Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM --- NÔNG VĂN ĐÀM DẠY HỌC MỘT SỐ NỘI DUNG VỀ QUAN HỆ VUÔNG GÓC
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
-
NÔNG VĂN ĐÀM
DẠY HỌC MỘT SỐ NỘI DUNG
VỀ QUAN HỆ VUÔNG GÓC TRONG KHÔNG GIAN
Ở HÌNH HỌC 11 THPT THEO HÌNH THỨC MÔ ĐUN VỚI
SỰ TRỢ GIÚP CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN- 2010
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
-
NÔNG VĂN ĐÀM
DẠY HỌC MỘT SỐ NỘI DUNG
VỀ QUAN HỆ VUÔNG GÓC TRONG KHÔNG GIAN
Ở HÌNH HỌC 11 THPT THEO HÌNH THỨC MÔ ĐUN VỚI
SỰ TRỢ GIÚP CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Chuyên ngành: LL&PP GIẢNG DẠY TOÁN
Mã số: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS: VŨ THỊ THÁI
THÁI NGUYÊN- 2010
Trang 3Em xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, phòng Đào tạo và Nghiên cứu khoa học trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để em hoàn thành luận văn
Em xin chân thành cảm ơn Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bắc Giang, Ban giám hiệu trường THPT Mỏ Trạng đã quan tâm và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em thực hiện đúng kế hoạch học tập và nghiên cứu của mình Đặc biệt, các đồng nghiệp ở tổ Toán-Lí trường THPT Mỏ Trạng đã tạo điều kiện thuận lợi nhất để em yên tâm học tập và nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn các thành viên trong lớp cao học Toán khoá 16 và các bạn là đồng nghiệp xa gần về sự động viên, kích lệ cũng như trao đổi về chuyên môn trong suốt quá trình tôi nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2010
Nông Văn Đàm
Trang 5MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 4
1.1 Tâm lí lứa tuổi HS trung học phổ thông 4
1.2 Một số chủ chương đổi mới PP dạy học 5
1.3 Biên soạn tài liệu và dạy học theo hình thức mô đun 7
1.3.1 Khái niệm mô đun dạy học 7
1.3.2 Các đặc trưng của mô đun dạy học 8
1.3.3 Chức năng của mô đun dạy học 8
1.3.4 Cấu trúc của mô đun dạy học 10
1.3.5 Dạy học theo mô đun 12
1.4 Ứng dụng CNTT trong dạy học 13
1.4.1 Tổng quan về ứng dụng CNTT trong dạy học 13
1.4.2 Một số phần mềm sử dụng trong thiết kế bài giảng 18
CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG MỘT SỐ BÀI GIẢNG VỀ QUAN HỆ VUÔNG GÓC TRONG KHÔNG GIAN Ở HÌNH HỌC 11- THPT THEO HÌNH THỨC MÔ ĐUN VỚI SỰ TRỢ GIÚP CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 23
2.1 Một số đặc điểm của việc dạy hình học không gian 23
2.2 Một số đặc điểm khác: 24
2.3 Xây dựng một số bài giảng về quan hệ vuông góc trong không gian ở hình học 11- THPT theo hình thức mô đun với sự trợ giúp của CNTT 25
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 73
3.1 Mục đích thực nghiệm 73
3.2 Nội dung thực nghiệm 73
3.3 Tổ chức thực nghiệm 73
3.4 Hình thức thực nghiệm: 73
3.5 Tiến hành thực nghiệm, xử lí và đánh giá kết quả thực nghiệm 73
KẾT LUẬN CHUNG CỦA LUẬN VĂN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
PHỤ LỤC 83
Trang 6điều 28 )
Trong xã hội hiện đại, công nghệ thông tin (CNTT) có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển các lĩnh vực xã hội (trong đó có giáo dục) Đặc biệt, trong đổi mới PP dạy học nói chung và PP dạy học toán nói riêng, CNTT với khả năng đồ hoạ sinh động, cơ hoạt, cho phép minh hoạ, mô
tả trực quan sinh động các yếu tố toán học, giúp HS (HS) tiếp thu những tính chất trừu tượng của các đối tượng toán học, các chủ đề khó trong chương trình toán Với những phần mềm công cụ như power Point, Sketpat, cabri, Violet, chúng ta có thể thiết kế những phiên trình chiếu (những bài giảng có ứng dụng CNTT) hết sức sinh động và hiệu quả, thiết thực góp phần nâng cao chất lượng dạy và học
Dạy học theo hình thức mô đun đã có ở nước ta từ những năm đầu của thế kỉ 21 Nó đã góp phần tích cực vào việc thực hiện các chủ trương đổi mới của ngành giáo dục Chương trình sách giáo khoa Toán 11 mới nói chung và
Trang 7chương “Vectơ trong không gian Quan hệ vuông góc trong không gian” trong Hình học 11 nói riêng có rất nhiều yếu tố thuận lợi cho việc thiết kế bài giảng theo hình thức mô đun nhằm tích cực hoá hoạt động học tập của HS Hiện nay, ở trường phổ thông chưa có nhiều tác giả nghiên cứu việc ứng dụng CNTT trong dạy học theo hình thức mô đun
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu:
“ Dạy học một số nội dung về quan hệ vuông góc trong không gian ở Hình học 11 THPT theo hình thức mô đun với sự trợ giúp của CNTT”
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn, xây dựng và thực nghiệm một
số bài giảng về quan hệ vuông góc trong không gian trong chương trình Hình học 11 trung học phổ thông(THPT) theo hình thức mô đun với sự trợ giúp của CNTT nhằm nâng cao chất lượng dạy và học ở phổ thông
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Nghiên cứu lí luận về biên soạn tài liệu và dạy học theo mô đun, khai thác một số phần mềm công cụ, phần mềm dạy học
+ Tiến hành biên soạn một số bài giảng về quan hệ vuông góc trong không gian theo hình thức mô đun với sự trợ giúp của CNTT
+ Thực nghiệm sư phạm
3 Đối tượng nghiên cứu
+ Nghiên cứu cơ sở lí luận biên soạn tài liệu và dạy học theo môđun, một
số phần mềm công cụ giúp thiết kế trình chiếu, vẽ hình học không gian và trắc nghiệm khách quan
+ Nội dung quan hệ vuông góc trong không gian, Hình học 11 THPT
Trang 84 Phương pháp nghiên cứu
+ PP nghiên cứu lí luận: Đọc, phân tích, tổng hợp, hệ thống các tài liệu, lí luận về mô đun, một số phần mềm vẽ hình không gian
+ PP thực nghiệm sư phạm: Tiến hành thực nghiệm sư phạm và sử dụng thống kê toán học để đánh giá kết quả thực nghiệm
5 Giả thuyết khoa học
Nếu tổ chức dạy học nội dung quan hệ vuông góc trong không gian, Hình học 11 THPT theo hình thức mô đun với sự trợ giúp của CNTT một cách hợp lý thì có thể tích cực hóa được hoạt động học tập của HS và góp phần nâng cao chất lượng dạy học
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục luận văn gồm
3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Xây dựng một số bài giảng về quan hệ vuông góc trong không
gian ở hình học 11- THPT theo hình thức mô đun với sự trợ giúp của CNTT
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 9CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Tâm lí lứa tuổi HS trung học phổ thông
HS THPT là những HS đang ở lứa tuổi thanh niên Người ta định nghĩa
“Tuổi thanh niên là giai đoạn phát triển bắt đầu từ lúc dậy thì và kết thúc khi bước vào tuổi người lớn”, khoảng từ 14, 15 tuổi đến 25 tuổi (Tâm lí học lứa tuổi,[10] tr.65) Tuổi thanh niên là thời kì đạt được sự trưởng thành về mặt thể lực, sự phát triển của hệ thần kinh có những thay đổi quan trọng do cấu trúc bên trong của não phức tạp và các chức năng của não phát triển, số lượng dây thần kinh liên hợp tăng lên, liên kết các phần khác nhau của vỏ não lại Điều
đó tạo tiền đề cần thiết cho sự phức tạp hoá hoạt động phân tích, tổng hợp, của vỏ bán cầu não trong quá trình học tập
Do những đặc điểm về sự phát triển của cơ thể nên ở lứa tuổi này cũng
có những thay đổi về hoạt động học tập và sự phát triển của trí tuệ
Đặc điểm hoạt động học tập
+ Nội dung và tính chất của hoạt động học tập ở thanh niên HS khác rất nhiều so với hoạt động học tập của thiếu niên Sự khác nhau không chỉ ở nội dung học tập ngày một sâu hơn, mà ở chỗ hoạt động học tập đòi hỏi tính năng động và tính độc lập ở mức độ cao hơn và cần phát triển tư duy lí luận
+ Thái độ có ý thức của các em đối với học tập ngày càng phát triển + Thái độ học tập của các em đã có sự lựa chọn, thường gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp Hứng thú nhận thức của các em mang tính rộng rãi, sâu và bền vững hơn
+ Thái độ học tập được thúc đẩy bởi động cơ thực tiễn, động cơ nhận thức, ý nghĩa xã hội,
+ Tuy nhiên cũng có hạn chế là các em rất tích cực với một số môn học nhưng lại sao nhãng với những môn học khác Chính vì vậy giáo viên(GV) cần làm cho các em hiểu được ý nghĩa và chức năng của giáo dục phổ thông đối với mỗi một giáo dục chuyên ngành
Trang 10Nhìn chung, trong lứa tuổi này thái độ học tập có ý thức đã thúc đẩy sự phát triển tính chủ động của các quá trình nhận thức và năng lực điều khiển bản thân trong hoạt động học tập
Đặc điểm của sự phát triển trí tuệ
Ở lứa tuổi này tính chủ định được phát triển mạnh ở tất cả các quá trình nhận thức :
+ Tri giác có mục đích đã đạt tới mức độ rất cao Quan sát trở nên có mục đích, có hệ thống và toàn diện Tuy nhiên quan sát của thanh niên HS khó có hiệu quả nếu thiếu sự chỉ đạo của GV Do vậy GV cần quan tâm để hướng quan sát của các em vào một nhiệm vụ nhất định
+ Sự ghi nhớ của các em lúc này đã có chủ định, giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ, đồng thời vai trò của ghi nhớ logíc trừu tượng, ghi nhớ
ý nghĩa ngày một tăng rõ rệt như: Tóm tắt ý chính, so sánh, đối chiếu,
+ Do cấu trúc của não phức tạp và chức năng não phát triển, do sự phát triển của các quá trình nhận thức nói chung, do ảnh hưởng của các hoạt động học tập mà hoạt động tư duy của các em có sự thay đổi quan trọng, các em có khả năng tư duy lí luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập sáng tạo Cũng vì thế, tư duy của các em chặt chẽ hơn, có căn cứ và nhất quán hơn Đồng thời tính phê phán của tư duy cũng phát triển, Tuy nhiên, hiện nay số HS đạt tới mức độ tư duy như trên chưa nhiều Nhiều khi các em chưa chú ý phát huy hết năng lực độc lập suy nghĩ của bản thân, còn kết luận vội vàng theo cảm tính, Chính vì vậy việc giúp các em phát triển khả năng nhận thức là một nhiệm vụ quan trọng của GV
Tóm lại, ở lứa tuổi này những đặc điểm chung của con người về mặt trí tuệ thông thường đã hình thành và chúng vẫn còn được tiếp tục phát triển
1.2 Một số chủ chương đổi mới PP dạy học
Nghị quyết Hội nghị lần thứ IV Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam (Khoá VII, 1993) đã chỉ rõ :
Trang 11Mục tiêu giáo dục - đào tạo phải hướng vào đào tạo những con người lao động, tự chủ, sáng tạo, có năng lực giải quyết những vấn đề thường gặp, qua đó mà góp phần tích cực thực hiện mục tiêu lớn của đất nước là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Về PP giáo dục, phải khuyến khích tự học, phải áp dụng những PP giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho HS năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề
Nghị quyết Hội nghị lần thứ II Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng
sản Việt Nam (Khoá VIII, 1997) tiếp tục khẳng định : "Phải đổi mới PP giáo
dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các PP tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho HS, nhất là sinh viên đại học"
Các quan điểm trên đây đã được pháp chế hoá trong luật giáo dục, điều 24 đã chỉ rõ : “PP giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng PP tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS ”
Như vậy quan điểm chung về PP dạy học đã được khẳng định, không còn vấn đề tranh luận Cốt lõi của việc đổi mới PP dạy học môn toán ở trường trung học phổ thông là làm cho HS học tập tích cực, chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động
Vì vậy quan điểm chung về đổi mới PP dạy học môn toán hiện nay ở ường trung học phổ thông là tổ chức cho HS được học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo
tr-Ta có thể hiểu đổi mới PP dạy học ở trường trung học phổ thông một cách cụ thể gồm các nội dung cơ bản sau:
Đối với HS: Đổi mới PP dạy học là học tập một cách tích cực, chủ động,
biết phát hiện và giải quyết vấn đề, phát triển tư duy linh hoạt, sáng tạo, hình thành và ổn định PP tự học
Trang 12Đối với GV:
+ Thay đổi quan niệm dạy học là truyền thụ một chiều, hướng tới dạy người học phát triển năng lực giải quyết vấn đề
+ Phong phú hơn nữa hình thức tổ chức dạy học
+ Nâng cao hơn việc sử dụng phương tiện dạy học, thành tựu của CNTT, tăng cường tri thức toán gắn với thực tiễn
+ GV tự lựa chọn PP dạy học theo: Nội dung, sở trường, đối tượng HS, điều kiện trang thiết bị, trong hoàn cảnh địa phương
1.3 Biên soạn tài liệu và dạy học theo hình thức mô đun
1.3.1 Khái niệm mô đun dạy học
Trong các lĩnh vực giáo dục, khái niệm mô đun dạy học được hiểu theo những cách khác nhau
a Trong trường hợp tổng quát người ta coi mô đun dạy học là một đơn
vị, một bộ phận của nội dung chương trình dạy học, được tổ chức theo một nhiệm vụ hoặc một chủ đề học tập nhất định
b Trong dạy nghề, mô đun đào tạo nghề "là một bộ phận công việc được phân chia hợp lí trong toàn bộ kiến thức và kĩ năng của một nghề" Nó có tính độc lập tương đối về nội dung đào tạo
c Trong lĩnh vực đào tạo đại học và giáo dục thường xuyên để nhấn mạnh tính chất hướng dẫn tự học của mô đun dạy học, người ta coi mô đun dạy học là một tài liệu bao gồm mọi điều cần thiết cho người học, để họ đạt được mục tiêu dạy học bằng cách tự học hoặc tự học có hướng dẫn Nhờ mô đun dạy học người học có thể tự lực vượt qua phần lớn nội dung học tập, thầy chỉ giúp đỡ họ khi cần thiết Trong đào tạo đại học nếu có trong tay tài liệu dạy học biên soạn theo mô đun thì người học sẽ tự học rất thuận lợi
Theo L.D'Hainaut[27] và tiếp đó là Nguyễn Ngọc Quang định nghĩa về
mô đun dạy học như sau: "Mô đun dạy học là một đơn vị chương trình dạy học
tương đối độc lập, được cấu trúc một cách đặc biệt nhằm phục vụ cho người học Nó chứa đựng cả mục tiêu dạy học, nội dung dạy học, PP dạy học và hệ
Trang 13thống công cụ đánh giá kết quả lĩnh hội, gắn bó chặt chẽ với nhau và nó có thể lắp ráp với các mô đun khác thành một hệ thống hoàn chỉnh dễ sử dụng"
1.3.2 Các đặc trưng của mô đun dạy học
Theo L.D'Hainaut mô đun dạy học có đặc trưng cơ bản sau đây:
+ Hàm chứa một tập hợp những tình huống dạy học, được tổ chức xung quanh một chủ đề nội dung dạy học được xác định một cách tường minh + Có một hệ thống các mục tiêu dạy học được xác định một cách xác đáng, cụ thể, rõ ràng, có tính khả thi, có thể quan sát được, đo lường được Hệ thống mục tiêu này sẽ định hướng quá trình dạy học
+ Có một hệ thống những test điều khiển quá trình dạy học nhằm đảm bảo sự thống nhất hoạt động dạy, hoạt động học và kiểm tra, đánh giá để phân hoá con đường tiếp theo
+ Chứa đựng nhiều con đường lĩnh hội, theo những cách thức khác nhau
để chiếm lĩnh cùng một nội dung dạy học, đảm bảo cho người học tiến lên theo những nhịp độ riêng để đi tới mục tiêu
+ Xét về nội dung dạy học có tính độc lập tương đối Do vậy để học một
mô đun người học phải có những điều kiện tiên quyết về kiến thức, kĩ năng và thái độ Học xong một mô đun, người học có khả năng ứng dụng những điều
đã học vào môi trường hoạt động
+ Mô đun dạy học có nhiều cấp độ: Mô đun lớn, mô đun thứ cấp, mô đun nhỏ (tiểu mô đun) Một mô đun lớn thường tương đương với số tiết học của một chương hoặc một vài chương
1.3.3 Chức năng của mô đun dạy học
Với những đặc trưng kể trên, mô đun dạy học có chức năng rất quan trọng trong việc tổ chức quá trình dạy học như sau:
+ Mỗi mô đun dạy học là một phương tiện tự học hiệu nghiệm vì nó
tương ứng với một chủ đề dạy học xác định, lại được phân chia thành từng phần nhỏ (tiểu mô đun) với hệ thống mục tiêu chuyên biệt và các test đánh giá tương ứng Sau khi học xong tiểu mô đun này người học tiến tới tiểu mô đun
Trang 14tiếp theo và cứ thế hoàn thành được nhiệm vụ học tập Tâm lí học đã chứng minh rằng: Nếu một nhiệm vụ học tập được phân chia thành các phần nhỏ, hướng dẫn cho người học từng bước làm việc độc lập, tiến hành củng cố và đánh giá ngay sau mỗi phần nhỏ thì sẽ giúp cho người học nâng cao được chất lượng học tập
+ Do tính chất độc lập tương đối về nội dung dạy học, có thể "lắp ghép"
và "tháo gỡ" các mô đun để xây dựng những chương trình dạy học đa dạng và phong phú
Nhờ khả năng "lắp ghép" các mô đun, người học dưới sự hướng dẫn của
GV có thể thiết kế được chương trình học tập riêng và học theo nhịp độ cá nhân để đạt tới mục tiêu học tập Khi cần chuyển sang ngành học khác, họ lại
"tháo gỡ" các mô đun đã tích luỹ được, sử dụng các mô đun phù hợp và "lắp ghép" thêm các mô đun mới để đạt tới mục tiêu dạy học mới (có thể là một văn bằng mới) mà không phải học lại từ đầu như kiểu tổ chức dạy học truyền thống Nhờ tính chất "lắp ghép" và “tháo gỡ” của mô đun sẽ tránh được tình trạng bỏ hoặc trùng lặp nội dung dạy học như trong tổ chức dạy học theo kiểu truyền thống
+ Do các mục đích dạy học được biên soạn theo một số chuẩn mực nên
nó có thể dùng chung và lắp lẫn trong nhiều ngành học Đây là thuận lợi rất căn bản trong việc tổ chức đào tạo, cải cách nội dung, PP dạy học, tổ chức biên soạn và cung cấp sách giáo khoa, tài liệu học tập, các phương tiện dạy học, các dụng cụ nghiên cứu và thí nghiệm cho HS, sinh viên
+ Do các mô đun có thể dùng chung và lắp lẫn, người ta có thể tổ chức các nhóm chuyên gia giỏi để biên soạn tài liệu dạy học với chất lượng cao, đảm bảo tính kinh tế của việc sản xuất và cung cấp tài liệu dạy học
Như đã trình bày ở trên, mô đun dạy học có nhiều cấp độ Ở các mô đun lớn và mô đun thứ cấp thì tính chất "lắp ghép" hay "tháo gỡ" thể hiện nổi trội Chúng thường được dùng để thiết kế các chương trình dạy học Còn với các
Trang 15mô đun nhỏ (tiểu mô đun) thì tính chất tự học lại thể hiện nổi trội, mô đun nhỏ là tài liệu tự học có hiệu quả của người học
Tính "lắp ghép" và tính "tự học được" của mô đun có quan hệ biện chứng với nhau Nhờ tính "tự học được" mà sinh ra khả năng yêu cầu "lắp ghép" Tính "lắp ghép" lại đặt ra yêu cầu về tính "tự học được" của mô đun
Đó là những điểm cần lưu ý khi biên soạn mô đun và sử dụng mô đun để thiết
kế chương trình dạy học
Khái niệm mô đun dạy học ngoài ý nghĩa là một đơn vị chương trình dạy học, nó còn thể hiện đặc trưng của cách thiết kế và biên soạn tài liệu dạy học
1.3.4 Cấu trúc của mô đun dạy học
Theo L.D'Hainaut [27] một mô đun dạy học gồm ba bộ phận hợp thành chủ yếu :
Hệ vào của mô đun bao gồm:
+ Tên gọi hay tiêu đề của mô đun
+ Giới thiệu vị trí, tầm quan trọng và lợi ích của việc học theo mô đun + Nêu rõ các kiến thức và kĩ năng cần có trước
Sơ đồ 1.1: Cấu trúc của mô đun dạy học
sử dụng
Kiểm tra trước
Bài học
Kiểm tra trung gian
Hoạt động nhóm
Khuyến cáo chỉ dẫn
Kiểm tra sau
Trang 16+ Hệ thống mục tiêu của mô đun
+ Test vào của mô đun
b Thân mô đun
Thân mô đun là bộ phận chủ yếu của mô đun Nó chứa đựng đầy đủ nội dung dạy học được trình bày theo một cấu trúc rất rõ ràng kèm theo những chỉ dẫn cần thiết về PP học tập, giúp cho người học tự chiếm lĩnh được nội dung và hình thành được PP tự học Thân mô đun gồm một loạt các tiểu mô đun kế tiếp nhau
Mỗi tiểu mô đun gồm 4 phần:
- Phần mở đầu (giống hệ vào của mô đun)
- Nội dung và PP học tập
- Phần tổng hợp
- Test trung gian
Khi cần thiết thân mô đun còn có những mô đun bổ trợ giúp cho người học bổ sung kiến thức còn thiếu, sửa chữa sai sót và ôn tập Người học không bắt buộc phải học mô đun bổ trợ mà chỉ cần đọc khi bản thân mình thấy cần thiết để bù đắp chỗ thiếu trong kiến thức hay đi sâu hơn do nhu cầu học tập
Sơ đồ cấu trúc chung nhất của một mô đun như sau:
Trang 17(Lưu ý rằng phần hoạt động và đánh giá liên quan tới mục tiêu)
Giới thiệu
Mục đích / Mục tiêu chung
Mục tiêu
1
2
3
Hoạt động
1.1
1.2
2.1
2.2
2.3 Băng hình / tiếng 3.1 3.2 Đánh giá
1.1
1.2
2.1
2.2
2.3
3.1
3.2
Sơ đồ 1.2
1.3.5 Dạy học theo mô đun
Nội dung chính của PP dạy học này là nhờ các mô đun học mà người học được dắt dẫn từng bước để đạt tới mục tiêu dạy học Nhờ sự phân chia nội dung dạy học ra từng phần nhỏ, nhờ hệ thống mục tiêu chuyên biệt trong mỗi tiểu mô đun và hệ thống test, người học có thể tự học và tự kiểm tra mức độ nắm vững kiến thức, kĩ năng và thái độ trong từng tiểu mô đun
Trang 18Trong PP dạy học theo mô đun người GV sẽ chỉ giúp đỡ khi cần thiết Như giải đáp thắc mắc, sửa chữa sai sót cho HS Khi kết thúc mỗi mô đun GV
sẽ giúp người học đánh giá kết quả học tập của họ Nếu đạt, người học sẽ chuyển sang học mô đun tiếp theo còn nếu không đạt người học sẽ học lại từ một phần nào đó của mô đun với nhịp độ riêng cho đến khi đạt được các test kết thúc
Ta có thể hình dung về sơ đồ PP dạy học theo mô đun như sau:
Sơ đồ 1.3
1.4 Ứng dụng CNTT trong dạy học
1.4.1 Tổng quan về ứng dụng CNTT trong dạy học
a) Tìm hiểu về tác động của CNTT đến mục đích dạy học toán
CNTT là một công cụ đắc lực hỗ trợ nâng cao chất lượng dạy học, hình thành khả năng lao động hợp tác cho HS phổ thông, đáp ứng được yêu cầu của người lao động hiện đại, cụ thể là: ta có thể sử dụng CNTT hỗ trợ dạy học
Giới thiệu cách dùng mô đun
Người học nghiên cứu mô đun thứ nhất
GV giúp đỡ khi cần thiết
Người học tự học tập theo nhịp độ riêng
Người học tự đánh giá bằng các test trung gian
đạt Trao đổi với
GV
Trang 19hầu hết các môn học trong chương trình phổ thông Ngày nay CNTT được đưa vào nhà trường theo hướng là một phương tiện dạy học hiện đại Nhờ có
sự hỗ trợ của phương tiện kĩ thuật mới này mà hiệu quả dạy học các môn học nói chung và môn toán nói riêng được nâng cao
CNTT hiện nay cùng với các phần mềm mới có thể được sử dụng trong việc truyền thụ kiến thức toán cho HS HS tiếp thu tri thức không chỉ với con đường thông qua bài giảng của thầy hoặc tham khảo sách báo như trước đây
mà còn có thể bằng hoạt động trong môi trường CNTT
Theo Colette[26], một nhà nghiên cứu về dạy học môn Toán người Pháp, thì máy tính điện tử có khả năng tạo ra môi trường giải quyết vấn đề (problem solving envionments) cho HS và môi trường đó có vai trò to lớn trong việc kích thích hoạt động tìm tòi khám phá và từ đó hình thành kiến thức mới Theo học thuyết kiến tạo (cosntructivist hypothesis) thì kiến thức HS được tạo nên khi hoạt động trong môi trường toán học, CNTT có khả năng rất tốt trong việc tạo ra môi trường đó Trong môi trường máy tính, HS tiếp thu được bằng chính hoạt động, thực hành của mình (learning by doing) John Mason (tác giả người Anh) năm 1992 đã phát triển lý tưởng cho rằng các phần mềm máy
vi tính về toán là một hệ thống các công cụ có khả năng được sử dụng giải toán và giúp nghiên cứu khái quát để đi đến việc tìm ra các tính chất toán học CNTT hiện nay với khả năng đồ hoạ sinh động, cơ hoạt, minh hoạ cho phép mô tả trực quan sinh động các yếu tố toán học để giúp HS tiếp thu những tính chất trừu tượng của các đối tượng toán học, các chủ đề khó trong chương trình toán Một số chương trình máy tính cho phép tạo nên những công cụ mới và việc sử dụng những công cụ này vào các đối tượng toán học
sẽ thu được những thông tin phản hồi (feedback) Thông tin này có thể là những tính chất, quan hệ của những đối tượng đó
Máy tính điện tử với các khả năng:
Trang 20- Lưu trữ và cho phép thâm nhập vào một khối lượng thông tin khổng lồ
- Khai thác các cơ sở dữ liệu tri thức
- Sử dụng các công thức, các tính toán phức tạp
- Vẽ hình không gian
Sử dụng CNTT trong quá trình dạy toán học sẽ giúp hình thành và rèn luyện phong cách làm việc khoa học, đó là tính độc lập, chủ động sáng tạo tự học, tự rèn luyện, say sưa tìm tòi nghiên cứu, thái độ nghiêm túc và kỷ luật cao Trong quá trình hội thoại với máy tính, máy không phê phán gay gắt trực tiếp khi HS trả lời sai, nhưng nó không bao giờ khoan nhượng đối với các sai sót đó Chỉ khi nào HS trả lời đúng câu hỏi được đặt ra và giải quyết xong nhiệm vụ được giao thì máy mới cho phép tiếp tục nghiên cứu vấn đề mới Để hội thoại với CNTT có kết quả cao HS buộc phải kiên trì nhẫn nại Sử dụng CNTT trong giai đoạn kiểm tra đánh giá giúp HS rèn luyện và hình thành đức tính khách quan, trung thực, công bằng chính xác
Ngày nay khi mà CNTT đã thâm nhập vào hầu hết lĩnh vực của đời sống con người thì việc đưa phương tiện máy tính vào trợ giúp giảng dạy môn Toán đã góp phần đào tạo nên những con người có kỹ năng sử dụng thành thạo máy vi tính, nhằm thích nghi với xã hội hiện đại
b) Vai trò hỗ trợ của CNTT đối với quá trình dạy học toán
Vai trò của CNTT đối với quá trình dạy học toán là rất to lớn Theo sự khảo cứu của nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài thì dạy học toán với sự hỗ trợ của CNTT có khả năng nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập CNTT có thể được sử dụng trong nhiều khâu của quá trình dạy học toán Vai trò hỗ trợ của CNTT trong quá trình đó được thể hiện qua một số chức năng quan trọng sau đây[26]:
Chức năng cung cấp thông tin
Trang 21Làm việc với các phần mềm máy tính về toán HS có thể thu thập các dữ liệu cần thiết cho mục đích học tập của mình Máy tính quản lý và xử lý rất nhiều dạng thông tin khác nhau như văn bản, số đo, biểu đồ, đồ thị, hình vẽ, dạng quá trình chuyển động Với khả năng này CNTT giúp HS có điều kiện tốt để nghiên cứu các đối tượng toán học từ đó tìm ra kiến thức mới
Chức năng hỗ trợ hoạt động khám phá và giải quyết vấn đề
Hỗ trợ khám phá được xem là một trong những chức năng cần thiết trong dạy và học toán Từ khi các phần mềm vi thế giới ra đời, các nhà nghiên cứu
PP dạy học toán đã bắt đầu đề cao đến vai trò hỗ trợ hoạt động khám phá, giải quyết vấn đề của CNTT trong quá trình giảng dạy Trong việc giúp HS tìm tòi, phát hiện các tính chất mới thì CNTT tỏ ra có nhiều ưu thế vượt trội
so với một số phương tiện dạy học truyền thống
Các phần mềm với các công cụ dựng hình cho phép HS thao tác để phát hiện và dự đoán được các tính chất hình học trong hình học Ngoài ra các phần mềm đó còn đưa ra các công cụ đo đạc và tính toán liên quan đến các số
đo về độ dài, diện tích Từ đó có thể tìm ra các công thức về mối liên hệ giữa các số đo của các yếu tố trong các bài toán hình học
Chức năng trực quan hoá, minh hoạ, kiểm nghiệm
CNTT có thể được sử dụng trong quá trình dạy học toán nhằm tạo ra mô hình trực quan để minh hoạ cho các nội dung trong bài giảng Trực quan hoá
là chức năng biểu diễn các thông tin có tính cấu trúc hoặc các vấn đề học dưới dạng có thể nhìn thấy được trong đó có sự tham gia của các mô hình Chức năng trực quan hoá khiến học máy tính điện tử trở thành chiếc cầu nối giữa hai hoạt động dạy và học(Abridge between teaching and learning, theo Leon Burton và Barbara Jaworski) Cụ thể vai trò trực quan hoá của CNTT giúp HS phát hiện rất nhanh (nhờ quan sát bằng mắt) các quan hệ song song, vuông góc, thẳng hàng, bằng nhau, lớn hơn cũng như hình dạng đường đi của điểm chuyển động
Trang 22Sự kết hợp giữa lập luận suy diễn và dùng máy tính để minh hoạ kiểm nghiệm lại các tính chất có tác dụng thúc đẩy hỗ trợ cho nhau nhằm đạt được mục đích cuối cùng là hình thành kiến thức, rèn luyện kỹ năng và phát triển tư duy cho HS
Chức năng kiểm nghiệm(Test) của CNTT có tính độc đáo ở chỗ cho phép kiểm nghiệm được một loạt trường hợp riêng lẻ trong một thời gian rất ngắn Học theo cách học thông thường, muốn kiểm nghiệm một tính chất nào đó của một hình cần phải vẽ các hình khác nhau để kiểm nghiệm rất mất thì giờ Hơn nữa một số tính chất liên quan đến các biểu thức về các
số đo thì không thể nào thực hiện được còn đối với các phần mềm dựng hình cơ hoạt chỉ cần thao tác kéo rê con chuột là có thể tạo ra hàng hoạt hình vẽ mới để kiểm nghiệm Với khả năng đo đạc và tính toán của phần mềm, hình vẽ sẽ gợi ý cho ta kết quả ngay lập tức
Chức năng hoạt động
Hoạt động trên màn hình máy tính là sự biểu diễn trực quan các hiện tượng các quá tình dưới dạng hình ảnh chuyển động nhờ có hoạt hình mà hiệu quả trực quan hoá của các phần mềm máy tính được tăng lên rất nhiều Sử dụng CNTT với các phần mềm toán học, HS sẽ sử dụng các chức năng chuyên dụng để tạo ra các tình huống sinh động sát với điều kiện thực tế Nhờ tạo ra mô hình chuyển động mà HS có điều kiện rèn luyện trí tưởng tượng không gian, óc trừu tượng Nhờ tính năng hoạt hình mà một số bài toán trước đây không thể nào thể hiện được bằng phương tiện giấy bút thì đến nay CNTT cho phép khảo sát được rất trực quan (Colette Laborde) Quá trình chuyển động trên màn hình có thể được điều khiển nhanh hoặc chậm rất tiện lợi trong việc quan sát
Chức năng, kiểm tra, đánh giá
Hiện nay, trong chương trình giáo dục phổ thông của nhiều nước phát triển đã đưa vào vấn đề xây dựng quy trình kiểm tra đánh giá HS bằng những chương trình trên máy tính, trong đó chương trình kiểm tra trắc nghiệm được
Trang 23đặc biệt chú ý Với những chương trình này máy tính đóng vai trò vừa là thiết
bị kiểm tra vừa là thiết bị đánh giá, thống kê tổng hợp Ưu điểm nổi bật của kiểm tra đánh giá bằng máy tính là khách quan trung thực và chính xác cao Khi HS hội thoại với máy để đánh giá kiểm tra kết quả câu trả lời được đưa ra ngay trên màn hình Trong các chương trình kiểm tra trắc nghiệm với các dạng câu hỏi đúng sai, hoặc câu hỏi có nhiều lựa chọn HS đưa ra câu trả lời bằng cách gõ “Đ” hoặc “S” hoặc gõ chọn một số để chọn một câu trả lời Nội dung kiểm tra nếu được chuẩn bị chu đáo sẽ rất phong phú và đa dạng, bao quát được nhiều kiến thức và kỹ năng, hạn chế được tình trạng HS học tủ, học lệch Một ưu điểm lớn nữa của việc kiểm tra đánh giá bằng phương tiện máy tính là tiết kiệm được thời gian Rõ ràng khi kiểm tra bằng hình thức trắc nghiệm thì thời gian dành cho chấm trả bài của thầy giáo là rất ít so với chấm trả bài theo cách thông thường Thời gian dùng để xếp loại HS là không đáng
kể nếu máy đã có chương trình cài sẵn
1.4.2 Một số phần mềm sử dụng trong thiết kế bài giảng
Để thiết kế những bài giảng có ứng dụng CNTT, trong luận văn đã sử dụng một số phần mềm công cụ thông dụng như: Microsoft word, Microsoft powerPoint, Paint và hai phần mềm dạy học Violet, Cabri3d, dưới đây xin giới thiệu vắn tắt về hai phần mềm dạy học này:
a) ) Phần mềm violet
Trang 24Phần mềm VIOLET của Công ty cổ phần Tin học Bạch kim là công cụ giúp cho các GV có thể tự xây dựng được phần mềm hỗ trợ dạy học theo ý tưởng của mình một cách nhanh chóng So với các công cụ khác, VIOLET chú trọng hơn trong việc tạo ra các bài giảng có âm thanh, hình ảnh, mô
phỏng, chuyển động và tương tác
VIOLET được viết tắt từ cụm từ tiếng Anh: Visual & Online Lecture
Editor for Teacher (công cụ soạn thảo bài giảng trực tuyến dành cho GV)
Tương tự, phần mềm thiết kế trình diễn Microsoft PowerPoint, VIOLET
có đầy đủ các chức năng dùng để tạo các trang nội dung bài giảng như nhập các dữ liệu văn bản, công thức toán, các dữ liệu multimedia (ảnh, âm thanh, phim, hoạt hình Flash ), sau đó lắp ghép các dữ liệu, sắp xếp thứ tự, căn chỉnh hình ảnh, tạo các chuyển động và hiệu ứng, xử lý các tương tác với người dùng Riêng đối với việc xử lý dữ liệu multimedia So với PowerPoint, việc sử dụng VIOLET còn chưa được thuận lợi và dễ dàng cho người dùng
Trang 25như PowerPoint, tuy nhiên chương trình này có một số chức năng tốt hơn như cho phép nhập và thể hiện các file Flash hoặc cho phép điều khiển quá trình chạy của các đoạn phim v.v
VIOLET cung cấp sẵn nhiều mẫu bài tập chuẩn thường được sử dụng trong các SGK và sách bài tập như:
đúng, ghép đôi, chọn đúng sai, v.v
Bài tập ô chữ: HS phải trả lời các ô chữ ngang để suy ra ô chữ dọc
Vẽ đồ thị hàm số: có thể vẽ được đồ thị bất kỳ hàm số nào, đặc biệt còn thể hiện được sự chuyển động biến đổi hình dạng của đồ thị khi thay đổi các tham số của biểu thức
này vào đúng những vị trí được quy định trước trên một hình ảnh hoặc một đoạn văn bản Bài tập này còn có thể thể hiện dưới dạng bài tập điền khuyết hoặc ẩn/hiện
VIOLET cho phép chọn nhiều kiểu giao diện (skin) khác nhau cho bài
giảng, tùy thuộc vào bài học, môn học và ý thích của người soạn Người soạn cũng thể tự tạo ra được trang bìa để ghi các thông tin cần thiết cho mỗi sản phẩm bài giảng
Sau khi soạn thảo xong bài giảng, VIOLET sẽ cho phép xuất bài giảng ra thành một file EXE hoặc file HTML chạy độc lập, tức là không cần VIOLET vẫn có thể chạy được trên mọi máy tính, hoặc đưa lên máy chủ thành các bài giảng trực tuyến để sử dụng qua mạng Internet
VIOLET có giao diện được thiết kế trực quan và dễ dùng, ngôn ngữ giao tiếp và phần trợ giúp của VIOLET hoàn toàn bằng tiếng Việt Vì vậy, một GV không giỏi tin học và ngoại ngữ vẫn có thể sử dụng được VIOLET một cách dễ dàng Mặt khác, do sử dụng Unicode nên font chữ trong VIOLET và trong các sản phẩm bài giảng đều đẹp, dễ nhìn và có thể thể hiện được mọi thứ tiếng trên
Trang 26thế giới Thêm nữa, Unicode là bảng mã chuẩn quốc tế nên font tiếng Việt luôn đảm bảo tính ổn định trên mọi máy tính, mọi hệ điều hành
b) Phần mềm cabri 3D
Cabri 3D là phần mềm hình học động rất nổi tiếng của công ty cabrilog (pháp) Chức năng chính của phần mềm này là tạo ra các hình hình học động trong không gian 3D hỗ trợ cho việc dạy và học trong trường phổ thông
Phần mềm Cabri 3D cung cấp các công cụ để GV và HS dễ dàng thiết lập các hình hình học trên màn hình Các hình này có một đặc điểm đặc biệt
đó là chúng có thể chuyển động trên màn hình mà vẫn giữ lại các quan hệ lôgic hình học Tính năng này sẽ giúp chúng ta quan sát các hình hình học với nhiều cách, nhiều góc độ khác nhau
Đối với GV đây là một phần mềm rất tiện ích trong việc minh họa cho bài giảng bởi vì GV có thể vẽ hình và thao tác trực tiếp với các hình động trong khi giảng dạy
Đối với HS phần mềm này sẽ hỗ trợ các em trong việc quan sát, tư duy
để hiểu lý thuyết cũng như vận dụng khi làm bài tập
Trang 27KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Qua việc phân tích những vấn đề về tâm lý lứa tuổi HS trung học phổ thông; Một số chủ trương đổi mới PP dạy học; Hình thức biên soạn tài liệu và dạy học theo hình thức mô đun; Ứng dụng CNTT trong dạy học có thể rút ra kết luận sau:
Dạy học theo hình thức mô đun có sự hỗ trợ của CNTT là một trong những hình thức dạy học hữu hiệu để người học hoạt động tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo và chủ động tiếp thu kiến thức mới Điều này hoàn toàn phù hợp với tâm lí lứa tuổi THPT, định hướng đổi mới SGK và đổi mới PP dạy và học ở trường phổ thông
Với cách dạy học này, người học sẽ nắm vững kiến thức bằng hoạt động
tự giác, chủ động tích cực, đồng thời rèn luyện được khả năng tự học, năng lực giải quyết vấn đề, là những năng lực then chốt, cần thiết cho mọi HS
Trang 28CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG MỘT SỐ BÀI GIẢNG
VỀ QUAN HỆ VUÔNG GÓC TRONG KHÔNG GIAN
Ở HÌNH HỌC 11- THPT THEO HÌNH THỨC MÔ ĐUN VỚI SỰ
TRỢ GIÚP CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 2.1 Một số đặc điểm của việc dạy hình học không gian
Hình học không gian là một môn học mới đối với HS lớp 11 vì nó có nội dung mới và phong phú hơn so với hình học phẳng (về khối lượng kiến thức cũng như PP suy luận ) Do đó muốn giảng dạy môn hình học không gian đạt hiệu quả cao cần phải quan tâm đúng mức một số đặc điểm sau đây :
Hình học không gian có liên quan rất mật thiết với hình học phẳng
Từ lớp 6 đến lớp 10 HS đã làm quen với hình học phẳng là hình học được xây dựng trong không gian hai chiều, lên lớp 11 chúng ta tập cho HS làm quen với hình học không gian ba chiều như vậy so với hình học phẳng
HS được biết thêm các đối tượng mới và các quan hệ mới giữa các đối tượng
đó Ngay cả đối với các đối tượng mà HS đã biết trong hình học phẳng như điểm, đường thẳng thì bây giờ cũng phải hiểu với một nội dung phong phú hơn Ví dụ về vị trí tương đối của hai đường thẳng; nếu xét trong không gian thì chúng có thêm một quan hệ mới là quan hệ chéo nhau Mặt khác khi vẽ hình biểu diễn của các hình trong không gian trên mặt phẳng thì HS chưa quen tưởng tượng, chưa quen với các quy ước nên có thể gây ra những sự hiểu nhầm Thí dụ khi vẽ hình biểu diễn của hai đường thẳng chéo nhau nếu chúng ta không giải thích rõ ràng thì HS có thể hiểu nhầm là chúng cắt nhau
Cần chú ý phát triển trí tưởng tượng không gian cho HS
Đây là một đặc điểm quan trọng của môn hình học không gian Ngay từ những giờ học đầu tiên GV cần phải vừa dùng đồ dùng dạy học, vừa dùng những hình ảnh của đường thẳng, mặt phẳng trong thực tế, vừa dùng hình vẽ minh họa để rèn luyện trí tưởng tượng không gian cho HS Biết vẽ hình và
Trang 29đọc hình vẽ là một yêu cầu quan trọng đối với HS trong việc học hình học không gian Sau khi đã làm quen với việc vẽ hình biểu diễn của hình không gian trên mặt phẳng thì HS có được một công cụ quan trọng để minh họa, mô
tả các bài toán của hình học không gian, trên cơ sở đó giải được các bài toán
về hình học không gian
Việc phát triển trí tưởng tượng không gian được bắt đầu bằng việc xét vị trí tương đối của điểm, đường thẳng, mặt phẳng thông qua các bài toán từ đơn giản đến phức tạp Các bài toán về quan hệ song song, quan hệ vuông góc, tìm thiết diện cũng nhằm mục đích làm cho trí tưởng tượng không gian của
HS được phát triển với mức độ ngày càng cao hơn Một số HS gặp khó khăn trong việc làm các bài toán về hình học không gian là do không tưởng tượng được hình thực từ các giả thiết của bài toán, hoặc không biết về hình minh họa để hiểu một cách đầy đủ và chính xác về mối quan hệ giữa các yếu tố đã cho với các yêu cầu đòi hỏi của bài toán đó
tỏ ra lúng túng vì không nắm được các định nghĩa các khái niệm này Dạy khái niệm là một vấn đề rất khó Có trường hợp chúng ta phải cho các ví dụ
và phân tích ví dụ thì mới hy vọng làm cho HS hiểu được bản chất các khái niệm đó
Trang 30- Rèn luyện khả năng suy luận chặt chẽ cho HS
- Cần tập cho HS biết cách làm các bài toán về hình học không gian
Sự trợ giúp của CNTT sẽ phần nào khắc phục được một số đặc điểm nêu trên
2.3 Xây dựng một số bài giảng về quan hệ vuông góc trong không gian ở hình học 11- THPT theo hình thức mô đun với sự trợ giúp của CNTT
- Các tiết học đều được thiết kế với nội dung (3 bước):
A CHUẨN BỊ :
Căn cứ SGK Hình 11, sách GV, sách thiết kế bài giảng, sách báo tài liệu, các phần mềm dạy học, các thông tin tra cứu trên mạng…để từ đó xác định kiến thức cơ bản, kĩ năng cần rèn luyện và thái độ, phẩm chất cần có ở HS, đồng thời lựa chọn các phần mềm công cụ, các phương tiện dạy học thích hợp nhằm chuyển tải sinh động các nội dung cơ bản của bài học và bổ sung,
mở rộng kiến thức một cách hợp lí
B KỊCH BẢN DẠY HỌC
Đây là bước quan trọng trong việc thiết kế bài giảng có ứng dụng CNTT, giúp thiết kế bài giảng trên máy tính và hướng dẫn GV tiến hành tiết học Tuy nhiên cũng cần lưu ý: Không nên lạm dụng CNTT, tùy theo nội dung từng bài học, từng hoạt động (giới thiệu, xây dựng công thức, bảng biểu, luyện tập tính toán, bài tập trắc nghiệm, trò chơi toán học ) mà lựa chọn những phần mềm công cụ, phần mềm dạy học, những tiện ích thích hợp Nên kết hợp và áp dụng các PP dạy học tích cực thường có trong dạy học môn Toán để tạo sự hài hòa,
tự nhiên, tránh gò bó, khiên cưỡng trong giờ học
C BÀI GIẢNG TRÊN MÁY TÍNH
Đây là bước làm ra sản phẩm của kịch bản dạy học đã xây dựng ở phần
B, là sự thể hiện ý đồ của thầy giáo Bài giảng có ứng dụng CNTT thực chất
đã trở thành phương tiện dạy học của người thầy
Trang 31XÂY DỰNG MỘT SỐ BÀI GIẢNG
2.3.1 Tiết 30 HAI ĐƯỜNG THẲNG VUÔNG GÓC
- Khái niệm góc giữa hai vectơ trong không gian
- Tích vô hướng của hai vectơ trong không gian
-Vectơ chỉ phương của hai đường thẳng
b Kĩ năng:
- Phát hiện, nhận biết chính xác góc giữa hai vectơ và góc giữa hai đường thẳng
- Xác định thành thạo cách chứng minh hai đường thẳng vuông góc
- Xác định được mối quan hệ giữa vectơ chỉ phương và góc giữa hai đường thẳng
- Tiết 30 ppt (Microsoft Powerpoint)
- Cabry 3D.EXE (vẽ hình trong không gian)
- Package- Danhgia (Violet)
Trang 326 Phương tiện kĩ thuật dạy học: Máy tính, máy chiếu projector
1- Xác định góc giữa hai vectơ u
và v 2- Định nghĩa Tích vô hướng của hai vectơ trong không gian
3- Tìm hiểu ứng dụng của tích vô hướng
- h/s: nghe hiểu nhiệm
a Định nghĩa
Trong không gian, cho u và v
là hai vectơ khác vectơ – không
Lấy một điểm A bất kì, gọi B và
C là hai điểm sao cho
Khi đó ta gọi
- h/s theo dõi thầy thao tác và vẽ theo hình:
v
H 2.1
Trang 33giữa CH và AC
HS quan sát hình vẽ và trả lời câu hỏi của GV
a) Định nghĩa:
Trong không gian cho hai vectơ
u và v đều khác vectơ – không
Tích vô hướng của hai vectơ u
HS theo dõi thầy thao tác và ghi công thức tính
H 2.2
Trang 34và v là một số, kí hiệu là u.v, được xác định bởi công thức:
u v u v c os(u, v)
- Trường hợp u0 hoặc v 0
ta quy ước u v 0
b) Ứng dụng của tích vô hướng:
Hãy phân tích các vectơ AC'
Trang 35A 450 B 600
C 1200 D 300 b) Góc giữa cặp vectơ ( AF EG, )là
a
D -a2 b) Tích vô hướng SC AB bằng
A a2 B –a2
C
22
a
D
22
H 2.4
H 2.5
Trang 361 Vectơ chỉ phương của đường thẳng được định nghĩa như thế nào?
2 Nếu a là vectơ chỉ phương của d thì ka với k0 có là vectơ chỉ phương của d hay không?
3 Có bao nhiêu đường thẳng đi qua một điểm và biết một vectơ chỉ phương cho trước ?
4 Hai đường thẳng song song
có cùng một vectơ chỉ phương không?
-HS nghe hiểu nhiệm vụ
-Tìm hiểu SGK để hoàn thành nhiệm vụ
Ghi thông tin vào vở
a
H 2.6
Trang 37đường thẳng d nếu giá của vectơ
b) Một đường thẳng d trong không gian hoàn toàn được xác định nếu biết một điểm A thuộc d và một vectơ chỉ phương a
của nó
c) Hai đường thẳng song song với nhau khi và chỉ khi chúng là hai đường thẳng phân biệt và có hai vectơ chỉ phương cùng phương
b) Một đường thẳng hoàn toàn xác định khi biết một điểm nằm trên đường thẳng và một véc tơ chỉ phương
c) Nếu u là vectơ chỉ phương của
Đọc và suy nghĩ câu hỏi và trả lời
Trang 38HS Theo dõi câu trả lời
Củng cố và hướng dẫn học ở nhà, tài liệu tham khảo (5’)
- Xem lại và học lí thuyết theo SGK
- Làm các bài tập 3, 4, 5, 6 trong SGK trang 97, 98
Tài liệu tham khảo
- Sách giáo khoa HH 11
- Sách GV HH11
- Bài tập trắc nghiệm và các đề kiểm tra HH 11
Trang 39C–BÀI SOẠN TRÊN MÁY TÍNH