ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM VŨ XUÂN QUỲNH DẠY HỌC VỀ NGHĨA CỦA TỪ CHO HỌC SINH LỚP 6 THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học Văn và Tiếng
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
VŨ XUÂN QUỲNH
DẠY HỌC VỀ NGHĨA CỦA TỪ CHO HỌC SINH
LỚP 6 THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - NĂM 2010
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
VŨ XUÂN QUỲNH
DẠY HỌC VỀ NGHĨA CỦA TỪ CHO HỌC SINH
LỚP 6 THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP
Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học Văn và Tiếng Việt
Mã số: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Lê A
THÁI NGUYÊN - NĂM 2010
Trang 3MỤC LỤC
Phần mở đầu
Trang
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3 Lịch sử vấn đề 3
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 5
5 Giả thuyết khoa học 6
6 Phương pháp nghiên cứu 6
7 Cấu trúc luận văn 8
Phần nội dung Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của dạy học về nghĩa của từ cho học sinh lớp 6 theo quan điểm giao tiếp 10
1.1 Nghĩa của từ trong hệ thống ngôn ngữ và trong hoạt động giao tiếp 10
1.1.1 Nghĩa của từ trong hệ thống ngôn ngữ 10
1.1.1.1 Nghĩa biểu vật 11
1.1.1.2 Nghĩa biểu niệm 12
1.1.1.3 Nghĩa biểu cảm 14
1.1.1.4 Nghĩa ngữ pháp 15
1.1.2 Nghĩa của từ trong hoạt động giao tiếp 16
1.1.2.1 Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ 16
1.1.2.2 Sự hiện thực hoá nghĩa của từ trong giao tiếp 20
1.1.2.3 Sự biến đổi nghĩa của từ trong giao tiếp 24
1.2 Dạy học tiếng Việt và dạy học nghĩa của từ theo quan điểm giao tiếp 27
1.2.1 Dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp 27
1.2.1.1 Mục tiêu dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp 28
1.2.1.2 Nội dung dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp 28
Trang 41.2.1.3 Phương pháp, hình thức dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp 29
1.2.1.4 Kiểm tra, đánh giá theo quan điểm giao tiếp 32 1.2.2 Dạy học nghĩa của từ theo quan điểm giao tiếp 33 1.3 Thực trạng dạy học về nghĩa của từ cho học sinh lớp 6 theo quan điểm giao tiếp 35
1.3.1 Về chương trình và sách giáo khoa 36 1.3.2 Về dạy và học nghĩa của từ đối với học sinh lớp 6 ở các trường THCS hiện nay 38
Chương 2 Tổ chức dạy học về nghĩa của từ cho học sinh lớp 6 theo quan điểm giao tiếp 42
2.1 Xác định mục tiêu dạy học về nghĩa của từ cho học sinh lớp 6 theo quan điểm giao tiếp 42
2.1.1 Cơ sở để xác định mục tiêu dạy học về nghĩa của từ cho học sinh lớp 6 theo quan điểm giao tiếp 42
2.1.2 Mục tiêu cần đạt của dạy học về nghĩa của từ cho học sinh lớp 6 theo quan điểm giao tiếp 43
2.2 Xác định nội dung dạy học về nghĩa của từ cho học sinh lớp 6 theo quan điểm giao tiếp 45
2.3 Lựa chọn phương pháp và hình thức dạy học về nghĩa của từ cho học sinh lớp 6 theo quan điểm giao tiếp 47
2.3.1 Tổ chức dạy học lý thuyết về nghĩa của từ cho học sinh lớp 6 theo quan điểm giao tiếp 47
2.3.1.1 Sử dụng một số phương pháp trong dạy học lý thuyết về nghĩa của từ cho học sinh lớp 6 theo quan điểm giao tiếp 48
2.3.1.2 Sử dụng một số phương tiện trong dạy học lý thuyết về nghĩa của từ cho học sinh lớp 6 theo quan điểm giao tiếp 56
Trang 52.3.2 Tổ chức luyện tập về nghĩa của từ cho học sinh lớp 6 theo quan
điểm giao tiếp 59
2.3.2.1 Sử dụng bài tập như một phương tiện để luyện tập về nghĩa của từ cho học sinh lớp 6 theo quan điểm giao tiếp 60
2.3.2.2 Lựa chọn hình thức tổ chức luyện tập về nghĩa của từ cho học sinh lớp 6 theo quan điểm giao tiếp 72
2.4 Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập về nghĩa của từ của học sinh lớp 6 theo quan điểm giao tiếp 77
2.4.1 Mục đích kiểm tra, đánh giá 77
2.4.2 Nội dung kiểm tra, đánh giá 77
2.4.3 Hình thức kiểm tra, đánh giá 78
2.4.4 Xử lý kết quả kiểm tra, đánh giá 79
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm 80
3.1 Mục đích của thực nghiệm 80
3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 80
3.3 Phương pháp thực nghiệm 83
3.4 Nội dung thực nghiệm 84
3.5 Đánh giá kết quả thực nghiệm 99
3.6 Kết luận chung về thực nghiệm 102
Phần kết luận 104
Thư mục tài liệu tham khảo 108
Phụ lục 112
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1 Sống trong xã hội, con người luôn luôn cần giao tiếp với nhau Đó
là một nhu cầu tất yếu Mỗi chúng ta không ai có thể sống cô độc, lẻ loi một mình mà không cần sự giao tiếp với người khác Trong các phương tiện giao tiếp thì ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người Trong hệ thống ngôn ngữ, từ là một trong số các đơn vị cơ bản nhất Nó ở vào
vị trí trung tâm của hệ thống ngôn ngữ Từ là cơ sở để con người có thể tiến hành hoạt động nhận thức và tạo ra mọi sản phẩm ngôn ngữ phục vụ cho nhu cầu giao tiếp của con người Hoạt động nhận thức và giao tiếp của con người chính là bắt đầu từ đơn vị cơ sở là từ
Với vai trò và chức năng quan trọng như đã nói ở trên, đã từ lâu, từ rất được chú ý quan tâm trong nghiên cứu và giảng dạy, học tập Chính vì vậy, trong hệ thống các môn học ở nhà trường phổ thông, phân môn tiếng Việt trong môn Ngữ văn thuộc một trong số không nhiều môn học vào loại quan trọng nhất
1.2 Mục đích của dạy học Ngữ văn nói chung và dạy học tiếng Việt
nói riêng là tạo lập, hoàn thiện và nâng cao năng lực giao tiếp bằng tiếng Việt cho học sinh (HS) Trong nội dung dạy học từ vựng ở nhà trường phổ thông, dạy học nghĩa của từ là quan trọng nhất Bởi lẽ nó phải giúp cho HS có năng lực thực hành và năng lực sử dụng tiếng Việt như một công cụ để tư duy và giao tiếp Năng lực sử dụng từ tiếng Việt của HS chủ yếu là việc hiểu nghĩa,
sử dụng nghĩa và chọn nghĩa để giao tiếp trong nhà trường cũng như ngoài xã hội Do đó việc hiểu và nắm chắc được nghĩa của từ có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng
Trong giao tiếp, nếu không nắm được nghĩa của từ, người tiếp nhận sẽ không hiểu hết, thậm chí hiểu sai lệch ý của người phát Còn bản thân người
Trang 7phát thì lại khó làm cho người nhận hiểu được ý của mình Cùng với những non yếu về ngữ pháp, những non yếu trong việc hiểu biết và sử dụng từ ngữ, đặc biệt là việc hiểu nghĩa của từ làm cho việc giao tiếp gặp nhiều khó khăn
và không đạt hiệu quả Điều đó chứng tỏ rằng để phát huy chức năng làm công cụ giao tiếp của ngôn ngữ chúng ta nhất thiết phải hiểu được nghĩa của
từ, có khả năng huy động và sử dụng từ đúng nghĩa Và dạy từ là một nhiệm
vụ quan trọng trong chương trình giáo dục ở nhà trường phổ thông
1.3 Một trong những nguyên tắc cơ bản của dạy ngôn ngữ nói chung
và dạy học tiếng Việt nói riêng là dạy trong giao tiếp và hướng tới mục tiêu trau dồi cho học sinh năng lực hoạt động giao tiếp Đã từ lâu, dạy tiếng Việt hướng vào giao tiếp - hướng lý thuyết tiếng Việt vào hoạt động hành chức của
nó là vấn đề rất được các nhà nghiên cứu, các cán bộ chỉ đạo chuyên môn của ngành cùng đông đảo các thầy cô giáo quan tâm
Các bài về nghĩa của từ trong sách giáo khoa (SGK) Ngữ văn 6 được biên soạn theo hướng tích hợp và tích cực nhằm phát huy cao độ tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh Đây là một quan điểm dạy học mới, hiện đại
và thực tế đã đem lại những kết quả tốt Tuy nhiên đây là một hướng dạy học còn mới mẻ đối với một bộ phận giáo viên (GV) bậc trung học cơ sở (THCS) Hơn nữa giáo viên cũng chưa nắm rõ được một số đặc trưng quan trọng của phân môn Tiếng Việt trong nhà trường Việc hiểu nghĩa của từ và khả năng vận dụng từ ngữ vào thực tế của nhiều giáo viên cũng chưa chính xác Phần lớn giáo viên còn rất lúng túng khi phải giải thích nghĩa của từ cho học sinh
Bên cạnh đó, việc giảng dạy phần tiếng Việt nói chung và dạy học về nghĩa của từ nói riêng trong các nhà trường THCS hiện nay còn khô khan, đơn điệu, ít hấp dẫn, HS rất ít hứng thú trong học tập, thậm chí còn gây nên những tâm lí nhàm chán, nặng nề cho học sinh Do đó, các kỹ năng sử dụng, thực hành tiếng Việt ở học sinh còn chưa đạt được kết quả như mong muốn
Trang 8Rất nhiều học sinh dù đã tốt nghiệp THCS mà vẫn đọc, nghe, đặc biệt là nói
và viết tiếng Việt còn quá yếu Chính vì vậy mà việc giảng dạy tiếng Việt trong các nhà trường THCS có chất lượng không cao, chưa đạt được những mục tiêu đề ra
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài:
“Dạy học về nghĩa của từ cho học sinh lớp 6 theo quan điểm giao tiếp”
Chúng tôi hy vọng rằng những kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần giải quyết những hạn chế và khó khăn đang đặt ra trong việc dạy học về nghĩa của
từ cho học sinh lớp 6 hiện nay
2 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Quá trình tổ chức dạy học về nghĩa của từ cho học sinh lớp 6 theo quan điểm giao tiếp
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Quá trình tổ chức dạy học về nghĩa của từ cho học sinh bao gồm nhiều yếu tố nhưng chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu việc lựa chọn mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức dạy học các bài về nghĩa của từ có trong SGK Ngữ văn 6
3 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Tiếng mẹ đẻ có vai trò cực kỳ quan trọng trong đời sống cộng đồng và trong cuộc sống của mỗi con người, bởi đó là công cụ để tư duy và giao tiếp Dạy trẻ em sử dụng tiếng mẹ đẻ làm công cụ để tư duy và giao tiếp là mục tiêu môn học tiếng mẹ đẻ của nhiều nước trên thế giới Chính vì vậy đã có rất nhiều những định hướng, quy định, những công trình nghiên cứu quan trọng
về vấn đề dạy tiếng mẹ đẻ trong các nhà trường ở các nước, nhưng nổi bật hơn cả là dạy học theo quan điểm giao tiếp
Trang 93.1 Về quan điểm giao tiếp trong dạy học tiếng Việt
Ở Việt Nam đã từ lâu, dạy tiếng Việt hướng vào giao tiếp - hướng lý thuyết tiếng Việt vào hoạt động hành chức của nó là vấn đề rất được các nhà nghiên cứu, các cán bộ chỉ đạo chuyên môn của ngành quan tâm Đã có nhiều chuyên luận, công trình nghiên cứu về vấn đề dạy học tiếng Việt theo quan
điểm giao tiếp, tiêu biểu như: “Phương pháp dạy học tiếng Việt” [1]; “Hoạt
động giao tiếp với dạy học tiếng Việt ở tiểu học” [13]; “Một số vấn đề dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp ở tiểu học” [47]
Ngoài ra, còn một số bài viết đăng trên các báo và tạp chí cũng đề cập
đến quan điểm giao tiếp trong dạy học tiếng Việt như: “Dạy tiếng Việt là dạy
một hoạt động và bằng hoạt động” [2]; “Về quan điểm giao tiếp trong dạy học tiếng Việt” [41] v.v
Mặc dù mỗi công trình nghiên cứu, mỗi bài viết kể trên bàn đến các góc
độ khác nhau của vấn đề dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp nhưng nhìn chung các tác giả đều khẳng định vai trò quan trọng và tính tất yếu của quan điểm dạy học theo định hướng giao tiếp Việc dạy học tiếng Việt cần thấm nhuần quan điểm giao tiếp, bởi giao tiếp vừa là mục đích, lại cũng vừa
là phương thức để dạy học tiếng Việt Phương pháp giao tiếp là phương pháp chủ yếu để phát triển lời nói cho học sinh, phải chú trọng cả vào bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, phải hướng tới sự giao tiếp và sử dụng phương pháp giao tiếp Trong quá trình dạy học tiếng Việt phải tạo ra cho học sinh nhu cầu cần diễn đạt, nhu cầu giao tiếp nhất định (tức là tạo ra các chủ đề) để học sinh vận dụng từ ngữ, câu đã học vào hoạt động giao tiếp Trên thực tế, chương trình của phần Tiếng Việt trong môn Ngữ văn ở phổ thông hiện nay đã được xây dựng theo quan điểm giao tiếp, thể hiện sinh động việc tổ chức dạy học tiếng Việt theo định hướng giao tiếp
Trang 103.2 Về quan điểm giao tiếp trong dạy học về từ và nghĩa của từ
Dạy học về từ và nghĩa của từ theo định hướng giao tiếp không phải là một vấn đề mới, đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề này như
các cuốn: “Rèn luyện ngôn ngữ” [45]; “Mấy vấn đề lý luận và phương pháp
dạy - học từ ngữ tiếng Việt trong nhà trường” [43]; “Từ vựng học tiếng Việt”
[10] Và đặc biệt là cuốn “Phương pháp dạy học tiếng Việt” [1] Các tác giả
trong các cuốn sách này đã đưa ra những phương pháp dạy học cụ thể cho mỗi hợp phần tiếng Việt trong chương trình phổ thông, trong đó có phương pháp dạy học từ ngữ mà trọng tâm là dạy học về nghĩa của từ
Như vậy, đã có nhiều chuyên luận, công trình nghiên cứu hoặc các bài viết về vấn đề dạy học tiếng Việt nói chung và dạy học về từ và nghĩa của từ nói riêng theo quan điểm giao tiếp Đó là những cơ sở, những định hướng quan trọng có tính chất mở đường để chúng tôi thực hiện đề tài một cách cụ thể, hiệu quả hơn
Các bài về nghĩa của từ ở lớp 6 là phần kiến thức có một vị trí quan trọng Để phát huy chức năng làm công cụ giao tiếp của ngôn ngữ, chúng ta nhất thiết phải hiểu được từ, có khả năng huy động và sử dụng từ đúng nghĩa Tuy nhiên cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu hoặc chuyên luận nào
về dạy học nghĩa của từ ở lớp 6 theo quan điểm giao tiếp, vì vậy thực hiện đề
tài “Dạy học về nghĩa của từ cho học sinh lớp 6 theo quan điểm giao tiếp” là
nhằm cụ thể hoá các phương pháp, biện pháp, hình thức dạy học với mong muốn nâng cao hiệu quả giảng dạy phần Tiếng Việt nói riêng và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh nói chung
4 MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
4.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở xây dựng cơ sở lý luận và tìm hiểu thực trạng của việc dạy học về nghĩa của từ cho học sinh lớp 6 hiện nay, luận văn sẽ đề xuất phương
Trang 11hướng và giải pháp dạy học các bài về nghĩa của từ cho học sinh lớp 6 theo quan điểm giao tiếp nhằm nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.2.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc tổ chức dạy học các bài về nghĩa của từ cho học sinh lớp 6 Đánh giá thực trạng dạy và học các bài về nghĩa của từ hiện nay
4.2.2 Đề xuất những nội dung, phương pháp và hình thức dạy học có tính chất thực thi, có hiệu quả cho dạy học nhóm bài này ở lớp 6
4.2.3 Tổ chức thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra đánh giá khả năng thực thi, hiệu quả của việc dạy học về nghĩa của từ ở lớp 6 theo quan điểm
giao tiếp mà luận văn đề xuất
5 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu tổ chức dạy học về nghĩa của từ cho học sinh lớp 6 theo quan điểm giao tiếp, nghĩa là phải đặt quá trình tổ chức dạy học vào giao tiếp, thông qua các hoạt động giao tiếp cụ thể của học sinh nhằm hướng tới hình thành, phát triển năng lực sử dụng từ trong giao tiếp cho học sinh bằng những phương pháp, biện pháp và hình thức phong phú, thích hợp thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả các tiết dạy về nghĩa của từ nói riêng và phần Tiếng Việt nói chung
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Tìm hiểu lịch sử vấn đề nghiên cứu, khai thác các khía cạnh mà các công trình trước đó đã tiến hành làm cơ sở để tiến hành quá trình nghiên cứu tiếp theo của mình
Trang 126.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp này nhằm tìm hiểu thực trạng dạy học về nghĩa của từ cho học sinh lớp 6 ở một số trường THCS hiện nay Để thực hiện phương pháp này chúng tôi tiến hành điều tra, khảo sát cụ thể như sau:
- Điều tra chất lượng dạy học các bài về nghĩa của từ ở lớp 6
- Khả năng hiểu và năng lực sử dụng từ ngữ của học sinh trong hoạt động giao tiếp
- Năng lực tổ chức hoạt động dạy học các bài về nghĩa của từ ở lớp 6 của giáo viên
Dựa trên kết quả khảo sát, chúng tôi đề xuất phương pháp, hình thức tổ chức dạy học về nghĩa của từ cho học sinh lớp 6 theo quan điểm giao tiếp
6.3 Phương pháp phân tích - tổng hợp, khái quát hoá, hệ thống hoá
Đây là phương pháp được dùng để phân tích - tổng hợp, khái quát hoá,
hệ thống hoá các quan điểm, luận điểm khoa học trong các tài liệu thuộc các ngành khoa học có liên quan để xác lập cơ sở khoa học cho việc tổ chức dạy học về nghĩa của từ cho học sinh lớp 6 theo quan điểm giao tiếp
6.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Phương pháp này được dùng để xem xét, xác nhận tính đúng đắn, hợp
lý và tính khả thi của việc dạy học về nghĩa của từ cho học sinh lớp 6 theo quan điểm giao tiếp mà luận văn đề xuất Phương tiện chủ yếu để trắc nghiệm
là các phiếu điều tra với nội dung và hình thức khác nhau, hướng tới đích điều tra về trình độ tư duy, kết quả học tập của học sinh
Các loại thực nghiệm sư phạm cơ bản được sử dụng trong luận văn là:
- Thực nghiệm thăm dò: nhằm tìm hiểu khả năng và kết quả thực hiện các tiết dạy học về nghĩa của từ cho học sinh lớp 6
- Thực nghiệm đối chứng: được sử dụng để kiểm tra các giả thuyết của
đề tài
Trang 13- Thực nghiệm kiểm tra, đánh giá: nhằm kiểm tra, đánh giá việc vận dụng các thiết kế mà luận văn đưa ra vào các bài dạy, tiết dạy cụ thể
Tổ chức dạy thực nghiệm nhằm xác định tính hiệu quả, tính khả thi của việc tổ chức dạy học về nghĩa của từ cho học sinh lớp 6 theo quan điểm giao tiếp Tiến hành thực nghiệm ở một số lớp 6 của một số trường THCS thuộc hai tỉnh Tuyên Quang và Yên Bái Kết quả thực nghiệm sẽ là cơ sở để xác định mô hình thiết kế hiệu quả nhất cho giờ dạy học về nghĩa của từ cho học sinh lớp 6 ở các trường THCS hiện nay
7 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của dạy học về nghĩa của từ cho học sinh lớp 6 theo quan điểm giao tiếp
Trong chương này, chúng tôi trình bày những cơ sở lý luận và thực tiễn của dạy học về nghĩa của từ cho học sinh lớp 6 theo quan điểm giao tiếp Cụ thể là: Nghĩa của từ trong hệ thống ngôn ngữ và trong hoạt động giao tiếp Dạy học tiếng Việt và dạy học nghĩa của từ theo quan điểm giao tiếp Tìm hiểu thực trạng dạy học về nghĩa của từ cho học sinh lớp 6 theo quan điểm giao tiếp ở các trường THCS hiện nay Những cơ sở lý luận và thực tiễn này
sẽ giúp cho chúng tôi đề xuất và triển khai những giải pháp dạy học các bài về nghĩa của từ cho học sinh lớp 6 theo quan điểm giao tiếp
Chương 2 Tổ chức dạy học về nghĩa của từ cho học sinh lớp 6 theo quan điểm giao tiếp
Với chương này chúng tôi tập trung trình bày mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức dạy học về nghĩa của từ cho học sinh lớp 6 theo quan điểm giao tiếp và việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập về nghĩa của từ cho
Trang 14học sinh Từ đó góp phần nâng cao năng lực sử dụng từ ngữ của học sinh trong học văn, hành văn và trong hoạt động giao tiếp
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Chương này nêu rõ mục đích của thực nghiệm, đối tượng, địa bàn thực nghiệm và phương pháp, nội dung thực nghiệm, miêu tả toàn bộ quá trình thực nghiệm Kết quả thực nghiệm sẽ chứng minh cho tính khả thi của đề tài
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC VỀ NGHĨA CỦA
TỪ CHO HỌC SINH LỚP 6 THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP
1.1 NGHĨA CỦA TỪ TRONG HỆ THỐNG NGÔN NGỮ VÀ TRONG HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP
1.1.1 Nghĩa của từ trong hệ thống ngôn ngữ
Nghĩa của từ là một trong những khái niệm quan trọng nhất của ngôn ngữ học Nghĩa của từ là một vấn đề phức tạp, không thể nhận diện và hiểu nó một cách dễ dàng Vì thế đã có nhiều cách giải thích khác nhau về khái niệm nghĩa của từ “Nghĩa của từ chẳng qua là một sự liên tưởng” (A.A Leont‟ev)
“Nghĩa của từ về phương diện tâm lí mà chúng ta cần ( ) là thuộc tính thiên hướng của kí hiệu mà với thuộc tính thiên hướng đó các quá trình tâm lí diễn
ra ở người nghe là phản ứng được thay đổi phụ thuộc vào các hoàn cảnh đi kèm, còn kích thích là sự tri giác kí hiệu bằng thính giác.” (Ch Stevenson);
“Nghĩa của từ là cái xuất hiện (hay được gợi lên) trong trí óc mọi người khi nghe thấy (hoặc đọc) từ ấy [43, tr.120]; “Nghĩa của từ là toàn bộ nội dung tinh thần mà một từ (hay một ngữ cố định) gợi ra khi chúng ta tiếp xúc với từ
đó [10, tr.93]; Nghĩa của từ là nội dung (sự vật, tính chất, hoạt động, quan hệ,
) mà từ biểu thị [32, tr.35]
Từ nào cũng có nghĩa Nếu chỉ có hình thức âm thanh mà không có
nghĩa thì đó không phải là từ Nghĩa và hình thức âm thanh là hai mặt không thể thiếu của từ Nghĩa của từ là sự kết hợp chặt chẽ giữa nghĩa từ vựng và nghĩa ngữ pháp Nghĩa từ vựng là ý nghĩa cụ thể riêng cho từng từ, chỉ ra nội dung cụ thể của một từ này với từ khác Ý nghĩa ngữ pháp là ý nghĩa chung cho từng loại từ, có hình thức biểu thị nhất định, nó ứng với chức năng ngữ pháp của từ Theo nhà nghiên cứu Đỗ Hữu Châu, ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp được phân biệt bởi hai tiêu chí: Tính đồng loạt và tính bắt buộc của
Trang 16ngoại biểu Ý nghĩa ngữ pháp có tính đồng loạt chung cho từng từ cùng loại; ý nghĩa từ vựng có tính đồng loạt riêng cho từng từ
Hai loại nghĩa từ vựng và nghĩa ngữ pháp gắn bó thành một chỉnh thể
Ý nghĩa ngữ pháp có chức năng tổ chức câu, nhờ chúng mà các từ liên kết lại thành thông điệp Ý nghĩa từ vựng có chức năng đưa chính hiểu biết về sự vật, hiện tượng thành các đơn vị ngữ nghĩa để tạo ra nội dung miêu tả cụ thể của câu Ý nghĩa từ vựng của từ bao gồm các thành phần ý nghĩa cơ bản sau:
1.1.1.1 Nghĩa biểu vật
Nghĩa biểu vật là nghĩa ứng với sự vật, hiện tượng, trạng thái, tính chất
mà từ gọi tên, biểu thị Chẳng hạn, nghĩa biểu vật của từ “thóc” là tất cả những hạt thóc mà chúng ta thấy, của từ “bàn” là tất cả những cái bàn có trong thực tế Nghĩa biểu vật của từ “đi” là tất cả vận động rời chỗ của người, động vật Nghĩa biểu vật của từ “đỏ” là tất cả các màu sắc của máu, của hoa, của lá cờ mà chúng ta nhìn thấy
Nghĩa biểu vật quy định phạm vi sự vật mà từ dùng để biểu hiện Có những từ chỉ có nghĩa biểu vật hẹp, chỉ ứng với một sự vật, hiện tượng duy nhất trong thực tế Chẳng hạn, nghĩa biểu vật của từ “sủa” là các loài chó Nghĩa biểu vật của các từ “tư duy”, “nghĩ”, “kết luận”, “chán nản”, “bi quan”
là hoạt động, trạng thái tâm lí của con người Nhưng có những từ lại có tính khái quát lớn bao hàm một phạm vi sự vật to lớn Ví dụ, nghĩa biểu vật của từ
“chỗ” là chỉ mọi nơi, mọi chốn; nghĩa biểu vật của từ “cánh” là tất cả những cái cánh, từ cánh của chim, của chuồn chuồn, của bướm cho đến cánh của quạt, của máy bay Có những từ có nhiều nghĩa biểu vật, tức là từ đó ứng với nhiều loại sự vật, hiện tượng, trạng thái, tính chất Ví dụ, từ “đầu” của tiếng Việt trước hết có nghĩa biểu vật: chỉ bộ phận của cơ thể người hoặc động vật (bộ phận ở trên cùng hay trước hết của cơ thể, thường chứa bộ não có chức năng điều khiển cơ thể) Từ “đầu” còn có các nghĩa biểu vật khác: chỉ bộ phận
Trang 17trước hết có chức năng điều khiển của vật (đầu máy, đầu tầu hoả ), chỉ bộ phận ở vị trí trước hết của vật thể (đầu nhà, đầu bàn, đầu ngón tay ), chỉ vị trí trước hết trong không gian (đầu làng, đầu sông, đầu chợ ), hoặc trong thời gian (đầu tháng, đầu mùa, đầu năm ) Như vậy, một từ có thể có nhiều nghĩa biểu vật
Nghĩa biểu vật là thành phần nghĩa giúp chúng ta hiểu từ một cách chính xác Tuy nhiên cần tránh việc hiểu lầm, cho rằng “ý nghĩa biểu vật trùng hoàn toàn với sự vật, hiện tượng, tính chất trong thực tế khách quan.” [9, tr.105] Để hiểu từ, việc nắm được các ý nghĩa biểu vật của nó là bước đầu cần thiết Tuy nhiên, không nên nghĩ một cách quá đơn giản về chúng: không phải cứ nắm được sự vật, hiện tượng là nắm được ý nghĩa biểu vật Ý nghĩa biểu vật tuy bắt nguồn từ sự vật, hiện tượng khách quan, song do chịu sự tác động qua lại của các từ khác, do chịu sự khái quát hoá và chịu tác động của những quy tắc cấu tạo từ, cho nên trở thành sự kiện ngôn ngữ chứ không còn
là những sự kiện ngoài ngôn ngữ nữa
1.1.1.2 Nghĩa biểu niệm
Nghĩa biểu niệm là thành phần nghĩa có quan hệ tới các khái niệm trong nhận thức của con người Con người nhận thức về sự vật, hiện tượng và phân chia ra các thuộc tính của nó Các thuộc tính đó tập hợp lại thành các khái niệm, mỗi khái niệm bao gồm một số thuộc tính Khi khái niệm được biểu hiện bằng từ thì các thuộc tính đó trở thành các nét nghĩa của từ Vì thế, nghĩa biểu niệm của từ là một cấu trúc bao gồm nhiều nét nghĩa Mỗi nét nghĩa như thế có mặt trong nghĩa biểu niệm của nhiều từ Ví dụ, nét nghĩa “đồ
dùng” là chung cho các từ bàn, ghế, giường, tủ , nét nghĩa “dụng cụ” là chung cho các từ búa, kìm, dao, cưa, đục, giũa Ngoài ra còn có các nét
nghĩa riêng cho từng từ Ví dụ, nét nghĩa “hai bàn chân không đồng thời nhấc khỏi mặt đất” chỉ gặp trong từ “đi”; nét nghĩa “không gây tác hại sinh lí đối
Trang 18với cơ thể con người” chỉ gặp trong từ “lành” Đó là các nét nghĩa riêng cho từng từ “đi” và “lành” Tính chất “chung”, “riêng” của các nét nghĩa chỉ là tương đối Có tính chất chung rộng, có tính chất chung hẹp Nghĩa là có những nét nghĩa chung cho rất nhiều từ, đồng thời cũng có những nét nghĩa chung cho một số từ ít hơn
Trong cấu trúc nghĩa biểu niệm, các nét nghĩa còn khác nhau ở tính chất khái quát và cụ thể Nét nghĩa khái quát thường là nét nghĩa có mặt ở nhiều từ Hay nói cách khác, một nét nghĩa được coi là khái quát khi nó có thể được phân chia thành những nét nghĩa nhỏ hơn nằm trong nó Tuy nhiên, tính chất khái quát, cụ thể cũng là tương đối: nét nghĩa này so với nét nghĩa bao trùm nó là một nét nghĩa cụ thể, nhưng so với những nét nghĩa hẹp hơn do nó phân hoá ra thì lại là nét nghĩa khái quát Chẳng hạn: nét nghĩa “đồ dùng” so với nét nghĩa “vật thể nhân tạo” là một nét nghĩa cụ thể, nhưng so với nét nghĩa “đồ dùng để đặt ”, “đồ dùng để nằm ” lại là một nét nghĩa khái quát Cũng như thế, nét nghĩa “dời chỗ” là một nét nghĩa cụ thể so với nét nghĩa
“hoạt động”, nhưng lại là khái quát so với nét nghĩa “dời chỗ bằng chân”,
“dời chỗ trong nước”, “dời chỗ trong không khí”
Một từ cũng có thể có nhiều nghĩa biểu niệm nếu nó ứng với nhiều cấu trúc biểu niệm Ví dụ, từ “chạy” có các nghĩa biểu niệm khác nhau như sau:
- chạy: hoạt động, tự dời chỗ, bằng chân, của người hay động vật, ở
trên mặt đất, với tốc độ cao (mỗi nét nghĩa được tách ra bằng dấu phẩy)
- chạy: hoạt động, dời chỗ một vật khác, với tốc độ cao
- chạy: hoạt động tìm kiếm người hay vật cần thiết, một cách khẩn
trương, vất vả
- chạy: hoạt động trốn tránh điều nguy hiểm, một cách khẩn trương
Tập hợp một số nét nghĩa thành ý nghĩa biểu niệm là một tập hợp có quy tắc, giữa các nét nghĩa có những quan hệ nhất định Để phát hiện ra các
Trang 19nét nghĩa cần phải tìm ra những nét nghĩa chung, đồng nhất trong nhiều từ rồi lại đối lập những từ có nét nghĩa chung đó với nhau để tìm ra những nét nghĩa
cụ thể hơn, cứ như vậy cho đến khi gặp những nét nghĩa chỉ có riêng trong một từ
1.1.1.3 Nghĩa biểu cảm
Nghĩa biểu cảm (hay còn gọi là nghĩa tình thái hay nghĩa biểu thái) là thành phần nghĩa biểu thị thái độ, tình cảm, cảm xúc v.v của con người Thành phần nghĩa biểu cảm có thể là một nét nghĩa trong cấu trúc biểu niệm của từ Ví dụ, so sánh các từ sau:
- cho: hoạt động, mang vật sở hữu của mình để người khác dùng, mà
không cần trả lại hoặc đổi bằng vật khác, với sắc thái tình cảm trung hoà (bình thường)
- biếu: nghĩa như từ “cho” + sắc thái tình cảm kính trọng, quý mến
- thí: nghĩa như từ “cho” + sắc thái khinh miệt
Nhưng có những từ thiên về nghĩa tình thái mà không mang nghĩa biểu vật và nghĩa biểu niệm Đó là các từ tình thái Ví dụ, “ối” là một tình thái từ không có nghĩa biểu vật và biểu niệm Nó chỉ là từ làm dấu hiệu cho một cảm xúc: ngạc nhiên, sửng sốt, vui sướng hoặc đau khổ
Sự vật, hiện tượng được biểu thị trong ngôn ngữ đều là những sự vật, hiện tượng đã được nhận thức, được thể nghiệm bởi con người Do đó cùng với tên gọi, con người thường gửi kèm những cách đánh giá của mình và
nhiều khi chính họ cũng không tự biết được Chẳng hạn, núi thường gợi ra cái
gì “to lớn”; biển gợi ra cái “mênh mông”, lâu đài gợi ra sự “cao to”; hang hốc
gợi ra sự “sâu thấp tối tăm” v.v Đối với các nhân tố cảm xúc, thái độ cũng vậy Có những từ khi phát âm lên gợi ra cho chúng ta những cảm xúc sợ hãi
như: ma quỷ, tàn sát, chém giết hoặc gợi ra sự ghê tởm: đờm dãi, nôn
mửa có những từ lại gợi ra cảm giác khoan khoái, dễ chịu: thanh thoát, êm
Trang 20ái, quê hương Có những từ giúp chúng ta bộc lộ sự khinh bỉ: hèn hạ, đê tiện,
lì lợm, thô bỉ Lại có những từ giúp ta bày tỏ lòng tôn trọng: cao quý, ca ngợi, đàng hoàng, thẳng thắn hay sự thiết tha: da diết, ân cần, khẩn thiết, vồn vã, đắm say
Cần chú ý, có những từ dùng trong trường hợp này thì có nghĩa bình thường nhưng dùng trong các trường hợp khác lại có nghĩa đen tối, xấu xa Ví
dụ, từ “mò” trong câu “Mò con cá trong chậu” có nghĩa biểu cảm bình
thường, nhưng lại có nghĩa xấu trong cách nói “Bây giờ còn mò đi đâu đấy?”
Ba thành phần nghĩa: nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm và nghĩa biểu thái trên đây thường được quan niệm là nghĩa từ vựng của từ, để phân biệt với thành phần nghĩa ngữ pháp của từ
1.1.1.4 Nghĩa ngữ pháp
Từ nào cũng có nghĩa ngữ pháp Chúng ta đã biết, các từ chia thành các
từ loại Các từ loại lớn lại chia thành những tiểu loại Trước hết, đó là nghĩa khái quát, chung cho tất cả các từ thuộc cùng một từ loại, một tiểu loại Nghĩa khái quát này dựa trên nét nghĩa phạm trù trong cấu trúc biểu niệm của từ Chẳng hạn, nghĩa sự vật ở danh từ, nghĩa hoạt động, trạng thái ở động từ, nghĩa đặc điểm tính chất ở tính từ, nghĩa số lượng ở số từ Hoặc các nghĩa ngữ pháp của các tiểu loại, như các nghĩa ở động từ chỉ hoạt động tác động, chỉ hoạt động sai khiến, chỉ hoạt động biến hoá, chỉ hoạt động ban phát, chỉ hoạt động tri giác, suy nghĩ, nói năng v.v
Có những từ chỉ có nghĩa ngữ pháp Đó là phần lớn các hư từ Ví dụ, các quan hệ từ là những từ làm dấu hiệu cho các quan hệ ngữ pháp: quan hệ
nguyên nhân (vì, tại, bởi, do); quan hệ sở hữu (của); quan hệ đối lập (nhưng,
song, mà); quan hệ giả thiết - điều kiện (nếu, giá, hễ )
Có những từ chuyên làm thành tố phụ để làm dấu hiệu cho một số ý
nghĩa bổ sung như: ý nghĩa đồng nhất (đều, cũng, vẫn, cứ, còn, lại ); ý nghĩa
Trang 21phủ định (không, chưa, chẳng ); ý nghĩa mức độ (rất, quá, lắm, vô cùng )
Đó là những phụ từ
Như vậy, nghĩa ngữ pháp là thành phần nghĩa luôn luôn có mặt trong
từ, kể cả ở thực từ và hư từ Tất cả các thành phần ý nghĩa (nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm, nghĩa biểu cảm, nghĩa ngữ pháp) hợp thành bình diện nghĩa của từ, tồn tại bên trong từ Trong bình diện nghĩa của từ, các thành phần ý nghĩa đan quyện vào nhau, chế định lẫn nhau, chứ không phải tồn tại một cách biệt lập và không phải có một đường ranh giới thật rõ ràng, dứt khoát Ngay cả sự phân biệt nghĩa từ vựng và nghĩa ngữ pháp cũng không có tính tuyệt đối, trong nhiều trường hợp có thể thấy rõ: nghĩa ngữ pháp có cơ sở ngay trong nghĩa từ vựng của từ
Ý nghĩa của mỗi từ hoàn toàn có tính chất xác định và được cộng đồng ngôn ngữ thừa nhận như một sự quy ước chung Chúng được các từ điển ghi nhận, còn mỗi cá nhân trong cộng đồng thì tích luỹ, sử dụng và lĩnh hội từ theo nghĩa hoặc các nghĩa (đối với từ nhiều nghĩa) đã xác định đó
Tuy nhiên, trong chính hoạt động giao tiếp, ở từ thường xuyên diễn ra quá trình biến đổi và chuyển hoá ý nghĩa với các mức độ khác nhau Những
sự biến đổi, chuyển hoá đó có thể dẫn đến sự hình thành các nghĩa mới Các nghĩa mới này nếu hình thành theo đúng quy luật, nếu đáp ứng nhu cầu tư duy
và giao tiếp của xã hội thì ngày càng được xã hội chấp nhận ở diện rộng lớn
và trở thành một nghĩa ổn định của từ Sự vận động của ngôn ngữ nói chung
và của bình diện nghĩa của từ nói riêng là thường xuyên, liên tục, ở mọi lúc, mọi nơi
1.1.2 Nghĩa của từ trong hoạt động giao tiếp
1.1.2.1 Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
a Giao tiếp và vai trò của nó trong xã hội
Trang 22Sống trong xã hội, con người luôn luôn cần giao tiếp với nhau Đây là
một nhu cầu tất yếu Theo Từ điển Thuật ngữ ngôn ngữ học, giao tiếp là “sự
thông báo hay truyền đạt thông báo nhờ một hệ thống mã nào đó” Theo đó, có thể hiểu, giao tiếp chính là sự tiếp xúc, giao lưu giữa con người với con người trong xã hội, ở đó diễn ra sự trao đổi thông tin, sự trao đổi nhận thức, tư tưởng, tình cảm và sự bày tỏ mối quan hệ, sự ứng xử, thái độ của con người đối với con người và đối với những vấn đề cần giao tiếp
Con người và xã hội loài người không thể không có hoạt động giao tiếp Nhờ có giao tiếp mà hình thành con người và xã hội loài người Cũng nhờ có giao tiếp mà mỗi con người được trưởng thành để có được những đặc trưng xã hội, còn xã hội loài người nhờ có giao tiếp mà hình thành, tồn tại và phát triển Hoạt động giao tiếp có ngay từ khi có con người và xã hội loài người Đồng thời cùng với sự phát triển về mọi mặt của xã hội loài người thì hoạt động giao tiếp của con người cũng ngày một phong phú, với nhiều cách thức và phương tiện đa dạng, với hiệu quả giao tiếp ngày một cao hơn
Con người có thể dùng nhiều phương tiện để giao tiếp Có phương tiện thô sơ, đơn giản, như cử chỉ, điệu bộ, nét mặt; có phương tiện kĩ thuật tinh vi, hiện đại như dùng các tín hiệu vô tuyến viễn thông Trong đó, “ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trọng yếu nhất của con người” [18, tr.17] Bởi lẽ, ngôn ngữ chính là phương tiện đã được dùng trong giao tiếp xã hội ngay từ khi mới hình thành con người và xã hội loài người và đến nay, tuy con người có thể có nhiều phương tiện giao tiếp khác, nhưng ngôn ngữ vẫn không thể bị thay thế Hơn nữa, ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp có tính phổ biến rộng khắp: ở mọi nơi, mọi lúc, mọi lứa tuổi, mọi nghề nghiệp, hình thức hoạt động của con người Và hơn thế nữa, ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp có hiệu quả: nó giúp cho con người bộc lộ và truyền đạt được mọi điều Có thể nói không có
gì liên quan đến con người, thuộc về con người mà lại không thể biểu hiện
Trang 23được bằng ngôn ngữ Về những phương diện ấy, các phương tiện giao tiếp khác có sự hạn chế hơn
Với tư cách là phương tiện giao tiếp, ngôn ngữ có thể tồn tại dưới hai dạng: nói và viết Từ khi có chữ viết ra đời, tuy không thể thay thế hoàn toàn cho ngôn ngữ nói, nhưng chữ viết có những ưu thế riêng của nó Chữ viết giúp cho con người giao tiếp trong một khoảng thời gian lâu bền hơn (thậm chí giữa các thế hệ cách nhau hàng thế kỉ), và cả trong một không gian xa xôi, rộng lớn hơn (qua thư từ, sách báo ) Nó chuyển hoạt động giao tiếp từ dạng
âm thanh - thính giác, sang dạng đường nét - thị giác Nó giúp cho hoạt động giao tiếp được chính xác, chuẩn mực và thúc đẩy chính ngôn ngữ âm thanh đạt tới mức độ thống nhất, chuẩn mực hoá Như vậy, nói đến giao tiếp bằng ngôn ngữ trong thời đại hiện nay là bao gồm cả giao tiếp dưới dạng nói và cả dưới dạng viết
Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ luôn luôn diễn ra theo hai quá trình: quá trình phát và quá trình nhận Quá trình phát là quá trình người nói (hay người viết) sản sinh hay tạo lập các ngôn bản (sản phẩm ngôn ngữ) nhờ các yếu tố của hệ thống ngôn ngữ Còn quá trình nhận là quá trình người nghe (hay người đọc) tiếp nhận và lĩnh hội được các ngôn bản với những nội dung giao tiếp nhất định Hai quá trình này luôn luôn có quan hệ qua lại và tác động lẫn nhau Mỗi người muốn tham gia được vào hoạt động giao tiếp bình thường bằng ngôn ngữ phải có năng lực thực hiện được cả hai quá trình này, nghĩa là phải hình thành và hoàn thiện được các năng lực nói, nghe, đọc, viết, hiểu được một ngôn ngữ
b Các nhân tố giao tiếp
Nhân tố giao tiếp là những yếu tố có mặt trong hoạt động giao tiếp và ảnh hưởng đến hoạt động giao tiếp đó Các nhân tố giao tiếp bao gồm:
Trang 24- Nhân vật giao tiếp: là những người tham gia vào hoạt động giao tiếp Trong giao tiếp các nhân vật giao tiếp luân phiên đảm nhiệm vai trò người phát (nói/viết) hoặc người nhận (nghe/đọc) Tuỳ từng tình huống cụ thể, người nhận có thể có mặt hay vắng mặt, có thể là một hay nhiều người, tích cực hay tiêu cực Để cuộc giao tiếp thành công, người phát phải điều chỉnh lời nói của mình cho phù hợp với các tình huống nói trên của người nhận
- Nội dung giao tiếp: chính là điều được đề cập đến trong giao tiếp Nội dung giao tiếp có thể là hiện thực của thế giới khách quan ngoài ngôn ngữ (những sự vật, hiện tượng, đặc điểm, tính chất ), có thể là những sản phẩm tinh thần của tư duy con người, có thể là cả những tình cảm, cảm xúc và thái
độ của con người đối với điều được nói đến, hoặc đối với người tham gia hoạt động giao tiếp, hay đối với chính hoạt động giao tiếp
- Phương tiện giao tiếp: ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người Trong giao tiếp, ngôn ngữ có thể được sử dụng ở dạng nói (giao tiếp miệng/khẩu ngữ), hoặc dạng viết (giao tiếp viết/bút ngữ) và có thể được dùng theo những cách khác nhau
- Mục đích giao tiếp: mỗi hoạt động giao tiếp diễn ra đều nhằm một hoặc một số mục đích nào đó (gọi tắt là đích của giao tiếp) Mục đích giao tiếp có liên quan đến chức năng của giao tiếp: thông báo, tạo lập quan hệ, biểu hiện, giải trí, hành động Giao tiếp có thể nhằm mục đích làm quen, bày tỏ nỗi vui mừng, lo sợ, thông báo cho người nghe một tư tưởng, một nhận thức nào
đó của mình, đưa ra một lời mời, hay một yêu cầu đòi hỏi người nghe phải thực hiện Với cuộc giao tiếp có nhiều đích, có đích chính và đích phụ Mục đích giao tiếp là một trong những yếu tố chi phối việc lựa chọn nội dung và cách thức giao tiếp
- Hoàn cảnh giao tiếp: là hoàn cảnh diễn ra cuộc giao tiếp Có hoàn cảnh giao tiếp rộng và hoàn cảnh giao tiếp hẹp Hoàn cảnh giao tiếp rộng bao
Trang 25gồm hoàn cảnh tự nhiên (địa lý, lãnh thổ ), hoàn cảnh xã hội (chính trị, kinh
tế, văn hoá, ), hoàn cảnh lịch sử chung của dân tộc, của đất nước Hoàn cảnh giao tiếp hẹp là địa điểm, thời gian cụ thể diễn ra cuộc giao tiếp
“Giao tiếp nói chung, trong đó giao tiếp ngôn ngữ là quan trọng nhất, không những là một nhu cầu tất yếu, mà còn là một điều kiện không thể thiếu cho sự hình thành, tồn tại và phát triển của mỗi con người và của cả xã hội loài người, của cộng đồng ngôn ngữ” [40, tr.8] Về nguyên tắc, giao tiếp ngôn ngữ mang tính chất xã hội, trong đó những người tham gia giao tiếp phải
có những mối quan hệ nhất định với nhau, đó là quan hệ giao tiếp Quan hệ giao tiếp được xây dựng trên hệ thống các mối quan hệ xã hội nói chung, trên cấu trúc xã hội và trên quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp, hoặc nhóm người trong xã hội
1.1.2.2 Sự hiện thực hoá nghĩa của từ trong giao tiếp
Trong hệ thống ngôn ngữ, cũng như ở trạng thái riêng rẽ cô lập, nghĩa của từ còn mang tính chất trừu tượng Từ chưa được đặt trong mối quan hệ tương ứng với một cái được biểu đạt cụ thể nào, hay nói cách khác là chưa gắn với một chiếu vật cụ thể nào Mỗi một từ mới chỉ là hình thức ngữ âm ứng với một cái được biểu đạt còn chung chung, trừu tượng
Ví dụ, ở ngoài hoạt động giao tiếp từ “cấy” mới chỉ có nghĩa là “cắm
cây giống xuống đất để cho nó tiếp tục sinh trưởng và mang lại lợi ích cho con người” Tất nhiên, đó rõ ràng là một hoạt động của con người (chứ không phải là một vật, một con vật hay một màu sắc, một cảm xúc nào ) và là một
hoạt động thuộc phạm vi canh tác, trồng trọt Nhưng từ “cấy” như thế còn
chưa cho ta biết một cách cụ thể về nhiều phương diện khác nữa của cái hoạt động đó, chẳng hạn như hoạt động đó do ai thực hiện? thực hiện như thế nào?
ở đâu? bao giờ? để làm gì? thực hiện với ai và đối tượng là cái gì? v.v
Nhiều thông tin xung quanh cái hoạt động “cấy” còn chưa được cung cấp
Trang 26Chính vì thế, nghĩa của từ khi từ chưa được dùng trong hoạt động giao tiếp còn mang tính trừu tượng và khái quát Và đó cũng là trạng thái chung của tất
cả các từ trong ngôn ngữ
Nhưng khi tham gia vào hoạt động giao tiếp (vào câu, vào ngôn bản) nghĩa của từ dần dần được cụ thể hoá ở các mức độ khác nhau Chẳng hạn, từ
“cấy” trên đây đi vào hoạt động giao tiếp trong một câu thơ như sau:
“Tay nâng dảnh mạ lên
Ngửa bàn tay cấy xuống”
(Hoàng Trung Thông)
Trong câu thơ này, rõ ràng nghĩa của từ “cấy” đã được xác định cụ thể hơn: ở đây là cấy mạ, hơn nữa không phải là cấy bằng máy, mà là bằng tay và theo kiểu cấy ngửa tay Như thế, nghĩa của từ cấy được cụ thể hoá về các phương diện đối tượng của hoạt động (cấy cái gì?), phương thức hoạt động (cấy như thế nào?)
Trong lời nói, từ gắn với một chiếu vật nào đó, lúc này, cái được biểu hiện của mỗi từ là một (hay một loại) sự vật, hiện tượng, hoạt động, tính chất
cụ thể mà không còn chung chung, trừu tượng như khi từ chưa đi vào hoạt động Sự hiện thực hoá ý nghĩa này xảy ra ở cả các từ đơn nghĩa và từ nhiều nghĩa, ta có thể thấy rõ khi xem xét từ trong hoạt động hành chức
Trước hết, là sự hiện thực hoá ý nghĩa của từ nhiều nghĩa trong hoạt động giao tiếp Từ nhiều nghĩa là từ có một hình thức âm thanh nhưng biểu đạt nhiều nghĩa khác nhau và có liên quan với nhau Tính chất nhiều nghĩa ấy
đã được hình thành trong lịch sử, do những nhu cầu của con người trong thực tiễn nhận thức, giao tiếp Các nghĩa ấy được mỗi người lĩnh hội, tiếp nhận và tích luỹ dần trong tiềm năng ngôn ngữ của mình Chúng tạo nên một phần trong năng lực ngôn ngữ của con người, tạo nên khả năng biểu hiện dồi dào,
phong phú của từ Ví dụ: từ “lá” với nhiều nghĩa như sau:
Trang 271) Một bộ phận của cây, thường ở trên cành hoặc ngọn cây, thường có màu xanh, có hình dáng mỏng, dẹt và có chức năng hấp thụ ánh sáng mặt trời
- Vật thể bằng gỗ, tre, nứa: lá cót, lá thuyền, lá chiếu
- Vật thể bằng kim loại: lá tôn, lá vàng
3) Đơn vị bộ phận cơ thể người có hình dáng giống lá cây: lá gan, lá
phổi, lá mỡ
Nhưng nghĩa của từ nhiều nghĩa tuy vẫn có những nét nghĩa giống nhau
và do đó các nghĩa đó luôn có mối quan hệ với nhau, nhưng chúng vẫn là
những nghĩa có cương vị độc lập Trong các nghĩa của từ “lá” trên đây luôn
có nét nghĩa hình dáng (mỏng, dẹt, có bề mặt) là sợi dây liên kết các nghĩa với
nhau, làm cho chúng có quan hệ với nhau Mối liên hệ đó cũng chính là cơ sở cho việc dùng từ và cho việc lĩnh hội từ với các nghĩa khác nhau trong hoạt động giao tiếp
Tuy nhiên, tính nhiều nghĩa của một từ chỉ là khả năng khi từ chưa tham gia vào hoạt động giao tiếp Còn trong hoạt động giao tiếp, từ chỉ hiện thực hoá một trong các nét nghĩa đó, các nghĩa khác chỉ nằm trong các mối quan hệ tiềm tàng Chẳng hạn, từ “đi” trong tiếng Việt có các nghĩa như sau:
1) Người, động vật tự di chuyển bằng những động tác liên tiếp của chân, lúc nào cũng vừa có chân tựa trên mặt đất, vừa có chân giơ lên đặt tới
chỗ khác Ví dụ: Trẻ chưa đi vững Đi bách bộ
2) Rời bỏ cuộc đời, chết Ví dụ: Cụ ốm nặng, đã đi hôm qua rồi
3) Phương tiện vận tải di chuyển trên bề mặt Ví dụ: Ô tô đi rất chậm
Trang 28Khi tham gia vào hoạt động giao tiếp cụ thể thì tính đa nghĩa của từ
“đi” bị triệt tiêu Từ “đi” chỉ hiện thực hoá một trong các nét nghĩa đó Ví dụ
như câu: Ông ấy ốm nặng từ tuần trước, đã đi tối hôm qua rồi Trong câu này,
từ “đi” có nghĩa là rời bỏ cuộc đời, chết Còn các nghĩa khác của nó không
phù hợp với câu này
Đối với các từ đơn nghĩa (những từ chỉ có một nghĩa), trong hoạt động giao tiếp, nghĩa của từ vẫn có sự hiện thực hoá cụ thể hơn Ở ngoài hoạt động giao tiếp, nghĩa của từ có tính khái quát và trừu tượng: mỗi từ biểu hiện cả một lớp các sự vật, hoạt động, tính chất, trạng thái nói chung Ví dụ từ
“bàn” trong tiếng Việt chỉ có một nghĩa: “đồ dùng thường làm bằng gỗ, có
mặt phẳng và chân đứng, để bày đồ đạc, thức ăn, để làm việc ” [10, tr.27] Với nghĩa này, từ “bàn” vẫn là tên gọi của tất cả các vật có đặc tính như trên, chứ không phải là tên gọi của một cá thể nào Hơn nữa, nghĩa trên đây của từ
“bàn” đã có phần nào trừu tượng hoá khỏi nhiều thuộc tính cụ thể của nó: có
những cái bàn bằng các chất liệu khác nhau (gỗ, nhựa, đá, kim loại ), với các kích thước khác nhau (to, nhỏ ), với số lượng và hình dáng chân khác nhau (3 chân, 4 chân ), với màu sắc khác nhau và cả với các chức năng khác nhau (bàn ăn, bàn học, bàn làm việc )
Khi tham gia vào hoạt động giao tiếp, nghĩa của từ được đặt trong mối tương quan với một đối tượng cụ thể, xác định, nghĩa là được quy chiếu vào một đối tượng (sự vật, hoạt động, tính chất, trạng thái ) xác định trong hiện
thực khách quan Sự hiện thực hoá ý nghĩa như thế của từ được gọi là sự quy
chiếu hay sự chiếu vật Nhờ thế, nghĩa của từ không còn chung chung, trừu
tượng mà trở nên cụ thể, xác định
Ví dụ, từ “xanh” khi chưa đi vào lời nói có phạm vi biểu vật rất rộng
Đó có thể là màu xanh của trời, của biển, của rừng, của lá cây, Nhưng khi ta
Trang 29nói: “Da cậu xanh quá”, phạm vi biểu vật của từ “xanh” được thu hẹp một
cách đáng kể, và ý nghĩa của từ trở nên cụ thể hơn rất nhiều
Nhìn chung, sự hiện thực hoá nghĩa của từ trong giao tiếp chính là để đáp ứng thích đáng nhu cầu giao tiếp, sự hiện thực hoá này bị chi phối bởi nội dung giao tiếp Nội dung giao tiếp trong một hoàn cảnh nhất định luôn luôn
có tính xác định, tính cụ thể Vì thế, trong hoạt động, ý nghĩa của từ luôn được hiện thực hoá để khắc hoạ một cách rõ nét nhất nội dung biểu đạt của lời Sự hiện thực hoá này được thể hiện một cách đầy đủ nhất khi từ được đặt trong ngữ cảnh Do vậy, để hiểu một cách sâu sắc ý nghĩa của từ, nhất thiết phải xem xét từ trong mối quan hệ với từ khác, thậm chí trong mối quan hệ giữa câu chứa nó với các câu hữu quan, trong mối quan hệ giữa ngôn bản chứa nó với tình huống giao tiếp cụ thể
1.1.2.3 Sự biến đổi nghĩa của từ trong giao tiếp
Bên cạnh sự hiện thực hoá nghĩa vốn có, trong hoạt động giao tiếp, từ còn có thể biến đổi về nghĩa Những sự biến đổi này diễn ra trong từng hoàn cảnh giao tiếp cụ thể, tuỳ thuộc vào từng nhân vật giao tiếp nhất định và nhằm đạt được những hiệu quả giao tiếp nhất định Do đó những sự biến đổi này cũng có tính chất nhất thời và có thể chỉ diễn ra một lần, không được lặp lại trong hoạt động giao tiếp khác Chúng chưa đạt được mức độ phổ biến nên chưa trở thành “tài sản” chung của cả xã hội Tuy nhiên, những sự biến đổi như thế không phải diễn ra một cách tuỳ tiện, ngẫu hứng, mà vẫn diễn ra theo những cách thức và quy tắc chung Từ “mặt trời” trong ví dụ dưới đây đã được chuyển nghĩa như thế:
“Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi Mặt trời của mẹ, em nằm trong nôi”
Trang 30Ta đều biết, trong câu thơ trên, “mặt trời” đã được dùng với ý nghĩa
mới, chỉ đứa con mà người mẹ vô cùng yêu thương, là điều thiêng liêng nhất,
là tương lai tươi sáng nhất đối với người mẹ Và nghĩa này không còn giữ
nguyên khi tách từ ra khỏi ngữ cảnh, ví như trong câu thơ sau, “mặt trời” có
một ý nghĩa hoàn toàn mới:
“Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ”
(Viễn Phương) Tuy nhiên hoàn toàn không phải chỉ có trong lĩnh vực ngôn ngữ nghệ thuật (thơ ca, tiểu thuyết, truyện, kí ), từ mới có những sự biến đổi và chuyển hoá về nghĩa Việc nghiên cứu và giảng dạy ngôn ngữ, văn học có thể đã dẫn tới một nhận thức không chính xác lắm Đó là sự ngộ nhận rằng cho rằng: chỉ
có trong các tác phẩm văn chương, từ mới được dùng theo nghĩa bóng, nghĩa hình tượng hoặc nói chung là một nghĩa chuyển nào đó Có thể nói nhu cầu nhận thức tư duy, nhu cầu xác lập quan hệ giữa các đối tượng nhận thức của con người, và cả nhu cầu biểu hiện bằng ngôn ngữ và giao tiếp bằng ngôn ngữ luôn luôn thôi thúc con người không thể chỉ bằng lòng với những cái vốn có, cái đã có, mà cần vươn tới những cái mới, những sự biến đổi, sáng tạo Cả trong lĩnh vực dùng từ để giao tiếp cũng như vậy Và không phải chỉ giao tiếp trong lĩnh vực nghệ thuật, mà trong mọi lĩnh vực của xã hội, kể cả trong lĩnh vực sinh hoạt hàng ngày của đời sống
Ở lĩnh vực sinh hoạt hàng ngày, từ vẫn thường xuyên có những sự biến đổi và chuyển hoá về nghĩa so với nghĩa vốn có của nó trong hệ thống ngôn ngữ Sự biến đổi ấy diễn ra thường xuyên trong lời nói của mỗi cá nhân, chỉ
có điều vẫn cần tuân theo một quy tắc chuyển nghĩa nhất định, mà thông thường nhất là quy tắc ẩn dụ - xác lập một sự giống nhau ở một thuộc tính nào
Trang 31đó của các đối tượng được biểu hiện bằng từ Ví dụ: một cơ sở dạy nghề sửa chữa xe máy cho học sinh quảng cáo trên truyền hình như sau:
Học sinh học tại cơ sở sẽ được thực hành trên máy sống
Từ “sống” là một từ quen thuộc với mọi người Việt Nam và nó là một trong các từ nhiều nghĩa Tuy nhiên dùng “sống” để chỉ trạng thái của một đồ vật (máy) như trong lời quảng cáo trên đây thì thật đặc biệt Từ “sống” đã có
sự biến đổi về nghĩa, dựa trên cơ sở nghĩa gốc Ở nghĩa gốc, từ “sống” chỉ trạng thái của sinh vật còn có khả năng trao đổi chất, còn có sự sinh trưởng
Đó cũng là trạng thái “động”, chứ không phải một trạng thái vận động của vật hoặc trạng thái còn vận hành, hành chức của máy Do đó lời quảng cáo trên
có nghĩa là học sinh sẽ được thực hành trên các máy còn vận hành được, còn
có khả năng hành chức, chứ không phải chỉ thực hành trên các bản vẽ, các sơ
đồ hoặc các máy móc đã chết như một đống sắt vụn, phế thải
Quá trình chuyển nghĩa có quan hệ với quá trình nhận thức Sự nhận thức và sự gọi tên của con người thường dựa vào mối quan hệ của các sự vật, trong đó có hai mối quan hệ được chú ý là quan hệ tương đồng (giống nhau)
và quan hệ tương cận (gần nhau) Đây là sự chuyển nghĩa của từ dựa vào hai phương thức ẩn dụ và hoán dụ Đó là những phương thức chuyển nghĩa phổ biến nhất của các ngôn ngữ trên thế giới
Như vậy, để sử dụng được từ chúng ta phải hiểu được từ trong hệ thống ngôn ngữ và trong hoạt động giao tiếp Khi đi vào giao tiếp nghĩa của từ có những biến đổi nhất định, do đó việc dạy học nghĩa của từ không chỉ giúp cho học sinh thấy được nghĩa từ điển mà phải giúp cho các em thấy được tính sinh động, linh hoạt của từ trong hoạt động giao tiếp, phải tổ chức cho học sinh quan sát, phân tích ý nghĩa của từ khi nó tham gia vào hoạt động giao tiếp, đặc biệt giáo viên phải tổ chức quá trình dạy học về nghĩa của từ theo định hướng giao tiếp
Trang 32Nghĩa của từ, từ nhiều nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của từ là nội dung quan trọng trong dạy học về nghĩa của từ ở lớp 6 và trong luận văn của chúng tôi Chính vì thế, trong quá trình dạy học về nghĩa của từ ở lớp 6 chúng tôi phải giúp cho học sinh biết cách giải thích nghĩa của từ, nhận thức được tính nhiều nghĩa của từ và đặc biệt là nắm được hiện tượng chuyển nghĩa của
từ Hiện tượng này giúp cho quá trình biểu đạt của ngôn ngữ phong phú, sinh động, hấp dẫn và mang tính nghệ thuật Đồng thời nó sẽ là cơ sở cho việc xác định nghĩa mới của từ Và từ những hiểu biết đó, học sinh có thể chủ động trong việc nắm và sử dụng từ hiệu quả trong hoạt động giao tiếp
1.2 DẠY HỌC TIẾNG VIỆT VÀ DẠY HỌC NGHĨA CỦA TỪ THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP
1.2.1 Dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp
Quan điểm giao tiếp là một trong những quan điểm dạy học Ngữ văn, đặc biệt là dạy học tiếng Việt Nội dung của quan điểm này là: dạy tiếng Việt
là dạy hoạt động giao tiếp, trong giao tiếp, bằng giao tiếp để hướng tới trang
bị cho học sinh năng lực hoạt động giao tiếp bằng tiếng Việt
Dạy hoạt động giao tiếp là mục tiêu, nội dung dạy học tiếng Việt Dạy trong giao tiếp, bằng giao tiếp, đó chính là hình thức và phương pháp dạy học tiếng Việt
Quan điểm giao tiếp chi phối quá trình dạy học tiếng Việt, bao gồm mục tiêu dạy học, nội dung dạy học tiếng Việt, phương pháp và hình thức dạy học tiếng Việt, cách kiểm tra, đánh giá Dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp là một định hướng và yêu cầu đúng đắn, phù hợp với xu thế chung của thế giới trong việc dạy tiếng mẹ đẻ Đồng thời việc dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp cũng tạo điều kiện để thực hiện việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của chủ thể học sinh
Trang 33Dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp thể hiện rõ nét qua bốn bình diện, đó là: mục tiêu dạy học; nội dung dạy học tiếng Việt; phương pháp, hình thức dạy học tiếng Việt và kiểm tra, đánh giá
1.2.1.1 Mục tiêu dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp
Mục tiêu dạy học chi phối nội dung, phương pháp, hình thức và cách kiểm tra đánh giá trong dạy học, nó trả lời cho câu hỏi: dạy để làm gì? Có thể nói mục tiêu quan trọng nhất của dạy học tiếng Việt là tạo lập, hoàn thiện, nâng cao năng lực giao tiếp bằng tiếng Việt cho học sinh
Mục tiêu trên quy định: nhiệm vụ hàng đầu của môn tiếng Việt ở trường phổ thông là rèn kỹ năng giao tiếp (nghe, nói, đọc, viết) cho học sinh Nhiệm vụ cung cấp tri thức tiếng Việt chỉ là thứ yếu, có vai trò hỗ trợ cho việc rèn kỹ năng sử dụng tiếng Việt thuận lợi hơn Do đó, việc lựa chọn nội dung, cách tổ chức dạy học tiếng Việt luôn hướng tới nhiệm vụ hình thành kỹ năng lời nói cho học sinh
1.2.1.2 Nội dung dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp
Theo quan điểm giao tiếp, nội dung dạy học tiếng Việt ở nhà trường phổ thông ưu tiên những kiến thức phục vụ trực tiếp cho hoạt động rèn luyện
kỹ năng lời nói của học sinh Cụ thể đó là các tri thức về tiếng Việt và tri thức chung về giao tiếp và hoạt động giao tiếp
Dạy học tiếng Việt phải cung cấp cho học sinh tri thức về hệ thống tiếng Việt, học sinh phải nắm được những tri thức về ngữ âm, từ vựng, câu, các phong cách chức năng của ngôn ngữ
Bên cạnh đó, nội dung quan trọng trong dạy học tiếng Việt là phải hình thành, hoàn chỉnh và nâng cao các kỹ năng sử dụng tiếng Việt cho học sinh Con đường ngắn nhất và hiệu quả nhất để hoàn thành được nội dung này là triển khai nội dung học tập qua hệ thống bài tập thực hành, giáo viên phải
Trang 34thực sự chú trọng phần thực hành để học sinh có được kỹ năng tiếp nhận lời nói (đọc, nghe) và kỹ năng tạo lập lời nói (viết, nói)
1.2.1.3 Phương pháp, hình thức dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp
- Các phương pháp dạy học tiếng Việt thường được sử dụng ở trường phổ thông là phương pháp phân tích ngôn ngữ, phương pháp rèn luyện theo mẫu và phương pháp giao tiếp (hay còn gọi là phương pháp thực hành giao tiếp) Do dạy học tiếng Việt ở nhà trường phổ thông là dạy và học giao tiếp bằng tiếng Việt, nên trong các phương pháp kể trên, phương pháp thực hành giao tiếp có một vị trí đặc biệt quan trọng Bởi vì trong dạy học tiếng Việt ở nhà trường, giao tiếp vừa là cách thức, vừa là mục đích học tập Thông qua giao tiếp và bằng con đường giao tiếp trong các tình huống nói năng gần với hiện thực, học sinh được thường xuyên luyện tập sử dụng lời nói, từ đó kỹ năng giao tiếp của các em được hình thành một cách toàn diện và bền vững
Về một phương diện nào đó, khi dạy học theo phương pháp giao tiếp, giáo viên và học sinh cũng đã sử dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ và phương pháp rèn luyện theo mẫu Bởi vì hoạt động giao tiếp bằng lời nói phải thông qua phân tích ngôn ngữ và rèn luyện theo mẫu; mặt khác các thao tác phân tích ngôn ngữ và rèn luyện theo mẫu không thể tách khỏi những tình huống giao tiếp và hoạt động giao tiếp cụ thể Đứng trên góc độ quan điểm giao tiếp chúng ta nên sử dụng kết hợp cả ba phương pháp trên
Như vậy, phương pháp giao tiếp là phương pháp quan trọng trong việc
tổ chức dạy học tiếng Việt Theo quan điểm này, phần Tiếng Việt ở THCS phải coi giao tiếp là mục tiêu, là nội dung dạy học và cũng là cách thức của hoạt động dạy học
Tổ chức dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp cần phải tiến hành một số thao tác sau đây:
Trang 351) Giáo viên tạo tình huống kích thích nhu cầu giao tiếp và định hướng giao tiếp cho học sinh
2) Học sinh xác định hướng giao tiếp khi tiến hành áp dụng các tri thức tiếng Việt Nói cách khác, học sinh cần phải trả lời được các câu hỏi sau: nói (viết) với ai?; nói (viết) về cái gì?; nói (viết) trong hoàn cảnh nào?
3) Học sinh căn cứ vào nhiệm vụ giao tiếp và huy động các phương tiện ngôn ngữ để tạo ra lời nói cụ thể
4) Đánh giá, nhận xét, rút kinh nghiệm
Trong quá trình tổ chức dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp, cần phải thực hiện một số yêu cầu sau:
- Đặt các đơn vị của hệ thống tiếng Việt vào hệ thống hành chức của
nó Không thể dạy học từ, câu và các đơn vị khác một cách biệt lập mà phải quan sát chúng trong các đơn vị lớn hơn, trong lời nói sinh động của giao tiếp
- Tổ chức cho học sinh sử dụng các đơn vị ngôn ngữ vào hoạt động giao tiếp Hoạt động giao tiếp vừa là mục đích, vừa là phương tiện của quá trình dạy học tiếng Việt Học tiếng Việt, học sinh không phải chỉ có nghiên cứu, phát hiện ra các đặc điểm của nó mà chủ yếu là phải biết sử dụng nó với
tư cách là một phương tiện giao tiếp và tư duy Như vậy, người giáo viên phải tìm mọi cách để hướng học sinh vào hoạt động nói năng, phải tạo điều kiện cho học sinh được hoạt động nói năng trong giờ tiếng Việt Muốn đạt được điều đó, giáo viên cần phải tạo được các hoàn cảnh giao tiếp, tình huống giao tiếp khác nhau để kích thích học sinh, tạo động cơ và nhu cầu giao tiếp cho học sinh
Tiếng Việt là một phần trong chương trình và SGK Ngữ văn 6, cho nên
nó cũng vận dụng nguyên tắc tích hợp và tích cực Trong các giờ học tiếng Việt, học sinh cần được giáo viên hướng vào nhiều hoạt động khác nhau Tuy nhiên hai hoạt động được quan tâm nhất là hoạt động chiếm lĩnh tri thức mới
Trang 36và hoạt động sử dụng tiếng Việt vào thực tế giao tiếp Vấn đề quan trọng trong dạy học tiếng Việt là cần phải tổ chức cho học sinh tận dụng tiềm năng
tư duy, tiềm năng ngôn ngữ của mình để độc lập và chủ động chiếm lĩnh tri thức mà các nhà ngôn ngữ đã phát hiện Tổ chức quá trình này như thế nào để chuyển tri thức từ ngoài vào trong, biến tri thức chung thành “tài sản riêng” của mỗi học sinh, góp phần rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh chính là nhiệm vụ quan trọng của quá trình dạy học Tiếng Việt
- Các hình thức dạy học theo quan điểm giao tiếp gồm: hình thức dạy học trong giờ chính khoá, hình thức dạy học trong giờ ngoại khoá và hình thức tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động đoàn thể, xã hội
Hình thức dạy học trong giờ chính khoá cần tạo điều kiện cho học sinh được giao tiếp, giao tiếp với thầy cô, với bạn bè Xuất phát từ quan điểm giao tiếp, cần ưu tiên những hình thức hoạt động tạo điều kiện cho học sinh có nhiều cơ hội giao tiếp, đó là hình thức hoạt động tập thể Căn cứ vào số thành viên tham gia hoạt động, có thể chia hoạt động tập thể của học sinh thành hoạt động theo nhóm nhỏ (2 đến 4 học sinh), nhóm lớn (5 đến 8 học sinh) và hoạt động theo lớp Nếu căn cứ vào hình thức hoạt động, hoạt động tập thể của học sinh có hoạt động thảo luận, trao đổi kiến thức của bài học, hoạt động luyện tập các kỹ năng gắn với bài học, hoạt động tham gia các trò chơi học tập… Nhằm mục đích làm giờ tiếng Việt sinh động, có nhiều hình thức giao tiếp, phấn đấu trò hỏi, thầy trả lời, mọi thành viên trong lớp được hoạt động, làm việc, giao tiếp Các hoạt động ngoại khoá và phong trào đoàn thể, xã hội tạo điều kiện cho học sinh được giao tiếp trong môi trường tự nhiên, góp phần hình thành nhân cách, có thêm những hiểu biết về tự nhiên, xã hội và đặc biệt
có thể áp dụng lý thuyết giao tiếp vào thực tế sinh động, từ đó hoàn chỉnh và nâng cao năng lực giao tiếp cho học sinh
Trang 371.2.1.4 Kiểm tra, đánh giá theo quan điểm giao tiếp
“Đánh giá là quá trình xác định mức độ thực hiện các mục tiêu đã đề ra đánh giá kết quả học tập là một bộ phận của quá trình dạy học tiếng Việt” [47, tr.400]
Kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp
có mục đích trọng tâm là đánh giá năng lực sử dụng tiếng Việt của học sinh trên các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết Kết quả kiểm tra, đánh giá sẽ là cơ sở quan trọng để chúng ta đi đến kết luận giữ nguyên hay điều chỉnh nội dung, biện pháp và hình thức dạy học cho phù hợp để có kết quả dạy học đúng như mục tiêu đề ra
Theo quan điểm giao tiếp, nội dung cần được ưu tiên trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập tiếng Việt của học sinh là: kỹ năng tiếp nhận và sản sinh văn bản, bao gồm đọc, nghe, nói, viết; mức độ hiểu và năng lực vận dụng quy tắc sử dụng tiếng Việt trong hoạt động lời nói
Cách kiểm tra thể hiện qua công cụ kiểm tra là đề bài, kết hợp trắc nghiệm khách quan với trắc nghiệm tự luận Theo quan điểm giao tiếp, cần dành cho phần tự luận một tỷ lệ thích đáng trong đề bài, vì đây là phần đánh giá tốt nhất năng lực sử dụng lời nói của học sinh Với các đề trắc nghiệm khách quan, cần đa dạng hoá các hình thức câu hỏi, bài tập Đặc biệt, để có kết quả đánh giá khách quan, toàn diện và chính xác, với mỗi đề bài, giáo viên phải thiết kế đáp án và biểu điểm tương ứng, phải thiết lập được ma trận hai chiều trong mỗi đề bài
Những thông tin thu được từ kết quả kiểm tra, đánh giá được dùng để đánh giá hiệu quả dạy học tiếng Việt, giúp giáo viên xác định được lỗi riêng
lẻ và lỗi phổ biến, lỗi ngẫu nhiên và lỗi có tính hệ thống của học sinh khi học tập Trên cơ sở đó, giáo viên sẽ đi đến quyết định về phương hướng, phạm vi,
Trang 38cách thức điều chỉnh nội dung và biện pháp, hình thức dạy học để nâng cao hiệu quả các giờ dạy tiếng Việt
Trên đây là các bình diện thể hiện quan điểm giao tiếp trong dạy học tiếng Việt ở nhà trường phổ thông Dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp là rất cần thiết và có tác dụng tích cực, tạo điều kiện cho học sinh hoà nhập với xã hội, có năng lực giao tiếp xã hội, đáp ứng nhu cầu của thời đại mới, thực hiện mục tiêu đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện
1.2.2 Dạy học nghĩa của từ theo quan điểm giao tiếp
Việc đổi mới chương trình Ngữ văn THCS theo quan điểm tích hợp đòi hỏi phải đổi mới phương pháp giảng dạy cho phù hợp và hiệu quả Phương hướng chủ đạo để đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn ở bậc THCS là dạy
- học theo hướng tích cực Quán triệt tinh thần lấy học sinh làm trung tâm Mọi hoạt động trong giờ học Ngữ văn đều nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của chủ thể học sinh Khâu then chốt của quá trình dạy học này chính là việc tổ chức cho học sinh hoạt động tự phát hiện, tự chiếm lĩnh tri thức và hình thành các kỹ năng, kỹ xảo cần thiết
Dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp là quá trình tổ chức, hướng dẫn học sinh vận dụng lý thuyết được học vào thực hiện các nhiệm vụ của quá trình giao tiếp, có chú ý đến đặc điểm và các nhân tố tham gia vào hoạt động giao tiếp Bản thân phần Tiếng Việt đã mang một thuận lợi lớn cho việc giao tiếp của học sinh THCS vì đó là tiếng mẹ đẻ của các em, là thứ tiếng các em
đã được làm quen và sử dụng từ khi bắt đầu tập nói Với vốn từ ngữ sẵn có cùng với những tri thức khoa học về tiếng Việt được tiếp nhận từ bậc tiểu học, học sinh có thể chủ động trong việc tự tìm hiểu bài
Mục đích của dạy tiếng Việt trong nhà trường là giúp học sinh sử dụng tốt tiếng Việt trong giao tiếp Dạy bất cứ kiến thức nào của phần Tiếng Việt cũng phải nhằm vào mục tiêu cuối cùng đó
Trang 39Trong hệ thống ngôn ngữ, từ là đơn vị tín hiệu đích thực Từ vựng là một trong những bộ phận không thể thiếu của hệ thống ngôn ngữ, nếu thiếu từ vựng thì không có bất cứ ngôn ngữ nào Trong dạy học từ vựng, dạy học nghĩa của từ là trung tâm, là vấn đề quan trọng nhất Bởi lẽ nó phải giúp cho học sinh có năng lực thực hành và năng lực sử dụng tiếng Việt như một công
cụ để tư duy và giao tiếp Năng lực sử dụng từ tiếng Việt của học sinh chủ yếu là việc hiểu nghĩa, sử dụng nghĩa và chọn nghĩa để giao tiếp trong nhà trường cũng như ngoài xã hội Do đó việc hiểu và nắm chắc được nghĩa của
từ có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng
Nhiệm vụ hàng đầu trong quá trình dạy học tiếng Việt là rèn kỹ năng giao tiếp (nghe, nói, đọc, viết) cho học sinh; nhiệm vụ cung cấp kiến thức tiếng Việt chỉ là thứ yếu, có vai trò hỗ trợ cho việc rèn kỹ năng sử dụng tiếng Việt được thuận lợi hơn Vì điều này, việc lựa chọn nội dung, cách tổ chức dạy học tiếng Việt ở THCS luôn hướng tới nhiệm vụ hình thành kỹ năng lời nói cho học sinh Vì vậy, việc dạy học tiếng Việt nói chung và dạy học về nghĩa của từ nói riêng cần thấm nhuần quan điểm giao tiếp Trong quá trình tổ chức giảng dạy về nghĩa của từ giáo viên nhất thiết phải tổ chức các hoạt động nhằm giúp cho học sinh hiểu được nghĩa của từ, lĩnh hội đúng ý nghĩa của từ cả trong ngôn ngữ nghệ thuật và ngôn ngữ đời sống Và quan trọng hơn
cả là giáo viên phải tổ chức cho học sinh sử dụng các đơn vị kiến thức về nghĩa của từ vào hoạt động giao tiếp cụ thể, phải tạo điều kiện cho học sinh được hoạt động nói năng trong giờ học Học sinh phải có khả năng huy động
và sử dụng từ đúng nghĩa và ở mức độ cao hơn là dùng từ để đạt được hiệu quả giao tiếp cao, tức là “phải biết dùng từ có giá trị hình tượng, giá trị biểu cảm và có tính hàm súc” [13, tr.99]
Con đường ngắn nhất và hiệu quả nhất để đạt được mục tiêu đó là triển khai nội dung học tập qua hệ thống các bài tập thực hành Trong các loại bài
Trang 40tập, cần ưu tiên những bài tập hình thành kỹ năng lời nói cho học sinh: các bài tập chọn từ thích hợp điền vào chỗ trống, dùng từ tạo câu, nói hoặc viết thành đoạn, bài; các bài tập chữa lỗi dùng từ không đúng nghĩa
Các bài về nghĩa của từ trong SGK Ngữ văn 6 cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của quan điểm dạy học theo hướng giao tiếp Điều đó thể hiện rõ trong mục tiêu, nội dung của từng tiết học, bài học cụ thể Ngoài việc cung cấp các kiến thức cơ bản về nghĩa của từ, các bài học này cũng nhằm mục tiêu quan trọng là nâng cao năng lực sử dụng tiếng Việt cho học sinh, phục vụ trực tiếp cho việc hiểu văn và làm văn trong chương trình, ứng dụng hiệu quả vào giao tiếp hàng ngày của các em Để làm được điều đó, hơn lúc nào hết cần phải vận dụng quan điểm giao tiếp trong quá trình dạy học các bài về nghĩa của từ cho học sinh lớp 6 Giáo viên phải tạo điều kiện cho học sinh được hoạt động nói năng thật nhiều, thật tích cực, chủ động và hiệu quả trong giờ học Muốn vậy hệ thống bài tập phải được xây dựng cho nhiều đối tượng, nhiều học sinh, kết hợp được giữa luyện tập cá nhân và luyện tập nhóm nhỏ, luyện tập cá nhân với luyện tập tập thể, đồng thời nhất thiết phải có hoạt động trao đổi, toạ đàm giữa giáo viên và học sinh
Qua các giờ học về nghĩa của từ, học sinh có thể phát huy tối đa những tiềm năng về từ ngữ tiếng Việt vốn có, những tri thức tiếng Việt đã được học
ở tiểu học Có khả năng lĩnh hội và sử dụng từ ngữ nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong giao tiếp Đó cũng chính là một trong những nhiệm vụ quan trọng
mà phần Tiếng Việt trong chương trình THCS cần thực hiện và phải thực hiện
có hiệu quả
1.3 THỰC TRẠNG DẠY HỌC VỀ NGHĨA CỦA TỪ CHO HỌC SINH LỚP
6 THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP
Việc khảo sát thực trạng nhằm có được cái nhìn tổng quát về hiện trạng dạy học tiếng Việt nói chung và dạy học về nghĩa của từ nói riêng ở các nhà