1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

bài tập lớn môn kĩ thuật ghép kênh

30 549 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ADSL truyền tin bất đối xứng rất nhiều các dịch vụ băng rộng khoảng cách đạt được là 5.5 Km CDSL gần giống ADSL có tốc độ và khoảng cách truyền vừa phải, công nghệ này có ưu điểm là khôn

Trang 1

MỞ ĐẦU

Mạng thông tin toàn cầu Internet ngày càng trở nên quan trọng, khi mà nhu cầu tìm kiếm và trao đổi thông tin ngày càng cao, số lượng người sử dụng ngày càng tăng Chính vì vậy những công nghệ Internet cũ không thể đáp ứng được mà đòi hỏi phải có những công nghệ mới có tốc độ cao, rẻ tiền đáp ứng được nhu cầu người dùng và từ đó công nghệ xDSL đã ra đời

Trong bài này trình bày những kiến thức chung về kỹ thuật ADSL và sự phát triển của công nghệ ADSL trên thế giới và Việt Nam Được viết lại trên cơ sở các nguồn thông tin từ các cuốn giáo trinh chuyên nghành của các trương Đại học kĩ thuật trong nước, và các nguồn thông tin trên Internert hi vọng sẽ mang lại nhiều kiến thức bổ ích cho các bạn.

Trong quá trình viết không thể thiếu những thiếu sót,vậy rất mong được sự giúp đỡ và đóng góp ý kiến từ các quý thầy cô và bạn đọc để tôi có thể xây dựng một bài viết với những kiến thức chính xác và đầy đủ hơn về ADSL.

Rất mong được sự góp ý từ ban đọc!

Trang 2

PHẦN 1: Kỹ thuật xDSL 1.1 Giới thiệu tổng quan kỹ thuật xDSL

Mạng viễn thông phổ biến trên thế giới hay nước ta là hiện nay là mạng sốliên kết (IDN-Integrated Digital Network) Mạng IDN là mạng viễn thôngtruyền dẫn số, liên kết các tổng đài số và cung cấp cho khách hàng các đườngdẫn thuê bao tương tự Trong xu hướng số hoá mạng viễn thông trên toàn thếgiới, mạng liên kết số đa dịch vụ ISDN (Intergrated Services Digital Network) vàđường dây thuê bao số DSL (Digital Subcriber Line) đã đáp ứng được nhiệm

vụ số hoá mạng viễn thông đến tận phía khách hàng Có thể nói rằng ISDN làdịch vụ DSL đầu tiên cung cấp cho khu dân cư giao diện tốc độ cơ sở BRI (BasicRate Interface) 144 Kbit/s, được cấu thành từ hai kênh B 64 Kbit/s và một kênh

D 16 Kbit/s

Ngày nay, đi đôi với mạng ISDN một công nghệ mới có nhiều triển vọngvới tên gọi chung là xDSL, trong đó x biểu thị cho các kỹ thuật khác nhau Mụcđích của các kỹ thuật này là cung cấp cho khách hàng các loại hình dịch vụchất lượng cao và băng tần rộng

Phân biệt các kỹ thuật này dựa vào tốc độ hoặc chế độ truyền dẫn Kỹthuật này có thể cung cấp nhiều dịch vụ đặc thù truyền không đối xứng quamodem, điển hình loại này là ADSL và VDSL và truyền đối xứng có tốc độtruyền 2 hướng như nhau như HDSL và SDSL Riêng với kỹ thuật VDSL (VeryHigh- speed DSL) có thể truyền cả đối xứng và không đối xứng với tốc độ rất cao.Các đặc trưng chính họ công nghệ xDSL hiện tại được mô tả trong bảng 1.1

Bảng 1.1: Các đặc trưng của họ công nghệ xDSL

Kỹ thuật ý nghĩa Tốc độ dữ

liệu Mode Ghi chú

HDSL High data rate DSL 2.048 Mbit/s1.544 Mbit/s đối xứng đối

xứng

Sử dụng 1-3 đôi sợi

Sử dụng 2 đôi sợiSDSL Single Line DSL 768 kbit/s đối xứng Sử dụng 1 đôi sợiADSL Asymmetric 1.5 -8 Mbit/s16-640 Kbit/s DownUp Sử dụng 1 đôi sợiCDSL Consumer DSL Lên tới 1 Mbit/s

16 640 Kbit/s

Down

Trang 3

Sử dụng Down thay cho Downstream (Hướng từ tổng đài tới thuêbao) Sử dụng Up thay cho Upstream (Hướng từ thuê bao tới tổngđài)

(2B+D)

đối xứng Sử dụng 1 đôi sợi

VDSL Very high data

rate

DSL

13- 55 Mbit/s1.5-6 Mbit/s13- 55 Mbit/s

DownUpÐối xứng

Sử dụng 1 đôi sợi

HDSL thường sử dụng 1-3 đôi sợi Ví dụ để truyền tốc độ 2.048 Mbit/s ở

khoảng cách 4.5Km cần dùng 3 đôi sợi còn để truyền tốc độ 1.544 Mbit/s cũngvới khoảng cách này chỉ cần dùng 2 đôi sợi

SDSL nếu nói công nghệ xDSL có ưu điểm tận dụng các đường thuê bao cáp

đồng thì có lẽ đây là kỹ thuật tốt hơn do chỉ dùng 1 đôi sợi như sử dụng chođiện thoại tương tự Kỹ thuật SDSL truyền với tốc độ 768 Kbit/s được khoảngcách 4 Km

ADSL truyền tin bất đối xứng rất nhiều các dịch vụ băng rộng khoảng cách đạt

được là 5.5 Km

CDSL gần giống ADSL có tốc độ và khoảng cách truyền vừa phải, công nghệ này

có ưu điểm là không cần bộ chia tại phía khách hàng

IDSL mang 2B+D kênh thông tin của ISDN BRI chủ yếu chỉ truyền ở tốc độ

144 Kbit/s

VDSL là kỹ thuật mới nhất, có tốc độ cao nhất nhưng khoảng cách truyền ngắn

từ 0.3 Km đến 1.5 Km trên 2 đôi dây với tốc độ có thể lên tới 52 Mbit/s

Nói chung kỹ thuật xDSL là kỹ thuật truyền dẫn cáp đồng, nó giải quyết nhữngvấn đề tắc nghẽn giữa những nhà cung cấp dịch vụ mạng và những khách hàng sửdụng những dịch vụ mạng đó

Kỹ thuật xDSL đạt được những tốc độ băng rộng trên môi trường mạng phổbiến nhất trên thế giới là đường dây cáp điện thoại thông thường

Kỹ thuật xDSL đưa ra những cải tiến đột phá về tốc độ (lên tới hơn 7Mbit/s) và nó

Trang 4

đã được so sánh với những phương pháp truy nhập mạng khác, mặt mạnh thực

sự của những dịch vụ dựa trên xDSL là những thuận lợi như:

- Những yêu cầu ứng dụng đa phương tiện của các khách hàng sử dụngmạng

- Hiệu suất và độ tin cậy

- Tính kinh kế

Kỹ thuật này có các khả năng:

- Cung cấp những dịch vụ mới được cải tiến có giá trị cao đối với người sửdụng mạng

- Cung cấp nhiều dịch vụ với những tốc độ truy nhập và chi phí khác nhau Cungcấp và quản lý những ứng dụng thương mại quan trọng một cách đáng tin

Do có những thay đổi nhanh trong môi trường mạng, chiến lược đối với sự pháttriển dịch vụ được dựa trên xDSL là xây dựng tính mềm dẻo đủ mức cần thiết để

hỗ trợ cho các ứng dụng Tính mềm dẻo thể hiện ở đây là:

- Khả năng để hỗ trợ nhiều loại hình dịch vụ

- Khả năng mở rộng để phát triển từ một vài thuê bao tới hàng ngàn thuê bao

- Khả năng quản lý tin cậy mạng điểm - điểm trong việc hỗ trợ những ứngdụng quan trọng

Qua những kết quả nghiên cứu, các nhà cung cấp dịch vụ thừa nhận rằng

kỹ thuật xDSL không phải là thế hệ tương lai của mạng truy nhập mà chỉ là giảipháp hiện tại của truy nhập mạng

Trang 5

xDSL được chia ra làm nhiều loại kỹ thuật như HDSL, SDSL, ADSL vàVDSL với mỗi loại kỹ thuật đó lại có những tốc độ dữ liệu, băng tần hoạtđộng và những dụng khác nhau Và sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu về kỹ thuậtADSL – kỹ thuật đang được ứng dụng rộng rãi nhất hiện nay.

PHẦN 2: Kỹ thuật ADSL 2.1 Giới thiệu kỹ thuật ADSL

ADSL (Asymmetric Digital Subscriber Line) là một kỹ thuật mới, chuyểnđổi đường dây điện thoại thông thường thành một đường truy nhập đa dịch vụ vàcác đường truyền dữ liệu tốc độ cao ADSL cung cấp đường truyền tốc độ6Mbit/s- 8 Mbit/s tới thuê bao và 640 kbit/s-1Mbit/s theo hướng ngược lại.Mạch ADSL tạo nên 3 kênh thông tin ở đôi dây thuê bao: một kênh tốc độ cao từtổng đài tới thuê bao, một kênh tốc độ trung bình 2 chiều (phụ thuộc vào cấu trúccủa ADSL) và một kênh thoại hoặc một kênh N-ISDN Modem ADSL đượcsản xuất có khả năng cung cấp tốc độ dữ liệu theo cả tiêu chuẩn Mỹ và Châu

Âu, có thể thay đổi tốc độ và dung lượng đường truyền Tốc độ đơn vị màADSL có thể cung cấp là 1,5 hoặc 2 Mbit/s trên một kênh từ tổng đài tới thuêbao và 16 kbit/s trên một kênh 2 hướng Modem ADSL tương thích với truyềndẫn ATM, giao thức IP bằng việc thay đổi tốc độ truyền và phù hợp với các màođầu của ATM cũng như IP

2.2 Cấu trúc hệ thống ADSL

So với tất cả các kỹ thuật DSL thì ADSL là một trong những kỹ thuật được

chuẩn hoá nhiều nhất Dưới đây là sơ đồ cấu trúc hệ thống ADSL (hình 1.5)

Trang 6

Hình 2.1: sơ đồ cấu trúc hệ thống ASDL

ADSL Transmission Unit at the network end - Khối truyền dẫn ADSL phía tổng

đàiADSL Transmission Unit at the customer premises end

Khối truyền dẫn ADSL phía khách hàng Access point: Ðiểm tập trung cho dữ liệu băng rộng và hẹp

Broadcast: Dữ liệu băng rộng đầu vào một hướngBroadband Network: Hệ thống chuyển mạch cho tốc độ trên 1,5/2 Mbit/s

Narrowband Network Hệ thống chuyển mạch cho tốc độ dưới 1,5/2 Mbit/s.Plain Old Telephone Service-Dịch vụ điện thoại truyền thống

: Giao diện giữa mạng điện thoại công cộng và bộ chia ở phía tổng đài

: Giao diện giữa mạng điện thoại công cộng và bộ chia ở phía khách hàng

T-SM: Giao diện giữa ATU-R và mạng phân bố tới khách hàngGiao diện giữa mạng phân bố tới khách hàng và khối dịch vụ

U-C: Giao diện giữa mạch vòng và bộ chia phía tổng đài

U-R: Giao diện giữa mạch vòng và bộ chia phía khách hàng

Trang 7

Như đã nói ở trên, ADSL có khả năng cung cấp truyền kênh thoại tương tự(POTS) và các dịch vụ băng rộng khác Ðối với dịch vụ thoại tương tự, một bộchia đặc biệt sẽ mang kênh tương tự 4 kHz từ tổng đài tới thuê bao trên băng tần

số của đường truyền ADSL Với các dịch vụ như quảng bá, dịch vụ băng rộng

số (Video hoặc truy nhập Internet) hoặc quản lí mạng sẽ được truy nhập từ ngoàitổng đài trung tâm (CO) hoặc nội hạt (LE), để giải quyết vấn đề nghẽn chuyểnmạch và trung kế Một nút truy nhập ADSL nằm trong CO (hoặc LE) phục vụcho một số đường ADSL Nút này thường được gọi là khối truy nhập DSL(DSLAM) Mặc dù một DSLAM có thể cung cấp khả năng truy nhập dịch vụ chonhiều đường ADSL nhưng một kiến trúc đầy đủ của DSLAM phức tạp hơn rấtnhiều so với cấu trúc thể hiện trên hình

Trên hình vẽ, giao diện B là một đầu vào phụ sử dụng cho các luồng tín hiệukhác chẳng hạn cho tín hiệu từ vệ tinh Trong một vài trường hợp, giao diện T-

SM giữa ATU-R và khối dịch vụ cũng giống như giao diện T (đặc biệt khi khốidịch vụ được tổ hợp trong ATU-R) Nếu không có giao diện T-SM thì thay vào đó

sẽ là các giao diện ATU-R (có nhiều kiểu giao diện này) Ví dụ ATU-R có cả 2cổng 10Base-T Ethernet và V.35 Cũng vậy, nếu thiết bị đầu cuối tích hợp vớiATU-R trong một số cấu trúc đặc biệt thì sẽ không có giao diện T giữa mạngphân bố và thiết bị đầu cuối

Trong sơ đồ này, các giao diện U trên hình 1.10 sẽ không có khi bộ chiađược chế tạo như một phần tích hợp của bộ ATU hoặc chẳng có bộ chia nào.Cũng như vậy, nếu nút truy nhập ADSL hoặc DSLAM thực hiện một số nhiệm vụtập trung hoặc chuyển mạch thì sẽ không có giao diện V, đặc biệt với ngay với

cả giao diện VA Giao diện VC cho phép tạo nên một loạt các dạng giao thứctương ứng với TCP/IP, ATM và các mạng dịch vụ khác

2.3 Các phương pháp điều chế

Trong sản phẩm ADSL, các mã đường truyền CAP, QAM, DMT là được sửdụng phổ biến nhất, ngoài ra còn có một số loại mã khác đang trong quá trìnhthử nghiệm

 Phương pháp điều chế biên độ cầu phương QAM- Quadrature Amplitude

Modullation

Trang 8

QAM - điều chế biên độ cầu phương là một dạng điều chế pha sử dụng điều chế

đa mức Tín hiệu cầu phương sử dụng mã hoá đa mức trên một định nghĩa chungnhư tất cả các tín hiệu điều chế đa mức:

Trong đó: R là: báo hiệu hoặc tốc độ điều chế

D là: tốc độ dữ liệu tính bằng bit/s

N là: số bit trong mỗi thành phần báo hiệu

Sử dụng biểu đồ pha cho điều chế cầu phương trong đó thuật toán sử dụng là sựkết hợp giữa hàm sin và cos Lúc đó tín hiệu cầu phương được đưa ra theo côngthức sau:

cos(2πf ct+φ)=cosφ.cos2πfct-sinφ.sin2πfct (2)

Q

I

Hình 2.2: Biểu đồ pha QAM

Tín hiệu cos(2πf ct) là tín hiệu đồng pha hoặc gọi là tín hiệu I

Tín hiệu sin(2πf ct) là tín hiệu lệch pha 900 hoặc gọi là tín hiệu Q

Trang 9

R=log2L(1/T) (3)

Trong đó: R là: tốc độ dữ liệu (bit/s)

L là: số mức mã hoá (bit mỗi ký hiệu)

T là: chiều dài của thời gian báo hiệu

Bằng cách sử dụng tín hiệu I và Q như miêu tả như ở trên, bộ thu có thể nhận vàphân biệt 8 giá trị mỗi tải Như vậy sẽ có 64 trạng thái (8x8) được thiết lập tươngđương với giá trị tốc độ symbol bằng 1/16 tốc độ bit Mỗi điểm biểu diễn trạngthái có thể được biểu diễn qua giá trị I và Q (hình 1.2)

Khoảng cách giữa các điểm lân cận trong hệ thống điều chế pha được tính nhưsau:

Hình 2.3 Quá trình xử lý QAM ở đầu phát

Hình 1.3 đưa ra quá trình xử lý QAM ở đầu phát Dòng dữ liệu từ người sửdụng đi vào bộ mã hoá Bộ mã hoá chia dữ liệu thành 2 nửa, hai nửa này đượcđiều chế thành 2 phần trực giao với nhau rồi được tổ hợp thành tín hiệu cầuphương và truyền trên kênh truyền dẫn Ðiều đó có nghĩa là các tín hiệu cầu

Trang 10

phương là tổ hợp của hai tín hiệu xuất phát từ cùng một nguồn nhưng được làmlệch pha nhau 90 độ.

 Phương pháp điều chế CAP- Carrierless Amplitude/phase Modulation

Phương pháp điều chế pha và biên độ không sử dụng sóng mang này dựatrên phương pháp điều chế biên độ cầu phương QAM Vì thế phương pháp nàyhoạt động gần giống với phương pháp điều chế biên độ cầu phương QAM Bộthu của phương pháp điều chế QAM yêu cầu tín hiệu tới phải có phổ và hệ thứcpha giống như phổ và pha của tín hiệu truyền dẫn Do các tín hiệu truyền trênđường dây điện thoại thông thường thường không đảm bảo được yêu cầu nàynên bộ điều chế của kỹ thuật xDSL phải lắp thêm cả bộ điều chỉnh thích hợp để bùphần méo tín hiệu truyền dẫn Ðiều chế CAP không sử dụng kết hợp trục tải trựcgiao bằng kết hợp sin và cos Việc điều chế được thực hiện bằng cách sử dụng bộlọc thông dải 2 nửa dòng dữ liệu số

Các bít cùng một lúc mã hoá vào một symbol và qua bộ lọc, kết quả đồng pha vàlệch pha sẽ biểu diễn bằng đơn vị symbol Tín hiệu được tổng hợp lại đi qua bộchuyển đổi A/D, qua bộ lọc thông thấp (LPF- Low pass filter) và tới đườngtruyền Ở đầu thu tín hiệu nhận được qua bộ chuyển đổi A/D, bộ lọc và đếnphần xử lý sau đó là mới giải mã Bộ lọc phía đầu thu và bộ phận sử lý là một phầncủa việc cân bằng, điều chỉnh Bộ cân bằng sẽ bù lại các tín hiệu đến bị méo.CAP được thiết kế hoạt động trong băng tần 6,48 đến 25,92 MHz Băng tần này cónghĩa là tín hiệu không hoạt động ở tần số thấp hơn, tránh đợc ảnh hưởng củanhiễu Ðồng thời mục đích thiết kế như vậy để giới hạn công suất phổ của tần sốdưới 30 MHz, do sự tăng suy hao ở tần số cao trong đường truyền

Trang 11

Hình 2.4 Thu phát tín hiệu theo phương pháp điều chế CAP

 Phương pháp điều chế đa âm rời rạc DMT- Discrete

Multi-Tone Modulation

Ðiều chế DMT là kỹ thuật điều chế đa sóng mang DMT chia phổ tần sốthành các chu kỳ ký hiệu Mỗi chu kỳ ký hiệu có thể mang một số lượng bítnhất định Phổ từ 26kHz đến 1,1 MHz được chia thành các kênh 4 kHz vàDMT mã hoá và điều chế tạo thành các kênh phụ 4kHz.Các bít trong mỗi kênhphụ được điều chế bằng kỹ thuật QAM và đặt trong các sóng mang

Ðối với bất kỳ loại mã đường truyền nào sử dụng một đôi dây cho việctruyền song công đều phải chia băng tần hoạt động thành băng tần từ tổng đài tớithuê bao và băng tần từ thuê bao tới tổng đài (đơn giản là kỹ thuật ghép kênhtheo tần số - FDM) hoặc phải sử dụng kỹ thuật xoá tiếng vọng Tuy nhiên, trong

kỹ thuật ADSL cả FDM và kỹ thuật xoá tiếng vọng có thể sử dụng kết hợpđồng thời điều này là do sự không đối xứng của băng tần ADSL, các dải tần cóthể gối chồng lên nhau nhưng không trùng khít vào nhau Ðây là đặc thù riêng củaADSL so với các kỹ thuật DSL khác

Trang 12

a b

Hình 2.5: ADSL sử dụng và không sử dụng kỹ thuật xoá tiếng vọng

Kỹ thuật xoá tiếng vọng có một yếu điểm là bị ảnh hưởng lớn bởi tác độngcủa xuyên âm đầu gần (NEXT); khi đó đầu thu có thể nhận tín hiệu đượctruyền sang từ hệ thống bên cạnh Các hệ thống bên cạnh ở đây có thể là các đôidây khác hoặc thậm chí là ngay bộ phát của hệ thống Nếu bộ thu bỏ qua toàn

bộ dải tần số mà đầu gần đang phát thì FDM sẽ tránh được xuyên âm đầu gần Tấtnhiên điều này đồng nghĩa với việc cắt bỏ một lượng băng tần hiệu dụng củahướng kia Như vậy, sử dụng kỹ thuật xoá tiếng vọng sẽ làm cho hiệu suất băngtần cao hơn nhưng chi phí cho nó lại phức tạp và nhạy cảm Kỹ thuật xoá tiếngvọng có thể sử dụng đối với tần số thấp nhất nên đạt hiệu suất cao hơn

Trong trường hợp dùng một đường truyền đồng thời cho cả hai hướng trêncùng một dải tần cần phải kiểm soát tiếng vọng Một cách kiểm soát tiếng vọng làchia dải tần số thành hai băng tần cho đường từ tổng đài tới thuê bao vàngược lại

Hình 2.5a biểu diễn việc sử dụng FDM mà không dùng kỹ thuật xoá tiếng

175 kHz cho đường truyền từ thuê bao đến tổng đài và khoảng 900 kHz băngtần dùng cho hướng từ tổng đài tới thuê bao

Tuy nhiên, nếu chỉ thuần tuý dùng FDM thì việc sử dụng băng tần sẽ không đạtđược hiệu quả cao, phần dưới của hình vẽ cho thấy giải pháp hiểu quả hơn khibăng tần từ thuê bao đến tổng đài và từ tổng đài tới thuê bao gối chồng lênnhau

C

h ú ý r ằ n g thiết bị ADSL dùng CAP sẽ sử dụng FDM nhưng không có kỹ

thuật xoá tiếng vọng, ngược lại thiết bị ADSL dùng DMT lại sử dụng kỹ thuật

Trang 13

xoá tiếng vọng (đây là một ngoại lệ) Kỹ thuật xoá tiếng vọng này được gọi là kếthợp echo-FDM cho thiết bị không đối xứng.

Mặc dù đến nay chưa thống nhất được việc sử dụng loại mã đường truyền nào(CAP hay DMT) là tốt hơn cho ADSL, nhưng phải thừa nhận rằng mỗi loạitrên đều có những điểm mạnh riêng Mã DMT phù hợp cho việc thích ứng tốc độ(thay đổi tốc độ do các điều kiện đường truyền), thay đổi các điều kiện mạchvòng (đấu nối xen, sử dụng nhiều loại sợi), xử lý nhiễu (xuyên nhiễu số) và cácthuê bao (cho kênh thoại hoặc các mục đích khác) Trong khi đó CAP lại giảm

độ phức tạp của bộ xoá tiếng vọng (mặc dù nhiều sản phẩm có CAP sử dụngFDM), giảm thời gian trễ (chỉ bằng khoảng 25% thời gian trễ của DMT), hơn nữa

đã có sự hoàn thiện (xây dựng trên cơ sở QAM đã được nghiên cứu trong nhiềunăm trước) và tính đơn giản

Thiết bị ADSL (ATU-C và ATU-R) được thiết kế sử dụng mã đường truyềncho cả QAM, CAP, DMT Tuy nhiên tiêu chuẩn chính thức do ANSI đưa racho ADSL lại là DMT, mặc dù DMT ra đời sau QAM và CAP

2.4 Ghép kênh

 Truyền tải đơn hướng từ tổng đài tới khách hàng

Giao diện ADSL giao tiếp giữa nhà cung cấp dịch vụ và khu vực kháchhàng với nhiều chức năng phong phú (có thể tuỳ chọn) ADSL giống như hầuhết các loại tải tin khác là cùng sử dụng các khung để truyền tải thông tin.Chuỗi bít trong các khung ADSL có thể chia tối đa thành 7 kênh tải tin tại cùngmột thời điểm Các kênh này được chia thành hai lớp chính: đơn hướng (hayđơn công trong một hoàn cảnh cụ thể) và song hướng (hay song công trong mộthoàn cảnh cụ thể) ASDL cho phép tạo tối đa 4 kênh tải tin từ tổng đài tới thuê baohoàn toàn độc lập cho các kênh đơn hướng Bốn kênh tải tin này chỉ có nhiệm

vụ mang chuỗi bit tới khách hàng và được ký hiệu từ AS0 đến AS3 Ngoài cáckênh tải tin đơn hướng (AS), ASDL có thể thiết lập 3 kênh tải tin song hướngmang lưu lượng từ tổng đài tới thuê bao và ngược lại Những kênh này được kýhiệu từ LS0 đến LS2 Chú ý rằng, các kênh tải tin này là các kênh logic và chuỗibit từ tất cả các kênh cùng được truyền đồng thời trên đường truyền ADSL màkhông phải sử dụng băng tần riêng

Trang 14

Bất kỳ kênh tải nào cũng cũng có thể được lập chương trình để mang tốc độ

là một bội số của tốc độ 32 kbit/s Tuy nhiên đối với những tốc độ không phải làbội số của 32 kbit/s thì phải sử dụng đến các bit phụ trong phần mào đầu củakhung ADSL (70 kbit/s, 6 kbit/s)

Hiện nay các kênh tải tin hoạt động hầu như với toàn bộ bội số của 32kbit/s, đây có thể là một trở ngại khi tính tới khả năng liên kết Chính vì vậy,người ta đã xây dựng chỉ tiêu ADSL cho bốn lớp truyền tải đối với kênh đơnhướng từ tổng đài tới thuê bao Các kênh này thiết lập trên cơ sở bội số đơncủa một kênh tốc độ 1,536 Mbit/s (tốc độ truyền tải của T1) Do đó những lớptruyền tải trên sẽ có tốc độ 1,536 Mbit/s, 3072 Mbit/s, 4608 Mbit/s và 6144Mbit/s Ðối với các kênh tải song hướng có thể mang một kênh điều khiển và mộtvài kênh ISDN (loại BRI và 384 kbit/s) Tuy nhiên cần chú ý rằng ADSL không

bị giới hạn với bất cứ lớp truyền tải nào và ngay cả của bản thân nó Các chỉ tiêutrong tương lai có thể xây dựng cho truyền tải 1,544 Mbit/s (tốc độ đầy đủ củaT1) hoặc 2048 Mbit/s (tốc độ của E1) Hiện tại, chưa có định nghĩa tốc độ cựcđại cho bất kỳ kênh tải tin nào Giới hạn trên này chỉ phụ thuộc vào tổng dunglượng của đường truyền ADSL

Sự đa dạng trong tốc độ tải tin ngày nay chính là do các sản phẩm ADSL tạo

ra Nhiều tốc độ kênh con được hình thành theo tốc độ kênh tải giả định cho cácloại thiết bị ADSL khác nhau Tốc độ cực đại trong lớp truyền tải 6,144 Mbit/skhông cho phép xảy ra đồng thời ở tất cả các kênh tải tin AS Các giới hạnđược chỉ ra trong bảng 2.1:

Bảng 2.1: Các giới hạn trên của tốc độ tải tin

Kênh con Tốc độ kênh con Các giá trị của nxAS0 n0 x 1.536 Mbit/s n0= 0,1,2,3 hoặc 4AS1 n1 x 1.536 Mbit/s n1= 0,1,2 hoặc 3AS2 n2 x 1.536 Mbit/s n2= 0,1 hoặc 2AS3 n3 x 1.536 Mbit/s n3= 0 hoặc 1

Số kênh con lớn nhất có thể hoạt động tại bất cứ thời điểm nào và số lượngtối đa kênh tải tin có thể truyền đồng thời trong hệ thống ADSL tuỳ thuộc vào lớp

Trang 15

truyền tải ADSL có 4 lớp truyền tải và được đánh số từ 1 đến 4 Trong đó lớp 1

và 4 là bắt buộc còn 2 và 3 là tuỳ chọn Năng lực lớp truyền tải phụ thuộc vào tốc

độ đường truyền đạt được của mạch vòng ADSL và cấu hình của các kênh con màchúng tạo nên số kênh con hoặc tốc độ đường truyền lớn nhất Việc chuyển đổigiữa số lượng và tốc độ kênh con hiện vẫn đang được nghiên cứu Cho tới naychưa có bất kỳ sự thay đổi nào về cấu trúc và tốc độ dùng trong ADSL

Lớp truyền tải thứ nhất được dùng cho mạch vòng ngắn nhất, nhưng lạicho phép tải dung lượng lớn nhất tới khách hàng với bất kỳ cấu trúc ADSLnào Tốc độ tải tin của lớp này là 6,144 Mbit/s và nó được tạo ra từ sự kết hợpbất kỳ của 1 tới 4 kênh tải tin đang hoạt động ở tốc độ bội 1,536 Mbit/s Tuynhiên, bắt buộc phải có một kênh con hoạt động ở tốc độ 6,144 Mbit/s trên AS0.Các cấu hình tuỳ chọn mà tốc độ của chúng là 6,144 Mbit/s bao gồm:

+ Một kênh 4,608 Mbit/s và một kênh 1,536 Mbit/s

+ Hai kênh 3,072 Mbit/s

+ Một kênh 3,072 Mbit/s và một kênh 1,536 Mbit/s

+ Bốn kênh 1,536 Mbit/s

Lớp thứ 2 là tuỳ chọn và tải một luồng 4,608 Mbit/s tới phía khách hàng Lớp nàytạo nên từ sự kết hợp bất kỳ của 1 đến 3 kênh tốc độ 1,536 Mbit/s Do khôngphải là bắt buộc nên hệ thống có thể cung cấp bất kỳ hoặc tất cả các tốc độ kênhtải tin AS3 không bao giờ sử dụng trong lớp 2 Các cấu hình khác nhau củalớp 2 gồm:

+ Một kênh 3,072 Mbit/s

Ngày đăng: 09/11/2014, 10:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.2: Biểu đồ pha QAM - bài tập lớn môn kĩ thuật ghép kênh
Hình 2.2 Biểu đồ pha QAM (Trang 8)
Hình 2.3 .Quá trình xử lý QAM ở đầu phát - bài tập lớn môn kĩ thuật ghép kênh
Hình 2.3 Quá trình xử lý QAM ở đầu phát (Trang 9)
Hình 2.4. Thu phát tín hiệu theo phương pháp điều chế CAP - bài tập lớn môn kĩ thuật ghép kênh
Hình 2.4. Thu phát tín hiệu theo phương pháp điều chế CAP (Trang 11)
Hình 2.5: ADSL sử dụng và không sử dụng kỹ thuật xoá tiếng vọng - bài tập lớn môn kĩ thuật ghép kênh
Hình 2.5 ADSL sử dụng và không sử dụng kỹ thuật xoá tiếng vọng (Trang 12)
Bảng 2.4: Cấu trúc của các kênh đơn hướng và song hướng - bài tập lớn môn kĩ thuật ghép kênh
Bảng 2.4 Cấu trúc của các kênh đơn hướng và song hướng (Trang 18)
Bảng  2.3:  Mối  quan  hệ  giữa  cấu  trúc  kênh  song  hướngtheo  các  lớp  truyền  dẫn - bài tập lớn môn kĩ thuật ghép kênh
ng 2.3: Mối quan hệ giữa cấu trúc kênh song hướngtheo các lớp truyền dẫn (Trang 18)
Hình 2.6. Cấu trúc siêu khung ADSL - bài tập lớn môn kĩ thuật ghép kênh
Hình 2.6. Cấu trúc siêu khung ADSL (Trang 22)
Hình 2.7. Cấu trúc bit mào đầu ở byte dữ liệu nhanh - bài tập lớn môn kĩ thuật ghép kênh
Hình 2.7. Cấu trúc bit mào đầu ở byte dữ liệu nhanh (Trang 23)
Bảng 2.7. Vùng đệm mặc định cho các lớp truyền tải (E1) - bài tập lớn môn kĩ thuật ghép kênh
Bảng 2.7. Vùng đệm mặc định cho các lớp truyền tải (E1) (Trang 26)
Hình 2.8 Các dịch vụ có thể được kỹ thuật ADSL cung cấp - bài tập lớn môn kĩ thuật ghép kênh
Hình 2.8 Các dịch vụ có thể được kỹ thuật ADSL cung cấp (Trang 27)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w