1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng bảo hiểm xã hội ở Bắc Ninh

125 621 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện đề tài “Giải pháp nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH ở tỉnh Bắc Ninh” tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các thầy, cô giáo Khoa

Trang 1

–––––––––––––––––––––––––

PHẠM ĐỨC CƯỜNG

GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG NỢ ĐỌNG VÀ TRỐN ĐÓNG

BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở BẮC NINH

Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ

Mã số: 60.34.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN ĐẠI NGHĨA

THÁI NGUYÊN - 2012

Trang 2

LỜI CAM Đ OAN

Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận văn được tập hợp tại cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Ninh và chưa từng được ai nghiên cứu và công bố trong bất cứ công trình khoa học nào

Người cam đoan

Phạm Đức Cường

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài “Giải pháp nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH ở tỉnh Bắc Ninh” tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các thầy, cô giáo Khoa đào tạo sau đại học, Trường Đại học kinh

tế và quản trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên; Ban Giám đốc, cán bộ cơ quan BHXH tỉnh Bắc Ninh, Cục Thống kê Bắc Ninh, Sở Kế hoạch và Đầu tư Bắc Ninh và các doanh nghiệp Đặc biệt là sự tận tình hướng dẫn của TS Trần Đại Nghĩa; sự ủng hộ, động viên của gia đình và bè bạn

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô giáo, các quý cơ quan, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp Sự giúp đỡ này đã cổ vũ và giúp tôi nhận thức, làm sáng tỏ thêm cả lý luận và thực tiễn về lĩnh vực mà luận văn nghiên cứu

Luận văn là quá trình nghiên cứu công phu, sự làm việc khoa học và nghiêm túc của bản thân, song do khả năng và trình độ có hạn nên không thể tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định

Tôi mong nhận được sự quan tâm, đóng góp ý kiến của các thầy,

cô giáo và những độc giả quan tâm đến đề tài này

Tác giả

Phạm Đức Cường

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Mục lục iii

Những từ viết tắt trong luận văn vii

Danh mục bảng viii

Danh mục sơ đồ, biểu đồ ix

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

2.1 Mục tiêu chung 2

2.2 Mục tiêu cụ thể 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Những đóng góp mới của luận văn 3

5 Kết cấu của luận văn 3

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BHXH VÀ CHÍNH SÁCH BHXH Ở VIỆT NAM 5

1.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về BHXH 5

1.1.1 Khái niệm, bản chất và vai trò của BHXH 5

1.1.2 Chức năng và tính chất BHXH 12

1.2 Thu và quản lý thu BHXH 13

1.2.1 Thu BHXH 13

1.2.2 Quản lý thu BHXH 18

1.3.Vấn đề nợ đọng và trốn đóng BHXH 23

1.3.1 Khái niệm nợ đọng và trốn đóng BHXH 23

1.3.2 Các hình thức nợ đọng và trốn đóng BHXH 24

Trang 5

1.4 Kinh nghiệm quản lý thu và xử lý nợ đóng, trốn đóng BHXH ở một số

nước trên thế giới và bài học cho Bắc Ninh 25

1.4.1 Kinh nghiệm ở một số nước trên thế giới 25

1.4.2 Kinh nghiệm về giải quyết nợ đọng và trốn đóng BHXH tại Việt Nam 30

1.4.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam nói chung và tỉnh Bắc Ninh nói riêng nhằm khắc phục nợ đọng, trốn đóng BHXH 34

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36

2.1 Các câu hỏi nghiên cứu của đề tài 36

2.2 Phương pháp nghiên c ứu 36

2.2.1 Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử 36

2.2.2 Phương pháp so sánh 36

2.2.3 Phương pháp chuyên gia 36

2.2.4 Phương pháp điều tra thu thập thông tin, số liệu 37

2.2.5 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu 39

2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 44

2.3.1 Các chỉ tiêu tuyệt đối 44

2.3.2 Các chỉ tiêu tương đối 45

Chương 3 THỰC TRẠNG NỢ ĐỌNG VÀ TRỒN ĐÓNG BHXH Ở TỈNH BẮC NINH 48

3.1 Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh 48

3.1.1 Đặc điểm về tự nhiên và dân số 48

3.1.2 Đặc điểm về văn hoá, xã hội 48

3.1.3 Tình hình phát triển kinh tế của tỉnh Bắc Ninh những năm qua 49

3.1.4 Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đến tình trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH ở tỉnh Bắc Ninh 50

3.2 Tổ chức hệ thống BHXH tỉnh Bắc Ninh 50

Trang 6

3.2.1 Khái quát sự hình thành và phát triển 50

3.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của BHXH tỉnh Bắc Ninh 52

3.2.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của BHXH tỉnh Bắc Ninh 52

3.3 Thu và quản lý thu ở BHXH tỉnh Bắc Ninh 53

3.3.1 Cơ sở pháp lý cho hoạt động thu và quản lý thu BHXH 53

3.3.2 Thực trạng thu và quản lý thu BHXH ở tỉnh Bắc Ninh 55

3.4 Thực trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH ở Bắc Ninh 66

3.4.1 Thực trạng nợ đọng BHXH ở Bắc Ninh 66

3.4.2 Thực trạng trốn đóng BHXH ở Bắc Ninh 70

3.4.3 Tình trạng nợ đọng, trốn đóng BHXH qua kết quả kiểm tra việc chấp hành pháp luật BHXH ở một số DN 73

3.4.4 Nguyên nhân, hậu quả của nợ đọng và trốn đóng BHXH 75

3.4.5 Các biện pháp giải quyết nợ đọng, trốn đóng đã thực hiện BHXH ở Bắc Ninh 80

3.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc tham gia BHXH bắt buộc 82

3.5.1 Thông tin chung về đơn vị điều tra 82

3.5.2 Thực trạng tham gia BHXH và tiếp cận nguồn thông tin của các DN NQD được điều tra 85

3.5.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến tham gia BHXH bắt buộc của DN 87

Chương 4 GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG NỢ ĐỌNG VÀ TRỐN ĐÓNG BHXH Ở TỈNH BẮC NINH TRONG THỜI GIAN TỚI 91

4.1 Chiến lược phát triển của BHXH Việt Nam 91

4.2 Dự báo về phát triến kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh đến năm 2020 92

4.3 Mục tiêu và phương hướng của BHXH tỉnh Bắc Ninh 93

4.4 Giải pháp nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH ở Bắc Ninh.94 4.4.1 Tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền 94

Trang 7

4.2.2 Nhóm giải pháp liên quan đến tổ chức thực hiện 94

4.2.3 BHXH tỉnh phối hợp với các cơ quan chức năng liên quan 97

4.2.4 Thực hiện tốt công tác thi đua, khen thưởng 98

4.5 Kiến nghị 98

4.5.1 Đối với Nhà nước 98

4.5.2 Kiến nghị với Bảo hiểm xã hội Việt Nam 98

4.5.3 Đối với tỉnh Bắc Ninh 98

KẾT LUẬN 99

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ ĐƢỢC CÔNG BỐ 101

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 113

Trang 8

NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

BHXH huyện Bảo hiểm xã hội huyện, thị xã, thành phố

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Cơ cấu mẫu điều tra 39

Bảng 2.2: Định nghĩa các biến được sử dụng trong mô hình probit 44

Bảng 3.1: Đối tượng tham gia BHXH của tỉnh Bắc Ninh (2007-2011) 59 Bảng 3.2: Số đơn vị tham gia BHXH theo khối quản lý (2007-2011) 60 Bảng 3.3: Số lao động tham gia BHXH theo loại hình DN, tổ chức 61

Bảng 3.4: Số tiền phải thu BHXH phân theo DN, tổ chức 62

Bảng 3.5: Số tiền thu BHXH của tỉnh Bắc Ninh (2007-2011) 62

Bảng 3.6: Kết quả thu BHXH theo loại hình DN, tổ chức 64

Bảng 3.7: Tình hình nợ đọng BHXH của tỉnh Bắc Ninh (2007-2011) 66 Bảng 3.8: Số đơn vị nợ BHXH theo loại hình DN, tổ chức 68

Bảng 3.9: Số tiền nợ BHXH phân theo DN (2007-2011) 69

Bảng 3.10: Tỷ trọng số tiền nợ BHXH theo DN, tổ chức (2007-2011) 69 Bảng 3.11: Số DN trốn đóng BHXH ở Bắc Ninh 71

Bảng 3.12: Số tiền trốn đóng BHXH trên địa bàn Bắc Ninh 71

Bảng 3.13: Lao động trốn đóng BHXH trên địa bàn Bắc Ninh 72

Bảng 3.14: Kết quả kiểm tra các DN (2007-2011) 73

Bảng 3.15: Kết quả kiểm tra liên ngành tại các DN (2007-2011) 73

Bảng 3.16: Kết quả kiểm tra chấp hành luật BHXH ở một số DN 74

Bảng 3.17: Tuổi của chủ SDLĐ 83

Bảng 3.18: Trình độ chuyên môn của chủ DN 83

Bảng 3.19: Quy mô lao động của DN 84

Bảng 3.20: Thu nhập bình quân lao động của DN điều tra 85

Bảng 3.21: Thanh kiểm tra các DN điều tra trong 3 năm gần đây 86

Bảng 3.22: Mức độ tiếp cận thông tin về BHXH các DN điều tra phân theo nhóm 87

Bảng 3.23: Ảnh hưởng của các nhân tố đến quyết định tham gia 88

Trang 10

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 1.1: Quy trình quản lý thu 19

Sơ đồ 3.1: Cơ cấu tổ chức quản lý của BHXH tỉnh Bắc Ninh 51

Sơ đồ 3.2: Quy trình quản lý tiền thu BHXH 58

Biểu đồ 3.1: Số thu BHXH của Bắc Ninh giai đoạn 2007-2011 63

Biểu đồ 3.2: Số nợ tiền BHXH ở tỉnh Bắc Ninh 67

Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ nợ BHXH của DN Nhà nước và DN NQD 70

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH) và xác định đây là một trong những chính sách xã hội cơ bản và là trụ cột của an sinh xã hội (ASXH) nhằm đảm bảo thu nhập, đời sống cho hàng triệu người lao động cùng các đối tượng hưởng các chế độ BHXH, Đảng ta đã xác định: “Bảo hiểm xã hội là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước góp phần bảo đảm ổn định đời sống cho người lao động,

ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy sự nghiệp xây dựng đất

nước, bảo vệ Tổ quốc” (Bộ Chính trị, 1997, Chỉ thị số 15 CT/TW)[4] Nền

kinh tế nước ta đang chuyển mạnh sang cơ chế thị trường, các thành phần kinh tế đan xen lẫn nhau, các quan hệ lao động cũng trở nên đa dạng và phức tạp hơn Do vậy, chính sách BHXH không ngừng được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với từng thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Bắc Ninh là một tỉnh đang có sự chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Việc hình thành các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, các làng nghề đã và đang thu hút lực lượng lao động lớn Trong những năm qua, chính sách BHXH nói chung, công tác quản lý thu BHXH tại tỉnh Bắc Ninh nói riêng đã đạt được những thành tích đáng khích lệ như: số đơn vị, số người, số tiền tham gia BHXH ngày càng tăng, năm sau cao hơn năm trước, làm nguồn thu tăng lên rõ rệt, quyền lợi BHXH của người lao động (NLĐ) được đảm bảo

Tuy nhiên, những năm gần đây nhiều đơn vị, doanh nghiệp (DN) chấp hành không nghiêm pháp luật về BHXH, tình trạng nợ đọng, trốn đóng BHXH ngày càng phổ biến, gia tăng ở hầu hết địa phương trong toàn tỉnh Tính đến 31/12/2011, trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh có 2.907 DN đang hoạt động thuộc đối tượng phải tham gia BHXH bắt buộc thì có 1.861 DN (chiếm 64,02%) trốn đóng BHXH

Trang 12

Trong tổng số 2.086 đơn vị, DN đang tham gia BHXH thì có 307 đơn vị,

DN (chiếm 15%) nợ BHXH với số tiền 36,317 tỷ đồng Do vậy, hệ quả là

số lượng lớn lao động không được đóng BHXH hoặc đóng BHXH không đầy đủ Điều này đồng nghĩa với việc lợi ích của hàng nghìn lao động đang bị xâm phạm, mọi chế độ của NLĐ không được giải quyết Tình trạng trên đã tác động xấu đến chính sách BHXH nói riêng và hệ thống ASXH nói chung Vì vậy, thực hiện tốt việc quản lý thu BHXH, hạn chế

nợ đọng, trốn đóng BHXH có ý nghĩa sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn, góp phần đảm bảo ASXH xét cả trên bình diện quốc gia nói chung cũng như ở tỉnh Bắc Ninh nói riêng

Xuất phát từ thực tế trên, việc nghiên cứu đề tài “Giải pháp nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH ở tỉnh Bắc Ninh” là một vấn đề cấp thiết, có ý nghĩa về mặt khoa học và thực tiễn

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

2.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu thực trạng tình hình nợ đọng và trốn đóng BHXH trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh thời gian qua; đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH trong thời gian tới

- Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng

và trốn đóng BHXH trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới

Trang 13

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tƣợng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các đơn vị, DN, NLĐ đã tham gia và chưa BHXH bắt buộc trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

- Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến việc nợ đọng và trốn đóng BHXH bắt buộc ở các đơn vị , DN (trong đó tập trung ở các đơn vị thuộc khu vực kinh tế NQD: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần , doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh) trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu, đánh giá thực trạng nợ đọng

và trốn đóng BHXH ở các đơn vị, DN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

- Về không gian, thời gian: Đề tài thực hiện trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh;

số liệu nghiên cứu, phân tích trong 5 năm (2007-2011)

4 Những đóng góp mới của luận văn

- Góp phần hệ thống hoá và phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn

về BHXH, thu BHXH, nhất là vấn đề nợ đọng, trốn đóng BHXH

- Kết quả nghiên cứu chỉ ra những mặt tích cực, những hạn chế cần phải hoàn thiện trong việc tổ chức quản lý thu BHXH và giải quyết nợ đọng, trốn đóng BHXH tại tỉnh Bắc Ninh, qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm

- Đề xuất những giải pháp và những kiến nghị có thể được vận dụng vào thực tế để thực hiện tốt công tác thu BHXH, hạn chế nợ đọng và trốn đóng BHXH trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh Đồng thời giúp các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các ngành chức năng làm căn cứ trong việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 4 chương:

Trang 14

- Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về BHXH và chính sách BHXH ở Việt Nam

- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

- Chương 3: Phân tích thực trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH ở tỉnh Bắc Ninh

- Chương 4: Giải pháp nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH ở tỉnh Bắc Ninh

Trang 15

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BHXH

VÀ CHÍNH SÁCH BHXH Ở VIỆT NAM 1.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về BHXH

1.1.1 Khái niệm, bản chất và vai trò của BHXH

1.1.1.1 Sơ lược sự ra đời và phát triển của BHXH

Bảo hiểm xã hội ra đời là kết quả của một quá trình đấu tranh lâu dài giữa giai cấp công nhân làm thuê với giới chủ tư bản Kết quả này đã được các nước trên thế giới ghi nhận và cố gắng xây dựng cho mình một hệ thống BHXH phù hợp Qua nhiều năm nghiên cứu về BHXH, giáo sư Henri Kliller thuộc trường đại học Solray của Bỉ đã khẳng định rằng nguồn gốc của BHXH xuất phát từ những vấn đề kinh tế, chính trị - xã hội sau đây:

Cuộc cách mạng công nghiệp đã tạo điều kiện cho sự ra đời của chủ nghĩa tư bản và sản xuất hàng hoá Khi nền kinh tế hàng hóa phát triển, việc thuê mướn nhân công trở nên phổ biến Giai cấp công nhân làm thuê cho giới chủ và được giới chủ trả tiền lương, tiền công Lúc đầu giới chủ cam kết trả tiền lương, tiền công Người lao động bị bóc lột tàn bạo và bị đối xử không công bằng Giờ làm việc của họ thường bị kéo dài và cường độ lao động rất cao, nhưng tiền công được trả rất thấp Hiện tượng ốm đau, tai nạn lao động xảy ra phổ biến Và với tiền công được trả đó họ không thể đảm bảo cuộc sống của mình cũng như gia đình mình Thêm vào đó, Nhà nước cũng như giới chủ không hề quan tâm hay giúp đỡ họ Đứng trước tình hình đó, giai cấp công nhân đã liên kết lại với nhau để tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau; lập ra các quỹ cứu trợ người ốm, người bị tai nạn; lập các tổ chức tương tế và vận động mọi người tham gia; đấu tranh tự phát với giới chủ như: đòi tăng lương, giảm giờ làm; thành lập các tổ chức công đoàn và sau này là đấu tranh có tổ chức

Trang 16

nhưng bị giới chủ đàn áp thậm tệ Giai cấp công nhân không đòi được quyền lợi mà còn bị tổn thất nặng nề Mâu thuẫn giữa giới chủ và thợ ngày càng trầm trọng, sâu sắc Các cuộc đấu trang của giai cấp công nhân diễn ra ngày càng rộng lớn và có tác động nhiều mặt đến đời sống kinh tế- xã hội Do vậy, Nhà nước đã phải đứng ra can thiệp và điều hòa mâu thuẫn Sự can thiệp này một mặt làm tăng được vao trò của Nhà nước, mặt khác buộc cả giới chủ và giới thợ phải đóng góp một khoản tiền nhất định hàng tháng Nhận thức được lợi ích của việc này nên cả giới chủ và thợ đều tham gia Ngoài nguồn đóng góp của giới chủ, thợ để hình thành qũy còn có sự tham gia đóng góp bổ sung

từ ngân sách Nhà nước khi cần thiết Nguồn quỹ này nhằm đảm bảo đời sống cho NLĐ khi không may gặp phải những biến cố bất lợi Chính nhờ những mối quan hệ ràng buộc đó mà rủi ro, bất lợi của NLĐ được dàn trải, cuộc sống của NLĐ và gia đình họ ngày càng được đảm bảo ổn định Giới chủ cũng thấy mình có lợi và được bảo vệ, sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường, tránh được những xáo trộn không cần thiết Vì vậy, nguồn quỹ tiền tệ tập trung được thiết lập ngày càng lớn và nhanh chóng Khả năng giải quyết các phát sinh lớn của quỹ ngày càng đảm bảo Đó chính là nguồn gốc sự ra đời của BHXH

Bảo hiểm xã hội ra đời và lan rộng rất nhanh Quá trình phát triển của BHXH trải qua các mốc sau:

- Năm 1838 chế độ bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp ra đời lần đầu tiên ở nước Phổ (Cộng hòa liên bang Đức)

- Năm 1850 và năm 1861 các quỹ ốm đau được thành lập ở Đức, Bỉ

- Năm 1883, Đức ban hành đạo luật đầu tiên về BHXH

- Năm 1894 và 1896 nước Bỉ và Hà Lan đã được ban hành Bộ luật đầu tiên về các tổ chức tương tế

Trang 17

- Ở Mỹ, đạo luật đầu tiên về ASXH (trong đó BHXH là hạt nhân) được ban hành vào năm 1935 Trong đạo luật này, có quy định về chế độ bảo hiểm tuổi già, tử tuất, tàn tật và trợ cấp thất nghiệp cho người lao động

- Ngày 10/12/1948, Đại hội đồng liên hiệp quốc Tuyên ngôn nhân

quyền và trong đó có đoạn: "Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của

xã hội, có quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa cần cho nhân cách và sự tự do phát triển con người” (Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, 1948) [4]

- Ngày 25/6/1952, hội nghị toàn thể của tổ chức lao động quốc tế (ILO)

đã thông qua công ước số 102 (công ước về ASXH)

Ở Việt Nam, BHXH đã có mầm mống dưới thời phong kiến Pháp thuộc Sau cách mạng tháng 8/1945 thành công, trên cơ sở Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ đã ban hành một loạt các sắc lệnh quy định về các chế độ trợ cấp ốm đau, tai nạn, hưu trí cho công nhân viên chức Nhà nước (Sắc lệnh 29/SL ngày 12/3/1947; Sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 và Sắc lệnh 77/SL ngày 22/5/1950) Cơ sở pháp lý tiếp theo của BHXH được thể hiện trong Hiến pháp năm 1959 đã thừa nhận công nhân viên chức có quyền được trợ cấp BHXH Quyền này được cụ thể hóa trong Điều lệ tạm thời về BHXH đối với công nhân, viên chức Nhà nước, ban hành kèm theo Nghị định 218/CP ngày 27/12/1961 và Điều lệ đãi ngộ quân nhân ban hành kèm theo Nghị định 161/CP ngày 30/10/1964 của Chính phủ Suốt trong những năm tháng kháng chiến chống xâm lược, chính sách BHXH nước ta đã góp phần ổn định về mặt thu nhập, ổn định cuộc sống cho công nhân viên chức, quân nhân và gia đình họ, góp phần rất lớn trong việc động viên sức người, sức của cho thắng lợi của cuộc kháng chiến chống xâm lược thống nhất đất nước

Từ năm 1986, Việt Nam tiến hành cải cách kinh tế và chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường, sự thay đổi mới về cơ chế kinh tế đòi hỏi có những thay đổi tương ứng về chính sách xã

Trang 18

hội nói chung và chính sách BHXH nói riêng Hiến pháp năm 1992 đã nêu rõ:

“Nhà nước thực hiện chế độ BHXH đối với công chức Nhà nước và người làm

công ăn lương, khuyến khích phát triển các hình thức BHXH khác đối với người lao động” [18] Trong văn kiện Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt

Nam cũng đã chỉ rõ “Cần đổi mới chính sách BHXH theo hướng mọi người

lao động và các đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế đều có nghĩa vụ đóng góp BHXH, thống nhất tách quỹ BHXH ra khỏi ngân sách” [14] Tiếp

đến Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII cũng đã nêu lên “Mở rộng chế độ

BHXH đối với người lao động thuộc các thành phần kinh tế” [15] Như vậy,

các văn bản trên của Đảng và Nhà nước là những cơ sở pháp lý quan trọng cho việc đổi mới chính sách BHXH nước ta theo cơ chế thị trường Ngay sau khi Bộ Luật lao động có hiệu lực từ ngày 01/01/1995, Chính phủ đã ban hành Nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 về Điều lệ BHXH đối với người lao động trong các thành phần kinh tế Tiếp theo Chính phủ ban hành Nghị định số 01/2003/NĐ-CP ngày 09/01/2003 về việc mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội đối với NLĐ trong khu vực kinh tế NQD Ngày 29/6/2006, Quốc hội ban hành Luật BHXH số 71/2006/QH11, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2007

1.1.1.2 Khái niệm về BHXH

Theo Luật BHXH: "BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một

phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do

ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH" [22]

1.1.1.3 Bản chất của BHXH

Bản chất của BHXH được thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau đây: Một là, BHXH là nhu cầu khách quan, đa dạng và phức tạp của xã hội, nhất là trong xã hội mà sản xuất hàng hóa hoạt động theo cơ chế thị trường,

Trang 19

mối quan hệ thuê - mướn lao động phát triển đến một mức độ nào đó và hoàn thiện Kinh tế càng phát triển thì BHXH càng đa dạng và hoàn thiện Vì thế có thể nói kinh tế là nền tảng của BHXH hay BHXH không vượt qua trạng thái kinh tế của mỗi nước

Hai là, mối quan hệ giữa các bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động và diễn ra giữa 3 bên: Bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên được BHXH Bên tham gia BHXH có thể chỉ là NLĐ hoặc cả NLĐ và người SDLĐ Bên BHXH (bên nhận nhiệm vụ BHXH) thông thường là cơ quan chuyên trách do Nhà nước lập ra và bảo trợ Bên được BHXH là NLĐ

và gia đình họ khi có đủ các điều kiện ràng buộc cần thiết

Ba là, những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trong BHXH có thể là những rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn chủ quan của con người như: ốm đau, tai nạn lai động, bệnh nghề nghiệp Hoặc cũng

có thể là những trường hợp xảy ra không hoàn toàn ngẫu nhiên như: Tuổi già, thai sản v.v Đồng thời những biến cố đó có thể diễn ra cả trong và ngoài quá trình lao động

Bốn là, phần thu nhập của người lao động bị giảm hoặc mất đi khi gặp phải những biến cố, rủi ro sẽ được bù đắp hoặc thay thế từ một nguồn quỹ tiền

tệ tập trung được tồn tích lại Nguồn quỹ này do bên tham gia BHXH đóng góp là chủ yếu, ngoài ra còn được sự hỗ trợ từ phía Nhà nước

Năm là, mục tiêu của BHXH là nhằm thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu của người lao động trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc làm

1.1.1.4 Vai trò của BHXH

a) Đối với NLĐ

- Thứ nhất, BHXH có vai trò ổn định thu nhập cho NLĐ và gia đình họ Khi tham gia BHXH, NLĐ phải trích một khoản phí nộp vào quỹ BHXH, khi gặp rủi ro, bất hạnh như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động làm cho chi phí

Trang 20

gia đình tăng lên hoặc phải ngừng làm việc tạm thời Do vậy, thu nhập của gia đình bị giảm, đời sống kinh tế lâm vào tình cảnh khó khăn, túng quẫn Nhờ có chính sách BHXH mà họ được nhận một khoản tiền trợ cấp đã bù đắp lại phần thu nhập bị mất hoặc bị giảm để đảm bảo ổn định thu nhập, ổn định đời sống

- Thứ hai, ngoài việc đảm bảo đời sống kinh tế, BHXH tạo được tâm lý

an tâm, tin tưởng Tham gia BHXH góp phần nâng cao đời sống tinh thần, đem lại cuộc sống bình yên, hạnh phúc cho nhân dân lao động

b) Đối với xã hội

- Thứ nhất, tăng cường mối quan hệ giữa Nhà nước, người SDLĐ và NLĐ là mối quan hệ ràng buộc, chặt chẽ, chia sẽ trách nhiệm, chia sẽ rủi ro chỉ có được trong quan hệ của BHXH Tuy nhiên, mối quan hệ này thể hiện trên giác độ khác nhau Người lao động tham gia BHXH với vai trò bảo vệ quyền lợi cho chính mình đồng thời phải có trách nhiệm đối với cộng đồng và

xã hội Người SDLĐ tham gia BHXH là để tăng cường tình đoàn kết và cùng chia sẻ rủi ro cho NLĐ nhưng đồng thời cũng bảo vệ, ổn định cuộc sống cho các thành viên trong xã hội Mối quan hệ này thể hiện tính nhân sinh, nhân văn sâu sắc của BHXH

- Thứ hai, BHXH thể hiện chủ nghĩa nhân đạo cao đẹp, BHXH tạo cho những người bất hạnh có thêm những điều kiện, những lực đẩy cần thiết để khắc phục những biến cố xã hội, hoà nhập vào cộng đồng, kích thích tính tích cực của xã hội trong mỗi con người giúp họ hướng tới những chuẩn mực của chân-thiện-mỹ nhờ đó có thể chống lại tư tưởng “Đèn nhà ai nhà ấy rạng” BHXH là yếu tố tạo nên sự hoà đồng mọi người, không phân biệt chính kiến, tôn giáo, chủng tộc, vị thế BHXH đồng thời giúp mọi người hướng tới một xã hội nhân ái, cuộc sống công bằng, bình yên

- Thứ ba, BHXH thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau tương thân tương ái của cộng đồng, đây là nhân tố quan trọng của cộng đồng,

Trang 21

giúp đỡ những người bất hạnh, nhằm hoàn thiện những giá trị nhân bản của con người, tạo điều kiện cho một xã hội phát triển lành mạnh và bền vững

- Thứ tư, BHXH góp phần thực hiện bình đẳng xã hội: trên giác độ xã hội, BHXH là một công cụ để nâng cao điều kiện sống cho NLĐ; trên giác độ kinh tế, BHXH là một công cụ phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong cộng đồng Nhờ sự điều tiết này NLĐ được thực hiện bình đẳng không phân biệt các tầng lớp trong xã hội

c) Đối với nền kinh tế

- Thứ nhất, khi chuyển sang cơ chế thị trường, thì sự phân tầng giữa các lớp trong xã hội trở nên rõ rệt Đồng thời tạo ra sự bất bình đẳng về thu nhập giữa các ngành nghề khác nhau trong xã hội Những rủi ro xảy ra trong cuộc sống không loại trừ một ai, nếu rơi vào những người có hoàn cảnh kinh tế khó khăn thì cuộc sống của họ trở nên bần cùng, túng quẫn BHXH đã góp phần

ổn định đời sống cho họ và gia đình họ

- Thứ hai, đối với các DN, khi những NLĐ không may gặp rủi ro thì đã được chuyển giao cho cơ quan BHXH chi trả Nhờ vậy tình hình tài chính của các DN được ổn định hơn Hệ thống BHXH đã bảo đảm ổn định xã hội tạo tiền đề để phát triển kinh tế thị trường

- Thứ ba, khi tham gia BHXH cho NLĐ sẽ phát huy tinh thần trách nhiệm, gắn bó tận tình của NLĐ trong các DN, làm cho mối quan hệ thị trường lao động được trở nên lành mạnh hơn, thị trường sức lao động vận động theo hướng tích cực góp phần xây dựng và có kế hoạch phát triển chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường

- Thứ tư, quỹ BHXH do các bên tham gia đóng góp được tích tụ tập trung rất lớn, phần quỹ nhàn rỗi được đem đầu tư cho nền kinh tế tạo ra sự tăng trưởng, phát triển kinh tế và tạo công ăn việc làm cho NLĐ

- Thứ năm, BHXH vừa tạo động lực cho các thành phần kinh tế phát triển nhưng mặt khác tạo ra sự bình đẳng giữa các tầng lớp dân cư thông qua

Trang 22

hệ thống phân phối lại thu nhập góp phần lành mạnh hóa thị trường lao động (Nguyễn Viết Vượng, 2006) [20]

1.1.2 Chức năng và tính chất BHXH

- BHXH có tính tất yếu khách quan trong đời sống xã hội, tính ngẫu

nhiên, phát sinh không đồng đều theo thời gian và không gian

- BHXH vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội, đồng thời còn có tính dịch vụ

Tính kinh tế thể hiện rõ nhất ở chỗ, quỹ BHXH muốn được hình thành, bảo toàn và tăng trưởng phải có sự đóng góp của các bên tham gia và phải được quản lý chặt chẽ, sử dụng đúng mục đích Mức đóng góp của các bên phải được tính toán rất cụ thể dựa trên xác suất phát sinh thiệt hại của tập hợp NLĐ tham gia BHXH Quỹ BHXH chủ yếu dùng để trợ cấp cho NLĐ theo các điều kiện của BHXH Thực chất, phần đóng góp của mỗi NLĐ là không đáng kể, nhưng quyền lợi nhận được là rất lớn khi gặp rủi ro Đối với người SDLĐ, việc tham gia đóng góp vào quỹ BHXH là để bảo hiểm cho NLĐ mà mình sử dụng Xét dưới góc độ kinh tế, họ cũng có lợi vì không phải bỏ ra một khoản tiền lớn để trang trải cho những NLĐ bị mất hoặc giảm khả năng lao động Với Nhà nước, BHXH góp phần làm giảm gánh nặng cho ngân sách đồng thời quỹ BHXH còn là nguồn đầu tư đáng kể cho nền kinh tế quốc dân

Trang 23

BHXH là bộ phận chủ yếu của hệ thống bảo đảm xã hội, vì vậy tính xã hội của nó thể hiện rất rõ Xét về lâu dài, mọi NLĐ trong xã hội đều có quyền tham gia BHXH Và ngược lại, BHXH phải có trách nhiệm bảo hiểm cho mọi NLĐ và gia đình họ, kể cả khi họ còn đang trong độ tuổi lao động Tính xã hội của BHXH luôn gắn chặt với tính dịch vụ của nó Khi nền kinh tế - xã hội ngày càng phát triển thì tính dịch vụ và tính chất xã hội hóa của BHXH cũng ngày càng cao (Nguyễn Văn Định, năm 2001)[19]

1.2 Thu và quản lý thu BHXH

1.2.1 Thu BHXH

1.2.1.1 Khái niệm và vai trò của thu BHXH

- Khái niệm thu BHXH: Thu BHXH là việc nhà nước bắt buộc hoặc các đối tượng tham gia đóng góp để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành nên quỹ BHXH, nhằm đảm bảo chi trả cho hoạt động BHXH

- Vai trò của thu BHXH:

+ Thu BHXH là nhân tố có tính chất quyết định đến sự tồn tại và phát triển của quỹ BHXH Thu BHXH giúp hình thành nên quỹ BHXH, quy mô của quỹ BHXH phụ thuộc vào kết quả hoạt động thu BHXH Thu BHXH chính là giúp hình thành đầu vào của quỹ BHXH đồng thời là cơ sở cho việc thực hiện hoạt động chi từ quỹ BHXH

+ Thu BHXH vừa là lợi ích, vừa là trách nhiệm, nghĩa vụ của người tham gia đóng góp, nhằm đảm bảo ASXH Khi người tham gia đóng phí BHXH chính là đã tự tham gia bảo hiểm cho mình đồng thời còn tham gia chia sẻ với những người khác cùng tham gia BHXH

+ Thu BHXH thúc đẩy quan hệ lao động tốt: Vì thu BHXH là một nội dung của quan hệ lao động, chính vì thế hoạt động BHXH đạt kết quả tốt là góp phần quan trọng trong việc phát triển hài hòa quan hệ lao động Đây lại là tiền đề giúp tăng năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội

Trang 24

- Đặc điểm của công tác thu BHXH: Số đối tượng phải thu là rất lớn và gia tăng theo thời gian, nên công tác quản lý thu BHXH là rất khó khăn và phức tạp; Công tác thu mang tính chất định kỳ, lặp đi lặp lại, do đó khối lượng công việc là rất lớn đòi hỏi nguồn nhân lực và cơ sở vật chất phục vụ cho công tác thu cũng phải tương ứng; Đối tượng thu là tiền nên dễ xảy ra sai pham, vi phạm đạo đức và lạm dụng quỹ vốn, tiền thu BHXH

1.2.1.2 Cơ sở thu BHXH

a) Cơ sở pháp lý

Quan hệ về thu nộp BHXH và công tác quản lý đối tượng tham gia BHXH được ràng buộc thông qua mối quan hệ 3 bên: Người lao động, đơn vị SDLĐ và cơ quan BHXH Các mối quan hệ đó được điều chỉnh bởi các quy định của pháp luật Đối tượng tham gia bao gồm: “Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức; NLĐ làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên và hợp đồng lao động không xác định thời hạn theo quy định của pháp luật về lao động; Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác

cơ yếu hưởng lương như đối với quân đội nhân dân, công an nhân dân; Hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục

vụ có thời hạn; Công nhân quốc phòng, công nhân công an làm việc trong các doanh nghiệp thuộc lực lượng vũ trang; Phu nhân/phu quân trong thời gian hưởng chế độ phu nhân/phu quân tại các cơ quan; Hợp đồng với tổ chức sự nghiệp, doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài, doanh nghiệp đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài dưới hình thức thực tập, nâng cao tay nghề; Hợp đồng trúng thầu, nhận thầu hoặc đầu tư ra nước ngoài; Hợp đồng cá nhân” (Quốc hội 2006, Luật BHXH) [22]

Trang 25

b) Đối tượng thu BHXH: Tùy vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước mà thu BHXH có thể là tiền lương, tiền công ghi trong hợp đồng lao động hoặc toàn bộ thu nhập của NLĐ Tuy nhiên, đối tượng thu BHXH phải mang tính ổn định để thuận tiện cho công tác quản lý BHXH Ở những nước có nền kinh tế phát triển, việc ứng dụng công nghệ thông tin phổ biến trong quản lý thì đối tượng thu BHXH là mức thu nhập của NLĐ

c) Mức thu BHXH: Thực chất là phí BHXH, phí BHXH là yếu tố quyết định đảm bảo cân đối thu - chi quỹ BHXH, nên cần được tính toán một cách khoa học Khi tính phí BHXH, có thể có những căn cứ tính toán khác nhau: Dựa vào mức tiền lương và thang lương để xác định mức trợ cấp BHXH, từ đó có cơ sở xác định mức phí đóng; quy định mức phí BHXH trước rồi từ đó xác định mức hưởng; dựa vào nhu cầu khách quan của NLĐ để xác định mức hưởng, rồi từ mức hưởng BHXH này có thể xác định được mức phí phải đóng

Mức thu đối với người SDLĐ được tính theo tỷ lệ phần trăm nhất định

so với tổng quỹ lương được bảo hiểm Nhà nước cần xác định tỷ lệ hợp lý để không ảnh hưởng đến quỹ BHXH và người SDLĐ Mức thu BHXH đối với NLĐ được xác định theo tỷ lệ phần trăm trên tiền lương

d) Điều kiện phát triển kinh tế - xã hội: Mức đóng góp BHXH của từng nước phụ thuộc nhiều vào sự phát triển của xã hội và khả năng kinh tế Các nước phát triển thường có tỷ lệ đóng góp BHXH khá cao, tổng số có khi lên tới 40-50% tổng quỹ lương Các nước đang phát triển có tổng mức đóng góp 15-25%

Có một số nước mức đóng rất thấp, tổng số khoảng 6-10% tổng quỹ lương Nhà nước chỉ giảm thuế đối với các khoản đóng BHXH hoặc hỗ trợ nhỏ về tiền lương đối với những lao động khó khăn Các điều kiện về kinh tế- xã hội như: Cơ sở vật chất cho công tác quản lý, thị trường lao động việc làm, tình hình dân số, tăng trưởng kinh tế là những yếu tố quan trọng làm cơ sở thu BHXH

Trang 26

1.2.1.3 Mục đích thu

- Tạo lập quỹ BHXH được hình thành trên cơ sở đóng góp của người SDLĐ, NLĐ và Nhà nước , tách quỹ độc lập với ngân sách Nhà nước và thực hiện nguyên tắc hạch toán cân đối thu- chi và được Nhà nước bảo hộ Quỹ BHXH được quản lý và sử dụng theo chế độ tài chính của Nhà nước, bảo đảm chi ổn định, lâu dài các chế độ BHXH, giảm dần sự cấp phát từ ngân sách Nhà nước

- Tạo lập mối quan hệ giữa các bên tham gia BHXH

- Thực hiện nguyên tắc “có đóng, có hưởng”, đảm bảo sự công bằng giữa cống hiến và hưởng thụ Góp phần khắc phục các tiêu cực trong giải quyết chế độ chính sách BHXH

1.2.1.4 Phương thức thu: Có thể phân loại ra 3 phương thức:

- Thu trực tiếp từ NLĐ: Được áp dụng ở những nước sử dụng hệ thống tài khoản cá nhân Thông qua phương thức này NLĐ đăng ký với cơ quan BHXH, hàng tháng nộp tiền vào tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH bằng hình thức đăng ký chuyển khoản tự động, tài khoản sẽ tự động in ra một bảng thông báo tới người lao động về số tiền đã đóng, số tiền nợ Nếu có vướng mắc trong quá trình chuyển khoản, tài khoản sẽ tự động gửi thông báo tới cơ quan BHXH, ngay lập tức sẽ có bộ phận kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện phát hiện những sai lệch hệ thống

- Thu gián tiếp thông qua hệ thống thuế: Được áp dụng ở những nước có đánh thuế thu nhập và có chương trình BHXH phổ cập Việc thu BHXH qua cơ quan thuế sẽ đảm bảo hiệu quả của công tác thu, góp phần làm giảm tình trạng trốn đóng BHXH Đây là phương thức thu tiết kiệm chi phí, song nhận thức của người đóng BHXH sẽ bị sai lệch, coi đóng góp BHXH là một loại thuế

- Thu gián tiếp qua đại lý (qua người SDLĐ):

Trang 27

Người SDLĐ sẽ thu BHXH từ NLĐ sau đó chuyển toàn bộ đóng góp BHXH của cả NLĐ và người SDLĐ cho cơ quan BHXH Đây là phương thức phổ biến nhất, được áp dụng với các trường hợp có đối tượng tham gia BHXH

là người làm công ăn lương

Hàng tháng, chậm nhất vào ngày cuối cùng của tháng, người SDLĐ đóng BHXH trên quỹ tiền lương, tiền công của những NLĐ tham gia BHXH, đồng thời trích từ tiền lương, tiền công tháng của từng NLĐ theo mức quy định để đóng cùng vào tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH mở tại Ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước

Hàng tháng, người SDLĐ được giữ lại một tỷ lệ % (hiện nay 2%) số phải nộp để chi trả kịp thời 2 chế độ ốm đau, thai sản cho NLĐ Hàng quý thực hiện quyết toán, trường hợp tổng số tiền quyết toán nhỏ hơn số tiền giữ lại thì người SDLĐ phải nộp số chênh lệch này vào tháng đầu quý sau (Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam, 2007, Quyết định 902) [29]

1.2.1.5 Các chủ thể liên quan đến thu BHXH

- Người lao động khi tham gia BHXH có quyền và trách nhiệm: Được cấp sổ BHXH, nhận sổ khi không còn làm việc, nhận lương hưu và trợ cấp BHXH, hưởng thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) khi ốm đau, nằm viện, phẫu thuật;

ủy quyền cho người khác nhận lương hưu, trợ cấp, khiếu nại tố cáo về BHXH

và các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật Có trách nhiệm kê khai trung thực, đúng sự thật thông tin theo mẫu của cơ quan BHXH và chịu hoàn toàn trách nhiệm về sự kê khai này

- Người SDLĐ có quyền và trách nhiệm: Từ chối thực hiện những yêu cầu không đúng quy định của pháp luật về BHXH; khiếu nại, tố cáo về BHXH Có trách nhiệm: Đóng BHXH cho NLĐ hàng tháng; lập hồ sơ để NLĐ được cấp sổ, thẻ BHYT, đóng và hưởng BHXH; bảo quản sổ BHXH, cấp thẻ BHYT cho NLĐ trong thời gian NLĐ làm việc và trả sổ, thu hồi thẻ

Trang 28

BHYT của người lao động khi NLĐ không làm việc; hàng tháng đối chiếu quỹ lương với cơ quan BHXH để làm căn cứ trích nộp BHXH

- Cơ quan BHXH có quyền tổ chức quản lý nhân sự, tài chính và tài sản như mọi cơ quan Nhà nước Khiếu nại và kiến nghị với Nhà nước các vấn đề

về BHXH; kiểm tra việc đóng BHXH và chi trả các chế độ BHXH; kiến nghị với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về BHXH cũng như về chế độ, chính sách BHXH Có trách nhiệm: Tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách pháp luật của Nhà nước về BHXH; hướng dẫn thủ tục thực hiện chế độ BHXH đối với NLĐ, người SDLĐ thuộc đối tượng tham gia BHXH; thực hiện thu BHXH, quản lý và sử dụng quỹ BHXH; tiếp nhận hồ sơ

và giải quyết chế độ BHXH; trả lương hưu và trợ cấp BHXH cho các đối tượng được hưởng…

- Cơ quan quản lý khác: Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về BHXH; Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý Nhà nước về BHXH; Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm

vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về BHXH; Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý Nhà nước về BHXH trong phạm vi địa phương (Quốc hội 2006, Luật BHXH) [22]

1.2.2 Quản lý thu BHXH

1.2.2.1 Khái niệm và vai trò của quản lý thu BHXH

a) Khái niệm về quản lý thu BHXH

Công tác quản lý thu BHXH là một khái niệm phức hợp, bao gồm các định hướng, chủ trương, phương pháp và biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, chỉ đạo, khuyến khích đẩy mạnh công tác thu BHXH

b) Vai trò của quản lý thu BHXH

- Quản lý thu gắn chặt với quản lý chi Quản lý thu tốt sẽ góp phần đảm bảo sự ổn định, tăng trưởng quỹ BHXH đồng thời tạo lập nguồn quỹ để chi

Trang 29

trả các chế độ BHXH cho NLĐ Nguồn quỹ BHXH được coi là xương sống của hệ thống BHXH Quỹ BHXH là cơ sở quan trọng và quyết định mọi hoạt động của cơ quan BHXH Vì vậy, công tác quản lý thu BHXH phải được đặt lên hàng đầu

- Quản lý thu có vai trò định hướng đề ra chiến lược dài hạn, trung hạn, ngắn hạn đối với toàn bộ hệ thống nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong công tác quản lý

- Quản lý thu góp phần khắc phục sự sai lệch của hệ thống thông qua công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát Vì quá trình thực hiện giữa kết quả với mục tiêu đề ra luôn có sự sai lệch, để kết quả này gần với mục tiêu thì công tác thu mới đạt hiệu quả

1.2.2.2 Quy trình quản lý thu BHXH

Quy trình quản lý thu BHXH là toàn bộ các khâu liên hoàn từ đầu đến cuối trong tác nghiệp thu và công tác quản lý thu BHXH theo loại đối tượng tham gia và hưởng các chế độ BHXH Hiệu quả và kết quả thu BHXH chính

là thước đo cho một quy trình thu hoàn thiện, đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu của công tác thu BHXH Việc thực hiện thu BHXH được thực hiện qua hệ thống tài khoản cá nhân của NLĐ (với các nước có nền công nghiệp phát triển

và được hiện đại hóa trong quản lý) Thời gian tham gia BHXH được ghi nhận bằng các phương thức quản lý hiện đại như thẻ BHXH điện tử và qua mạng vi tính theo một chu trình khép kín Như vậy, quy trình quản lý thu BHXH chính là biện pháp nhằm đảm bảo cho công tác thu BHXH đạt hiệu quả cao nhất Quy trình quản lý thu BHXH được thực hiện theo các bước:

Sơ đồ 1.1: Quy trình quản lý thu

Lập kế hoạch Tổ chức thực hiện Thanh tra, kiểm tra

Trang 30

- Lập kế hoạch thu BHXH: Cơ quan BHXH các cấp lập kế hoạch thu BHXH hàng năm, hàng quý, thậm chí hàng tháng trên cơ sở đối chiếu đối tượng thu và mức thu

Lập kế hoạch hàng năm: Cơ quan BHXH cấp huyện lập kế hoạch thu cho năm tới, sau khi đã đối chiếu kiểm tra tổng số lao động, quỹ lương, mức đóng BHXH năm trước của các đơn vị SDLĐ gửi cho cơ quan BHXH cấp tỉnh Cơ quan BHXH cấp tỉnh tổng hợp kế hoạch của cơ quan BHXH cấp huyện cùng với kế hoạch thu theo phân cấp của mình để lập báo cáo lên cơ quan BHXH cấp Trung ương

BHXH cấp Trung ương: Dựa vào báo cáo của cơ quan BHXH cấp tỉnh

sẽ tiến hành kiểm tra đối chiếu và lập kế hoạch thu tổng thể Kế hoạch thu tổng thể này sẽ được giao cho BHXH cấp tỉnh để kiểm tra lại và cân đối về tình hình kinh

tế - xã hội thực tế của tỉnh để có những điều chỉnh hợp lý Sau khi điều chỉnh thì

dự toán thu BHXH mới được giao trở lại cho BHXH cấp tỉnh

- Tổ chức thực hiện thu BHXH là một quá trình phức tạp, liên hoàn giữa các bộ phận có liên quan trong toàn bộ hệ thống, nhằm đạt được mục tiêu đề ra Để thực hiện thu BHXH hiệu quả cần tiến hành phân cấp quản lý chặt chẽ từ Trung ương đến cơ sở, nhằm đảm bảo tính gắn kết trong toàn bộ

hệ thống, đồng thời phải ràng buộc được quyền hạn, trách nhiệm từng bộ phận trong hệ thống

BHXH cấp Trung ương: Chịu trách nhiệm toàn diện, gồm: tổng hợp và phân loại các đối tượng tham gia, hướng dẫn, chỉ đạo, tổ chức thu BHXH, cấp

sổ BHXH; kiểm tra đối chiếu tình hình lập kế hoạch thu nộp của BHXH cấp tỉnh và thẩm định số thu BHXH trên phạm vi cả nước

BHXH cấp tỉnh: Tổ chức thực hiện chỉ đạo BHXH cấp huyện thu đóng BHXH theo phân cấp; thực hiện lập và giao kế hoạch thu, kiểm tra, giám sát hoạt động của BHXH cấp huyện

Trang 31

BHXH cấp huyện và phòng Thu: Chịu trách nhiệm tác nghiệp hàng ngày về thu nộp BHXH; thực hiện kiểm tra đối chiếu tổng hợp đối tượng thu

và mức thu để lập kế hoạch thu; hướng dẫn cho người SDLĐ đăng ký và nộp BHXH Đồng thời phân công cụ thể từng cán bộ để quản lý, theo dõi, đôn đốc (Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam, 2007, Quyết định 902) [29]

- Thanh tra, kiểm tra: Căn cứ chức năng nhiệm vụ của từng bộ, ngành, địa phương mà công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách pháp luật về BHXH được tiến hành định kỳ hoặc đột xuất, nhằm phát hiện những sai phạm về BHXH, từ đó xử lý nghiêm các vi phạm và có giải pháp khắc phục

1.2.2.3 Nội dung quản lý thu BHXH

a) Quản lý đối tượng đối tượng tham gia: Là một phần quan trọng trong công tác quản lý thu của cơ quan BHXH, đặc biệt là nguồn thu từ NLĐ và người SDLĐ làm việc trong cơ quan, đơn vị, tổ chức kinh tế - xã hội, các DN

- Đối với người SDLĐ: Người SDLĐ căn cứ vào số lao động đang làm việc tại đơn vị để đóng, nộp BHXH cho NLĐ theo quy định của pháp luật Về nguyên tắc đăng ký, tất cả các chủ SDLĐ thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc phải đăng ký đóng BHXH cho NLĐ Sau khi hoàn thành thủ tục đăng

ký, chủ SDLĐ sẽ được cấp một mã số đăng ký đồng thời phải lập hồ sơ liên quan đến hồ sơ pháp lý của DN và NLĐ Người SDLĐ căn cứ hồ sơ, lý lịch của NLĐ, đối chiếu với tờ khai với hồ sơ, lý lịch gốc mà đơn vị đang quản lý Nếu đúng, thủ trưởng đơn vị xác nhận theo quy định

- Đối với NLĐ: Những người thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc phải

kê khai các nội dung liên quan đến nhân thân và quá trình làm việc có đóng BHXH vào tờ khai cấp sổ BHXH đúng quy định Mỗi NLĐ được cơ quan BHXH cấp một mã số cá nhân (mã số này cần được mã hóa) nhằm mục đích quản lý và theo dõi (Quốc hội 2006, Luật BHXH) [22]

Trang 32

b) Quản lý tiền lương, tiền công làm căn cứ đóng BHXH

Căn cứ cơ bản để thu BHXH của NLĐ là tiền lương, tiền công tháng Đối với người SDLĐ là tổng quỹ lương của những NLĐ tham gia BHXH trong các DN, tổ chức Chính vì vậy, để tiến hành tốt công tác thu BHXH thì phải quản lý tốt quỹ tiền lương, tiền công làm căn cứ đóng BHXH

Mức thu BHXH đối với người SDLĐ được tính theo tỷ lệ % nhất định

so với tổng quỹ lương của NLĐ tham gia BHXH; đối với người lao động là tỷ

lệ % mức tiền lương, tiền công

c) Quản lý tiền thu BHXH

Người SDLĐ có thể nộp BHXH bằng tiền mặt, séc hay chuyển khoản ngân hàng Trong quá trình thu nộp BHXH, cơ quan BHXH phải đảm bảo thủ tục thanh toán, ngăn chặn hiện tượng gian lận, lạm dụng quỹ BHXH Chậm nhất vào ngày cuối cùng của tháng, đơn vị sử dụng lao động phải chuyển toàn

bộ số tiền theo quy định vào tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH, nếu số tiền này không được chuyển đúng kỳ hạn sẽ được coi là nợ BHXH và số tiền

nợ BHXH sẽ được tính lãi theo quy định

Để thực hiện nguyên tắc trên các đơn vị BHXH cấp tỉnh, cấp huyện được mở các tài khoản chuyên thu BHXH ở hệ thống Ngân hàng và Kho bạc Nhà nước để thu tiền nộp BHXH ở khu vực quản lý của mình và định kỳ chuyển số tiền thu lên BHXH cấp Trung ương BHXH cấp tỉnh, cấp huyện không được sử dụng tiền thu BHXH vào mục đích khác, nhằm tránh thất thoát tiền thu và rủi ro xảy ra (Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam, 2007, Quyết định 902) [29]

d) Quản lý hồ sơ, tài liệu

- BHXH cấp tỉnh, cấp huyện: Có trách nhiệm tập hợp toàn bộ thông tin,

dữ liệu của NLĐ được phân cấp quản lý Cấp sổ BHXH kịp thời cho NLĐ khi NLĐ đóng nộp BHXH

Trang 33

- BHXH cấp tỉnh: Cấp mã số đơn vị cho từng đơn vị theo phân cấp được quản lý của BHXH cấp Trung ương Mã số này phải được xây dựng thống nhất và khoa học trong toàn hệ thống nhằm đảm bảo quản lý tốt đối tượng tham gia

- BHXH cấp Trung ương: Hướng dẫn BHXH cấp tỉnh cung cấp mã số cho từng đơn vị SDLĐ, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hồ sơ, tài liệu Tổng hợp báo cáo cơ quan quản lý Nhà nước về các hoạt động có liên quan (Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam, 2007, Quyết định 902) [29]

e) Phối hợp giữa các bộ phận có liên quan trong quản lý thu BHXH

- Sự phối hợp giữa cơ quan BHXH với cơ quan quản lý Nhà nước về BHXH: Cơ quan quản lý Nhà nước về BHXH có vai trò hoạch định chính sách, tuyên truyền, thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện của cơ quan BHXH Ngược lại, cơ quan BHXH là đơn vị thực hiện có vai trò phản hồi những thông tin liên quan kịp thời, chính xác để phát hiện và khắc phục những sai lệch Mối liên hệ này càng chặt chẽ thì hệ thống BHXH hoạt động càng hiệu quả

Công tác thu và quản lý thu hiệu quả sẽ làm giảm tình trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH của các chủ thể tham gia BHXH, đồng thời góp phần đảm bảo sự an toàn, bền vững của quỹ BHXH cũng như đảm bảo các mục tiêu của ASXH đất nước

1.3 Vấn đề nợ đọng và trốn đóng BHXH

1.3.1 Khái niệm nợ đọng và trốn đóng BHXH

- Nợ đọng BHXH là việc các đơn vị SDLĐ, NLĐ chậm đóng BHXH cho NLĐ so với thời gian quy định của pháp luật BHXH

- Trốn đóng BHXH là việc các đơn vị SDLĐ, NLĐ không tham gia BHXH theo các quy định của pháp luật về BHXH bắt buộc (không đóng, đóng không đúng mức quy định, đóng không đủ số người thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc)

Trang 34

1.3.2 Các hình thức nợ đọng và trốn đóng BHXH

1.3.2.1 Các hình thức nợ đọng BHXH

- Phân loại theo thời gian: Nợ đọng BHXH ngắn hạn và nợ đọng BHXH dài hạn Nợ đọng BHXH ngắn hạn là chậm đóng BHXH dưới 3 tháng

so với thời gian quy định; Nợ đọng BHXH dài hạn là chậm đóng BHXH từ 3

tháng trở lên so với thời gian quy định

Việc phân loại này giúp cho cơ quan BHXH xác định rõ những đơn vị SDLĐ nợ dài hạn cần phải tập trung đôn đốc thu, những đơn vị SDLĐ thuộc diện khó thu hồi để có thông tin phản hồi với cơ quan quản lý Nhà nước về BHXH và có biện pháp xử lý để hạn chế số lượng đơn vị nợ đọng dây dưa, khó thu hồi

- Phân loại theo quy mô: đơn vị nợ BHXH với số tiền ít (dưới 100 triệu đồng) và nợ BHXH với số tiền lớn (trên 100 triệu đồng)

Việc phân loại này giúp cho cơ quan BHXH xác định được quy mô nợ của từng đơn vị, từ đó đưa ra các biện pháp xử lý khác nhau Trước hết xử lý các đơn vị nợ BHXH với số tiền lớn, bởi tại những đơn vị đó quyền lợi của NLĐ bị ảnh hưởng lớn và thu hồi được nợ của những đơn vị này sẽ góp phần tăng thu nhiều hơn cho quỹ BHXH

Trang 35

- Gian lận, giả mạo hồ sơ trong việc thực hiện BHXH: Cố tình kê khai giảm số lao động, mức lương thấp hơn trong hợp đồng lao động để giảm chi phí BHXH phải nộp dù tiền công phải trả cao hơn rất nhiều Xây dựng phương án trả lương không rõ ràng, thang bảng lương không phù hợp

- Cố tình kéo dài thời gian thử việc, hợp đồng lao động dưới ba tháng

để không đóng BHXH, thỏa thuận hợp đồng lao động không thành văn

- Chấm dứt hợp đồng với NLĐ đã làm việc lâu năm, có mức tiền lương cao, thay thế bằng lực lượng lao động mới để giảm chi phí tiền lương, trốn đóng BHXH

Hiện nay, có quan điểm mới là khi Nhà nước giao quyền cho người SDLĐ chủ động trích tỷ lệ % tiền lương tháng của NLĐ để đóng BHXH, nhưng người SDLĐ không đóng BHXH cho NLĐ thì không có nghĩa là đã được NLĐ đồng ý cho vay Nên, trong trường hợp này, nếu không có sự thoả thuận, nhất trí của NLĐ thì có thể hiểu là người SDLĐ “trốn đóng BHXH” hoặc “chiếm đoạt BHXH” chứ không coi là “nợ BHXH”

Đây được coi là các hình thức phổ biến trên thị trường hiện nay, tùy từng tính chất công việc, loại hình doanh nghiệp mà đơn vị SDLĐ tìm cách trốn đóng BHXH cho NLĐ Việc trốn đóng BHXH xuất phát từ lợi ích của chủ SDLĐ, sự hiểu biết của NLĐ, công tác quản lý của cơ quan BHXH Vấn

đề này đã làm thất thoát vốn không nhỏ của Nhà nước, tính công bằng của hệ thống ASXH ở mỗi quốc gia không được đảm bảo

1.4 Kinh nghiệm quản lý thu và xử lý nợ đóng, trốn đóng BHXH ở một

số nước trên thế giới và bài học cho Bắc Ninh

1.4.1 Kinh nghiệm ở một số nước trên thế giới

1.4.1.1 Kinh nghiệm giải quyết nợ đọng BHXH tại CHLB Đức

Cộng hòa Liên bang Đức là nước đầu tiên thiết lập BHXH bắt buộc Các chế độ BHXH bao gồm: ốm đau, thai sản; tuổi già và tàn tật; tai nạn lao

Trang 36

động; thất nghiệp; bảo hiểm phụ thuộc Hiện tại NLĐ và người SDLĐ có tỷ lệ đóng BHXH bắt buộc là 19,9%; ngoài ra còn khoản trợ cấp của Liên bang Các khoản đóng BHXH là 180,5 tỷ EUR, hỗ trợ từ ngân hàng liên bang là 61,3 tỷ EUR Để công tác quản lý thu BHXH được hiểu quả, CHLB Đức đã xây dựng hệ thống giám sát chủ SDLĐ Hằng năm kiểm tra tính tuân thủ khoảng 800 nghìn vụ việc trong đó: 50% do các chuyên gia được đào tạo chuyên biệt của cơ quan Bảo hiểm hưu trí Liên bang Đức (DRV Bund) tiến hành, 50% do 14 cơ quan khu vực của DRV Bund tiến hành Đức đã xây dựng 20 khu vực giám sát ở tất cả Liên bang với số lượng nhân viên rất lớn 1.732 người, công tác quản trị hành chính được đặt tại 20 khu vực, số giám sát viên là 309 người Ngoài nhiệm vụ giám sát chủ SDLĐ, công tác quản trị hành chính bao gồm: quan hệ cộng đồng, đưa ra các con số thống kê, các báo cáo kiểm soát… Với các trường hợp nợ quá hạn chia làm 2 loại là: Trường hợp không cố ý sẽ yêu cầu nộp các khoản nợ quá hạn, trường hợp cố ý sẽ bao gồm nộp các khoản nợ quá hạn + 1% lãi suất mỗi tháng Các trường hợp gian lận, giả mạo hồ sơ, lao động bất hợp pháp và những trường hợp chủ ý phạm tội sẽ chuyển hồ sơ lên cơ quan công tố để truy cứu trách nhiệm hình sự Việc khai, nộp thuế và trích nộp BHXH rất chặt chẽ, hầu như không thể

có vấn đề về trốn nộp BHXH Thực tế nếu NLĐ có kê khai sai, kiểm tra từ hệ thống Ngân hàng, Chính phủ cũng buộc phải nộp và có thể còn bị phạt, mức phạt rất cao Do đó, hầu như cả NLĐ và chủ các DN không ai nghĩ đến việc trốn tránh trích nộp BHXH

Việc tổ chức quản lý BHXH ở Đức phụ thuộc vào từng loại hình chế độ BHXH và có rất nhiều cơ quan tham gia trong lĩnh vực này Họ đều hoạt động

và được điều chỉnh theo Luật hành chính công Do có sự tham gia của nhiều

cơ quan khác nhau nên tính chất cạnh tranh trong lĩnh vực BHXH ở Đức diễn

ra mạnh mẽ (Phạm Trường Giang, năm 2010)[21]

Trang 37

1.4.1.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản

Ở Nhật bản do không tồn tại một hệ thống bảo đảm thống nhất, nên mỗi chế độ BHXH được quản lý một cách riêng biệt tùy theo chức năng và đối tượng tham gia, vì vậy việc thu BHXH cũng do các cơ quan khác nhau thực hiện:

- Chế độ hưu trí: Bao gồm nhiều quỹ khác nhau đảm bảo chế độ hưu trí cho nhiều tầng lớp dân cư khác nhau Các quỹ hưu trí do Vụ hưu trí Bộ Y tế phúc lợi chịu trách nhiệm giám sát chung Cơ quan BHXH quản lý hành chính trên toàn quốc gia và dưới là các chi nhánh cơ quan BHXH địa phương quản lý thực hiện thu và chi trả trợ cấp

Quỹ Hiệp hội tương trợ đảm bảo chế độ hưu trí cho tầng lớp có thu nhập cao như: Viên chức các cấp, thủy thủ, giáo sư đại học và những NLĐ trong các cơ quan Nhà nước Mức đóng góp từ 10 đến 16% lương tháng Nhà nước hỗ trợ từ 15-18% tổng mức trả tiền hưu hàng năm của quỹ

Quỹ hưu trí do Chính phủ quản lý: Đảm bảo chi trả trợ cấp cho những người làm việc trong các đơn vị tư nhân từ 5 lao động trở lên Mức đóng góp của NLĐ và chủ SDLĐ tương tự như nhau: 8,675% lương tháng của NLĐ (đối với những người làm việc nghề mỏ và ngư nghiệp 9,575%) Hàng năm, Nhà nước

hỗ trợ 20% tổng số tiền chi trả hàng năm và chi phí quản lý hành chính

Quỹ hưu trí quốc gia đảm bảo chế độ trợ cấp hưu trí cho những NLĐ làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, trong xí nghiệp nhỏ, tư nhân với mức thu nhập thấp trong xã hội, chỉ có 1/3 số người tham gia có thu nhập ổn định

số còn lại chủ yếu là phụ nữ và người thu nhập thường, thậm chí không có thu nhập phải dựa vào sự giúp đỡ của người thân để đóng BHXH Mức đóng của NLĐ và chủ SDLĐ ngang bằng nhau với mức 12.800Y/tháng cộng với khoản phụ thêm tự nguyện 400Y để được nhận một khoản lương hưu bổ sung Nhà nước hỗ trợ 1/3 tổng mức chi trả tiền hưu hàng năm của quỹ

Trang 38

- Chế độ tai nạn lao động cho NLĐ ở các khu vực sản xuất và kinh doanh: Đặt dưới sự quản lý trực tiếp của Chính phủ Bộ Lao động có trách nhiệm giám sát và quản lý hành chính cấp trung ương, phòng đề bù cho NLĐ nằm trong cơ quan lao động cấp quận chịu trách nhiệm quản lý trong khu vực của mình thông quá các văn phòng thẩm tra tiêu chuẩn lao động Trong đó, mức đóng của chủ SDLĐ có 27 mức từ 0,6% đến 13,4% lương tùy thưo ngành nghề, mức độ rủi ro và số lao động làm việc Người lao động phải đóng không quá 200Y cho một lần điều trị (không áp dụng với những người nhận trợ cấp tạm thời); Ngân sách quốc gia sẽ hỗ trợ một phần những chi phí cần thiết cho chương trình bảo hiểm TLLĐ trong giới hạn của Ngân sách nhà nước và chịu trách nhiệm và chịu toàn bộ chi phí quản lý hành chính

- Chế độ Bảo hiểm việc làm: Đặt dưới sự quản lý trực tiếp của Chính phủ và Bộ Lao động (Vụ đảm bảo việc làm) có trách nhiệm giúp Chính phủ trong việc thực hiện bảo hiểm việc làm thông qua các văn phòng Bảo đảm việc làm công cộng và bộ phận đảm bảo việc làm của phòng lao động cấp quận- hai cơ quan này trực tiếp làm những công việc hành chính có liên quan đến NLĐ, tổ chức thu bảo hiểm theo Luật BHXH việc làm… và truyền trực tiếp những dữ liệu đó lên Bộ Lao động theo hệ thống siêu máy tính Mức thu BHXH như sau:

Những ngành nghề chung: mức đóng là 1.15% (trong đó chủ SDLĐ đóng 0.75%, NLĐ đóng 0.4%); Ngành nông lâm nghiệp, thủy sản, sản xuất bia mức đóng là 1.35% ( chủ SDLĐ đóng 0,95%, NLĐ đóng 0,4%); ngành xây dựng 1.45% (chủ SDLĐ đóng 1.05% và NLĐ đóng 0.4%) Riêng đối với những NLĐ làm việc theo ngày thì phải đóng lệ phí tem bảo hiểm Việc đóng phí tem này được chia đều cho chủ SDLĐ và NLĐ với 3 mức cao nhất là 176Y và mức thấp nhất là 96Y (Phạm Trường Giang, năm 2010)[21]

Trang 39

1.4.1.3 Kinh nghiệm của Hàn Quốc

Tại Hàn Quốc, cơ quan quản lý về BHXH là tổ chức xã hội thuộc Bộ Lao động cung cấp các dịch vụ quản lý liên quan tới lao động và việc làm thuộc diện BHXH và phúc lợi xã hội Về nguồn nhân lực có tồng số là 5051 nhân viên/01 trụ sở chính, 06 trụ sở khu vực, 49 văn phòng chi nhánh 06 ủy ban và 09 bệnh viện đền bù cho NLĐ Khách hàng của họ là NLĐ, người SDLĐ, người thất nghiệp… chiếm 62,3% dân số tham gia hoạt động kinh tế

Về quản lý nợ BHXH cơ quan BHXH Hàn Quốc thực hiện như sau:

Về phía cơ quan BHXH: Khuyến khích đóng các khoản nợ đọng BHXH trong năm hiện tại thông qua các hình thức gọi điện, gặp trực tiếp sau

đó gửi thư thúc giục các đơn vị nợ BHXH Thời gian được tính từ ngày công văn nhắc nhở tới các đơn vị SDLĐ đến hạn cuối cùng đóng BHXH đã được ghi trong công văn Việc thu các khoản nợ này trước tiên tập trung vào các doanh nghiệp có số tiền nợ nhiều và thời gian kéo dài Trong các trường hợp quá thời hạn quy định, trụ sở chính của cơ quan BHXH sẽ lên danh sách các đơn vị này, tiến hành truy vấn tài sản trên toàn quốc như bất động sản, phương tiện đi lại, nhà xưởng máy móc…với sự trợ giúp của các cơ quan liên quan như Bộ Đất đai, Giao thông

Bên cạnh đó, cơ quan BHXH tại trụ sở chính và văn phòng chi nhánh cũng khuyến khích các đơn vị SDLĐ, NLĐ đóng BHXH, trao đổi thông tin giữa các cán bộ chuyên trách thông qua các bài thuyết trình thực tiễn, đồng thời cung cấp các biện pháp tốt hơn phục vụ cho đơn vị SDLĐ chuyển tiền tự động, thuận tiện

Mở các khóa đào tạo nhằm nâng cao nghiệp vụ của cán bộ phụ trách nợ BHXH từ đó cho phép các học viên xử lý vụ việc hiệu quả Với các phương pháp như trên số nợ của Hàn Quốc đã giảm liên tiếp trong 4 năm từ 686 triệu USD (năm 2006) xuốn 498 triệu USD (năm 2009) (Phạm Trường Giang, năm 2010)[21]

Trang 40

1.4.2 Kinh nghiệm về giải quyết nợ đọng và trốn đóng BHXH tại Việt Nam

1.4.2.1 Kinh nghiệm thu nợ đọng BHXH tại thành phố Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, diện tích 2.095 km2 với dân số hơn 7 triệu người Nguồn nhân lực hiện tại khoảng 4,8 triệu; lao động đang có việc làm khoảng 3,5 triệu người Các thành phần kinh tế phát triển mạnh mẽ, đa dạng về loại hình sản xuất và hình thức sở hữu Do đó, đã thu hút lực lượng lao động khác rất đông Theo

số liệu thống kê, hiện có khoảng hơn 40.000 doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp trong nước chiếm 90%; trên 35.000 cơ sở kinh doanh cá thể Điều đó

đã tạo ra tiềm năng và những điều kiện thuận lợi để mở rộng quy mô thực hiện chính sách BHXH, BHYT trên địa bàn Tuy nhiên, vấn đề vi phạm BHXH đã và đang trở thành mối quan tâm, bức xúc của dư luận xã hội nếu không có biện pháp kiên quyết, vi phạm này sẽ cản trở lớn cho việc thực hiện chính sách BHXH Tính đến cuối năm 2010, thành phố Hồ Chí Minh có 19.139 DN, đơn vị nợ đọng BHXH của trên 687.100 NLĐ Chỉ tính riêng số

nợ trên 12 tháng đã có tới 205 DN nợ tổng cộng 75 tỷ đồng, trong đó có DN

nợ trên 10 tỷ đồng Tổng nợ BHXH bắt buộc đến cuối năm 2010 tại thành phố

Hồ Chí Minh là gần 374 tỷ đồng Hiịen nay cơ quan BHXH thành phố Hồ Chí Minh không xác định được chính xác số lượng đơn vị, DN có SDLĐ cũng như số lượng NLĐ thuộc diện phải tham gia BHXH bắt buộc

Để góp phần giải quyết thực trạng này, bên cạnh việc tập trung nâng cao chất lượng công tác kiểm tra chấn chỉnh, BHXH Thành phố Hồ Chí Minh

đã tập trung thực hiện một số biện pháp chủ yếu như sau:

- BHXH Thành phố Hồ Chí Minh xây dựng quy chế phối hợp phối hợp: + Phối hợp với Sở LĐ- TB&XH xây dựng chương trình hành động liên tịch, thường xuyên trao đổi các thông tin về tình hình thực hiện BHXH của các doanh nghiệp Sau khi cơ quan BHXH Thành phố kiểm tra, nếu các đơn

Ngày đăng: 09/11/2014, 19:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Chính phủ (2010), Nghị định số 86/2010/NĐ-CP về việc quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 86/2010/NĐ-CP về việc quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010
11. Chính phủ, 1999, “Nghị định số 73/1999/NĐ-CP ngày 19/8/1999 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hoá đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 73/1999/NĐ-CP ngày 19/8/1999 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hoá đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao
17. Đinh Thị Hằng Nga (2003), “Về một số nội dung quy định thu BHXH, BHYT bắt buộc”, Tạp chí BHXH số 10/2003.18. Hiến pháp năm 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một số nội dung quy định thu BHXH, BHYT bắt buộc
Tác giả: Đinh Thị Hằng Nga
Năm: 2003
30. Tuyên ngôn Qu?c t? Nhân quy?n (1948), Bách khoa toàn th? m?, http://vi.wikipedia.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền
Nhà XB: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Năm: 1948
31. UBND tỉnh Bắc Ninh (2011), “Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2011-2015” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2011-2015
Tác giả: UBND tỉnh Bắc Ninh
Năm: 2011
32. Vũ Quang Thọ , Mạc Tiến Anh (2004), “Tiền lương , thu nhập của người lao động và vấn đề tạo nguồn BHXH” , Tạp chí BHXH số 06/2004.II. CÁC TRANG WEB Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiền lương , thu nhập của người lao động và vấn đề tạo nguồn BHXH
Tác giả: Vũ Quang Thọ, Mạc Tiến Anh
Nhà XB: Tạp chí BHXH
Năm: 2004
12. Cục thống kê tỉnh Bắc Ninh , “Niên giám thống kê Bắc Ninh các năm 2007- 2011’’- Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Khác
13. Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh ( 2010), “Báo cáo chính trị Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ XVIII năm 2010’’ Khác
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII Khác
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Khác
16. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, XI Khác
19. Nguyễn Văn Định, năm 2001, Giáo trình Bảo hiểm, Nhà xuất bản Thống kê Khác
20. Nguyễn Viết Vượng (2006), Giáo trình kinh tế bảo hiểm , Trường đại học công đoàn, Nhà xuất bản lao động Khác
21. Phạm Trường Giang, 2010, Hoàn thiện cơ chế thu Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam”, Luận án Tiến sỹ Khác
22. Quốc hội (2006), Luật BHXH của Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 71/2006/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006 Khác
23. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, năm 2006, Luật Bảo hiểm xã hội Khác
24. Sở Lao động - TBXH Bắc Ninh, Báo cáo tổng kết các năm (từ 2007-2011) Khác
25. Sở Lao động - TBXH Bắc Ninh, Báo cáo tổng kết các năm (từ 2007-2011) Khác
26. Tạp chí Bảo hiểm xã hội, số 138, tháng 9/2009, trang 6, Kinh nghiệm thu nợ đọng ở Hải Phòng Khác
27. Tạp chí Bảo hiểm xã hội, số 155, tháng 6/2010 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Cơ cấu mẫu điều tra - Giải pháp nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng bảo hiểm xã hội ở Bắc Ninh
Bảng 2.1 Cơ cấu mẫu điều tra (Trang 49)
Sơ đồ 3.1: Cơ cấu tổ chức quản lý của BHXH tỉnh Bắc Ninh - Giải pháp nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng bảo hiểm xã hội ở Bắc Ninh
Sơ đồ 3.1 Cơ cấu tổ chức quản lý của BHXH tỉnh Bắc Ninh (Trang 61)
Bảng 3.2: Số đơn vị tham gia BHXH theo khối quản lý (2007-2011) - Giải pháp nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng bảo hiểm xã hội ở Bắc Ninh
Bảng 3.2 Số đơn vị tham gia BHXH theo khối quản lý (2007-2011) (Trang 70)
Bảng 3.4: Số tiền phải thu BHXH phân theo DN, tổ chức - Giải pháp nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng bảo hiểm xã hội ở Bắc Ninh
Bảng 3.4 Số tiền phải thu BHXH phân theo DN, tổ chức (Trang 72)
Bảng 3.7: Tình hình nợ đọng BHXH của tỉnh Bắc Ninh (2007 -2011) - Giải pháp nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng bảo hiểm xã hội ở Bắc Ninh
Bảng 3.7 Tình hình nợ đọng BHXH của tỉnh Bắc Ninh (2007 -2011) (Trang 76)
Bảng 3.8:  Số đơn vị nợ BHXH theo loại hình DN, tổ chức - Giải pháp nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng bảo hiểm xã hội ở Bắc Ninh
Bảng 3.8 Số đơn vị nợ BHXH theo loại hình DN, tổ chức (Trang 78)
Bảng 3.9: Số tiền nợ BHXH phân theo DN (2007-2011) - Giải pháp nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng bảo hiểm xã hội ở Bắc Ninh
Bảng 3.9 Số tiền nợ BHXH phân theo DN (2007-2011) (Trang 79)
Bảng 3.10: Tỷ trọng số tiền nợ BHXH theo DN, tổ chức (2007-2011) - Giải pháp nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng bảo hiểm xã hội ở Bắc Ninh
Bảng 3.10 Tỷ trọng số tiền nợ BHXH theo DN, tổ chức (2007-2011) (Trang 79)
Bảng 3.11: Số DN trốn đóng BHXH ở Bắc Ninh - Giải pháp nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng bảo hiểm xã hội ở Bắc Ninh
Bảng 3.11 Số DN trốn đóng BHXH ở Bắc Ninh (Trang 81)
Bảng 3.12: Số tiền trốn đóng BHXH trên địa bàn Bắc Ninh - Giải pháp nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng bảo hiểm xã hội ở Bắc Ninh
Bảng 3.12 Số tiền trốn đóng BHXH trên địa bàn Bắc Ninh (Trang 81)
Bảng 3.14: Kết quả kiểm tra các DN (2007-2011) - Giải pháp nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng bảo hiểm xã hội ở Bắc Ninh
Bảng 3.14 Kết quả kiểm tra các DN (2007-2011) (Trang 83)
Bảng 3.16: Kết quả kiểm tra chấp hành luật BHXH ở một số DN - Giải pháp nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng bảo hiểm xã hội ở Bắc Ninh
Bảng 3.16 Kết quả kiểm tra chấp hành luật BHXH ở một số DN (Trang 84)
Bảng 3.19: Quy mô lao động của DN - Giải pháp nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng bảo hiểm xã hội ở Bắc Ninh
Bảng 3.19 Quy mô lao động của DN (Trang 94)
Bảng 3.20: Thu nhập bình quân lao động của DN điều tra - Giải pháp nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng bảo hiểm xã hội ở Bắc Ninh
Bảng 3.20 Thu nhập bình quân lao động của DN điều tra (Trang 95)
Bảng 3.23:  Ảnh hưởng của các nhân tố đến quyết định tham gia - Giải pháp nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng bảo hiểm xã hội ở Bắc Ninh
Bảng 3.23 Ảnh hưởng của các nhân tố đến quyết định tham gia (Trang 98)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w