Công ty kinh doanh đa dạng các mặt hàng từ kinh doanh lương thực, phân bón, vật liệu xây dựng đến kinh doanh siêu thị ….Trong những năm qua, tình hình kinh doanh của công ty có nhiều biế
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
-
NGUYỄN THỊ HƯƠNG GIANG
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY
CỔ PHẦN LƯƠNG THỰC THÁI NGUYÊN:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế
Mã số: 60.34.01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Quốc Chính
Thái Nguyên - 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ bất kỳ một học vị nào
- Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Nguyễn Thị Hương Giang
Trang 3
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo của Khoa sau đại học - Trường Đại học kinh tế và QTKD Thái Nguyên đã nhiệt tình giảng dạy và chỉ bảo tôi trong suốt thời gian học tập và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn đến Ban lãnh đạo cùng các cán bộ, công nhân viên Công ty cổ phần Lương thực Thái Nguyên nơi tôi công tác, lãnh đạo và cán bộ các công ty trực thuộc Tổng Công ty Lương thực Miền Bắc mà tôi đến tác nghiệp đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, người thân đã giúp đỡ và động viên tạo thuận lợi cho tôi hoàn thiện khóa học
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hương Giang
Trang 41.1.1 Khái niệm và vai trò của hoạt động kinh doanh 4
1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp
5
1.1.3 Nội dung của kinh doanh hàng hoá 16
1.1.4 Lương thực và nội dung của kinh doanh lương thực 17
1.1.4.2 Nội dung của kinh doanh lương thực 19
Trang 5CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 28
2.1.2 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 29
2.2.3 Phương pháp xử lý thông tin 30
2.2.4 Phương pháp phân tích thông tin 31
2.3.1 Chỉ tiêu về Doanh thu 32
2.3.2 Chỉ tiêu về lợi nhuận 33
2.3.5 Chỉ số rủi ro tài chính 38
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển CTCP Lương thực Thái
3.1.2.1 Chức năng, nhiệm vụ, ngành nghề kinh doanh 40
3.1.2.2 Cơ cấu tổ chức Bộ máy quản lý của Công ty 42
3.2 Phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh tại CTCP Lương
thực Thái Nguyên
44
3.2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình kinh doanh của công ty 44
3.2.2 Kết quả kinh doanh của công ty 61
3.2.2.1 Các mặt hàng kinh doanh của công ty 61
3.2.2.2 Tóm tắt một số chỉ tiêu đã đạt được của CTCP Lương thực Thái Nguyên giai đoạn 2009-2011
61
3.2.2.3 Doanh thu của từng mặt hàng qua các năm 63
Trang 63.2.2.4 Lãi gộp của các mặt hàng kinh doanh 64
3.2.3 Đánh giá chung thực trạng hoạt động kinh doanh của công ty 71
4.2.1.1 Tuyển dụng, đào tạo, phát triển lao động 77
4.2.1.2 Xây dựng văn hoá doanh nghiệp và chế độ đãi ngộ cụ thể cho
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
CNCT Chi nhánh công ty (CTCP Lương thực Thái Nguyên
có 8 chi nhánh trực thuộc) CTCP Công ty cổ phần
FAO Tổ chức Lương Nông của Liên Hợp quốc
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
WTO Tổ chức thương mại thế giới
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 3.1 Cơ cấu nguồn vốn của công ty giai đoạn 2009-2011 52
2 Bảng 3.2 Tình hình biến động chung của lao động công ty giai
đoạn 2008-2011
55
3 Bảng 3.3 Chất lượng lao động của công ty giai đoạn 2009-2011 55
4 Bảng 3.4 Thu nhập bình quân của người lao động tại công ty giai
đoạn 2009-2011
57
5 Bảng 3.5 Thu nhập bình quân của người lao động giai đoạn
2009-2011 tại các đơn vị cùng ngành và khối thi đua
58
6 Bảng 3.6 Tóm tắt một số chỉ tiêu đạt được giai đoạn 2009-2011 62
7 Bảng 3.7 Cơ cấu doanh thu của từng mặt hàng giai đoạn
2009-2011
63
8 Bảng 3.8 Cơ cấu lãi gộp của từng mặt hàng giai đoạn 2009-2011 65
11 Bảng 3.11 Các chỉ số tài chính chủ yếu giai đoạn 2009-2011 68
12 Bảng 3.12 Một số chỉ số tài chính chủ yếu của CTCP Lương thực
Thái Nguyên và các đơn vị trong cùng ngành giai đoạn 2009-2011
70
13 Bảng 4.1 Các chỉ tiêu dự kiến từ năm 2012 đến năm 2015 77
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, lương thực ngày càng khẳng định vai trò quan trọng đối với đời sống văn hoá, kinh tế, chính trị không những của người dân Việt Nam mà còn đối với cộng đồng dân tộc trên thế giới
Theo báo cáo của Liên hiệp quốc năm 2011, có khoảng 80 quốc gia trên thế giới đang phải đối mặt với tình trạng thiếu lương thực Những khu vực bị
đe dọa nhiều nhất là ở Bắc và Trung Phi, tiếp đó là các nước châu Á như: Afghanistan, Mông Cổ, Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên Tình trạng thiếu lương thực càng trở nên nghiêm trọng đối với các quốc gia phải nhập khẩu lương thực, nhưng lại thiếu ngoại tệ Thêm vào đó việc giá lương thực thực phẩm tăng cao, nhất là giá các loại lúa mì, gạo và ngô, càng gây ra bất ổn
xã hội ở nhiều quốc gia
Khả năng xảy ra một cuộc "khủng hoảng" lương thực trên thế giới vừa là thời cơ, vừa là thách thức đối với sản xuất lúa gạo của Việt Nam Năm 2010, chúng ta xuất khẩu 6 triệu tấn gạo và thu về gần 3 tỷ USD, chiếm hơn 1/5 tổng kim ngạch các mặt hàng nông, lâm, thủy sản Năm 2011 là thời điểm nước ta mở cửa thị trường kinh doanh xuất khẩu gạo và với việc tiếp tục đẩy mạnh sản xuất, bảo đảm cân đối cung cầu hàng hóa, dịch vụ, bình ổn giá cả, thị trường trong dịp Tết Nguyên Đán Tân Mão và quý I năm 2011, Hiệp hội Lương thực Việt Nam dự kiến kế hoạch tạm thời của năm 2011 sẽ xuất khẩu khoảng 6 triệu tấn gạo và tồn kho chuyển sang năm 2012 là 0,5 triệu tấn Như vậy, phát triển sản xuất lúa gạo Việt Nam không chỉ trở thành mặt hàng xuất khẩu mũi nhọn đem lại phồn vinh cho Tổ quốc mà còn góp một phần quan trọng vào chiến lược đảm bảo an ninh lương thực của Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc (FAO)
Tuy nhiên kinh tế thế giới những năm vừa qua biến động không ngừng, nhiều nền kinh tế thế giới rơi vào tình trạng suy thoái, trong đó có Việt Nam
Trang 11Việc Ấn Độ tham gia vào thị trường xuất khẩu gạo giá rẻ lại đang là đối thủ cạnh tranh lớn của nước ta làm cho tình hình kinh doanh lương thực ngày càng khó khăn Dự báo về tình hình xuất khẩu gạo từ 2012 - 2015, FAO nhận định: Nhìn chung trong 4 năm tới số lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam sẽ ổn định ở mức 6 triệu tấn/năm, nhưng chất lượng gạo sẽ thay đổi và thị trường cạnh tranh gay gắt từ các nguồn cung cấp mới như: Myanma, Campuchia,
Do đó, Việt Nam cần nâng cao chất lượng lúa gạo trên cơ sở chọn giống và thiết lập các vùng nguyên liệu chất lượng cao, từng bước hình thành thương hiệu sản phẩm riêng Với các doanh nghiệp kinh doanh lương thực tại Việt Nam cần phải có nhiều biện pháp để có hướng đi lâu dài hơn, đem lại hiệu quả cao hơn trong việc sản xuất và kinh doanh lương thực
CTCP Lương thực Thái Nguyên là doanh nghiệp Nhà nước chuyển đổi sang loại hình CTCP và là thành viên của TCT Lương thực Miền Bắc Công
ty kinh doanh đa dạng các mặt hàng từ kinh doanh lương thực, phân bón, vật liệu xây dựng đến kinh doanh siêu thị ….Trong những năm qua, tình hình kinh doanh của công ty có nhiều biến động, doanh thu có nhiều biến đổi, lợi nhuận không cao, việc kinh doanh của công ty vẫn dựa trên việc thực hiện các
kế hoạch có sẵn, những mục tiêu ngắn hạn, chưa tiến hành phân tích thị trường, môi trường kinh doanh, điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức, do
đó hiệu quả kinh doanh của công ty vẫn chưa xứng với năng lực hiện có của mình
Với mong muốn phân tích thực trạng và đề ra những giải pháp kinh doanh cho CTCP Lương thực Thái Nguyên, nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện kinh
tế hiện nay, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần Lương thực Thái Nguyên: Thực trạng và giải pháp”
2 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
2.1 Mục tiêu chung: Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động
kinh doanh trong CTCP Lương thực Thái Nguyên, từ đó đề xuất định hướng,
Trang 12giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh đáp ứng các mục tiêu của công ty và phù hợp với tình hình hội nhập mới của đất nước
2.2 Mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá thực trạng tình hình kinh doanh của CTCP Lương thực Thái Nguyên
- Đưa ra những giải pháp kinh doanh cho CTCP Lương thực Thái Nguyên
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng : Hoạt động kinh doanh của CTCP Lương thực Thái Nguyên
- Phạm vi: CTCP Lương thực Thái Nguyên hoạt động trong nhiều lĩnh vực như kinh doanh lương thực, phân bón, vật liệu, hàng tiêu dùng Nhưng để tập trung đi sâu nghiên cứu và phù hợp với khuôn khổ cho phép, luận văn chỉ nghiên cứu một trong những lĩnh vực chủ yếu nhất của công ty, đó là kinh doanh lương thực Luận văn cũng chỉ khảo sát thực trạng hoạt động kinh doanh của công ty từ năm 2009-2011
4 Những đóng góp mới của luận văn
- Hệ thống hóa được một số vấn đề lý luận về hoạt động kinh doanh lương thực
- Nêu được thực trạng về hoạt động kinh doanh của CTCP Lương thực Thái Nguyên
- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp đẩy mạnh hoạt động kinh doanh của CTCP Lương thực Thái Nguyên
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được trình bày thành 4 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 4: Các giải pháp đẩy mạnh hoạt động kinh doanh của CTCP Lương thực Thái Nguyên
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm và vai trò của hoạt động kinh doanh
1.1.1.1 Khái niệm về kinh doanh hàng hoá:
Kinh doanh hàng hoá là dùng tiền của, công sức vào việc buôn bán hàng hoá nhằm mục đích kiếm lợi Kinh doanh hàng hoá, trước hết đòi hỏi phải có vốn kinh doanh Vốn kinh doanh là các khoản vốn bằng tiền, bằng tài sản khác Có thể lúc đầu vốn kinh doanh là khoản tích luỹ, vốn góp, vốn huy động hay vốn vay, có vốn mới thực hiện được chức năng lưu thông hàng hoá Thứ hai, kinh doanh hàng hoá đòi hỏi hành vi mua để bán Xét trên toàn
bộ và cả quá trình thì hoạt động kinh doanh hàng hoá phải thực hiện hành vi mua hàng, nhưng mua hàng không để mình dùng mà mua hàng để bán cho người khác, đó là hoạt động buôn bán
Thứ ba, kinh doanh hàng hoá dùng vốn vào hoạt động kinh doanh cũng đòi hỏi sau mỗi chu kỳ kinh doanh phải đảm bảo toàn được vốn và có lãi, có như vậy mới có thể mở rộng và phát triển kinh doanh Ngược lại, thua lỗ dẫn tới doanh nghiệp phá sản
1.1.1.2 Vai trò
Thứ nhất kinh doanh là điều kiện để thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển Thông qua hoạt động kinh doanh trên thị trường, các chủ thể kinh doanh mua bán được các hàng hoá, dịch vụ, điều đó đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được tiến hành bình thường, lưu thông hàng hoá, dịch vụ thông suốt
Vì vậy, không có hoạt động kinh doanh phát triển thì sản xuất hàng hoá không thể phát triển được
Thứ hai, thông qua việc mua bán hàng hoá, dịch vụ trên thị trường, kinh doanh có vai trò quan trọng trong việc mở rộng khả năng tiêu dùng, nâng cao mức hưởng thụ của các cá nhân và doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy sản xuất
Trang 14và mở rộng phân công lao động xã hội, thực hiện cách mạng khoa học công nghệ của nền kinh tế quốc dân
Thứ ba, trong xu thế quốc tế hoá đời sống kinh tế diễn ra mạnh mẽ, thị trường trong nước có mối liên hệ chặt chẽ với thị trường nước ngoài thông qua hoạt động ngoại thương Sự phát triển mạnh mẽ của ngoại thương sẽ đảm bảo mở rộng thị trường các yếu tố đầu vào, đầu ra của thị trường trong nước
và bảo đảm sự cân bằng giữa hai thị trường đó Vì vậy, kinh doanh có vai trò
là cầu nối gắn kết nền kinh tế thế giới, thực hiện chính sách mở cửa
Thứ tư, nói đến kinh doanh là nói đến sự cạnh tranh giữa các chủ thể kinh doanh trên thị trường trong mua bán hàng hoá và dịch vụ Quan hệ giữa các chủ thể kinh doanh là quan hệ bình đẳng, thuận mua vừa bán, nói cách khác là quan hệ đó được tiền tệ hoá Vì vậy, trong hoạt động kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phải năng động, sáng tạo, thúc đẩy cải tiến ký thuật, phát huy sáng kiến để nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ trên thị trường Điều đó góp phần thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng, giúp các doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh gay gắt hiện nay
1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.2.1 Môi trường bên ngoài
Do sự biến động của môi trường kinh doanh trong nước cũng như trên thế giới, việc xác định những yếu tố môi trường bên ngoài ngày càng trở nên quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Phân tích ảnh hưởng của môi trường bên ngoài và môi trường ngành trong quá trình kinh doanh sẽ xác định, chỉ ra được những điểm mạnh, điểm yếu, các cơ hội và các nguy cơ, những mối de dọa đối với hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai Các tác động của môi trường đến quá kình kinh doanh của Doanh nghiệp bao gồm:
Trang 15- Môi trường quốc tế
Việc nghiên cứu môi trường quốc tế sẽ giúp doanh nghiệp xác định được mức độ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của chính doanh nghiệp mình Khu vực hóa và toàn cầu hóa đã, đang và sẽ là xu hướng tất yếu mà Chính phủ, các ngành và các doanh nghiệp đều phải tính đến
Một quốc gia ổn định về chính trị, có bầu không khí chính trị tốt, hệ thống các chính sách chế độ rõ ràng và nhất quán, việc tuân thủ pháp luật nghiêm minh, có mối quan hệ hợp tác tốt với các nước trong khu vực và trên thế giới sẽ luôn là điểm đến lý tưởng cho các nhà đầu tư, và bản thân các doanh nghiệp của quốc gia đó cũng sẽ có điều kiện để phát triển nhanh, ổn định và vững chắc
- Tác động của Chính phủ, luật pháp và chính trị
Các nhân tố Chính phủ, luật pháp và chính trị tác động đến doanh nghiệp theo nhiều hướng khác nhau Các nhân tố này có thể tạo ra những cơ hội hoặc trở ngại, thậm chí có thể gây ra những rủi ro hoặc hiểm họa thực sự cho doanh nghiệp Chính phủ là người tiêu dùng lớn nhất trong nền kinh tế, sự ổn định
về chính trị, sự nhất quán về quan điểm chính sách… Đối phó với khủng hoảng kinh tế, Chính phủ kịp thời đưa ra hàng loạt chính sách nhằm giúp các doanh nghiệp trong nước giảm bớt khó khăn như: Rà soát, ban hành bổ sung luật pháp, cơ chế, chính sách bảo vệ thị trường người tiêu dùng trong nước, sản xuất trong nước không trái với các quy định của WTO
- Tác động của các yếu tố tự nhiên
Do đặc trưng về ngành nghề là kinh doanh lương thực nên yếu tố tự nhiên ảnh hưởng tương đối lớn đến hoạt động kinh doanh của Công ty Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, do đó thời tiết luôn diễn biến phức tạp, thiên tai, hạn hán, lũ lụt xảy ra đã ảnh hưởng không nhỏ đến kinh doanh các mặt hàng về nông nghiệp trong đó có kinh doanh lương thực
Hiện nay không những Việt Nam mà các nước trong khu vực và trên thế giới còn quan tâm đặc biệt đến vấn đề biến đổi khí hậu, biến đổi khí hậu tác
Trang 16động đến sản xuất nông nghiệp và an ninh lương thực rất lớn như: Biến động
về diện tích canh tác do nước biển dâng (vùng ven đầm phá), biến động về năng suất cây trồng, thay đổi cơ cấu, thời vụ cây trồng vật nuôi; biến đổi về nhu cầu nước, năng suất sản lượng cây trồng, vật nuôi, sẽ làm gia tăng những hiện tượng cực đoan của thời tiết Bão lũ, áp thấp nhiệt đới sẽ xảy ra thường xuyên với tần suất lớn hơn và nông nghiệp và nông thôn chịu tác động trực tiếp nhất Thiên tai không chỉ ảnh hưởng cây trồng trên đồng ruộng, làm giảm năng suất lúa và các cây lương thực khác hay mất mùa mà còn phá huỷ các kho tàng sau thu hoạch, các công trình thuỷ lợi Khả năng hạn hán cũng sẽ tăng do thời tiết khô nóng xuất hiện nhiều hơn làm tăng nguy cơ sa mạc hoá đồng ruộng và tăng nhu cầu nước cho sản xuất nông nghiệp Đặc biệt, biến đổi khí hậu sẽ làm thay đổi điều kiện khí hậu nông nghiệp, thay đổi cơ cấu thời vụ, phá vỡ tập quán canh tác từ lâu đời của nông dân
Việt Nam là một nước nông nghiệp với 75% dân số sống bằng nông nghiệp và 70% lãnh thổ là nông thôn Sản xuất nông nghiệp hiện nay vẫn chủ yếu dựa trên các hộ cá thể, quy mô nhỏ, trình độ khoa học kỹ thuật chưa cao
và còn phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết, khí hậu Khi nhiệt độ, tính biến động
và dị thường của thời tiết và khí hậu tăng sẽ ảnh hưởng rất lớn tới sản xuất nông nghiệp, nhất là trồng trọt, làm tăng dịch bệnh, dịch hại, giảm sút năng suất của mùa màng
- Tác động của yếu tố kinh tế
Bao gồm các yếu tố như tốc độ tăng trưởng và sự ổn định của nền kinh
tế, sức mua, sự ổn định của giá cả, tiền tệ, lạm phát, tỷ giá hối đoái tất cả các yếu tố này đều ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Những biến động của các yếu tố kinh tế có thể tạo ra cơ hội và cả những thách thức với doanh nghiệp Để đảm bảo thành công của hoạt động doanh nghiệp trước biến động về kinh tế, các doanh nghiệp phải theo dõi, phân tích, dự báo biến động của từng yếu tố để đưa ra các giải pháp, các chính
Trang 17sách tương ứng trong từng thời điểm cụ thể nhằm tận dụng, khai thác những
cơ hội, né tránh, giảm thiểu nguy cơ và đe dọa
- Tác động của yếu tố khoa học công nghệ
Đây là nhân tố có những ảnh hưởng lớn, trực tiếp đến chiến lược của các ngành, lĩnh vực cũng như nhiều doanh nghiệp Những phát minh khoa học, sáng kiến cải tiến kỹ thuật đã đem lại những thay đổi to lớn, có những ảnh hưởng khá mạnh mẽ đến mỗi một doanh nghiệp Nó có thể đem đến một cơ hội hoặc tạo ra một rủi ro cho doanh nghiệp Các yếu tố công nghệ bao gồm
sự phát triển của công nghệ, sự ra đời của các nguyên vật liệu mới, thiết bị máy móc liên quan đến ngành, quá trình tiếp nhận và chuyển giao công nghệ mới, chi phí cho nghiên cứu và phát triển, chi phí đầu tư và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ Các doanh nghiệp cần nắm bắt kịp thời tiến bộ khoa học kỹ thuật, thường xuyên đầu tư nâng cấp trang thiết bị kỹ thuật tại chính doanh nghiệp của mình vì “thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ của nền kinh tế tri thức Thời đại kinh tế tri thức sẽ thay thế thời đại công nghiệp"
- Tác động của yếu tố văn hóa - xã hội
Môi trường văn hóa bao gồm các yếu tố triết học, tôn giáo, ngôn ngữ, văn học nghệ thuật Nhìn chung các yếu tố này cũng sẽ có những tác động tới một tổ chức nhưng chậm hơn các nhân tố khác, vì vậy nhân tố này chỉ ảnh hưởng gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tuy nhiên chúng
ta cũng không thể xem nhẹ nhân tố này
Môi trường xã hội bao gồm sự hình thành và biến động của các tầng lớp
xã hội, cơ cấu dân cư, tỷ lệ tăng dân số, sự di dân, cơ cấu quyền lực xã hội, phương thức làm việc và sinh hoạt của người dân, sự thay đổi về quan điểm sống và mức sống, ước vọng nghề nghiệp, thói quen tiêu dùng và đầu tư, phong tục tập quán… Tất cả những yếu tố đó đều có thể có những ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp
Trang 18- Tác động của các đối thủ cạnh tranh
Việc phân tích các đối thủ cạnh tranh sẽ giúp cho việc xác định khác đầy
đủ các áp lực cạnh tranh, chỉ ra được các cơ hội và những mối đe dọa thực sự
có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Các đối thủ cạnh tranh cụ thể là:
+ Đối thủ hiện tại
Đối thủ cạnh tranh hiện tại là những doanh nghiệp đang hoạt động trong ngành và cạnh tranh trực tiếp tới doanh nghiệp mình (hiện nay các Công ty lương thực trực thuộc tổng Công ty Lương thực Miền Bắc đang là những đối thủ cạnh tranh trực tiếp với Công ty Lương thực Thái Nguyên) Trong mô hình kinh doanh truyền thống, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, đối thủ sẽ đẩy lợi nhuận tiến dần tới con số 0, nhưng trong cuộc cạnh tranh ngày nay, các doanh nghiệp sẽ không dễ dàng gì chịu chấp nhận giá một cách thụ động Trên thực tế, các doanh nghiệp đều cố gắng để có được lợi thế cạnh tranh, năng lực cạnh tranh bền vững do với các đối thủ của mình Cường độ cạnh tranh thay đổi khác nhau tùy theo từng ngành và các nhà phân tích chiến lược rất quan tâm đến những điểm khác biệt đó
Cường độ cạnh tranh có thể ở các cấp độ tàn khốc, mạnh mẽ, vừa phải hoặc yếu tùy theo việc các doanh nghiệp nỗ lực giành lợi thế cạnh tranh đến mức nào
Để có được lợi thế cạnh tranh và năng lực cạnh tranh bền vững so với các đối thủ, doanh nghiệp có thể thực hiện một số động thái cạnh tranh bao gồm thay đổi giá, gia tăng sự khác biệt của sản phẩm, dịch vụ, sử dụng các kênh phân phối một cách sáng tạo
+ Đối thủ tiềm năng
Không chỉ là các đối thủ hiện tại mới tạo ra nguy cơ đe doạ tới các doanh nghiệp trong một ngành mà còn những doanh nghiệp mới gia nhập ngành cũng có khả năng ảnh hưởng đến cạnh tranh Xét về mặt lý thuyết, bất cứ doanh nghiệp nào cũng có thể tham gia hoặc rút lui khỏi thị trường, nếu như
Trang 19việc gia nhập hoặc rút lui không hạn chế Khi đó lợi nhuận của ngành sẽ là không đáng kể Tuy nhiên, thực tế cho thấy mỗi ngành đều có biện pháp riêng
để bảo vệ mức lợi nhuận cao của các đơn vị đã có mặt tại thị trường đồng thời cũng để ngăn cản các đối thủ tiềm năng gia nhập thị trường đó Những biện pháp này được coi là rào cản gia nhập
Các rào cản gia nhập là những quy định đặc trưng của một ngành Các rào cản là giảm tốc độ tham gia của các doanh nghiệp mới, nhờ đó duy trì mức lợi nhuận ổn đỉnh cho các doanh nghiệp đang hoạt động trong ngành Nếu xét từ góc độ chiến lược, các doanh nghiệp có thể tạo ra hoặc khai thác rào cản này để tăng lợi thế cạnh tranh của mình
Các rào cản gia nhập có thể bắt nguồn từ một số nguyên nhân chủ yếu như Chính phủ tạo nên các hàng rào, bằng sáng chế và sở hữu trí tuệ là một rào cản gia nhập, tính đặc trưng của tài sản hạn chế cổng vào ngành, tính kinh
tế theo quy mô sản xuất cũng tạo ra một số rào cản gia nhập
- Khách hàng
Khách hàng là lý do tồn tại của doanh nghiệp Nếu lượng khách hàng càng tăng thì mức thành công của doanh nghiệp càng cao Sự tín nhiệm của khách hàng có thể coi là tài sản có giá trị nhất của doanh nghiệp Nghiên cứu khách hàng cần tập trung vào các khía cạnh như sở thích, tập quán, khả năng tài chính của khách hàng, quan điểm của khách hàng đối với doanh nghiệp và đối với sản phẩm dịch vụ, khả năng chấp nhận thay đổi sản phẩm và dịch vụ, mức độ chấp nhận rủi ro… Sức mạnh khách hàng là ảnh hưởng của khách hàng đối với một ngành nào đó Nhìn chung, khi sức mạnh của khách hàng càng lớn thì mối quan hệ giữa khách hàng và các ngành sẽ tiến gần tới khái niệm độc quyền mua - tức là thị trường sẽ có rất nhiều nhà cung cấp nhưng chỉ có một người mua Trong điều kiện đó, khách hàng hoàn toàn có khả năng
áp đặt giá; nếu khách hàng mạnh, họ có thể buộc giá hàng hoá, dịch vụ phải giảm xuống và làm cho tỷ lệ lợi nhuận của ngành giảm
Trang 20- Nhà cung cấp
Một ngành sản xuất đòi hỏi phải có các nguyên liệu thô bao gồm lao động, vật tư, thiết bị… các bộ phận cấu thành, cũng như các đầu vào khác Điều này dẫn đến quan hệ giữa bên mua và bên cung cấp giữa các ngành sản xuất và các doanh nghiệp cung cấp các nguyên liệu thô để chế tạo sản phẩm Sức mạnh của nhà cung cấp thể hiện khả năng quyết định các điều kiện giao dịch của họ đối với doanh nghiệp Những nhà cung cấp nhỏ, yếu thế có thể phải chấp nhận các điều kiện mà doanh nghiệp đưa ra, nhờ đó doanh nghiệp giảm được chi phí và tăng lợi nhuận trong sản xuất Ngược lại, những nhà cung cấp lớn có thể gây sức ép đối với ngành sản xuất, có thể bằng cách đặt giá bán nguyên liệu cao hơn để san sẻ phần lợi nhuận của ngành…Đối với lĩnh vực hoạt động kinh doanh lương thực, gạo nguyên liệu nhiên liệu chiếm
tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm Công ty nào chiếm lĩnh được vùng nguyên liệu và tự khai thác tốt được thì sẽ chủ động trong hoạt động kinh doanh
Nói tóm lại, việc phân tích môi trường bên ngoài nhằm chỉ ra cho chúng
ta thấy được những tác động của những nhân tố bên ngoài đến hoạt động của ngành mình và của doanh nghiệp mình, sẽ tạo ra cho chúng ta những cơ hội tiềm năng hoặc đang tiềm ẩn những thách thức gì
1.1.2.2 Môi trường bên trong
Việc phân tích môi trường bên trong rất cần thiết để giúp tìm ra những điểm mạnh và điểm yếu của một doanh nghiệp Nhóm nhân tố bên trong Doanh nghiệp bao gồm toàn bộ các nhân tố thuộc về bản thân doanh nghiệp như: vốn, lao động, cơ sở vật chất,
- Vốn
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn là một yêu cầu tất yếu, đó là yếu tố mà bắt buộc doanh nghiệp nào cũng phải có một lượng nhất định để phục vụ trong quá trình sản xuất kinh doanh Các doanh nghiệp dù hoạt động
Trang 21theo mô hình nào, dù quy mô lớn hay nhỏ thì cũng không thể thiếu nhân tố vốn Vốn là tiền đề cho quá trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp
Về mặt pháp lý: Mỗi doanh nghiệp khi muốn hoạt động kinh doanh đều phải được cấp giấy phép đăng ký kinh doanh Để có được giấy phép thì doanh nghiệp phải chứng minh được một trong các yếu tố cơ bản là vốn Khi đó địa
vị pháp lý của doanh nghiệp mới được xác lập Do đó vốn là yếu tố quan trọng hàng đầu trong các vấn đề của doanh nghiệp nhằm đảm bảo sự tồn tại tư cách pháp nhân của doanh nghiệp trước pháp luật
Về mặt kinh tế: Khi doanh nghiệp đảm bảo yêu cầu về vốn thì doanh nghiệp có khả năng chủ động trong các hình thức kinh doanh, thay đổi công nghệ, mua sắm trang thiết bị hiện đại để giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, mang lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp
Vốn là nhân tố tổng hợp thể hiện sức mạnh của doanh nghiệp thông qua khối lượng vốn mà doanh nghiệp có thể huy động vào sản xuất kinh doanh Vốn quyết định quy mô của doanh nghiệp, khả năng khai thác các cơ hội, vốn phản ánh sự phát triển của doanh nghiệp và có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Với các doanh nghiệp, nguồn vốn vay từ ngân hàng là một trong những nguồn vốn quan trọng nhất, không chỉ đối với sự phát triển của bản thân các doanh nghiệp mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân Các ngân hàng thương mại cung cấp rất nhiều dịch vụ tài chính cho các doanh nghiệp, trong
có việc cung ứng các nguồn vốn Không một doanh nghiệp nào không vay vốn ngân hàng hoặc không sử dụng tín dụng thương mại nếu doanh nghiệp đó muốn tồn tại vững chắc trên thị trường Doanh nghiệp vay vốn của ngân hàng
để đảm bảo cho hoạt động sản xuất – kinh doanh, để tài trợ cho các dự án của doanh nghiệp
- Nguyên liệu
Nhân tố đầu vào nguyên vật liệu là một trong ba yếu tố của quá trình sản xuất, trực tiếp cấu tạo nên thực thể của sản phẩm Để quá trình sản xuất kinh
Trang 22doanh của doanh nghiệp được tiến hành một cách lên tục, không bị gián đoạn tạo cơ sở cho việc nâng cao hiệu quả kinh doanh thì vấn đề nguyên vật liệu cần được đáp ứng đầy đủ cả về số lượng, chủng loại và thời gian …vấn đề dự trữ nguyên vật liệu cần được tính toán trước khi tiến hành thu mua, khai thác Chi phí nguyên vật liệu thường chiếm một tỷ lệ lớn trong giá thành sản phẩm, nếu tiết kiệm được nguyên vật liệu, sử dụng chúng một cách hợp lý sẽ giảm được giá thành sản phẩm
- Cơ sở vật chất kỹ thuật
Quá trình phát triển sản xuất luôn gắn liền với sự phát triển của tư liệu lao động Sự phát triển của tư liệu lao động gắn bó chặt chẽ với quá trình tăng năng suất lao động, tăng sản lượng, chất lượng sản phẩm, hạ giá thành Như vậy cơ sở vật chất kỹ thuật là một nhân tố hết sức quan trọng, là điều kiện tiên quyết để tăng hiệu quả kinh doanh Nếu xét trong mối liên hệ với lao động thì
cơ sở vật chất kỹ thuật vừa là công cụ, vừa là môi trường tốt để nâng cao năng lực của đội ngũ lao động
Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật đã thực sự nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm ở tất cả các hãng kinh doanh Nếu doanh nghiệp chỉ có cơ sở vật chất yếu kém, máy móc lạc hậu, không đồng bộ thì việc bán sản phẩm sẻ thực sự khó khăn
Thực tế trong những năm chuyển đổi kinh tế vừa qua cho thấy: Doanh nghiệp nào tạo dựng được công nghệ sản xuất và hệ thống thiết bị hiện đại, làm chủ được các yếu tố kỹ thuật và phát triển sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp đó đạt được hiệu quả kinh tế cao, có khả năng đứng vững trên thị trường và đem lại những cơ hội phát triển cho doanh nghiệp
- Nguồn lao động
Lao động là một yếu tố quan trọng của quá trình hoạt động kinh doanh Việc sử dụng lao động hợp lý sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trên các mặt như: giảm chi phí, tăng khả năng cải tiến kỹ thuật, linh hoạt trong ứng xử với các đối tác Nâng cao hiệu quả
Trang 23sử dụng lao động là biện pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả kinh doanh đối với các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp kinh doanh lương thực nói riêng Lực lượng lao động của doanh nghiệp sẽ tác động trực tiếp đến việc nâng cao hiệu quả kinh doanh ở những điểm sau:
Thứ nhất: Lao động là yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh của hoạt động kinh doanh Đội ngũ lao động bằng lao động sáng tạo của mình tạo ra công nghệ mới, cải tiến kỹ thuật, đổi mới tính năng động của của người lao động quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường trong nước và thế giới
Thứ hai: Trình độ kỹ năng của người lao động cao sẽ giúp họ điều khiển máy móc kỹ thuật linh hoạt, tận dụng tối đa được công suất của các thiết bị, tận dụng nguyên vật liệu, tiết kiệm chi phí, làm tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả kinh doanh
Thứ ba: Cách thức tổ chức khoa học lao động: lao động có kỹ thuật, chấp hành đúng mọi quy định về thời gian, về quy trình hoạt động, quy trình bảo dưỡng thiết bị máy móc làm tăng độ bền, giảm chi phí sửa chữa, góp phần giảm chi phí kinh doanh
Ngoài ra, hiệu quả của hoạt động kinh doanh còn phụ thuộc rất lớn vào ý thức trách nhiệm, tinh thần hợp tác, phối hợp, khả năng thích ứng với những thay đổi, nắm bắt thông tin nhanh nhạy, kịp thời của người lao động trong doanh nghiệp Lực lượng lao động có trình độ, có trách nhiệm, ý thức tổ chức
kỷ luật cao là động cơ để phát huy hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp
Để có được đội ngũ lao động có trình độ, tinh thần, ý thức trách nhiệm cao thì doanh nghiệp phải chăm lo đến việc đào tạo, bồi dưỡng, và nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ lao động trong đơn vị mình
- Yếu tố quản trị doanh nghiệp
Đối với doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp kinh doanh lương thực nói riêng, yếu tố quản trị đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh Yếu tố này tác động đến hoạt động kinh doanh thông qua một
Trang 24loạt các kênh nội tại của doanh nghiệp như cơ cấu lao động, cơ sở vật chất kỹ thuật Công tác quản trị doanh nghiệp được tiến hành tốt sẽ giúp doanh nghiệp tạo dựng một hướng đi đúng trong xác lập thị trường, xác định mặt hàng, xác định đối tác chiến lược trong xây dựng chiến lược kinh doanh, trong xác định hợp lý các mục tiêu kinh doanh ngắn và dài hạn
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp hợp lý không những giúp cho điều hành hoạt động kinh doanh tốt mà còn giảm các chi phí quản lý và xây dựng một cơ cấu điều phối lao động tối ưu, góp phần xây dựng và lựa chọn hợp lý các phương án huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu vào phục vụ cho mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp
Nhà quản trị doanh nghiệp, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo chủ chốt bằng phẩm chất đạo đức và tài năng của mình có vai trò quan trọng bậc nhất, có ý nghĩa quyết định đối với sự thành đạt của doanh nghiệp Để có thể tạo dựng
hệ thống quản trị doanh nghiệp tốt, đòi hỏi nhà quản trị phải có kiến thức khoa học và nghệ thuật kinh doanh đáp ứng được hai nhiệm vụ chủ yếu là: + Xây dựng tập thể lao động thành một khối đoàn kết, năng động với chất lượng cao
+ Lãnh đạo cán bộ công nhân viên người lao động ở đơn vị hoàn thành mục đích và mục tiêu một cách vững chắc ổn định
- Hoạt động Maketing
Maketing là hệ thống các hoạt động liên quan đến quá trình nghiên cứu, dự báo, xác định các nhu cầu và mong muốn của khách hàng mục tiêu và đáp ứng tốt các nhu cầu đó bằng hỗn hợp Maketing (Maketing mix) hơn hẳn các đối thủ cạnh tranh trong từng thời kỳ, tại mỗi khu vực thị trường
Những hoạt động Maketing cơ bản trong doanh nghiệp gồm:
+ Nghiên cứu môi trường maketing để nhận diện các cơ hội thị trường , phân khúc thị trường , lựa chọn thị trường mục tiêu và định vị thị trường Đồng thời, phân tích khách hàng và các yếu tố có liên quan đến hình thành các chiến lược maketing định hướng khách hàng và maketing cạnh tranh
Trang 25+ Thiết kế, tổ chức thực hiện và kiểm tra các chiến lược sản phẩm , giá
cả, mạng lưới phân phối và xúc tiến bán hàng
+ Hiểu rõ các hoạt động maketing , nhà quản trị sẽ xác định cụ thể các nhiệm vụ của chức năng này, những công việc cần thực hiện trong từng kỳ và quyết định phân chia chức năng maketin g thành các bộ phận phù hợp với qui
mô hoạt động nhằm quản lý các công việc có hiệu quả
Tóm lại các nhà quản trị doanh nghiệp luôn phải đánh giá các hoạt động maketing vì chúng gắn liền với chiến lược cạnh tranh trên thị trường, quyết định sự tồn tại lâu dài hay không của mỗi doanh nghiệp
1.1.3 Nội dung của kinh doanh hàng hoá
Thứ nhất: là quá trình điều tra và nghiên cứu xác định nhu cầu và xác định nhu cầu thị trường về lương thực và dịch vụ liên quan Đây là bước đầu tiên trong quá trình hoạt động kinh doanh nhằm trả lời các câu hỏi: Cần kinh doanh hàng hoá, dịch vụ gì ? chất lượng ra sao ? số lượng bao nhiêu ? mua bán lúc nào ? ở đâu ?
Thứ hai: là quá trình huy động và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên
để thoả mãn các nhu cầu của xã hội Trong điều kiện cạnh tranh của nền kinh tế, việc tạo nguồn để đáp ứng các nhu cầu và nâng cao năng lực cạnh tranh là công việc hết sức quan trọng
Thứ ba: là quá trình tổ chức các mối quan hệ kinh tế Ở khâu công tác này, cần giải quyết các vấn đề về kinh tế, tổ chức và pháp luật phát sinh giữa các doanh nghiệp trong quá trình mua bán hàng hoá
Thứ tư: là quá trình tổ chức hợp lý các kênh phân phối và tổ chức chuyển giao hàng hoá, dịch vụ Đây là quá trình liên quan tới việc điều hành
và vận chuyển hàng hoá, dịch vụ từ nơi sản xuất đến người sử dụng với những điều kiện hiệu qủ tối đa Quá trình này giải quyết các vấn đề: thay đổi quyền sở hữu tài sản, di chuyển hàng hoá qua các khâu vận chuyển, dự trữ, bảo quản, đóng gói bốc dỡ, cung cấp thông tin thị trường cho nhà sản xuất
Trang 26Thứ năm: là quá trình quản lý hàng hoá ở các doanh nghiệp và xúc tiến mua bán hàng hoá Đối với các doanh nghiệp, đây là nội dung công tác quan trọng kết thúc quá trình kinh doanh hàng hoá
1.1.4 Lương thực và nội dung của kinh doanh lương thực
1.1.4.1 Một số khái niệm cơ bản
- Lương thực là chỉ một loại sản phẩm từ các cây lương thực đó là một dạng thức ăn ngũ cốc như gạo, bột mì, ngô
- Cây lương thực: là loại cây trồng mà sản phẩm dùng làm lương thực cho người, nguồn cung cấp chính về năng lượng và chất bột trong khẩu phần thức ăn
Có năm loại cây lương thực chính của thế giới đó là: lúa nước, ngô, lúa
mì, sắn và khoai tây Ngô, lúa gạo và lúa mì chiếm 87% sản lượng lương thực toàn cầu Ở Việt Nam, lúa (gạo) là cây lương thực quan trọng nhất, chiếm diện tích gieo trồng lớn nhất Cây lương thực quan trọng thứ hai là ngô đang
có xu hướng tăng ở Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên và Duyên Hải miền Trung Cây lương thực quan trọng thứ ba là cây sắn đang có xu hướng tăng ở vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, vùng núi và trung du Bắc Bộ Cây lương thực quan trọng thứ tư là khoai lang có xu hướng giảm ở hầu hết các vùng Những cây lương thực, thực phẩm lấy củ và lấy hạt khác (như khoai tây, khoai môn, khoai mỡ, dong riềng, hoàng tinh cao lương, lúa mì, lúa miến, lúa mạch) chiếm tỷ trọng không nhiều
- Gạo là một sản phẩm lương thực Hạt gạo màu trắng, nâu hoặc đỏ thẫm, chứa nhiều dinh dưỡng Hạt gạo là nhân của thóc sau khi bóc tách vỏ trấu và cám Gạo được gần một nửa dân số thế giới dùng phổ biến
- Sắn hay khoai mì là cây lương thực ăn củ có thể sống lâu năm, thuộc
họ Thầu dầu
- Ngô, bắp, hay bẹ là một loại cây lương thực được thuần dưỡng tại khu vực Trung Mỹ và sau đó được lan toả ra khắp châu Mỹ Ngô là cây lương
Trang 27thực được gieo trồng nhiều nhất tại Mỹ (chỉ riêng tại Hoa Kỳ thì sản lượng đã
là khoảng 270 triệu tấn mỗi năm)
- Khoai lang là một loại cây nông nghiệp với các rễ củ lớn, chứ nhiều tinh bột, có vị ngọt, nó là một nguồn cung cấp rau ăn củ quan trọng, được sử dụng trong vai trò của cả rau lẫn lương thực
- Thị trường nông sản hàng hoá: là tổng thể các quan hệ về hàng hoá, là nơi diễn ra quá trình trao đổi, thoả thuận giữa người mua và người bán nhằm
đi tới thống nhất về giá cả và số lượng nông sản hàng hoá, dịch vụ được mua bán Trao đổi là hành động tiếp nhận một nông sản phẩm mong muốn từ một người nào đó bằng cách đưa cho họ một thứ khác Thị trường cũng có thể hiểu là bất cứ khung cảnh nào trong đó diễn ra việc mua và bán các loại nông sản hàng hoá và dịch vụ
Thị trường nông sản hàng hoá bao gồm tất cả các khách hàng tiềm ẩn cùng có một nhu cầu hay mong muốn cụ thể về nông sản hàng hoá hay dịch
vụ, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi để thoả mãn nhu cầu và mong muốn đó
Cùng với sự phát triển của sản xuất nông sản hàng hoá và dịch vụ, thị trường nông sản hàng hoá ngày càng đa dạng Ngày nay cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật thông tin và thương mại điện tử thì không nhất thiết phải có một thực thể vật chất tương ứng với một thị trường, hay nói cách khác không gian của thị trường là vô tận Trong điều kiện khoa học công nghệ như hiện nay thì người ta có thể ngồi tại nhà mình nhưng vẫn thực hiện được hành
vi lựa chọn và mua bán nông sản hàng hoá qua mạng internet
Thị trường nông sản phẩm là một phạm trù kinh tế của sản xuất hàng hoá, được biểu hiện bằng các hoạt động trao đổi, mua bán, cùng với các mối quan hệ do chúng sinh ra, được diễn ra trong một khoảng không gian và thời gian nhất định Nông sản phẩm hàng hoá sản xuất ra là để bán và được bán ở thị trường, không thể coi thị trường là các cửa hàng, các chợ hay siêu thị mặc dù đó là những nơi mua bán nông sản phẩm hàng hoá Cần phải hiểu
Trang 28thị trường là nơi chứa đựng tổng cung, tổng cầu, là tập hợp nhu cầu về một loại nông sản phẩm hàng hoá nào đó Cũng có thể coi thị trường là một nhóm khách hàng đang có tiềm lực và nhu cầu chưa được thoả mãn
1.1.4.2 Nội dung của kinh doanh lương thực
Kinh doanh lương thực bao gồm các nội dung sau:
- Kinh doanh lương thực là quá trình điều tra, nghiên cứu và xác định nhu cầu thị trường về lương thực
Đây là khâu đầu tiên trong qúa trình kinh doanh lương thực nhằm trả lời các câu hỏi: Thị trường cần số lượng bao nhiêu ? Về mặt hàng lương thực cụ thể gì ? Với số lượng bao nhiêu ? Chất lượng thế nào ? Thời gian, địa điểm nói chung là tất cả những thông tin cần thiết cho quá trình kinh doanh lương thực Trong nền kinh tế thị trường, với thuộc tính cạnh tranh gay gắt thì thông tin chính là yếu tố quyết định tới toàn bộ quá trình kinh doanh Người nào nắm được thông tin chính xác, kịp thời thì người đó thắng
và thu được lợi nhuận
- Kinh doanh lương thực là quá trình tạo nguồn hàng để thoả mãn nhu cầu lương thực của thị trường
Với đặc điểm của thị trường lương thực luôn tồn tại một khả năng là thiếu nguồn hàng do rất nhiều nguyên nhân, khi đó việc kinh doanh phải đối mặt với vấn đề không đủ hàng đáp ứng được yêu cầu của thị trường
- Kinh doanh lương thực là quá trình tổ chức các mối quan hệ kinh tế thương mại
Ở các khâu công tác này, cần giải quyết các vấn đề về kinh tế, tổ chức
và pháp luật phát sinh giữa các doanh nghiệp trong quá trình mua, bán hàng hoá Trong quá trình kinh doanh bất cứ doanh nghiệp nào cũng gặp phải những vấn đề thuộc dạng này, đòi hỏi doanh nghiệp phải giải quyết tốt, nếu không sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh
Trang 29- Kinh doanh lương thực là quá trình tổ chức hợp lý các kênh phân phối
và tổ chức chuyển giao hàng hoá, dịch vụ từ nguồn hàng đến lĩnh vực tiêu dùng
Đây là quá trình liên quan đến việc vận chuyển lương thực từ nơi sản xuất đến nới tiêu dùng với những hiệu quả tối đa Người nông dân ít có khả năng tự thực hiện việc lưu thông sản phẩm của mình vì trong khi lưu thông phải đòi hỏi có thời gian, không gian và chi phí Kinh doanh thương mại chuyên thực hiện việc lưu thông hàng hoá, nếu đảm nhận được khâu này thì người nông dân nhận được tiền về bán sản phẩm nhanh hơn, có thể tiếp tục tái sản xuất vụ sau Trong khi doanh nghiệp thương mại có điều kiện mở rộng lưu thông, thực hiện việc lưu chuyển lương thực đến đúng nơi có nhu cầu và hạ thấp được phí tổn trong chi phí lưu thông
- Kinh doanh lương thực là quá trình quản lý, bảo quản, cất trữ lương thực và xúc tiến mua bán lương thực
Bảo đảm cung ứng đầy đủ, kịp thời đồng bộ, đúng chất lượng mà khách hàng yêu cầu, thuận lợi cho sản xuất và tiêu dùng xã hội với chi phí lao động xã hội thấp Nhờ có hàng hoá dự trữ mà có thể thoả mãn kịp thời nhu cầu khách hàng Nhờ có mạng lưới rộng (kho, trạm, cửa hàng, quầy hàng )
mà các đơn vị kinh doanh có thể cung cấp các số lượng cần thiết theo yêu cầu của khách hàng Các đơn vị kinh doanh lương thực phải thường xuyên tìm kiếm đối tác, mở rộng thị trường, xúc tiến việc mua bán mà chủ yếu là tìm kiếm thị trường xuất khẩu
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tình hình lương thực trên thế giới
Theo thông tin FAO cung cấp trong báo cáo mới nhất về thị trường gạo thế giới, sản lượng lương thực của thế giới năm 2012 sẽ thấp hơn 7,8 triệu tấn
so với dự tính do những bất ổn về lượng mưa, tuy nhiên vẫn cao hơn với năm
2011 Theo Báo cáo tháng 7-2012 về tình hình Quản lý thị trường gạo, FAO
dự báo sản lượng gạo năm 2012 giảm xuống 7,8 triệu tấn Mặc dù vậy, tổng
Trang 30sản lượng gạo thế giới vẫn được dự báo sẽ vượt qua tổng sản lượng năm 2011 với mức tính toán 724,5 triệu tấn
Nguyên nhân được chỉ ra trong bản báo cáo là “do lượng mưa mùa trung bình hàng năm giữa tháng 7 tại Ấn Độ thấp hơn 22% Điều này chắc chắn sẽ làm giảm sản lượng lương thực tại Ấn Độ trong mùa vụ này”
FAO cũng hạ thấp các dự báo sản lượng gạo tại Campuchia, Bắc Triều Tiên và Hàn Quốc, Nepal
Sản lượng gạo tại Trung Quốc, Indonesia và Thái-lan được trông đợi sẽ tăng cao, sản lượng tại các quốc gia châu Phi có thể tăng thêm 3% và các vụ mùa tại Australia có thể bội thu hơn 32% so với năm ngoái
Trong khi tình hình tại Nam Mỹ được cho là khả quan hơn, thì lượng mưa thấp và việc chuyển dịch cơ cấu sang các sản phẩm mang lại lợi nhuận nhiều hơn tại Brazil, Argentina, Paraguay và Uruguay khiến sản lượng gạo tại các nước Mỹ latinh và Caribbean có thể giảm 7%
Trong lĩnh vực giá cả, giá gạo vẫn giữ ở mức ổn định sau khi tăng 2% trong tháng 5, tương phản mạnh với thị trường ngô và lúa mỳ
“Giữa lúc dư thừa nguồn cung và các kho dự trữ lúa gạo, khả năng tăng giá mạnh trong những tháng tới là tối thiểu, tuy nhiên chiều hướng tương lai của giá lúa gạo vẫn không chắc chắn”, bản báo cáo chỉ rõ
Giao dịch lúa gạo toàn cầu được dự đoán cũng sẽ giảm khoảng 1 triệu tấn xuống còn 34,2 triệu tấn trong năm 2012, phần lớn là do nhu cầu nhập khẩu suy giảm từ các nước châu Á
Thế giới hiện đang phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng lương thực mới, một phần là do sản lượng ngô, đậu tương của Mỹ trong năm nay có thể
bị giảm sút tới 17% Mỹ là nước xuất khẩu chính hai loại nông sản này Chính
vì vậy giá ngô và đậu tương đang tăng vọt: kể từ tháng 6 đến nay, giá đậu tương thế giới đã tăng tới 30% và giá ngô tăng tới 50%
Ấn Độ cũng lâm vào tình cảnh tương tự Lượng mưa năm nay ở Ấn Độ giảm tới 20% so với mức trung bình hàng năm và đất nước 1,2 tỷ dân này có
Trang 31nguy cơ phải dựa vào nhập khẩu lương thực, thực phẩm Đây cũng là một nguyên nhân quan trọng nữa đẩy giá lương thực thế giới leo cao
Thế giới hiện đang đứng trước một cơn sốc giá lương thực thứ 3 trong vòng 5 năm qua Tệ hại nhất là cơn sốc giá lương thực năm 2008 Khi đó, giá gạo thế giới đã tăng vọt gấp 3 lần và khiến cho các nước nghèo nhất trên thế giới không đủ tiền nhập khẩu gạo cho dân Đã xảy ra nhiều vụ bạo loạn vì lương thực: Indonesia phải huy động quân đội canh giữ các kho lương thực, trong khi bạo loạn vì đói ăn ở Haiti đã khiến cho nhiều người bị chết trong bạo lực
Theo Ngân hàng Thế giới (WB), cuộc khủng hoảng lương thực năm
2008 đã khiến cho gần 100 triệu người trên thế giới bị đói ăn, trong khi con số này là 44 triệu trong cuộc khủng hoảng 2010 Cuộc khủng hoảng lương thực sắp tới có thể khiến cho từ 44 đến 100 triệu người đứt bữa, nếu thế giới không
có phản ứng kịp thời
Hiện thời, tình hình thiếu lương thực ở Đông Phi đã đến mức báo động, khi ngô chính là lương thực chủ yếu đối với hàng trăm triệu người ở Kenya, Uganda và Somalia
Chính vì vậy mà tổ chức từ thiện Oxfam đã kêu gọi FAO khuyến nghị giảm thiểu việc sản xuất nhiên liệu sinh học từ ngô ở Mỹ Thế nhưng, giới vận động hành lang ở Mỹ đang ráo riết tìm cách ngăn cản khuyến nghị này Đối với các chủ trang trại Mỹ, nhiên liệu sinh học chính là một nguồn tiêu thụ sản phẩm ổn định giá cao Nếu giảm sản lượng nhiên liệu sinh học, thu nhập của họ có nguy cơ bị giảm sút rõ rệt
Ngoài vấn đề dùng ngô để sản xuất nhiên liệu sinh học, tình trạng đầu cơ thao túng giá nông sản cũng là một vấn đề nghiêm trọng Các chuyên gia của
tổ chức từ thiện Oxfam cũng đổ lỗi cho việc thao túng giá lương thực là một trong những nguyên nhân đẩy giá lương thực toàn cầu leo cao và dẫn đến một cơn sốc giá thứ 3 trong vòng có 5 năm
Trang 321.2.2 Tình hình lương thực tại Việt Nam
Thời gian gần đây giá lương thực trên thế giới tăng cao đột biến do mất cân đối cung – cầu, khiến an ninh lương thực toàn cầu đang trở thành vấn đề
“nóng” Việt Nam từ một nước thiếu lương thực đã trở thành quốc gia xuất khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới (sau Thái Lan) Cho đến nay Việt Nam đã xuất khẩu 75 triệu tấn gạo, trị giá hơn 23 tỉ USD; năm 2010 xuất được 6,88 triệu tấn gạo, trị giá 3,23 tỉ USD Lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam chiếm 1/5 lượng gạo xuất khẩu toàn cầu Việt Nam còn cử chuyên gia đi chia sẻ kinh nghiệm của mình cho nhiều nước châu Á, châu Phi, Mỹ la tinh… đã được chính phủ, nhân dân các nước bạn bè, cộng đồng quốc tế hoan nghênh và đánh giá cao Vì thế, đóng góp của Việt Nam có vai trò quan trọng đối với việc bảo đảm an ninh lương thực thế giới
Giá các loại hàng hoá, đặc biệt là giá lương thực thế giới tăng cao trong thời gian gần đây vừa là thời cơ vừa là thách thức đối với Việt Nam Vì Việt Nam vừa là nhà xuất khẩu gạo đứng thứ 2 thế giới, nhưng lại là nước nhập khẩu nhiều loại nguyên, nhiên liệu phục vụ cho sản xuất nông nghiệp trong nước
Trong bối cảnh giá lương thực trên thế giới đang có xu hướng tăng cao, cung - cầu mất cân đối lớn do nhiều nguyên nhân, Việt Nam cần phải giải quyết tốt bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia, vừa phải tận dụng thời cơ để xuất khẩu lương thực đạt hiệu quả cao nhất Vì thế, Việt Nam cần làm tốt các khâu: sản xuất, tổ chức thị trường, điều hành xuất khẩu… Trên cơ sở đó, cần tính đến các yếu tố có liên quan đến các khâu nói trên Theo một cố vấn cao cấp Phòng Phát triển bền vững (Chương trình phát triển Liên hợp quốc), Việt Nam sẽ là một trong 5 nước chịu thiệt hại nặng nhất do biến đổi khí hậu toàn cầu
Với kịch bản nước dâng 1m, đồng bằng sông Hồng sẽ mất 5.000km2 đất, đồng bằng ong Cửu Long bị ngập 15.000 – 20.000km2; tổng sản lượng lương thực giảm khoảng 5 triệu tấn Xuất khẩu gạo của Việt Nam năm 2011 sẽ phải
Trang 33cạnh tranh với các nhà xuất khẩu mới tại khu vực là Mi-an-ma, Cam-pu-chia Hơn nữa, từ ngày 1-1-2011, Việt Nam phải mở cửa thị trường gạo theo các cam kết khi là thành viên của WTO, cho phép các doanh nghiệp nước ngoài
có thể trực tiếp thực hiện các giao dịch ở Việt Nam và xuất khẩu gạo của Việt Nam ra nước ngoài
Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn) cảnh báo về việc đất nông nghiệp đang từng ngày bị chuyển đổi mục đích sử dụng một cách thiếu quy hoạch và tùy tiện nên ngày càng bị thu hẹp một cách đáng báo động Tổng diện tích đất lúa toàn quốc hiện nay là 4,1 triệu ha Song từ năm
2000 – 2005, diện tích đất lúa đã giảm nghiêm trọng với hơn 302.000 ha Gần
9 năm qua, đất lúa đã bị giảm 59.000 ha Riêng tại đồng bằng ong Cửu Long,
từ 2000 – 2007, đất lúa đã bị giảm 205.000 ha (57% so với tòan quốc) Tại phía Bắc, chỉ tính Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nội đã giảm 3.161ha… mặt khác, thói quen sản xuất nhỏ, tập quán canh tác và sử dụng phân bón chưa phù hợp, chất lượng giống cây trồng, vật nuôi chưa cao… cũng hạn chế đến năng suất, chất lượng lương thực của Việt Nam Vì thế, gạo của Việt Nam giá thấp hơn gạo cùng loại của Thái Lan (550/900USD/tấn)
Do đó, trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam cần chủ động, tích cực để tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức trong việc bảo đảm an ninh lương thực quốc gia và góp phần bảo đảm an ninh lương thực thế giới với vị thế là quốc gia xuất khẩu gạo đứng thứ 2 thế giới và là thành viên tích cực của nhiều tổ chức kinh tế quốc tế
1.2.3 Đặc điểm của thị trường lương thực Việt Nam
Sau 25 năm đổi mới (1986-2010), Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong nông nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất lương thực Sản lượng lương thực Việt Nam không những đủ cho nhu cầu trong nước mà còn có khối lượng lớn cho xuất khẩu Bình quân lương thực đầu người tăng từ
445 kg năm 2000 lên 501 kg năm 2008 Việt Nam đã trở thành nước xuất
Trang 34khẩu gạo và các sản phẩm sắn (tinh bột sắn và sắn lát) đứng thứ hai trên thế giới (sau Thái Lan) sau một thời gian dài thiếu lương thực
Thị trường lương thực của Việt Nam (chủ yếu là thị trường lúa gạo) có những đặc điểm chủ yếu sau đây:
Một là: Thị trường lúa gạo Việt Nam hình thành trên những phạm vi và cấp độ khác nhau: Thị trường thống nhất toàn quốc, thị trường vùng và tiểu vùng, trong đó thị trường thống nhất toàn quốc và thị trường vùng là những địa bàn quan trọng cho sự hoạt động của các quy luật kinh tế
Thị trường cấp cao là các trung tâm tiêu thụ lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Cần Thơ có ỹ nghĩa đại diện cho bên cầu nội tiêu về gạo và liên quan đến hàng triệu hộ phi nông nghiệp tiêu dùng gạo, ở đây cung sản xuất thường nhỏ hơn cầu kinh tế Hai đồng bằng lớn của nước ta là Đồng bằng Sông Cửu Long và Châu thổ sông Hồng, mặc dù chỉ chiếm gần 40% dân số nhưng lại sản xuất tới gần 70% sản lượng thóc hàng năm Đây là những thị trường cấp thấp, có ý nghĩa đại diện cho bên cung và liên quan tới sự tồn tạo và phát triển của hàng triệu hộ dân trồng lúa, ở đây cung sản xuất lớn hơn cầu về kinh tế Hai là: Lương thực được phân phối theo nhiều kênh khác nhau: Sự khác nhau trong tương quan giữa cung sản xuất và cầu kinh tế ở hai thị trường tất yếu dẫn đến sự hình thành các kênh phân phối thóc gạo từ thị trường cấp thấp đến thị trường cấp cao (thị trường cung đến thị trường cầu) Với thực tế phân bố sản lượng lúa gạo và phân bố dân cư đã làm cho thị trường lúa gạo Việt Nam hình thành nên các kênh phân phối chủ yếu là: Kênh phân phối dài; kênh phân phối trung bình; kênh phân phối ngắn và kênh phân phối trực tiếp
Kênh phân phối dài làm nhiệm vụ đưa thóc từ Đồng bằng sông Cửu Long đến người tiêu dùng cuối cùng ở Bắc Bộ Chủ thể ở kênh phân phối này là người nông dân sản xuất, Hiệp hội lương thực Việt Nam, TCT Lương thực Miền Bắc, TCT Lương thực Miền Nam
Trang 35Kênh phân phối trung bình: làm nhiệm vụ đưa thóc từ đồng bằng sông Cửu Long đến Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và Miền Trung; từ đồng bằng Sông Hồng đến các thành phố lớn ở Miền Bắc và miền núi trung du phía Bắc Chủ thể của kênh phân phối này là người nông dân sản xuất; các Công
ty Lương thực trực thuộc TCT lương thực Miền Bắc; các thương nhân buôn chuyến
Kênh phân phối ngắn: Ở kênh này hàng hoá được vận chuyển từ ven
đô, các vành đai khu công nghiệp, từ các làng xã trồng lúa ngay trong vùng đến các trung tâm tiêu thụ gạo là các khu công nghiệp, thị xã, thị trấn Trông kênh phân phối này chỉ có duy nhất một phần tử đó là những người đảm nhiệm từ khâu mua thóc, xay sát, vận chuyển, bao gói và bán gạo cho người tiêu dùng cuối cùng
Kênh phân phối trực tiếp tồn tại ngay trên địa bàn làng, xã, huyện ở kênh này không có phần tử trung gian Người sản xuất là nông dân trực tiếp bán thóc gạo cho hộ tiêu dùng bao gồm các hộ phi nông nghiệp, hộ trồng lúa; khi họ là người bán nhưng có lúc lại là người mua
Ngoài bốn kênh phân phối nói trên, ở thị trường thóc gạo còn xuất hiện kênh phân phối gắn liền với việc xuất khẩu gạo Chủ thể của kênh phân phối này rất khó xác định, số phần tử trong kênh phân phối chưa cố định và họ xuất hiện trên thị trường với những tên gọi khác nhau; Có nhiều chủ thể Việt Nam cùng một lúc chào hàng và xuất khẩu gạo cho một đối tượng trên thị trường thế giới
Thị trường lúa gạo luôn vận động thông qua sự vận hành của các kênh phân phối qua hành vi mua bán của các chủ thể tham gia vào thị trường, trong đó hoạt động của các phần tử trung gian có khả năng mua, bán khối lượng lớn thóc gạo, hàng hoá có ý nghĩa quan trọng
Ba là: Thị trường lương thực nói chung, thị trường lúa gạo nói riêng của Việt Nam là thị trường cạnh tranh Song tuỳ thuộc vào tương quan cung cầu và tuỳ thuộc vào sản lượng xuất, nhập khẩu diễn ra trong toàn bộ nền
Trang 36kinh tế quốc dân, trên từng vùng, ở từng thời gian nhất định mà sự cạnh tranh bị suy giảm với mức độ khác nhau Khi ở thị trường vùng Bắc Bộ và Trung Bộ cung nhỏ hơn cầu do mất mùa thì giá cả và sản lượng gạo bán ra trên thị trường này phụ thuộc vào lưu lượng và cách tổ chức các kênh phân phối gạo từ Nam ra Bắc Khi cung nhỏ hơn cầu diễn ra trên phạm vi cả nước
do thất bát màu màng thì giá gạo trên thị trường phục thuộc vào khối lượng thóc và cách tổ chức thực hiện trong hoạt động dự trữ hoặc nhập khẩu gạo Ngược lại khi cung lớn hơn cầu (do bội thu mùa màng ) thì giá bán thóc của nông dân ở hai đồng bằng lớn phụ thuộc vào sự thu mua và tổ chức các kênh phân phối của các phần tử trung gian, nhất là những phần tử có tiềm lực lớn về vốn và thị trường Như vậy trong cả hai trường hợp những hành động hạn chế thương mại chỉ có thể xuất hiện từ phía các phần tử trung gian trong các kênh phân phối dài, trung bình, kênh phân phối xuất khẩu gạo ở những điều kiện nhất định của thị trường Nhà nước với tư cách là chủ thể kiến tạo của môi trường kinh doanh cần phải can thiệp vào thị trường thóc gạo Sự can thiệp vào kênh phân phối gạo từ Nam ra Bắc và Trung bộ gạo cho xuất khẩu có ý nghĩ đặc biệt quan trọng trong điều hoà thị trường thóc gạo Việt Nam
Trang 37
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Các câu hỏi đặt ra mà đề tài cần giải quyết
- Tại sao phải nghiên cứu thực trạng và giải pháp kinh doanh của CTCP
Lương thực Thái Nguyên ?
- Hoạt động kinh doanh của CTCP Lương thực Thái Nguyên diễn ra như thế
nào ?
- Hoạt động kinh doanh của CTCP Lương thực Thái Nguyên đã hiệu quả chưa
? có cần phải cải thiện tình hình kinh doanh hiện tại của công ty hay không ?
- Những giải pháp nào được đưa ra để cải thiện tình hình kinh doanh tại
CTCP Lương thực Thái Nguyên ? Làm thế nào để các giải pháp đưa ra gắn
với thực tiễn và phù hợp với điều kiện thực tế tại CTCP Lương thực Thái Nguyên ?
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp
Dữ liệu sơ cấp là những dữ liệu chưa qua xử lý, được thu thập lần đầu, và thu thập trực tiếp từ các đơn vị của tổng thể nghiên cứu thông qua các cuộc điều tra thống kê Dữ liệu sơ cấp đáp ứng tốt yêu cầu nghiên cứu, tuy nhiên việc thu thập dữ liệu sơ cấp lại thường phức tạp, tốn kém
Thu thập dữ liệu là một giai đoạn có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với quá trình nghiên cứu các hiện tượng kinh tế xã hội Có nhiều phương pháp để thu thập dữ liệu sơ cấp nhưng trong khuôn khổ của đề tài này tác giả chỉ đề cập đến phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp hoặc phỏng vấn bằng điện thoại
- Với phương pháp phỏng vấn trực tiếp: Tác giả điều tra bằng cách
đến gặp trực tiếp đối tượng được điều tra để phỏng vấn các vấn đề cần nghiên cứu Câu hỏi được tác giả đưa ra ngắn gọn và có thể trả lời nhanh được nhằm thăm dò ý kiến đối tượng qua các câu hỏi Khi áp dụng phương pháp này tác
Trang 38giả gặp mặt trực tiếp đối tượng nên có thể thuyết phục đối tượng trả lời, có thể giải thích rõ cho đối tượng về các câu hỏi, có thể dùng hình ảnh kết hợp với lời nói để giải thích, có thể kiểm tra dữ liệu tại chỗ trước khi ghi vào phiếu điều tra
Phương pháp này được tác giả áp dụng tại tại Siêu thị Minh Cầu (Một trong những chi nhánh trực thuộc Công ty cổ phần Lương thực Thái Nguyên) với chi phí rẻ, thuận lợi, dễ kiểm tra (chi phí ít nhưng hỏi được nhiều người ở những địa bàn khác nhau), có thể sử dụng trực tiếp một số các hàng hóa tại siêu thị để hỗ trợ quá trình phỏng vấn Tuy nhiên sẽ có những hạn chế như:
Do những người lui tới siêu thị để mua sắm không có nhiều thời gian để trả lời Hoặc người phỏng vấn đôi khi mang tâm lý vội vàng để đẩy nhanh tốc độ hỏi nên khó đạt được chất lượng hỏi cao
- Với phương pháp phỏng vấn bằng điện thoại: Tác giả tiến hành việc phỏng vấn đối tượng được điều tra bằng điện thoại theo những câu hỏi liên quan đến vấn đề tác giả đang nghiên cứu Đối tượng phỏng vấn bao gồm những người quen, bạn bè ở các đơn vị trong Khối, trong Cụm thi đua … Khi áp dụng phương pháp này tác giả dễ thiết lập quan hệ với đối tượng (vì nghe điện thoại reo, đối tượng có sự thôi thúc phải trả lời) Có thể kiểm soát được vấn viên do đó nâng cao được chất lượng phỏng vấn Tỷ lệ trả lời cao (có thể lên đến 80%) Nhanh và tiết kiệm chi phí Tuy nhiên thời gian phỏng vấn bị hạn chế vì người trả lời thường không sẵn lòng nói chuyện lâu qua điện thoại, nhiều khi người cần hỏi từ chối trả lời hay không có ở nhà…
2.1.2 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
Dữ liệu thứ cấp là dữ liệu do người khác thu thập, sử dụng cho các mục đích có thể là khác với mục đích nghiên cứu của chúng ta Dữ liệu thứ cấp có thể là dữ liệu chưa xử lý (còn gọi là dữ liệu thô) hoặc dữ liệu đã xử lý Do đó,
dữ liệu thứ cấp không phải do người nghiên cứu trực tiếp thu thập
Sử dụng dữ liệu thứ cấp sẽ tiết kiệm tiền bạc, thời gian Tuy nhiên, số liệu thứ cấp này đã được thu thập cho các nghiên cứu với các mục đích khác
Trang 39và có thể hoàn toàn không hợp với vấn đề mà đề tài đang nghiên cứu, khó phân loại dữ liệu; các biến số, đơn vị đo lường có thể khác nhau Mặt khác
dữ liệu thứ cấp thường đã qua xử lý nên khó đánh giá được mức độ chính xác, mức độ tin cậy của nguồn dữ liệu
Do đó khi thu thập nguồn dữ liệu này người nghiên cứu là phải đảm bảo tính chính xác của dữ liệu, phải kiểm tra xem các kết quả nghiên cứu của người khác là dựa vào dữ liệu thứ cấp hay sơ cấp Vì vậy điều quan trọng là phải kiểm tra dữ liệu gốc
Trong phạm vi đề tài này, tác giả tiến hành thu thập số liệu tại các đơn
vị như:
- TCT Lương thực Miền Bắc: http://www.vinafood1.com.vn
- TCT Lương thực Miền Nam: http://www.vinafood2.com.vn
- Hiệp hội Lương thực Việt Nam: www.vietfood.org.vn
- CTCP Lương thực Thái Nguyên: http://thainguyenfood.com.vn/
- Báo cáo tài chính, báo cáo kiểm toán, các kế hoạch kinh doanh của CTCP Lương thực Thái Nguyên từ năm 2009-2011
2.2.3 Phương pháp xử lý thông tin
Sau khi thông tin được thu thập và được tổng hợp thì sẽ tồn tại dưới hai dạng: Thông tin định tính và thông tin định lượng
Các thông tin này cần được xử lý để phục vụ cho việc chứng minh hoặc bác bỏ các giả thuyết khoa học mà tác giả đang nghiên cứu Có hai phương hướng xử lý thông tin:
- Xử lý thông tin định tính: Thường dùng để nghiên cứu về hành vi, sự kiện, chức năng tổ chức, môi trường xã hội, phản ứng và các quan hệ kinh tế…Khi các thông tin định tính đã được thu thập qua các phương pháp như: quan sát, phỏng vấn, thảo luận, nghiên cứu tài liệu,…để phân tích các thông tin trên ta sẽ xử lý logic đối với các thông tin định tính, chính là việc đưa ra những phán đoán về bản chất các sự kiện đồng thời thể hiện những logic của
Trang 40các sự kiện, các phân hệ trong hệ thống các sự kiện được xem xét Mục đích của thông tin định tính là để xây dựng giả thuyết và chúng minh cho giả thuyết đó từ những sự kiện rời rạc đã thu thập đuợc
- Xử lý thông tin định lượng: Toàn bộ số liệu thu thập được xử lý bởi chương trình Excel trên máy tính Đối với những thông tin là số liệu định lượng thì xử lý toán học, tính toán các chỉ tiêu cần thiết và lập thành các bảng biểu số liệu, vẽ biểu đồ, đồ thị, phân tích chỉ số trung bình phân tích để xác định xu hướng, diễn biến của tập hợp số liệu thu thập được
2.2.4 Phương pháp phân tích thông tin
2.2.4.1 Phương pháp so sánh
Bất kỳ một thông tin kinh tế nào biểu hiện bằng số mà đứng riêng rẽ, tự
nó không so sánh với những con số khác về thông tin kinh tế cùng loại thì vẫn không có tính chất tiêu biểu, nghèo nàn về nội dung Nhưng nếu đem so sánh
nó với những con số cùng loại, nó trở nên sáng rõ hơn, tiêu biểu hơn, nội dung phản ánh của nó cũng phong phú hơn
Phương pháp so sánh gồm các dạng:
- So sánh các nhiệm vụ kế hoạch
- So sánh qua các giai đoạn
- So sánh các đối tượng tương tự
2.2.4.2 Phương pháp đồ thị
Phương pháp đồ thị thống kê là phương pháp trình bày và phân tích các thông tin thống kê bằng biểu đồ, đồ thị Các thông tin được chuyển hóa từ dạng số sang dạng đồ thị
2.2.4.3 Phương pháp phân tích SWOT
Phân tích SWOT là việc đánh giá một cách chủ quan các dữ liệu được sắp xếp theo định dạng SWOT dưới một trật tự lô gíc dễ hiểu, dễ trình bày, dễ thảo luận và đưa ra quyết định, có thể được sử dụng trong mọi quá trình ra quyết định Các mẫu SWOT cho phép kích thích suy nghĩ hơn là dựa trên các phản ứng theo thói quen hoặc theo bản năng