Trên cơ sở tổng hợp những lý luận và thực tiễn của hoạt động du lịch trên thế giới và ở Việt Nam trong những năm gần đây, Khoa du lịch và khách sạn trường Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nộ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN MẠNH HIẾU
MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM
PHÁT TRIỂN DU LỊCH TÀU BIỂN Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 603401
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Minh Yến
THÁI NGUYÊN - 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của TS Trần Minh Yến
Các số liệu, tài liệu nêu ra trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính
khách quan, khoa học Các tài liệu tham khảo có nguồn gốc rõ ràng
Thái Nguyên, ngày 26 tháng 6 năm 2012
Tác giả luận văn
Nguyễn Mạnh Hiếu
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, tôi đã nhận
được sự hướng dẫn giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của quý thầy cô trường Đại
học kinh tế và Quản trị kinh doanh- Đại học Thái Nguyên
Trước hết, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Trần Minh Yến đã
dành nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn
thành luận văn tốt nghiệp
Xin cùng bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng
Quản lý đào tạo sau đại học, Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh - Đại
học Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề
tài nghiên cứu của mình
Thái Nguyên, ngày 26 tháng 6 năm 2012
Trang 4
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Những đóng góp mới của luận văn 4
6 Bố cục của luận văn 4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN DU LỊCH TÀU BIỂN 5
1.1 Một số khái niệm về chung về du lịch và du lịch tàu biển 5
1.1.1 Khái niệm về du lịch 5
1.1.2 Khái niệm về du lịch tàu biển 7
1.1.3 Các yếu tố tác động tới sự phát triển của du lịch tàu biển 7
1.2 Kinh nghiệm phát triển du lịch tàu biển ở một số quốc gia và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 9
1.2.1 Kinh nghiệm của Thái Lan 9
1.2.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc 12
1.2.3 Bài học kinh nghiệm từ Việt Nam 16
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Các vấn đề đặt ra mà đề tài cần giải quyết 18
2.2 Các phương pháp nghiên cứu 18
2.2.1 Phương pháp thống kê 18
2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 19
Trang 52.2.3 Phương pháp phân tích hệ thống dữ liệu 20
2.2.4 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia 20
2.2.5 Phương pháp tham khảo và kế thừa các tài liệu đã được công bố có liên quan đến đề tài 20
2.2.6 Phương pháp so sánh 21
2.2.7 Phương pháp phân tích định tính 22
2.2.8 Phương pháp phân tích SWOT 22
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH TÀU BIỂN VIỆT NAM 23
3.1 Khái quát về du lịch Việt Nam 23
3.1.1 Tình hình phát triển du lịch Việt Nam 23
3.1.2 Năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam 29
3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến du lịch Việt Nam 32
3.2.1 Môi trường vĩ mô 32
3.2.2 Môi trường vi mô 34
3.3 Khái quát về tình hình du lịch tàu biển trên thế giới 35
3.3.1 Sự hình thành và phát triển, đặc điểm của du lịch tàu biển 35
3.3.2 Số lượng khách du lịch tàu biển trên thế giới 41
3.3.3 Xu hướng tăng trưởng khách du lịch tàu biển 42
3.3.4 Thị trường nguồn của du lịch tàu biển 43
3.4 Thực trạng phát triển du lịch tàu biển ở Việt Nam 43
3.4.1 Số lượng khách du lịch tàu biển đến Việt Nam 43
3.4.2 Đặc điểm của hoạt động du lịch tàu biển tại Việt Nam 45
3.4.3 Phân tích tình hình du lịch tàu biển của Việt Nam dựa trên các nguyên lý Marketing du lịch 47
3.4.4 Đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của du lịch tàu biển Việt Nam 55
Chương 4 CÁC GIẢI PHÁP VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TÀU BIỂN 60 4.1 Quan điểm - Phương hướng - Mục tiêu 60
4.1.1 Quan điểm phát triển 60
4.1.2 Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 61
Trang 64.1.3 Mục tiêu phát triển du lịch tàu biển ở Việt Nam đến năm 2020 62
4.2 Các giải pháp để phát triển du lịch tàu biển ở Việt Nam 65
4.2.1 Giải pháp về thị trường 65
4.2.2 Giải pháp phát triển sản phẩm 72
4.2.3 Giải pháp liên quan đến giá 77
4.2.4 Giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 78
4.2.5 Giải pháp đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng 79
4.2.6 Giải pháp về thể chế và chính sách 81
4.2.7 Giải pháp đẩy mạnh hợp tác quốc tế, chủ động hội nhập toàn cầu 83
4.3 Một số khuyến nghị 84
4.3.1 Đối với Chính phủ 84
4.3.2 Đối với Bộ Văn Hóa, Thể thao và Du lịch 86
4.3.3 Tăng cường phối hợp giữa các Bộ, Ngành, chính quyền địa phương đơn giản hoá các thủ tục để tạo thuận lợi cho du lịch phát triển 87
KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT TẮT DIỄN GIẢI
MICE Du lịch khen thưởng, hội nghị, hội thảo, triển lãm
PRESS TRIP Tour làm quen dành cho báo chí
SWOT Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức
WTTC Hội đồng du lịch và lữ hành thế giới
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Lương khách du lịch quốc tế và thời gian lưu trú trung bình 2001-2010 23
Bảng 3.2 Cơ cấu khách quốc tế đến Việt Nam năm 2010 (theo phương tiện đến) 24
Bảng 3.3 Cơ cấu khách quốc tế đến VN năm 2010 (theo mục đích chuyến đi) 25
Bảng 3.4 Cơ cấu khách quốc tế đến Việt Nam năm 2010 (theo thị trường khách) 27 Bảng 3.5 Mô hình SWOT về năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam 29
Bảng 3.5 Chi tiêu bình quân theo đầu khách của các hãng tàu 40
Bảng 3.6 Khách du lịch tàu biển trên thế giới giai đoạn 1995 - 2005 42
Bảng 3.7 Khách du lịch tàu biển đến Việt Nam giai đoạn 1997 - 2007 44
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Khách quốc tế đến Việt Nam năm 2010 theo phương tiện đến 24 Biểu đồ 3.2 Khách quốc tế đến Việt Nam năm 2010 theo mục đích chuyến đi 25
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Du lịch đang trở thành một ngành kinh tế quan trọng của nhiều nước trên thế giới Trong những năm gần đây, du lịch Việt Nam đã có những sự phát triển vượt bậc cả về số lượng và chất lượng Trong sự phát triển chung của du lịch thì du lịch tàu biển là một trong những hình thức đang nổi lên như một hiện tượng bởi sự vượt trội về quy mô nguồn khách cũng như chất lượng phục vụ
Theo đánh giá của các tổ chức du lịch quốc tế, Việt Nam, hiện đang được đánh giá là điểm đến an toàn nhất trong khu vực và là đất nước có nhiều tiềm năng về du lịch Việt Nam có vùng biển rộng trên 1 triệu km2 lớn gấp 3 lần diện tích đất liền; nằm trong số 10 nước trên thế giới có chỉ số cao nhất về chiều dài bờ biển với 3.260 km trên cả 3 hướng Đông, Nam và Tây Nam, trung bình khoảng 100 km2 đất liền có 1 km bờ biển (cao gấp 6 lần của thế giới); với trên 30 cảng biển, 114 cửa sông, 47 vũng, vịnh và khoảng 3.000 đảo lớn, nhỏ Trên vùng biển nước ta có 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, có khoảng 20 kiểu loại hệ sinh thái điển hình và trên 100 điểm khoáng sản đã được phát hiện Điều này tạo nên nét đặc trưng về cảnh quan thiên nhiên và nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng với trữ lượng và quy mô thuộc loại khá lớn, cho phép phát triển nhiều lĩnh vực kinh tế biển quan trọng như: cảng biển, thuỷ sản, dầu khí, khai khoáng và đặc biệt trong đó có lĩnh vực du lịch Việt Nam còn có hàng nghìn hòn đảo trong đó có nhiều hòn đảo nổi tiếng như Cát Bà, Cù Lao Chàm, Côn Đảo, Phú Quốc, đồng thời với hàng trăm bãi biển đẹp trải dọc từ Bắc vào Nam Khoảng cách đến các điểm tham quan du lịch chính của Việt Nam đều tương đối gần các cảng biển Vì vậy, du khách có thể
dễ dàng tiếp cận các điểm tham quan và các di sản thế giới như Vịnh Hạ Long, Cố đô Huế, phố cổ Hội An So với các quốc gia trong khu vực, Việt
Trang 11Nam nằm trên tuyến đường giữa hai trung tâm du lịch tàu biển Singapore và Hồng Kông nên có nhiều lợi thế để phát triển du lịch tàu biển Tuy nhiên, những năm qua, lượng khách du lịch bằng tàu biển đến Việt Nam mới chiếm một phần nhỏ trong tổng lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam
Tại Hội nghị quốc tế về du lịch tàu biển lần thứ nhất, Bộ Trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch Hoàng Anh Tuấn đã nhấn mạnh rằng: “Thế mạnh của du lịch biển Việt Nam vẫn chưa được phát huy, chất lượng phục vụ chưa cao, sản phẩm du lịch thiếu đa dạng Một số cơ chế chính sách liên quan đến du lịch biển còn lạc hậu, tạo ra một số rào cản cho phát triển du lịch biển Công tác tuyên truyền quảng bá về du lịch biển còn hạn chế Điều này đòi hỏi phải được nhanh chóng khắc phục nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của du khách quốc tế, góp phần tăng cường khách du lịch tàu biển vào Việt Nam”
Vậy, vấn đề đặt ra là làm thế nào để khắc phục những hạn chế, bất cập, đồng thời phát huy những lợi thế, tiềm năng vốn có của du lịch biển nước ta?
Có nhiều giải pháp để giải quyết vấn đề này Tuy nhiên, để phát triển du lịch bằng tàu biển ở Việt Nam một cách có hiệu quả cần phải xây dựng một hệ thống giải pháp đồng bộ, phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam
Xuất phát từ thực tế đó, tôi chọn vấn đề “Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển du lịch bằng tàu biển ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu
cho luận văn thạc sĩ kinh tế của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Phát triển du lịch tàu biển là một trong những lĩnh vực trọng tâm của ngành du lịch Việt Nam Đây cũng là lĩnh vực mới được phát triển nên đã được nhiều người quan tâm nghiên cứu Liên quan đến đề tài có một số công trình và sách, báo, tạp chí như:
- Tổng cục Du lịch (2005), Chương trình hành động quốc gia về du lịch Việt Nam;
Trang 12- Viện nghiên cứu phát triển Du lịch (2006), Chiến lược phát triển du lịch biển Việt Nam đến năm 2020, Tổng cục Du lịch
- Tổng cục Du lịch (2007, 2008), Du lịch Việt Nam, tạp chí Du lịch Việt Nam và Báo du lịch các số;
- Tổng cục Du lịch (2007), Hội Nghị tàu biển Quốc tế Việt Nam lần thứ nhất Tài liệu Hội thảo khoa học
- Tổng cục Du lịch (2008), số liệu báo cáo thống kê du lịch website: http://www.vietnamtourism.gov.vn;
- Tổng cục Du lịch (2008), Thực trạng giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực lữ hành quốc tế của Việt Nam;
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu:
Phân tích và đánh giá thực trạng và tiềm năng phát triển du lịch tàu biển ở Việt Nam hiên nay, từ đó đề xuất các giải pháp và đưa ra khuyến nghị nhằm đẩy mạnh phát triển du lịch tàu biển ở Việt Nam trong những năm tới
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ một số vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn của du lịch tàu biển
- Phân tích đánh giá thực trạng hoạt động du lịch tàu biển ở Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2001 đến nay
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu để phát triển du lịch tàu biển ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tƣợng nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu, làm rõ việc phát triển du lịch tàu biển ở Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2001 đến nay và đề ra phương hướng và giải pháp phát triển du lịch tàu biển ở Việt Nam đến năm 2020
* Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Luận văn nghiên cứu hoạt động kinh doanh du lịch tàu biển ở Việt Nam
Trang 13- Về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề trên từ năm
2001 đến nay
5 Những đóng góp mới của luận văn
- Thông qua đề tài sẽ có những đóng góp thêm cơ sở khoa học, cơ sở lý luận và thực tiễn du lịch nói chung, góp phần làm rõ hơn vấn đề hoạt động du lịch tàu biển ở Việt Nam nói riêng
- Phân tích và đánh giá đúng thực trạng hoạt động du lịch tàu biển ở Việt Nam từ năm 2001 đến nay
- Đưa ra một số giải pháp khả thi nhằm phát triển du lịch tàu biển ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển du lịch tàu biển
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 4: Các giải pháp phát triển du lịch tàu biển ở Việt Nam đến năm 2020
Trang 14sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người Quá trình phát triển của du lịch góp phần phản ánh tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất ở các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau mà con người đã trải qua Thời kỳ đầu xã hội nguyên thuỷ, con người cũng có sự di chuyển từ nơi này tới nơi khác nhưng hoạt động di chuyển đó do những nguyên nhân như: di chuyển đến một nơi khác phù hợp hơn để sinh sống, tránh xa các xung đợt xã hội, đến những nơi không có thiên tai, bão lụt… trên phạm vi toàn thế giới, hoạt động đi ra ngoài với mục đích du lịch bắt đầu được xuất hiện đó là khi ngành thủ công nghiệp tách hẳn khỏi ngành trồng trọt và chăn nuôi, ngành thương nghiệp xuất hiện, quan hệ hàng hoá tiền tệ hình thành và phát triển du lịch có điều kiện phát triển gắn liền với cuộc cách mạng giao thông trên thế giới Đầu máy hơi nước được sử dụng rộng rãi trong các ngành đường sắt, đường bộ, đường thuỷ trong đó ngành công nghiệp sản xuất ô tô được chú trọng hơn bao giờ hết Chỉ trong thời gian ngắn, trên khắp Châu Âu, Châu Mĩ, mạng lưới đường sắt được hình thành Trên biển nhiều tàu thủy lớn, nhỏ đủ chủng loại, hiện đại, đẹp về kiểu dáng đi khắp các vịnh trên thế giới Giao thông trở thành yếu tố quan trọng thúc đẩy giao lưu mạnh mẽ của con người ở các vùng đất khác nhau làm cho du lịch trở thành hiện tượng đại chúng và cũng từ đó xuất hiện hàng loạt các loại hình du lịch của mọi tầng lớp khác nhau trong xã hội
Trang 15Theo tổ chức du lịch thế giới (WTO), “Du lịch là hoạt động về chuyến đi đến một nơi khác với môi trường sống thường xuyên của con người và ở lại đó
để thăm quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí hay các mục đích khác ngoài các hoạt động để có thù lao ở nơi đến với thời gian liên tục ít hơn một năm” [6, tr 15]
Trong Pháp lệnh du lịch của Việt Nam của Việt Nam, tại Điều 10, thuật ngữ Du lịch được hiểu như sau: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định, [23, tr 3]
Trên cơ sở tổng hợp những lý luận và thực tiễn của hoạt động du lịch trên thế giới và ở Việt Nam trong những năm gần đây, Khoa du lịch và khách sạn trường Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội đưa ra khái niệm: “Du lịch là ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hoá và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại, lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và các nhu cầu khác của du lịch Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế, chính trị -
xã hội cần thiết cho nước làm du lịch và cho bản thân doanh nghiệp” [11, tr.19-20] Như vậy, du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, bao gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp Hoạt động du lịch không chỉ có đặc điểm của một ngành kinh tế mà còn có đặc điểm văn hoá - xã hội Thực tiễn ở nhiều nước trên thế giới đã chứng minh rằng hoạt động du lịch không chỉ đem lại lợi ích kinh tế mà còn cả lợi ích chính trị, văn hoá, xã hội Du lịch có nhiều đặc thù, gồm nhiều thành phần tham gia: hoạt động tổ chức lưu trú, ăn uống, hoạt động vận chuyển khách, hoạt động lữ hành trong đó hoạt động vận chuyển khách đóng vai trò hết sức quan trọng, thúc đẩy việc hình thành các chủng loại cầu du lịch, trong đó có loại hình vận chuyển bằng tàu biển
Trang 161.1.2 Khái niệm về du lịch tàu biển
Du lịch tàu biển là loại hình du lịch cao cấp và khách du lịch tàu biển là đối tượng khách có mức thanh toán cao nhất so với các loại hình khách du lịch nếu phân loại theo phương tiện di chuyển Vào những năm 80 của thế kỷ
XX, du lịch tàu biển mới phát triển trở lại và mục đích chính của các con tàu không phải là sự “chuyên chở” mà là cung cấp cho du khách các chương trình
du lịch, các dịch vụ du lịch, nghỉ dưỡng, các tiện nghi đẳng cấp vượt trội hơn
cả các dịch vụ du lịch cao cấp nhất trên bờ
Các con tàu thế hệ mới ngoài công nghệ đóng tàu hiện đại, còn được trang bị tất cả các tiện nghi đạt tiêu chuẩn cao nhất tương đương với các khách sạn hạng sang trên bờ như: các loại nhà hàng, quầy Bar, casino, thư viện, bể bơi, sân bóng chuyền, tennis, sân tập golf, phòng tập thể dục, rạp chiếu phim…
Các du thuyền thường được coi như các khách sạn nổi tiện nghi và chuyến đi biển của du khách không còn là một chuyến đi biển thông thường
mà là một kỳ nghỉ trăng mật, kỷ niệm ngày cưới hay một dịp giao du Tàu thay vì thực hiện một hành trình dài liên tục sẽ dừng đỗ tại rất nhiều nơi trên đường đi Các điểm dừng (port of call) đó có thể là những nơi tương đối gần, như vùng biển Caribe, Vịnh Mexico và Alaska, đến những vùng đất xa xôi như châu Âu, Nam Thái Bình Dương, Đông Á và Đông Nam Á Khách du lịch tàu biển biết trước hầu hết các khoản chi tiêu như: Phòng nghỉ, ăn uống, giải trí, tham quan, vé máy bay nối chuyến đến và về…
1.1.3 Các yếu tố tác động tới sự phát triển của du lịch tàu biển
- Cơ sở hạ tầng nói chung: bao gồm tất cả các hệ thống giao thông đường hàng không, đường bộ, đường thuỷ, đường sắt cùng hệ thống bến cảng, sân bay, các địa điểm lưu trú, hệ thống điện, nước, thông tin liên lạc và các cơ
sở hỗ trợ khác… Các cơ sở hạ tầng này sẽ góp phần nâng cao chất lượng chuyến đi của khách, tạo cho khách một cảm giác tiện nghi an toàn và dễ chịu
Trang 17- Cơ sở hạ tầng cho du lịch nói riêng: bao gồm hệ thống khách sạn, nhà hàng, hệ thống phương tiện vận chuyển, các điểm vui chơi, giải trí…phục vụ khách du lịch quốc tế Đây là hệ thống có tác động trực tiếp và rõ rệt, tạo ra sức hút đối với khách du lịch quốc tế
- Nguồn nhân lực: là yếu tố quyết định đóng vai trò then chốt trong việc phát triển du lịch tàu biển Nguồn nhân lực này phải là nguồn nhân lực có chất lượng cao, như có trình độ học vấn và chuyên môn cao, có ngoại ngữ tốt để đáp ứng tốt nhất các yêu cầu đa dạng của du khách đến từ khắp nơi trên thế giới, trong đó có nhiều du khách đến từ những nước phát triển
- Văn hoá và lịch sử: có thể nói văn hoá và bề dày lịch sử của một đất nước chính là một trong những yếu tố quan trọng thu hút khách du lịch quốc
tế Nhu cầu về tìm hiểu văn hoá, lịch sử, đất nước và con người nơi mình đến
là một trong những nhu cầu chủ đạo khi đi du lịch Một đất nước với một nền văn hoá lâu đời, đặc sắc, với những con người hiền hoà, thân thiện và vui vẻ
sẽ thu hút khách du lịch quốc tế nhiều hơn, nhất là trong xu thế phát triển chung của thế giới hiện nay, khi tri thức luôn được đánh giá cao thì mọi người luôn mong muồn bổ sung thêm kiến thức của mình qua các chuyến đi, bên cạnh việc thư giãn, hưởng thụ
- Chính sách và pháp luật: là một trong những yếu tố quan trọng để tạo môi trường thuận lợi và khuyến khích khách du lịch quốc tế, đồng thời bảo
vệ quyền lợi hợp pháp đối với khách đến du lịch Do vậy cần thiết nhà nước phải có những chính sách khuyến khích, hỗ trợ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho khách du lịch như miễn thị thực đơn phương và song phương, đơn giản hoá thủ tục cấp phép hoạt động cho các doanh nghiệp lữ hành…
- Quảng bá và xúc tiến du lịch: là một trong những nhân tố ngày càng trở lên quan trọng khi đất nước đang trong quá trình hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới Việc quảng bá hình ảnh của một đất nước và xúc tiến du lịch
Trang 18bằng nhiều kênh và nhiều hình thức khách nhau có tác động rất lớn trong việc thúc đẩy ngành du lịch nói chung và du lịch tàu biển nói riêng phát triển
- Môi trường: Để nâng cao sức cạnh tranh trong du lịch, yếu tố môi trường cũng cần được quan tâm đúng mức Khách du lịch quốc tế luôn mong muốn đến một nơi có môi trường sạch sẽ, trong lành để nghỉ ngơi, thư giãn Chính vì vậy, muốn hoạt động kinh doanh du lịch tàu biển tốt, cần phải có những chính sách bảo vệ môi trường hợp lý Những nhận xét của khách về chất lượng môi trường cũng là những yếu tố thúc đẩy Chính phủ, các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có liên quan quan tâm hơn tới môi trường Môi trường đảm bảo thì lượng khách du lịch tàu biển sẽ phát triển và ngược lại, hoạt động này phát triển sẽ góp phần làm môi trường trong sạch hơn
1.2 Kinh nghiệm phát triển du lịch tàu biển ở một số quốc gia và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
1.2.1 Kinh nghiệm của Thái Lan
Trong những năm gần đây, Thái Lan luôn giữ được vị trí dẫn đầu trong khối ASEAN về thu hút khách du lịch quốc tế Trong lĩnh vực du lịch nói chung và du lịch tàu biển nói riêng, Thái Lan tập trung mạnh vào hoạt động marketing du lịch và phát triển các sản phẩm mang tính giải trí cao Hàng năm, Chính phủ Thái Lan dành khoảng 50 - 80 triệu USD cho cơ quan du lịch Thái Lan (TAT) để phát triển hoạt động du lịch Công tác marketing và xúc tiến du lịch được thực hiện chủ yếu thông qua việc tổ chức Năm du lịch quốc gia, cùng với các chiến dịch lớn như Amazing Thailand được phát động từ năm 1998
Với việc tổ chức thành công chiến dịch này, Thái Lan đã thu hút được một lượng khách quốc tế đáng kể, mang lại nguồn thu ngoại tệ lớn, góp phần quan trọng vào khôi phục nền kinh tế sau khủng hoảng tài chính chính ở các quốc gia Đông Nam Á Sau thành công đó, Thái Lan tiếp tục áp dụng các chiến dịch tương tự cho những năm tiếp theo nhưng với khẩu hiệu riêng cho
Trang 19mỗi năm Năm 2002, Thái Lan tiếp tục triển khai chương trình “Amazing Thailand amazes the World” Chương trình này tập trung vào những điểm du lịch mới đưa vào khai thác bên cạnh các địa điểm nổi tiếng và thu hút khách truyền thống với những sản phẩm, dịch vụ du lịch mới mẻ làm vừa lòng khách hang Để triển khai hiệu quả chiến dịch này, Thái Lan đã áp dụng các biện pháp:
- Mở chiến dịch “Hãy là khách hàng của chúng tôi” từ giữa năm 2002 đến năm 2003 nhằm tăng cường hiểu biết của khách quốc tế về Thái Lan Thủ tướng Chính phủ Thái Lan đã chủ trì giới thiệu các chương trình quảng cáo về chiến dịch này
- Các hãng hàng không, khách sạn, hãng lữ hành, các công ty vận tải cùng nhiều nhà hàng và các công ty cung cấp dịch vụ du lịch… liên kết với nhau để tiếp thị những dịch vụ trọn gói như ẩm thực, hàng thủ công, mỹ nghệ, dịch vụ trăng mật, MICE, chơi golf và lặn biển… với mức giá hấp dẫn
- Tổ chức các sự kiện mang tính quốc tế để thu hút khách du lịch quốc
tế như Lễ kỷ niệm 220 năm thủ đô Băng Cốc, Lễ hội Amazing Shopping Street tại Băng Cốc, Lễ hội Songkran và Loy Krathong, Tết cổ truyền Trung Hoa và các sự kiện thể thao quốc tế trên khắp đất nước
- Mở chiến dịch quảng bá những điểm du lịch mới trên khắp các vùng của đất nước như chương trình “Thiên đường vui chơi” của 3 tỉnh gần Băng Cốc, chương trình “Đông Bắc huyền thoại” của các tỉnh vùng Đông Bắc Thái Lan cũng tập trung tuyên truyền các sản phẩm du lịch bằng hình thức tàu biển mới để thu hút khách du lịch quốc tế
Năm 2004, trong chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, Thái Lan đã coi phát động chiến dịch xúc tiến lữ hành quốc tế là một trong 10 nội dung chính Nội dung cụ thể của xúc tiến đó là:
Trang 20- Xúc tiến du lịch quốc tế của Thái Lan với việc nhấn mạnh những yếu
tố hấp dẫn mới, triển khai các hoạt động du lịch mới nhằm tăng chỉ tiêu và kéo dài thời gian lưu trú của khách du lịch quốc tế
- Nâng cao chất lượng các điểm du lịch, đặc biệt là các điểm du lịch quốc gia Liên kết du lịch quốc tế với các nước láng giềng như Việt Nam, Lào, Campuchia… để tăng cường hợp tác kinh tế và du lịch trong khu vực đồng thời duy trì Thái Lan như là một trung tâm du lịch tàu biển của khu vực
- Nâng cao chất lượng dịch vụ với việc nhấn mạnh tới sự an toàn cho khách du lịch quốc tế, ngăn ngừa tai nạn, bảo vệ khách, tạo điều kiện cho khách nhập cảnh thuận tiện, tăng cường năng lực cho đội ngũ nhân viên trong ngành du lịch đạt tiêu chuẩn quốc tế
Với những thành công trong thời gian qua, mới đây, Tạp chí The Travel News của Na Uy đã trao tặng Thái Lan giải thưởng “Quốc gia du lịch tốt nhất 2006” Tạp chí The New Luxury Travel của Úc đã công bố “Danh sách vàng năm 2006, Thái Lan được xếp thứ 8 và là quốc gia duy nhất của Châu Á nằm trong danh sách 10 nước đoạt giải “Quốc gia tốt nhất”, 8 khu nghỉ mát Thái Lan lọt vào danh sách 30 “Khu nghỉ mát tốt nhất” TAT tin tưởng với chiến dịch xúc tiến mới và phát động du lịch quốc tế hợp lý, cùng với sự hỗ trợ mạnh mẽ của Chính phủ, ngành du lịch Thái Lan sẽ duy trì được năng lực cạnh tranh cao, trở thành trung tâm tàu biển du lịch của khu vực và trên thế giới trong 5 - 10 năm tới
Năm 2008 là một năm đầy khó khăn đối với du lịch Thái Lan Do tình hình chính trị đầy bất ổn, Thái Lan đã thay 3 Thủ tướng kể từ sau vụ lật đổ cựu Thủ tướng Thaksin Shinawatra năm 2006 Liên tục trong năm 2008 đã diễn ra các cuộc biểu tình rầm rộ của các đảng phái gây bất ổn trong hoạt động chính trị, văn hoá, xã hội cũng như kinh tế của Thái Lan Tuy nhiên, ngành du lịch của Thái Lan đã có những động thái rất nhanh nhạy khi đưa ra các phương án thu hút khách du lịch trở lại, với chương trình “Thai Lan
Trang 21sorry” Du khách quốc tế ngỡ ngàng trước một chương trình quảng cáo rầm
rộ, với một loạt các chương trình siêu giảm giá Thái Lan đã công bố không thu cước 100.000 chỗ trên máy bay để đón khách tới Miền đất của những nụ cười, giảm mạnh giá tour, phòng khách sạn… điều đó giúp cho Thái Lan nổi bật, hấp dẫn khách hơn bao giờ hết Khách du lịch dường như quên hẳn mối
lo về sự bất ổn chính trị mà trước đó đã làm xáo trộn nước này
Bên cạnh việc đẩy mạnh hoạt động marketing và phát triển các sản phẩm mang tính giải trí cao, cơ quan du lịch nhà nước của Thái Lan từ lâu đã tạo chiến lược phát triển ngành du lịch tàu biển một cách cụ thể và chi tiết, đồng thời hỗ trợ đắc lực cho các doanh nghiệp trong hoạt động quảng bá và tạo quan hệ với đối tác nước ngoài, nhằm tạo ra sự phát triển ngành du lịch tàu biển một cách ổn định và rộng khắp
Những điều đó càng khẳng định rằng du lịch Thái Lan thể hiện rõ sự chuyên nghiệp, họ không bị động trước khủng hoảng chính trị, không chỉ đợt biểu tình vừa qua, mà còn có sáng kiến để lôi kéo khách du lịch quay trở lại
Sự thành công về mặt hình ảnh của ngành du lịch Thái Lan đã giúp cho quốc gia này không chỉ là một vương quốc năng động, hiện đại, vui vẻ, giải trí đúng chất du lịch, mà ý thức bảo tồn và phát triển du lịch của người dân Thái rất cao Năm 2009 với một loạt sự kiện tiêu cực xảy ra đối với đất nước chùa Tháp này, WEF vẫn nâng bậc cho năng lực cạnh tranh về du lịch và lữ hành lên thứ 39, tăng 3 bậc so với năm 2008 Đáng chú ý là các chỉ số về mức độ
ưu tiên cho du lịch (xếp thứ 22/133), mức độ cạnh tranh về giá (xếp thứ 19), mức độ quan tâm của các nguồn lực cho du lịch và lữ hành (xếp thứ 22) [65]
1.2.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Sau nhiều năm phát triển, du lịch Trung Quốc đã nhanh chóng vươn lên đứng thứ 5 thế giới về thu hút khách du lịch Năm 1978, ở thời điểm tiến hành cải cách mở cửa, thu nhập ngoại tệ từ du lịch của Trung Quốc mới ở mức 26,3 triệu USD, đến năm 2008, con số này đã tăng lên 41,484 tỷ USD với
Trang 2224.325.337 lượt khách quốc tế Tổ chức Du lịch thế giới dự báo, đến năm
2020, thu nhập ngoại tệ từ du lịch Trung Quốc có thể đạt 63,5 tỷ USD, chiếm 8% GDP cả nước [40]
Cùng với thời gian và các bước đi nhằm cải thiện chất lượng các dịch
vụ giải trí, quy hoạch lại các vùng du lịch, quần thể du lịch, mở rộng quan hệ đối ngoại trên nhiều mặt kinh tế, văn hoá… và hoàn thiện hệ thống tài chính, cũng như cơ sở hạ tầng, ngành du lịch Trung Quốc đã có những bước tiến bộ vượt bậc, đang ngày càng chứng tỏ là ngành kinh tế mũi nhọn trong nền kinh
tế quốc dân của đất nước này và có khả năng cạnh tranh cao về nhiều chỉ số đối với các nước trong khu vực và trên thế giới Những thành tựu mà du lịch Trung Quốc đạt được những năm qua là những bài học quý báu, có thể áp dụng phù hợp với các đặc điểm và điều kiện của du lịch Việt Nam Trung Quốc là nước láng giềng của Việt Nam, với hệ thống chính trị, kinh tế và xã hội có nhiều điểm tương đồng Sau cải cách mở cửa, du lịch Trung Quốc bắt đầu khởi sắc và đến nay đã phát triển mạnh mẽ Nhận thức được lợi thế của mình trong phát triển du lịch quốc tế, với mục tiêu trở thành một trong những cường quốc về du lịch, đảm bảo sự phát triển lâu dài và ổn định của ngành du lịch, Trung Quốc đã xác định phải nâng cao năng lực cạnh tranh, và đã có những thay đổi cụ thể đó là:
- Ngành du lịch Trung Quốc đã chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường, các doanh nghiệp du lịch trong đó có du lịch tàu biển giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động của mình, Chính phủ chỉ đóng vai trò định hướng và hỗ trợ về chính sách, thông tin và định hướng Chính phủ Trung Quốc tập trung xây dựng và phát triển thị trường du lịch, cơ sở hạ tầng du lịch, quản lý thị trường, tận dụng tối đa các phương pháp hành chính, kinh tế, pháp luật để điều tiết thị trường phát triển ổn định Hình thành coi du lịch là ngành kinh tế lớn, nắm bắt cơ hội để phát triển, thực hiện một cách khoa học và hệ thống Trước tiên là thành lập được một hệ thống phối hợp tốt trong du lịch, quan
Trang 23tâm đến sự phát triển hài hoà, đồng bộ giữa ngành du lịch và các ngành kinh
tế cơ liên quan Sau đó duy trì được sự phối hợp và liên kết trong nội bộ ngành Tăng cường cải cách các doanh nghiệp lữ hành nhà nước một cách triệt để Thực hiện đa dạng hoá chủ thể đầu tư và hình thức tổ chức doanh nghiệp, hình thành mô hình doanh nghiệp hiện đại, năng động có đội ngũ nhân lực chất lượng cao, thực sự trở thành chủ thể cạnh tranh của thị trường Ngoài ra, ngành du lịch cũng thay đổi phương thức, chiến lược kinh doanh, sức ép cạnh tranh buộc các doanh nghiệp tham gia thị trường phải nâng cao trình độ quản lý để có được tầm nhìn xa, ứng phó kịp thời với những biến chuyển của thị trường…
- Đẩy mạnh và tăng cường xây dựng thương hiệu cho sản phẩm du lịch Trung Quốc và quảng bá điểm đến Trong những năm qua, du lịch Trung Quốc đã áp dụng biện pháp xây dựng thương hiệu khá thành công, tranh thủ
tổ chức các sự kiện văn hoá, thể thao, du lịch quốc tế lớn như lễ hội hoa thế giới Kôn Minh, cuộc thi Hoa hậu thế giới vào các năm 2003, 2005, 2007 tại đảo Hải Nam, Olympic Bắc Kinh 2008… Trung Quốc cũng đã đẩy mạnh khai thác lợi thế cạnh tranh với các nước trong khu vực để thu hút khách du lịch nghỉ biển và đã thu được những kết quả nhất định Để khuyến khích cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phố, những năm gần đây, bảng xếp hạng các thành phố du lịch tiêu biểu cũng rất được quan tâm Năm 2006, các thành phố
du lịch tiêu biểu của Trung Quốc đã được Tổ chức Du lịch thế giới công nhận Trung Quốc đã thiết lập hệ thống giám sát và bảo vệ môi trường, thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành du lịch nói chung và du lịch tàu biển nói riêng
Trong những năm qua, thị trường Trung Quốc đã phát triển với một số tàu chạy tuyến Hạ Long - Đảo Hải Nam nhưng phải đến đầu năm 2006, lượng khách du lịch tàu biển Trung Quốc mới chiếm một vị trí quan trọng trong tổng
số khách du lịch tàu biển đến Việt Nam Năm 2006 có khoảng 80.000 lượt khách Trung Quốc, chiếm 35,7%, năm 2007, ước tính có khoảng 100.000 lượt
Trang 24khách tàu biển Trung Quốc, chiếm khoảng 44% tổng số khách du lịch tàu biển Cùng với đó chú trọng hơn cho phát triển du lịch quốc tế bị động, thay
vì chỉ tập trung khai thác thị trường nội địa rộng lớn, tạo sức cạnh tranh mạnh
mẽ trong thu hút khách du lịch quốc tế từ các trung tâm du lịch khác trên thế giới, đặc biệt là từ các quốc gia trong khu vực
- Tạo những thế mạnh mới trong cạnh tranh thay vì chỉ khai thác những thế mạnh sẵn có, đặc biệt tập trung vào khai thác thêm những lợi thế về thiên nhiên, đồng quê và cuộc sống hang ngày Hoạt động du lịch tập trung vào các lợi thế này một mặt là điểm mạnh của Trung Quốc, một mặt cũng góp phần phát triển “du lịch sạch” bền vững của đất nước này, đồng thời bảo vệ môi trường sinh thái Bên cạnh đó, các tour du lịch shopping, thăm các thành phố lớn, các khu vui chơi giải trí hiện đại cũng là thế mạnh của Trung Quốc Nâng cao tinh thần phục vụ, sự nhiệt tình và tinh thần học hỏi của đội ngũ nhân viên
để bù đắp lại cho tính chuyên nghiệp, kinh nghiệm làm việc đôi khi còn hạn chế Chuyển hướng quản lý thay vì đánh giá công việc qua thời gian làm việc sang quản lý công việc dựa trên lượng và chất lượng công việc mà mỗi nhân viên phụ trách thực hiện Sự chuyển đổi này một mặt nâng cao hiệu quả lao động, một mặt tạo tâm lý thoải mái hơn cho người lao động
- Xác định sản phẩm cạnh tranh trên cơ sở làm rõ sản phẩm chính và sản phẩm phụ Tập trung cùng thúc đẩy những sản phẩm cạnh tranh chính, có thương hiệu song song với việc kèm theo các sản phẩm phụ đa dạng Trong quá trình xây dựng thương hiệu cho sản phẩm, phải quan tâm tới đặc trưng văn hoá của thương hiệu Với cách làm của mình, du lịch nói chung trong đó
có du lịch tàu biển đã đạt được những kết quả nhất định Diễn đàn kinh tế thế giới - WEF đã đánh giá khá cao năng lực cạnh tranh trong du lịch và lữ hành của nước này trong năm 2009, tăng 15 bậc so với năm 2008 lên vị trí thứ 47 trên 133 nước được điều tra Trung Quốc được đánh giá khá cao về nguồn lực con người, văn hoá tự nhiên (xếp thứ 12), năng lực cạnh tranh giá (hạng 20),
Trang 25mức độ ưu tiên cho du lịch và lữ hành (xếp hạng 28), cơ sở hạ tầng hàng không (xếp hạng 34) Như vậy có thể nói rằng với những lợi thế lớn về nguồn lực con người, văn hoá và tự nhiên cũng như cùng với mức độ ưu tiên cho du lịch của Chính phủ, Trung Quốc dần trở thành một “thế lực” mới về thu hút khách quốc tê, vượt qua các quốc gia phát triển du lịch quốc tế lâu năm
1.2.3 Bài học kinh nghiệm từ Việt Nam
Từ kinh nghiệm của Thái Lan, Trung Quốc, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm về phát triển hoạt động du lịch tàu biển tại Việt Nam đó là:
- Xây dựng chiến lược phát triển và kế hoạch cho từng thời kỳ: Để thu hút khách du lịch quốc tế một cách hiệu quả, cần thiết phải xây dựng chiến lược cạnh tranh quốc gia, từ đó lập kế hoạch và chương trình cho từng thời
kỳ, phù hợp với yêu cầu phát triển du lịch quốc tế, tránh tình trạng phát triển ồ
ạt, không tập trung, phân tán nguồn lực và phá vỡ tính cân bằng trong phát triển du lịch Việc xây dựng chiến lược phát triển du lịch quốc gia cần căn cứ vào các điều kiện về tự nhiên, vị trí địa lý và các điều kiện khác có liên quan
Có chiến lược đào tạo nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong dài hạn để có những con người đầy đủ kiến thức và trình độ để đưa ngành du lịch Việt Nam đi lên Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, nhu cầu và xu hướng đi du lịch quốc tế ngày càng đa dạng và luôn thay đổi, vì thế đối với các quốc gia muốn tập trung vào phát triển thu hút khách du lịch tàu biển quốc tế như Việt Nam cần phải sớm xây dựng chiến lược phát triển và có các
kế hoạch, chương trình cụ thể trong từng giai đoạn nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế, đẩy cao vị thế của du lịch Việt Nam trên trường quốc tế
- Xây dựng thương hiệu và quảng bá du lịch: Để thu hút ngày càng nhiều khách du lịch quốc tế, phát triển hoạt động lữ hành quốc tế, du lịch tàu biển, các quốc gia trong khu vực đều phải coi trọng việc xây dựng thương hiệu và quảng bá du lịch nước mình thông qua biểu tượng (logo), khẩu hiệu,
Trang 26thông tin tích cực, quan hệ công chúng, marketing trực tiếp, hỗn hợp, phát triển sản phẩm và dịch vụ… nhằm tạo dựng hình ảnh và vị thế cho du lịch quốc tế các nước này trên trường quốc tế Các khẩu hiệu của Thái Lan cùng các hoạt động quảng bá rộng lớn, các hoạt động đó trên thực tế cùng sự ủng
hộ và tham gia tích cực của các đơn vị lữ hành thực sự gây ấn tượng và thiện cảm đối với khách du lịch quốc tế Chính những chương trình quảng bá đó cũng góp phần đáng kể vào việc thu hút khách quốc tế, tạo nên một hình ảnh đẹp và thương hiệu tốt cho du lịch các nước này
Tạo dựng thương hiệu là một quá trình xây dựng và nhận dạng tính khác biệt, độc đáo và tạo nên những đặc trưng của một điểm đến du lịch Xây dựng thương hiệu là sự phối hợp tất cả sản phẩm và dịch vụ của các ngành nghề khác nhau như nông nghiệp, du lịch, thể thao, nghệ thuật, đầu tư công nghệ, giáo dục…liên quan tới điểm đến Mục tiêu là nắm được bản chất của điểm đến trong một thể thống nhất Chính vì vậy, để tạo dựng thành công thương hiệu điểm đến đòi hỏi phải nghiên cứu kỹ lưỡng và nhiều thời gian
Để thành công, điểm đến luôn phải tạo ra sự độc đáo, khác lạ nhưng phải xây dựng trên các thế mạnh chủ đạo của mình
- Nâng cao chất lượng dịch vụ: Các nước này thu hút nhiều khách du lịch nói chung và du lịch tàu biển nói riêng bởi họ đã đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của khách hàng nhờ chất lượng dịch vụ thường xuyên được nâng cao cộng với nhiều loại hình phục vụ phong phú và luôn được đổi mới,
từ việc phục vụ cho mua sắm, ăn uống đến việc phục vụ cho ngắm cảnh, thư giãn… Thái Lan là một trong những nước có tính chuyên nghiệp rất cao khi
mà họ đã xây dựng và phát triển cả một ngành công nghiệp chuyên sản xuất sản phẩm phục vụ khách du lịch tàu biển Đây là một trong những kinh nghiệm rất hữu ích đối với Việt Nam trong việc vận dụng và học hỏi
Trang 27Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Các vấn đề đặt ra mà đề tài cần giải quyết
Có nhiều vấn đề liên quan đến đề tài luận văn, tuy nhiên để làm rõ nội
dung nghiên cứu đã đặt ra, đề tài tập trung giải đáp các câu hỏi sau:
1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của du lịch và du lịch tàu biển là gì?
2 Thực trạng phát triển du lịch tàu biển của Việt Nam trong những năm từ 2001 đến nay đã diễn ra như thế nào? Những kết quả đạt được và những hạn chế, yếu kém cần khắc phục?
3 Những giải pháp để phát triển nhanh, mạnh du lịch tàu biển ở Việt Nam đến năm 2020 là gì?
2.2 Các phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu đã xác định ở trên,
đề tài sẽ sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
2.2.1 Phương pháp thống kê
Thống kê là một hệ thống các phương pháp bao gồm thu thập, tổng hợp, trình bày số liệu, tính toán các đặc trưng của đối tượng nghiên cứu nhằm phục vụ cho quá trình phân tích, dự đoán và ra quyết định
Thống kê được phân chia thành 2 lĩnh vực:
* Thống kê mô tả: là các phương pháp có liên quan đến việc thu thập số liệu, tóm tắt, trình bày, tính toán và mô tả các đặc trưng khác nhau để phản ánh một cách tổng quát đối tượng nghiên cứu Phương pháp này được sử dụng nhằm hỗ trợ cho việc phân tích tình hình phát triển du lịch tàu biển Việt Nam, những thành công và hạn chế của tình hình đó
* Thống kê suy luận: là bao gồm các phương pháp ước lượng, các đặc trưng của tổng thể, phân tích mối liên hệ giữa các hiện tượng nghiên cứu, dự đoán hoặc ra quyết định trên cơ sở thông tin thu thập từ kết quả quan sát mẫu
Trang 282.2.2 Phương pháp thu thập thông tin
* Phương pháp thu thập dữ liệu thông tin sơ cấp (qua hình thức phỏng vấn và quan sát):
Đây là một phương pháp rất hiệu quả trong việc thu thập thông tin trực tiếp thông qua việc phỏng vấn khách du lịch Do nguồn khách du lịch tới Việt Nam gồm nhiều đối tượng khác nhau về nơi cư trú, nghề nghiệp, lứa tuổi do
đó sở thích du lịch của họ cũng khác nhau Để nắm bắt được nhu cầu sở thích của từng đối tượng khách qua đó có được những đánh giá khách quan về nhu cầu, cảm nhận của khách hàng về các loại hình, dịch vụ và chất lượng của các sản phẩm du lịch tại Việt Nam, do vậy cần có hoạt động phỏng vấn trực tiếp qua khách du lịch
* Phương pháp thu thập dữ liệu thông tin thứ cấp:
Nguồn thông tin này chủ yếu dựa vào các sách tham khảo, các công trình khoa học, luận văn, luận án đã được công bố, các văn bản chính sách… nhằm làm rõ một số vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn có liên quan đến phát triển du lịch nói chung và du lịch tàu biển nói riêng ở Việt Nam Trong quá trình thực hiện đề tài, phương pháp này được sử dụng như sau:
- Thu thập các thông tin, tư liệu từ các lĩnh vực có liên quan hoặc tác động đến hoạt động kinh doanh du lịch tàu biển tại tỉnh Quảng Ninh - là Tỉnh
có nhiều điều kiện thuận lợi cũng như thực tế phát triển hoạt động du lịch tàu biển Đây là một trong những cơ sở thực tiễn giúp cho việc đưa ra những phân tích và đánh giá có tính thuyết phục hơn
- Thu thập từ các giáo trình: Marketing du lịch, kinh tế du lịch, các kỹ năng marketing hiệu quả , từ các tạp chí như Tạp chí Du lịch Việt Nam để làm rõ những khái niệm, quan điểm, luận điểm liên quan đến đề tài
- Thu thập các thông tin, tư liệu từ các Website dưới đây để đảm bảo tính cập nhật của các thông tin được sử dụng trong đề tài:
http://www.vietnamtourism.gov.vn
http://www.marketingvietnam.net
Trang 29http://www.saigontourist.net
http://www.aseancruises.com
http://www.world-tourism.org
2.2.3 Phương pháp phân tích hệ thống dữ liệu
- Phương pháp này được sử dụng nhằm làm rõ mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố (khách du lịch, tài nguyên du lịch, cơ sở vật chất phục vụ trong kinh doanh du lịch ) và các tác động qua lại của hoạt động du lịch tới môi trường xung quanh (nền kinh tế - xã hội, môi trường tự nhiên, văn hóa xã hội )
- Phương pháp này rất hữu ích khi phân tích thực chứng Nghĩa là, dựa trên những số liệu và thông tin thu thập được từ thực tế hoạt động kinh doanh
du lịch tàu biển để phân tích thực trạng phát triển của quá trình này, từ đó đưa
ra những đánh giá khách quan, khoa học về thực tế phát triển, xu hướng phát triển và tiềm năng phát triển của du lịch tàu biển ở Việt Nam
2.2.4 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Phương pháp này được sử dụng để phỏng vấn và tham khảo ý kiến của một số nhà quản lý các cấp, lãnh đạo doanh nghiệp du lịch, nhằm hiểu rõ hơn thực trạng phát triển, cách thức quản lý kinh doanh, lấy ý kiến từ các lãnh đạo tại các đơn vị kinh doanh du lịch trên địa bàn và đặc biệt là chiến lược phát triển kinh doanh du lịch tàu biển Việt Nam trong thời gian qua và giai đoạn tới đến năm 2020
Qua phương pháp này giúp cho luận văn có được các thông tin chính xác, mang tính hệ thống cũng như các nhận định về quy luật phát triển của du lịch Kết quả này sẽ giúp tác giả đưa ra được các ý kiến đóng góp sát với thực tiễn
2.2.5 Phương pháp tham khảo và kế thừa các tài liệu đã được công bố có liên quan đến đề tài
Phương pháp này được sử dụng trong việc khái quát và phân tích nội dung các công trình khoa học đã được công bố, các sách tham khảo, có liên quan đến đề tài, nhằm làm rõ cơ sở khoa học và thực tiễn của vấn đề nghiên
Trang 30cứu Trong quá trình thực hiện đề tài, việc tham khảo và kế thừa đặc biệt quan trọng trong việc làm rõ hàm ý của du lịch và du lịch tàu biển, vai trò và nhân
tố tác động đến hoạt động du lịch tàu biển; khảo cứu kinh nghiệm của Trung Quốc và Thái Lan để rút ra những bài học hữu ích đối với Việt Nam
2.2.6 Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh là phương pháp xem xét các chỉ tiêu phân tích bằng cách dựa trên việc so sánh số liệu với một chỉ tiêu cơ sở (chỉ tiêu gốc) Tiêu chuẩn để so sánh thường là: Chỉ tiêu kế hoạch của một kỳ kinh doanh, tình hình thực hiện các kỳ kinh doanh đã qua, chỉ tiêu các doanh nghiệp tiêu biểu cùng ngành Điều kiện để so sánh là: Các chỉ tiêu so sánh phải phù hợp với yếu tố không gian, thời gian, cùng nội dung kinh tế, đơn vị đo lường, phương pháp tính toán
* Ưu nhược điểm của phương pháp so sánh
+ Ưu điểm: Phương pháp đơn giản, dễ thực hiện, đặc biệt thuận lợi đối với những người có kinh nghiệm Người thực hiện không gặp khó khăn về mặt kỹ thuật vì nó không cần thiết phải xây dựng các công thức hoặc mô hình tính toán, mà dựa vào sự hiện diện của số liệu thống kê Kết quả của phương pháp phản ánh thực tế, phản ánh và đánh giá khách quan, dễ được mọi người chấp nhận, ngay cả các cơ quan pháp luật
+ Nhược điểm: Cần thiết phải có nhiều thông tin rõ ràng, chính xác Nếu các thông tin giao dịch không chính xác, thì không sử dụng được phương pháp này Các thông tin cần xử lý thường khó đồng nhất, đặc biệt là tính thời điểm do đó, trong điều kiện thị trường biến động các thông tin nhanh chóng trở nên lạc hậu trong một thời gian ngắn Điều đó đòi hỏi người thực hiện phải có kinh nghiệm trong quá trình xác định và phân tích được điểm mạnh, điểm yếu của tài liệu đã thu thập và sử dụng trong phân tích so sánh
Trang 312.2.7 Phương pháp phân tích định tính
Phương pháp này được sử dụng nhằm phân tích, kiểm định và đánh giá các kết quả nghiên cứu về thực trạng phát triển du lịch tàu biển ở Việt Nam Rút ra những kết luận về những kết quả đạt đươc, những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân của nó Dựa trên những kết luận và đánh giá này, luận văn đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm góp phần thúc đẩy du lịch tàu biển của Việt Nam phát triển mạnh, trở thành một trong những ngành mũi nhọn của du lịch Việt Nam
2.2.8 Phương pháp phân tích SWOT
Phương pháp này được sử dụng trong việc phân tích những điểm mạnh, điểm yếu, những cơ hội và thách thức Đây là phương pháp đặc biệt quan trọng cho phép đánh giá điểm mạnh, điểm yếu và ước lượng những cơ hội và thách thức đối với hoạt động du lịch tàu biển ở Việt Nam Nếu phương pháp này được phân tích một cách kỹ lưỡng và chính xác thì đó là cơ sở để đưa ra chiến lược và giải pháp phát triển phù hợp, phát huy lợi thế và các nguồn lực, tận dụng cơ hội, đồng thời khắc phục và cải thiện điểm yếu, tránh khỏi hoặc giảm bớt nguy cơ từ những thách thức
Trang 32Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH
TÀU BIỂN VIỆT NAM 3.1 Khái quát về du lịch Việt Nam
3.1.1 Tình hình phát triển du lịch Việt Nam
Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam: Năm 2001 Việt Nam đón được 2,33 triệu lượt khách du lịch quốc tế, năm 2008, lượng khách quốc tế đến Việt Nam là 4.253.740 người, tức trung bình khoảng 354.000 người/tháng thì đến năm 2010 số lượt khách quốc tế đến Việt Nam đã là 5,049 triệu lượt khách với tỷ lệ tăng trưởng trung bình 7%/ năm Thị trường khách du lịch Việt Nam không ngừng mở rộng về quy mô và tăng lên về số lượng Trong đó sự phát triển khách du lịch tàu biển cũng góp phần quan trọng trong sự tăng trưởng của ngành du lịch Việt Nam Đặc biệt sau sự kiện Hội nghị du lịch tàu biển lần thứ nhất được tổ chức với sự tham gia của hàng trăm đại diện các doanh nghiệp du lịch Việt Nam, các hãng tàu biển lớn càng khẳng định xu thế "bùng nổ" về du lịch tàu biển tại Việt Nam Chỉ tính riêng việc hãng Star Cruise - hãng tàu biển lớn thứ 3 trên thế giới của Malaysia - cùng với tàu Fashion Diamond của hãng FTV quay lại Việt Nam cũng giúp lượng khách năm 2008 tăng lên so với năm 2007 khoảng 100 nghìn lượt
Bảng 3.1 Lượng khách du lịch quốc tế và thời gian
Thời gian lưu trú (ngày)
Tăng trưởng so với năm trước (%)
Trang 33Thực trạng khách du lịch đến Việt Nam còn được thể hiện qua các bảng dưới đây về: cơ cấu khách du lịch quốc tế đến Việt Nam năm 2010 theo phương tiện đến, theo mục đích chuyến đi, theo thị trường và minh họa bằng các biểu đồ tương ứng kèm theo
- Theo phương tiện: Năm 2010, khách quốc tế đến Việt Nam theo đường không là 4.061.712 lượt người chiếm 80,43% tổng lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam, khách quốc tế đến Việt Nam theo đường bộ là 937.643 lượt người chiếm 18,57% tổng lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam, khách quốc tế đến Việt Nam theo đường biển là 50.500 lượt người chiếm 1% tổng lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam
Bảng 3.2 Cơ cấu khách quốc tế đến Việt Nam năm 2010
(theo phương tiện đến)
Trang 34Như vậy, có thể thấy rằng số lượng khách du lịch bằng tàu biển đến Việt Nam là rất ít so với các loại du lịch bằng các phương tiên khác Đây là bài toán đặt
ra cho ngành du lịch nói chung và du lịch tàu biển nói riêng của nước ta khi chúng
ta có nhiều điều kiện, tiềm năng để phát triển loại hình du lịch này
- Theo mục đích chuyến đi: Khách quốc tế đến Việt Nam năm 2010 theo mục đích du lịch, nghỉ ngơi là 3.110.415 lượt khách, chiếm 61,59% tổng lượng khách quốc tế đến Việt Nam; theo mục đích công việc là 1.023.615 lượt, chiếm 20,27% tổng lượng khách quốc tế đến Việt Nam; theo mục đích thăm thân là 574.082 chiếm 11,37% tổng lượng khách quốc tế đến Việt Nam; theo mục đích khác là 341.743 lượt, chiếm 6,77% tổng lượng khách quốc tế đến Việt Nam
Bảng 3.3 Cơ cấu khách quốc tế đến Việt Nam năm 2010
(theo mục đích chuyến đi)
Đơn vị tính: Lượt khách
Tiêu chí Năm 2010
Trang 35- Theo thị trường: Cơ cấu khách quốc tế đến Việt Nam trong năm 2010 theo thị trường, được tổng hợp trong bảng được chia làm hai nhóm: Nhóm thị trường nội khối ASEAN và nhóm thị trường ngoài khối ASAEN Các diễn biến thị trường khách du lịch quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010 cho thấy: Thị trường Đông Bắc Á là thị trường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu khách du lịch quốc tế đến Việt Nam trong những năm qua, trong đó đứng đầu là thị trường Trung Quốc (gần 18% năm 2010), tiếp đến là Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan Riêng khách từ khu vực Bắc Á chiếm tới hơn 40% tổng lượng khách Mặc dù chiếm tỷ trọng lớn về lượng khách nhưng chi tiêu trung bình của khách du lịch Trung Quốc nhìn chung là thấp so với các thị trường khác trong khu vực Thị trường khách du lịch truyền thống từ Bắc Mỹ, đặc biệt là từ Hoa Kỳ, có tốc độ tăng trưởng khá cao đặc biệt kể từ khi Việt Nam
và Hoa Kỳ bình thường hoá quan hệ Năm 2010, lượng khách từ Hoa Kỳ đến Việt Nam đạt gần 431.000 lượt, bằng 8,5% tổng lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam Thị trường Châu Âu trong hai, ba năm gần đây chỉ còn Pháp duy trì trong top các thị trường trọng điểm với mức độ tăng trưởng đều đặn và đạt gần 200.000 lượt khách năm 2010 (chiếm 3,9% tổng lượng khách quốc tế) Thị trường khách Anh, Đức giảm và đã không xếp vào 10 thị trường lớn nhất đến Việt Nam Đại diện cho Châu Đại Dương, thị trường khách Úc luôn duy trì tăng lượng khách đều đặn trong nhóm các thị trường trọng điểm và đạt 278.100 lượt khách năm 2010
Từ năm 2006 đến nay có sự tăng trưởng trở lại với tốc độ khá nhanh của thị trường khách các nước láng giềng, với các thị trường trọng điểm là Campuchia, Thái Lan, Ma-lay-xia và Singapore Đây là những thị trường du lịch Việt Nam cần có sự quan tâm thích đáng hơn vì đây là những nước có vị trí địa
lý rất gần Việt Nam, có nhiều thuận tiện khi đi du lịch trong khối ASEAN, Với các chính sách đúng đắn sẽ thu hút được lượng khách này nhiều hơn
Trang 36Bảng 3.4 Cơ cấu khách quốc tế đến Việt Nam năm 2010
(Nguồn: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch)
- Tốc độ tăng trưởng: Tốc độ tăng trưởng khách du lịch vào Việt Nam trong thời gian qua luôn ở mức khá cao, thường ở mức hai con số, có những
Trang 37năm trên 20% như năm 2000 và năm 2004 Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng này
có nhiều biến động Mức tăng không thường xuyên và ổn định Trên đà tăng trưởng cao, nhưng khi nền kinh tế khu vực và thế giới lâm vào khủng hoảng, mức suy giảm lượng khách cũng nhìn thấy rõ rệt, năm 1998, tỷ lệ suy giảm 11,4%, năm 2003, con số này là gần 7,56% Các tỷ lệ tăng trưởng qua các năm cho thấy, chúng ta đã khá chủ động trong việc thu hút khách du lịch, tuy nhiên trước những biến động của thị trường, chúng ta vẫn chưa có được những biện pháp cần thiết và đủ mạnh để ngăn chặn đà suy giảm Đáng lo ngại hơn là trong thời gian càng gần đây, tốc độ tăng trưởng càng chậm lại như năm 2006 và năm 2008, tốc độ tăng trưởng chỉ lần lượt là 3,34% và 1,97% Năm 2009, hiện tượng suy giảm là rõ rệt, mức suy giảm hàng tháng luôn ở mức gần 20%
Sự phát triển mạnh mẽ của du lịch toàn cầu và những xu hướng du lịch mới xuất hiện trong thời gian gần đây đã và đang thúc đẩy cạnh tranh mạnh
mẽ giữa các quốc gia trên thế giới trong việc thu hút khách quốc tế Hoạt động du lịch lữ hành nói chung và du lịch tàu biển nói riêng cũng đang cạnh tranh quyết liệt Ngành du lịch của các quốc gia và các doanh nghiệp đang tìm mọi kế sách để thu hút khách du lịch, dành lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ của mình
Để có được chỗ đứng trên thị trường và đạt lợi nhuận cao, mỗi doanh nghiệp, mỗi địa phương, mỗi quốc gia đều phải tìm mọi biện pháp nhằm nâng cao vị thế cạnh tranh trên thị trường Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp nên những vấn đề có liên quan đến cạnh tranh và năng lực cạnh tranh đòi hỏi cần được nghiên cứu, xem xét, đánh giá và có những chiến lược cụ thể trên thị trường trong xu thế hội nhập quốc tế Nâng cao năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam là vấn đề cấp thiết của ngành du lịch, đặc biệt trong điều kiện cạnh tranh giữa các điểm đến trên thế giới ngày càng gắt gao và ngành du lịch toàn cầu đang phải đương đầu với những khó khăn thách thức to lớn do tác
Trang 38động của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu, khủng bố, thiên tai, dịch bệnh trên thế giới Năng lực cạnh tranh là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn đối với ngành du lịch Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Do đó cần có sự đầu tư nghiên cứu, tổng kết lý luận và thực tiễn nhằm phân tích, đánh giá, đưa ra bức tranh toàn cảnh về thực trạng năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất quan điểm phát triển và đưa
ra một số khuyến nghị về chính sách đồng bộ nâng cao năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế
3.1.2 Năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam
Những năm qua, du lịch của Việt Nam được quan tâm ở trên nhiều phương diện, trong đó năng lực cạnh tranh là một trong những nội dung được quan tâm nhiều nhất nhằm thúc đẩy du lịch Việt Nam phát triển ngày càng mạnh và bền vững, dựa trên những tiềm năng và lợi thế sẵn có Để có thể xác định năng lực cạnh tranh của ngành du lịch, trước hết cần hiểu rõ về lợi thế cũng như cơ hội, và điểm yếu cũng như thách thức đối với ngành du lịch nước
ta Mô hình SWOT dưới đây cho chúng ta thấy rõ hơn về những điều đó
Bảng 3.5 Mô hình SWOT về năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam
Điểm mạnh
- Việt Nam đang nổi lên là
điểm đến an toàn, hấp dẫn, được dự
báo là 1 trong 10 nước có tốc độ phát
triển du lịch hàng đầu thế giới giai
đoạn 2006-2014
- Môi trường kinh doanh được
cải thiện
- Nguồn tài nguyên thiên
nhiên và nhân văn đa dạng và hấp
- Cảnh quan thiên nhiên vẫn là tiềm năng chưa được đánh thức Sản phẩm du lịch còn đơn điệu, thiếu đa dạng Chất lượng dịch vụ còn thấp
- Cơ sở hạ tầng còn thấp, chưa phát triển Quá ít sân bay, chưa có
Trang 39thác, xây dựng các loại hình du lịch
mới để thu hút khách du lịch:
+ Vùng du lịch Bắc bộ: Thế
mạnh du lịch văn hoá, lịch sử, sinh
thái, mạo hiểm Các điểm du lịch nổi
bật: Vịnh Hạ Long, Cát Bà, Hà Nội,
Tam Cốc - Bích Động, Sapa, Mù
Căng Chải, cao nguyên đá Đồng
Văn, các rừng quốc gia, bản sắc văn
hoá độc đáo của các dân tộc và cảnh
quan vùng núi Bắc bộ
+ Vùng du lịch Bắc Trung Bộ:
Thế mạnh du lịch biển, du lịch văn
hoá Các điểm du lịch nổi trội: 3 di
sản thế giới: Phong Nha Kẻ bàng, Cố
đô Huế và Nhã nhạc cung đình Huế,
Vườn quốc gia Pù Mát, Bạch Mã, Bà
Nà; các bãi biển đẹp: Đà Nẵng, Non
Nước, Lăng Cô, Thiên Cầm, Cửa
Lò, đảo Cù Lao Chàm
+ Vùng du lịch Nam Trung Bộ
và Nam Bộ: Du lịch biển, sông nước
miệt vườn, du lịch văn hoá Điểm du
lịch nổi trội: 3 di sản văn hoá thế
giới : Di tích Mỹ Sơn, Đô thị cổ Hội
An, Cồng chiêng Tây Nguyên; các
bãi biển đẹp nổi tiếng: Nha Trang,
Mũi Né, Cửa Đại, Phú Quốc, các
khu dự trữ sinh quyển, vườn quốc
gia, miệt vườn sông nước Cửu Long
- Ẩm thực đa dạng và đặc sắc
ở cả ba vùng du lịch là ưu thế nổi
cảng biển riêng cho khách du lịch Kết cấu hạ tầng du lịch còn nhiều hạn chế Cung cơ sở lưu trú cao cấp thiếu nghiêm trọng tại Hà Nội, Đà Nẵng, TP.HCM,
- Thiếu vốn, quy mô kinh doanh du lịch còn nhỏ
- Cơ sở vật chất kỹ thuật bổ trợ và dịch vụ phục vụ khách du lịch
có chất lượng thấp, thiếu đồng bộ Thiếu các khu vui chơi giải trí và dịch vụ bổ trợ cho khách du lịch
- Thiếu đường bay trực tiếp tới thị trường trọng điểm và tiềm năng Công suất/tần suất bay quốc tế còn thấp
- Can thiệp của nhà nước vào hoạt động kinh doanh du lịch đối với doanh nghiệp còn nhiều
- Hoạt động xúc tiến du lịch còn yếu Thương hiệu của du lịch Việt Nam chưa được khắc hoạ rõ nét
- Chưa có chiến lược marketing du lịch quốc gia và văn phòng đại diện du lịch Việt Nam ở nước ngoài Nhiều doanh nghiệp lữ hành chưa có chiến lược marketing,
ít nghiên cứu thị trường nước ngoài
- Doanh nghiệp lữ hành chi cho nghiên cứu triển khai và ứng dụng công nghệ còn thấp
Trang 40trội của du lịch Việt Nam
- An toàn và an ninh cho
khách du lịch
- Năng lực cạnh tranh về giá
của Việt Nam khá cao
- Sự thân thiện và hiếu khách
của người Việt Nam
- Tổng cục Du lịch chưa có chiến lược toàn diện quan hệ với các hãng lữ hành nước ngoài Tổ chức, quản lý điều hành hoạt động du lịch quốc tế còn nhiều hạn chế
- Chất lượng nhân lực còn thấp Thiếu tiêu chuẩn nghề và trang thiết bị giảng dạy, thực hành
- Hành lang Luật pháp về du lịch chưa đồng bộ Cơ cấu Tổng cục
Du lịch chưa ổn định Thiếu sự phối hợp liên ngành
- Khả năng hội nhập của doanh nghiệp du lịch còn hạn chế
Cơ hội
- Môi trường chính trị ổn định
Đường lối, chính sách đổi mới, là
thành viên WTO với cam kết mở cửa
tạo vận hội mới cho hoạt động
du lịch phát triển
- Du lịch được xác định là
ngành kinh tế mũi nhọn Chính phủ,
các ngành, địa phương, doanh
nghiệp quan tâm phát triển du lịch,
môi trường kinh doanh đang được
cải thiện
- Việt Nam là điểm đến mới, đa
dạng, doanh nghiệp du lịch có thể tổ
chức các loại hình du lịch hấp dẫn
- Có thể học hỏi kinh nghiệm
các nước phát triển du lịch, tiếp thu
công nghệ, kỹ năng quản lý
Thách thức
- Khả năng tụt hậu so với các hãng du lịch đối thủ cạnh tranh chính
là Thái Lan, Singapore, và Malaysia
- Du lịch Việt Nam có điểm xuất phát thấp so với nhiều nước trong khu vực Hoạt động du lịch chủ yếu dựa trên khai thác tài nguyên sẵn có, chưa đầu tư nhiều vào tôn tạo, phát triển và đa dạng hoá sản phẩm, loại hình du lịch
- Hệ thống kết cấu hạ tầng chưa phát triển, hạn chế khả năng tiếp cận, khai thác và hình thành các tuyến điểm du lịch đa dạng ở các vùng núi, vùng sâu, vùng xa, hải đảo
- Giá dầu tăng, ảnh hưởng tới nhu cầu du lịch Giá vé hàng không