Định hướng dạy học tác phẩm "Đại cáo bình Ngô" trong sự so sánh với tác phẩm "Tuyên ngôn Độc lập" theo đề xuất của luận văn ..... Ta có thể kể đến những tác phẩm xuất sắc như: “Chiếu dời
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
BÙI THỊ THU TRANG
DẠY HỌC TÁC PHẨM NGHỊ LUẬN TRUNG ĐẠI TRONG SỰ SO SÁNH VỚI TÁC PHẨM NGHỊ LUẬN HIỆN ĐẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thái Nguyên - Năm 2012
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
BÙI THỊ THU TRANG
DẠY HỌC TÁC PHẨM NGHỊ LUẬN TRUNG ĐẠI TRONG SỰ SO SÁNH VỚI TÁC PHẨM NGHỊ LUẬN HIỆN ĐẠI
Chuyên ngành: LL&PP dạy học Văn - Tiếng Việt
Mã số: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Gia Cầu
Thái Nguyên - Năm 2012
Trang 3Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới Tiến sĩ Nguyễn Gia Người thầy đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
Cầu-và hoàn thành luận văn
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, Phòng đào tạo - Nghiên cứu khoa học trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho em trong quá trình nghiên cứu và học tập tại trường
Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo trong tổ Văn trường THPT Tân Yên số 1, trường THPT Nhã Nam và trường THPT Lạng Giang số1 - Tỉnh Bắc Giang; bè bạn, đồng nghiệp cùng những người thân trong gia đình đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian qua
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2012
Tác giả luận văn
Bùi Thị Thu Trang
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng, các kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố ở bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Bùi Thị Thu Trang
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục i
Danh mục chữ viết tắt iv
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 8
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 8
1.1 Cơ sở lí luận 8
1.1.1 Đặc trưng cơ bản của văn nghị luận 8
1.1.2 Đặc điểm cơ bản của văn nghị luận trung đại và văn nghị luận hiện đại 12
1.1.2.1 Đặc điểm của văn nghị luận trung đại 13
1.1.2.2 Đặc điểm của văn nghị luận hiện đại 14
1.2 Cơ sở thực tiễn 16
1.2.1 Thực tế của việc dạy tác phẩm" Đại cáo bình Ngô" và "Tuyên ngôn Độc lập" trong nhà trường hiện nay đối với giáo viên THPT 16
1.2.1.1 Thực tế của việc dạy tác phẩm "Đại cáo bình Ngô" 16
1.2.1.2 Thực tế của việc dạy tác phẩm "Tuyên ngôn Độc lập" 26
1.2.2 Khả năng cảm thụ của học sinh khi học tác phẩm "Đại cáo bình Ngô" và "Tuyên ngôn Độc lập" 33
1.2.2.1 Khả năng cảm thụ của học sinh khi học tác phẩm "Đại cáo bình Ngô" 34
1.2.2.2 Khả năng cảm thụ của học sinh khi học tác phẩm "Tuyên ngôn Độc lập" 38
Chương 2 ĐỊNH HƯỚNG DẠY HỌC TPNL TRUNG ĐẠI TRONG SỰ SO SÁNH VỚI TPNL HIỆN ĐẠI 42
2.1 Giới thiệu tổng quát các TPNL trung đại và các TPNL hiện đại trong chương trình và SGK Ngữ văn THPT 42
2.1.1 Các tác phẩm nghị luận chính trị xã hội 43
Trang 62.1.1.1 Các tác phẩm nghị luận thời trung đại 43
2.1.1.2 Các tác phẩm nghị luận thời hiện đại 49
2.1.2 Các tác phẩm nghị luận văn học 52
2.1.2.1 Tác phẩm nghị luận thời trung đại 52
2.1.2.2 Các tác phẩm nghị luận thời hiện đại 53
2.2 Giá trị nội dung và nghệ thuật của "Đại cáo bình Ngô" và "Tuyên ngôn Độc lập" (qua ý kiến đánh giá của các nhà nghiên cứu ) 56
2.2.1 Giá trị nội dung và nghệ thuật của "Đại cáo bình Ngô" (qua ý kiến đánh giá các nhà nghiên cứu) 56
2.2.1.1 Ý kiến của tác giả Lã Nhâm Thìn (cuốn "Giảng văn văn học Việt Nam" NXB Giáo dục, 2001) 56
2.2.1.2 Ý kiến của GS Bùi Văn Nguyên (Cuốn "Để học tốt" Ngữ Văn 10 NXB Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh) 59
2.2.2 Giá trị nội dung và nghệ thuật của "Tuyên ngôn Độc lập" (qua ý kiến đánh giá của các nhà nghiên cứu) 63
2.2.2.1 Ý kiến của tác giả Nguyễn Đăng Mạnh (cuốn "Giảng văn văn học Việt Nam" NXB Giáo Dục, 2001) 63
2.2.2.2 Ý kiến của GS Phan Trọng Luận (Cuốn "Văn học nhà trường, nhận diện, tiếp cận và đổi mới") 65
2.3 Định hướng dạy học hai tác phẩm "Đại cáo bình Ngô" và "Tuyên ngôn Độc lập" trong SGV 67
2.3.1 Định hướng dạy học trong SGV Ngữ văn bộ cơ bản 67
2.3.1.1 Định hướng dạy học "Đại cáo bình Ngô" 67
2.3.1.2 Định hướng dạy học "Tuyên ngôn Độc lập" 72
2.3.2 Định hướng dạy học trong SGV Ngữ văn bộ nâng cao 76
2.3.2.1 Định hướng dạy học "Đại cáo bình Ngô" 76
2.3.2.2 Định hướng dạy học " Tuyên ngôn Độc lập" 77
2.4 Định hướng dạy học tác phẩm "Đại cáo bình Ngô" trong sự so sánh với tác phẩm "Tuyên ngôn Độc lập" theo đề xuất của luận văn 79
Trang 72.4.1 Định hướng chung 80
2.4.2 Định hướng về nội dung 80
2.4.3 Định hướng về phương pháp 83
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 84
3.1 Thiết kế thể nghiệm dạy học tác phẩm "Đại cáo bình Ngô" trong sự so sánh với tác phẩm "Tuyên ngôn Độc lập" 84
3.2 Dạy học thực nghiệm 101
3.2.1 Mục đích thực nghiệm 101
3.2.2 Cách thức thực nghiệm 101
3.2.3 Kết quả thực nghiệm 102
3.2.4 Kết luận chung về thực nghiệm 104
PHẦN KẾT LUẬN 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Tác phẩm nghị luận từ lâu đã được được đưa vào giảng dạy ở các
trường phổ thông Do vậy cho đến nay cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về phương pháp giảng dạy TPNL, song nếu nhìn một cách tổng quát và
so sánh với các thể loại văn học khác thì các công trình nghiên cứu về phương pháp giảng dạy TPNL còn khá khiêm tốn và chưa được bàn đến một cách rộng rãi Đặc biệt hướng dạy học TPNL trung đại trong sự so sánh với TPNL hiện đại cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến Vì vậy trong đề tài này chúng tôi mạnh dạn tìm hiểu và đề xuất một hướng mới
trong dạy học TPNL, đó là “Dạy học TPNL trung đại trong sự so sánh với
TPNL hiện đại” với mong muốn đóng góp thêm một phần nhỏ bé vào lí luận
dạy học TPNL nói chung
1.2 Văn nghị luận là một thể văn đã có từ rất sớm Trải qua nhiều thăng
trầm biến cố của lịch sử văn nghị luận đã tồn tại và thể hiện được vai trò to lớn của mình Điều đó đã được chứng minh bởi ở thời đại nào văn nghị luận cũng có những tác phẩm bất hủ và có ý nghĩa sâu sắc Ta có thể kể đến những
tác phẩm xuất sắc như: “Chiếu dời đô” của Lí Công Uẩn, “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn, “Đại cáo bình Ngô” của Nguyễn Trãi, “Tuyên ngôn
Độc lập” của Hồ Chí Minh…Các tác phẩm nghị luận lớn và mẫu mực ấy đã
chứa đựng nhiều giá trị không chỉ có ý nghĩa về mặt lịch sử, văn chương mà còn là những bằng chứng chân thực, xác đáng nhất thể hiện rõ quan niệm và
tư duy của con người trong từng thời đại
Trong số những TPNL được đưa vào giảng dạy trong chương trình SGK
thì “Đại cáo bình Ngô”của Nguyễn Trãi và “Tuyên ngôn Độc lập” của Hồ Chí Minh được coi là những TPNL mẫu mực của mọi thời đại Từ lâu “Đại cáo bình
Ngô” và “Tuyên ngôn Độc lập” đã được đưa vào giảng dạy trong chương trình
trung học phổ thông Những định hướng và thiết kế giảng dạy hai tác phẩm này
có nhiều song nếu nhìn khái quát vẫn chưa có thiết kế nào hướng dẫn giảng dạy
Trang 10“Đại cáo bình Ngô”- một TPNL trung đại mẫu mực, trong sự so sánh với
“Tuyên ngôn Độc lập”- một TPNL hiện đại mẫu mực Trong khi đó nếu đặt
“Đại cáo bình Ngô”của Nguyễn Trãi bên cạnh “Tuyên ngôn Độc lập” của Hồ
Chí Minh chúng ta sẽ nhận thấy có nhiều vấn đề cần được bàn luận Chính vì lẽ
đó, ở đề tài này chúng tôi lựa chọn hướng nghiên cứu “Dạy - học TPNL trung
đại trong sự so sánh với TPNL hiện đại” để thấy được sự vận động của thể văn
nghị luận có sự gắn liền với tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc và tiến trình phát triển của văn học Hơn nữa chúng tôi thiết nghĩ rằng giảng dạy TPNL trung đại trong sự so sánh với TPNL hiện đại sẽ là một hình thức và điều kiện cho học sinh có cơ hội phát triển năng lực tư duy, nhìn nhận vấn đề tổng quát và có kĩ năng so sánh, khái quát vấn đề được tốt hơn Đây là kĩ năng cơ bản và cần thiết của con người mới trong xã hội hiện nay
2 Lịch sử vấn đề
Trong lịch sử văn học Việt Nam, văn nghị luận chiếm một vị trí quan trọng và có nhiều thành tựu đáng kể Từ lâu, văn nghị luận đã được đưa vào giảng dạy trong chương trình SGK phổ thông Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu và các thiết kế dạy học TPNL ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu dạy và học TPNL
2.1 Một số ý kiến về giảng dạy văn nghị luận
Từ những thập kỉ 70 của thế kỉ XX nhóm tác giả Trần Thanh Đạm, Huỳnh Lý, Hoàng Như Mai, Phạm Sĩ Tấn, Đàm Gia Cẩn đã bàn đến vấn đề
này trong cuốn sách “Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể”
Trong cuốn sách, tác giả Đàm Gia Cẩn có bàn đến vấn đề giảng văn nghị luận theo đặc trưng loại thể (trong đó chú ý đến văn chính luận- một bộ phận quan trọng của văn nghị luận) Một số vấn đề về giảng văn chính luận như sau:
- Những vấn đề cơ bản của văn chính luận:
+ Văn chính luận là một thể tài đặc biệt, khác với những thể tài văn học
có tính chất sáng tác như thơ, truyện, kí
Trang 11+ Mỗi bài văn chính luận đều mang tính thực tiễn, tính mục đích và tính chiến đấu rõ rệt
+ Sự chặt chẽ, mạch lạc của lí lẽ và lập luận theo tư duy logic là đặc điểm nổi bật của văn chính luận
+ Ngoài tính logic, văn chính luận còn có đặc điểm nữa là ngôn ngữ chính xác, trong sáng, cú pháp rõ ràng, chặt chẽ, có sức mạnh lôi cuốn, có ngữ điệu hùng hồn
- Một số yêu cầu về nội dung bài giảng văn chính luận
+ Giảng văn chính luận với yêu cầu giáo dục thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa và phương pháp tư duy biện chứng cho HS + Giảng văn chính luận với yêu cầu phát triển năng lực tư duy của HS + Giảng dạy bài văn chính luận phải lưu ý đến đặc điểm của dạng nghị luận "thể hiện trong bài văn"
+ Một số vấn đề cần lưu ý khi giảng văn chính luận cổ
Đặc biệt từ khi tiến hành đổi mới chương trình SGK ở cấp THPT thì các tài liệu hướng dẫn thực hiện chương trình SGK mới cũng rất chú trọng đến vấn đề giảng dạy văn học theo đặc trưng loại thể Có thể kể đến hai cuốn
“Thiết kế bài học Ngữ Văn 7, 8 theo hướng tích hợp” của TS Hoàng Hữu Bội
Trong cuốn sách tác giả Hoàng Hữu Bội đã đưa ra các bước cụ thể để dẫn dắt
HS đến với một TPNL như sau:
- Bước 1: Tiếp xúc bước đầu với văn bản để có một cái nhìn tổng quát
về văn bản đó, về luận đề, hệ thống luận điểm và trình tự lập luận
- Bước 2: Xem xét từng phần của văn bản về nội dung và hình thức
- Bước 3: Khơi gợi HS trao đổi, bàn luận thêm về vấn đề được tác giả nêu ra, giải quyết trong văn bản nghị luận mà các em có thể học tập được để làm văn nghị luận
Sách giáo khoa lớp 11 (bộ cơ bản) trong bài Một số thể loại văn học
kịch, nghị luận đã trình bày các bước đọc văn nghị luận như sau:
Trang 12- Tìm hiểu thân thế tác giả và hoàn cảnh ra đời của tác phẩm nghị luận Từ
đó nhận ra vấn đề nghị luận xuất phát từ nhu cầu nào, có tầm quan trọng ra sao
- Phải nắm bắt được mạch suy nghĩ, sự vận động của tư tưởng theo tiến trình diễn giải, trình bày vấn đề Chú ý tóm lược các luận điểm và xác định mối quan hệ giữa chúng
- Cảm nhận tâm tư, tình cảm như một mạch chìm trong dòng chảy của TPNL
- Phân tích nghệ thuật lập luận, cách nêu dẫn chứng, sử dụng ngôn ngữ, tác dụng của các biện pháp đó với từng vấn đề được trình bày trong nội dung TPNL
- Nêu khái quát giá trị nội dung tư tưởng và nghệ thuật biểu hiện Rút ra bài học sâu sắc từ TPNL
Như vậy các nhà nghiên cứu, các nhà viết sách đã quan tâm nhiều đến vấn đề giảng dạy TPNL theo đặc trưng loại thể
2.2 Những tài liệu hướng dẫn giảng dạy TPNL
- Sách giáo viên: Chúng tôi có tham khảo định hướng dạy học trong SGV (bộ cơ bản và bộ nâng cao)
- Một số cuốn sách thiết kế dạy học Ngữ văn chương trình THPT, có
thể kể đến như: Thiết kế bài giảng Ngữ Văn 10 của tác giả Nguyễn Văn Đường, Thiết kế dạy học Ngữ Văn 10 (phần Văn học) của tác giả Hoàng Hữu Bội, Giới thiệu giáo án Ngữ Văn 10 của tác giả Nguyễn Hải Châu Trong các
cuốn thiết kế, các tác giả đã đưa ra định hướng dạy học tương đối cụ thể cho từng tác phẩm trong đó có các tác phẩm thuộc văn nghị luận
Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo luận văn thạc sĩ giáo dục của
Nguyễn Ngọc Chiến về "Dạy học tác phẩm nghị luận thời trung đại trong sác
giáo khoa Ngữ Văn 10"- Thái Nguyên 2006
Những ý kiến và đề xuất của họ là tiền đề lí luận quan trọng giúp chúng tôi có cơ sở nghiên cứu và đề xuất một hướng khai thác mới trong dạy học
TPNL đồng thời đưa ra thiết kế thể nghiệm Dạy học TPNL trung đại trong
Trang 13sự so sánh với TPNL hiện đại khi dạy học các tác phẩm nghị luận, với mong
muốn góp một phần nhỏ bé của mình vào việc dạy học TPNL trong trường phổ thông được tốt hơn
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
- Đặc trưng văn nghị luận nói chung và những đặc điểm cơ bản của TPNL trung đại và TPNL hiện đại
- Hoạt động của thầy và trò với việc dạy học TPNL trung đại trong sự so sánh với TPNL hiện đại
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi đề tài chúng tôi giới hạn nghiên cứu hoạt động của thầy
và trò với việc dạy và học TPNL trung đại trong sự so sánh với TPNL hiện
đại thông qua hai tác phẩm nghị luận tiêu biểu của hai thời đại là “Đại cáo
bình Ngô” của Nguyễn Trãi - sách Ngữ văn 10 (bộ chuẩn) và “Tuyên ngôn Độc lập” của Hồ Chí Minh - sách Ngữ văn 12 (bộ chuẩn)
- Đặc trưng của thể loại nghị luận
- Sự kế thừa, phát huy, sự khác biệt trong tư duy nghị luận của từng thời đại
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Tìm hiểu vấn đề dạy học TPNL dưới góc nhìn lí luận
5.2 Khảo sát thực tiễn việc dạy của giáo viên và khả năng cảm thụ của học
sinh đối với TPNL ở trường phổ thông hiện nay
5.3 Đề xuất hướng dạy học TPNL trung đại trong sự so sánh với TPNL
hiện đại
Trang 145.4 Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả thi của đề tài
6 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu chúng tôi vận dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
6.1 Các phương pháp nghiên cứu về mặt lí thuyết
Bao gồm : phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát về văn nghị luận
6.2 Các phương pháp nghiên cứu về mặt thực tiễn
Bao gồm : Điều tra, khảo sát, thống kê, phân loại và thực nghiệm sư phạm
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần nội dung của luận văn gồm
ba chương
Chương 1 Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Đặc trưng cơ bản của văn nghị luận
1.1.2 Đặc điểm cơ bản của văn nghị luận trung đại và văn nghị luận hiện đại 1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thực tế của việc dạy tác phẩm “Đại cáo bình Ngô” và “Tuyên ngôn
Độc lập” trong nhà trường hiện nay đối với giáo viên THPT
1.2.2 Khả năng cảm thụ của học sinh khi học tác phẩm “Đại cáo bình Ngô”
2.2 Giá trị nội dung và nghệ thuật của “Đại cáo bình Ngô” và “Tuyên ngôn
Độc lập” (qua ý kiến đánh giá của các nhà nghiên cứu)
2.3.Định hướng dạy học hai tác phẩm “Đại cáo bình Ngô” và “Tuyên ngôn
Độc lập” trong sách giáo viên
Trang 152.4 Định hướng dạy học tác phẩm “Đại cáo bình Ngô” trong sự so sánh với
tác phẩm “Tuyên ngôn Độc lập" do luận văn đề xuất
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
3.1 Thiết kế thể nghiệm dạy học tác phẩm “Đại cáo bình Ngô” trong sự so
sánh với tác phẩm “Tuyên ngôn Độc lập”
3.2 Dạy thực nghiệm tác phẩm “Đại cáo bình Ngô” trong sự so sánh với tác
phẩm “Tuyên ngôn Độc lập”
Trang 16PHẦN NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Đặc trưng cơ bản của văn nghị luận
Từ xa xưa văn nghị luận đã có một vị trí quan trọng trong đời sống xã hội cũng như trong đời sống văn học Trong thời kì xã hội phong kiến, văn nghị luận đã có đóng góp lớn cho nền văn học dân tộc Cùng với sự phát triển của xã hội và thời đại, văn nghị luận ngày càng có được vị trí quan trọng trong nền văn học nước nhà Khác với các thể loại thơ, truyện, kịch, văn nghị luận mang trong mình những đặc trưng riêng biệt Để hiểu rõ những đặc trưng
cơ bản của văn nghị luận trước hết chúng ta điểm qua một số khái niệm về
văn nghị luận nói chung
Trong cuốn “Từ điển Tiếng Việt” đã định nghĩa về văn nghị luận như sau: “Nghị luận là bàn bạc và đánh giá cho rõ một vấn đề nào đó Văn nghị
luận là thể văn dùng lí lẽ phân tích và giải quyết vấn đề” [39- tr.678]
Bên cạnh đó ta thấy nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn
Khắc Phi khi biên soạn cuốn sách “Từ điển thuật ngữ văn học” cũng cho rằng: “Luận là thể văn nghị luận điển hình của văn chương cổ nhằm trình bày
tư tưởng và học thuyết chính trị, triết học, văn nghệ, lịch sử, đạo đức…Đặc điểm của luận là thuyết minh lí lẽ, đạo lí, phân tích đúng sai, biện bác ý kiến người khác Ngôn ngữ của luận phải chặt chẽ, khúc chiết, có căn cứ
lí lẽ, có ví dụ thực tế để chứng minh Chức năng của luận là vũ trang cho người đọc một quan điểm, tư tưởng, lập trường có cơ sở lí luận trong đời sống sinh hoạt và học thuật Chẳng hạn “Thiên luận” (Bàn về trời) của Tuân Tử, “Luận hành” (Cán cân lập luận) của Vương Sung, “Phong kiến luận” (Bàn về phong kiến) của Liễu Tông Nguyên…đều là những bài luận nổi tiếng của Trung Quốc; ở nước ta, có thể kể đến “Thiên hạ phân hợp đại thể luận” của Nguyễn Trường Tộ, "Luận về chánh học cùng tà thuyết"
Trang 17của Ngô Đức Kế Trong văn học cận hiện đại, do ý thức xã hội chính trị phát triển, báo chí ấn loát trở thành phương tiện phổ thông, luận chuyển hoá thành xã luận, bình luận chính trị, phê bình văn học, tiểu luận nghiên cứu
Trong nhà trường, luận vốn là một kiểu bài làm văn ngày nay gọi là văn nghị luận" [14- tr.164]
Có thể thấy văn nghị luận là thể văn tồn tại tương đối độc lập và khác biệt so với các thể loại văn học khác như thơ, truyện , kịch Văn nghị luận tác động tới người đọc bằng nghệ thuật lập luận chặt chẽ, những lí lẽ xác đáng, những bằng chứng thuyết phục với giọng điệu hùng hồn, tha thiết, để thuyết minh về một lập trường tư tưởng nào đó và hướng người đọc đến lập trường
tư tưởng ấy
Cùng quan điểm đó, tác giả Nguyễn Quốc Siêu trong cuốn "Kĩ năng
làm văn nghị luận phổ thông" (NXBGD 2003) đã chỉ ra rằng: "Văn nghị luận
là loại văn chương nghị sự, luận chứng, phân tích lí lẽ Nó là tên gọi chung của một thể loại văn vận dụng các hình thức tư duy lô gic như khái niệm, phán đoán, suy lí và thông qua việc nêu sự thực, trình bày lí lẽ, phân biệt đúng sai để tiến hành phân tích luận chứng khoa học đối với khách quan và quy luật bản chất của sự vật, từ đó nhằm biểu đạt tư tưởng, chủ trương ý kiến, quan điểm của tác giả"
Tác giả Bảo Quyến trong cuốn "Rèn kĩ năng làm văn nghị luận" cũng viết về đặc trưng cơ bản của văn nghị luận như sau: "Khác với văn miêu tả,
kể chuyện nhằm tái hiện con người và cuộc sống bằng ngôn ngữ, chủ yếu khơi gợi, tác động vào cảm xúc, tư tưởng của người đọc (người nghe), văn nghị luận thiên về trình bày lí lẽ để giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận về một vấn đề nào đó nhằm tác động vào trí tuệ, lí trí của người đọc
Nó là kết quả của tư duy lô gic Do đó nó phải tuân thủ những quy tắc chặt chẽ trong quá trình thực hiện Tuy nhiên nó cũng không loại trừ hai loại văn trên Ngôn ngữ của văn nghị luận là ngôn ngữ mang phong cách nghị
Trang 18luận Nó chú trọng đặc biệt đến sự chính xác, chặt chẽ vì mục đích của diễn đạt đến việc nhận thức chân lí Tuy nhiên ngôn ngữ của văn nghị luận cũng cần có sự hấp dẫn, lôi cuốn bằng các từ ngữ hình tượng có biểu cảm, bằng cách diễn đạt linh hoạt chứ không chấp nhận sự khô khan, đơn điệu nhất
là khi đối tượng nghị luận là một vấn đề văn học, một tác phẩm văn học"
Trong số những tác giả quan tâm và bàn bạc về những đặc trưng cơ bản văn nghị luận, tác giả Hoàng Hữu Bội phân tích và chỉ ra văn nghị luận có ba đặc trưng cơ bản sau:
1 Văn nghị luận "là thể văn dùng lí lẽ phân tích, giải quyết vấn đề" (Từ
điển Tiếng Việt) Ở đây người viết trình bày những hiểu biết, suy nghĩ, quan
điểm, thái độ cách giải quyết của mình về vấn đề nào đó thuộc các lĩnh vực: chính trị, xã hội, đạo đức, học thuật, văn học nghệ thuật
2 Khác với "văn học nghệ thuật", văn chính luận trình bày tư tưởng và thuyết phục người đọc chủ yếu bằng lập luận, lí lẽ, đôi khi cũng tái hiện đời sống nhưng đó chỉ là những hình ảnh minh hoạ, làm cơ sở cho lập luận
3 Một tác phẩm có giá trị hay không là phụ thuộc vào tầm tư tưởng, tầm trí tuệ của người viết, phụ thuộc vào sự mạch lạc của suy nghĩ, sự chặt chẽ của lập luận và sự diễn đạt hấp dẫn có chứa đầy tình cảm nhiệt huyết chân thành của người viết
Khi nghiên cứu văn nghị luận dưới góc nhìn lí luận, tác giả Nguyễn Văn Hạnh cũng nhận thấy những đặc trưng cơ bản, riêng biệt của luận và bàn luận
tương đối kĩ về thể văn này như sau: "Trong văn học có một loạt tác phẩm
mang những đặc điểm khác biệt với thơ, truyện, kí hợp thành một loại riêng
đó là luận Luận là bàn luận, nghị luận về một vấn đề nào đó có thể là chính trị, đạo đức, xã hội, học thuật Người viết tác phẩm luận nêu rõ vấn đề cần xem xét, trình bày hiểu biết, suy nghĩ, quan điểm, thái độ, cách giải quyết của mình đối với vấn đề đó thông qua phân tích, chứng minh, khẳng định hoặc phê phán bằng lí lẽ, bằng sự kiện, bằng tình cảm Giá trị của tác phẩm phụ thuộc vào ý nghĩa của vấn đề được nêu ra, vào quan điểm xem xét và giải
Trang 19quyết vấn đề, vào sức thuyết phục của lập luận Trong tác phẩm luận mọi yếu
tố của nội dung và hình thức, từ ý tưởng, sự việc, hình ảnh cho đến kết cấu, lời văn đều phải quy vào một mối, tập trung làm sáng tỏ, nổi bật một hoặc một số chủ đề tư tưởng nào đó đã được xác định trước mà người viết cho là đúng đắn và cần làm cho người khác đồng tình, chấp nhận Điều quan trọng bậc nhất đối với người viết luận là phải có lẽ phải, có ý kiến mới mẻ và xác đáng về vấn đề đang được đề cập đến, có cách trình bày chặt chẽ, mạch lạc
Tác phẩm luận có đặc điểm riêng, thoả mãn nhu cầu của con người về mặt nhận thức và thẩm mĩ Nó hoàn toàn khác với thơ truyện và kí Luận có tính chất văn học có hai thể đáng chú ý là văn chính luận và phê bình văn học." [16- tr.104]
Như vậy theo nhà lí luận Nguyễn Văn Hạnh, văn chính luận là thể văn cơ bản của văn nghị luận nói chung Văn chính luận mang trong mình những đặc trưng cơ bản nhất, tiêu biểu nhất của văn nghị luận Vì thế
cuốn "Từ điển thuật ngữ văn học" cũng chỉ ra rằng: "Văn chính luận là
thể văn nghị luận viết về những vấn đề thời sự nóng bỏng thuộc nhiều lĩnh vực đời sống khác nhau: chính trị, triết học, kinh tế, văn hoá Mục đích của văn chính luận là bàn bạc, thảo luận, phê phán hay truyền bá một tư tưởng, một quan điểm nào đó, nhằm phục vụ trực tiếp cho lợi ích của một tầng lớp, một giai cấp nhất định Chính vì thế tác phẩm chính luận bao giờ cũng thể hiện một khuynh hướng tư tưởng, lập trường công
Trang 20dân rõ ràng, tình cảm sục sôi, luận chiến quyết liệt và tính khuynh hướng công khai là những dấu hiệu quan trọng của phong cách chính luận Đặc trưng cơ bản của văn chính luận là tính chất luận thuyết Khác với văn nghệ thuật văn chính luận thuyết phục người đọc chủ yếu bằng lập luận,
lí lẽ Văn chính luận đôi khi cũng tái hiện đời, miêu tả tính cách, số phận chỉ nhằm mục đích đưa ra những ví dụ sinh động làm cơ sở cho lập luận thường là những "hình tượng minh hoạ", nó chỉ chứa đựng nội dung phổ quát của chủng loại chứ không phải là hình tượng tiêu biểu cho cái độc đáo, không lặp lại
Văn chính luận giữ vai trò đặc biệt quan trọng các cuộc đấu tranh xã hội, trong lịch sử văn hoá nhân loại nói chung, của dân tộc ta nói riêng "Hịch tướng sĩ" của Trần Hưng Đạo, "Bình Ngô đại cáo" của Nguyễn Trái, "Tuyên ngôn Độc lập" của Hồ Chí Minh là những tác phẩm chính luận bất hủ" [16 -tr.247]
Từ một số ý kiến của các nhà chuyên môn, chúng ta nhận thấy điểm thống nhất trong nhận định về những đặc trưng cơ bản của văn nghị luận như sau: Văn nghị luận là thể văn dùng để bàn bạc, đánh giá về một vấn đề nào đó như chính trị, kinh tế, đạo đức, văn hoá Văn nghị luận thuyết phục người đọc bằng lập luận dựa trên cơ sở những lí lẽ xác đáng, bằng chứng thuyết phục và giọng văn truyền cảm của người viết, từ đó tác động tới lí trí và tình cảm của người đọc để giúp người đọc nghiêng theo một lập trường tư tưởng, theo quan điểm của người viết
Trên đây là những bàn luận rất khái quát và tiêu biểu về đặc trưng của văn nghị luận nói chung và văn chính luận nói riêng Đó là cơ sở lí luận quan
trọng để chúng tôi vận dụng trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài "Dạy
học TPNL trung đại trong sự so sánh với TPNL hiện đại"
1.1.2 Đặc điểm cơ bản của văn nghị luận trung đại và văn nghị luận hiện đại
Ở phần trên chúng ta đã bàn đến đặc trưng cơ bản của văn nghị luận nói chung, văn chính luận nói riêng và đã nhận thấy điểm thống nhất trong nhận xét về những đặc trưng cơ bản của văn nghị luận Tuy nhiên nếu nhìn vấn đề
Trang 21một cách sâu sắc hơn khi đối chiếu những TPNL ở các thời đại khác nhau sẽ thấy văn nghị luận trung đại và văn nghị luận hiện đại có những điểm khác biệt Ở mỗi thời đại văn nghị luận lại có những đặc điểm riêng
1.1.2.1 Đặc điểm của văn nghị luận trung đại
Chúng ta nhận thấy luận là trình bày một quan điểm, một tư tưởng, một chủ trương nào đó về chính trị, triết học, đạo đức Như vậy, văn nghị luận bao giờ cũng thể hiện một lập trường, tư tưởng cụ thể Một tác phẩm nghị luận muốn thuyết phục được người đọc, người nghe thì lập trường tư tưởng thể hiện trong đó phải phù hợp với xu thế của thời đại và đương nhiên chịu
sự chi phối của tư tưởng thời đại
Trong thời kì xã hội phong kiến, môi trường sản sinh ra văn học trung đại,
tư tưởng chính trị được nêu cao và xuyên suốt là tư tưởng trung quân (Theo quan điểm của Nho gia: trung quân là ái quốc) Đạo Nho - một đạo được du nhập từ Trung Quốc có ảnh hưởng rất lớn đến Việt Nam và trở thành đạo chính thống trong một thời gian dài, đã luôn giáo dục con người cần tôn trọng những mối ràng buộc của xã hội trong đó có đạo quân - thần Vua là đức chí tôn, con trời (thiên tử) nên vua là người cai quản đất nước và ý vua là ý trời Ngay từ thế
kỉ XI Lí Thường Kiệt trong bài thơ Nam quốc sơn hà, một tác phẩm xưa nay vẫn
coi là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta đã khẳng định:
"Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư"
(Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận ở sách trời)
Mọi người trong đất nước, dưới quyền cai trị của vua phải tuân thủ tuyệt đối theo lệnh vua Vì thế tư tưởng trung quân đã ăn sâu, bám rễ vào tư tưởng của con người thời đại Trong khi đó văn học xưa nay vẫn phản ánh tâm tư tình cảm của con người thời đại Do chịu ảnh hưởng của tư tưởng thời đại, văn học trung đại dù được thể hiện dưới hình thức nào (Thơ, truyện, kí hay văn nghị luận ) cũng nhằm trình bày và thuyết phục người đọc hướng tới tư
Trang 22tưởng trung quân Có thể thấy tư tưởng chủ đạo, xuyên suốt các TPNL thời trung đại đều thể hiện tư tưởng trung quân
Do chịu sự chi phối của thi pháp văn học thời đại Trong văn học
trung đại, thi pháp chủ yếu là ước lệ, tượng trưng, sùng cổ, phi ngã; sử dụng nhiều điển cố, điển tích Do vậy nghị luận trung đại khi vận dụng dẫn chứng làm cơ sở cho lập luận cũng tuân thủ khá chặt chẽ thi pháp này Dẫn chứng trong nghị luận trung đại thường mang đậm tính ước lệ, tượng trưng, sử dụng nhiều điển cố, điển tích, hay viện dẫn trong sách cổ:
"Ta thường nghe Kỉ Tín đem mình chết thay để cứu thoát cho Cao đế, Do
Vu chìa lưng chịu giáo che chở cho Chiêu Vương, Dự Nhượng nuốt than
để báo đền cho chủ, " (Hịch tướng sĩ) Ngô Thì Nhậm cũng trích dẫn lời
nói của Khổng Tử để thuyết phục hiền tài ra giúp nước:"Người hiền xuất
hiện ở đời thì như ngôi sao sáng trên trời cao, sao sáng ắt chầu về ngôi Bắc Thần người hiền ắt làm sứ giả cho thiên tử " (Chiếu cầu hiền) Đó là
đặc điểm điển hình của nghị luận trung đại nói riêng và văn học trung đại nói chung
Ngôn ngữ trong văn nghị luận trung đại thường đậm yếu tố hàn lâm, sách vở Cách diễn đạt thường sử dụng các kiểu câu biền ngẫu, đặc biệt là tính đối xứng, một đặc trưng nghệ thuật của văn học cổ trung đại, nảy sinh do nhu cầu nhận thức và phản ánh cuộc sống của con người thời quá khứ Nó như một "công thức nghệ thuật có tính nhân loại"
1.1.2.2 Đặc điểm của văn nghị luận hiện đại
Đến đầu thế kỉ XX những luồng tư tưởng mới từ phương Tây đặc biệt là cuộc cách mạng Dân chủ tư sản Pháp đã đưa tư tưởng dân chủ tư sản vào nước ta như một luồng gió mới làm tan lớp thành kiến cố hữu đã tồn tại hàng nghìn năm của tư tưởng xã hội thời phong kiến - tư tưởng trung quân Đặc biệt Cách mạng tháng Tám thành công, nước nhà được độc lập, một nhà nước mới ra đời đi liền với nó là tư tưởng thời đại mới được hình thành- tư tưởng nhân dân, tư tưởng dân chủ Cùng với những sự kiện mới của lịch sử, văn học
Trang 23thời kì này phát triển mau lẹ Đội ngũ nhà văn đông đảo, được trang bị bởi một hệ tư tưởng mới đã cho ra đời nhiều tác phẩm văn học mới, thể hiện tư tưởng thời đại mới trong đó không loại trừ văn nghị luận Một trong những tác phẩm nghị luận ra đời trong giai đoạn lịch sử mới gây được tiếng vang lớn
và có giá trị sâu sắc hơn cả là "Tuyên ngôn Độc lập" của Hồ Chí Minh
"Tuyên ngôn Độc lập"- tác phẩm được đánh giá là tác phẩm nghị luận mẫu
mực của mọi thời đại đã thể hiện rất rõ tư tưởng dân chủ, tư tưởng nhân dân
mà ở phần sau của luận văn chúng ta sẽ có dịp bàn đến rộng hơn
Nói một cách khái quát, nếu nghị luận trung đại tập trung phản ánh tư tưởng trung quân - ái quốc thì nghị luận hiện đại lại tập trung phản ánh tư tưởng dân chủ, tư tưởng nhân dân Như Bác đã từng nói "yêu nước là yêu dân" Tác phẩm nghị luận hiện đại cũng thể hiện khá rõ thi pháp hiện đại Dẫn chứng được đưa ra làm căn cứ, cơ sở cho lập luận thường là dẫn chứng cụ thể, xác thực, rõ ràng tạo tiền đề cho những lập luận chặt chẽ, đanh thép, hùng hồn Ngôn ngữ trong văn nghị luận hiện đại rất gần gũi, sử dụng nhiều từ toàn dân Vì vậy nhiều lớp từ chính trị trong văn nghị luận hiện đại đã thẩm thấu vào trong ngôn ngữ hàng ngày của người dân Việt
Dù ở thời đại nào, TPNL muốn có giá trị hay không đều phụ thuộc vào tầm tư tưởng, tầm trí tuệ của người viết Một TPNL sâu sắc phải thể hiện rõ một tư tưởng lớn, sự nhạy bén, sắc sảo về trí tuệ, sự mạch lạc và giàu tính thuyết phục của lập luận Đặc biệt tác phẩm ấy phải là kết tinh tất cả tài năng
và tâm hồn của người viết Do vậy, đây cũng chính là điểm cơ bản làm nên nét riêng của từng tác phẩm và phong cách riêng của từng tác giả viết văn nghị luận
Dựa vào ý kiến của các nhà nghiên cứu về đặc trưng của văn nghị luận, chúng tôi đã mạnh dạn so sánh văn nghị luận trung đại và văn nghị luận hiện đại trên hai phương diện - phương diện lí luận và phương diện thực tiễn để từ
đó chỉ ra những điểm khác biệt trong văn nghị luận ở hai thời đại khác nhau
Trang 24Đây sẽ là những tiền đề lí luận quan trọng làm cơ sở cho chúng tôi tiến hành khảo sát thực tiễn trong quá trình thực hiện luận văn
- Dự giờ một số GV khi dạy Đại cáo bình Ngô và Tuyên ngôn Độc lập
- Trao đổi, lấy ý kiến qua một số câu hỏi
* Địa bàn khảo sát: Trường THPT Tân Yên số 1- Tân Yên- Bắc Giang
* Thời điểm khảo sát:
- Tháng 09 năm 2011 với tác phẩm Tuyên ngôn Độc lập
- Tháng 01 năm 2012 với tác phẩm Đại cáo bình Ngô
1.2.1.1 Thực tế của việc dạy tác phẩm "Đại cáo bình Ngô"
a) Hoạt động của Thầy và Trò trong giờ học
Sau đây là kết quả khảo sát của chúng tôi khi dự giờ tại lớp 10A4 trường THPT Tân Yên số 1- Tân Yên- Bắc Giang Chúng tôi đã ghi chép lại hoạt động của thầy và trò trong tiết học như sau:
GV giới thiệu lời vào bài để tạo ấn tượng ban đầu, sau đó ghi đầu bài lên bảng
I Tìm hiểu chung
1 Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm
- HS đọc phần Tiểu dẫn trong SGK
- GV hỏi: Nêu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm?
- HS dựa vào SGK trả lời
- GV chốt lại:
+ Mùa đông năm 1427 cuộc kháng chiến chống giặc Minh hoàn toàn thắng lợi
Trang 25+ Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế lập ra triều Hậu Lê, sai Nguyễn
Trãi viết Bình Ngô đại cáo bố cáo cho toàn dân được biết nước Việt đã giành
được độc lập, non sông trở lại thái bình,
2 Nhan đề
- GV hỏi: Hiểu biết của em về nhan đề tác phẩm?
- HS trả lời
- GV gợi mở:
+ Chữ Hán: Bình Ngô đại cáo, dịch ra tiếng Việt là Đại cáo bình Ngô
+ Giải nghĩa: từ Đại cáo (bài cáo lớn), bình (dẹp yên), Ngô (giặc Minh)
=> Ý nghĩa nhan đề: Bài cáo lớn ban bố về việc dẹp yên giặc Ngô
+ Đặc trưng: Viết bằng văn xuôi hay văn vần, phần nhiều là văn biền ngẫu Lời lẽ đanh thép, lí luận sắc bén, kết cấu chặt chẽ, mạch lạc
II Đọc - Hiểu văn bản
1 Đọc và tìm bố cục
- HS đọc văn bản, GVnhận xét, hướng dẫn giọng đọc
- GV hỏi: Nêu bố cục của tác phẩm?
- HS trao đổi thảo luận, trả lời
- GV chốt lại: Bố cục 4 phần
+ Phần 1: Nêu luận đề chính nghĩa
+ Phần 2: Vạch rõ tội ác của giặc Minh xâm lược
+ Phần 3: Kể lại 10 năm chiến đấu và chiến thắng của nghĩa quân Lam Sơn
Trang 26+ Phần 4: Tuyên bố thắng lợi, khẳng định sự nghiệp chính nghĩa, rút ra bài học lịch sử
2 Tìm hiểu văn bản
a Đoạn 1: Nêu cao luận đề chính nghĩa
- GV hỏi: Luận đề chính nghĩa được nêu cao bao gồm mấy luận điểm chính? Đó là những luận điểm gì? Vị trí và nội dung cụ thể của nó như thế nào?
- HS trao đổi , trả lời
- GV chốt lại:
* Tư tưởng nhân nghĩa
+ Theo quan điểm của đạo Nho: nhân nghĩa là mối quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người
+ Nguyễn Trãi đã chắt lọc lấy hạt nhân cơ bản và đem đến một nội dung mới: nhân nghĩa là yên dân trừ bạo
=> Đó là cơ sở bóc trần luận điệu xảo trá của giặc Minh và khẳng định lập trường chính nghĩa của ta và tính chất phi nghĩa của kẻ thù
* Chân lí khách quan về sự tồn tại độc lập, có chủ quyền của nước Đại Việt:
Cương vực lãnh thổ, nền văn hiến, phong tục, lịch sử riêng, chế độ riêng, hào kiệt đời nào cũng có
- GV hỏi: Nhận xét về cách dùng từ, giọng điệu của đoạn văn?
- HS nhận xét
- GV chốt ý:
+ Các từ ngữ: "Từ trước", "đã lâu", "vốn xưng", "đã chia", "cũng khác", cho thấy sự tồn tại hiển nhiên, vốn có lâu đời của nước Đại Việt độc lập, có chủ quyền, có văn hiến
+ Giọng điệu: trang trọng, hào hùng mang tính chất của lời tuyên ngôn
- GV hỏi: So sánh với Nam quốc sơn hà để thấy sự phát triển của tư
tưởng chủ quyền độc lập?
- HS trao đổi, thảo luận trả lời
Trang 27GV: Để khẳng định cho chân lí khách quan, chứng minh cho sức mạnh của chính nghĩa, nhân nghĩa, Nguyễn Trãi đã đưa ra những chứng cứ còn ghi, niềm tự hào dân tộc
b Đoạn 2: Bản cáo trạng hùng hồn, đẫm máu và nước mắt
- GV hỏi: Nguyễn Trãi đã tố cáo những tội ác nào của giặc Minh? Tác giả đứng trên lập trường nào?
- HS trao đổi trả lời
- GV chốt lại:
* Những âm mưu và tội ác của kẻ thù
+ Âm mưu xâm lược quỷ quyệt của giặc Minh
Chữ "nhân", "thừa cơ" vạch rõ luận điệu giả nhân, giả nghĩa, "mượn gió
bẻ măng" của kẻ thù
Nguyễn Trãi đứng trên lập trường dân tộc, lập trường nhân bản để tố cáo chủ trương chính sách cai trị vô nhân đạo, vô cùng hà khắc của kẻ thù: tàn sát người vô tội, bóc lột tàn tệ dã man, huỷ diệt môi trường sống
=> Hình ảnh nhân dân tội nghiệp, đáng thương, khốn khổ, điêu linh
=> Hình ảnh kẻ thù: tàn bạo, vô nhân tính như những tên ác quỷ:"Thằng
há miệng chưa chán"
- GV hỏi: Nhận xét về nghệ thuật viết cáo trạng của tác giả?
- HS nhận xét
- GV chốt lại
* Nghệ thuật viết cáo trạng
+ Dùng hình tượng để diễn tả tội ác của kẻ thù: "Nướng dân đen hầm
Trang 28c Đoạn 3: Quá trình chinh phạt gian khổ và tất thắng của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
* Hình tượng người chủ tướng Lê Lợi và những năm tháng gian khổ buổi đầu của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
- GV hỏi: Hình tượng Lê Lợi được khắc hoạ như thế nào? So sánh với
hình tượng Trần Quốc Tuấn trong Hịch tướng sĩ?
- HS trao đổi thảo luận, trả lời
- GV định hướng:
+ Hình tượng chủ tướng Lê Lợi
Cách xưng hô: ta- khiêm nhường
Nguồn gốc xuất thân: chốn hoang dã nương mình -> bình thường, người anh hùng áo vải
Có một nội tâm vận động dữ dội: ngẫm, đau lòng nhức óc, nếm mật
nằm gai
Lòng căm thù giặc sâu sắc
Ý chí hoài bão cao cả
=> Hình tượng Lê Lợi và Trần Quốc Tuấn đều có chung ý thức trách nhiệm cao với đất nước, có ý chí hoài bão cao cả và lòng căm thù giặc sâu sắc
* Những khó khăn của nghĩa quân Lam Sơn qua lời bộc bạch của Lê Lợi
- GV hỏi: Qua những lời bộc bạch của Lê Lợi, em thấy những ngày đầu nghĩa quân Lam Sơn gặp phải những khó nhăn gì?
- HS trao đổi, trả lời
- GV nhận xét chốt lại:
+ Quân thù: đang mạnh, tàn bạo, xảo trá
+ Quân ta: lực lượng mỏng, lương thảo khan hiếm
Trang 29Sử dụng các chiến lược, chiến thuật linh hoạt: "Thế trận xuất kì địch nhiều"
=> Nguyễn Trãi đã đề cao tính chất nhân dân, tính chất toàn dân, đặc biệt đề cao vai trò những người dân nghèo Đó là một tư tưởng lớn
* Quá trình phản công và chiến thắng
- GV dẫn dắt vấn đề, hỏi: Khí thế và những chiến thắng của quân ta được miêu tả như thế nào? Đối lập với khí thế của ta, sức mạnh của ta, hình ảnh kẻ thù thất bại thê thảm, nhục nhã như thế nào?
- HS trao đổi, trả lời
- GV diễn giảng:
+ Khí thế của ta: hào hùng như sóng trào bão cuốn (sấm vang chớp giật,
trúc che tro bay, ) -> các hình ảnh so sánh phóng đại tính chất hào hùng
+ Khung cảnh chiến trường: ác liệt, dữ dội, khiến trời đất như đảo lộn + Chiến thắng của ta: dồn dập, liên tiếp, các câu văn điệp cấu trúc, liệt kê + Hình ảnh kẻ thù:
.Tham sống sợ chết, hèn nhát, thảm hại: Trần Trí, Sơn Thọ- mất vía Lí
An, Phương Chính- nín thở cầu thoát thân
Thất bại của kẻ thù: thê thảm, nhục nhã :Trí cùng lực kiệt, máu chảy
thành sông, máu chảy trôi chày
Cách gọi, cách miêu tả kẻ thù đầy khinh bỉ: Thằng nhãi con Tuyên
Đức, đồ nhút nhát Thạnh Thăng
+ Tính chất hùng tráng của đoạn văn
- GV hỏi: Phân tích tính chất hùng tráng của đoạn văn được gợi lên từ ngôn ngữ, hình ảnh, nhịp điệu, câu văn?
- HS nhận xét
- GV chốt lại:
Ngôn ngữ: Sử dụng nhiều động từ mạnh, các từ chỉ mức độ cực điểm Hình ảnh: có tính chất phóng đại
Nhịp điệu câu văn khi dài khi ngắn dồn dập, sảng khoái
* Chủ trương hoà bình nhân đạo
Trang 30- GV hỏi: Chủ trương hoà bình nhân đạo của Lê Lợi được thể hiện như thế nào ở phần 3 này? Hành động đó làm sáng tỏ tư tưởng cốt lõi nào đã nêu ở phần đầu bài cáo?
- HS trao đổi thảo luận, trả lời
- GV định hướng:
+ Tha tội chết cho quân giặc đầu hàng
+ Cấp ngựa, thuyền cho quân bại trận
=> Thể hiện đức hiếu sinh, lòng nhân đạo, tình yêu hoà bình và sách lược lâu dài bền vững non sông
d Đoạn 4 Tuyên bố thắng trận, khẳng định sự nghiệp chính nghĩa
và nêu lên bài học lịch sử
- GV hỏi: Giọng văn đoạn này có gì khác so với đoạn trên? Bài học lịch
sử rút ra ở đây là gì?
- HS trả lời
- GV chốt lại:
+ Giọng văn: trang nghiêm, trịnh trọng
+ Bài học lịch sử: Sự thay đổi thực chất là sự phục hưng dân tộc Sự kết hợp giữa sức mạnh truyền thống và sức mạnh thời đại
=> Ý nghĩa lâu dài với công cuộc giữ nước của dân tộc ta
III Tổng kết
GV chốt lại các ý cơ bản về nội dung và nghệ thuật
1 Nội dung: Là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc ta:
- Nêu cao tư tưởng nhân nghĩa, chân lí độc lập dân tộc
- Tố cáo tội ác của kẻ thù
- Tái hiện quá trình kháng chiến hào hùng
- Tuyên bố độc lập, rút ra bài học lịch sử
2 Nghệ thuật
- Kết hợp hài hoà hai yếu tố chính luận và văn chương
- Mang đậm cảm hứng anh hùng ca -> tính chất sử thi
Trang 31b) Thái độ và tình cảm của người dạy với tác phẩm Đại cáo bình Ngô
Sau khi dự giờ thăm lớp, chúng tôi có trao đổi trực tiếp với một số giáo
viên về tác phẩm Đại cáo bình Ngô Những câu hỏi khảo sát chúng tôi đưa ra:
- Câu 1: Anh (chị) có thấy hứng thú với tác phẩm Đại cáo bình Ngô
- Câu 4: Khi dạy Đại cáo bình Ngô anh (chị) có liên hệ với tác phẩm
Tuyên ngôn Độc lập không? Vì sao?
Qua ý kiến của các giáo viên, chúng tôi nhận thấy đa phần giáo viên đều
yêu thích tác phẩm Đại cáo bình Ngô Hầu hết các ý kiến cho rằng Đại cáo
bình Ngô là một tác phẩm lớn và hay bởi đó là áng văn yêu nước chói ngời
của tư tưởng nhân văn, kết hợp hài hoà giữa yếu tố chính luận và văn chương Đây là áng văn nghị luận mẫu mực bởi cấu trúc tác phẩm chặt chẽ, lập luận và
lí lẽ sắc bén, giọng điệu hùng hồn, đầy thuyết phục
Theo cô Đào Thị Hồi - một giáo viên đã giảng dạy nhiều năm, nhận xét:
"Điều tâm đắc nhất của tôi khi dạy "Đại cáo bình Ngô" là tác phẩm đem lại cho tôi một cảm xúc sâu sắc về một thời kì lịch sử oai hùng của dân tộc "Đại cáo bình Ngô" không chỉ cho ta thấy lời tuyên bố độc lập sâu sắc, đầy tự hào
mà còn thấy trong đó cả tầm tư tưởng lớn của Nguyễn Trãi cũng như tầm vóc của người anh hùng Lê Lợi- hai vị anh hùng dân tộc Tôi thấy trong tác phẩm chứa đựng tình cảm bao la của Nguyễn Trãi cũng như tài năng nhiều mặt của ông: Văn chương, chính trị, ngoại giao Tác phẩm còn hấp dẫn bởi nghệ thuật lập luận chặt chẽ, những lí lẽ hùng hồn đầy sức thuyết phục, giọng văn đặc biệt trong đoạn 3 rất hùng hồn đọc lên nghe sảng khoái, hào hùng."
Như vậy Đại cáo bình Ngô hấp dẫn người đọc không chỉ bởi nội dung
sâu sắcmà còn ở nghệ thuật độc đáo Tuy nhiên khi dạy tác phẩm này ai cũng gặp phải những vướng mắc, khó khăn
Trang 32c) Những khó khăn của giáo viên khi dạy Đại cáo bình Ngô
Khi được hỏi về những khó khăn khi dạy Đại cáo bình Ngô, chúng tôi
nhận được sự phản hồi như sau:
Theo cô giáo Thân Thị Yên Thương: "Khi dạy "Đại cáo bình Ngô" cái
khó thứ nhất, đây là một thể văn cổ, có nhiều từ ngữ cổ học sinh khó hiểu nên khó tiếp nhận khi học Cái khó thứ hai dung lượng thời gian chưa đủ
để làm sáng tỏ nhiều cái hay, cái đẹp của tác phẩm Cái khó thứ ba, làm thế nào để chuyển tải được sâu sắc những tư tưởng lớn lao cũng như tài năng của tác giả trong nghệ thuật viết văn chính luận là điều không dễ vì văn chính luận đòi hỏi người dạy và người học phải có khả năng nhạy bén, tư duy sâu sắc"
Qua nhiều ý kiến, chúng tôi nhận thấy các giáo viên đều có những băn khoăn khi dạy tác phẩm này Nhìn chung các GV đều có niềm yêu thích và
những hiểu biết sâu sắc về Đại cáo bình Ngô song để chuyển tải được tất cả
đến học sinh lại là điều không dễ, trong khi chương trình học chỉ có hai tiết
Về phía học sinh, các em còn lười học, ý thức chuẩn bị bài chưa tốt, phần nhiều soạn bài còn chép lại trong sách tham khảo, sách để học tốt nên những kiến thức ban đầu tự khám phá tác phẩm qua việc soạn bài hầu như không có
hoặc quá ít, quá sơ sài Đặc biệt những tác phẩm lớn và khó như Đại cáo bình
Ngô, khả năng tự nhận thức của học sinh còn hạn chế Đây cũng là một khó
khăn, trở ngại lớn đối với người đứng lớp Vấn đề đặt ra là phương pháp
giảng dạy tác phẩm Đại cáo bình Ngô như thế nào cho đạt hiệu quả cao nhất?
Khi trao đổi về những vấn đề trọng tâm của bài học, các giáo viên đều nhất trí hai vấn đề cơ bản: Tư tưởng nhân nghĩa, tư tưởng yêu nước chói ngời
và nghệ thuật đặc sắc của bài cáo Cái khó là khi dạy những đặc sắc về nghệ thuật, khả năng tiếp thu của HS còn hạn chế, những hiểu biết của HS về văn nghị luận còn mơ hồ Làm thế nào để học sinh nắm vững nghệ thuật của bài cáo là điều khó
Chúng tôi có trao đổi ý kiến với các giáo viên: khi dạy Đại cáo bình Ngô
có nên liên hệ với Tuyên ngôn Độc lập không và liên hệ như thế nào? Ý kiến
Trang 33chúng tôi nhận được chủ yếu là liên hệ một cách sơ sài, đơn giản và chỉ nhắc đến một chút trong quá trình bình giảng
d) Nhận xét chung
Từ thực tế dự giờ thăm lớp và trao đổi với các giáo viên về những thuận
lợi, khó khăn khi dạy Đại cáo bình Ngô chúng tôi có những nhận xét sau:
Thứ nhất: Các giáo viên đều có niềm yêu thích và có những hiểu biết
khá sâu sắc về tác phẩm Đại cáo bình Ngô
Thứ hai: Khi dạy Đại cáo bình Ngô giáo viên đều gặp khó khăn về phương
pháp đặc biệt là cách chuyển tải những đắc sắc về nghệ thuật của bài cáo
Thứ ba: Hoạt động của Thầy và Trò trong giờ học
* Về tiến trình dạy học: Giáo viên thực hiện đầy đủ tiến trình lên lớp
* Về nội dung:
- Giờ học đã hướng đến nội dung cơ bản của tác phẩm song do còn tham kiến thức, mở rộng nhiều nên những vấn đề trọng tâm chưa được khắc sâu và chú ý đúng mức Giờ học còn nặng nề, rối rắm
- Đây là một tác phẩm vừa có yếu tố chính luận, vừa có yếu tố văn chương Tuy nhiên trong giờ học GV chủ yếu hướng đến nội dung còn những đặc sắc về nghệ thuật chưa được chú ý, vì vậy khai thác chưa sâu cái hay, cái đẹp của tác phẩm
* Về phương pháp:
- Vẫn còn nặng về thuyết trình, chưa tạo điều kiện cho học sinh thực sự động não, làm việc Các câu hỏi đưa ra nhiều nhưng còn vụn vặt, chưa mang tính hệ thống
- Có liên hệ với những tác phẩm trước đó nhưng mới chỉ hướng đến làm
rõ nội dung, chưa có liên hệ với tác phẩm cùng thể loại để học sinh hiểu sâu hơn, kĩ hơn về nghệ thuật của tác phẩm và đặc trưng thể loại
* Hiệu quả giờ dạy
Do còn lúng túng về phương pháp, chưa quan tâm đúng mức đến các vấn đề trọng tâm bài học vì vậy hiệu quả giờ dạy chưa cao Chúng tôi nhận thấy như sau:
Trang 34- Thái độ của học sinh trong giờ học còn thờ ơ, chưa thật sự tích cực, nghĩa là các em chưa thật hứng thú
- Khả năng cảm thụ của HS còn hạn chế nên rất lúng túng trước những câu hỏi mang tính tư duy và khái quát, đặc biệt là những câu hỏi về nghệ thuật
- Sự hiểu bài còn mơ hồ, đa phần chỉ nắm được nội dung mà không hiểu
sâu về nghệ thuật (phần này chúng tôi sẽ trình bày rõ hơn trong phần kết quả
khảo sát học sinh)
1.2.1.2 Thực tế của việc dạy tác phẩm "Tuyên ngôn Độc lập"
a) Hoạt động của Thầy và Trò trong giờ học
Chúng tôi tiến hành dự giờ một số GV tại trường THPT Tân Yên số 1- Tân Yên- Bắc Giang Sau đây là những ghi chép của chúng tôi về một giờ dạy như sau:
GV giới thiệu lời vào bài để tạo ấn tượng ban đầu HS lắng nghe GV ghi đầu bài lên bảng
+ Trong nước: Nhân dân cả nước nổi dậy giành chính quyền Ngày
2/9/1945 Hồ Chủ Tịch thay mặt chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn Độc lập
khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
2 Giá trị của bản Tuyên ngôn
- GV hỏi: Ý nghĩa, giá trị lịch sử của bản Tuyên ngôn?
- HS trao đổi trả lời
- GV chốt lại:
Trang 35+ Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện có giá trị lịch sử to lớn, đồng thời
là một áng văn chính luận bất hủ
+ Là lời tuyên bố xoá bỏ chế độ thực dân Pháp, khẳng định quyền tự chủ
và vị thế bình đẳng của dân tộc ta trên thế giới
+ Tuyên ngôn Độc lập được công bố trong một hoàn cảnh lịch sử đặc
biệt, hướng vào những đối tượng cụ thể Nội dung, cách viết của tác giả nhằm đạt được hiệu quả cao nhất
3 Thể loại: Tuyên ngôn Độc lập thuộc thể văn chính luận Đặc điểm là
lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, bằng chứng xác thực, ngôn ngữ giọng điệu hùng hồn, đầy sức thuyết phục
II Đọc - Hiểu văn bản
1 Nguyên lí chung của bản Tuyên ngôn
- HS đọc đoạn đầu
- GV hỏi: Việc tác giả trích dẫn hai bản Tuyên ngôn của Pháp và của Mĩ
trong phần mở đầu của Tuyên ngôn Độc lập có ý nghĩa gì?
- HS trao đổi, thảo luận trả lời
- GV chốt lại:
+ "Tất cả mọi người sinh ra mưu cầu hạnh phúc" "Người ta sinh ra tự
do và bình đẳng quyền lợi"
Trang 36=> Nghĩa là mọi người đều có quyền tự do, bình đẳng và mưu cầu hạnh phúc Lời tuyên ngôn của Pháp và Mĩ được thế giới thừa nhận Điều đó đã khẳng định giá trị hiển nhiên của tư tưởng nhân đạo và của văn minh nhân loại
- "Lời bất hủ": những di sản quý giá mà tổ tiên đã để lại cho nước Pháp
và Mĩ, nhằm nâng cao giá trị của hai bản Tuyên ngôn
+ Hai bản Tuyên ngôn ấy là kết quả của hai cuộc cách mạng Dân tộc (Mĩ)
và cách mạng Dân chủ (Pháp), là minh chứng hùng hồn cho thành quả của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và dân chủ Nó được thế giới thừa nhận
- GV hỏi: Vậy dụng ý của tác giả là gì?
- HS trao đổi trả lời
- GV chốt lại:
+ Hai bản Tuyên ngôn trở thành pháp lí quốc tế, được thế giới thừa nhận
Bản Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam cũng sẽ được thế giới thừa nhận
+ Từ nguyên lí tự do, bình đẳng, quyền lợi cá nhân, Bác đi đến kết luận suy rộng ra đó là quyền tự do, bình đẳng của các dân tộc trên thế giới Đây cũng là cống hiến lớn nhất của Hồ Chí Minh trong trào lưu tư tưởng cao đẹp
và có ý nghĩa nhân đạo của nhân loại
- GV hỏi: Bác đã sử dụng nghệ thuật gì ở đây?
- HS suy nghĩ trả lời
- GV chốt: Hồ Chí Minh dùng nghệ thuật gậy ông đập lưng ông với cách
lập luận chặt chẽ, lô gic tạo cơ sở pháp lí chắc chắn của bản Tuyên ngôn
2 Cơ sở thực tiễn
- GV hỏi:
+ Theo Hồ Chí Minh thì căn cứ vào đâu mà ta có thể thoát li hẳn quan
hệ thực dân với Pháp và tuyên bố độc lập?
+ Bác đã chứng minh luận điểm của mình như thế nào?
- HS trao đổi, trả lời
- GV chốt lại:
+ Phần đầu khẳng định sự đúng đắn của hai bản Tuyên ngôn, kết nối là đoạn văn có tính chất chuyển tiếp ý, luận điểm "Thế mà" khẳng định điều thực dân Pháp làm là trái ngược với đạo lí ở trên
Trang 37+ "Thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do chính nghĩa"
Đó là cách lập luận phản đề khẳng định tội ác của thực dân Pháp
Tội ác về chính trị: không cho dân ta tự do, thi hành luật dã man, đàn
áp nhân dân ta, thực hiện chính sách ngu dân, đầu độc giống nòi
=> Chia rẽ chính trị, đàn áp sự đấu tranh, suy nhược tinh thần và thể chất của nhân dân ta -> Dã tâm xâm lược của chúng
Tội ác về kinh tế: Bóc lột, cướp ruộng đất; khống chế, thâu tóm tiền tệ;
đặt ra thứ thuế vô lí; kìm hãm, chèn ép tư sản
=> Mục đích bóc lột nhân dân ta đến tận xương tuỷ, khống chế nền kinh tế
- GV hỏi: Bác đã sử dụng biện pháp nghệ thuật nào? Thái độ của Bác ra sao?
Tội ác bán nước ta: Năm 1940 Pháp mở cửa nước ta rước Nhật Năm
1945 Pháp bỏ chạy, khủng bố Việt Minh, đàn áp nhân dân hoặc đầu hàng
"Trong 5 năm chúng bán nước ta hai lần cho Nhật"
=> Chúng thi nhau vơ vét của cải khiến hơn 2 triệu đồng bào ta chết đói Bác đã lật tẩy bộ mặt bịp bợm chiêu bài bảo hộ của Pháp
* Với Việt Minh: bảo vệ khoan hồng và nhân đạo -> ta là chính nghĩa
Ta có quyền để được độc lập
+ Từ 1940 ta là thuộc địa của Nhật
+ Năm 1945, nhân dân ta nổi dậy giành chính quyền từ tay Nhật
=> Chính quyền mà nhân dân ta giành được là xương máu của ta -> Pháp không có công mà chỉ có tội Lời khẳng định "Sự thật" như một chân lí
* Tuyên bố xoá bỏ quan hệ thực dân với Pháp
Trang 38- GV hỏi: Tìm những từ, cụm từ chỉ sự dứt khoát trong việc tuyên bố xoá bỏ mối quan hệ thực dân với Pháp?
- HS trao đổi trả lời
- GV chốt lại:
+ Thoát li hẳn quan hệ thực dân với Pháp: "Xoá bỏ hết"." xoá bỏ tất cả"
=> Lời lẽ dứt khoát thể hiện quyết tâm xoá bỏ mối quan hệ với thực dân Pháp + Tuyên bố đấu tranh đến cùng để chống lại âm mưu thực dân Pháp => Giọng điệu rắn rỏi đanh thép
+ Kêu gọi Đồng minh công nhận độc lập cho nhân dân Việt Nam => giọng điệu nhẹ nhàng, thuyết phục
3 Lời tuyên ngôn
- GV hỏi: Tại sao trong lời Tuyên ngôn Bác nói nước Việt Nam "có
quyền" và "sự thật" đã là một nước tự do độc lập?
- HS trao đổi, thảo luận trả lời
- GV chốt lại:
+ Có quyền bởi: "Một dân tộc độc lập"
-> Nghệ thuật điệp cấu trúc là lời khẳng định chắc chắn
+ Sự thật bởi "Pháp chạy cộng hoà"
-> Cách mạng tháng Tám thành công, kẻ thù thua chạy, sụp đổ Đó là sự thật + Câu kết là lời khẳng định, quyết tâm -> Bác nhận rõ kẻ thù trong tương lai của dân tộc là Pháp và Mĩ Bác hiểu rằng giành được độc lập đã khó nhưng giữ được độc lập còn khó gấp ngàn lần Điều đó thể hiện tầm nhìn rộng lớn và nhạy bén của tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh
III Tổng kết
- GV gọi HS đọc phần ghi nhớ trong SGK
- GV nhấn mạnh đến nghệ thuật lập luận của Tuyên ngôn Độc lập
b) Thái độ và tình cảm của người dạy với tác phẩm Tuyên ngôn Độc lập
Khi trao đổi với các giáo viên về tác phẩm Tuyên ngôn Độc lập chúng
tôi khảo sát được kết quả như sau:
Trang 39Cô giáo Nguyễn Thị Dung có trao đổi rằng: " Tác phẩm " Tuyên ngôn
Độc lập" là một văn kiện lịch sử vô giá, lại là một tác phẩm văn học lớn, có sức lan toả mạnh mẽ Xét về mặt văn học đây là một tác phẩm có chứa nội dung sâu sắc và nghệ thuật độc đáo Đặc biệt khi dạy tác phẩm này ta thấy được tầm tư tưỏng lớn của Hồ Chí Minh và nghệ thuật lập luận hết sức tài tình Tôi rất tâm đắc với tác phẩm này"
Cô giáo Nghiêm Thị Thanh Nhàn chia sẻ: " Đây là một tác phẩm nghị
luận mẫu mực, thể hiện tài năng nghị luận bậc thầy của Bác Càng đọc càng thấy tâm đắc và khâm phục tài năng của Bác Cả tác phẩm thấy không có một
từ nào dư thừa Tác phẩm sâu sắc cả về nội dung và nghệ thuật"
Có thể nói, hầu hết các giáo viên được hỏi đều rất yêu thích Tuyên ngôn
Độc lập Như vậy, tác phẩm đã có sức lan toả mạnh mẽ và có sức thuyết phục
lớn tới người đọc, người nghe Điều mà giáo viên tâm đắc nhất khi dạy Tuyên
ngôn Độc lập là nghệ thuật lập luận tài tình, sắc sảo của Bác Có thể khẳng
định Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh là một tác phẩm nghị luận mẫu
mực mà ai cũng phải thừa nhận
c) Những khó khăn của giáo viên khi dạy Tuyên ngôn Độc lập
Khi được trao đổi về những thuận lợi và khó khăn khi dạy Tuyên ngôn
Độc lập, chúng tôi thu nhận được các ý kiến phản hồi như sau:
Về thuận lợi: Đây là một tác phẩm trọng đại của dân tộc nên học sinh
có ít nhiều hứng thú Bài này có thể sử dụng đồ dùng trực quan, cho học sinh
xem một đoạn video Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn để tạo không khí và cảm
xúc ban đầu
Về khó khăn: Cô Nguyễn Thị Dung cho rằng: "Đây là tác phẩm nghị
luận nên khó dạy và khó dạy hay trong cách truyền đạt"
Cô Đào Thị Hồi có chung quan điểm như vậy: "Dạy một tác phẩm thuộc
thể văn nghị luận, lại là một bài Tuyên ngôn, nếu dẫn dắt không khéo sẽ dẫn đến diễn giải như một bài lịch sử Hơn nữa học sinh còn ít hiểu biết sâu sắc
về văn nghị luận nên khó khăn trong việc tiếp thu nội dung và những đặc sắc
về nghệ thuật."
Trang 40Vậy cái khó trong quá trình giảng dạy tác phẩm Tuyên ngôn Độc lập là ở
chỗ : Một tác phẩm nghị luận mẫu mực có những nét đặc trưng cơ bản của thể loại như kết cấu chặt chẽ, lập luận lô gic, bằng chứng thuyết phục, giọng điệu hùng hồn là những điểm làm nên sức hấp dẫn của tác phẩm nhưng làm thế nào để dạy cho hay, cho hiệu quả lại là một vấn đề mà các giáo viên đang rất quan tâm
d) Nhận xét chung
Từ thực tế của giờ dạy và những ý kiến trao đổi chân thành của các giáo viên, chúng tôi nhận thấy như sau:
Thứ nhất: Thái độ tình cảm: các giáo viên đều yêu thích và có hiểu biết
nhất định về nội dung và nghệ thuật của Tuyên ngôn Độc lập
Thứ hai : Những vướng mắc: đa phần giáo viên còn gặp khó khăn trong
cách giảng dạy một tác phẩm nghị luận Điểm vướng mắc nhất là cách hướng
dẫn cho học sinh hiểu sâu sắc về nghệ thuật của Tuyên ngôn Độc lập
Thứ ba: Đối với hoạt động của thầy và trò trong giờ học, chúng tôi nhận
thấy một số vấn đề sau:
* Về tiến trình lên lớp: Giáo viên biết dẫn dắt vấn đề tạo hứng thú cho
HS đồng thời tiến hành đầy đủ các bước lên lớp
* Về nội dung: Đã truyền tải được những nội dung cơ bản của Tuyên
ngôn Độc lập, song chưa thật sự thành công trong việc dẫn dắt để học sinh
hiểu rõ được nghệ thuật đặc sắc của bản Tuyên ngôn
* Về phương pháp:
- Giáo viên có quan tâm đến hoạt động của học sinh, đưa nhiều câu hỏi nhưng câu hỏi còn vụn vặt chưa có hệ thống Khả năng dẫn dắt chưa khoa học chưa làm nổi bật được vấn đề, đặc biệt là nghệ thuật lập luận của tác phẩm
- Trong quá trình giảng dạy giáo viên chưa biết kết hợp, mở rộng, so
sánh với TPNL khác như Đại cáo bình Ngô để khắc sâu kiến thức về nghệ
thuật của tác phẩm, chưa kết hợp kiến thức trong các bài làm văn và tiếng Việt có nghĩa là chưa sử dụng phương pháp tích hợp xuyên môn, liên môn, chưa thật sự đổi mới về phương pháp