổ ra Sau khi rút khỏi thị xã, nghĩa quân tiến về Đại Từ Khi nghĩa quân Đội Cấn tới, nhân dân Đại Từ đã hết lòng giúp đỡ lương thực, tạo mọi điều kiện phục vụ chiến đấu Chiều ngày 5 và ngày 6 tháng 9 năm 1917 đã diễn ra trận đánh ác liệt ở Núi
Trang 40Pháo, giặc Pháp bị tổn thất nặng nề, tuy cuộc khởi nghĩa thất bại nhưng đã châm ngòi nổ báo hiệu tinh thần giải phóng của nhân dân ta, trong đó có tinh thần đấu tranh anh dũng của nhân dân các dân tộc huyện Đại Từ
Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, phong trào cách mạng chuyển sang một
giai đoạn mới Đảng đã nhìn thấy vị trí chiến lược quan trọng của Thái Nguyên nói chung và Đại Từ nói riêng Năm 1936, cơ sở Đảng đầu tiên của Thái Nguyên được thành lập tại xã La Bằng Sau khi thành lập, cơ sở Đảng đầu tiên của tỉnh Thái Nguyên ở Đại Từ đã đứng ra vận động nhân dân trong làng, bản tham gia Hội ái hữu, Hội tương tế để giúp đỡ nhau khi gặp khó khăn, hoạn nạn Từ năm 1940 trở đi, cơ sở Đảng ở La Bằng đã bắt được liên lạc với các tổ chức đảng ở Võ Nhai, Định Hoá, có sự chỉ đạo của xứ ủy Bắc Kỳ
Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9/3/1945), ngày 10/3/1945, tại Đèo Khế, Cứu Quốc quân và tự vệ Đại Từ chặn đánh quân Pháp chạy Nhật từ thị xã Thái Nguyên sang Tuyên Quang, thu được số vũ khí đảm bảo trang bị cho 2 đại đội
Ngày 29/3/1945, Cứu Quốc quân và tự vệ Đại Từ bao vây, tấn công
đánh và giải phóng huyện lỵ Đại Từ Đầu tháng 4/1945, tại xã Cát Nê, đội du
kích Cao Sơn thành lập làm nhiệm vụ phối hợp với Cứu Quốc quân và tự vệ bảo vệ an toàn đường giao thông của Trung ương từ Kí Phú xuống tây nam Phổ Yên chuẩn bị đánh quân Nhật xâm nhập vào vùng giải phóng Sau lễ hợp nhất các tổ chức vũ trang cách mạng cả nước, đội du kích Cao Sơn chuyển thành Trung đội Giải phóng quân Phạm Hồng Thái Hai ngày 16 và 17/7/1945, Trung
đội Phạm Hồng Thái bao vây, tấn công tiêu diệt 1 trung đội quân Nhật ở Tam Đảo Cùng thời gian trên quân và dân Đại Từ đã cùng với đơn vị quân giải
phóng đã bẻ gãy mũi lên của quân Nhật vào căn cứ Núi Hồng
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp lần hai, phía bắc Đại Từ nằm trong An Toàn Khu trung ương Quân dân Đại Từ đã phối hợp với các huyện trong tỉnh kiên quyết chặn đánh các mũi tiến công, tiêu diệt sinh lực