Kể từ khi có hiệu lựcthi hành đến nay, Pháp lệnh bảo vệ và kiểm dịch thực vật thực sự góp phần quan trọng, là cơ sở pháp lý trong việc phòng trừ sâu bệnh, ngăn chặn kịp thời dịch hại, bả
Trang 1
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Thông tin chuyên đề
Trang 2MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU……… ……….……… 2
I - VẤN ĐỀ KIỂM DỊCH THỰC VẬT Ở VIỆT NAM 1.1 Một vài nét về kiểm dịch thực vật ở Việt Nam 3
1.2 Thực trạng công tác kiểm dịch thực vật của Việt Nam 3
2 Một số kiến nghị 10
II – VẤN ĐỀ QUẢN LÝ THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT Ở VIỆT NAM 2.1 Một vài nét về quản lý, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật 12
2.2 Thực trạng quản lý thuốc bảo vệ thực vật 13
2.3 Kiến nghị nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật 21
III MỘT SỐ VẤN ĐỀ CÒN CÓ Ý KIẾN TRONG DỰ THẢO LUẬT 3.1 Về các quy định thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT 24
3.2 Về quy định về hệ thống cơ quan BV&KDTV 25
3.3 Về kiểm dịch thực vật 25
KẾT LUẬN 26
Trang 3MỞ ĐẦU
Pháp lệnh bảo vệ và kiểm dịch thực vật được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thôngqua ngày 08/8/2000 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2001 Kể từ khi có hiệu lựcthi hành đến nay, Pháp lệnh bảo vệ và kiểm dịch thực vật thực sự góp phần quan trọng,
là cơ sở pháp lý trong việc phòng trừ sâu bệnh, ngăn chặn kịp thời dịch hại, bảo vệ antoàn sản xuất nông nghiệp; thúc đẩy xuất khẩu nông sản thực phẩm, tăng cường hiệu lựcquản lý nhà nước về công tác bảo vệ và kiểm dịch thực vật; góp phần ổn định và pháttriển sản xuất nông nghiệp an toàn
Những kết quả rất đáng ghi nhận mà ngành nông nghiệp Việt Nam đã đạt đượctrong thời gian qua khẳng định ý nghĩa to lớn và tầm quan trọng của Pháp lệnh đối vớisản xuất nông nghiệp Việt Nam
Tuy nhiên, trong quá trình thi hành Pháp lệnh bảo vệ và kiểm dịch thực vật hiệnhành nhận thấy rằng có nhiều quy định của Pháp lệnh chưa đáp ứng được nghĩa vụ, quyđịnh của các hiệp định, hiệp ước quốc tế mà Việt Nam phải thực hiện khi đã gia nhập tổchức thương mại thế giới Mặt khác một số nội dung của Pháp lệnh chưa phù hợp vàchưa đáp ứng được yêu cầu thực tế của công tác bảo vệ và kiểm dịch thực vật
Trong chuyên đề này, chúng tôi xin đề cập sâu đến hai lĩnh vực cơ bản trong hoạtđộng bảo vệ và kiểm dịch thực vật là lĩnh vực kiểm dịch thực vật và lĩnh vực thuốc bảo
vệ thực vật
Trang 4I VẤN ĐỀ KIỂM DỊCH THỰC VẬT Ở VIỆT NAM
1.1 MỘT VÀI NÉT VỀ KIỂM DỊCH THỰC VẬT Ở VIỆT NAM
Kiểm dịch thực vật (KDTV) được định nghĩa là tất cả những hoạt động được tạo
ra nhằm ngăn chặn sự du nhập và/hoặc lan rộng của dịch hại kiểm dịch thực vật hoặc đểđảm bảo sự kiểm soát chính thức những dịch hại đó Nói một cách khác, hệ thốngKDTV được xây dựng với mục đích chính là ngăn chặn có hiệu quả sự du nhập và lanrộng của các sinh vật gây hại tài nguyên thực vật nhằm bảo vệ an toàn nền sản xuấtnông, lâm nghiệp trong nước, bảo vệ môi trường sinh thái cũng như sức khỏe của ngườidân Bên cạnh đó, KDTV cũng được thiết kế như một công cụ quản lý hiệu quả chấtlượng, uy tín hàng hóa nông lâm sản xuất khẩu của Việt Nam, góp phần nâng cao nănglực cạnh tranh hàng hoá nông lâm sản Việt Nam trên thị trường quốc tế Ngoài ra, côngtác KDTV cũng góp phần nâng cao thu nhập của người dân, đảm bảo an ninh lương thựcnhờ tránh được các thiệt hại do dịch hại nguy hiểm gây ra
Không chỉ Việt Nam, hệ thống KDTV được xây dựng và phát triển ở tất cả cácnước trên thế giới với nguyên tắc cơ bản “phòng hơn chống” Dịch hại KDTV, dịch hạinguy hiểm được ngăn ngừa từ xa nhằm giảm thiểu tối đa những thiệt hại kinh tế và cáctác động xấu lên môi trường, xã hội Có thế nói, KDTV là một tấm màng lọc, một tấmlưới vững chắc bảo vệ cho thực vật và sản phẩm thực vật trong nội địa tránh khỏi sự gâyhại của dịch hại KDTVvà dịch hại nguy hiểm
Từ năm 2007, Việt Nam đã là thành viên chính thức của tổ chức thương mại thếgiới (WTO) Việc thực thi các nghĩa vụ thành viên nhằm đảm bảo bảo vệ sản xuất trongnước đồng thời không gây cản trở đến thương mại quốc tế giữa Việt Nam và các nướckhác thì công tác KDTV gặp không ít khó khăn và thách thức như nguồn nhân lực, cơ sở
hạ tầng, trang thiết bị và công nghệ, đặc biệt là cơ sở pháp lý phải được sửa đổi bổ sungcho phù hợp với thông lệ quốc tế và các cam kết mà Việt Nam phải có nghĩa vụ thựchiện
1.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM DỊCH THỰC VẬT Ở VIỆT NAM 1.2.1 Thực trạng công tác kiểm dịch thực vật
a, Phân cấp quản lý trong công tác KDTV
Trang 5Theo quy định hiện hành thì việc quản lý nhà nước về công tác kiểm dịch thực vậtđược Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giao cho Cục Bảo vệ thực vật (Tổ chứcbảo vệ thực vật quốc gia) thực hiện.
Hệ thống KDTV đã được xây dựng và phát triển trên phạm vi cả nước để thựchiện công tác kiểm dịch hàng hóa xuất, nhập khẩu tại các cửa khẩu quốc gia, quốc tế, lối
mở
Hệ thống KDTV được tổ chức bao gồm 09 Chi cục KDTV vùng, 01 Trung tâmGiám định KDTV, 02 Trung tâm KDTV sau nhập khẩu, trực thuộc cac Chi cục KDTVvùng có trên 60 trạm KDTV trực thuộc tại các cửa khẩu đường bộ, đường biển và hàngkhông Ngoài ra còn có trên 60 phòng/trạm KDTV nội địa tại chi cục BVTV các tỉnh,thành phố trực thuộc trung ương trên phạm vi cả nước Toàn bộ lực lượng trên được đặtdưới sự quản lý của Cục Bảo vệ thực vật
Về cơ bản, Cục Bảo vệ thực vật và các chi cục trực thuộc (các Chi cục KDTVvùng, các trung tâm kỹ thuật) chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về KDTV, xử lýKDTV đối với hàng hóa xuất nhập khẩu Các trạm KDTV trực thuộc Chi cục Bảo vệthực vật các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương sẽ chịu trách nhiệm về công tácKDTV nội địa và xử lý KDTV đối với hàng hóa bảo quản nội địa Cho đến nay, việcphân cấp này đã và đang phát huy tác dụng tốt Không có sự chồng chéo nào trong phâncấp nhiệm vụ được ghi nhận trong thời gian qua; các vị trí, bộ phận đều hoạt động nhịpnhàng, đạt hiệu quả tốt
Tuy nhiên, với xu thế hội nhập quốc tế hiện nay cùng với việc trao đổi thươngmại tăng mạnh, thì số lượng các cửa khẩu quốc tế, quốc gia, lối mở cũng tăng đáng kểcùng với sự phát triển của nền kinh tế Do vậy, hệ thống KDTV cũng phải đối mặt với
sự thiếu hụt về nhân lực và vật lực, đặc biệt là thiếu biên chế công chức thực hiện côngtác KDTV
b, Văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực KDTV
Với thuộc tính của công tác KDTV là mang tính pháp chế cao, tính quốc tế rộngrãi , do vậy hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật có vai trò quan trọng trong việcxây dựng định hướng, mục tiêu chiến lược, hướng dẫn, chỉ đạo thực hiện công tácKDTV không chỉ trên phạm vi toàn quốc mà còn liên quan đến việc thực hiện các Điều
Trang 6ước quốc tế về lĩnh vực Bảo vệ và kiểm dịch thực vật mà Việt Nam ký kết hoặc thamgia Văn bản quy phạm pháp luật không chỉ tạo hành lang pháp lý cho công tác xuấtnhập khẩu mà còn tác động đến trao đổi thương mại quốc tế
Hiện nay, hệ thồng văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công tác KDTVbao gồm: Pháp lệnh bảo vệ và kiểm dịch thực vật, Nghị định số 02/2007/NĐ-CP ngày
05 tháng 01 năm 2007 của Chính phủ về kiểm dịch thực vật và một hệ thống các thông
tư và quy chuẩn kỹ thuật hướng dẫn tực thi công tác KDTV
Có thể nói, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện nay là tương đối đồng bộ,điều chỉnh hầu hết các hoạt động trong lĩnh vực KDTV Tuy nhiên, nhiều quy địnhkhông còn phù hợp với công việc thực tế hiện nay, đặc biệt là từ năm 2007 khi ViệtNam trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới và hội nhập quốc tế sâurộng, khi đánh giá so sánh các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam với các quyđịnh quốc tế cho thấy quy định của ta còn thiếu, chưa chặt chẽ và thấp hơn so với cácnước trong khu vực cũng như các tiêu chuẩn quốc tế Hơn nữa, phần lớn các văn bảnquy phạm pháp luật của Việt Nam hiện nay chưa được xây dựng trên cơ sở khoa học hayminh chứng về mặt kỹ thuật Chính vì vậy, việc xây dựng Luật Bảo vệ và KDTV vàquy định mới là thực sự cần thiết và đóng một vai trò rất quan trọng đối với công tácquản lý nhà nước về lĩnh vực KDTV
c, Kiểm dịch thực vật xuất nhập khẩu
Cùng với tốc độ hội nhập kinh tế quốc tế trong tiến trình toàn cầu hóa thì khốilượng hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam tăng nhanh Cụ thể là năm 2002, tổng lượnghàng hóa xuất khẩu qua KDTV của Việt Nam là khoảng 8,3 triệu tấn thì đến năm 2007( năm Việt Nam gia nhập WTO) đã tăng lên 20,1 triệu tấn Con số này năm 2012 làkhoảng 48,6 triệu tấn, tăng gần 2,5 lần so với năm 2007 và khoảng 6 lần so với năm
2002 Bên cạnh việc tăng nhanh về khối lượng thì chủng loại hàng hóa xuất nhập khẩucũng rất đa dạng với hơn 120 loại hàng hóa khác nhau
Hơn nữa, yêu cầu về KDTV của các nước nhập khẩu đặc biệt là các thị trườngkhó tính và tiềm năng như Mỹ, Châu Âu, Nhật…ngày càng cao, đòi hỏi công tác KDTVphải có những thay đổi cả về cơ sở hạ tầng kỹ thuật lẫn pháp chế để đáp ứng được cácyêu cầu đó
Trang 7d, Hợp tác quốc tế
Trong hơn bốn mươi năm xây dựng và phát triển, công tác hợp tác quốc tế tronglĩnh vực KDTV đã đạt được nhiều thành tựu nhất định trong đó phải kể đến các sự kiệnnhư tham gia Công ước quốc tế về BVTV (IPPC), Hiệp hội các nước Đông Nam Á(ASEAN), Hiệp định về Vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật ( Hiệpđịnh SPS) và ký kết nhiều Hiệp định, Thỏa thuận, Bản ghi nhớ song phương với cácnước khác.Tính đến năm 2010, đã có 05 Hiệp định song phương về bảo vệ và kiểm dịchthực vật đuợc ký kết giữa Việt nam với Mông Cổ, Trung Quốc, Rumani, Chilê, Belarus;
03 thỏa thuận với Lào, Hàn Quốc và Australia; 04 bản ghi nhớ với Lào, Thái Lan vàTrung Quốc
Bằng việc tham gia IPPC và thực hiện Hiệp định SPS, nhiều tiêu chuẩn quốc tế,tiêu chuẩn vùng trong lĩnh vực KDTV đã được hài hòa với các tiêu chuẩn kỹ thuật củaViệt Nam Các tiêu chuẩn quốc tế này đã và đang được áp dụng rộng rãi trong công tácKDTV tại Việt Nam, được coi như là một cơ sở khoa học quan trọng, đặc biệt là trongcác trường hợp có tranh chấp quốc tế Hiện nay, IPPC đã ban hành tổng cộng 36 tiêuchuẩn quốc tế về KDTV, trong đó có 15 tiêu chuẩn đã được Việt Nam hài hòa với hệthông tiêu chuẩn, qui chuẩn trong nước
So sánh, đánh giá mức độ phù hợp giữa các tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn vùngvới các tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia và các qui định pháp lý của Việt Nam, cố thểnhận thấy:
- Điều kiện KDTV nhập khẩu của Việt Nam còn đang ở mức thấp
- Quy định về việc thiết lập và quản lý vùng không nhiễm dịch hại, vùng ít nhiễmdịch hại còn thiếu
- Danh mục dịch hại thuộc diện KDTV còn phải rà soát, sửa đổi, bổ sung cho phùhợp với các quy trình, tiêu chuẩn quốc tế
Việc đẩy mạnh hợp tác quốc tế đã tranh thủ được sự hỗ trợ của một số tổ chứcquốc tế về nghiên cứu và ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến như xử lý hơi nướcnóng, xử lý chiếu xạ, sử dụng các thiết bị hiện đại như PCR, ELISA vào giám định sinhvật gây hại; trang thiết bị phục vụ cho công tác chuyên môn; đào tạo cán bộ
e, Khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực KDTV
Trang 8Cùng với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, các tiến bộ khoa học kỹ thuật tronglĩnh vực KDTV đã và đang được phát triển và ứng dụng mạnh mẽ Nhiều kết quả nghiêncứu khoa học đã góp phần quan trọng vào việc kiểm soát hàng nhập khẩu và thúc đẩyviệc xuất khẩu hàng nông sản.
Tuy nhiên, việc phân tích giám định dịch hại trên hàng xuất nhập khẩu vẫn còngặp nhiều khó khăn cả về nguồn nhân lực và trang thiết bị Các biện pháp xử lý trongKDTV còn hạn chế, chưa thực sự đáp ứng yêu cầu công việc thực tế hiện nay
1.2.2 Những khó khăn và thách thức trong công tác KDTV
a, Văn bản quy phạm pháp luật về KDTV
Các quy định về KDTV của Việt Nam còn thiếu và chưa đồng bộ với hệ thốngpháp luật hiện nay cũng như các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết Cụthể là các quy định KDTV của Việt Nam đang ở mức thấp hơn so với các quy định quốc
tế và các nước trong khu vực, không bảo đảm mức độ bảo vệ thực vật thích hợp
b, Hàng hóa bị nhiễm dịch hại KDTV của Việt Nam
Như đã đề cập ở trên, cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, lượng hàng hóanhập khẩu trong những năm qua đã tăng nhanh về số lượng và đa dạng về chủng loạitrong khi lực lượng KDTV tại các cửa khẩu còn mỏng và thiếu trang thiết bị để giám sátdịch hại Đây cũng là một trong những lý do làm dịch hại KDTV có diễn biến phức tạp
và có nhiều khả năng đi theo hàng hóa vào sâu trong nội địa
Trong sáu năm ( từ năm 2007 đến năm 2012) lực lượng KDTV đã trên 400 lần
phát hiện dịch hại KDTV (bao gồm Trogoderma inclusum, Trogoderma granarium,
Pantoea stewartii, Sitophilus granarius Linnaeus, Phthorimaea operculella)với khối
lượng xấp xỉ 270.000 tấn hàng hóa các loại (bao gồm ngô, bột bã ngô, bột mì, khô dầuđậu tương, lúa mì, mạch, bông, kê…) từ các nước Mỹ, Ấn Độ, Pakistan, Thái Lan, Nga,Ukraine, Uzbekistan… Mặc dù các dịch hại này đã được xử lý triệt để tại cửa khẩungay khi phát hiện, tuy nhiên rất khó có thể kiểm soát hoàn toàn sự xâm nhập và lây lancủa chúng do đặc điểm sinh học, sinh trưởng rất đặc thù của những loài này đặc biệt là
Trogoderma granarium (TG) Trong trường hợp xâm nhập và thiết lập được quần thể
trong nội địa, chúng sẽ bùng phát thành dịch nhanh chóng gây hại nghiêm trọng câytrồng ngoài đồng cũng như sản phẩm thực vật bảo quản trong kho ( ngô, lúa, đậu đỗ,thức ăn gia súc, chè, cà phê…) và ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh lương thực quốc gia
Trang 9Có thể nói tần suất phát hiện dịch hại KDTV của Việt Nam trên hàng hóa trongthời gian qua là rất cao Điều này đã gây khó khăn lớn cho công tác kiểm tra kiểm dịchthực vật tại cửa khẩu cũng như công tác kiểm dịch thực vật nội địa.Trên thực tế, lựclượng KDTV đã phải tốn rất nhiều thời gian, công sức, tiền bạc để bao vây và tiêu diệtcác ổ dịch hại KDTV lọt vào trong nội địa.
Bên cạnh đó, các loài dịch hại này cũng là dịch hại KDTV của rất nhiều nước trênthế giới như Iraq, Philippine, EU, Nhật Bản, Úc… là những thị trường lớn và quan trọngcủa Việt Nam Vấn đề có mặt một trong những loài dịch hại KDTV này trong nội địa sẽảnh hưởng lớn đến xuất khẩu hàng nông sản đặc biệt là mặt hàng gạo qua đó tác độngtrực tiếp đến chương trình xuất khẩu của Chính phủ và đời sống người nông dân Nhiềunước sẽ ban hành ngay lệnh cấm nhập khẩu hàng nông sản của nước ta nếu phát hiện sựphân bố của một trong số những loài này tại Việt Nam Nhật Bản đã từng có lệnh cấmnhập khẩu đối với thanh long Việt Nam khi phát hiện có phân bố ruồi đục quả gây hạiloại quả này ở nước ta Vì thế, phải mất rất nhiều năm nghiên cứu và đàm phán, ViệtNam mới dỡ bỏ được lệnh cấm này, nhưng quy định của phía Nhật Bản đối với mặthàng này trở nên khắt khe hơn rất nhiều so với trước đó
Theo các quy định hiện hành của Việt Nam cũng như theo thông lệ quốc tế, saukhi phát hiện dịch hại KDTV trên hàng nhập khẩu, nước nhập khẩu sẽ áp dụng các biệnpháp kiểm tra kiểm dịch chặt chẽ hơn tái xuất, tạm ngừng nhập khẩu hoặc cấm nhậpkhẩu Khó khăn chính là mặc dù đã có qui định về biện pháp tái xuất trong Pháp lệnh vềBảo vệ và KDTV cũng như trong nghị định 02/2007/NĐ-CP về KDTV, tuy nhiên cácqui định này còn chưa rõ ràng Chính vì vậy, trong các năm từ 2010 đến nay (2013), BộNông nghiệp và PTNT mà đại diện là Cục BVTV đã phải rất nhiều lần giải thích, đàmphán và thảo luận qua lại với các nước Mỹ, Ấn Độ, Trung Quốc… về việc áp dụng biệnpháp tái xuất hàng hóa nhập khẩu có nhiễm dịch hại KDTV và tạm ngừng nhập khẩu cácmặt hàng có nguy cơ cao từ các nước này
Chính vì vậy, việc quy định cụ thể về các biện pháp tạm ngừng nhập khẩu hoặccấm nhập khẩu các vật thể thuộc diện KDTV có nguy cơ cao trong các văn bản quyphạm pháp luật là cần thiết
c, Vấn đề phân tích nguy cơ dịch hại
Trang 10Phân tích nguy cơ dịch hại(PRA) là quá trình đánh giá về sinh học, cơ sở khoa học
và kinh tế để quyết định biện pháp kiểm dịch thực vật đối với một loài sinh vật gây hại PRA có ý nghĩa quan trọng trong việc cung cấp các cơ sở khoa học hay bằng chứng
kỹ thuật cho việc xây dựng các biện pháp KDTV, giải quyết tranh chấp thương mai hoặcgóp phần điều chỉnh chính sách nhập khẩu PRA có thể coi là rào cản kỹ thuật mà nhiềuquốc gia đã sử dụng như một công cụ hữu hiệu nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia của họ Đốivới Việt Nam, bắt đầu từ năm 2007 chúng ta mới tiếp cận và bước đầu áp dụng PRA đốivới hàng hóa nhập khẩu,song vẫn còn hạn chế nhiều mặt như cơ sở pháp lý, nguồn nhânlực và các nguồn lực khác để thực hiện công việc này
d, KDTV đối với hàng xuất khẩu
Theo các quy định hiện hành về KDTV, để tạo điều kiện thuận lợi cho doanhnghiệp, hàng hóa xuất khẩu không bắt buộc phải tiến hành KDTV trước khi xuất Cụ thể
là vật thể thuộc diện KDTV xuất khẩu chỉ phải tiến hành KDTV khi có chủ vật thể yêucầu hoặc hợp đồng mua bán hoặc điều ước quốc tế có quy định phải kiểm dịch ( Điều
15, chương III, Nghị định số 02/2007/NĐ-CP về kiểm dịch thực vật)
Trong thời gian qua, quy định này đã góp phần tạo điều kiện thông thoáng choviệc xuất khẩu của các tổ chức, cá nhân có liên quan Tuy nhiên việc xuất khẩu hàng hóakhông qua KDTV đã dẫn tới việc rất nhiều lô hàng xuất khẩu bị nhiễm dịch hại KDTVcủa nước nhập khẩu hoặc xuất khẩu nhiều mặt hàng cấm nhập khẩu Điều này đã làmảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế
Một ví dụ điển hình của vấn đề này là việc mặt hàng rau, quả tươi xuất khẩu sangthị trường EU trong thời gian gần đây Từ năm 2004 đến 2010, số lượng lô hàng viphạm qui định của EU khi xuất khẩu sang thị trường này từ khoảng 50 lô (2004) tăng lêntrên 200 lô (2010) theo số liệu thống kê từ thông báo không tuân thủ của phía EU Trong
đó lỗi vi phạm chính là mặt hàng rau quả tươi của Việt Nam bao gồm rau húng, cần,mướp đắng, cà tím, húng ta … bị nhiễm dịch hại KDTV của EU như là dòi đục lá, bọphấn ,bọ trĩ Vì vấn đề này, EU đã hai lần cử đoàn công tác sang Việt Nam thanh tra tìnhhình sản xuất rau quả tươi và năng lực thực thi công tác KDTV của Việt Nam Nghiêmtrọng hơn, từ giữa năm 2012, phía Bạn đã thông báo nếu phát hiện thêm 05 lô hàng bịnhiễm dịch hại KDTV của EU, phía Bạn sẽ tạm thời cấm nhập khẩu một số mặt hàngrau quả tươi của Việt Nam Trước tình hình đó, Cục Bảo vệ thực vật phải xin ý kiến Bộ
Trang 11Nông nghiệp và PTNT để tạm thời ngừng xuất khẩu một số mặt hàng có nguy cơ cao đểđảm bảo uy tín của hàng rau, quả tươi Việt Nam ở thị trường EU.
Rõ ràng, việc không quy định bắt buộc KDTV đối với vật thể xuất khẩu đã ảnhhưởng đến uy tín của hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, đồng thời không phù hợp vớithông lệ quốc tế
e, Các biện pháp xử lý KDTV mới
Mặc dù đã công nhận tính tương đương của các biện pháp xử lý KDTV trong hệthống văn bản quy phạm pháp luật nhưng hiện nay, mới chỉ có các quy định pháp lý vềviệc cấp giấy đủ điều kiện hành nghề xông hơi khử trùng hàng xuất nhập khẩu; xông hơikhử trùng và xử lý nhiệt nóng đối với vật liệu đóng gói bằng gỗ trong thương mại quốctế
Cùng với tiến trình toàn cầu hóa và sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nhiều biệnpháp xử lý KDTV khác đã được đưa vào ứng dụng nhằm đáp ứng yêu cầu về KDTVngày càng cao của các nước nhập khẩu như chiếu xạ ( theo quy định nhập khẩu của Mỹ,Chile, EU, Úc, New Zealand…), hơi nước nóng ( Nhật, Hàn Quốc, Úc, Chile…).Cácbiện pháp xử lý này được coi là diệt trừ dịch hại có hiệu quả cao, đặc biệt với nhóm ruồiđục quả Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả xử lý KDTV cao đồng thời đảm bảo hoạt động
xử lý này không ảnh hưởng đến môi trường cũng như sức khỏe con người thì các quiđịnh pháp lý cần phải được xây dựng, bổ sung nhằm quản lý tốt hoạt động xử lý và tuânthủ đúng các quy định quốc tế
1.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
1.3.1 Tăng cường cơ sở pháp lý
Xây dựng một hệ thống pháp lý đầy đủ, chặt chẽ và đủ mạnh để đáp ứng công tácKDTV trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay Đặc biệt là một số vấn đề quan trọngcần phải được quy định trong dự thảo Luật Bảo vệ và KDTV, cụ thể là:
- Quy định KDTV nhập khẩu phải phải đảm bảo mức độ bảo vệ thích hợp
- Quy định về phân tích nguy cơ dịch hại (PRA)
- Quy định về vùng không nhiễm dịch hại
- Quy định về việc cấm, tạm dừng nhập khẩu, xuất khẩu theo quy định quốc tế
- Quy định bắt buộc phải KDTV đối với hàng hóa xuất khẩu
- Quy định về các biện pháp xử lý kiểm dịch thực vật
1.3.2 Hệ thống tổ chức
Tiếp tục củng cố hệ thống tổ chức KDTV hiện nay theo hướng tập trung chỉ duynhất cấp trung ương quản lý đúng theo các quy định quốc tế và các nước trên thế giớihiện nay
Trang 12Thành lập một trung tâm phân tích nguy cơ dịch hại nhằm đáp ứng yêu cầu cấpbách của công việc thực tế hiện nay.
Tăng biên chế cho hệ thống KDTV, đặc biệt là cho các trạm KDTV tại các cửakhẩu
Tăng cường đào tạo, tập huấn cho cán bộ KDTV về chuyên môn, nghiệp vụ vàngoại ngữ Đặc biệt là đào tạo chuyên gia đầu ngành KDTV nhằm phục vụ cho việc đàmphán, giải quyết tranh chấp bảo vệ lợi ích quốc gia
1.3.3 Tăng cường trang thiết bị
Tiếp tục nâng cấp trang thiết bị phục vụ cho công tác KDTV, đặc biệt là các trangthiết bị phục vụ cho công tác giám định sinh vật gây hại, thiết bị cho xử lý KDTV
Nâng cấp và hiện đại hoá các phòng thí nghiệm phục vụ cho công tác chẩn đoán
và giám định sinh vật gây hại
Tăng cường hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu về KDTV Xây dựng phần mềmquản lý thông tin về KDTV, kết nối mạng để truyền thông tin từ trung ương đến cơ sở
và các cơ quan liên quan trong việc thu thập và phổ biến thông tin Đặc biệt là vấn đềnâng cấp và kết nối hệ thống dữ liệu từ chi cục KDTV về Cục Bảo vệ thực vật trongviệc cấp giấy chứng nhận KDTV
1.3.4 Tăng cường hợp tác quôc tế
Đẩy mạnh việc hài hòa hóa các tiêu chuẩn quốc tế về KDTV với hệ thống các tiêuchuẩn, qui chuẩn của Việt Nam Đảm bảo tính minh bạch và hài hòa với các thông lệquốc tế
Tích cực tham gia các hoạt động do các tổ chức quốc tế như IPPC, APEC,ASEAN hay Ủy ban SPS đề xuất Chủ động nâng cao trình độ của cán bộ cũng nhưnăng lực hoạt động để xác định vị trí rõ ràng trong các hoạt động quốc tế
Củng cố và phát triển các quan hệ song phương với các nước trong lĩnh vực BV &KDTV; chủ động ký kết các Hiệp định, thỏa thuận, bản ghi nhớ song phương với cácnước có quan hệ thương mại thường xuyên với Việt Nam Tiếp tục kêu gọi sự hợp tác,
hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế, các nước phát triển để góp phần xây dựng ngành ngàycàng vững mạnh, phát triển
Tăng cường công tác xúc tiến thương mại, mở cửa thị trường đối với hàng nôngsản của Việt Nam, qua đó tăng kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản
Trang 13II VẤN ĐỀ QUẢN LÝ THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT Ở VIỆT NAM
2.1 MỘT VÀI NÉT VỀ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT Ở VIỆT NAM
Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) là một biện pháp quan trọng trong côngtác phòng, chống dịch hại cây trồng ở nước ta và các nước trên thế giới Hiện nay, thuốcbảo vệ thực vật sử dụng trong sản xuất nông nghiệp chủ yếu vẫn là thuốc hoá học đượccấu thành bởi các hoá chất Hầu hết hoạt chất hay chất phụ gia trong mỗi loại thuốcBVTV đều là những chất độc hại với mức độ khác nhau nên sử dụng thuốc luôn tiềm ẩnnguy cơ gây rủi ro nếu không tuân thủ quy định Việc sử dụng thuốc BVTV không đúnggây ảnh hưởng xấu đến con người, vật nuôi, cây trồng, an toàn thực phẩm và môitrường
Để phát huy mặt tích cực của thuốc BVTV và hạn chế những bất lợi do chúng gây
ra, cùng với việc nâng cao nhận thức của người sử dụng, phải quản lý chặt chẽ tất cả cáckhâu từ đăng ký, kinh doanh, buôn bán, xuất nhập khẩu, bảo quản, vận chuyển đến tiêuhuỷ thuốc và bao gói sau sử dụng, đặc biệt là tăng cường quản lý sử dụng hợp lý, antoàn thuốc bảo vệ thực vật trên cây trồng
Trong những năm qua, ở nước ta công tác quản lý thuốc BVTV đã có nhiều cốgắng, cơ bản đáp ứng được yêu cầu của sản xuất Tuy nhiên, việc quản lý sử dụng thuốcBVTV vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập cần phải được sốm khắc phục để góp phầnphát triển sản xuất nông nghiệp bền vững, đảm bảo an toàn thực phẩm và bảo vệ môitrường
2.2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT Ở VIỆT NAM
2.2.1 Cơ sở pháp lý về quản lý thuốc BVTV ở Việt nam
Thuốc bảo vệ thực vật là hàng hóa đặc thù, hạn chế kinh doanh, kinh doanh cóđiều kiện chỉ được phép nhập khẩu, sản xuất, gia công, sang chai, đóng gói buôn bán, sửdụng sau khi được đăng ký tại Việt Nam
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về thuốc BVTV ở nước ta được xây dựngtrên cơ sở hướng dẫn của FAO, hài hòa các nguyên tắc quản lý thuốc BVTV của cácnước ASEAN, các Công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên: Công ước Rotterdam,