1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tiểu luận chuyên đề giải quyết vấn đề trong kế toán

31 2,4K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 181,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ảnh hưởng của việc thay đổi chính sách kế toán trong Doanh nghiệp: Để phù hợp với quy định của Chuẩn mực số 21 “Trình bày báo cáo tài chính” và để giúp người sử dụng hiểu được cơ sở lập

Trang 1

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN

Chứng từ kế toán là nguồn thông tin ban đầu được xem như nguồn nguyên liệu mà kế toán sử dụng, tạo lập nên những thông tin có tính tổng hợp và hữu ích để phục vụ cho nhiều đối tượng khác nhau

Do có vai trò như vậy nên việc tổ chức, vận dụng chế độ chứng từ kế toán có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng thông tin của kế toán

Chứng từ kế toán là những chứng minh bằng giấy tờ về nghiệp vụ kinh tế đã phát sinh và thật sự hoàn thành Nó có ý nghĩa kinh tế và pháp lý quan trọng không chỉ đối với công tác kế toán mà còn có liên quan ở nhiều lĩnh vực khác nhau Chứng

từ kế toán trong một doanh nghiệp liên quan đến nhiều đối tượng kế toán khác nhau nên mang tính đa dạng gắn liền với đặc điểm hoạt động lĩnh vực kinh doanh, tính chất sở hữu

Chế độ chứng từ kế toán được Nhà nước quy định có tính chất chung, liên quan đến nhiều lĩnh vực hoạt động cũng như các thành phần kinh tế khác nhau Do vậy, cần căn cứ vào quy định của chế độ chứng từ kế toán và địa điểm hoạt động của doanh nghiệp để chọn lựa, xác định các loại chứng từ cần phải sử dụng trong công tác kế toán Bên cạnh những chứng từ được quy định trong chế độ còn có những chứng từ hoàn toàn mang tính chất nội bộ liên quan đến kỹ thuật và phương pháp hạch toán mà doanh nghiệp cần phải thiết lập một cách thích ứng với yêu cầu cung cấp và xử lý thông tin

Chứng từ kế toán được lập ở nhiều bộ phận khác nhau trong doanh nghiệp kể

cả bên ngoài doanh nghiệp nên việc xác lập quy trình luân chuyển chứng từ cho các loại chứng từ khác nhau nhằm bảo đảm chứng từ về đến Phòng kế toán trong thời hạn ngắn nhất có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc bảo đảm tính kịp thời cho việc kiểm tra, xử lý và cung cấp thông tin

Tổ chức bộ máy kế toán là một trong những nội dung quan trọng hàng đầu trong tổ chức công tác kế toán ở doanh nghiệp bởi suy cho cùng thì chất lượng của công tác kế toán phụ thuộc trực tiếp vào trình độ, khả năng thành thạo, đạo đức

Trang 2

nghề nghiệp và sự phân công, phân nhiệm hợp lý của các nhân viên trong bộ máy

kế toán Tổ chức bộ máy kế toán là tổ chức về nhân sự để thực hiện việc thu thập,

xử lý và cung cấp thông tin kế toán cho các đối tượng khác nhau Nội dung tổ chức

bộ máy kế toán bao gồm: xác định số lượng nhân viên cần phải có, yêu cầu về trình

độ nghề nghiệp, bố trí và phân công nhân viên thực hiện các công việc cụ thể, nhất

là mối quan hệ giữa các bộ phận kế toán với nhau cũng như giữa bộ phận kế toán với các bộ phận quản lý khác có liên quan, kế hoạch công tác và việc kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch … Nói chung để tổ chức bộ máy kế toán cần căn cứ vào quy mô của doanh nghiệp, trình độ nghề nghiệp và yêu cầu quản lý, đặc điểm về tổ chức sản xuất quản lý và điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho việc thu thập, xử lý, cung cấp thông tin

Thông tin kế toán là thông tin hết sức cần thiết và quan trọng đối với các nhà quản lý Bất kỳ nhà quản lý nào trong bất kỳ doanh nghiệp nào từ một tổ hợp công nghiệp đến một cửa hàng đều phải dựa vào thông tin kế toán để quản lý, điều hành, kiểm soát và ra các quyết định kinh tế

Kế toán tài chính là phân hệ thông tin thuộc hệ thống thông tin kế toán, thực hiện chức năng cung cấp thông tin về tình hình tài sản, nguốn vốn cũng như tình hình và kết quả hoạt động của doanh nghiệp để phục vụ cho yêu cầu quản lý của nhiều đối tượng khác nhau, bên trong cũng như bên ngoài doanh nghiệp Chất lượng của thông tin kế toán tài chính có ảnh hưởng lớn và trực tiếp đến chất lượng

và hiệu quả của quản lý không chỉ đối với bản thân doanh nghiệp, mà còn nhiều đối tượng khác trong đó có các cơ quan chức năng của Nhà nước

Tổ chức công tác kế toán là một trong những nội dung quan trọng trong

tổ chức công tác quản lý ở doanh nghiệp Với chức năng cung cấp thông tin và kiểm tra các hoạt động kinh tế- tài chính trong doanh nghiệp nên công tác kế toán ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả của công tác quản lý ở một doanh nghiệp Hơn thế nữa, nó còn ảnh hưởng đến việc đáp ứng các yêu cầu quản lý khác nhau của các đối tượng có quyền lợi trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp, trong đó có các cơ quan chức năng của Nhà nước

Trang 3

Trong điều kiện thực hiện cơ chế thị trường mà việc cạnh tranh diễn ra thường xuyên và có tính khốc liệt thì chất lượng thông tin của kế toán được coi như một trong những tiêu chuẩn quan trọng để đảm bảo sự an toàn và khả năng mang lại

sự thắng lợi cho các quyết định kinh doanh Thông tin kế toán tài chính và kế toán quản trị hợp thành hệ thống thông tin hữu ích và vô cùng cần thiết cho các nhà quản trị, đặc biệt cho các doanh nghiệp có quy mô lớn, hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực

Để tổ chức công tác kế toán trong một doanh nghiệp cần căn cứ vào quy

mô hoạt động, đặc điểm của ngành và lĩnh vực hoạt động, địa điểm về tổ chức sản xuất và quản lý cũng như tính chất của quy trình sản xuất trong doanh nghiệp đồng thời phải căn cứ vào các chính sách, chế độ, thể lệ hoặc Luật kế toán được Nhà nước ban hành Tổ chức công tác kế toán phù hợp với tình hình hoạt động của doanh nghiệp không chỉ tiết kiệm chi phí mà còn đảm bảo cung cấp thông tin nhanh chóng, đầy đủ, có chất lượng phù hợp với các yêu cầu quản lý khác nhau

Kế toán tài chính là một phân hệ thuộc hệ thống báo cáo kế toán, cung cấp thông tin về tài sản, nguồn vốn, về tình hình và kết quả hoạt động của doanh nghiệp

để phục vụ cho yêu cầu quản lý của doanh nghiệp

Kế toán tài chính được Nhà nước quy định thống nhất về danh mục các báo cáo, biểu mẫu và hệ thống các chỉ tiêu, phương pháp lập, nơi gởi báo cáo và thời gian gởi các báo cáo

Kế toán tài chính là nguồn thông tin quan trọng không chỉ đối với doanh nghiệp mà còn phục vụ chủ yếu cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp, như các

cơ quan quản lý Nhà nước, các nhà đầu tư hiện tại và đầu tư tiềm năng, các chủ nợ, các nhà quản lý, kiểm toán viên độc lập và các đối tuợng khác có liên quan

Kế toán tài chính cung cấp những thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu để đánh giá tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, thực trạng tài chính của doanh nghiệp trong kỳ hoạt động đã qua, giúp cho việc giám sát tình hình sử dụng vốn và khả năng huy động vốn vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 4

Các chỉ tiêu, các số liệu trên các báo cáo tài chính là nhưng cơ sở quan trọng

để tính ra các chỉ tiêu kinh tế khác, nhằm đánh giá hiệu quả sử dụng vốn, hiệu quả của các quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Những thông tin của kế toán tài chính là những căn cứ quan trọng trong việc phân tích, nghiên cứu, phát hiện những khả năng tiềm tàng, là những căn cứ quan trọng để đề ra các quyết định về quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc đầu tư vào doanh nghiệp của chủ sở hữu, các nhà đầu tư, các chủ nợ hiện tại

và tương lai của doanh nghiệp

Những báo cáo tài chính còn là những căn cứ quan trọng để xây dựng các kế hoạch Kinh tế-Kỹ thuật, tài chính của doanh nghiệp, là những căn cứ khoa học để

đề ra hệ thống các biện pháp xác thực nhằm tăng cường quản trị doanh nghiệp, không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp

Trang 5

CHƯƠNG II: PHẦN NỘI DUNG

Căn cứ vào Thông tư số 20/2006/TT-BTC ngày 20/3/2006 Hướng dẫn kế toán thực hiện sáu (06) chuẩn mực kế toán ban hành theo Quyết định số 12/2005/QĐ-BTC ngày 15/02/2005 của Bộ trưởng Bộ Tài chính

Căn cứ vào Quyết định số 12/2005/QĐ-BTC ngày 15/02/2005 của Bộ trưởng

Bộ Tài chính về việc ban hành và công bố sáu (06) chuẩn mực kế toán Việt Nam (đột 4)

Mục đích của chuẩn mực 22 là quy định và hướng dẫn việc trình bày bổ sung các thông tin cần thiết trong báo cáo tài chính của các Ngân hàng và tổ chức tài chính tương tự Chuẩn mực này áp dụng cho các Ngân hàng và tổ chức tài chính gọi tắt là Ngân hàng bao gồm các Ngân hàng, tổ chức tín dụng, tổ chức tín dụng phi Ngân hàng, các tổ chức tài chính tương tự có hoạt động chính là nhận tiền gửi, đi vay với mục đích để cho vay và đầu tư trong phạm vi hoạt động của Ngân hàng theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng và các văn bản pháp luật khác về hoạt động Ngân hàng

Chuẩn mực này hướng dẫn việc trình bày những thông tin cần thiết trong báo cáo tài chính riêng và báo cáo tài chính hợp nhất của Ngân hàng Bên cạnh đó cũng khuyến khích việc trình bày trên thuyết minh báo cáo tài chính những thông tin về kiểm soát khả năng thanh toán và kiểm soát rủi ro của các Ngân hàng Đối với những tập đoàn có hoạt động Ngân hàng thì chuẩn mực này được áp dụng cho các hoạt động đó trên cơ sở hợp nhất

Chuẩn mực này áp dụng cho các chuẩn mực kế toán khác áp dụng cho các Ngân hàng trừ khi chuẩn mực kế toán và các quy định khác có điều khoản ngoại trừ

2.1 Ảnh hưởng của việc thay đổi chính sách kế toán trong Doanh nghiệp:

Để phù hợp với quy định của Chuẩn mực số 21 “Trình bày báo cáo tài chính” và để giúp người sử dụng hiểu được cơ sở lập báo cáo tài chính của Ngân hàng, các chính sách kế toán liên quan đến các khoản mục sau đây phải được trình bày:

Trang 6

+ Ghi nhận các loại thu nhập chủ yếu phát sinh từ hoạt động của Ngân hàng

bao gồm: Thu nhập lãi, thu nhập dịch vụ, hoa hồng và kết quả kinh doanh khác Mỗi loại thu nhập được trình bày theo các chỉ tiêu riêng biệt để giúp người sử dụng

có thể đánh giá được tình hình hoạt động của Ngân hàng Việc trình bày như vậy để

bổ sung thêm thông tin về các nguồn thu nhập theo yêu cầu của Chuẩn mực số 28

“Báo cáo bộ phận”

Ngoài các yêu cầu của chuẩn mực kế toán khác, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hay Bản thuyết minh báo cáo tài chính của Ngân hàng phải trình bày tối thiểu các khoản mục thu nhập, chi phí sau đây: Thu nhập lãi và các khoản thu nhập tương tự; Chi phí lãi và các chi phí tương tự; Lãi được chia từ góp vốn và mua cổ phần; Thu phí hoạt động dịch vụ; Phí và chi phí hoa hồng; Lãi hoặc lỗ thuần từ kinh doanh chứng khoán kinh doanh; Lãi hoặc lỗ thuần từ kinh doanh chứng khoán đầu tư; Lãi hoặc lỗ thuần hoạt động kinh doanh ngoại hối; Thu nhập từ hoạt động khác; Tổn thất khoản cho vay và ứng trước; Chi phí quản lý và chi phí hoạt động khác

Nhiều Ngân hàng cũng thực hiện các giao dịch không được ghi nhận là tài sản hay nợ phải trả trên Bảng cân đối kế toán nhưng chúng làm phát sinh các nghĩa

vụ nợ tiềm ẩn và các cam kết Những khoản mục này thường có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh và có mối liên quan chặt chẽ với mức độ rủi ro của các Ngân hàng Những khoản mục này có thể làm tăng, giảm các khoản rủi ro khác như: Nghiệp vụ phòng ngừa rủi ro về tài sản và nợ phải trả trên Bảng cân đối kế toán

Người sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính của Ngân hàng cần phải biết

về các nghĩa vụ nợ tiềm ẩn và các cam kết không huỷ ngang của Ngân hàng để đánh giá tính thanh khoản, khả năng trả nợ và khả năng cố hữu của các khoản lỗ tiềm tàng

+ Phân biệt các giao dịch, sự kiện khác dẫn đến việc ghi nhận tài sản và nợ

phải trả trên Bảng cân đối kế toán và những giao dịch, sự kiện chỉ làm tăng nghĩa vụ

Trang 7

liên quan đến: Các khoản tín dụng gián tiếp như: Các khoản bảo lãnh nợ, bảo lãnh thanh toán và thư tín dụng dự phòng có vai trò như là các khoản bảo lãnh tài chính cho các khoản vay và chứng khoán; Các nghĩa vụ nợ tiềm ẩn liên quan đến các nghiệp vụ kinh tế như: Bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh dự thầu, các khoản đảm bảo khác và thư tín dụng dự phòng liên quan đến các nghiệp vụ đặc biệt; Các nghĩa vụ nợ tiềm ẩn ngắn hạn phát sinh từ việc giao nhận hàng hoá như: Thư tín dụng, chứng từ có sử dụng hàng hoá giao nhận làm tài sản đảm bảo; Các cam kết khác và cam kết bảo lãnh phát hành chứng từ có giá khác.

+ Cơ sở xác định tổn thất các khoản cho vay và ứng trước, cơ sở xoá sổ các

khoản cho vay và ứng trước không có khả năng thu hồi

Chính sách kế toán làm cơ sở cho việc ghi nhận chi phí hoặc xoá sổ các khoản cho vay và ứng trước không có khả năng thu hồi; Chi tiết về những thay đổi

dự phòng tổn thất các khoản cho vay và ứng trước trong kỳ, Ngân hàng phải trình bày riêng biệt giá trị được ghi nhận là chi phí trong kỳ đối với khoản dự phòng tổn thất các khoản cho vay và ứng trước, giá trị được ghi nhận là chi phí trong kỳ đối với các khoản cho vay và ứng trước được xoá sổ và số tiền thu hồi các khoản cho vay và ứng trước đã xoá sổ trước đây nay thu hồi; Tổng giá trị dự phòng rủi ro tổn thất khoản cho vay và ứng trước tại ngày khoá sổ kế toán lập báo cáo tài chính

Ngoài các khoản tổn thất của các khoản cho vay và ứng trước được ghi nhận theo quy định tại Chuẩn mực kế toán “Công cụ tài chính” thì Ngân hàng phải hạch toán vào lợi nhậun giữ lại Việc hoàn nhập các khoản dự phòng rủi ro này được hạch toán vào lợi nhuận giữ lại và không được hạch toán vào lãi, lỗ trong kỳ Các khoản dự phòng này được trích lập từ lợi nhuận sau thuế mà không được tính vào chi phí trong kỳ và khi hoàn nhập khoản dự phòng đã lập này cũng được ghi tăng lợi nhuận sau thuế mà không được hạch toán vào Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ

Các khoản cho vay và ứng trước khi không thể thu hồi thì sẽ được xoá sổ và được bù đắp bằng khoản dự phòng tổn thất khoản cho vay Chỉ được thực hiện xoá

sổ khi tất cả các thủ tục pháp lý được hoàn tất và giá trị của khoản tổn thất đã được xác định cuối cùng Trong một số trường hợp, chúng có thể được xoá sổ sớm hơn

Trang 8

+ Cơ sở xác định chi phí phát sinh từ các rủi ro chung trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng và phương pháp hạch toán đối với các chi phí đó.

Bất kỳ khoản dự phòng nào lập cho các rủi ro chung trong hoạt động của Ngân hàng, bao gồm các khoản lỗ dự kiến trong tương lai và các khoản rủi ro không thể dự kiến khác hoặc các nghĩa vụ nợ tiềm ẩn đều phải được trình bày riêng rẽ như

là phần trích lập từ lợi nhuận sau thuế Các khoản hoàn nhập dự phòng đã lập được ghi tăng lợi nhuận giữ lại mà không được tính vào lãi, lỗ trong kỳ

Cơ sở tính thuế của tài sản phát sinh từ giao dịch không có ảnh hưởng đến thu nhập hoặc chi phí tại thời điểm phát sinh giao dịch nhưng khi thu hồi tài sản có phát sinh thu nhập chịu thuế, được căn cứ vào giá trị còn được tính vào chi phí (khấu trừ vào thu nhập chịu thuế) trong các năm tương lai khi bán (thanh lý) hoặc khấu hao Hầu hết các tài sản thuộc loại này là hàng tồn kho, tài sản cố định và các khoản đầu tư tài chính

Cơ sở tính thuế của tài sản phát sinh từ giao dịch không có ảnh hưởng đến thu nhập hoặc chi phí tại cả thời điểm phát sinh giao dịch và thời điểm thu hồi tài sản, được căn cứ vào giá trị được loại trừ khỏi thu nhập tính thuế khi thu hồi tài sản, được xác định bằng đúng giá trị ghi sổ của tài sản đó Hầu hết các tài sản này là các khoản đầu tư cho vay Các tài sản tạo ra từ giao dịch loại này không làm phát sinh chênh lệch tạm thời

Ví dụ: Một tài sản cố định (TSCĐ) có nguyên giá là 200.000.000 đ, đã khấu

hao luỹ kế là 60.000.000 đ, giá trị còn lại là 140.000.000 đ Do doanh nghiệp sử dụng phương pháp tính khấu hao phù hợp với quy định của Luật thuế để xác định chi phí hợp lý, hợp lệ nên giá trị còn lại sẽ được khấu trừ toàn bộ trong tương lai dưới hình thức khấu hao hoặc giảm trừ khi thanh lý Trường hợp này, cơ sở tính thuế của TSCĐ này là 140.000.000 đ, đúng bằng giá trị ghi sổ của nó nên không có chênh lệch tạm thời

Ví dụ: Một khoản cho vay có giá trị ghi sổ là 100.000.000 đ Việc thu hồi

khoản cho vay này không có ảnh hưởng đến thuế thu nhập, tức là không được tính đến khi xác định thu nhập chịu thuế Do đó, cơ sở tính thuế của tài sản này đúng

bằng giá trị ghi sổ của nó là 100.000.000 đ

Trang 9

Tìm hiểu thêm khi thay đổi chính sách kế toán hoặc ước tính kế toán thì trong trường hợp nào sẽ áp dụng hồi tố

2.2 Sai sót trong kế toán và ảnh hưởng của việc điều chỉnh sai sót:

Sai sót trong kế toán thường gặp như: Thu thập thông tin chưa kịp thời dẫn đến chứng từ bị chậm lại khi quyết toán với Kho bạc từ đó mọi công việc liên quan đến kế toán đều bị chặn đứng lại, viết sai số, đảo số, áp dụng các phép tính không đúng như: cộng, trừ ,nhân, chia, lấy kết quả nhầm cột (ví dụ: cột thực lãnh không tính mà tính cột thành tiền),

Ảnh hưởng của việc điều chỉnh sai sót: Điều chỉnh tới điều chỉnh lui làm mất nhiều thời gian làm việc,

Ví dụ 1: Cuối kỳ khai báo thuế kế toán phát hiện hàng chịu thuế giá trị gia

tăng 10%, nhưng kế toán viên đã xuất 5%, Kế toán trưởng phải làm bảng điều chỉnh giảm doanh thu, tăng thuế nộp cho cơ quan, nếu không điều chỉnh sẽ ảnh hưởng đến doanh thu và thuế, ảnh hưởng đến lợi nhuận và vi phạm pháp luật, số liệu kế toán không chính xác Vấn đề này giải quyết như thế nào?

* Giải quyết: Làm bảng điều chỉnh nếu người mua hàng không cần hoá

đơn, nếu người mua sử dụng hoá đơn kê khai thuế đầu vào phải thu hồi và xuất hoá đơn khác đồng thời làm văn bản gởi đến cơ quan thuế

Ví dụ 2: Tại một cơ quan hành chính sự nghiệp, khi mua văn phòng phẩm sử

dụng trong tháng và ghi hoá đơn quyết toán là 1.500.000 đồng Nhưng ghi sổ thì kế toán ghi số tiền 2.000.000 đồng, khi đối chiếu chứng từ phát hiện sai Vấn đề này giải quyết như thế nào?

* Giải quyết: Kế toán lấy viết mực đỏ gạch ngang số tiền ghi sai trên sổ sau

đó dùng viết mực xanh ghi lai số tiền bên trên của số tiền đã ghi sai đúng với số tiền trên chứng từ Tuyệt đối không được sửa lại số tiền trên trùng với hàng số tiền ghi sai

Ví dụ 3: Tại Công ty X nhân viên Nguyễn văn A thanh toán chứng từ mua

hàng hoá Bộ phận kế toán kiểm tra chứng từ thanh toán trong đó có hoá đơn GTGT

đã bị chỉnh sửa số lượng, bộ phận kế toán trả chứng từ về Vấn đề này giải quyết như thế nào?

Trang 10

* Giải quyết: Bộ phận kế toán trả chứng từ thanh toán và đề nghị bổ sung

lại hoá đơn GTGT hoặc nhờ đơn vị xuất bán xác nhận và đóng dấu của đơn vị vào

nơi chỉnh sửa của hoá đơn GTGT

Ví dụ 4: Tại một doanh nghiệp cuối tháng báo cáo, kế toán phát hiện các số

liệu chứng từ giữa ngân hàng và sổ nợ tài khoản 131 lệch nhau, do khách hàng nợ một khoản tiền 1.000.000 đồng, nhưng khi chuyển khoản qua Ngân hàng đối chiếu 2.000.000 đồng Vấn đề này giải quyết như thế nào?

* Giải quyết: Khách hàng không thể trả 2.000.000 đồng được mà số liệu lại

lệch nhau nên kế toán phải đưa qua nghiệp vụ kế toán khác để cho số liệu đúng trên

tài khoản 131 khách hàng không còn nợ nữa

Ví dụ 5: Tại một doanh nghiệp cuối tháng đối chiếu mua hàng, theo đơn đặt

hàng đầu tiên đã cung cấp đủ số lượng hàng theo đơn đặt hàng Vấn đề này giải quyết như thế nào?

* Giải quyết: Doanh nghiệp nhận hàng phát hiện thiếu đưa v 1.1 Các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm là những sự kiện có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến báo cáo tài chính đã xảy ra trong khoảng thời gian từ ngày kết thúc

kỳ kế toán năm đến trước ngày phát hành báo cáo tài chính, gồm hai loại:

(a) Các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm cần điều chỉnh là những sự kiện có các bằng chứng bổ sung về các sự kiện tồn tại vào ngày kết thúc kỳ

kế toán năm cần phải điều chỉnh sổ kế toán và báo cáo tài chính;

(b) Các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm không cần điều chỉnh là những sự kiện có dấu hiệu về các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm cung cấp bằng chứng về các sự việc đã tồn tại trong năm tài chính không ảnh hưởng đến báo cáo tài chính nên không cần phải điều chỉnh sổ kế toán và báo cáo tài chính.

1.2 Doanh nghiệp phải điều chỉnh các số liệu đã được ghi nhận trong báo cáo tài chính để phản ánh các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm cần điều chỉnh Trường hợp này, doanh nghiệp phải:

- Điều chỉnh các số liệu đã ghi nhận trong sổ kế toán và các thông tin đã trình bày trong báo cáo tài chính; hoặc

- Ghi nhận những khoản mục mà trước đó chưa được ghi nhận.

Trang 11

1.3 Các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm cần điều chỉnh

sổ kế toán và báo cáo tài chính phải là các sự kiện cung cấp bằng chứng về các sự việc đã tồn tại trong năm tài chính và phải xác định được (định lượng được)

1.4 Việc điều chỉnh sổ kế toán và báo cáo tài chính về những sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm, được thực hiện theo một trong ba phương pháp điều chỉnh sổ kế toán quy định trong Luật Kế toán như: Phương pháp cải chính, phương pháp ghi số âm hoặc phương pháp ghi bổ sung

1.5 Đối với các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm không cần điều chỉnh, doanh nghiệp có thể trình bày trong Bản thuyết minh báo cáo tài chính

1.6 Các sự kiện phát sinh sau ngày phát hành báo cáo tài chính không thuộc phạm vi áp dụng và hướng dẫn của Chuẩn mực kế toán số 23 “Các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm” và hướng dẫn tại Thông tư này

1.7 Đối với các khoản cổ tức của cổ đông công bố sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm nhưng trước ngày phát hành báo cáo tài chính, doanh nghiệp không phải ghi nhận là các khoản nợ phải trả trên Bảng cân đối kế toán tại ngày kết thúc kỳ kế toán năm, mà được trình bày trong Bản thuyết minh báo cáo tài chính theo quy định của Chuẩn mực kế toán số 21 “Trình bày báo cáo tài chính”

1.8 Trường hợp sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm, Ban Giám đốc xác nhận

có dự kiến thu hẹp đáng kể quy mô hoạt động, ngừng sản xuất, kinh doanh, phá sản hoặc giải thể thì doanh nghiệp không được lập báo cáo tài chính trên cơ sở nguyên tắc hoạt động liên tục Trường hợp này báo cáo tài chính phải được lập trên cơ sở hoạt động không liên tục

Khi nhận thấy sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm, kết quả kinh doanh bị giảm sút đáng kể và tình hình tài chính xấu đi nghiêm trọng thì doanh nghiệp phải xem xét nguyên tắc hoạt động liên tục có còn phù hợp để lập báo cáo tài chính hay không Nếu nguyên tắc hoạt động liên tục không còn phù hợp để lập báo cáo tài chính khi có dự kiến theo một trong các tình trạng trên thì doanh nghiệp phải thay

Trang 12

đổi căn bản cơ sở kế toán và lập báo cáo tài chính chứ không chỉ điều chỉnh lại số liệu đã ghi nhận theo cơ sở kế toán ban đầu

ào tài khoản 138 chờ xử lý nhưng khi đối chiếu, căn cứ vào các chứng từ đầu tiên cung cấp (phiếu xuất kho, hợp đồng), doanh nghiệp nhận hàng phải đưa khoản thiếu ở tài khoản 138 sang chi phí tài khoản 811

2.3 Những nghiệp vụ phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán:

Mục đích của chuẩn mực này là quy định và hướng dẫn các trường hợp kinh doanh phải điều chỉnh báo cáo tài chính, các nguyên tắc và phương pháp điều chỉnh báo cáo tài chính khi có những sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm; giải trình về ngày phát hành báo cáo tài chính và các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm Nếu các sự kiện xảy ra sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm không phù hợp với nguyên tắc hoạt động liên tục thì doanh nghiệp không được lập báo cáo tài chính trên cơ sở hoạt động liên tục

Chuẩn mực này áp dụng cho việc kế toán và trình bày thông tin về các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm là những sự kiện có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến báo cáo tài chính đã xảy ra trong khoảng thời gian từ ngày kết thúc kỳ kế toán năm đến trước ngày phát hành báo cáo tài chính

Doanh nghiệp phải điều chỉnh các số liệu đã được ghi nhận trong báo cáo tài chính để phản ánh các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm cần điều chỉnh

Trường hợp sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm đến ngày phát hành báo cáo tài chính, doanh nghiệp nhận được thông tin về các sự kiện xác nhận nghĩa vụ hiện tại vào ngày kết thúc kỳ kế toán năm đòi hỏi phải điều chỉnh khoản dự phòng đã được ghi nhận từ trước, ghi nhận những khoản dự phòng mới hoặc ghi nhận những khoản nợ phải thu, nợ phải trả mới

Ví dụ 1: Kết luận của Toà án sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm xác nhận

doanh nghiệp sản xuất ô tô Tấn Cường có nghĩa vụ hiện tại vào ngày kết thúc kỳ kế toán năm dự kiến sẽ phải thanh toán chi phí bảo hành sản phẩm cao hơn số dự phòng chi phí bảo hành đã lập Trường hợp này doanh nghiệp Tấn Cường phải điều chỉnh tăng dự phòng chi phí bảo hành đã lập để đảm bảo đủ nguồn thực hiện nghĩa

vụ chi trả về bảo hành sản phẩm cho khách hàng Căn cứ vào số dự phòng chi phí

Trang 13

bảo hành sản phẩm phải lập và số dự phòng đã lập, kế toán điều chỉnh sổ kế toán khoản dự phòng chi phí bảo hành sản phẩm cho khách hàng sau:

+ Căn cứ vào khoản dự phòng bảo hành sản phẩm cần phải lập thêm, ghi:

Nợ TK 641- Chi phí bán hàng (Số dự phòng cần phải lập thêm)

Có TK 352- Dự phòng phải trả

+ Kết chuyển tăng chi phí bán hàng để xác định kết quả, ghi:

Nợ TK 911- Xác định kết quả kinh doanh

Có TK 641- Chi phí bán hàng

+ Điều chỉnh giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp (nếu có) và điều chỉnh giảm chi phí thuế TNDN hiện hành, ghi:

Nợ TK 3334-Thuế thu nhập doanh nghiệp

Có TK 8211-Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành

Đồng thời kết chuyển giảm chi phí thuế TNDN hiện hành (Nếu đã thực hiện bút toán kết chuyển cuối kỳ)

Nợ TK 8211-Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành

Có TK 911-Xác định kết quả kinh doanh

+ Điều chỉnh giảm lợi nhuận chưa phân phối (Nếu đã thực hiện bút toán kết chuyển cuối kỳ), ghi:

Nợ TK 421-Lợi nhuận chưa phân phối (4212 Lợi nhuận chưa phân phối năm nay)

Có TK 911-Xác định kết quả kinh doanh

* Doanh nghiệp có thể lập các bút toán điều chỉnh theo phương pháp ghi số

âm (ghi đỏ) bằng số chênh lệch giữa số đã ghi lớn hơn số đúng, như sau:

Ngoài bút toán điều chỉnh sổ kế toán như nội dung trên kế toán còn điều chỉnh sổ kế toán bằng các bút toán:

+ Điều chỉnh giảm (ghi số âm) số thuế TNDN phải nộp và điều chỉnh giảm (ghi số âm) chi phí thuế TNDN hiện hành, được xác định bằng số chênh lệch giữa

số thuế TNDN phải nộp đã ghi lớn hơn số thuế TNDN phải nộp sau khi đã điều chỉnh Số chênh lệch điều chỉnh giảm (ghi số âm) số thuế TNDN phải nộp, ghi:

Nợ TK 8211-Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành

Trang 14

Đồng thời điều chỉnh bút toán kết chuyển giảm (ghi số âm) chi phí thuế TNDN hiện hành (Nếu đã thực hiện bút toán kết chuyển cuối kỳ), ghi:

Nợ TK 911-Xác định kết quả kinh doanh

Có TK 8211-Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành

+ Điều chỉnh bút toán kết chuyển lãi giảm (ghi số âm) (nếu đã thực hiện bút toán kết chuyển lãi cuối kỳ), được xác định bằng số chênh lệch giữa số lãi đã kết chuyển lớn hơn số lãi sau khi đã điều chỉnh Số chênh lệch điều chỉnh bút toán kết chuyển lãi giảm (ghi số âm), ghi:

Nợ TK 911- Xác định kết quả kinh doanh

Có TK 421- Lợi nhuận chưa phân phối

Trường hợp sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm đến ngày phát hành báo cáo tài chính, doanh nghiệp nhận được thông tin cung cấp bằng chứng về một tài sản bị tổn thất trong kỳ kế toán năm hoặc giá trị của khoản tổn thất được ghi nhận từ trước đối với tài sản này cần phải điều chỉnh thì xử lý như sau:

Ví dụ 2: Trường hợp sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm đến ngày phát hành

báo cáo tài chính, doanh nghiệp bán hàng tồn kho và có bằng chứng về giá trị thuần

có thể thực hiện được vào ngày kết thúc kỳ kế toán năm của hàng tồn kho bị giảm giá thì doanh nghiệp phải căn cứ vào giá bán hàng tồn kho để tính toán số dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải lập cho lượng hàng tồn kho này Căn cứ vào số dự phòng phải lập và số dự phòng đã lập, kế toán phải điều chỉnh trên sổ kế toán khoản

dự phòng giảm giá hàng tồn kho như sau:

+ Trường hợp số dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải lập lớn hơn số dự phòng đã lập: Căn cứ chênh lệch giữa số dự phòng phải lập lớn hơn số dự phòng đã lập, kế toán điều chỉnh sổ kế toán có thể theo một hai cách sau:

(1) Ghi tăng số dự phòng giảm giá hàng tồn kho và ghi tăng giá vốn hàng bán:

Nợ TK 632-Giá vốn hàng bán (Chênh lệch giữa số dự phòng phải lập lớn hơn số dự phòng đã lập)

Có TK 159-Dự phòng giảm giá hàng tồn kho

(2) Kết chuyển tăng giá vốn hàng bán để xác định kết quả kinh doanh, ghi:

Nợ TK 911-Xác định kết quả kinh doanh

Trang 15

Có TK 632-Giá vốn hàng bán.

(3) Điều chỉnh giảm thuế TNDN phải nộp (nếu có), ghi:

Nợ TK 3334-Thuế thu nhập doanh nghiệp

Có TK 8211-Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành

Đồng thời kết chuyển giảm chi phí thuế TNDN hiện hành sang TK 911 (nếu

đã thực hiện bút toán kết chuyển cuối kỳ), ghi:

Nợ TK 8211-Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành

Có TK 911-Xác định kết quả kinh doanh

(4) Điều chỉnh giảm lợi nhuận chưa phân phối (nếu đã thực hiện bút toán kết chuyển cuối kỳ), ghi:

Nợ TK 421-Lợi nhuận chưa phân phối

Có TK 911-Xác định kết quả kinh doanh

* Doanh nghiệp có thể lập các bút toán điều chỉnh theo phương pháp ghi số

âm (ghi đỏ) bằng số chênh lệch giữa số đã ghi lớn hơn số đúng, như sau:

Ngoài bút toán điều chỉnh sổ kế toán như điểm (1), (2) ở trên, kế toán còn điều chỉnh sổ kế toán bằng các bút toán:

* Điều chỉnh giảm (ghi số âm) số thuế TNDN phải nộp và điều chỉnh giảm (ghi số âm) chi phí thuế TNDN hiện hành (nếu có), được xác định bằng số chênh lệch giữa số thuế TNDN phải nộp đã ghi lớn hơn số thuế TNDN phải nộp sau khi đã điều chỉnh Số chênh lệch điều chỉnh giảm (ghi số âm) số thuế TNDN phải nộp, ghi:

Nợ TK 8211-Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành

Có TK 3334-Thuế thu nhập doanh nghiệp

Đồng thời điều chỉnh bút toán kết chuyển giảm (ghi số âm) chi phí thuế TNDN hiện hành (Nếu đã thực hiện bút toán kết chuyển cuối kỳ), ghi:

Nợ TK 911-Xác định kết quả kinh doanh

Có TK 8211-Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành

* Điều chỉnh bút toán kết chuyển lãi giảm (ghi số âm) (nếu đã thực hiện bút toán kết chuyển lãi cuối kỳ), được xác định bằng số chênh lệch giữa số lãi đã kết chuyển lớn hơn số lãi sau khi đã điều chỉnh Số chênh lệch điều chỉnh bút toán kết chuyển lãi giảm (ghi số âm), ghi:

Ngày đăng: 09/11/2014, 11:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w