NGUYỄN THÀNH MINH PHƯƠNG ÁN SỬ DỤNG LAO ĐỘNG VÀ ĐẤT ĐAI CHO PHÁT TRIỂN CÂY CHÈ CỦA HUYỆN ĐỒNG HỶ TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2012 – 2020 Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp... Tuy nhiên,
Trang 1
NGUYỄN THÀNH MINH
PHƯƠNG ÁN SỬ DỤNG LAO ĐỘNG VÀ ĐẤT ĐAI CHO PHÁT TRIỂN CÂY CHÈ CỦA HUYỆN ĐỒNG HỶ TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2012 – 2020
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn Thạc sĩ “ Phương án sử dụng Lao động và
đất đai cho phát triển cây chè của huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên giai
đoạn 2012-2020 " đã đƣợc triển khai nghiên cứu tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh
Thái Nguyên là công trình nghiên cứu độc lập
Luận văn đã sử dụng nhiều nguồn thông tin, số liệu liên quan khác nhau, các nguồn thông tin đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc Nguồn số liệu điều tra thực tế tại địa bàn nghiên cứu đã đƣợc xử lý./
Tác giả luận văn
Nguyễn Thành Minh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện Luận văn tốt nghiệp tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân và tập thể Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc tới tất cả các cá nhân và tập thể đã tạo điều kiện giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý Đào tạo Sau Đại học cùng các thầy cô giáo trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập tại trường
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Khánh Doanh người trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo UBND huyện, các phòng chức năng của huyện, các hộ dân và chính quyền xã Linh Sơn, Xã Minh Lập và thị trấn Sông Cầu huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thu thập số liệu và thông tin cần thiết cho việc nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn những cộng tác viên, đồng nghiệp đã giúp
đỡ, chia sẻ tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Thành Minh
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt vi
Danh mục các Bảng biểu vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Giới hạn đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 3
5 Kết cấu của luận văn 3
Chương I:TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
1.1 Tổng quan tài liệu 4
1.1.1 Cơ sở lý luận về lao động và đất đai cho phát triển cây chè 4
1.1.2 Cơ sở thực tiễn về lao động và đất đai cho phát triển cây chè 12
1.2 Phương pháp nghiên cứu 18
1.2.1 Phương pháp tiếp cận 18
Trang 51.2.2 Chọn điểm nghiên cứu 19
1.2.3 Thu thập số liệu 19
1.2.4 Phân tích số liệu 20
1.2.5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 24
Chương II:THỰC TRẠNG SỬ DỤNG VÀ XU HƯỚNG BIẾN ĐỘNG LAO ĐỘNG, ĐẤT ĐAI CHO PHÁT TRIỂN CÂY CHÈ CỦA HUYỆN ĐỒNG HỶ TỈNH THÁI NGUYÊN 25
2.1 Đặc điểm địa bàn huyện Đồng Hỷ 25
2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 25
2.1.2 Đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội 28
2.1.3 Những thuận lợi, khó khăn, thách thức trong phát triển kinh tế xã hội 36 2.2 Thực trạng về lao động và đất đai trong phát triển cây chè ở huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên 38
2.2.1 Thực trạng về lao động và đất đai ở huyện Đồng Hỷ 38
2.2.2 Thực trạng sử dụng đất đai và tình hình sản xuất chè ở huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên 42
2.3 Mô hình động sử dụng kết hợp lao động, đất đai cho phát triển cây chè của huyện Đồng Hỷ đến năm 2020 47
2.3.1 Giải thích mô hình 47
2.3.2 Phân tích sự thay đổi các yếu tố đến sản xuất chè 49
2.3.3 Phân tích sự biến động của sản lượng chè khi có sự thay đổi của các yếu tố khác trong mô hình 56
2.3.4 Biến động cân bằng chè khi tỷ lệ hao hụt giảm 68
Trang 62.3.5 Biến động diện tích và cân bằng chè khi mở rộng diện tích 69
2.3.6 Biến động về sản lượng và cân bằng chè khi có sự thay đổi đồng thời của các yếu tố 70
Chương III:ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP SỬ DỤNG LAO ĐỘNG, ĐẤT ĐAI CHO PHÁT TRIỂN CÂY CHÈ CỦA HUYỆN ĐỒNG HỶ TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2012 – 2020 72
3.1 Quan điểm, định hướng và mục tiêu sử dụng lao động, đất đai cho phát triển cây chè của huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2012 -2020 72
3.1.1 Quan điểm 72
3.1.2 Định hướng 73
3.1.3 Mục tiêu 73
3.2 Đề xuất một số giải pháp sử dụng lao động và đất đai cho phát triển cây chè của huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2012 -2020 74
3.2.1 Giải pháp về sử dụng lao động 74
3.2.2 Giải pháp về sử dụng đất đai 75
3.2.3 Giải pháp về cơ chế chính sách 76
3.2.4 Giải pháp về yếu tố kỹ thuật 77
3.2.6 Giải pháp về giảm tỷ lệ hao hụt 78
KẾT LUẬN 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Số TT Ký hiệu viết tắt Nghĩa đầy đủ
1 CN - TTCN Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp
2 CNH - HĐH Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 1.1: Diện tích đất chè thế giới giai đoạn 1996 – 2010 14
Bảng 1.2: Diện tích, năng suất và sản lượng chè Việt Nam 16
Bảng 2.1: Hiện trạng phát triển kinh tế huyện Đồng Hỷ so với tỉnh Thái Nguyên 29
Bảng 2.2: Tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu GTSX ngành nông, lâm thủy sản 32
Bảng 2.3: Tình hình sử dụng đất huyện Đồng Hỷ năm 2010 38
Bảng 2.4: Thực trạng dân số lao động huyện Đồng Hỷ 41
Bảng 2.5: Biến động diện tích trồng chè của tỉnh Thái Nguyên và huyện Đồng Hỷ qua các năm 43
Bảng 2.6: Tình hình sản xuất chè của tỉnh Thái Nguyên 45
Bảng 2.7: Sự thay đổi diện tích, năng suất, sản lượng chè huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2000-2010 46
Bảng 2.8: Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất chè của huyện Đồng Hỷ 48
Bảng 2.9: Sự thay đổi của dân số, lao động đến năm 2020 50
Bảng 2.10: Sự thay đổi diện tích đất chè đến năm 2020 53
Bảng 2.11: Sự thay đổi sản lượng chè đến năm 2020 54
Bảng 2.12: Sự thay đổi của dân số, lao động, đất chè, sản lượng chè đến năm 2020 55
Bảng 2.13: Liều lượng phân đạm urê bón cho chè 57
Bảng 2.14: So sánh kết quả phương án gốc và phương án 1 58
Bảng 2.15: So sánh kết quả phương án gốc và phương án 2 60
Trang 9Bảng 2.16: So sánh kết quả phương án gốc và phương án 3 61
Bảng 2.17: So sánh kết quả phương án gốc và phương án 4 62
Bảng 2.18: So sánh kết quả phương án gốc và phương án 5 63
Bảng 2.19: So sánh kết quả phương án gốc và phương án 6 64
Bảng 2.20: So sánh kết quả phương án gốc và phương án 7 67
Bảng 2.21: So sánh kết quả phương án gốc và phương án 8 68
Bảng 2.22: So sánh kết quả phương án gốc và phương án 9 69
Bảng 2.23: So sánh kết quả phương án gốc và phương án 10 70
Bảng 2.24: So sánh kết quả phương án gốc và phương án 11 71
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ Sơ đồ 2.1: Mối quan hệ giữa dân số - lao động nông nghiệp, đất canh tác, sản lượng và cân bằng chè 49
Đồ thị 2.1: Sự thay đổi diện tích chè giai đoạn 2000 - 2010 52
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp nông thôn đang là lĩnh vực được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm đầu tư phát triển, nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân Việc phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại và bền vững trong tiến trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH-HĐH), đang đặt ra nhiều yêu cầu mới Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, để thực hiện sự nghiệp CNH-HĐH, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thì diện tích đất nông nghiệp đang có xu hướng giảm dần
Cây Chè đã và đang là một cây trồng đem lại giá trị kinh tế cao cho người nông dân tỉnh Thái Nguyên nói chung và huyện Đồng Hỷ nói riêng Cây chè đã tồn tại và phát triển ở Thái Nguyên từ lâu đời nay Người dân Thái Nguyên có nhiều kinh nghiệm trồng, chế biến chè và đã biết tận dụng lợi thế
về đất đai, khí hậu tạo nên hương vị đặc trưng cho chè Thái Nguyên
Tuy nhiên, việc phát triển sản xuất chè hiện nay vẫn chưa tương xứng với tiềm năng hiện có, chưa khai thác, sử dụng đầy đủ và hợp lý các nguồn lực cho phát triển cây chè, để cây chè thực sự là cây trồng mũi nhọn, cây trồng đem lại giá trị kinh tế cao cho người nông dân Thái Nguyên nói chung
và huyện Đồng Hỷ nói riêng
Để nghiên cứu về tình hình sử dụng, dự báo xu hướng biến động, nghiên cứu và đề xuất những định hướng, giải pháp sử dụng có hiệu quả đất đai, lao động cho phát triển cây chè của huyện Đồng Hỷ, tác giả đã tiến hành nghiên
cứu đề tài: “Phương án sử dụng lao động và đất đai cho phát triển cây chè
của huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2012-2020” làm đề tài
Luận văn thạc sĩ
Trang 112 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu thực trạng sử dụng lao động, đất đai cho phát triển cây chè
từ đó lựa chọn phương án tối ưu và đề xuất một số giải pháp sử dụng có hiệu quả lao động, đất đai cho phát triển cây chè của huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên, giai đoạn 2012 - 2020
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về sử dụng lao động
và đất đai cho phát triển cây chè
- Đánh giá thực trạng và phân tích xu hướng sử dụng lao động, đất đai cho phát triển cây chè của huyện Đồng Hỷ
- Đề xuất một số giải pháp nhằm sử dụng có hiệu quả lao động và đất đai cho phát triển cây chè của huyện Đồng Hỷ đến năm 2020
3 Giới hạn đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu Lao động và đất đai cho phát triển cây chè của huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đề tài nghiên cứu sự biến động lao động và đất đai trong
phát triển cây chè để đề xuất một số giải pháp sử dụng hiệu quả các nguồn lực
đó theo hướng phát triển bền vững
- Về không gian: Đề tài nghiên cứu sự biến động đất đai và lao động
trong phát triển cây chè trên địa bàn huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên
- Về thời gian: Thời gian nghiên cứu từ năm 2012 đến năm 2020
Trang 124 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực:
- Góp phần hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về sử dụng lao động, đất đai cho phát triển cây chè
- Cung cấp hệ thống số liệu cho địa phương về sự chuyển dịch cơ cấu lao động, đất đai Giúp địa phương nhận dạng được các vấn đề hiện đang nảy sinh của quá trình chuyển dịch
- Đề xuất với địa phương một số chính sách và giải pháp về sử sụng lao động nông nghiệp, đất đai nhằm phát triển cây chè hiệu quả
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Luận văn được chia thành 3 Chương cụ thể như sau:
Chương I: Tổng quan tài liệu và phương pháp nghiên cứu
Chương II: Thực trạng sử dụng và xu hướng biến động lao động, đất đai cho phát triển cây chè tại huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên
Chương III: Định hướng và giải pháp sử dụng lao động, đất đai cho phát triển cây chè của huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2012 – 2020
Trang 13Chương I TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan tài liệu
1.1.1 Cơ sở lý luận về lao động và đất đai cho phát triển cây chè
1.1.1.1 Khái niệm
* Lao động nông nghiệp: Trong kinh tế học, lao động được hiểu là yếu
tố sản xuất do con người cung cấp Nó là một trong những nguồn lực khan hiếm được sử dụng để sản xuất ra hàng hóa đáp ứng nhu cầu của xã hội Lao động bao gồm cả thời gian của con người chi phí trong quá trình sản xuất
Nó vừa là đầu vào thông thường nhất, vừa là đầu vào quan trọng nhất của quá trình sản xuất (Paul A Samuelson, 2002)
Trong nông nghiệp lao động được hiểu là tổng thể sức lao động tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp, bao gồm số lượng và chất lượng của người lao động Số lượng lao động bao gồm những người trong độ tuổi (nam
từ 15 đến 60 tuổi, nữ từ 15 đến 55) và những người trên và dưới độ tuổi nói trên tham gia hoạt động sản xuất nông nghiệp
Như vậy, về lượng của lao động trong nông nghiệp khác ở chỗ, nó không phải chỉ bao gồm những người trong độ tuổi mà bao gồm cả những người trên
và dưới độ tuổi có khả năng và thực tế tham gia lao động Về chất lượng bao gồm thể lực và trí lực của người lao động, cụ thể là trình độ sức khoẻ, trình độ nhận thức, trình độ chính trị, trình độ học vấn, nghiệp vụ và tay nghề của
người lao động (Đinh Phi Hổ, 2008)
* Đất nông nghiệp: Khái niệm về đất nông nghiệp được thể chế hóa tại
Điều 13 - Phân loại đất của Luật Đất đai đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã
Trang 14hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26 tháng 11
năm 2003, cho rằng đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng Đất nông nghiệp bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác (Luật đất đai 2003)
Đất cho phát triển cây chè thuộc đất trồng cây lâu năm, là đất trồng các
loại cây có thời gian sinh trưởng trên một năm từ khi gieo trồng tới khi thu hoạch; kể cả loại cây có thời gian sinh trưởng như cây hàng năm nhưng cho thu hoạch trong nhiều năm; bao gồm đất trồng cây công nghiệp lâu năm, đất trồng cây ăn quả và đất trồng cây lâu năm khác So với một số cây trồng khác, chè yêu cầu về đất không nghiêm khắc lắm Tuy nhiên, để cây chè sinh trưởng tốt, năng suất cao và ổn định thì đất trồng chè phải đạt một số yêu cầu như: nhiều mùn, sâu, chua và thoát nước tốt Độ pH thích hợp cho chè phát triển là 4,5 - 6,0 Độ sâu ít nhất là 80 cm, hệ rễ phát triển bình thường khi mực nước ngầm dưới 1 mét Đối với Việt Nam, ở các vùng Trung du đất trồng chè phần lớn là feralit vàng đỏ được phát triển trên đá granit, phiến thạch sét và mica
Ở vùng núi thì phần lớn là đất feralit vàng đỏ được phát triển trên đá mẹ phiến thạch sét, các loại đất này đều phù hợp với yêu cầu sinh trưởng và phát triển của chè Tuy nhiên, những đất này thường nghèo chất hữu cơ nhất là ở các vùng trồng chè cũ, vì thế cần quan tâm tới việc bón phân hữu cơ để cải tạo đất
và bổ sung dinh dưỡng cho cây chè sinh trưởng tốt Đồng thời, hàng năm cần phải coi trọng việc bón đủ và hợp lý các loại phân hóa học cho chè
Nhiều tài liệu cho biết trong đất trồng chè chỉ có một lượng vôi rất ít (khoảng 0,2% CaCO3) đã có hại cho cây chè Vì vậy, không được dùng vôi
để bón vào đất trồng chè, trừ trường hợp đất có độ pH quá thấp, dưới 4
Trang 15Quan hệ giữa đất và phẩm chất chè rất phức tạp Phẩm chất do nhiều yếu tố quyết định và tác dụng một cách tổng hợp Song trong những điều kiện nhất định thì điều kiện dinh dưỡng của đất có ảnh hưởng rất lớn đến phẩm chất Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy: chè sinh trưởng trên loại đất pha cát, nhiều mùn, thích hợp cho việc chế biến chè xanh: mùi vị hương của chè thành phẩm đều tốt Chè trồng trên đất nặng màu vàng thì có vị đắng
và nước có màu vàng Chè trồng trên đất xấu hương không thơm, vị nhạt và chất hòa tan ít
Địa hình và địa thế có ảnh hưởng rất rõ đến sinh trưởng và chất lượng chè Thực tiễn ở Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản cho thấy: chè trồng trên núi cao có hương thơm và mùi vị tốt hơn chè trồng ở vùng thấp và đồng bằng Kinh nghiệm nhận thấy chè được chế biến từ nguyên liệu ở núi cao Xrilanca có mùi thơm của hoa mà hương vị đó không thể có được trong chè
trồng ở khu vực thấp Nhiều tác giả ở Liên Xô: Kharabava, Đjêmukhatze đã
xác định chè trồng ở nơi có địa thế càng cao hơn mặt biển (trong một chừng mực nhất định) thì khuynh hướng tạo thành và tích lũy tanin càng lớn
(Hoàng Văn Chung và cs, 2004)
Phần lớn các vùng trồng chè có phẩm chất tốt của các nước trên thế giới thường có độ cao cách mặt biển từ 500 đến 800 mét Vùng chè ngon có tiếng
ở Ấn Độ trồng ở độ cao cách mặt biển 2.000 mét Chất lượng chè ở vùng cao tốt nhưng về sinh trưởng thường kém hơn ở vùng thấp
Hướng dốc có ảnh hưởng đến khả năng tích lũy vật chất trong chè Nhiều nghiên cứu nhận thấy rằng cường độ tích lũy tanin và vật chất hòa tan phụ thuộc nhiều vào chế độ nhiệt Ở hướng dốc phía nam hàm lượng tanin và chất hòa tan trong búp chè cao hơn ở hướng dốc phía bắc Ở độ vĩ càng cao phẩm chất và sản lượng chè càng có xu hướng giảm thấp Do độ nhiệt thấp,
Trang 16độ ẩm thấp và ngày dài đã ảnh hưởng không tốt đến sinh trưởng và tích lũy vật chất trong cây chè Nhìn chung, qua nghiên cứu về đất trồng chè chúng ta thấy đây là đất trồng cây lâu năm có tầng canh tác mặt khoảng 80 cm, tơi xốp, có mạch nước ngầm ở dưới, độ dốc dưới 250
, với chất chỉ thị là cây sim, mua Đất đồi núi ở vùng trung du miền núi phía Bắc nước ta hoàn toàn phù hợp cho việc trồng chè
1.1.1.2 Đặc điểm
* Lao động trong nông nghiệp có những đặc điểm riêng so với các
ngành sản xuất vật chất khác, trước hết ít chuyên sâu như ở trong công nghiệp, nghĩa là một lao động có thể làm được nhiều việc khác nhau và nhiều lao động có thể thực hiện cùng một công việc; lao động nông nghiệp còn mang tính thời vụ cao là nét đặc trưng điển hình tuyệt đối không thể xoá bỏ,
nó làm phức tạp quá trình sử dụng yếu tố nguồn nhân lực trong nông nghiệp; lao động nông nghiệp diễn ra trong phạm vi rộng lớn, đa dạng về địa bàn và điều kiện sản xuất; Phần lớn lao động nông nghiệp ít được đào tạo, điều này khiến cho hiệu suất lao động thấp, khó khăn trong việc tiếp thu kỹ thuật và
công nghệ mới Trong sản xuất nông nghiệp, lao động là nguồn đầu vào quan
trọng và cơ bản Xu hướng biến động của nguồn lực này có tính quy luật là không ngừng thu hẹp về số lượng và được chuyển một bộ phận sang các ngành khác, trước hết là công nghiệp với những lao động trẻ khoẻ có trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật Vì thế số lao động ở lại trong khu vực nông nghiệp thường là những người có độ tuổi trung bình cao và tỷ lệ này có xu hướng tăng lên Trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá, lao động trong nông nghiệp có số lượng lớn và chiếm tỷ trọng cao trong tổng lao động
xã hội Song, cùng với sự phát triển của quá trình CNH, lao động nông nghiệp vận động theo xu hướng giảm xuống cả tương đối và tuyệt đối Quá trình biến
Trang 17đổi đó diễn ra theo hai giai đoạn
Giai đoạn đầu diễn ra khi đất nước bắt đầu thực hiện sự nghiệp công
nghiệp hóa, sản xuất nông nghiệp chuyển sang sản xuất hàng hoá, năng suất lao động nông nghiệp có tăng lên, một số lao động nông nghiệp được giải phóng trở nên dư thừa và được các ngành khác thu hút, sử dụng vào hoạt động sản xuất - dịch vụ Nhưng do tốc độ tăng tự nhiên của lao động trong khu vực công nghiệp còn lớn hơn tốc độ thu hút lao động dư thừa từ nông nghiệp, do đó ở thời kỳ này tỷ trọng lao động nông nghiệp mới giảm tương đối, số lượng lao động tuyệt đối còn tăng lên Giai đoạn này dài hay ngắn là tuỳ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế của đất nước quyết định
Đài Loan là nơi có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao với thời gian dài Trong 40 năm, thu nhập quốc dân bình quân đầu người của Đài loan tăng trên
70 lần Từ một nền nông nghiệp lạc hậu, Đài Loan trở thành một nền công nghiệp mới Năm 1952 nông nghiệp chiếm 35,9%, công nghiệp chiếm 18,0%
và dịch vụ chiếm 46,1% trong tổng GDP Cùng thời gian này dân cư nông nghiệp có 4.257 ngàn người, chiếm 52,4% dân số Đài Loan Đến năm 1970 tỷ trọng của nông nghiệp giảm xuống 17,5% và công nghiệp tăng lên 34,7% trong GDP; dân số nông nghiệp tăng lên 5.997 ngàn người và chiếm 40,9% Đài Loan kết thúc giai đoạn I, giai đoạn lao động nông nghiệp mới giảm tương đối, phải mất 20 năm Việt Nam ở giai đoạn thứ nhất, tỷ trọng lao động có việc làm trong khu vực nông nghiệp chiếm tới 69,22% (năm 1999) giảm chỉ còn 53,96% (2009), nhưng số lao động còn tăng lên, từ 24,81 triệu lao động tăng
lên 25,73 triệu lao động cùng thời gian tương tự (Bộ Lao động -Thương binh và
Xã hội, 2010)
Giai đoạn thứ hai, nền kinh tế đã phát triển ở trình độ cao, năng suất lao
động nông nghiệp tăng nhanh và năng suất lao động xã hội đạt trình độ cao
Trang 18Số lao động dôi ra do nông nghiệp giải phóng đã được các ngành khác thu hút hết Vì thế giai đoạn này số lượng lao động giảm cả tương đối và tuyệt đối
*Đất đai là một trong những nguồn lực cơ bản trong sản xuất nông
nghiệp Về phương diện kinh tế đất nông nghiệp có một số đặc điểm cơ bản như sau:
- Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế Nó khác với các
tư liệu sản xuất khác là trong quá trình sử dụng, các tư liệu sản xuất có thể bị hao mòn hoặc hỏng đi thì đất nông nghiệp nếu sử dụng hợp lý sẽ tốt hơn lên Đặc điểm này là do đất đai có độ phì nhiêu Độ phì nhiêu của đất nông nghiệp
là một tiêu thức quan trọng đến đánh giá kinh tế đất và phân hạng đất, bố trí hợp lý cây trồng, vật nuôi để khai thác tốt đất đai vừa giữ gìn và bảo vệ đất
- Diện tích đất có hạn Diện tích đất trong nông nghiệp có giới hạn trong
từng nông trại, từng vùng và phạm vi lãnh thổ của mỗi quốc gia Sự có hạn về diện tích đất cho sản xuất nông nghiệp còn thể hiện ở khả năng có hạn về khai hoang, tăng vụ trong từng điều kiện cụ thể Đặc điểm này ảnh hưởng đến việc
mở rộng quy mô của sản xuất nông nghiệp Quỹ đất đai dùng vào sản xuất nông nghiệp là có hạn và ngày càng trở nên khan hiếm do nhu cầu ngày càng cao về đất đai của việc công nghiệp hóa, đô thị hóa và xây dựng nhà ở để đáp ứng với dân số ngày càng tăng
- Vị trí của đất đai cố định Do đặc điểm này của đất trong nông nghiệp
nên chúng ta chỉ có thể canh tác trên những nơi có đất Vị trí cố định đã quy định tính chất vật lý, hóa học, sinh thái của đất đai và cũng góp phần hình thành nên những lợi thế so sánh nhất định về đất nông nghiệp Vì vậy, cần phải bố trí sản xuất hợp lý cho từng vùng đất phù hợp với lợi thế so sánh của mỗi vùng, thực hiện phân bổ quy hoạch đất đai cho các mục tiêu sử dụng một
Trang 19cách thích hợp; xây dựng cơ sở hạ tầng, nhất là hệ thống thủy lợi, giao thông cho từng vùng để tạo điều kiện sử dụng đất tốt hơn
- Đất đai là sản phẩm của tự nhiên Đất đai là sản phẩm mà tự nhiên ban
cho con người Tuy nhiên thông qua lao động, con người làm tăng giá trị và
độ phì nhiêu của đất đai, đáp ứng nhu cầu sản xuất ngày càng cao của con người Đất đai xuất hiện và tồn tại ngoài ý muốn chủ quan của con người và
thuộc sở hữu chung của xã hội
Xét về đại thể, có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến quá trình sử dụng đất nông nghiệp, có thể chia thành ba nhóm cơ bản sau đây:
- Điều kiện tự nhiên là yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông
nghiệp như địa hình, khí hậu, thời tiết, nguồn nước vì đây là cơ sở để để sinh vật sinh trưởng, phát triển và tạo sinh khối Do vậy, khi sử dụng đất trên bề mặt không gian cần tạo ra sự thích ứng với điều kiện tự nhiên và các yếu tố hình thành đất như khí hậu, địa hình, đá mẹ Trong nhân tố điều kiện tự nhiên, điều kiện khí hậu là nhân tố quan trọng sau đó là nguồn nước và các nhân tố khác Đánh giá đúng điều kiện tự nhiên là cơ sở để xác định cây trồng, vật nuôi phù hợp và định hướng đầu tư thâm canh tăng hiệu quả
- Biện pháp kỹ thuật canh tác là tác động của con người vào đất đai, cây
trồng nhằm tạo nên sự hài hòa giữa các yếu tố sản xuất Nó là những tác động thể hiện sự hiểu biết sâu sắc của con người về đối tượng sản xuất, về thời tiết,
về điều kiện môi trường và thể hiện những dự báo thông minh và sắc sảo Con người lựa chọn những tác động kỹ thuật, chủng loại và cách sử dụng đầu vào phù hợp với các quy luật tự nhiên của sinh vật nhằm đạt được mục tiêu đề ra Tại các quốc gia phát triển có nhiều tác động tích cực trong canh tác như đổi mới kỹ thuật, áp dụng các giống mới, đầu tư cho thủy lợi, bón phân hiệu quả qua đó đã thúc đẩy cho kinh tế nông nghiệp phát triển nhanh và bền
Trang 20vững Ở Việt Nam trong những năm gần đây nhiều tiến bộ khoa học và công nghệ được áp dụng vào sản xuất nông nghiệp đã tạo ra giá trị gia tăng trong
tăng trưởng nông nghiệp khoảng 30% (Hội nghị quốc tế về “Khoa học và công nghệ trong phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa” tháng 11 năm 2010 tại Hà Nội) Như vậy, các biện pháp kỹ thuật canh tác có
ý nghĩa lớn trong khai thác theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
- Nhân tố kinh tế - xã hội bao gồm dân số và lao động, cơ cấu kinh tế và
phân bố sản xuất, môi trường và chính sách đất đai, sức sản xuất và trình độ phát triển kinh tế, sự phát triển của khoa học kỹ thuật Trong đó các nhân tố
xã hội đóng vai trò quyết định đến việc sử dụng đất đai nói chung và sử dụng đất nông nghiệp nói riêng Trong quá trình sản xuất phương thức sử dụng đất nông nghiệp được quyết định bởi yêu cầu của xã hội và mục tiêu trong từng thời kỳ nhất định
Trang 21loại nguồn lực đó, phương hướng sử dụng các nguồn lực và biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng hai nguồn lực cơ bản
1.1.2 Cơ sở thực tiễn về lao động và đất đai cho phát triển cây chè
1.1.2.1 Tình hình sản xuất chè trên thế giới
Theo đánh giá của Tổ chức Lương thực và nông nghiệp của Liênhợp quốc (FAO), đến cuối những năm của thế kỷ XX đã có trên một nửa dân số
thế giới uống chè Mức tiêu thụ chè bình quân đầu người một năm trên thế giới
là 0,5 kg Những nước có mức tiêu dùng chè cao bình quân đầu người một năm là: Quata 3,2 kg, Ailen 3,09 kg, Anh 2,87 kg, Thổ Nhĩ Kỳ 2,72 kg, Iraq 2,59
kg, Coet 2,23 kg, Tuynidi 1,82 kg, Braxin 1,45 kg, Ai Cập 1,44 kg, Srilanka 1,41 kg
Tổng lượng tiêu thụ chè của cả thế giới năm 2010 tăng 5,6%, lên 4 triệu tấn, chủ yếu nhờ thu nhập bình quân đầu người tăng mạnh, đặc biệt tại Trung Quốc, Ấn Độ và một số nền kinh tế mới nổi khác
Trung Quốc giữ vững vị trí hàng đầu thế giới về sản xuất chè với 1,4
triệu tấn, chiếm 33% sản lượng chè của cả thế giới Với tốc độ tăng bình quân 5,31%/năm, hiện nay Trung Quốc đã trở thành nước có diện tích chè lớn nhất thế giới với 1,84 triệu ha Năm 2009, lượng chè tiêu thụ tại Trung Quốc tăng 8,2% và năm 2010 tăng 1,4%, lên 1,06 triệu tấn và là mức tiêu thụ lớn nhất trên thế giới
Ấn Độ: Năm 2010, sản lượng chè của Ấn Độ là 960 ngàn tấn Sản lượng
chè của Ấn Độ chiếm khoảng 28% sản lượng chè toàn cầu và 14% giao dịch Theo Aditya Khaitan, giám đốc điều hành của McLeod Russel Ấn Độ, tiêu dùng nội địa tăng với tốc độ 3 – 3,5%/năm và trong năm 2011, sản lượng chè phải tăng 30 ngàn tấn để đáp ứng nhu cầu
Trang 22Sri Lanka: Ngành chè của Sri Lanka đã có lịch sử phát triển trên 140
năm Từ nhiều năm nay, Sri Lanka được biết đến là một nước sản xuất và xuất khẩu chè lớn tại khu vực Nam Á và trên thế giới Ngành chè có vị trí quan trọng trong nền kinh tế Sri Lanka, trong phát triển nông nghiệp, nông thôn, cung cấp việc làm và xuất khẩu thu ngoại tệ cho đất nước Số lao động trực tiếp và gián tiếp được sử dụng trong ngành chè là 2 triệu người Với tỷ trọng 65% trong xuất khẩu nông sản, ngành chè đóng góp khoảng 2% GDP của quốc đảo Sri Lanka Sản lượng chè của Sri Lanka khá ổn định từ năm
2005 đến nay với mức thu hoạch trên 300.000 tấn hàng năm Năm 2010, sản lượng đạt 331.400 tấn
Giai đoạn 1996 - 2010 diện tích trồng chè thế giới có xu hướng giảm nhẹ Năm 1996, diện tích chè là 2.303,8 nghìn ha đến năm 2010 còn khoảng 2.139,4 nghìn ha, bình quân giảm 0,53% trên năm Trong đó Nhật Bản là nước giảm diện tích lớn nhất, bình quân giảm 1,0%/năm Cùng với những biến động về diện tích trồng chè, trên thế giới đang diễn ra sự chuyển dịch lao động, lực lượng lao động trong ngành chè càng ngày càng thu hút được nhiều
do hiệu quả và giá trị kinh tế từ ngành chè ngày càng cao, do vậy có sự dịch chuyển lao động từ các ngành khác trong nội bộ ngành nông nghiệp sang trồng chè
Tại Ấn Độ sản xuất chè hàng năm đã thu hút hơn 2 triệu lao động tới làm việc trong 1.600 đồn điền và nhiều nhà máy chế biến chè Để nâng cao chất lượng các sản phẩm chè xuất khẩu Ấn Độ đã chú ý phát huy vai trò của nguồn nhân lực trong các khâu của quá trình sản xuất và chế biến chè, tổ chức đào tạo, đào tạo lại và thường xuyên bồi dưỡng trình độ học vấn, kỹ năng trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao thị trường trong nước và xuất khẩu
Trang 23Bảng 1.1 Diện tích đất chè thế giới giai đoạn 1996 - 2010
ĐVT: 1000 ha
TT Quốc gia
TTBQ (%)
Lịch sử trồng chè của Việt Nam đã có từ lâu Quá trình phát triển diện tích trồng chè ở Việt Nam có thể chia làm các giai đoạn sau:
Giai đoạn 1890 - 1945: Năm 1890 một số đồn điền chè được thành lập
đầu tiên: Tĩnh Cương (Phú Thọ), Đức Phổ (Quảng Nam)… Năm 1925 - 1940 người Pháp mở các đồn điền trồng chè ở cao nguyên Trung bộ với diện tích khoảng 2.750 ha Đến năm 1938, tổng diện tích trồng chè của Việt Nam là
Trang 2413.405 ha với sản lượng trên 27 ngàn tấn chè búp tươi Cây chè được trồng nhiều ở Bắc bộ và Trung bộ trong đó trên 75% diện tích là của người Việt, khoảng 25% diện tích là của người Pháp Theo số liệu thống kê năm 1939 sản lượng chè của Việt Nam là 10.900 tấn, đứng hàng thứ 6 sau Ấn Độ, Srilanca, Trung Quốc, Nhật Bản và Indonesia Một đặc điểm nổi bật trong thời kỳ này
là diện tích trồng chè rất phân tán, lẻ tẻ, sản xuất mang tính chất tự túc, tự cấp
Kỹ thuật canh tác lâu sơ sài với phương thức quảng canh, năng suất rất thấp chỉ đạt trên dưới 1,5 tấn búp tươi/ha Các cơ sở nghiên cứu về cây chè được thành lập ở hai nơi Phú Hộ (Vĩnh Phú) và Bảo Lộc (Lâm Đồng)
Giai đoạn 1945 - 1955: Do ảnh hưởng của cuộc chiến tranh chống Pháp
các vườn chè bị bỏ hoang nhiều, số còn lại không được đầu tư chăm sóc cho nên diện tích và sản lượng chè trong thời kỳ này giảm sút dần
Giai đoạn 1956 - 2000: Với phương châm xây dựng nền nông nghiệp
toàn diện và vững chắc, nghề trồng chè của Việt Nam đã được chú ý đúng mức Chè chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế của nước ta Trong các vùng trồng chè, chè là nguồn thu nhập chủ yếu, góp phần quan trọng trong việc cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân Giai đoạn này việc sản xuất và cung cấp chè chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng ở
trong nước, cũng như nhu cầu xuất khẩu (Hoàng Văn Chung và cs, 2004) Giai đoạn 2000 - 2010: Giai đoạn này sản xuất chè của nước ta biến
động tăng về diện tích Trong giai đoạn 2000 - 2004 diện tích trồng chè trên toàn quốc tăng trên 33 ngàn ha, giai đoạn 2005 - 2010 tốc độ tăng diện tích
chè chậm lại, bình quân tăng 4,47%/năm, (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2009), (Tổng cục Thống kê, 2010) Diện tích trồng chè cả nước và tại các vùng trồng
chè trọng điểm của nước ta tăng khá đều trong những năm qua Diện tích trồng chè tăng liên tục trong các năm qua là do Việt Nam xác định ngành chè
Trang 25là một bộ phận quan trọng trong cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông nghiệp Ngoài việc tăng cường mở rộng diện tích, việc thay đổi cơ cấu giống chè đã được triển khai trên diện rộng Diện tích chè cằn cỗi, năng suất thấp đã được thay thế bằng các giống chè mới năng suất cao, chất lượng tốt Vì vậy, năng suất chè không ngừng tăng lên Năng suất chè năm 2000 đạt 3,59 tấn/ha, đến năm 2010 năng suất chè của Việt Nam đạt 6,47 tấn/ha Sản xuất chè không chỉ đóng góp kim ngạch xuất khẩu mà còn là khu vực thu thút nhiều lao động
nông nghiệp, năm 2010 ngành chè thu hút khoảng 6 triệu lao động (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, 2010)
Bảng 1.2 Diện tích, năng suất và sản lượng chè Việt Nam
giai đoạn 2000-2010
Năm Diện tích (ha) Năng suất
(tấn/ha)
Sản lượng (nghìn tấn)
Trang 26Để sử dụng nguồn tài nguyên phong phú và nguồn lao động dồi dào, thay đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp, chè là một trong những cây có ưu thế nhất Nguồn lao động của ta dồi dào nhưng phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở vùng đồng bằng, chè là một loại cây yêu cầu một lượng lao động sống rất lớn Do đó việc phát triển mạnh cây chè ở vùng trung du và miền núi là một biện pháp có hiệu quả, vừa để sử dụng hợp lý vừa để phân bố đồng đều nguồn lao động dồi dào trong phạm vi cả nước
1.1.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn
Từ những vấn đề lý luận về lao động, đất nông nghiệp cho sản xuất chè
và thực tiễn sử dụng lao động, đất đai cho sản xuất chè trên thế giới cũng như
ở Việt Nam, có thế rút ra những bài học kinh nghiệm như sau:
- Chè - cây công nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế đối với một số nước trong khu vực châu Á, châu Phi cần đầu tư đồng bộ các nguồn lực Lao động
và đất nông nghiệp là hai nguồn lực cơ bản vì vậy biến động của chúng sẽ tác động đến sản xuất chè của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng
- Lao động cho sản xuất chè là yếu tố cần thiết trong quá trình sản xuất Cùng với xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành theo hướng công nghiệp - dịch
vụ - nông nghiệp, lao động cho sản xuất chè có xu hướng chuyển dịch ra ngoài ngành và sang các ngành phi nông nghiệp
- Đối với sản xuất chè đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế Tuy nhiên đất cho sản xuất chè có hạn nên cần được sử dụng đầy
đủ và hợp lý Trong những năm qua đất trồng chè có xu hướng tăng về diện tích do nhu cầu sử dụng sản phẩm này gia tăng trong một bộ phận dân chúng
- Quản lý nhà nước về lao động, đất nông nghiệp có vai trò quyết định thúc đẩy tới xu hướng biến động lao động, đất nông nghiệp cho sản xuất chè theo hướng phát triển bền vững
Trang 271.2 Phương pháp nghiên cứu
1.2.1 Phương pháp tiếp cận
1.2.1.1 Tiếp cận hệ thống
Tiếp cận hệ thống được sử dụng trong đánh giá các yếu tố bên trong và bên ngoài, có ảnh hưởng tới xu hướng biến động nguồn lực đất đai, lao động nông nghiệp cho sản xuất chè của mỗi địa phương Các yếu tố bên ngoài bao gồm: Nhu cầu tiêu thụ sản phẩm chè trên thị trường; quá trình công nghiệp hóa, hiện địa hóa và đô thị hóa; sự phát triển của khoa học công nghệ; giá sản phẩm chè; quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của huyện và của tỉnh Thái Nguyên Các yếu tố bên trong gồm các yếu tố thuộc về nội tại của nguồn lực, trình độ của người sử dụng đất đai và lao động nông nghiệp Các yếu tố có mối quan hệ khăng khít với nhau trong một hệ thống động Dân số tăng dẫn đến tăng lực lượng lao động cho phát triển nông nghiệp cũng như tăng diện tích đất canh tác chuyển cho nhu cầu nhà ở Cùng với xu thế phát triển công nghiệp và dịch vụ cơ cấu lao động có sự chuyển dịch theo hướng từ nông nghiệp sang các lĩnh vực phi nông nghiệp Bên cạnh đó, những thay đổi của yếu tố thị trường có ảnh hưởng đến hành vi của các thành phần kinh tế, từ đó dẫn đến những thay đổi trong cơ cấu kinh tế nói chung, cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp nói riêng
1.2.1.2 Tiếp cận có sự tham gia
Cách tiếp cận có sự tham gia được sử dụng xuyên suốt ở tất cả các khâu, các hoạt động của nghiên cứu Sự tham gia của các bên liên quan bắt đầu từ việc điều tra, khảo sát, đánh giá tiềm năng và thực trạng sử dụng lao động, đất nông nghiệp cho sản xuất chè của địa phương cho đến việc phân tích xu hướng biến động của chúng, xác định các giải pháp thúc đẩy chuyển dịch nguồn lực của địa phương Trong đó sự tham gia của các nhà quản lý, các
Trang 28chuyên gia và các hộ nông dân sản xuất chè đóng vai trò quan trọng Một số công cụ của đánh giá nhanh có sự tham gia sẽ được sử dụng một cách linh hoạt để thu thập các thông tin cần thiết
1.2.1.3 Tiếp cận theo điều kiện địa lý và địa hình
Huyện Đồng Hỷ chia ra các vùng sản xuất chè khác nhau, dựa theo điều kiện địa lý và địa hình tại điểm nghiên cứu chúng tôi chia ra 3 vùng sau: (i)
Vùng núi chọn điểm nghiên cứu xã Linh Sơn và 3 thôn của xã (ii) Vùng trung
du chọn xã Minh Lập và 3 thôn của xã (iii) Vùng nhiều ruộng ít đồi chọn thị trấn Sông Cầu và 3 thôn của thị trấn để nghiên cứu Tiếp cận theo hướng này
sẽ giúp nghiên cứu chỉ ra một số giải pháp đặc thù sử dụng hiệu quả lao động, đất nông nghiệp cho phát triển sản xuất chè của địa phương đến năm 2020
1.2.2 Chọn điểm nghiên cứu
Huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên là một huyện miền núi nằm trong vùng trung du và miền núi Bắc Bộ Mặc dù có nhiều lợi thế về tài nguyên khoáng sản phục vụ sản xuất công nghiệp nhưng sản xuất nông nghiệp vẫn luôn là ưu tiên hàng đầu của chính quyền địa phương, trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, tiến hành công nghiệp hóa, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thì diện tích đất nông nghiệp đang bị thu hẹp dần, điều này đã có những ảnh hưởng nhất định tới sản xuất nông nghiệp của huyện nói chung và sản xuất chè nói riêng Để nghiên cứu vấn đề phát triển sản xuất chè trong điều kiện như vậy huyện Đồng Hỷ được chọn làm điểm nghiên cứu của đề tài
1.2.3 Thu thập số liệu
1.2.3.1 Số liệu thứ cấp
- Các công trình nghiên cứu đã được công bố: báo cáo khoa học, tạp chí
- Báo cáo tổng kết tình hình kinh tế - xã hội của huyện Đồng Hỷ
Trang 29- Niên giám thống kê huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Các số liệu thứ cấp được thu thập nhằm phân tích tình hình kinh tế-xã hội của địa phương, đồng thời phân tích tình hình sử dụng một số nguồn lực
từ đó xây dựng lên mô hình phân tích hệ thống nhằm sử dụng nguồn lực cho phù hợp
1.2.4 Phân tích số liệu
1.2.4.1 Thống kê mô tả
Thống kê mô tả là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng kinh tế - xã hội bằng việc mô tả thông qua các số liệu thu thập được Phương pháp này được sử dụng để phân tích tình hình kinh tế - xã hội của huyện và tình hình sử dụng các nguồn lực đất đai, dân số - lao động, sản lượng chè qua các năm
* Dùng phương pháp chỉ số để phân tích biến động của từng nhân tố xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố cấu thành nhân tố và tổng thể Cụ thể trong đề tài này chúng tôi sử dụng hệ thống chỉ số 3 để xem xét và phân tích mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tới sản lượng chè của huyện
* Dãy số thời gian: giúp ta dự báo (dự đoán) sự phát triển của hiện tượng trong tương lai:
Trang 30- Dự báo theo lượng tăng lên bình quân:
Yk = Y0 + k.d Trong đó:Yk:Là mức độ kì thứ k kể từ kì gốc
Y0: Là mức độ kì gốc
d =
Xn – X1n-1
- Dự báo theo tốc độ phát triển bình quân
Yk = y0*tkTrong đó: t là tốc độ phát triển bình quân
- Dự báo mức tăng dân số
Nt = N0 [ 1+ (P +(-)V)/100]
Trong đó: P là tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên
V là tỉ lệ gia tăng dân số cơ học
1.2.4.2 Mô hình hoá
a) Mô hình hoá năng suất chè
- Sử dụng mô hình Cobb - Douglas để mô hình hoá các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất chè Mô hình Cobb - Douglas là mô hình được sử dụng rộng rãi trong kinh tế học vi mô và vĩ mô Ưu thế của mô hình Cobb - Douglas là thiết lập được mối quan hệ giữa các yếu tố không cùng độ đo lường, các yếu tố không cùng bản chất đều được đánh giá đồng thời
- Mô hình Cobb - Douglas có dạng tổng quát như sau:
Y= F(Z)= a.Z1
1.Z2
2 Zn
n.e(D)
Trang 31Y là biến số phụ thuộc, phản ánh yếu tố kết quả của sự tác động
A là hằng số
Z1, Z2 Zn là các biến độc lập phản ánh nguyên nhân
D là biến giả định mang tính định tính, D nhận giá trị bằng 0 hoặc 1
i: hệ số của biến số Xi (i=1,7)
X1: lượng bón phân kali (kg/ha) X5: lao động (ngày người/ha)
X2: lượng bón phân lân (kg/ha) X6: giống (kg/ha)
X3: lượng bón đạm (kg/ha) X7: lượng phân chuồng (tấn/ha)
X4: tiền thuốc bảo vệ thực vật (nghìn đồng/ha)
b) Mô hình hoá trong sử dụng các nguồn lực
Mô hình phân tích hệ thống là loại mô hình dùng để mô tả và phân tích
sự vận động của một chuỗi sự vật hiện tượng kinh tế xã hội trong một khoảng thời gian dài Chuỗi sự vật hiện tượng trong mô hình có mối quan hệ hữu cơ
và ảnh hưởng lẫn nhau tạo nên một sự tương tác thay đổi có tính chất hệ
Trang 32thống động (Bruce hannon & Matthias ruth, 1994) Sự phân tích kết quả của
mô hình được gọi là phân tích hệ thống Chúng ta cũng đã biết, nguồn lực được sử dụng trong phát triển kinh tế xã hội hết sức đa dạng và phong phú như đất đai, dân số - lao động, lương thực, tài nguyên thiên nhiên, Sự gia tăng dân số làm diện tích đất nông nghiệp bình quân trên đầu người giảm, hay tốc độ đô thị hoá nhanh sẽ làm giảm diện tích đất canh tác, do đó làm giảm sản lượng chè Có thể nói, sự thay đổi của nguồn lực này sẽ có tác động dây chuyền tới các nguồn lực khác, những nguồn lực đó có mối quan hệ với nhau trong một hệ thống phức tạp Trong nghiên cứu này, nguồn lực đất canh tác chè, dân số - lao động, sản lượng chè sẽ được chúng tôi đặt trong một hệ thống và sử dụng mô hình kinh tế động để xây dựng cũng như phân tích hệ thống đó
Các yếu tố cấu thành nên mô hình phân tích hệ thống động được thể hiện như sau:
Biến chính là các yếu tố cuối cùng được phân tích, nó chịu sự tác
động của các yếu tố khác và thay đổi theo sự tác động đó Giá trị cuối cùng của biến chính là kết quả của mô hình
Biến trung gian được dùng để tính giá trị của biến chính, biến
chính chịu sự tác động gián tiếp của các yếu tố khác thông qua biến trung gian Biến trung gian còn gọi là biến đầu vào và biến đầu ra
Biến điều khiển (trong hình vẽ thể hiện bằng hình tròn) là những
biến tác động tới biến chính, sự thay đổi của chúng sẽ kéo theo
sự thay đổi của cả hệ thống
Các biến được liên kết với nhau bởi các mũi tên chỉ hướng của
sự tác động
Trang 33- Tác dụng của mô hình phân tích hệ thống: Kết quả của mô hình là cơ
sở để các nhà hoạch định đưa ra những chiến lược hay kế hoạch sử dụng các nguồn lực đã được tính toán cho sự phát triển trong tương lai
Sơ đồ 1.1: Mô phỏng mô hình hệ thống động
1.2.5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
- Diện tích đất nông nghiệp các năm từ 2012 – 2020
Biến đầu vào
Biến
điều
khiển 1
Biến điều khiển 2
Biến điều
khiển 3
Trang 34Chương II THỰC TRẠNG SỬ DỤNG VÀ XU HƯỚNG BIẾN ĐỘNG LAO ĐỘNG, ĐẤT ĐAI CHO PHÁT TRIỂN CÂY CHÈ CỦA HUYỆN ĐỒNG HỶ
TỈNH THÁI NGUYÊN
2.1 Đặc điểm địa bàn huyện Đồng Hỷ
2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên
Phía Bắc giáp huyện Võ Nhai và tỉnh Bắc Kạn
Phía Nam giáp huyện Phú Bình và thành phố Thái Nguyên
Phía Đông giáp tỉnh Bắc Giang
Phía Tây giáp sông Cầu và huyện Phú Lương
Trang 35- Vùng Tây Nam: Có địa hình đồi núi thấp, xen kẽ các cánh đồng, độ cao trung bình dưới 80m so với mực nước biển Đất đai thích hợp cho phát triển các cây lương thực, cây công nghiệp
- Vùng ven sông Cầu: Là vùng có địa hình thấp, tương đối bằng phẳng, nhiều cánh đồng rộng lớn, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp
Nhìn chung , cấu tạo địa hình Đồng Hỷ tạo thuận lợi cho huyện trong phát triển các vùng cây công nghiệp phục vụ công nghiệp chế biến nông lâm sản Tuy nhiên , địa hình chia cắt gây cũng gây khó khăn cho trong giao thương nội huyện, tăng suất đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
2.1.1.3 Khí hậu thủy văn
Huyện Đồng Hỷ nằm trong vùng trung du miền núi, chịu ảnh hưởng của vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm có hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô Mùa mưa trùng với gió mùa Đông Nam từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô trùng với gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau và là mùa đông Những đặc điểm cơ bản của khí hậu:
- Nhiệt độ chênh lệch giữa tháng nóng nhất (tháng 6 và tháng 7: 28oC) với tháng lạnh nhất (tháng 1 và tháng 2: 15,2o
C) là 13,7oC Tổng số giờ nắng trong năm dao động từ 1.300 đến 1.750 giờ và phân phối tương đối đều cho các tháng trong năm Lượng mưa trung bình 1.500 - 2.500 mm Vào mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10) trong đó riêng lượng mưa tháng 8 chiếm đến gần 30% tổng lượng mưa
Khí hậu huyện Đồng Hỷ tương đối thuận lợi cho việc phát triển một hệ sinh thái đa dạng và bền vững, thuận lợi cho việc phát triển ngành nông - lâm nghiệp, là nguồn nguyên liệu phục vụ cho ngành công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm
Trang 362.1.1.4 Tài nguyên nước
Nguồn nước mặt: Được cung cấp bởi mạng lưới sông, suối, trong đó chủ yếu là sông Cầu, suối Linh Nham, suối Thác Lạc, suối Ngàn Me Ngoài ra, trên địa bàn huyện còn hàng trăm sông, suối, ao hồ, đập chứa, kênh Tuy nhiên, phần lớn mặt nước các sông, suối đều thấp hơn mặt bằng đất canh tác nên hạn chế đáng kể tới khả năng khai thác sử dụng diện tích đất này vào sản xuất
2.1.1.5 Tài nguyên rừng
Năm 2010, toàn huyện Đồng Hỷ có 22.232,74 ha diện tích đất lâm nghiệp Độ che phủ của rừng là 48,8% song phân bố không đồng đều giữa các khu vực trên địa bàn huyện , tập trung chủ yếu ở các xã vùng núi cao (Hợp Tiến có độ che phủ đạt 78,81%; Văn Lăng: 66,48%; Cây Thị: 56,93%; và Tân Long: 56,0% ) Một số địa phương có mật độ che phủ khá thấp (thị trấn Chùa Hang 0,19%; xã Hóa Thượng 0,44% )
2.1.1.6 Tài nguyên khoáng sản
Đồng Hỷ nằm trong vùng sinh khoáng Đông Bắc Việt Nam, thuộc vành đai sinh khoáng Thái Bình Dương Qua điều tra, tìm kiếm và thăm dò địa chất
đã phát hiện được nhiều mỏ và các điểm mỏ trên địa bàn với trữ lượng tuơng đối lớn
- Quặng sắt là khoáng sản có trữ lượng lớn nhất, bao gồm:
+ Cụm mỏ sắt Trại Cau có trữ lượng 20 triệu tấn, hàm lượng Fe 58,8 đến 61,8% được xếp vào chất lượng loại tốt
+ Cụm mỏ sắt Linh Sơn – Tiến Sơn – Tiến Bộ nằm trên trục đường tỉnh
lộ 269 gồm nhiều mỏ có quy mô trung bình từ 1-3 triệu tấn Tổng trữ lượng quặng phong hóa đạt trên 30 triệu tấn
Trang 37- Quặng chì kẽm ở làng Hích và các điểm quặng nhỏ khác phân bố không tập trung, cụ thể:
- Quặng vàng sa khoáng phân bố rải rác ở các vùng phía Đông và phía Bắc của Huyện Trữ lượng nhỏ, nằm rải rác và hiện đang được khai thác bằng công nghệ thủ công, cụ thể:
- Quặng Phốtphorít ở làng Mới trữ lượng khoảng 20-30 vạn tấn
- Khoáng sản vật liệu xây dựng, đất sét, đá vụn, cát sỏi trong đó sét xi măng có trữ lượng lớn ở Khe Mo, hàm lượng các chất như SiO2 khoảng 51,9-65,9%; AL2O3 khoảng 7-8% Ngoài ra, trên địa bàn còn có khá nhiều mỏ sét, cát sỏi dùng cho sản xuất vật liệu xây dựng Đáng chú ý là đá Carbuat bao gồm đá vôi xây dựng, đá ốp lát, đá vôi xi măng, Dolomit có trữ lượng 220 triệu tấn
Nhìn chung, tài nguyên khoáng sản ở Đồng Hỷ khá phong phú và có trữ lượng lớn tạo cho Huyện có nhiều thuận lợi trong phát triển công nghiệp khai
thác và chế biến khoáng sản, vật liệu xây dựng
2.1.2 Đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội
2.1.2.1 Về tình hình phát triển kinh tế
a) Tốc độ tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2005-2010 đạt 18,94%/năm Trong đó, tăng trưởng giá trị gia tăng (VA) ngành CN-XD đạt 35,13%/năm; tăng trưởng VA ngành nông, lâm và thủy sản đạt 5,9%/năm; tăng trưởng VA ngành dịch vụ đạt 12,31%/năm Tăng trưởng cao của khối CN-XD chủ yếu do tốc độ tăng trưởng cao của ngành xây dựng, đạt 87,4%/năm (gấp 3,6 lần so với mức tăng của Tỉnh ) và đóng góp của Nhà máy xi măng Quang Sơn Tăng trưởng cao của ngành xây dựng trên địa bàn
Trang 38được giải thích là Huyện đang triển khai nhiều dự án xây dựng cho phát triển
cơ sở hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông, thủy lợi
- Cơ cấu kinh tế của huyện đang chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng
VA các khối ngành CN-XD Tỷ trọng VA ngành CN-XD trong tổng GDP của Huyện tăng từ 19,7% năm 2005 lên 25,7% năm 2010, tăng 6,1%; tỷ trọng ngành nông, lâm thủy sản giảm từ 32,2% năm 2005 xuống còn 30,5% năm
2010, giảm 1,3% hay có tốc độ giảm 1,3%/năm
Bảng 2.1: Hiện trạng phát triển kinh tế huyện Đồng Hỷ
so với tỉnh Thái Nguyên
So sánh (lần)
1 Tốc độ tăng trưởng GDP (%/năm) 18,94 11,0 1,72
2 Tốc độ chuyển dịch cơ cấu (%/năm)
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Đồng Hỷ, Tỉnh Thái Nguyên, 2010
Trang 39b) Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp
Sự phát triển của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp (CN-TTCN) trong những năm gần đây đã thu hút được một lực lượng lao động khá lớn Tính đến năm 2010, số lao động tham gia vào sản xuất công nghiệp trong huyện là 1.563 người, bình quân tăng hơn 400 lao động/năm Các lĩnh vực chủ yếu thu hút lao động là trong các ngành sản xuất thực phẩm và đồ uống, công nghiệp sản sản phẩm khoáng phi kim loại
- Cơ cấu theo các phân ngành công nghiệp đã và đang chuyển dịch theo hướng khai thác, phát huy những ngành công nghiệp có tiềm năng, lợi thế như công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp chế biến nông lâm thuỷ sản, công nghiệp khai khoáng, công nghiệp dệt may, công nghiệp cơ khí Việc chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp bước đầu đã hình thành một
số sản phẩm chủ lực chiếm tỷ trọng khá lớn trong công nghiệp của huyện và
cả tỉnh như đá xây dựng, đá ốp lát, cát sỏi xây dung, chè xuất khẩu, sản phẩm
đồ mộc, góp phần đáp ứng nhu cầu thiết yếu của nền kinh tế và giải quyết việc làm
- Cơ cấu theo thành phần kinh tế đã có sự chuyển dịch ngày càng hợp lý hơn Tỷ trọng công nghiệp quốc doanh trong GTSX công nghiệp giảm mạnh
từ 46% năm 2005 xuống còn 9% năm 2010 Điều này cho thấy sản xuất công nghiệp đã có bước chuyển biến mạnh theo cơ chế thị trường, thu hút được các thành phần kinh tế khác phát triển GTSX đạt tốc độ tăng trưởng 30%/năm (2005 – 2010), nâng tỷ trọng từ 54% năm 2005 lên 90,1% năm 2009, trong đó kinh tế cá thể và kinh tế hỗn hợp chiếm 75%
c) Ngành dịch vụ
Giai đoạn 2005-2010, dịch vụ thương mại có tốc độ tăng trưởng khá cao Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ trên địa bàn năm 2010 đạt
Trang 40314.000 triệu đồng, tăng gấp trên 2,5 lần so năm 2005; tăng trưởng bình quân đạt 20%/năm Trong đó, khu vực kinh tế cá thể giữ vị trí quan trọng đảm bảo cung cấp đủ hàng hoá và dịch vụ cho hoạt động kinh tế - xã hội, chiếm 78,1% tổng doanh thu bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ
Mạng lưới phân phối ngày càng phát triển với sự mở rộng tham gia của các thành phần kinh tế, nhà phân phối Cơ sở hạ tầng phục vụ hoạt động dịch
vụ thương mại, du lịch và khách sạn nhà hàng (TM, DL, KS) tiếp tục được củng cố phát triển Mạng lưới chợ, cửa hàng… được đầu tư, nâng cấp và khai thác có hiệu quả, bước đầu đã phục vụ tốt cho hoạt động thương mại
Đến năm 2010, trên địa bàn có 14 chợ với tổng diện tích 40.11a m2, trong đó có 7.683 m2 chợ kiên cố, hoạt động ổn định, có vị trí thuận lợi phục
vụ cung cấp hàng hóa tiêu dùng, nông sản; có 14.431 m2 chợ bán kiên cố; và 18.001 m2 chợ tạm Đến năm 2010, trên địa bàn huyện có 19 cửa hàng bán xăng dầu với tổng diện tích mặt bằng khoảng 12.300 m2, dung tích bể chứa
633 m3, 62 cột bơm xăng dầu
d) Ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản
- Tăng trưởng VA ngành nông, lâm và thuỷ sản giai đoạn 2005-2010, đạt bình quân là 9,73%/năm, năm 2005 VA ngành nông, lâm và thuỷ sản đạt 158,6 tỷ đồng, đến năm 2010 đạt 434,5 tỷ đồng (tăng gấp 2,7 lần) Trong đó, ngành nông nghiệp đạt 407,6 tỷ đồng; ngành lâm nghiệp đạt 20,5 tỷ đồng; ngành thủy sản đạt 6,4 tỷ đồng
- Chuyển dịch cơ cấu GTSX nội ngành nông, lâm thủy sản: Cơ cấu GTSX nội ngành nông, lâm và thuỷ sản chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng GTSX ngành nông nghiệp và giảm tỷ trọng ngành lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản Tỷ trọng ngành nông nghiệp tăng từ 93,1% năm 2005 lên 94,7% năm 2010 (tăng 1,6%) Tỷ trọng GTSX ngành lâm nghiệp giảm từ 5,1% năm