Kinh nghiệm của các nước tiên tiến cho thấy, cùng với quá trình ĐTH, vấn đề bảo vệ và sử dụng hợp lý đất nông nghiệp là rất quan trọng, đặc biệt là vùng đất chuyên canh cho nă
Trang 1–––––––––––––––––––––
LƯƠNG PHƯƠNG NAM
ẢNH HƯỞNG CỦA ĐÔ THỊ HOÁ ĐẾN HIỆU QUẢ
SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN CHỢ MỚI - TỈNH BẮC KẠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2012
Trang 2–––––––––––––––––––––
LƯƠNG PHƯƠNG NAM
ẢNH HƯỞNG CỦA ĐÔ THỊ HOÁ ĐẾN HIỆU QUẢ
SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN CHỢ MỚI - TỈNH BẮC KẠN
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60 - 31 -10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đỗ Quang Quý
THÁI NGUYÊN - 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng , số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào tại Việt Nam
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và mọi thông tin trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Bắc Kạn, ngày 11 tháng 8 năm 2012
Tác giả luận văn
Lương Phương Nam
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, đến nay tôi đã hoàn thành
luận văn thạc sỹ Kinh tế nông nghiệp với đề tài “Ảnh hưởng của đô thị hoá đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Chợ Mới - tỉnh Bắc Kạn” Tôi xin trân trọng bầy tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo và đặc
biệt là thầy cô giáo trong khoa, những người đã tận tình dạy bảo giúp đỡ
và định hướng cho tôi trong qúa trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cảm ơn ban lãnh đạo huyện, các phòng, ban ngành UBND huyện Chợ Mới, lãnh đạo các xã cùng với nhân dân huyện Chợ Mới đã cung cấp những số liệu cần thiết giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu tại địa bàn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới đến thầy giáo PGS.TS
Đỗ Quang Quý, người đã định hướng chỉ bảo và dìu dắt tôi trong
quá trình nghiên cứu đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến các tập thể, cá nhân, bạn bè và người thân đã chỉ bảo, giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong suốt thời gian quá trình học tập và nghiên cứu
Bắc Kạn, ngày 11 tháng 8 năm 2012
Tác giả luận văn
Lương Phương Nam
Trang 5
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
BẢNG DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 3
3 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Phạm vi nghiên cứu 4
5 Bố cục của Luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
1.1 Cơ sở khoa học 5
1.1.1 Cơ sở lý luận 5
1.1.2 Cơ sở thực tiễn 19
1.2 Phương pháp nghiên cứu 34
1.2.1 Các câu hỏi đặt ra mà đề tài cần giải quyết 34
1.2.2 Phương pháp nghiên cứu 34
1.2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 36
Chương 2: THỰC TRẠNG ĐÔ THỊ HÓA ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN CHỢ MỚI 39
2.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Chợ Mới 39
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 39
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 43
Trang 62.1.3 Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đến hiệu
quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp huyện Chợ Mới 57
2.2 Thực trạng quá trình ĐTH và ảnh hưởng của ĐTH đến hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp của huyện Chợ Mới 60
2.2.1 Thực trạng quá trình ĐTH tại huyện Chợ Mới 60
2.2.2 Thực trạng ảnh hưởng của ĐTH đến hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp của huyện Chợ Mới 69
2.2.3 Đánh giá chung ảnh hưởng của ĐTH tới sản xuất nông nghiệp nói chung và tới hiệu quả sử dụng đất nói riêng trên địa bàn huyện Chợ Mới 78
Chương 3: QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA TẠI HUYỆN CHỢ MỚI 82
3.1 Định hướng phát triển nông nghiệp huyện Chợ Mới đến năm 2020 82
3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa trên địa bàn huyện Chợ Mới 87
3.2.1 Giải pháp chung 87
3.2.2 Giải pháp cụ thể 89
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 92
1 Kết luận 92
2 Kiến nghị 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
PHỤ LỤC 95
Trang 7BẢNG DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DL, TM, KS Du lịch, thương mại, khách sạn
KH & ĐT Kế hoạch và đầu tư
NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn QH&TKNN Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp TBKHKT Tiến bộ khoa học kỹ thuật
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Một số tiêu chí phân loại đô thị 6
Bảng 2.1 Hiện trạng phát triển công nghiệp cá thể trên địa bàn 45
Bảng 2.2 Thực trạng phát triển ngành nông, lâm thủy sản 48
Bảng 2.3 Tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu GTSX ngành nông, lâm thủy sản 50
Bảng 2.4 Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi 51
Bảng 2.5 Một số chỉ tiêu nông nghiệp huyện Chợ Mới 52
Bảng 2.6 Một số chỉ tiêu ngành thủy sản 54
Bảng 2.7 Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu lao động 62
Bảng 2.8 Thực trạng lao động huyện Chợ Mới 62
Bảng 2.9 Biến động quy mô dân số, lao động của huyện 63
Bảng 2.10 Hiện trạng sử dụng đất huyện Chợ Mới 64
Bảng 2.11 Diễn biến diện tích năng suất sản lượng một số cây trồng, vật nuôi 65
Bảng 2.12 Cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 68
Bảng 2.13 Thông tin cơ bản của các hộ điều tra 69
Bảng 2.14 Nguồn lực của hộ điều tra 70
Bảng 2.15 Diện tích một số cây trồng chính của các hộ điều tra 72
Bảng 2.16 Mức đầu tư và hiệu quả kinh tế tính trên 1 sào của một số cây trồng chính 73
Bảng 2.17 Kết quả mô hình với các biến ảnh hưởng hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp đối với cây trồng hàng năm 74
Bảng 2.18 Kết quả mô hình với các biến ảnh hưởng hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp đối với thu nhập của hộ 76
Bảng 3.1 Dự báo nhu cầu sử dụng đất đến năm 2020 84
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang tiến hành đô thị hóa (ĐTH) trên một quy mô rất rộng lớn, và với một tốc độ khá nhanh, đến 2010 đã có 755 đô thị Năm 2000, tỷ lệ dân cư đô thị toàn quốc là 22,3% thì năm 2010 là 34% Tính đến cuối tháng 9/2010, Việt Nam đã có 254 khu công nghiệp và khu chế xuất, trong đó 171 khu đã đi vào hoạt động và có mặt tại 57 tỉnh, thành trong cả nước với trên 6.000 dự án đầu tư trong, ngoài nước, thu hút hơn 1.000.000 lao động Phần lớn diện tích các khu công nghiệp, khu chế xuất là đất nông nghiệp và lực lượng chủ yếu bổ sung vào đội ngũ lao động công nghiệp là nông dân
ĐTH là xu thế tất yếu của mọi quốc gia trên con đường phát triển Đây là trung tâm công nghiệp, xây dựng; dịch vụ; văn hoá; y tế; giáo dục; thể dục, thể thao Từ ngày 2/7/2009, phân loại đô thị tiến hành theo Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ban hành ngày 7/5/2009
Trong những năm gần đây, đã có nhiều nghiên cứu có liên quan đến công nghiệp hóa (CNH), ĐTH phục vụ cho phát triển bền vững của vùng Tuy nhiên, các nghiên cứu này hầu hết tập trung vào vấn đề về bảo vệ môi trường nói chung cho các khu công nghiệp, đô thị Các nghiên cứu ảnh hưởng đến số lượng đất chỉ mang tính thống kê, ảnh hưởng đến chất lượng đất hầu như chưa có, ảnh hưởng đến môi trường đất mới chỉ mang tính điểm
ở xung quanh một số khu công nghiệp cũ, làng nghề và một số vùng nông nghiệp thâm canh cao Nhiều mô hình nông nghiệp công nghệ cao đã được xây dựng đem lại hiệu quả kinh tế cao, nhưng vốn đầu tư lớn, khó áp dụng trên diện rộng, đặc biệt là đối với những hộ nông dân có nhiều đất nông nghiệp bị thu hồi Những nghiên cứu về hệ thống các giải pháp để bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi thích hợp với điều kiện khí hậu, đất đai của từng vùng trong quá trình CNH-ĐTH nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất
Trang 10nông nghiệp trên một đơn vị diện tích, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu vẫn còn khá ít và thiếu tính liên ngành
Việt Nam có qui mô đất canh tác/người vào loại thấp nhất thế giới Nước ta có 4,1 triệu ha đất trồng lúa, trong đó có 3,4 triệu ha được đầu tư thủy
lợi hoàn chỉnh Từ 1/7/2004 đến năm 2009 (số liệu thống kê của Tổng cục Quản lý đất đai) đã thu hồi gần 750.000 ha đất (hơn 80% là đất nông nghiệp),
để thực hiện hơn 29.000 dự án đầu tư Bình quân hàng năm hơn 10.000 ha đất nông nghiệp bị thu hồi, trên 50% là diện tích đất canh tác trồng lúa, sản lượng lương thực giảm dần Chính phủ đã có Nghị quyết 63/NQ-CP về đảm bảo an ninh lương thực quốc gia với mục tiêu đến năm 2020, bảo vệ quỹ đất lúa 3,8 triệu ha để có sản lượng 41 - 43 triệu tấn lúa đáp ứng tổng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu khoảng 4 triệu tấn gạo/năm
Kinh nghiệm của các nước tiên tiến cho thấy, cùng với quá trình ĐTH, vấn đề bảo vệ và sử dụng hợp lý đất nông nghiệp là rất quan trọng, đặc biệt là vùng đất chuyên canh cho năng suất cao Vùng ven đô với sản xuất nông nghiệp, nông thôn ổn định, hiệu quả không chỉ hỗ trợ vùng nội đô mà còn tạo ra sự phát triển toàn diện, đồng bộ bền vững của cả vùng góp phần xây dựng vùng kinh tế phát triển bền vững
CNH-Năm 2010, thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn đã được công nhận là đô thị loại III Các huyện, thị xã thuộc tỉnh quá trình ĐTH cũng diễn ra nhanh chóng, thể hiện sự phát triển ngày càng cao về kinh tế - xã hội của địa phương Quá trình đó đã tạo điều kiện thay đổi cơ cấu ngành kinh tế và hỗ trợ thúc đẩy các ngành hoạt động có hiệu quả hơn, trong đó có ngành nông nghiệp Đặc biệt là khu vực vùng ven đô thị, khu giáp ranh với trung tâm huyện Hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp ngày càng cao, các mô hình, với công nghệ khoa học tiên tiến được áp dụng vào sản xuất ngày một
Trang 11mở rộng đáp ứng nhu cầu thị trường Tuy nhiên, ĐTH cùng với CNH đã làm cho diện tích đất nông nghiệp ngày càng giảm, có những tác động tới phương thức sản xuất mà người nông dân áp dụng, và nhiều tác động tích cực, tiêu cực khác
Để bảo vệ và sử dụng hợp lý, hiệu quả quỹ đất nông nghiệp, tạo sự phát triển nông nghiệp, nông thôn nhanh, ổn định và bền vững, đặc biệt là sự phát triển nông nghiệp, nông thôn huyện Chợ Mới, góp phần tích cực cho sự phát
triển toàn diện của tỉnh Bắc Kạn, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Ảnh hưởng của ĐTH đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Chợ Mới - tỉnh Bắc Kạn”
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
- Phân tích, đánh giá thực trạng ĐTH trên địa bàn huyện Chợ Mới;
- Nghiên cứu ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của quá trình ĐTH đến hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp
- Tìm ra một số giải pháp nhằm bảo vệ và nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
3 Đối tƣợng nghiên cứu
- Thực trạng và hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp của huyện Chợ Mới
- Những ảnh hưởng tích cực, tiêu cực của quá trình ĐTH đến hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp của huyện Chợ Mới
Trang 124 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình ĐTH đến hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Chợ Mới - tỉnh
Bắc Kạn
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu trên địa bàn huyện Chợ Mới
- Phạm vi thời gian: Đề tài nghiên cứu số liệu năm 2008 - 2010; số liệu điều tra thực tế năm 2011
5 Bố cục của Luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kiến nghị Luận văn được kết cấu thành ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng ĐTH ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế sử dụng
đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Chợ Mới
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất
nông nghiệp trong quá trình ĐTH tại huyện Chợ Mới
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP 1.1 Cơ sở khoa học ảnh hưởng của đô thị hóa đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.1.1 Cơ sở lý luận về đô thị hóa
1.1.1.1 Lý luận chung về đô thị và ĐTH
a, Đô thị
- Có nhiều quan điểm khác nhau về đô thị, nhưng theo phương diện chung nhất thì đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp (Hà Ngọc Trạc 1995, từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, NXB Hà Nội)
- Theo Nghị định 42/2009/NĐ-CP ngày 7/5/2009, của Chính phủ, đô thị có chức năng: Là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, cấp quốc gia, cấp vùng liên tỉnh, cấp tỉnh, cấp huyện hoặc là một trung tâm của vùng trong tỉnh; có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất định [10]
- Cũng theo Nghị định 42/2009/NĐ-CP, đô thị phải đảm bảo theo các tiêu chí sau:
+ Quy mô dân số toàn đô thị tối thiểu phải đạt 4 nghìn người trở lên + Mật độ dân số phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị và được tính trong phạm vi nội thành, nội thị và khu phố xây dựng tập trung của thị trấn
+ Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp được tính trong phạm vi ranh giới nội thành, nội thị, khu vực xây dựng tập trung phải đạt tối thiểu 65% so với tổng
số lao động
+ Hệ thống công trình hạ tầng đô thị gồm hệ thống công trình hạ tầng
xã hội và hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật:
Trang 14Đối với khu vực nội thành, nội thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ và có mức độ hoàn chỉnh theo từng loại đô thị
Đối với khu vực ngoại thành, ngoại thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ mạng hạ tầng và bảo đảm yêu cầu bảo vệ môi trường và phát triển đô thị bền vững
+ Kiến trúc, cảnh quan đô thị: việc xây dựng phát triển đô thị phải theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị được duyệt, có các khu đô thị kiểu mẫu, các tuyến phố văn minh đô thị, có các không gian công cộng phục vụ đời sống tinh thần của dân cư đô thị; có tổ hợp kiến trúc hoặc công trình kiến trúc tiêu biểu và phù hợp với môi trường, cảnh quan thiên nhiên
- Đô thị được phân ra làm 5 loại theo bảng dưới đây:
Bảng 1.1 Một số tiêu chí phân loại đô thị
Lao động phi nông nghiệp (%)
Hạ tầng
cơ sở
Mật độ dân số (người/km 2
)
Đặc
biệt Quốc gia
Từ 5 triệu trở lên
Từ 90%
trở lên
Cơ bản đồng bộ, hoàn chỉnh
1 Quốc
gia/liên tỉnh
Từ 500 nghìn trở lên; Từ > 1 triệu người nếu
đô thị trực thuộc TW)
Từ 85%
trở lên
Nhiều mặt đầu
tư XD đồng bộ và cơ bản hoàn chỉnh
Từ 10.000 trở lên; Từ > 12.000 nếu đô thị trực thuộc TW)
800 nghìn người nếu đô thị trực thuộc TW)
Từ 80%
trở lên
Nhiều mặt đầu
tư XD đồng bộ và cơ bản hoàn chỉnh
Từ 8.000 trở lên; Từ > 10.000 nếu đô thị trực thuộc TW)
Từ 75%
trở lên
Từng mặt đồng bộ và hoàn chỉnh
Từ 6.000 trở lên
4 Tỉnh/liên
huyện
Từ 50 nghìn trở lên
Từ 70%
trở lên
Từng mặt đồng bộ và hoàn chỉnh
Từ 4.000 trở lên
5 Huyện/liên
xã
Từ 4.000 trở lên
Từ 65%
trở lên
Đã hoặc đang được XD chưa đồng bộ và hoàn chỉnh
Từ 2.000 trở lên
(Nguồn: Nghị định 42/2009/NĐ-CP ngày 7/5/2009-Chính phủ)
Trang 15+ Đô thị loại đặc biệt là thị xã trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện ngoại thành và các đô thị trực thuộc
+ Đô thị loại I, loại II là thị xã trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện ngoại thành và có thể có các đô thị trực thuộc; đô thị loại I, loại
II là thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thành và các xã ngoại thành
+ Đô thị loại III là thị xã hoặc thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thành, nội thị và các xã ngoại thành, ngoại thị
+ Đô thị loại IV là thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thị và các xã ngoại thị
+ Đô thị thị loại V là thị trấn thuộc huyện có các khu phố xây dựng tập trung và có thể có các điểm dân cư nông thôn
b, Đô thị hóa
ĐTH là hiện tượng kinh tế - xã hội liên quan đến các dịch chuyển về mặt kinh tế - xã hội, văn hoá, không gian, môi trường sâu sắc gắn liền với những tiến bộ KHKT, tạo đà thúc đẩy sự phân công lao động, chuyển đổi nghề nghiệp, hình thành các nghề nghiệp mới; thúc đẩy sự dịch cư vào trung tâm các đô thị và thúc đẩy phát triển kinh tế làm thay đổi đời sống xã hội và văn hoá, nâng cao mức sống người dân và làm thay đổi cả lối sống và hình thức giao tiếp xã hội
ĐTH phát triển trên cơ sở phát triển công nghiệp hoá, của cách mạng khoa học kỹ thuật, của dịch vụ, của nông nghiệp và của sự tiến bộ xã hội, trong đó công nghiệp hoá và khoa học - kỹ thuật là những cơ sở tiên quyết Chính vì thế sự phát triển của ĐTH diễn ra cũng khác nhau về thời gian, tốc độ và quy mô giữa các nước trên thế giới, giữa các vùng lãnh thổ trong phạm
vi một quốc gia[4]
- Quá trình ĐTH diễn ra theo 2 xu hướng:
+ ĐTH tập trung (ĐTH “hướng tâm”): đó chính là sự tích tụ các
Trang 16nguồn lực tư bản và chất xám hình thành nên các trung tâm đô thị công nghiệp tập trung cao độ, những thị xã toàn cầu như Tokyo, Seoul, Điều này sẽ dẫn đến xu hướng “CNH co cụm”, khi đó, chỉ những khu vực đô thị trung tâm là nơi thu hút vốn đầu tư, tập trung các hoạt động công nghiệp, trong khi các khu vực vẫn chỉ là nông thôn thì sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm vai trò chủ đạo tạo ra sự đối lập giữa đô thị và nông thôn, đồng thời gây ra mất cân bằng sinh thái
+ ĐTH phân tán (ĐTH “ly tâm”): là xu hướng dịch chuyển đầu tư và hoạt động sản xuất công nghiệp từ các lĩnh vực trung tâm ra các vùng ngoại
vi, tạo nên hiệu ứng lan toả, thúc đẩy sự ra đời và hình thành các trung tâm vệ tinh công nghiệp Điều này dẫn đến tiến trình “CNH lan toả”, các hoạt động công nghiệp ở đô thị trung tâm có xu hướng dịch chuyển ra ngoại vi để chuyển sang các hoạt động công nghiệp mức cao hơn, hay chuyên môn hoá các lĩnh vực kinh doanh, thương mại, dịch vụ Xu hướng này sẽ đảm bảo cân bằng sinh thái, tạo điều kiện việc làm, sinh hoạt và nghỉ ngơi tốt cho dân đô thị và nông thôn[5]
1.1.1.2 Lý luận đất nông nghiệp và hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp
a, Đất nông nghiệp
* Theo luật đất đai 2003, đất đai được phân thành các nhóm đất:
- Đất phi nông nghiệp
- Đất nông nghiệp
- Đất chưa sử dụng
Trong đó, đất nông nghiệp được chia thành các phân nhóm sau:
+ Đất sản xuất nông nghiệp bao gồm đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm Đất trồng cây hàng năm bao gồm đất trồng lúa; đất đồng cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác
+ Đất lâm nghiệp bao gồm đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng
Trang 17cá nhân để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ sản xuất nông nghiệp
* Đặc điểm của đất nông nghiệp
- Đất đai được coi là tư liệu sản xuất quan trọng cơ bản cho sản xuất nông nghiệp, bởi vì nó vừa là tư liệu lao động vừa là đối tượng lao động trong quá trình sản xuất Đất đai là tư liệu lao động bởi vì nếu được sử dụng hợp lý thì không những không bị hao mòn như các tư liệu sản xuất khác mà còn được tái tạo, độ phì nhiêu của đất được tăng lên và đất ngày càng màu mỡ Đất đai là đối tượng lao động vì đất đai là nơi con người thực hiện các tác động vào cây trồng để tạo ra sản phẩm Sự tác động của con người vào môi trường đất đai bằng các biện pháp tiên tiến sẽ làm cho đất đai ngày càng phong phú, màu mỡ
- Đất đai là tài nguyên thiên nhiên có hạn, thuộc nhóm tài nguyên khan hiếm bởi vì vỏ trái đất có giới hạn, ¾ diện tích vỏ trái đất là nước, còn ¼ diện tích còn lại là diện tích đất liền và núi đá Ngoài ra đối với mỗi vùng, mỗi quốc gia có sự giới hạn về đất sản xuất do trình độ canh tác, thời tiết, khí hậu, địa hình quy định, nhiều nơi do diện tích bị giới hạn nên việc mở rộng quy mô là rất khó khăn Vì vậy trong sản xuất nông nghiệp chúng ta phải sử dụng đất đai một cách đầy đủ và hợp lý
Trang 18- Đất đai có vị trí cố định và chất lượng không đồng đều giữa các vùng, miền Điều này gắn liền với điều kiện tự nhiên của từng vùng: Điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội, quá trình hình thành đất khác nhau, do đó bố trí sản xuất nông nghiệp hợp lý sẽ đem lại thu nhập cao cho các vùng
- Đất nông nghiệp nếu được sử dụng hợp lý thì độ phì nhiêu không ngừng tăng lên, các loại tư liệu khác trong quá trình sản xuất thường bị hao mòn và giảm dần giá trị theo thời gian, còn đất đai không những không bị hao mòn mà còn tăng dần giá trị của sản phẩm nếu chúng ta biết sử dụng và khai thác hợp lý Đặc điểm này của đất đai xuất phát từ đất đai có độ phì nhiêu tự nhiên cao
b, Hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp
- Hiệu quả là kết quả được so sánh giữa chi phí bỏ ra với kết quả thu vào Kết quả thu được sau khi trừ đi các khoản chi phí càng cao, thể hiện hiệu quả càng lớn và ngược lại
- Hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp là năng suất đất đai, năng suất cây trồng trên một đơn vị diện tích Giá trị kinh tế - xã hội mang lại trên một đơn vị diện tích; hệ số sử dụng đất đai, đó là các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả, và đạt hiệu quả cao là năng suất cây trồng, giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích; hệ số sử dụng đất phải ngày càng nâng cao
- Để nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp, tức là phải nâng cao độ phì nhiêu của đất, áp dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ mới, con người có trình độ và rất nhiều yếu tố khác để nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi, nâng cao thu nhập trên đơn vị diện tích
- Sử dụng đất nông nghiệp phải nắm bắt được phải gắn với quy hoạch,
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của vùng, của địa phương, điều kiện tự nhiên, lợi thế của khu vực và từng địa phương Nắm được đặc điểm của ngành
Trang 19sản xuất nông nghiệp, từ đó có quyết định phát triển nông nghiệp của từng vùng, từng địa phương đúng đắn và đạt hiệu quả cao[5]
c, Vai trò và đặc điểm của sản xuất nông nghiệp
- Vai trò của sản xuất nông nghiệp:
Nông nghiệp là ngành sản xuất xuất hiện đầu tiên trong lịch sử phát triển cuả xã hội loài người Cuộc cách mạng công nghiệp ra đời và phát triển mạnh mẽ, mạc dù vậy, nông nghiệp vẫn là một trong hai ngành sản xuất vật chất rất quan trọng, bởi những đóng góp sau đây:
+ Nông nghiệp sản xuất và cung cấp lương thực, thực phẩm cho nhu cầu thiết yếu của cuộc sống
+ Nông nghiệp cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp nhẹ và công nghiệp chế biến
+ Nông nghiệp cung cấp hàng hoá xuất khẩu
+ Nông nghiệp nông thôn là nguồn cung cấp sức lao động cho các ngành kinh tế khác
+ Nông nghiệp nông thôn là thị trường tiêu thụ các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ của công nghiệp và các ngành kinh tế khác
+ Nông nghiệp còn có vai tác dụng giữ gìn và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, củng cố và bảo vệ an ninh quốc phòng
- Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp:
Nông nghiệp là một ngành kinh tế đặc biệt, khác với công nghiệp và ngành kinh tế khác ở lĩnh vực sản xuất, đầu tư và lưu thông hàng hoá Việc xem xét và phân tích các đặc điểm của ngành sản xuất nông nghiệp là rất cần thiết để phát triển đúng đắn nền nông nghiệp Ngành sản xuất nông nghiệp có các đặc điểm sau:
+ Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là sinh vật
+ Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thể thay thế
Trang 20+ Nông nghiệp được phân bố trên phạm vi không gian rộng lớn, phức tạp và mang tính khu vực rõ rệt
+ Sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ cao
+ Nông nghiệp Việt Nam phát triển từ nền kinh tế tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hoá trong nền kinh tế thị trường
+ Nông nghiệp Việt Nam là nền nông nghiệp nhiệt đới, á nhiệt đới ẩm,
có pha trộn khí hậu ôn đới [11]
1.1.1.3 Tác động của ĐTH đến hiệu qửa sử dụng đất nông nghiệp
a, Tác động của ĐTH nói chung
Quá trình ĐTH là quá trình phát triển tất yếu, bên cạnh những mặt tích cực là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xã hội nhanh để cải thiện chất lượng cuộc sống của con người, tất yếu sẽ phát sinh hàng loạt các vấn đề khác cần quan tâm: sự gia tăng mật độ dân số và phương tiện giao thông, đất đai bị suy giảm
về số lượng và chất lượng, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác triệt để hơn, các chất thải ngày càng gia tăng về chủng loại lẫn số lượng, ô nhiễm môi trường
từ đó cũng gia tăng nếu không có các biện pháp phòng ngừa, quản lý và xử lý tốt các chất thải
Hai là, ĐTH đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH Trong quá trình ĐTH, cơ cấu ngành kinh tế thay đổi theo hướng
Trang 21giảm tỷ trọng của khu vực nông nghiệp và gia tăng nhanh tỷ trọng của khu vực công nghiệp và dịch vụ Đối với sản xuất nông nghiệp nói riêng, ĐTH góp phần làm thay đổi về cơ cấu diện tích gieo trồng và cơ cấu giá trị sản xuất Các loại cây có giá trị kinh tế thấp, sử dụng nhiều lao động đang có xu hướng giảm dần diện tích Các loại cây cần ít lao động hơn và cho giá trị kinh
tế cao hơn đang được tăng dần diện tích canh tác Trong tổng giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp thì xu hướng chung là giảm dần tỷ trọng của ngành trồng trọt và tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi
Ba là, cải tạo kết cấu hạ tầng Xu hướng ĐTH tạo ra sự tập trung sản xuất công nghiệp và thương mại, đòi hỏi phải tập trung dân cư, khoa học, văn hóa và thông tin Những điều kiện đáp ứng nhu cầu đó là sự phát triển kết cấu
hạ tầng, nhà ở, các dịch vụ phục vụ cho sản xuất và đời sống dân cư Do đó mà hệ thống giao thông vận tải, năng lượng, bưu chính viễn thông và cấp thoát nước cũng sẽ được cải tiến về quy mô và chất lượng
Ở nông thôn, việc cải tạo kết cấu hạ tầng đang được thực hiện với chủ trương “điện, đường, trường, trạm” tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và nâng cao đời sống của người nông dân
Bốn là, ĐTH nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật và công nghệ Các đô thị ngày càng áp dụng nhiều tiến bộ kỹ thuật và kỹ năng quản lý tổ chức sản xuất hiện đại, làm tăng năng suất lao động và nâng cao chất lượng sản phẩm
Trong sản xuất nông nghiệp, quá trình ĐTH cung cấp những cơ sở kỹ thuật cần thiết cho người nông dân như thủy lợi hóa, điện khí hóa, cơ giới hóa, sinh học hóa để làm tăng năng suất lao động, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá có chất lượng tốt, đảm bảo an toàn lương thực, đáp ứng nhu cầu của công nghiệp chế biến và thị trường trong ngoài nước
Năm là, ĐTH thúc đẩy mở rộng thị trường Đặc trưng thứ nhất của đô thị: là nơi có khả năng cung cấp cho thị trường một nguồn lao động có chất
Trang 22lượng cao, có quy mô lớn, từ đó thu nhập của dân cư đô thị tăng tạo nên cầu
về hàng tiêu dùng, kích thích sản xuất phát triển Đặc trưng thứ hai: là sự tập trung cư dân với mật độ cao, điều đó tạo ra ở đô thị một thị trường tiêu dùng lớn, phong phú đa dạng, vì vậy nó có vai trò kích thích sản xuất phát triển một cách toàn diện
Sáu là, ĐTH góp phần cải thiện đời sống của dân cư đô thị và các vùng lân cận Nhờ duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao mà các đô thị có thể tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới cho người dân, góp phần quan trọng trong việc nâng cao thu nhập cho họ Khi mức thu nhập bình quân người/tháng tăng lên thì nhu cầu chi tiêu đời sống của dân cư cũng tăng nhằm thỏa mãn tốt hơn nhu cầu tiêu dùng cá nhân Điều đó cho thấy ĐTH làm mức sống của dân cư được cải thiện đáng kể, góp phần vào việc thực hiện xóa đói giảm nghèo
Bảy là, ĐTH cũng đem lại một số tiến bộ về mặt xã hội đó là: nâng tuổi thọ trung bình, giảm tỷ lệ tử vong của trẻ em, giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng, tăng tỷ lệ dân cư dùng nước sạch, phát triển giáo dục, văn hóa,
Trang 23Thứ hai, gia tăng khoảng cách giàu nghèo Quá trình ĐTH nhanh đã làm cho khoảng cách giầu nghèo giữa các tầng lớp dân cư trong đô thị, giữa nông thôn và thành thị ngày càng cao
Thứ ba, gia tăng tình trạng di dân Chính sự chênh lệch về mức sống, điều kiện sống, khả năng tìm kiếm việc làm và cơ hội tăng thu nhập đã và đang được coi là những nguyên nhân kinh tế quan trọng nhất thúc đẩy một bộ phận lớn người dân rời khỏi khu vực nông thôn để di dân tới thành thị Lực lượng lao động ở nông thôn chỉ còn lại những người già yếu và trẻ nhỏ, không đáp ứng được những công việc nhà nông vất vả Cơ cấu lao động ở nông thôn hoàn toàn bị thay đổi theo hướng suy kiệt nguồn lực lao động Đồng thời thị trường lao động ở thành thị lại bị ứ đọng
Thứ tư, môi trường bị ô nhiễm Chất lượng môi trường đô thị bị suy thoái khá nặng nề do mật độ dân số tập trung cao, sản xuất công nghiệp phát triển mạnh làm phát sinh một lượng chất thải, trong đó chất thải gây hại ngày càng gia tăng; bùng nổ giao thông cơ giới gây ô nhiễm môi trường và tiếng ồn
Thứ năm, phát sinh các tệ nạn xã hội Đây chính là mặt trái của đời sống đô thị hay của cả quá trình ĐTH Trong khi nhiều khía cạnh tốt đẹp của văn hóa truyền thống bị mai một, thì lối sống lai căng, không lành mạnh lại đang ngự trị trong lối sống đô thị hiện nay Những tệ nạn xã hội phổ biến nhất hiện nay đều được phát sinh và phát triển tại các trung tâm đô thị lớn
Tóm lại, trong công cuộc CNH, HĐH đất nước thì quá trình ĐTH ngày càng gia tăng Vậy chúng ta phải làm thế nào để quá trình ĐTH phát triển lành mạnh và bền vững Tăng trưởng kinh tế do quá trình này đem lại phải được chú trọng đồng thời việc phát triển văn hóa, lấy việc biến động nguồn nhân lực con người làm trọng tâm [5]
Trang 24b, Tác động của ĐTH đến hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp
Quá trình ĐTH tạo ra thị trường tiêu thụ nông sản, thúc đẩy nhanh sự chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, tạo cơ hội cho việc ứng dụng các thành tựu trong chọn tạo giống, kỹ thuật canh tác, hình thành các khu nông nghiệp công nghệ cao để tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hóa đáng kể góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Đồng thời, góp phần chuyển đổi nền nông nghiệp truyền thống, thúc đẩy phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng nông nghiệp hàng hóa mạnh, có sức cạnh tranh cao trên thị trường nội địa và xuất khẩu Từ đó ngày càng sử dụng hợp lý và có hiệu quả cao đối với đất nông nghiệp Bên cạnh đó, ĐTH có tác động tiêu cực là gia tăng ô nhiễm, ngập úng, mất đất nông nghiệp, không gian nông thôn bị phá vỡ
- Một số tác động trực tiếp của ĐTH đến hiệu quả kinh tế sử dụng đất
nông nghiệp:
Đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất đặc biệt, không thể thay thế, được người nông dân sử dụng đất trồng trọt, chăn nuôi trên đó ĐTH tạo ra các trung tâm kinh tế của vùng, các dịch vụ phát triển mạnh, người nông dân có điều kiện tiếp cận với những tiến bộ khoa học mới, trong đó có lĩnh vực sản xuất nông nghiệp Dịch vụ cung ứng đầu vào cho sản xuất nông nghiệp như: Giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật luôn sẵn sàng đáp ứng cho người nông dân ở mức độ cao Các loại máy nông cụ sản xuất ngày càng nhiều, luôn được cải tiến cho phù hợp với điều kiện sản xuất của vùng và được người nông dân sử dụng ngày càng nhiều, thay thế sức kéo của súc vật và các lao động thủ công khác Hệ thống giao thông nông thôn được đầu tư kiên cố hoá, kiên cố hoá kênh mương tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất của người dân Thị trường tín dụng nông thôn phát triển mạnh, với nhiều chính sách ưu đãi cho nông nghiệp, nông thôn Chính vì vậy, ĐTH làm thay đổi tư duy sản xuất của người nông dân, từ sản xuất giản đơn sang sản xuất hàng hoá, tác động đến cách thức lao động sản xuất của người dân
Trang 25Nâng cao hiệu quả ngày công lao động, giảm chi phí sản xuất, nâng cao năng suất cây trồng Cơ cấu cây trồng, vật nuôi được chuyển dịch theo hướng tích cực Tăng thu nhập của người nông dân, nâng cao mức sống cho hộ
Ngày cành hình thành các khu vực sản xuất chuyên môn theo hướng sản xuất hàng hoá, để đáp ứng nhu cầu thị trường
Diện tích đất được sử dụng với hệ số cao, độ phì nhiêu của đất được cải thiện, nâng cao chất lượng đất, tăng năng suất cây trồng
Ngành công nghiệp phát triển tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia chuyển đổi nghề, hoặc vừa sản xuất nông nghiệp vừa hoạt động phi nông nghiệp với mức thu nhập cao hơn so với nông nghiêp, chính vì vậy, một số diện tích có điều kiện sản xuất khó khăn như: giao thông không thuận lợi, khả năng tưới, tiêu nước hạn chế, đất bạc mầu, đã bị người dân bỏ hoá
Nhiều diện tích đất đang trồng trọt, có điều kiện vị trí địa lý thuận lợi,
đã được người dân chuyển đổi thành những trang trại chăn nuôi quy mô lớn, chủ yếu là trang trại chăn nuôi lợn, và gà So sánh về hiệu quả thì các trang trại cho thu nhập cao hơn nhiều, điều đó làm cho cuộc sống của nông thôn thay đổi từng ngày, chất lượng cuộc sống được nâng lên rõ rệt Đó là sự thay đổi nhận thức trong sản xuất nông nghiệp của người nông dân, thể hiện hiệu quả của quá trình công nghiệp hoá, ĐTH mang lại cho người nông dân
Đó là những mặt tích cực của ĐTH đến hiệu quả sử đụng đất nông nghiệp, bên cạnh đó ĐTH cũng có những mặt trái của nó, gây ra ảnh hưởng sấu cho sản xuất nông nghiệp của người dân
Do mặt trái của cơ chế thị trường, dân trí chưa cao, quản lý nhà nước về môi trường chưa chặt chẽ và thường xuyên Khói bụi, khí độc hại do sản xuất, giao thông, sinh hoạt, xây dựng cơ bản, mùi hôi thối của các cống rãnh, kênh mương tiêu thoát nước, gây ra ô nhiễm không khí
Trang 26Các chất thải lỏng, rắn v.v do sản xuất, dịch vụ gây ra không qua xử
lý thải trực tiếp ra sông hồ, cống rãnh gây ô nhiễm mực nước ngầm, không khí, đặc biệt làm huỷ hoại môi trường trong sản xuất nông, lâm nghiệp Hệ sinh thái nông nghiệp thay đổi, do nguồn nước, không khí bị ô nhiễm, sinh ra mất cân bằng sinh thái, nhiều sâu bệnh hại cho cây trồng phát triển mạnh và nhanh làm giảm năng suất, hoặc gây ra mất mùa đối với sản xuất nông nghiệp Khi đó người dân lại sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nhiều hơn, điều
đó lại gây ra ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng hơn, ảnh hưởng đến sức khẻo của người dân nói riêng và xã hội nói chung
Các chất thải rắn, do công tác thu gom còn hạn chế, và công tác xử lý ở dạng chôn lấp, nên sau một thời gian bị phân huỷ, ngấm xuống nguồn nước ngầm, và bị rửa trôi bởi lượng nước mưa, làm ảnh hưởng đến chất lượng nước nói chung và nước tưới cho sản xuất nông nghiệp nói riêng Điều đó làm giảm năng suất cây trồng và gây ra những thách thức mới cho người nông dân trong sản xuất nông nghiệp
- Một số tác động gián tiếp của ĐTH đến hiệu quả kinh tế sử dụng đất
nông nghiệp:
Công nghiệp hoá, nơi sản xuất ra những sản phẩm phục vụ cho đời sống con người, là nơi tập trung đông lực lượng lao động, các dịch vụ phát triển nhanh, theo cơ chế thị trường, có cầu sẽ có cung, đáp ứng các nhu cầu cho lực lượng lao động này Dân cư tập trung với mật độ ngày càng cao hơn, là nơi tiêu thụ lớn sản phẩm nông sản, tạo môi trường thuận lợi, kích thích sản xuất nông nghiệp phát triển, cả về trồng trọt, chăn nuôi theo nhu cầu của thị trường, và điều kiện lợi thế của vùng, theo hướng sản xuất hàng hoá Tạo nên sự năng động trong việc quyết định sử dụng diện tích đất nông nghiệp vào mục đích gì, trồng cây gì, nuôi con gì, với mục tiêu lợi nhuận cao nhất
Trang 27ĐTH mở ra nhiều cơ hội việc làm mới đối với lực lượng lao động nông thôn, nhiều diện tích đất nông nghiệp đã bị bỏ hoá, do người nông dân chuyển sang hoạt động phi nông nghiệp, với thu nhập cao hơn Điều này, dẫn đến nhiều diện tích đất nông nghiệp bị người dân tự ý chuyển mục đích sử dụng, mà chưa có sự đồng ý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép Mặt khác, nhiều hộ nông dân có cơ hội nhận chuyển nhượng, cho thuê đất để hợp thửa do các thửa manh mún, thành các thửa đất rộng, đáp ứng được yêu cầu của cơ giới hoá nông nghiệp, làm tăng năng suất trên một đơn vị diện tích đất
Quá trình công nghiệp hoá, ĐTH thải ra môi trường một lượng lớn chất thải có hại đối với môi trường không khí, môi trường nước Đặc biệt trong thời gian gần đây, nhiệt độ của trái đất đang nóng dần lên, thiên tai hạn hán kéo dài, mưa lớn gây ra lũ lụt triền miên Điều đó gây ra hậu quả nghiêm trọng đối với sản xuất nông nghiệp, dịch bệnh bùng phát sau các đợt lũ lụt, gây ra nhiều dịch bệnh cho con người và cả trong sản xuất nông nghiệp Đất đai khô hạn không
có khả năng sản xuất, nguồn nước ngày càng ô nhiễm nặng, dẫn đến hiệu quả của cây trồng thấp, người nông dân gặp nhiều khó khăn
Trình độ người lao động nông nghiệp được nâng lên, người nông dân được tiếp cận với những thông tin về công nghệ, về quy trình mới trong sản xuất nông nghiệp tốt hơn, dần dần thay đổi nhận thức và có tư duy mới trong sản xuất nông nghiệp, giá trị gia tăng từ mảnh ruộng của hộ ngày một cao hơn [5]
1.1.2 Cơ sở thực tiễn của quá trình đô thị hóa
1.1.2.1 Quá trình phát triển đô thị
a, Trên thế giới
Quá trình ĐTH trên thế giới trong thời gian gần đây đang phát triển rất mạnh mẽ, đặc biệt là ở Châu Á thái bình dương Nó đã góp phần quan trọng cho sự phát triển kinh tế xã hội
Trang 28Dựa theo cuốn “Phân tích niên giám của châu Á-Thái Bình Dương”, ông Pietro Gennari, Trưởng Cơ quan thống kê của ESCAP, cho biết, ĐTH ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương diễn ra nhanh nhất thế giới trong vòng 15 năm qua Năm 1990, có 33% dân số châu Á - Thái Bình Dương sống ở thành thị, thì tới nay con số này đã tăng lên 41%
Quá trình “di cư” từ nông thôn và thị xã diễn ra nhanh nhất là ở khu vực các nước thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), nơi tỉ lệ dân cư đô thị tăng từ 32% năm 1990 lên 45% năm 2006
Ấn Độ đang và sẽ là nước có tốc độ ĐTH nhanh hàng đầu châu Á Tại
Ấn Độ, dự tính đến năm 2050 sẽ có hơn 900 triệu người dân nước Nam Á này, chiếm khoảng 55% dân số, sinh sống ở khu vực thành thị so với 300 triệu người (chiếm 30%) hiện nay Mặc dù làn sóng di cư ra thành thị tăng mạnh, nhưng Ấn Độ vẫn sẽ là nước có số dân sống ở nông thôn đông nhất thế giới trong thời gian tới, vì dân số nước này lên tới hơn một tỷ người
Theo các nhà hoạch định chính sách Ấn Độ, Chính phủ cần thúc đẩy sự phát triển kinh tế ở khu vực nông thôn nhằm ngăn chặn làn sóng di cư ra đô thị của các nông gia
Theo ESCAP, quá trình ĐTH có mặt trái của nó là làm số người sống trong các khu ổ chuột ở đô thị ngày càng tăng, đồng thời ảnh hưởng xấu tới
cơ hội của nhiều người được tiếp cận nguồn nước sạch và môi trường vệ sinh Hiện ở châu Á-Thái Bình Dương, cứ 5 người dân đô thị thì có 2 người phải sống trong các khu ổ chuột
Chính phủ nhiều nước khá lo ngại trước quá trình ĐTH diễn ra “quá nóng”, bởi điều này sẽ kéo theo nhiều biến động khó kiểm soát về mặt xã hội Nghiên cứu của Chương trình Dân số Liên hợp quốc năm 2005 cho thấy hơn một nửa các quốc gia nghèo đều trả lời rằng muốn giảm thiểu số lao động từ nông thôn ra thành thị để hạn chế sự phát triển tại các đô thị Theo tính toán,
Trang 29thu nhập trung bình tại các đô thị lớn thường cao hơn 40-50% thu nhập tại nông thôn Điều đó khiến các khu đô thị luôn có sức hút lớn với lao động nông thôn, kéo theo gánh nặng về chỗ ở, lương thực, thực phẩm, chăm sóc sức khỏe và nhiều vấn đề xã hội khác
Tại Diễn đàn đô thị thế giới mới đây, Tổng thư ký Ban Ki-moon cảnh báo đô thị đang là khu vực tiêu thụ phần lớn năng lượng và cũng là khu vực tạo ra lượng rác thải chủ yếu trên thế giới Hiện nay, nhiều quốc gia đã thực thi những chính sách nhằm giải tỏa sức nóng cho các đô thị lớn, chẳng hạn như Ai Cập đang đầu tư xây dựng 20 thị xã mới và tương lai sẽ thêm 45 thị xã nữa để giảm bớt gánh nặng dân số cho Cairo
Tuy nhiên, một nghiên cứu mới của Ngân hàng thế giới (WB) lại cho rằng lo lắng về “sức nóng” của đô thị có phần thái quá Theo nghiên cứu này, các thị xã ở nhóm nước thuộc thế giới thứ ba sở dĩ phát triển nhanh và mạnh như hiện nay là nhờ thừa hưởng những thành tựu kinh tế lớn của các nước đi trước Do vậy, giải pháp hạ nhiệt phát triển hay giãn ra những khu vực mới còn thiếu mối liên hệ với thị trường thế giới sẽ không những tốn kém mà còn chẳng mang lại hiệu quả gì Như vậy, nghiên cứu này cũng đã lật lại một vấn
đề trước đây từng gây nhiều tranh cãi, đó là liệu yếu tố về địa lý - người dân sống và làm việc ở đâu, liên hệ với các khu vực xung quanh thế nào - có vai trò quan trọng như yếu tố tài chính và các chính sách tài khóa hay không
b, Ở Việt Nam
Việt Nam là một trong những nước đang phát triển, nên qúa trình ĐTH phát triển chậm và yếu, chứa đựng những đặc trưng của ĐTH thấp ở các nước đang phát triển ĐTH ở nước ta phát triển chậm, giữa các vùng không đồng đều Quá trình ĐTH chỉ thực sự phát triển trong những năm gần đây
Từ năm 1990 các đô thị Việt Nam bắt đầu phát triển, lúc đó cả nước mới có khoảng 500 đô thị (tỷ lệ ĐTH vào khoảng 17-18%), đến năm 2000
Trang 30con số này lên 649 và năm 2003 là 656 đô thị Tính đến nay, cả nước có khoảng 700 đô thị, trong đó có 5 thị xã trực thuộc trung ương, 44 thị xã trực thuộc tỉnh, 45 thị xã và trên 500 thị trấn
Bước đầu đã hình thành các chuỗi đô thị trung tâm quốc gia: Các đô thị trung tâm quốc gia gồm Hà Nội, Thị xã Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Huế Các đô thị trung tâm vùng gồm các thị xã như: Cần Thơ, Biên Hoà, Vũng Tàu, Buôn Ma Thuột, Nha Trang, Nam Định, Bắc Kạn, Việt Trì, Hạ Long, Hoà Bình…
Các đô thị trung tâm tỉnh gồm các thị xã, thị xã giữ chức năng trung tâm hành chính - chính trị, kinh tế, văn hoá, du lịch-dịch vụ, đầu mối giao thông; và các đô thị trung tâm huyện; đô thị trung tâm cụm các khu dân cư nông thôn, các đô thị mới
Hiện nay, tỷ lệ dân số đô thị ở nước ta dưới 40%, theo quy hoạch phát triển đến năm 2010 con số này sẽ 56-60%, đến năm 2020 là 80%
Theo dự báo của Bộ Xây dựng, tỷ lệ ĐTH của Việt Nam vào năm 2020
sẽ đạt khoảng 40%, tương đương với số dân cư sinh sống tại đô thị chiếm trên
45 triệu dân Mục tiêu đề ra cho diện tích bình quân đầu người là 100m2/người Nếu đạt tỷ lệ 100m2/người, Việt Nam cần có khoảng 450.000ha đất đô thị, nhưng hiện nay, diện tích đất đô thị chỉ có 105.000ha, bằng 1/4 so với yêu cầu Với tốc độ phát triển và dân số đô thị như vậy, Việt Nam sẽ phải đối mặt với ngày càng nhiều vấn đề phức tạp phát sinh từ quá trình ĐTH
Đó là: Vấn đề di dân từ nông thôn ra thành thị, làm cho mật độ dân số ở thành thị tăng cao; vấn đề giải quyết công ăn việc làm, thất nghiệp tại chỗ, nhà ở và tệ nạn xã hội làm cho trật tự xã hội ven đô ngày càng thêm phức tạp; vấn đề nhà ở và quản lý trật tự an toàn xã hội ở đô thị; vấn đề ô nhiễm môi trường, ô nhiễm nguồn nước
Trang 31Nhận xét chung về phát triển ĐTH của Việt Nam:
+ ĐTH ở Việt Nam phát triển muộn hơn và chậm hơn so với các nước trong khu vực
+ Cơ cấu hệ thống đô thị nước ta mất cân đối, phát triển thiếu tính cân bằng Đô thị vừa và nhỏ không được quan tâm, đầu tư phát triển, điều đó làm cho các đô thị lớn, trung tâm thị xã lớn luôn luôn phải chịu áp lực lớn về dân
số chuyển dịch từ nông thôn vào, sinh ra quá tải, xuống cấp (nhất là thị xã Hà Nội và thị xã Hồ Chí Minh)
+ Các đô thị phân bố chưa đồng đều tương xứng với nguồn tài nguyên trên lãnh thổ quốc gia Phần lớn các đô thị hình thành và phát triển ở Đồng bằng Bắc bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long hay ở ven biển Vùng miền núi, trung du, Tây nguyên còn thưa thớt, còn thiếu nhiều đô thị làm trung tâm của khu vực v.v
1.1.2.2 Một số nghiên cứu ở nước ngoài và trong nước về tác động của ĐTH đến hiệu qửa sử dụng đất nông nghiệp
a, Nghiên cứu ở nước ngoài
Kinh nghiệm của các nước châu Á vốn lấy cây lúa nước là cây lương thực chính cho thấy: qua mấy chục năm tiến hành CNH, ĐTH thì tỷ lệ mất đất canh tác từ 0,2 - 2%/năm Tỷ lệ mất đất canh tác trong thập niên 1980 - 1990 của Trung Quốc là 0,5%/năm, Hàn Quốc 1,4%/năm, Đài Loan 2%/năm, Nhật Bản 1,6%/năm Diện tích đất canh tác bị mất chủ yếu là đất lúa đã đe doạ đến
an ninh lương thực Để tăng sản lượng, nhiều nước đã tăng năng suất bằng cách sử dụng phân bón hóa học với liều lượng cao và kết quả là làm cho môi trường đất bị ô nhiễm
- Trung Quốc: trong những năm 1990, thời kỳ đầu của quá trình cải cách, mở cửa, tốc độ ĐTH của Trung Quốc diễn ra rất nhanh chóng Diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp, ước tính diện tích đất canh tác bị mất
Trang 32hàng năm trên 1 triệu ha, trong khi dân số của Trung Quốc vẫn tiếp tục tăng Theo dự báo đến năm 2010, dân số Trung Quốc sẽ đạt 1,4 tỷ người Để giải quyết vấn đề này chính phủ Trung Quốc đã xây dựng các mô hình xí nghiệp hương trấn (tên gọi chung của các xí nghiệp hoạt động ở nông thôn) hoạt động như các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nhằm chuyển giao các thành tựu của công nghệ sinh học (lai tạo giống lúa, cây trồng và vật nuôi), thủy lợi hóa, cơ giới hóa và hóa học hóa nông nghiệp tại các vùng nông nghiệp ven đô để tạo ra sản phẩm hàng hóa có giá trị kinh tế cao phục vụ cho dân cư
đô thị và xuất khẩu
- Nhật Bản: Quá trình CNH và ĐTH tại Nhật Bản diễn ra trong thời gian dài trước khi trở thành một cường quốc về công nghiệp Tài nguyên đất đai của Nhật Bản hạn hẹp với diện tích đất canh tác nông nghiệp chưa đầy 14% diện tích lãnh thổ và chỉ có khoảng 0,8ha đất nông nghiệp trên một hộ gia đình Vào giao đoạn 1979-1999, diện tích đất nông nghiệp giảm bình quân 1%/năm (tương đương với 48,7 nghìn ha/năm), diện tích này chuyển sang mục đích phát triển đô thị và hình thành các khu công nghiệp Theo số liệu thống kê, diện tích đất nông nghiệp giảm từ 5,4 triệu ha xuống còn 4,9 triệu
ha, và tỷ trọng nông nghiệp của Nhật Bản chiếm chưa đầy 1% tổng giá trị sản xuất hàng năm (số liệu năm 2007)
Tình trạng thiếu lao động trầm trọng vào cuối thập niên 50, xu hướng này kéo dài cho tới tận ngày nay là một thách thức lớn đối với quá trình phát triển kinh tế Sau khi bắt đầu tăng trưởng kinh tế nhanh chóng ở những năm
50 của thế kỷ 20, nhu cầu lớn về lao động tại các trung tâm công nghiệp đô thị khiến cho ngày càng nhiều người rời bỏ nông thôn Một phần lớn trong lực lượng làm nghề nông khi đó là những người trên 45 tuổi Bên cạnh đó, rất nhiều người chỉ làm nghề này theo thời vụ và hơn một nửa lực lượng lao động là phụ nữ Nếu năm 1960, 26,8% lực lượng lao động là nông dân thì đến năm
Trang 331995 chỉ còn 5,1%, và đến năm 2005, số dân cư trong khu vực nông thôn chỉ còn khoảng 21% so với tổng số dân trong toàn quốc
Để đảm bảo an ninh lương thực, tăng thu nhập cho người lao động ở khu vực nông thôn và những người bị mất đất canh tác, Chính phủ Nhật Bản
đã xây dựng một đường lối phát triển trong nông nghiệp để củng cố và xây dựng một hệ thống nông nghiệp bền vững hướng tới xuất khẩu các mặt hàng đặc biệt với giá trị kinh tế cao ra nước ngoài Việc phát triển sản xuất tập trung vào các mặt hàng nông sản thực phẩm có giá trị kinh tế cao, sử dụng ít công lao động, không chiếm nhiều diện tích, đưa các quy trình tiến bộ về công nghệ sinh học vào sản xuất (sản xuất trong nhà kính, nhà lưới, nuôi trồng thủy canh ) Hình thành các trang trại canh tác lúa quy mô lớn, áp dụng biện pháp canh tác tiên tiến nhằm làm giảm giá thành và tăng năng suất cây trồng, các mạng lưới thu mua sản phẩm tiếp cận trực tiếp với người sản xuất
* Đối với môi trường đất nông nghiệp:
Vai trò của đất rất quan trọng trong đời sống của động thực vật và con người, nó có các chức năng như: là nơi để cho cây trồng sinh trưởng phát triển, cung cấp dinh dưỡng, năng lượng; dự trữ nước, lọc và trung hoà các chất độc hại Duy trì các chức năng của đất là một trong những điều kiện hàng đầu cho phát triển bền vững Điều này có nghĩa sự biến đổi các đặc tính đất là bằng chứng cho thấy trình độ quản lý và phương thức quản lý của từng khu vực đối với tài nguyên đất đai Ví dụ như tại Mỹ, theo các kết quả nghiên cứu của USDA trong những năm 1970-1980, do ảnh hưởng của công nghiệp hoá, những vũng đất mầu mỡ thích hợp cho canh tác nông nghiệp bị lấy đi, sản xuất lương thực chuyển lên các vùng đất cao, chặt phá rừng và canh tác trên đất dốc không có các biện pháp bảo vệ đất đã làm cho đất tại các khu vực canh tác bị xói mòn nghiêm trọng Hàng năm tại các vùng đất canh tác nông nghiệp của Mỹ mất khoảng 3 tỷ tấn đất mặt Để khắc phục tình trạng này,
Trang 34Chính phủ và Bộ Nông nghiệp Mỹ đã phải tiêu tốn khoảng 2 tỷ đô la để phục hồi 16 triệu ha đất canh tác chuyển sang phương thức trồng cỏ và trồng rừng Kết quả là đến năm 1991-1995, diện tích này được phục hồi Để khắc phục hậu quả các chất độc hại tồn dư trong đất và làm sạch nguồn nước, Chính phủ
Mỹ đã phải chi rất nhiều tiền vào công tác này, lợi nhuận của nông nghiệp Mỹ mất đi khoảng 1,2 tỷ USD/năm
Các nguyên nhân làm cho đất bị ô nhiễm bao gồm:
- Đất đai bị thoái hoá
- Đất đai bị nhiễm mặn
- Rác thải, chất thải công nghiệp và đô thị ngấm vào đất
- Sử dụng các chất độc hại, tồn dư hoá chất BVTV
- Đất đai bị xói mòn, sa mạc hoá và hoang mạng hoá
Quá trình ĐTH và công nghiệp hoá đã nảy sinh ra vấn đề ô nhiễm chất thải ảnh hưởng đến môi trường đất Trung Quốc là nước có tốc độ công nghiệp hoá và ĐTH cao nhất tại Châu Á hiện tại, hàng năm lượng chất thải công nghiệp và đô thị tạo ra rất lớn Năm 1990, cứ tạo ra được 1 USD sản phẩm thì Trung Quốc cũng tạo ra 2kg chất thải công nghiệp (EASCAP, 1995) Tuy nhiên, lượng rác thải này giảm đi chút ít vào những năm 1995 thế
kỷ 20 và môi trường cũng giảm bớt đi sự ô nhiễm (NEPA, 1993)
Nông nghiệp tại các nước Châu Á - Thái Bình Dương là ngành sản xuất chủ yếu từ hàng thế kỷ qua Nhưng gần đây, đất đai dùng cho sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp, để tạo ra năng suất cao người lao động đã sử dụng phân hoá
Trang 35học, thuốc trừ sâu, chất kích thích sinh trưởng với một số lượng lớn, nồng độ cao, và do đó gây ô nhiễm đất đai, xói mòn đất đai và gây hại cho con người
Đồ thị 1.1: Nguyên nhân làm suy thoái đất tại Châu Á - Thái Bình Dương
UNEP/ISRIC (1990)
(Nguồn: FADINAP năm 1992)
Theo thống kê của FADINAP năm 1992 cho thấy: sản xuất nông nghiệp tại các nước thuộc Châu Á - Thái Bình Dương đã sử dụng một số lượng lớn phân bón hoá học, nếu trong những năm 1968-1970 lượng phấn bón sử dụng khoảng 11 triệu tấn thì đến những năm 1988-1990 lượng phân bón này là 52 triệu tấn Sản xuất nông nghiệp tại các nước Bắc Hàn, Nam Hàn, Trung Quốc, Malaysia bình quân sử dụng 125 kg phân bón hoá học/ha (EASCAP, 1995a)
Tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương hiện tại có khoảng 25% trong tổng số diện tích đất dành cho sản xuất nông nghiệp bị xói mòn và nghèo dinh dưỡng như tại: Bangladesh, Brunei Darussalam, Fiji, Ấn Độ, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Nepal, Papua New Guinea, Philippines, Quần đảo Solomon Islands, Sri Lanka, Thái Lan và Việt Nam (Dent và ctv, 1992)
Trang 36ĐTH và công nghiệp hoá cũng còn là một nguyên nhân gây nên tình trạng suy thoái đất, rừng và các hệ động thực vật Tại Trung Quốc, diện tích đất nông nghiệp chỉ còn 16,6% so với tỷ lệ trên thế giới là 27%, đất đai bị xói mòn, mặn hoá, kiềm hoá, ngập úng và khô hạn xảy ra phổ biến; diện tích đất bị xâm thực chiếm tới 38% tổng diện tích đất đai, diện tích hoang mạc hoá và sa mạc hoá ngày càng gia tăng, trung bình khoảng 2.460 km2
/năm (WCMC, 1995) Tại các nước Châu Âu, theo ước đoán có từ 1-3 triệu ha đất bị nhiễm mặn, và các nước vùng Địa Trung Hải bị ảnh hưởng nhiều nhất Sự biến đổi khí hậu toàn cầu càng làm cho tình hình ngày càng tồi tệ hơn (Van-Camp và ctv, 2004)
Đất đai bị axit hoá hay còn gọi là lắng đọng axit trong đất Nguyên nhân này thường liên quan đến các vùng có mức độ công nghiệp hoá cao hoặc sự tập trung khá nhiều các nhà máy công nghiệp Đất bị axit hoá là kết quả của các khí phát thải của các nhà máy công nghiệp (có chứa SO2, CO2 hoặc NO3, chì), hoặc trong quá trình vận chuyển bằng cơ giới, chôn lấp rác thải Sau một khoảng thời gian, các chất độc lắng động và kết hợp với nước hoặc các chất có trong đất hình thành nên axit có nồng độ cao và gây độc cho cây trồng Hơn nữa, lượng axit này sẽ phá huỷ kết cấu đất và giải phóng các kim loại khác như nhôm (Al) và mangan (Mg), 2 hợp chất này gây hại cho cây trồng và làm chua đất ở nồng độ cao (pH đất cao) Theo ước tính, tại Nga có khoảng 5 triệu ha đất canh tác có nồng độ axit cao (UNEP, 2000) và cũng có khoảng 25% diện tích đất canh tác của Ba Lan có hàm lượng axit đất cao với pH < 4.5 (Korytkowsky và Wojewódzki, 1993) Một số nghiên cứu về tài nguyên đất và bảo vệ tài nguyên đất của UNEP đối với Châu Âu cho thấy hàng năm các nước thuộc khu vực này mất khoảng 30 tỷ USD do đất bị lắng đọng axit.[13]
b, Nghiên cứu ở trong nước
- Ở Việt Nam, quá trình CNH được thực hiện từ những năm 1960, kể từ sau đổi mới, nền kinh tế càng phát triển thì quá trình CNH, ĐTH diễn ra càng
Trang 37nhanh Đến nay số dân cư đô thị đã chiếm tới 28% tổng dân cư toàn quốc với khoảng 700 trung tâm đô thị lớn nhỏ Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đến hết tháng 7 năm 2007 cả nước đã có 150 khu công nghiệp được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên 32,3 ngàn ha Việc xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội có vai trò quan trọng trong quá trình CNH và có tác động rõ đến phát triển nông nghiệp và nông thôn như: tạo ra thị trường tiêu thụ nông sản, thúc đẩy nhanh sự chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, tạo cơ hội cho việc ứng dụng các thành tựu trong chọn tạo giống, kỹ thuật canh tác, hình thành các khu nông nghiệp công nghệ cao để tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hóa đáng kể góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Đồng thời, góp phần chuyển đổi nền nông nghiệp truyền thống, thúc đẩy phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng nông nghiệp hàng hóa mạnh, có sức cạnh tranh cao trên thị trường nội địa và xuất khẩu
- Chỉ tính riêng trong vòng 5 năm từ năm 2001 - 2005 diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi để phục vụ cho xây dựng các khu công nghiệp và mở mang đô thị đã tới 336.440 ha, chiếm gần 4% diện tích đất sản xuất nông nghiệp Con số này trong vài năm gần đây tuy chưa có số liệu khảo sát chính thức nhưng chắc chắn còn lớn hơn Việc thu hồi đất chỉ trong 5 năm đó theo khảo sát của Bộ NN&PTNT đã tác động đến đời sống của 627.495 hộ nông dân, 950.000 lao động, trung bình cứ thu hồi 1ha đất nông nghiệp là khiến cho
10 lao động nông thôn mất việc làm Sau khi bị thu hồi, 60% số hộ vẫn chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, 9% số hộ làm dịch vụ, 6% số hộ sinh kế bằng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, còn lại là các ngành nghề khác Đáng chú ý là chỉ có 13% số hộ có thu nhập tăng hơn trước, trong khi có tới 53% số hộ thu nhập giảm so với trước
Trong 3 năm từ 2003 - 2005, Viện QH&TKNN đã tiến hành điều tra chỉnh lý xây dựng bản đồ đất 64 tỉnh/thành thuộc phạm vi cả nước theo một
Trang 38quy trình và khuôn dạng thống nhất về hệ thống phân loại, về độ dốc và địa hình tương đối Riêng các tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc đã được thực hiện trong năm 2004 Tất cả các bản đồ này đều đã được số hóa, biên tập và quản lý dưới dạng cơ sở dữ liệu Kết quả tổng hợp được cho thấy toàn vùng có 11 nhóm đất với 37 loại đất chính Mặc dù chất lượng bản đồ đất
đã được cập nhật và cải thiện đáng kể, nhưng trong điều kiện điều tra bổ sung theo tuyến chưa thể chỉnh lý chi tiết được về mức độ và độ sâu xuất hiện kết von, đá lẫn, mức độ gley, sự biến động về loại đất và tính chất lý hóa học của đất do ảnh hưởng của CNH, ĐTH Vì thế, hạn chế độ chính xác trong việc đề xuất bố trí sử dụng đất cho từng cây trồng ở quy mô cấp huyện cũng như vùng chuyên canh
Nghiên cứu cơ sở khoa học và các giải pháp kinh tế kỹ thuật nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn ven đô thành phố Hà Nội, Lê Quốc Doanh cho rằng quá trình ĐTH vừa tạo ra những ảnh hưởng tích cực cho nông nghiệp vừa có những ảnh hưởng tiêu cực Tích cực là vì nó tạo ra thị trường tiêu thụ sản phẩm, thu hút lao động dư thừa từ nông nghiệp Tiêu cực là gia tăng ô nhiễm, ngập úng, mất đất nông nghiệp, không gian nông thôn bị phá vỡ Lợi thế của nông nghiệp đô thị so với những vùng nông nghiệp khác không chỉ là điều kiện tự nhiên, đất đai, khí hậu mà là khoảng cách với thị trường Khai thác lợi thế này, nông nghiệp Hà Nội đang hướng đến việc sản xuất các sản phẩm tươi sống và có khối lượng lớn Nông nghiệp đô thị Hà Nội đang phát triển hình thành các vành đai nông nghiệp khác nhau, được phân biệt bởi các mức độ đa dạng, khả năng thâm canh, khả năng thích ứng với những điều kiện mới của quá trình ĐTH ở mỗi vùng
* Về môi trường đất nông nghiệp
Theo Phạm Ngọc Đăng, việc mở rộng không gian đô thị và các khu công nghiệp sẽ dẫn đến chiếm dụng đất nông nghiệp, ảnh hưởng đến vấn đề
Trang 39an toàn lương thực quốc gia nói chung và ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân ngoại thành nói riêng như: mất đất, mất kế sinh nhai, các ảnh hưởng này
có tính lâu dài và phức tạp ĐTH dẫn đến tài nguyên đất bị khai thác triệt để,
tỷ lệ diện tích cây xanh và mặt nước trong đô thị bị giảm, gây nên ngập úng cục bộ ở nội thành cũng như ngoại thành Sản xuất công nghiệp tăng trưởng, phát sinh nhiều chất thải gây ô nhiễm môi trường nước, đất, không khí và chất thải rắn ngày càng tăng thêm ĐTH cũng làm tăng dòng người di dân từ nông thôn ra thành thị làm tăng sức ép về nhà ở và vệ sinh môi trường đô thị
Tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, do ảnh hưởng của chính sách thu hút đầu tư và mở cửa nền kinh tế, vấn đề ĐTH và CNH phát triển mạnh
mẽ từ những năm đầu thập kỷ 90, khi mà lần đầu tiên có sự đầu tư của nước ngoài vào lĩnh vực công nghiệp với quy mô lớn tại TPHCM, đó là sự ra đời của khu chế xuất Tân Thuận (1991) và khu chế xuất Linh Trung (1993), sau
đó bắt đầu tăng tốc khoảng năm 1996 với sự hình thành hàng loạt các KCN ở TPHCM và mở rộng ra các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương và Bà Rịa Vũng Tàu Đến năm 2000 vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đã có 33 khu công nghiệp và khu chế xuất được cấp phép thành lập với tổng diện tích 7.106ha, trong đó diện tích đất công nghiệp gần 4.800ha Ngoài ra, còn hàng trăm cơ sở sản xuất được cấp phép đầu tư mới, nằm phân bố rải rác trong vùng Điều này đã làm trầm trọng thêm những vấn đề hết sức nan giải trước đó về tình trạng đông dân, ô nhiễm nước và không khí, chất thải rắn, ùn tắc giao thông và nhiều vấn
đề xã hội khác Đất đai bị thu hẹp, tài nguyên bị khai thác triệt để hơn và
không tránh khỏi nguy cơ bị cạn kiệt
Để bảo vệ môi trường trong quá trình CNH, ĐTH tại TPHCM và vùng phụ cận, Lâm Minh Triết đã đề xuất nhóm các giải pháp tổng thể, trong đó tập trung vào 7 vấn đề lớn là: (1) Quy hoạch và bố trí hợp lý các KCN, kết hợp di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm, (2) Tiến hành đánh giá tác động môi
Trang 40trường cho các dự án phát triển kinh tế - xã hội, (3) Thành lập ủy ban quản lý nguồn nước sông Sài Gòn, Đồng Nai; (4) Xây dựng tiêu chuẩn nước thải; Xây dựng quy chế bảo vệ môi trường cho các khu công nghiệp, khu chế xuất; (6) Xây dựng quy chế bảo vệ môi trường cho các khu dân cư đô thị, nông thôn và (7) Xây dựng hệ thống thông tin môi trường trong toàn vùng
Nghiên cứu về hiện trạng môi trường các làng nghề Việt Nam, Đặng Kim Chi cho rằng 100% làng nghề chế biến nông sản thực phẩm bị ô nhiễm nặng, các làng nghề gia công kim loại có kim loại nặng vượt tiêu chuẩn cho phép từ 2,5 - 9 lần, các làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng, gốm sứ gây ô nhiễm không khí nặng Nguyên nhân là do các làng nghề có quy mô nhỏ hộ gia đình, công nghệ lạc hậu, thủ công, thiếu đồng bộ do hạn chế về vốn đầu tư và trình độ kỹ thuật
Các kết quả nghiên cứu của Lê Đức, Lê Văn Khoa cho thấy: trong 21 mẫu đất phân tích ở khoảng cách dưới 30m của làng nghề tái chế chì xã Chỉ Đạo huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên đều có hàm lượng chì lớn hơn 100 ppm, vượt quá tiêu chuẩn cho phép từ 3 - 48 lần Hàm lượng đồng 24 mẫu phân tích ở khoảng cách dưới 300m của làng nghề tái chế đồng xã Đại Đồng huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên đều vượt quá tiêu chuẩn từ 1,6 - 6,2 lần Môi trường đất, nước, không khí bị ô nhiễm đã ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng dân cư, tác động xấu đến cây trồng vật nuôi, làm tăng sự tích lũy các kim loại nặng trong sản phẩm, ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng
Các nghiên cứu của Phạm Bình Quyền, Nguyễn Xuân Thành và bộ môn Thổ nhưỡng trường Đại học Khoa học Tự nhiên cũng cho thấy đất đai xung quanh các khu công nghiệp Văn Điển, Hanel - Sài Đồng, hóa chất Đức Giang bị ô nhiễm kim loại nặng vượt quá tiêu chuẩn cho phép do ảnh hưởng của các chất thải công nghiệp, đô thị Việc ô nhiễm môi trường đất gây ra do sử dụng thuốc bảo vệ thực vật quá mức tại các vùng nông nghiệp thâm canh cao cũng đã trở thành vấn đề được quan tâm