1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phong cách nghệ thuật văn xuôi Lý Biên Cương (Qua truyện vừa và tiểu thuyết)

118 665 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 760,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nghiên cứu phong cách nghệ thuật, vì thế sẽ giúp người nghiên cứu có được một hệ thống những luận điểm quan trọng để đánh giá giá trị tác phẩm, khám phá được những nét độc đáo trong

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ THU TRẦM LỆ

PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT VĂN XUÔI LÝ BIÊN CƯƠNG

(QUA TRUYỆN VỪA VÀ TIỂU THUYẾT)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

THÁI NGUYÊN, NĂM 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ THU TRẦM LỆ

PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT VĂN XUÔI LÝ BIÊN CƯƠNG

(QUA TRUYỆN VỪA VÀ TIỂU THUYẾT)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60.22.34

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện

THÁI NGUYÊN, NĂM 2012

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS-TS Nguyễn Ngọc Thiện, người

đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành Luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo khoa Ngữ văn, khoa Sau đại học trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, Viện Văn học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã giảng dạy và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp những người đã động viên khuyến khích tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2012

NGUYỄN THỊ THU TRẦM LỆ

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình luận văn này là sự nỗ lực hết mình của tôi trong quá trình nghiên cứu Những tư liệu thống kê hoàn toàn do tôi tự nghiên cứu Tôi xin chịu trách nhiệm về Luận văn của mình

Xác nhận của Người hướng dẫn khoa học

Đã chỉnh sửa theo yêu cầu của hội

đồng khoa học

PGS-TS Nguyễn Ngọc Thiện

Tác giả Luận văn

NGUYỄN THỊ THU TRẦM LỆ

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Trang bìa phụ

Lời cảm ơn

Lời cam đoan

Mục lục i

PHẦN MỞ ĐẦU 1

PHẦN NỘI DUNG 9

Chương 1 VỀ KHÁI NIỆM PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT CỦA LÝ BIÊN CƯƠNG 9

1.1 Lý Biên Cương – con người và sự nghiệp 9

1.1.1 Con người nhà văn Lý Biên Cương 9

1.1.2 Sự nghiệp của nhà văn Lý Biên Cương 12

1.2 Khái niệm phong cách nghệ thuật 17

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phong cách nghệ thuật của Lý Biên Cương 20

1.3.1 Yếu tố thời đại 20

1.3.2 Quê hương và gia đình 22

1.3.3 Trong “đội ngũ các nhà văn” vùng mỏ 26

1.3.4 Quan niệm nghệ thuật của Lý Biên Cương 29

Chương 2 NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRONG VĂN XUÔI LÝ BIÊN CƯƠNG 33

2.1 Thế giới nhân vật trong sáng tác Lý Biên Cương 33

2.1.1 Nhân vật đa dạng, bình dị, đời thường, tốt xấu đan xen 35

2.1.2 Con người lý tưởng, trưởng thành trong chế độ mới 39

2.1.3 Con người tha hóa, biến chất 42

2.1.4 Người phụ nữ bạc phận 48

2.2 Các biện pháp xây dựng nhân vật 57

2.2.1 Yếu tố ngoại hình và tên gọi 57

2.3.3 Nghệ thuật xây dựng nhân vật của Lý Biên Cương và các cây bút khác viết về người thợ mỏ 69

Trang 6

Chương 3 ĐẶC SẮC TRONG NGHỆ THUẬT KỂ CHUYỆN VÀ SỬ

DỤNG NGÔN NGỮ 74

3.1 Xử lý cốt truyện 74

3.1.1 Cốt truyện – dòng tâm trạng 74

3.1.2 Cốt truyện được xây dựng trong mối quan hệ đối chiếu, tương phản giữa các nhân vật 78

3.2 Kết cấu 80

3.2.1 Kết cấu giản dị tự nhiên 80

3.2.2 Kết cấu truyện lồng truyện 82

3.3 Giọng điệu trữ tình giàu biểu cảm 85

3.3.1 Giọng điệu tâm tình, thủ thỉ, nhẹ nhàng 86

3.3.2 Từ ngợi ca đến thâm trầm, triết lý 89

3.3.3 Giọng điệu trữ tình bàng bạc chất thơ 93

3.4 Ngôn ngữ 96

3.4.1 Ngôn ngữ trong trẻo, giàu chất thơ 97

3.4.2 Ngôn ngữ nghệ thuật dung dị, tự nhiên như hơi thở của cuộc sống 99

KẾT LUẬN 107

TÀI LIỆU THAM KHẢO 110

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Nói đến phong cách là nói đến dấu ấn cá nhân của người nghệ sĩ được

in đậm lên tác phẩm: từ cách tổ chức tác phẩm, xử lý đề tài, giọng điệu, ngôn ngữ, cách xây dựng nhận vật … Trong đó tư tưởng nghệ thuật như một tiêu chí quan trọng vừa có ý nghĩa mở đầu, vừa có tính chất chỉ đạo Bởi vậy mà

M.Gorki đã từng nhấn mạnh “Nghệ sĩ là người biết khai thác những ấn tượng

riêng chủ quan của mình, tìm thấy trong những ấn tượng có cái giá trị khái quát và biết làm cho những ấn tượng ấy có được hình thức riêng” [12,48] Cho nên có thể nói, tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá một nghệ sĩ là ở chỗ nhà văn đó có đem lại điều gì mới mẻ, riêng biệt hay nói chính xác là một phong cách độc đáo cho nền văn học dân tộc Cùng với sự đi lên của lịch sử nghiên cứu văn chương, chúng tôi nhận thấy rằng: Phong cách nghệ thuật là một vấn

đề có tính lý luận thực tiễn quan trọng của ngành ngữ văn nói chung và bộ môn lý luận nói riêng Việc nghiên cứu phong cách nghệ thuật, vì thế sẽ giúp người nghiên cứu có được một hệ thống những luận điểm quan trọng để đánh giá giá trị tác phẩm, khám phá được những nét độc đáo trong sáng tác nhà

văn, cũng như sự đi lên của nền văn học

Phong cách nghệ thuật của một nhà văn có thể được thể hiện qua các thể loại: thơ, văn xuôi, kịch, kí … Ở đây chúng tôi chọn thể loại văn xuôi, bởi đối tượng phản ánh của tác phẩm văn xuôi chính là bức tranh hiện thực đậm tính khách quan Nếu ở tác phẩm thơ, hiện thực được tái hiện qua những cảm xúc, tâm trạng và ý nghĩ của một con người được thể hiện trực tiếp qua những thổ lộ, bộc bạch cảm xúc của chủ thể thì tác phẩm văn xuôi lại phản ánh đời sống trong tính khách quan của nó – qua con người, hành vi, sự kiện được kể

lại bởi một người kể chuyện nào đấy

Trang 8

Quảng, 1961 – 1964), báo Quảng Ninh (1964 – 1986), từng là phó chủ tịch hội

tuổi có vị trí vững vàng trong nền văn xuôi Việt Nam hiện đại, hơn 50 năm cầm bút, nhà văn đã để lại một khối lượng tác phẩm lớn với gần bốn mươi đầu sách ở nhiều thể loại khác nhau như: thơ, tản văn, tiểu thuyết, truyện ngắn Ông đã nhận được nhiều giải

thưởng cao quý từ Trung ương đến địa phương như:

Giải thưởng các cuộc thi truyện ngắn tuần báo Văn nghệ (Hội Nhà văn Việt Nam): Truyện Khoảng không của đất – giải ba, 1972; Truyện Đêm ấy

Giải thưởng văn học công nhân lần thứ nhất 1969 – 1972 (Tổng Công

đoàn và Hội Nhà văn Việt Nam): Ba truyện Đêm mưa, Bố con người thợ hàn

và Than – giải chính thức

Giải thưởng hàng năm (Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp Văn học Nghệ

thuật Việt Nam): Tiểu thuyết Những kiếp phù du NXB Hội Nhà văn – giải B

giải B (Không có giải A), 1994: Tập truyện Những khoảnh khắc rủi may – NXB Công an nhân dân – giải B (không có giải A), 1998.

Giải thưởng truyện phim xuất sắc năm 1987 – Hãng phim truyện Việt Nam: Truyện Sóng cửa sông.

Với những đóng góp của Lý Biên Cương, ông được nhà nước phong

tặng giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật lần thứ 3 (2012)

1.3 Văn xuôi Lý Biên Cương hấp dẫn người đọc, bởi lẽ đọc truyện của

ông, người ta tìm thấy sự pha trộn cái mới mẻ, độc đáo của văn phong hiện đại với những yếu tố thuộc về truyền thống rất gần gũi quen thuộc Chất liệu

Trang 9

từ đời sống dồi dào cùng với những mảnh đời đa đoan, đa sự đã đi vào trang văn của ông một cách tự nhiên, mang theo những lời nhắn gửi về tình người, tình đời … khiến cho người đọc phải day dứt, suy nghĩ, nhiều lúc còn giật mình bởi như bắt gặp một mảnh tâm hồn mình trong đó Tất cả được biểu hiện trong một cách viết dung dị, trong sáng, không hoa mĩ, cầu kì “Dòng riêng” Lý Biên Cương đạt trong “nguồn chung” của văn chương Việt Nam

hiện đại góp phần tạo nên một vẻ đặc sắc trong văn xuôi Lý Biên Cương

1.4 Tìm hiểu phong cách Lý Biên Cương là tìm hiểu một trong những

phương diện cơ bản nhất nhằm ghi nhận những thành tựu sáng tạo của ông Trong quá trình nghiên cứu sáng tác Lý Biên Cương, chúng tôi nhận thấy, phong cách nghệ thuật của ông được hình thành và phát triển trong từng giai đoạn sáng tác, tuy nhiên, do áp lực của thời đại, có chặng đường các yếu tố thể hiện phong cách nhà văn chìm dưới mạch ngầm nhưng không hoàn toàn mất đi Để tìm hiểu phong cách văn xuôi Lý Biên Cương, chúng tôi còn đặt tác giả trong sự tương quan với các nhà văn có phong cách khác để thấy rõ

những yếu tố làm nên nét đặc trưng riêng trong sáng tác của ông

Nghiên cứu vấn đề này sẽ góp phần bổ sung việc đánh giá một cách hoàn chỉnh, khái quát những thành tựu nổi bật của văn xuôi Lý Biên Cương trong nền văn xuôi Việt Nam hiện đại Hơn nữa, đối với việc giảng dạy ngữ văn thì những hiểu biết về văn học Việt Nam hiện đại qua một tác giả với

những tác phẩm tiêu biểu là điều rất cần thiết

Mặc dù đến nay, tác phẩm của Lý Biên Cương còn chưa được đưa vào giảng dạy trong nhà trường phổ thông, nhưng qua việc nghiên cứu, đánh giá

về giá trị văn xuôi Lý Biên Cương sẽ góp phần tạo nên những thuận lợi cho

việc giảng dạy, nhận diện tổng quan về văn xuôi văn học Việt Nam hiện đại

Chính vì lý do trên, chúng tôi đã chọn vấn đề “Phong cách nghệ thuật văn xuôi Lý Biên Cương” (Qua truyện vừa và tiểu thuyết) làm đề tài nghiên

cứu Hơn nữa đây là một đề tài mới, còn rất ít người để ý nghiên cứu và cho

Trang 10

đến nay vẫn còn là mảnh đất màu mỡ cho những ai tìm đến khai mở công việc

nghiên cứu và khám phá

2 Lịch sử vấn đề

Đã có rất nhiều bài báo, bài viết khái quát về quá trình sáng tác cũng như những bài viết khái quát về những đặc điểm đặc sắc về phương diện nội dung và nghệ thuật trong văn xuôi Lý Biên Cương như:

Nhà văn Lý Biên Cương được một số nhà nghiên cứu, phê bình đánh

giá cao như Tôn Phương Lan trong cuốn Văn học về đề tài công nhân đã

khẳng định: “Cuối những năm sáu mươi bạn đọc đã bắt đầu quen dần với Lý Biên Cương trong những truyện ngắn viết về Quảng Ninh Từ bấy đến nay dòng viết Lý Biên Cương là một dòng chảy liên tục, tuy có chỗ nông, chỗ sâu,

có chỗ lặng tờ nhưng có cả những vùng gợn sóng” [20,158-159] Tác giả cũng nhận định “tuy vậy, vẫn có cảm giác có phần nhẹ tay khi gập trang sách lại – cuộc sống trong sáng tác Lý Biên Cương còn quá hiền lành, thiếu cái dữ dội của cuộc đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, giữa cái đúng và cái sai trong quan hệ sản xuất, trong quan hệ giữa các nhân vật” [20,158] Tuy nhiên, bài viết mới chỉ dừng lại ở mức khái quát về các tác phẩm của ông cho đến năm 1983, nên ý kiến đưa ra chưa được đầy đủ các giai đoạn sáng tác của nhà văn, đặc biệt

là ở giai đoạn sáng tác về sau với những chuyển biến sâu sắc của ngòi bút

Tiếp đến là bài viết của Hữu Tuân “Lý Biên Cương gương mặt văn xuôi Quảng Ninh” đăng trên tạp chí Nhà văn, tháng 11 năm 2003 tác giả nhận

định khá đầy đủ, chi tiết, xác đáng về giá trị văn xuôi của ông về mặt nội dung cũng như hình thức Về mặt đề tài “Lý Biên Cương đã chọn cho mình một phong cách hiện thực trữ tình, không ham chi tiết vụn vặt, không chạy theo phong trào mà cố gắng phát hiện vầng sáng của tâm hồn, của đời sống nội tâm nhân vật, làm sao kết hợp hài hòa giữa vẻ đẹp lý tưởng và tình cảm, giữa ý thức cộng đồng và nguyện vọng cá nhân, giữa quan hệ xã hội và gia đình” [39,87], về phong cách viết văn “đa số truyện của Lý Biên Cương đơn tuyến,

Trang 11

nhiều chi tiết rút ra từ đời thường nhưng anh kể có duyên, có tình nên hấp dẫn, đọc đi đọc lại không chán được thế còn nhờ tài kết cấu truyện và tài sử dụng ngôn ngữ … kết cấu đơn tuyến nhưng không đơn điệu … ngôn ngữ tâm trạng, ngôn ngữ cảm xúc gần với ngôn ngữ thơ ca” [39,89] Trong bài viết Hữu Tuân mới chỉ đưa ra những nhận định mang tính tổng hợp, có tác dụng gợi dẫn chứ chưa đi sâu vào từng vấn đề cụ thể Hữu Tuân đã khẳng định tài năng văn chương và phong cách nghệ thuật Lý Biên Cương – “một phong cách riêng, độc đáo và tài hoa … một lối viết điềm tĩnh, trầm lắng, giàu cảm xúc ” [39,90]

Đặc biệt trong Điếu văn của Ban Chấp hành Hội nhà văn Việt Nam do

nhà văn Nguyễn Trí Huân đọc tại lễ truy điệu nhà văn Lý Biên Cương đã nhấn mạnh “Cho đến bây giờ, khi ông đã ra đi vĩnh viễn, để lại cho đời trên

40 ấn phẩm văn chương, hầu hết là truyện ngắn, có thể khẳng định rằng trong làng văn Việt Nam, ông là cây bút có năng suất nhất và vào hàng xuất sắc ở thể loại này [4,9] Ông cũng nhận định: “Lý Biên Cương vẫn luôn ý thức về nghề, sớm tránh những lối mòn, những đơn giản, thô sơ, minh họa Các truyện của ông thường đậm chất nhân văn và thấm đẫm tình người Bởi thế,

đa phần tác phẩm của ông đến nay còn nguyên giá trị” [4,9]

Gần đây nhất và cũng đầy đủ hơn cả là các luận văn thạc sĩ ngữ văn

“Nghệ thuật tự sự trong văn xuôi Lý Biên Cương” của Phạm Thị Thu Hương, Trường Đại học Sư phạm 2 Hà Nội, năm 2011 và của Hoàng Thị Khuyên “ Nghệ thuật tự sự trong tuyển truyện viết về than của Lý Biên Cương”, Trường

Đại học Sư phạm 2 Hà Nội, năm 2011 Đã nghiên cứu một cách đầy đủ, chi

tiết về nghệ thuật tự sự trong những sáng tác của ông

Từ nhiều bài viết khác nhau, song các tác giả cùng có chung nhận xét:

“Cái nhìn về nhà văn Lý Biên Cương phải đứng từ góc tối để nhìn ra phía sáng mới tường tận được – và phải nhìn với tấm lòng nhân ái mới thấu đáo

Trang 12

Và phải đặt mình là người trong cuộc mới thấm thía lẽ đời” [16, 189] Đọc văn ông giống như đang được chiêm ngưỡng một công trình được tạo tác rất tài hoa “Văn ông đẹp, thoáng đãng lại mượt mà, sự giàu có về ngôn ngữ văn chương của ông như trời ban vậy Sự bề bộn, khẩn trương của nhịp sống công nghiệp vùng mỏ đi vào văn chương ông cũng sâu lắng hơn, sự mạnh mẽ, dữ dội trong tình yêu, trong đời sống người vùng biển qua văn ông cũng êm ả,

nhuần nhị đi nhiều” [33,5]

Tuy vậy, hiện nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách tập trung, có hệ thống những sáng tác của ông xứng đáng với những cống

hiến đặc sắc của ông cho nền văn học Việt Nam hiện đại

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Với đề tài đã chọn Luận văn chúng tôi nhằm:

- Làm rõ những đặc sắc về phong cách nghệ thuật của Lý Biên Cương

qua truyện vừa và tiểu thuyết

- Nhận diện văn xuôi Lý Biên Cương

- Luận văn góp phần khẳng định tài năng, vị trí của nhà văn trong nền

văn xuôi Việt Nam hiện đại

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Khảo sát tập trung vào truyện vừa, tiểu thuyết, Luận văn làm rõ phong cách nghệ thuật độc đáo của nhà văn Lý Biên Cương Cụ thể là những

phương diện sau:

- Về phong cách nghệ thuật và quan niệm nghệ thuật của Lý Biên Cương

- Nhân vật và đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của Lý

Biên Cương

- Nghệ thuật kể chuyện và ngôn ngữ trong truyện Lý Biên Cương

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 13

Chủ yếu là những tác phẩm được in trong cuốn LÝ BIÊN CƯƠNG –

tuyển tập truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết (2003), NXB Văn học và một

số truyện vừa khác như Gắn bó (1983), NXB Phụ Nữ Tiểu thuyết Lý Biên

Cương 2008, NXB Công An Nhân Dân

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Chúng tôi nghiên cứu đề tài này trong phạm vi: Truyện vừa và tiểu

thuyết Lý Biên Cương

Xuất phát từ góc nhìn về phong cách nghệ thuật, nó được biểu hiện qua thế giới nhân vật, ngôn ngữ và nghệ thuật kể chuyện Vì vậy, chúng tôi đi vào phong cách nghệ thuật Lý Biên Cương ở các phương diện: Cơ sở hình thành phong cách nghệ thuật Lý Biên Cương, quan điểm nghệ thuật của nhà văn, nghệ thuật xây dựng nhân vật, kết cấu và cốt truyện, ngôn ngữ và giọng điệu trong văn xuôi Lý Biên Cương Điều này được thể hiện rõ nhất qua truyện vừa và tiểu thuyết, vì dung lượng lớn, phản ánh đầy đủ các khía cạnh của đời

sống mà ở truyện ngắn không có

5 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài này, chúng tôi vận dụng kết hợp một số phương

pháp nghiên cứu cơ bản sau đây:

5.1 Phương pháp hệ thống tổng hợp

Làm nổi bật phong cách nghệ thuật Lý Biên Cương qua truyện vừa và tiểu thuyết Luận văn xem xét các yếu tố tạo nên cấu trúc một chỉnh thể, tìm

ra nguyên tắc chi phối sự hình thành của chúng Trên cơ sở đó, chúng tôi rút

ra những kết luận về nguyên tắc chi phối và hình thành tác phẩm

5.2 Phương pháp phân tích tác phẩm

Luận văn sử dụng phương pháp phân tích là chủ yếu Phương pháp này giúp người viết khám phá những đặc sắc của tác phẩm ở cả hai phương diện

nội dung và nghệ thuật, từ đó góp phần soi sáng luận điểm trong Luận văn

5.3 Phương pháp phân loại, thống kê

Trang 14

Đối với từng khía cạnh, cấp độ của phong cách nghệ thuật, khi cần thiết

chúng tôi thực hiện việc khảo sát, phân loại và thống kê bằng những số liệu cụ thể

5.4 Phương pháp so sánh

Để khẳng định những nét đặc sắc, riêng biệt của phong cách nghệ thuật Lý Biên Cương, Luận văn sử dụng phương pháp đối chiếu, so sánh với sáng tác của một số nhà văn khác Phương pháp này được sử dụng có

tính chất bổ trợ

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo Luận văn được

triển khai trong ba chương chính

Chương 1: Khái niệm phong cách nghệ thuật và quan niệm nghệ thuật

của Lý Biên Cương

Chương 2: Đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của Lý Biên Cương Chương 3: Đặc sắc trong nghệ thuật kể chuyện và sử dụng ngôn ngữ

7 Dự kiến đóng góp mới

Từ trước đến nay, đã có nhiều bài viết và công trình khoa học nghiên cứu về Lý Biên Cương Nhưng đây là một trong những công trình nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống về phong cách nghệ thuật văn xuôi Lý Biên Cương Với những định hướng nghiên cứu này, người viết hi vọng kết quả đề tài sẽ đóng góp thuận lợi cho việc tìm hiểu nhà văn Lý Biên Cương đối với học sinh, sinh viên và phần nào gợi ý cho người đọc yêu thích văn chương Lý Biên Cương hiểu một cách rõ nhất về văn xuôi của ông Hy vọng Luận văn này sẽ trở thành một tư liệu tham khảo hữu ích cho tất cả những ai quan tâm

đến văn xuôi Lý Biên Cương

Trang 15

PHẦN NỘI DUNG Chương 1

VỀ KHÁI NIỆM PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT

VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT CỦA LÝ BIÊN CƯƠNG

1.1 Lý Biên Cương – con người và sự nghiệp

1.1.1 Con người nhà văn Lý Biên Cương

Từ nhỏ nhà văn đã mê văn, yêu văn Bé xíu đã “ham đọc sách, ham hóng chuyện” [7,190], có tiền là lén mò đến hàng sách Sách đem về đọc ngấu nghiến, quên cả ăn, quên cả chập tối lúc nào “Sách là người mở cửa đầu tiên cho tôi đi đến con đường viết văn Cả đến hôm nay, đầu hai thứ tóc, nỗi đam

mê sách vẫn bám riết ngày đêm, tôi không ngày nào dừng đọc, dù chỉ một ngày” [7,191] Từ nhỏ ông đã là người mơ mộng, thoắt vui, thoắt buồn Lòng

dạ rất dễ cảm thương trước những số phận éo le do sách mang lại “Đọc Nửa chừng xuân, khóc Đọc Tấm lòng vàng, khóc Đọc Tắt đèn, cổ nghẹn ngào Đến đọc Kiều nước mắt không còn phải giấu ai ” [7,191] Ông sớm bộc lộ

năng khiếu văn chương từ thủa nhỏ Ông hiểu các luật thơ cổ từ rất sớm cũng

“rung đùi, cũng đắc ý khi tìm được những câu hay, chữ đắt, “cụ non” chẳng kém ai” [7,192] Ông góp nhặt cho mình vốn kiến thức thơ văn từ rất sớm

“mỗi đứa đóng một quyển luyện văn cỏn con, đi đâu cũng cầm khư khư, gặp

đoạn thơ văn nào đắc ý liền chép vội Thành thử những câu: “Rừng phong thu

đã nhuốm màu quan san”, “Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi” hoặc “Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo” cứ ngấm dần vào mình, câu thơ hay đền nỗi không thể

tán hết nhẽ và trở thành gia sản, thành bạn đường cho cuộc hành trình văn học dài dằng dặc” [7,193]

Có câu bảo: văn là người, với Lý Biên Cương thì đúng là thế Ông có lối viết chân phương, mềm mại, rất thu hút, lôi cuốn Và con người ông cũng thế, sống thật lòng, tình nghĩa trước sau, nhân ái và độ lượng với mọi người,

Trang 16

thích dĩ hòa vi quý, không bới lông tìm vết Ông có lối chuyện trò nhỏ nhẹ, chậm rãi, khiêm nhường, có sức thuyết phục người nghe Đọc văn ông, dường như không thấy khoảng cách giữa văn và người Cũng một lối văn êm êm, dìu dịu, mượt mà và một lối dẫn chuyện đưa đẩy, lớp lang, chậm rãi, ngay ở

những truyện nếu vào người khác cũng khá ly kỳ, giật gân như "Người đàn bà ngang qua đời tôi", "Vườn hoang" nhưng với Lý Biên Cương thì vẫn là

truyện êm ái, dịu dàng mà ngẫm kỹ không kém phần đắng đót, ý vị

Ông ít xuất hiện ở những cuộc quá ư ồn ào nhưng lại rất coi trọng các

sự kiện giàu ý nghĩa của đời sống văn chương Quảng Ninh Hội thảo nhân 80 năm ngày sinh, 10 năm ngày mất của nhà văn Võ Huy Tâm, ông đến dự, phát biểu ý kiến ngắn gọn thôi, nhưng thể hiện sự am hiểu sâu sắc về cái tầm, về giá trị văn chương gia tài văn học Võ Huy Tâm của một người chịu đọc, đọc nhiều tác phẩm của bạn văn

Lý Biên Cương xông xáo, ông lao vào việc một cách cẩn trọng và trách nhiệm của một người cầm bút “Lý Biên Cương thường được giao viết những vấn đề hóc búa Anh chấp tất Việc khó mấy Lý Biên Cương xông vào là xong xuôi” [47] Những trang viết đầy ắp tình người lần lượt ra mắt độc giả Anh trở thành nhà báo sung mãn, một cây bút sắc sảo từ ấy Lý Biên Cương đăng bài nào là bài ấy có tiếng vang trong công chúng Ở đâu anh cũng được mọi người chú ý và tỏ ra mến mộ Lý Biên Cương cũng không quản khó khăn, dám xông vào những chỗ “xương xẩu” cản trở bước tiến trong ngành than Vấn đề năng suất máy xúc: “Xúc đầy, xúc vơi” Lý Biên Cương phanh phui ra, gây dư luận khá tốt trong công chúng bạn đọc Ông là một trong số ít người làm báo lúc bấy giờ viết chăm chút câu chữ, tìm và sử dụng từ mới và đắt, câu chữ uyển chuyển Trình bày vấn đề một cách rạch ròi, sáng sủa

Văn là đời, câu nói đó rất đúng với cuộc đời và văn chương sự nghiệp của nhà văn Lý Biên Cương Hãy đọc tên các tác phẩm (những đứa con tinh thần) của ông ta cảm nhận như thể số trời đã định Âm vang của ngôn từ

Trang 17

nghĩa ngữ cứ bám riết vào từng đoạn đường đời thăm thẳm nỗi gian truân của ông Nó vận vào ông, hay ông vận vào nó? Nhưng với ông, nó ám ảnh mãi, nó

mê hoặc, nó đeo đuổi suốt cuộc đời ông- cả vinh quang và cay đắng, cả niềm vui nỗi buồn, cả khát khao trống vắng, cả cô đơn và đau đớn Mỗi câu mỗi

chữ đều gợi lên ý tứ sâu sắc, và những nỗi buồn man mác Nào là: Câu chuyện ngắn về con đường dài - đây là tên tác phẩm viết về than khi đường

đời ông đi còn dài dằng dặc Để rồi sau đó liên tiếp ông cho ra đời những tác

phẩm Phù du, Một kiếp đàn ông Và như thể định mệnh xui khiến, cuối đời

ông gặp được một người đàn bà thật "đặc biệt" để rồi ông lại có được tác

phẩm mang tên "Người đàn bà ngang qua đời tôi" ghi đậm dấu ấn cả văn

chương lẫn cuộc đời

Với Lý Biên Cương, do hoàn cảnh đặc biệt, ông có hai người vợ nên sự nhớ mong của ông đôi khi chỉ vu vơ thôi, nhưng vẫn bị giằng xé, bị dằn vặt,

bị ức chế, bị săm soi, bị oán hờn Nhìn góc này thì vời vợi sáng ngời, nhìn góc kia lại tối tăm Nhiều lần ông thành thật "Tớ biết, tớ là thằng đàn ông mắc tội lăng nhăng " [31,8] Ông dám thành thật, dũng cảm dám nhận lỗi lầm với vợ với con Ông đã dám đánh đổi cả công danh sự nghiệp để không phải là người giả dối Cuộc tình ngang trái của Lý Biên Cương, giới văn sỹ cả nước đã biết, nhưng chưa chắc ai đã thấu đáo nỗi lòng của ông Với Lý Biên Cương, ông đã dám đối mặt với lỗi lầm của mình Ông muốn gánh trách nhiệm về mình - dám làm dám chịu - cộng với cái tình trong ông mách bảo, cộng với bổn phận trách nhiêm của một người cha Năm 2001, vì lâm trọng bệnh, “trí sĩ tại gia”

đã nói như một lời chiêm nghiệm cho cuộc đời mình: “khi con người ta đau yếu, khi con người ta về già, mới thấy sợ điều này không phải ai muốn nhưng mình vẫn phải trải qua, chỉ có điều, mình là nhà văn, phải hiểu cho thấu đáo mà viết, để mà sống Tình người là quý nhất” [47] Ta có thể nhận thấy được điều này từ chính cuộc đời, từ chính những trang văn buồn nhưng

Trang 18

ấm áp tình người của ông Văn chương hay, thường chắt chiu từ những nỗi đau và từ những bi kịch của cuộc đời

Nhưng thành công trong văn chương bao nhiêu, được người đời yêu mến bao nhiêu thì cuộc đời ông là cả một chuỗi dài bất như ý Cho tận tới phút tàn hơi, nhà văn vẫn là một kẻ độc hành Bên cạnh ông vẫn thiếu vắng người bạn đời tri kỉ đúng như tâm nguyện Khi nghiên cứu tác phẩm Lý Biên Cương, chúng tôi đồng cảm hơn với những nỗi niềm sâu kín của nhà văn Dường như, văn đàn là nơi ông giãi bày bao tấm lòng riêng u uẩn, bao tâm trạng mà ông không biết chia sẻ cùng ai, chỉ biết gửi vào tác phẩm của mình

1.1.2 Sự nghiệp của nhà văn Lý Biên Cương

70 năm với 40 đầu sách, trên hành trình sáng tạo không ngừng nghỉ, Lý Biên Cương đã trải qua những mốc lịch sử và văn học đặc biệt: Chiến tranh chống Mĩ cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc; Thời hậu chiến

và tái thiết đất nước và thời kì đổi mới cùng với đó là trước và sau thời kì đổi mới văn học Gia tài của Lý Biên Cương được xếp vào loại “phong lưu” không chỉ trong giới văn chương của riêng vùng mỏ Quảng Ninh Lý Biên Cương từng trải nghiệm mình qua nhiều thể loại: truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết, thơ, kịch bản phim Ở đề tài và thể loại nào, ông cũng ghi lại những dấu ấn riêng rõ nét

Lý Biên Cương là một nhà văn tài năng, một nhà văn vừa vào nghề sớm lại vừa kéo dài tuổi nghề - một sự kéo dài đàng hoàng chứ không phải lê lết trong tẻ nhạt Trên nhiều trang viết của mình, ông luôn có một giọng điệu

riêng, một cách nói riêng sáng tạo độc đáo

Năm 1961 Lý Biên Cương tự nguyện xung phong về vùng mỏ Quảng

Ninh, công tác tại báo Vùng mỏ, nơi gắn bó với nền công nghiệp khai thác tập

trung than Tại nơi đây, ông có hướng tiếp cận riêng Trong cảm quan của ông, người thợ mỏ có thể khiếm khuyết chỗ này, chỗ khác nhưng phẩm chất của họ là cần mẫn, trung thực Qúa trình làm báo đã giúp ông thu thập, tích

Trang 19

lũy tài liệu và chọn một vùng quê văn học cho mình Lần lượt và đều đặn, ngót 40 tập sách là tiểu thuyết, là truyện ngắn, là kịch bản, là thơ được ra đời

Cuốn nào, trang nào cũng có bóng dáng của vùng than

Mặc dù trong giai đoạn chiến tranh chống giặc Mỹ bắn phá miền Bắc đặc biệt là vùng mỏ, nhưng Lý Biên Cương ít đi vào miêu tả sự khốc liệt của những trận chiến đấu với máy bay địch, cái sục sôi của biển cả, vẻ hào phóng

và thoáng đãng của kì quan thiên nhiên, mà dường như chỉ đi vào miêu tả cái

duyên phận của con người như: Bây giờ ta lại nói về nhau Trong giai đoạn

này nhân vật của ông chủ yếu được định hình ở một vài phẩm chất và phạm vi quen thuộc, lối dắt truyện còn đơn điệu và kết thúc truyện theo hướng trữ tình,

niềm riêng, mà ưu ái cảm thông với mọi điều trắc ẩn?

Sau ngày đất nước thống nhất, bước vào thời kì tái thiết đất nước, hàn gắn vết thương chiến tranh, hiện thực cuộc sống được Lý Biên Cương tái hiện

mở rộng hơn, sâu hơn và nhịp điệu cũng dồn dập hơn Biên độ ngòi bút của ông cũng vươn xa hơn Trong thời kì bao cấp những năm đầu của thời kì đất

nước mở cửa, ông có truyện làng quê đang chuyển mình như: Đất quê; Giai điệu thành thị, một thế hệ trẻ trong công cuộc tái thiết đất nước như: Ngày ấy

còn rừng rậm; Câu chuyện ngắn về con đường dài…

Trang 20

Đọc tác phẩm của ông trong thời kì này, có thể ghi nhận tác phẩm Đất quê được ông khai sinh năm 1986 là tác phẩm tiêu biểu hơn cả Nó như một

bước chuyển mình về dung lượng hiện thực, về phương pháp xây dựng nhân vật và mang đậm tính nhân văn sâu sắc, cũng như một kết thúc cho cách viết

thời bao cấp và mở ra khuynh hướng tìm tòi mới

Từ những năm cuối thập niên tám mươi trở lại đây, theo sát bước đổi thay của thời đại mới, truyện của Lý Biên Cương không chỉ bó hẹp đúng, sai trong phạm vi tư tưởng, phẩm chất và lương tâm người thợ mà ông còn hướng đến những mặt trái của đời sống xã hội, sự tha hóa của nhân cách bởi đồng tiền, nạn tham nhũng, suy thoái đạo đức Bộ mặt nông thôn đã dần đổi thay, đem lại cuộc sống dễ chịu hơn, nhưng nó cũng song hành nhiều tệ nạn cho người dân thôn quê Đã có những kẻ cơ hội, lợi dụng chức quyền và sự cả tin, ngây thơ mà lấy đi sự trong trắng của đời người con gái, đẩy họ vào hoàn

cảnh bi kịch như Phương (Phù du), Ngữ (Giai điệu thành thị) …

Lý Biên Cương còn là cây viết, phê bình đặc sắc Nhà văn viết về cố

nhà văn Võ Huy Tâm với cái nhìn sắc sảo mà chưa ai viết về tác giả Vùng mỏ

được như thế: “Cái hay của văn chương Võ Huy Tâm trước hết là dám đi trước thời cuộc nhiều điều Mỗi tác phẩm lớn của ông đều nói trước một vấn

đề gì đó còn lớn hơn chính bản thân tác phẩm ấy.Tiểu thuyết đầu tay Vùng

mỏ, giải nhất Giải thưởng Văn nghệ 1951-1952, ngỡ như chỉ là tiểu thuyết tả

cảnh phu mỏ đấu tranh chống bọn cai kí thời Pháp tạm chiếm khu mỏ, nhưng sức vóc tác phẩm lại vượt lên cả chính câu chuyện Lần đầu tiên người công nhân cách mạng trở thành nhân vật trung tâm của văn học, mở đầu và mở đường cho dòng văn học công nhân xuất hiện ở nước ta Cái hay của văn chương Võ Huy Tâm còn ở chỗ, qua ông, nét Việt Nam được thể hiện khá

đậm miêu tả những con người thợ Đọc Vùng mỏ của ông, không thể lẫn

người thợ Việt Nam với bất cứ người thợ nước ngoài nào Ông không lên gân, không làm duyên, viết như nói, viết tự nhiên như chính đời sống (và đó cũng

Trang 21

vừa là mặt mạnh lẫn mặt yếu của văn ông) Âm hưởng Việt Nam xuyên suốt

các trang viết về thợ mỏ, nhất là thợ mỏ cũ Cũng qua Vùng mỏ những trang

viết về lao động, về phong tục đám ma, đám cưới, về các cảnh sinh hoạt khác đều lấp lánh cái chất Việt Nam rất riêng kia” [47]

Không chỉ thành công ở lĩnh vực sáng tác truyện vừa ông còn viết tiểu thuyết cùng những bài viết phê bình sắc sảo Tạp văn của ông cũng đã ghi

được những dấu ấn nhất định trong lòng người đọc Tạp văn “Con người kể cũng hay hay” của Lý Biên Cương cái mà nhà văn đề cập đến chính là cái ở

ngoài đời ai ai cũng thấy Thấy nhưng chẳng mấy ai để tâm Nhà văn đã quan tâm đến khá nhiều vấn đề của đời sống xã hội hiện nay, trong đó có nhiều vấn

đề không chỉ quan tâm mà ông còn tỏ ra am hiểu khá sâu sắc và tường tận

Từ tình cảm tươi mát với làng quê của người con đi xa mỗi khi heo may rải đồng, cái vô cảm, thói hợm đời của kẻ mới có tí đồng tiền đã khoe mẽ, đến những vấn đề có tầm xã hội, chiều sâu văn hóa, đạo đức, truyền thống như việc làm nhà tình nghĩa, bồi dưỡng hiền tài, bệnh thành tích, hám chức và cả những vấn đề đang là mối lo của nhiều người như giải phóng mặt bằng, đất đai, xây dựng, môi trường đều được ông đề cập đến với ý thức công dân – nhà văn, đầy xây dựng thẳng thắn, có lý, có tình Có lẽ với ý thức ấy, nhà văn đã chọn một cách thể hiện ý tưởng khá nhuần nhuyễn với lối viết ngắn gọn, sâu sắc, trí tuệ mà vẫn đằm thắm tình cảm của người viết, trách nhiệm của nhà văn như thể quyện vào từng trang viết Ở một thể loại tương đối khó như tản bút Lý Biên Cương vẫn phát huy được lối viết dẫn truyện, khắc họa tính cách, hoàn cảnh với một mạch văn khá mượt mà, êm dịu đến ngọt ngào, mà có khi

lại là kiểu “mật ngọt chết ruồi” [24,4] Tản bút “Con người kể cũng hay hay”

của nhà văn Lý Biên Cương như một trong số những nhà văn đi tiên phong

trong thể loại tản văn, tản bút ở nước ta thời kì đổi mới, công nghiệp hiện đại

Tác giả Ngô Mai Phong đã phải thốt lên rằng: “Cuộc đời Lý Biên Cương là nghiệp dĩ của kẻ làm vườn, chỉ buông cuốc khi đã tàn hơi, không

Trang 22

còn đủ sức đứng lên nữa” [33,5] Và dường như văn đàn là nơi ông giãi bày bao nỗi lòng riêng u uẩn, bao tâm trạng mà ông không biết chia sẻ cùng ai, chỉ

biết gửi vào trong tác phẩm

Trong những sáng tác của ông, ở mảng truyện ngắn ông đã gặt được rất nhiều thành công tuy nhiên khi nghiên cứu phong cách Lý Biên Cương chúng

tôi tập trung nghiên cứu vào truyện vừa và tiểu thuyết Theo giáo trình Lý luận văn học thì tiểu thuyết được định nghĩa như sau“Tiểu thuyết là hình thức

tự sự cỡ lớn, nó đặc biệt phổ biến trong thời kì cận đại và hiện đại có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian Với những giới hạn rộng rãi trong hình thức trần thuật nên tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng” [11,482] Còn truyện vừa là thể loại văn xuôi tự sự cỡ trung bình So với tiểu thuyết, trần thuật của truyện vừa thường cô đọng, hàm súc hơn, bám sát sự phát triển của cốt truyện và đặc điểm nhân vật hơn Thế giới truyện vừa nói chung được tái hiện trong một khoảng cách xa hơn tiểu thuyết Chính vì vậy, phương diện đồ vật, tâm lý, ý nghĩ, ngôn ngữ … của đời sống không được tái hiện chi tiết, tường tận như tiểu thuyết Tiểu thuyết và truyện vừa là hai thể loại chiếm nhiều tâm huyết và công sức của ông, qua truyện vừa và tiểu thuyết văn phong Lý Biên Cương được thể hiện rõ nét Bởi tiểu thuyết và truyện vừa với điều kiện có một dung lượng hết sức rộng lớn, nó có khả năng phản ánh một phạm vi khá rộng của cuộc sống hiện thực cả về không gian lẫn thời gian, có khả năng đề cập đến những chủ đề lớn trên cơ sở miêu tả nhiều

số phận khác nhau, nhiều mối quan hệ phức tạp khác nhau

Từ những nghiên cứu trên, chúng tôi khẳng định rằng Lý Biên Cương

là nhà văn có phong cách Vậy phong cách nghệ thuật của một nhà văn là gì?

Nó được hình thành từ đâu? Để trả lời câu hỏi này, chúng tôi xin tiếp tục trình bày ở phần tiếp theo

Trang 23

1.2 Khái niệm phong cách nghệ thuật

Phong cách là một thuật ngữ không chỉ được dùng trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, mà còn được dùng trong nhiều ngành khoa học và đời sống xã hội Ngay trong giới nghiên cứu văn học, nhiều quan điểm, định nghĩa khác nhau về phong cách cũng đang tồn tại Chỉ ngay ở Liên Xô trong công trình

Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của văn học đã thống kê gần 20

cách hiểu khác nhau về phong cách Viện sĩ Nga D.X Likhatsep định nghĩa:

phong cách “là một hệ thống hình thức và nội dung nhất định, là “nguyên tắc thẩm mĩ để cấu trúc toàn bộ nội dung và toàn bộ hình thức” [19, 130] Tác giả đặc biệt nhấn mạnh sự kết hợp hài hòa giữa hai yếu tố nội dung và hình thức

của tác phẩm nghệ thuật Trong khi đó V Đneprov lại cho rằng phong cách

được coi như là hình thức toàn vẹn có tính nội dung Ông phát biểu “Phong cách là mối liên hệ của những hình thức, mối liên hệ đó bộc lộ sự thống nhất của nội dung nghệ thuật” [19, 133,] Từ những quan điểm khác nhau về phong

cách của những nhà nghiên cứu ngôn ngữ và văn học Nga, Khrapchenco đã

đưa ra ý kiến của riêng mình với một số điểm đáng chú ý sau đây: Phong cách

là khả năng thể hiện sự chiếm lĩnh cuộc sống bằng hình tượng; phong cách thực hiện vai trò trong sự hình thành cấu trúc bên trong của các hiện tượng văn học; phong cách thể hiện trong ngữ điệu, giọng điệu, cảm hứng sáng tạo, tính độc đáo trong sự miêu tả nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh, thể hiện trong cấu trúc tác phẩm, trong kết cấu, trong ngôn ngữ, trong thể loại, trong trường phái

… Ông cho rằng mỗi một nhà văn có tài đều đi tìm những biện pháp và những phương tiện độc đáo để thể hiện những tư tưởng và hình tượng của mình, những biện pháp và những phương tiện cho phép những tư tưởng, hình tượng

ấy trở nên hấp dẫn, dễ lôi cuốn, gần gũi với công chúng độc giả

Như vậy, xung quanh khái niệm phong cách còn có những quan điểm khác nhau Tựu trung lại có hai ý kiến cơ bản: Một nhấn mạnh sự thống nhất của những yếu tố nội dung và những yếu tố tạo thành hình thức của tác phẩm; một cho rằng phong cách được coi như là hình thức toàn vẹn có tính nội dung

Trang 24

Mặc dù tách bạch như vậy nhưng trong đó có sự thống nhất bởi các tác giả đều quan tâm đặc biệt đến hai yếu tố bộc lộ tài năng độc đáo của người nghệ

sĩ – nội dung và hình thức nghệ thuật của tác phẩm văn chương

Còn ở Việt Nam theo giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh, nhà phê bình văn học Việt Nam thì quan niệm:

Phong cách nghệ thuật là một khái niệm thuộc phạm trù thẩm mĩ Có nghĩa là, nhà văn phải thật sự có tài năng, phải thật sự sáng tạo ra được những

tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao mới được xem là có phong cách

Phong cách là một chỉnh thể nghệ thuật, mỗi nhà văn có phong cách tạo cho mình một thế giới nghệ thuật riêng Thế giới nghệ thuật ấy, dù phong phú

đa dạng thế nào, vẫn có tính thống nhất Cơ sở của tính thống nhất này là một nhãn quan riêng về thế giới và sâu xa hơn nữa là tư tưởng nghệ thuật riêng

của nhà văn

Phong cách bao gồm những đặc điểm độc đáo của tác phẩm của một nhà văn từ nội dung đến hình thức Nhưng phong cách là một cái gì cụ thể, hữu hình, có thể và mô tả được Cho nên nói phong cách, dù có đề cập đến nội dung tư tưởng, cũng phải chỉ ra được nội dung ấy đã được hình thức hóa

như thế nào

Phong cách một khi đã định hình, thì thường có tính bền vững Vì tạo

ra phong cách, ngoài thế giới quan, còn có rất nhiều nhân tố khác như: truyền thống gia đình, hoàn cảnh sống, môi trường sống tự nhiên,môi trường văn

hóa, thói quen, suy nghĩ …

Các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong cuốn

Từ điển thuật ngữ văn học đã định nghĩa: “Phong cách nghệ thuật là một

phạm trù thẩm mĩ, chịu sự thống nhất tương đối ổn định của hệ thống hình tượng, của các phương diện biểu hiện nghệ thuật, nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của một nhà văn, trong một tác phẩm riêng lẻ, trong trào lưu văn học hay văn học dân tộc” và khẳng định: “Trong chỉnh thể “nhà văn” (hiểu theo nghĩa là các sáng tác của một nhà văn), cái riêng tạo nên sự thống

Trang 25

nhất lặp lại ấy biểu hiện tập trung ở cách cảm nhận độc đáo về thế giới và ở

hệ thống bút pháp nghệ thuật phù hợp với cách cảm nhận ấy” [30,89] Thống

nhất với quan điểm đó, các tác giả cuốn Lý luận văn học (NXB Giáo dục,1987) xác định: “Phong cách là chỗ độc đáo về tư tưởng nghệ thuật có phẩm

chất thẩm mỹ thể hiện trong sáng tác của những nhà văn ưu tú” [11,482]

Sau khi tham khảo các quan niệm về phong cách, chúng tôi đưa ra quan

niệm của mình về phong cách

Trước hết, chúng tôi hiểu phong cách nghệ thuật của nhà văn là cá tính của chủ thể sáng tạo trong việc lựa chọn chất liệu và cách tiếp cận đối tượng nghệ thuật, cách thức xây dựng tác phẩm, các thủ pháp và phương tiện biểu đạt, nghệ thuật ngôn từ Sự biểu hiện đó trước tiên và bao giờ cũng đòi hỏi phải có sự độc đáo Nói đến phong cách nghệ thuật là nói đến dấu ấn cá nhân của người nghệ sĩ được in đậm lên tác phẩm Trong đó tư tưởng nghệ thuật

như một tiêu chí quan trọng vừa có ý nghĩa mở đầu, vừa có tính chất chủ đạo

Tìm hiểu phong cách nghệ thuật của một tác giả, chúng tôi không quan niệm đơn thuần chỉ là nghiên cứu những yếu tố có tính chất hình thức Ở đây, nói đến phong cách chúng tôi hiểu là nói đến sự thống nhất giữa nội dung và

hình thức

Nghiên cứu các lý thuyết về phong cách và soi chiếu vào các văn bản nghệ thuật cụ thể, chúng tôi hiểu rằng, phong cách được hình thành ngay từ lúc nhà văn mới cầm bút, nhưng lại vận động, phát triển, chịu ảnh hưởng của thế giới quan, môi trường sống Phong cách được hình thành trên cơ sở tài năng nhưng quá trình mỗi người viết tạo nên được cho mình một phong cách

là quá trình đòi hỏi sự nỗ lực trong sáng tạo, là cuộc hành trình để khẳng định

cái bản ngã cá nhân trong nghệ thuật của người cầm bút

Phong cách nhà văn là một quá trình vận động, phát triển không ngừng qua mỗi giai đoạn sáng tác Nhưng, mặc dù vậy cái riêng độc đáo có giá trị mang tính thẩm mỹ - cốt lõi phong cách, dù ở điều kiện hoàn cảnh nào cũng

Trang 26

ổn định, thống nhất Nó phải được “lặp đi lặp lại” một cách có hệ thống và luôn bị chi phối bởi cái nhìn độc đáo của nhà văn Chúng thường xuyên ở thế vận động, phát triển và chịu ảnh hưởng của thế giới quan, môi trường xã hội

và xu thế chung của thời đại Nhưng dù ở môi trường nào, xu thế xã hội ra sao, yếu tố thường xuyên được lặp lại ấy vẫn xuất hiện cho dù chúng ở thế lộ

thiên hay dưới mạch ngầm

Nghiên cứu phong cách văn xuôi Lý Biên Cương, chúng tôi cũng tiến hành trên cơ sở định hướng như vậy Để hình thành nên phong cách văn xuôi trữ tình Lý Biên Cương, có sự ảnh hưởng tác động của một số tiền đề Dưới đây,

chúng tôi xin trình bày các tiền đề tạo nên phong cách văn xuôi Lý Biên Cương

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phong cách nghệ thuật của Lý Biên Cương

1.3.1 Yếu tố thời đại

Lý Biên Cương là nhà văn sớm bộc lộ năng khiếu văn chương của mình từ thủa nhỏ Các sáng tác của ông nằm cả ở hai thời kì chiến tranh và hòa bình Ở mỗi giai đoạn sáng tác, yếu tố thời đại cũng đã có ảnh hưởng

không nhỏ đến phong cách văn xuôi Lý Biên Cương

Thắng lợi cách mạng Tháng Tám năm 1945, rồi sau đó là thời kì xây dựng Chủ nghĩa Xã hội từ 1955 đã mở ra một kỉ nguyên mới của lịch sử văn học dân tộc Đó là một “cuộc tái sinh mầu nhiệm”, mở ra một thời đại mới cho cả một dân tộc Đó là một thời đại mới với nhịp độ sống khẩn trương

“một ngày bằng 20 năm”, thời đại của nhân dân được giải phóng và tự do vươn lên làm chủ số phận của mình Có thể nói văn học 1945 – 1975 là một giai đoạn văn học giàu cảm hứng ngợi ca, chan chứa tình cảm yêu nước và cao hơn là chủ nghĩa anh hùng của thời đại Cách mạng vô sản, dạt dào tuôn chảy trong các sáng tác văn chương Hầu hết các cây bút, các tác phẩm văn chương đương thời đều thuận theo quỹ đạo ngợi ca Và cũng không ngoại lệ,

Lý Biên Cương cũng cuốn vào dòng chảy ào ạt ấy theo cách riêng của mình

Trang 27

Là một thanh niên có bản lĩnh, có suy nghĩ đúng đắn về cuộc sống Lý Biên Cương sớm nhận ra ý thức trách nhiệm của người thanh niên và lựa chọn cho mình con đường đi đúng đắn Ngay khi rời ghế nhà trường, năm

1961 Lý Biên Cương tự nguyện xung phong về vùng mỏ Quảng Ninh Ở đây, ông có điều kiện tham gia trực tiếp vào cuộc sống chiến đấu đầy gian khổ nhưng hào hùng của dân tộc Chính thực tế cuộc sống nơi vùng mỏ anh hùng làm ông hiểu rõ hơn về cuộc kháng chiến chống Mĩ gian khổ, ông miêu tả

“Đạn gầm dữ dội Đạn nổ trắng từng cụm bông trên trời Chiếc máy bay bổ nhào ngóc vội đầu, bỗng xé ra làm đôi, cháy rừng rực Bom nổ mù mịt Khói đen đặc khắp trận địa” [8,127] Đồng thời qua đó ông được chiêm ngưỡng, tái hiện những con người mang lý tưởng cao đẹp của thời đại Và những thay đổi

kì diệu của cuộc sống hòa bình và công cuộc xây dựng miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa “Mặt đất bừng sáng hàng nghìn ngọn đèn cao áp đủ màu, chiếu rõ từng chi tiết nhỏ của một mặt bằng công nghiệp đang xây dựng nhà máy nhiệt điện

cỡ lớn Mắt hoa lên, tai họ ù đi bởi cái nhịp điệu công nghiệp dồn nén khắp ngả: lửa hàn loang loáng dọc khu nhà máy chính đang mở rộng các tổ lò hơi; ống khói lừng lững tỏa khói ngang trời như không để ý tới các máy tua bin rầm rĩ vận hành; xe bật pha ánh sáng dền mắc cửu ngang dọc khắp các tuyến

đường bê tông” [8,261]

Bằng trái tim của người nghệ sĩ đa cảm, giàu yêu thương, ông đã đón nhận những vang động của thời đại để tạo ra những trang văn thấm đẫm chất

trữ tình và lòng tin yêu vào cuộc sống và con người

Thời kì sau 1975, đất nước thống nhất, lịch sử đã sang trang và thực sự bắt đầu một thời kì mới Đất nước hòa bình đã tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi cho công cuộc xây dựng và tái thiết cuộc sống mới Với một thời đại mới cùng những biến động lớn của đời sống xã hội, yêu cầu của thời đại, sự phức tạp của cuộc sống, sự đa dạng của tính cách con người, sự thay đổi của thị hiếu thẩm mĩ của công chúng thưởng thức văn học, đòi hỏi nhà văn cũng phải thay đổi tư duy, cách nghĩ, cách viết, không thể cứ giữ mãi những cái nhìn

một chiều về con người và cuộc sống

Trang 28

Một trong những đề tài vẫn tiếp nối các tác phẩm văn học thời kì trước

1975 là đề tài chiến tranh Ở đó là cả một thế giới cao cả, cái đẹp đang vươn lên trên sự tàn phá, hủy diệt của bom đạn, là thế giới của lòng dũng cảm, của tình người và lòng thủy chung Nhưng đến lúc này, với những biến động của

xã hội đã tác động đến cuộc sống khiến cho số phận của con người đổi thay, vấn đề nhân sinh thế sự cũng đặt ra những câu hỏi lớn khiến người viết phải

suy nghĩ và có thái độ nhìn nhận thích hợp

Nằm trong xu hướng chung đó, những sáng tác của Lý Biên Cương từ những năm cuối thập niên tám mươi trở đi, theo sát bước đổi thay của thời đại, truyện của Lý Biên Cương không chỉ bó hẹp đúng sai trong phạm vi tư tưởng, phẩm chất, lương tâm của người thợ mỏ mà ông còn hướng đến những mặt trái của đời sống xã hội Nhiều mảng tối của cuộc sống được đề cập đến,

và trong sáng tác của ông đã xuất hiện cái bi kịch Nhưng với Lý Biên Cương,

dù có viết cái bi kịch thì trong các tác phẩm của ông vẫn chất chứa niềm tin

và cái nhìn không bi quan trước hiện thực Cuộc sống trong các tác phẩm của ông dù có thay đổi đến mức nào đi nữa thì vẫn tồn tại những con người hết

lòng vì lý tưởng như Vân, Hiệp (Câu chuyện ngắn về con đường dài), những nhà khoa học chân chính như Qúy (Giai điệu thành thị), những tình yêu đẹp như Nhân, Vấn (Sóng cửa sông), những con người hết lòng vì người khác như giám đốc Bảng (Một kiếp đàn ông) Vẫn là Lý Biên Cương với những trang

viết giàu chất trữ tình của hơn hai mươi năm về trước, nhưng giờ đây đã có thêm những sắc thái, giọng điệu mới Lý Biên Cương đã bắt nhịp được với cuộc sống đương đại, khám phá ra nhiều vỉa tầng của hiện thực và nó thể hiện

bằng một lối viết “đằm chín” và ấn tượng

1.3.2 Quê hương và gia đình

Trang 29

Kinh thành Thăng Long, là địa bàn chiến lược, với những vị trí trọng yếu

trong các cuộc chiến tranh giành và bảo vệ nền độc lập của dân tộc

Những điều kiện địa lý, lịch sử và con người nói trên đã là nguyên nhân làm cho xứ Đông trở thành nơi sinh ra nhiều danh nhân, thành nơi mời gọi nhiều anh tài bốn phương về đây lập nghiệp Không phải ngẫu nhiên, Lê Đại Hành chọn núi rừng An Lạc đóng đại bản doanh chỉ huy trận Bạch Đằng đại thắng năm 981; Trần Hưng Đạo - vị tướng tài kiệt xuất, Nguyễn Trãi - danh nhân văn hoá thế giới cùng Chu Văn An, người thầy tiêu biểu mẫu mực của muôn đời, đó là những nhân vật vĩ đại bậc nhất của đất nước, đã gắn bó máu thịt với Hải Dương Cuộc đời, sự nghiệp của của các danh nhân cùng quá trình lao động sáng tạo của đông

đảo nhân dân, qua nhiều thế hệ, đã làm cho Hải Dương - "đất học", "đất danh nhân", "đất văn hiến" - xây dựng được nhiều truyền thống quý báu, để lại một kho

tàng văn hoá thật phong phú, đa dạng và độc đáo Đó là một khối lượng lớn văn hoá vật thể và phi vật thể rất giá trị, với hàng ngàn di tích quý, hàng trăm làng nghề lâu đời, nhiều sản phẩm văn hoá ẩm thực và nhiều lễ hội truyền thống đặc sắc, nhiều sinh hoạt văn nghệ dân gian nổi tiếng như hát chèo, hát đối, hát

trống quân, cò lả và rất nhiều bài ca dao dân ca làm say đắm lòng người

Cùng với lễ hội dân gian, nghệ thuật chèo cũng phát triển sớm, sâu rộng và đạt nhiều thành tựu, khiến xứ Đông thành một cái nôi chèo của vùng đồng bằng Bắc Bộ Cùng với chèo, hát ca trù trên đất Hải Dương cũng rất phổ biến, với không ít nghệ nhân tài ba

Năm 1961 Lý Biên Cương tự nguyện xung phong ra công tác tại vùng

mỏ Quảng Ninh Mảnh đất này như trở thành quê hương thứ hai của ông Quảng Ninh vùng đất nằm ở địa đầu phía Đông Bắc của Việt Nam Một vùng đất giàu tiềm năng về nhiều mặt Quảng Ninh là một trong những số ít những tỉnh có trữ lượng than lớn nhất nước ta, hơn một trăm năm nay các mỏ than của Quảng Ninh đã liên tục hoạt động đem lại nguồn thu nhập quý giá cho tổ quốc Cũng tương ứng với số năm hoạt động ấy là lớp công nhân mỏ Quảng

Trang 30

Ninh ngày đêm lao động miệt mài trong các vùng mỏ và gắn bó máu thịt với vùng mỏ Và một cách tự nhiên hình ảnh người công nhân mỏ đã trở thành một hình ảnh hấp dẫn đối với lớp lớp nghệ sĩ Quảng Ninh trong đó có Lý

Biên Cương

1.3.2.2 Gia đình

Ông sớm được thừa hưởng tình yêu văn chương từ nhỏ của người bố

“Một nhà nho lỗi thời, thiếu cơm no áo ấm nhưng thừa thời giờ bắt con làm thơ” [7,192] Từ người bố ông học được luật bằng trắc, cách đối trên chỉnh dưới theo thơ Đường luật “Cũng trên sáu dưới tám vần bụng vần lưng theo lục bát” [7,192] Rồi “cắp tráp, rửa ấm chén theo hầu mấy cụ trong phố chiều chiều hàn huyên, thách đố họa thơ nhau Nghe nhiều câu chữ ăn vào bụng, học hành chưa đâu vào đâu nhưng đã có thể xướng họa theo đuôi những

người lớn” [7,192]

Thêm vào đó là người mẹ “chữ nghĩa cọc cạch” [7, 197], nhưng sống với con cháu hết lòng, đặc biệt bà có giọng hát chèo thật mặn mà và lời hát ru ngọt ngào đằm thắm Thủa nhỏ bà là một đào chèo nổi đình đám, nhờ giọng hát hay mà nên duyên cùng bố ông và nhờ có bà, “từ rất trứng nước, tôi được

hưởng hàng ngày các làn điệu “duyên phận phải chiều”; “cấm giá”; “sử dầu”… Tôi còn nghe đâu đây tiếng mẹ tôi hát: “này thầy tiểu ơi Thầy như táo rụng sân đình Em như gái dở đi rình của chua” [7,197] Hai con người,

hai học vấn, hai cách sống khác hẳn nhau mà ăn ở với nhau đằm thắm, thương quý nhau đến trọn đời Chính những lời hát chèo tuổi thơ đã đi vào trong những trang viết của ông một cách tự nhiên như hơi thở cuộc sống tạo nên

dấu ấn riêng không thể trộn lẫn trong văn phong của ông

Lý Biên Cương gắn bó cuộc đời với hai người phụ nữ Người phụ nữ thứ hai ông quen trong chuyến công tác ngắn ngày ở Thái Nguyên Đó là người đàn bà đẹp, sung mãn và trẻ hơn ông chừng 15 tuổi Nếu ai đã đọc

truyện vừa “Người đàn bà đi ngang qua đời tôi” của Nhà văn Lý Biên Cương

Trang 31

sẽ thấy, nhân vật chính trong truyện giống nguyên mẫu của ông Mối tình của ông với người đàn bà này bị một số văn nghệ sỹ ở Thái Nguyên chê trách Nhưng nếu ai ở trong hoàn cảnh của ông, thấy nỗi cô đơn triền miên của ông chắc sẽ thông cảm với ông Họ không cưới nhau, chỉ làm mấy mâm cơm ra mắt gia đình họ hàng Mấy năm đầu họ sống ngập tràn hạnh phúc “Tôi nhớ,

có lần tôi mời họ đến nhà tôi ăn cơm Trong bữa, họ ngồi bên nhau, gắp thức

ăn cho nhau, gương mặt họ hân hoan, tươi trẻ lạ lùng Khi ra về, họ ngồi trên

xe máy, ôm eo thật tình tứ, lãng mạn Vậy mà, không hiểu lí do gì mà nay xẩy

ra mâu thuẫn, đến nỗi ông phải bỏ nhà ra đi? Tôi hỏi lí do? Ông không giải thích, chỉ kêu buồn” [48] Đứng được đến ngày nay, ông đã chịu biết bao gian truân mà người đời đâu có hiểu

Nếu nhìn sâu vào một góc nữa - ta nhận ra bao năm nay, những ai gần gũi ông mới hiểu cảnh tình gia đình ông, mới thấy rõ ông đã hết lòng với người vợ càng ngày bệnh tình càng nặng Hai người phụ nữ - hai mảnh đời thầm lặng đi song song bên cạnh cuộc đời ông Hai con người đã ảnh hưởng rất lớn đến những sáng tác của ông, đến ngòi bút cũng như quan niệm văn chương của ông

Như vậy, sự hình thành phong cách văn xuôi Lý Biên Cương như một

hệ quả tất yếu của các yếu tố quê hương, gia đình, thời đại Yếu tố gia đình, vùng quê Hải Dương địa linh nhân kiệt,cộng với quê hương vùng mỏ Quảng

Ninh chính là cái “nôi” nuôi dưỡng một phong cách văn xuôi giàu chất trữ tình

Bên cạnh đó, cùng với những vang động của thời đại được nhà văn trải nghiệm bằng chính cuộc sống của mình đã góp phần nuôi dưỡng thêm sự nhạy cảm, tinh tế của trái tim nghệ sĩ đa cảm Nếu như quá khứ gian khổ mà hào hùng cho nhà văn một niềm tin mãnh liệt vào con người thì trong cuộc sống hôm nay, dẫu có nhiều trắc trở, đổi thay thì niềm tin ấy vẫn nguyên vẹn trong ông Nó được bắt nguồn sâu xa từ một tấm lòng nhân hậu, bao dung và

gần như tin tuyệt đối vào tình người, tình đời

Trang 32

Đó cũng là hệ quả của sự lựa chọn hướng sáng tác phù hợp với ý thức mỹ cảm cũng như đặc điểm tố chất của nghệ sĩ ở bình diện thẩm mĩ nghệ thuật

1.3.3 Trong “đội ngũ các nhà văn” vùng mỏ

Lý Biên Cương thuộc vào số các nhà văn của vùng mỏ Các sáng tác của họ hấp dẫn ông, và trong môi trường văn học ấy ông cũng có vị trí riêng của mình Ở đây, lướt qua mấy nét về đội ngũ các nhà văn vùng mỏ, các nhà văn thuộc một vùng văn hóa, văn học là những con chim bay ra từ cùng một

tổ Chúng tôi đề cập đến phong cách văn học của vùng mỏ tiêu biểu là Võ Huy Tâm, Tô Ngọc Hiến cùng với Lý Biên Cương làm thành “Cỗ xe tam mã

của văn chương vùng mỏ” [40,8]

Nhà văn Võ Huy Tâm được coi như người khai mở mạch sáng tạo văn chương đất mỏ bằng các tác phẩm quan trọng, đánh dấu cột mốc đầu tiên cho lực lượng văn học quá mỏng ở vùng than Đông Bắc bằng mấy tập tiểu thuyết:

Vùng mỏ, Những người thợ mỏ, Vỉa than lớn cùng gần chục tập truyện ngắn,

truyện vừa chỉ viết về đề tài đất mỏ … Những tác phẩm của ông đã đi cùng năm tháng, khắc họa con người thợ mỏ cũng như đời sống từ đấu tranh Cách mạng đến xây dựng Chủ nghĩa Xã hội ở Miền Bắc Võ Huy Tâm đến với văn học bằng con đường khá độc đáo Ông học chưa đến bậc bổ túc bình dân, hàng ngày vừa phải lao động cật lực, phải tham gia đấu tranh với kẻ thù

Nhưng lòng quyết tâm sáng tác của ông đã chiến thắng tất cả Tác phẩm Vùng

mỏ của ông được giải nhất về truyện của Hội Văn nghệ Việt Nam năm 1951 –

1952 Mặc dù vậy, Vùng mỏ vẫn là một kết quả tự nhiên, dường như người

viết chưa nhận biết trước, ít có sự chuẩn bị, một kết quả phần nhiều dựa vào kinh nghiệm tự nhiên của người trong cuộc Vấn đề đặt ra lúc này là làm sao vượt qua khả năng bẩm sinh đó, đưa những tác phẩm của mình đến đỉnh cao hơn, có nhiều sáng tạo hơn Đó là điều thử thách lớn đối với tất cả những người cầm bút, nó phân biệt rất rõ giữa tài năng thật sự được rèn luyện, được phấn đấu bằng toàn bộ tâm sức của người nghệ sĩ chân chính với những ai

Trang 33

đùa bỡn với nghệ thuật, coi kết quả nghệ thuật là một sự may rủi, lấy nghệ thuật làm con đường thăng quan, tiến chức Lâu nay, khi nhắc tới Võ Huy Tâm, người ta nghĩ đến ngay một nhà văn có vốn hiểu biết khá dồi dào và đa dạng về đời sống công nghiệp mỏ và những người thợ mỏ Những điều quý báu đó không dễ ai cũng có được như Võ Huy Tâm Vốn sống đó cùng với lòng yêu say đắm về con người và cuộc sống nơi vùng mỏ mới có thể tạo ra những trang viết sôi sục căm thù với sự bóc lột của cai kí, chủ nợ, mới viết

lên những câu bừng bừng sức sống trên trang giấy Sau thành công của Vùng

mỏ nhà văn viết tiếp Những người thợ mỏ và Đi lên đi nhưng trên thực tế hai

tác phẩm của ông viết về những người thợ mỏ Xã hội Chủ nghĩa mới cho thấy một phần nào sự phong phú và đa dạng của những con người lao động trong hoàn cảnh mới Phải chăng, vì nhận ra điều này mà sau đó, Võ Huy Tâm lại chủ yếu quay về đề tài người công nhân trong xã hội cũ Sự tự hiểu mình của nhà văn thật đáng quý, bởi vì hơn ai hết, bạn đọc sẽ là người phán xét nghiêm khắc và khách quan nhất trước những thành công và những khuyết điểm, trước những trang hay và trang dở của tác phẩm Võ Huy Tâm luôn đứng ở cuộc sống ngày hôm nay để nhìn lại một cách sâu sắc và sáng tỏ những vấn

đề của xã hội vùng mỏ trước kia, một Võ Huy Tâm xứng đáng với danh hiệu

mà bạn đọc Việt Nam đã đặt cho ông: Nhà văn công nhân Ông là con người

“không thể thay thế, là nhà văn tiêu biểu nhất trên một miền đất không chỉ với một, hai thế hệ” [40,8]

Sau tên tuổi của Võ Huy Tâm xuất hiện, gần 20 năm mới thấy Lý Biên Cương, Tô Ngọc Hiến, Nguyễn Sơn Hà, Hoàng Văn Lương … góp mặt trên văn đàn Bên cạnh vẻ chải chuốt, duyên dáng của Lý Biên Cương, chất tình cảm mộc mạc của Nguyễn Sơn Hà, Hoàng Văn Lương, người đọc chú ý đến một lối viết chắc khỏe và điềm tĩnh của Tô Ngọc Hiến Ông đã tìm tòi một cách viết mới về sự trưởng thành, lớn lên của người thợ, về ý thức làm chủ bản thân mình và ý thức vươn lên làm chủ khoa học kĩ thuật Điều quan trọng

Trang 34

là, trong rất nhiều chi tiết ngổn ngang của đời sống công nghiệp, tác giả đã biết gọt giũa, loại bỏ bớt để lượm nhặt cái phần cốt lõi Và nhất là biết chọn những thời điểm, những hoàn cảnh chứa đựng nhiều kịch tính giúp cho sự phô bày tính cách và vấn đề: Trách nhiệm đạo đức của xã hội trong sự hình thành những phẩm chất tốt đẹp của người thợ, đồng thời sự thức tỉnh trong ý thức nhân vật, sự suy nghĩ nghiêm túc về mình và xung quanh Đáng chú ý là hầu hết những truyện mang chủ đề này, Tô Ngọc Hiến đã dùng hình thức tự sự Đây là cách thể hiện tương đối quen thuộc, dễ viết nhưng khó hay Đòi hỏi người viết phải hiểu biết sâu sắc cái cốt lõi tinh thần của người thợ Với những tập truyện của mình, có lẽ Tô Ngọc Hiến thành công hơn ở những trang viết về người thợ ở trạng thái động, nghĩa là khi họ được gắn với vận hành máy tiện, với vành vô lăng xe bò tót, trong chớp sáng hồ quang, với những lời đối thoại chao chát, ồn ào nơi hiện trường Đó là những nhân vật sống trong những hành động sản xuất Còn ở trạng thái tĩnh, nghĩa là cái phần sống bên trong của nhân vật, với cách nghĩ, cách cảm của người thợ ở đằng sau công việc, trong những mối quan hệ xã hội phức tạp khác, thì đây đó, còn gượng, còn nặng nề chất suy diễn duy lý Điều đó làm giảm đi cái phần hồn hậu, tươi tắn, vẻ giản dị vốn có ở con người thợ Khi họ ngồi một chỗ bên chiếc xe chết máy dọc đường đêm, đốt đống lửa, châm điếu thuốc, thì hình như họ nói và nghĩ theo cách nghĩ của ai đó, chứ không còn của họ nữa rồi

Và có lẽ Tô Ngọc Hiến đã ý thức được điều này khi ông tâm sự về mảnh đất nghệ thuật của mình, về triển vọng cũng như giới hạn cần phải vượt qua ở nó:

“ Cái nghề nghiệp và công việc hiện nay của tôi mới chỉ là cái vốn rất nhỏ bé,

chật hẹp và câu chuyện Người kiểm tu hôm nay mới chỉ là một câu chuyện

nhỏ bé trong câu chuyện lớn của cuộc đời tôi yêu” [20,170] Phải chăng, vì vậy Tô Ngọc Hiến có lẽ là nhà văn duy nhất được bạn đọc lấy tên tác phẩm

gọi thay cho tên tác giả: Người kiểm tu

Trang 35

Trong những năm (1968 - 1996) diễn ra cuộc đua tranh lý thú của cỗ xe song mã mang tên Tô Ngọc Hiến – Lý Biên Cương Cuộc đua khá căng thẳng nhưng vô cùng hứng khởi Đúng như người ta vẫn nói: Đường dài mới biết ngựa hay Xét kĩ càng thấy nét độc đáo lạ lùng trong cuộc đua này, với các quy định bất thành văn không công bố, chỉ hai người hiểu ngầm với nhau Hai cao thủ chỉ đổi công bằng truyện ngắn và các truyện ngắn phải cùng được khai thác trong cùng một kho đề tài: Miền mỏ Hai cây bút đang có độ sắc sảo bám sát nhau về nội dung, có cách thể hiện rất riêng ở từng truyện Một bên là khung cảnh và nhân vật hiện ra xù xì, thô nháp nhưng trong lòng lại đôn hậu; bên kia con người có tình, ấm áp, thiên nhiên mượt mà

Đã đeo lấy nghiệp văn chương ắt phải trả nợ bằng cả đời cầm bút Cả

ba tác giả Võ Huy Tâm, Lý Biên Cương, Tô Ngọc Hiến đều đã thực hiện đúng quy luật của muôn đời “ Đó là ba chàng ngự lâm pháo thủ làm thành cỗ

xe tam mã – cỗ xe phi nước đại trên con đường văn chương hơn năm mươi năm, vượt qua chiến tranh, vượt qua nghèo khó, vượt qua cả sự cám dỗ, băng băng lao về phía trước, bỏ lại đằng sau sức trẻ, tuổi xuân và trí tuệ nơi mảnh đất than nóng bỏng, thanh thản ra đi mà không chờ danh vọng” [40,8]

1.3.4 Quan niệm nghệ thuật của Lý Biên Cương

Yếu tố cốt lõi tạo cơ sở cho phong cách văn xuôi Lý Biên Cương không chỉ là hoàn cảnh gia đình, xã hội, quê hương mà còn là quan niệm về văn chương của tác giả Ngay từ những ngày đầu cầm bút, Lý Biên Cương đã

có một quan niệm văn chương riêng

Trong thư trả lời Nhà xuất bản Đà Nẵng hỏi: “Hồi nhỏ nhà văn học văn

như thế nào?” Ông nói: “Không phải thủa nhỏ, cả đến sau này thoát ly xa nhà, tôi vẫn không mảy may nghĩ mình sẽ trở thành nhà văn Hai tiếng “nhà văn” nghe mới kiêu sa, mới cao vời vợi, của những ông “ốp”, “ép” nước ngoài nào, ít ra cũng của mấy ông Nam Cao, Nguyễn Tuân, Tô Hoài trong

nước, ngữ đâu đến mình Bén mảng tới họa có trời sập” [7,191]

Trang 36

Nhưng chính lòng ham đọc, ham học hỏi cùng với những giọt nước mắt tuổi thơ đã đưa lại cho ông những suy nghĩ đầu tiên về nghề văn “Mình đâu biết những giọt nước mắt ấy chính là sợi chỉ đầu tiên khâu suốt cuộc đời văn học riêng mình về sau Các bạn nhỏ ơi, hình như không có gì làm rung động tuổi thơ ta lại không có ích ít nhiều cho sự nghiệp của chúng ta Biết yêu thương đến nao lòng trước mọi buồn vui sẽ giúp ta nhìn cuộc đời nhanh hơn, cho phép ta đến với văn chương nhanh chóng hơn Tôi chẳng tin ai kia sống thiện làm điều ác chẳng một chút ăn năn lại có thể viết nổi những trang viết đẹp, có ích cho con người Tôi cũng chẳng mấy tin nhà văn thiếu tuổi ấu thơ lại có thể sáng tạo nổi những dòng chữ rung cảm trước những gì tốt đẹp, nhân bản nhất của cõi người Họ có viết được thì cũng hãn hữu, thiên tài

nhất thì” [7,192]

Những cóp nhặt, suy nghĩ, trò chơi con trẻ đã dần nuôi dưỡng cái máu văn chương trong ông, giúp ông tiếp cận với cái đẹp, cái hay của nghệ thuật ngôn từ Lớn lên, hiểu thêm những sâu sắc thâm trầm, những ý tưởng gởi gắm, những mạch ngầm chằng chéo của tác phẩm và của người viết thì càng thấy thêm văn chương có sức mạnh kì ảo tới đâu Và chính những trò chơi

chữ nghĩa thuở ấu thơ thật sự đã đẩy sự nghiệp của ông tiến xa

Theo ông, văn chương đâu chỉ mỗi tả cảnh mà nó còn phải tả người, tả những hành động của con người Thậm chí nó chẳng mấy tả cảnh lẫn tả người, chỉ đối thoại cũng thành truyện Văn chương của ông chuộng tả cảnh hơn, “Tả sao không dẫm vào câu chữ người viết trước và cảnh ấy là những dòng văn riêng thuộc chính mình” [7.195] Với ông nghề viết là một nghề cực nhọc, tinh xảo Cần phải rất công phu và có lòng tự trọng, tự tôn với tác phẩm của mình Ý thức sâu sắc về ngòi bút của mình, về cái “tạng” của riêng mình,

Lý Biên Cương đã sớm nhận ra con đường sáng tạo riêng Ông tâm sự: “Tôi không mày mò viết những điều mình chưa tỏ, hoặc phóng bút cao giọng chuyện đâu đâu Tôi thích nói những cái vặt vãnh quanh mình, thật bình

Trang 37

thường, thật bé nhỏ Tôi đồ rằng các nhà văn mình không nên bới tìm những thứ quá cao xa, quá tầm tay với Hãy diễn tả hết vẻ đẹp ở chính ngay những cái tưởng chừng bé bỏng, tầm thường, những cái người khác không thấy hoặc không nhìn ra” [7,195] Những điều bình thường giản dị lại chính là nét đẹp của cuộc sống, là nguồn cảm hứng vô tận, dạt dào cho ngòi bút chảy tuôn không ngừng nghỉ, mệt mỏi chính cuộc sống bình dị quanh mình mới là mảnh đất để nhà văn khai phá Quan niệm này của ông phải chăng đã bắt gặp được quan niệm về văn chương của Tô Hoài “Đời sống xã hội quanh tôi, tư tưởng và hoàn cảnh của chính tôi đã vào cả trong những sáng tác của tôi Ý nghĩ tự nhiên của tôi bấy giờ là viết những sự xảy ra trong nhà, trong làng

quanh mình”

Suy nghĩ về nghề văn ông bộc bạch: “Tôi yêu văn chương từ lúc bé, từng bị ăn đòn nhiều lần vì mải đọc sách không trông được các em Văn chương như ngọn lửa, một ngày không cầm sách đọc hoặc không viết thì cuộc đời cảm thấy lạnh lắm Đi với văn chương nhiều lúc cũng quá buồn, thấy trang viết sao mà nghiệt ngã, sao mà cô đơn, sao mà thăm thẳm Chẳng biết những dòng chữ này liệu có ích đến đâu, hay lại rơi tõm vào cái mà loài người đang bù đầu lo cho sinh kế hàng ngày, mỗi lúc một xa vời, không mấy đoái hoài đến” [7,195] Đọc những dòng chữ này ta thấy ông đau đáu một nối niềm khôn nguôi trước nhân tình thế thái, trước những đổi thay không định trước được của tình đời, tình người khi cuộc sống còn lắm mưu sinh, lắm lo toan cơm áo Người sáng tác nào cũng hi vọng thắp sáng một ngọn đèn văn chương riêng biệt, sợ nhất một đời văn lờ đờ nước hến, dở đục dở trong, tổ là

khổ mình và mất thời giờ của thiên hạ

Ngay từ những trang sách đầu tiên của đời viết văn, Lý Biên Cương đã thể hiện một chủ nghĩa nhân văn truyền thống Ông đã có quan niệm rất riêng rất mới mẻ về con người với một tấm lòng nhân hậu bao dung Ông có một quan niệm về con người hết sức trong sáng, nhân ái, vị tha Văn học là nhân

Trang 38

học Quan niệm về văn học của ông gắn liền với quan niệm nghệ thuật về con người Trong thế giới nhân vật của ông không có kẻ ác và rất ít kẻ xấu Bởi quan điểm thẩm mĩ của ông rất rõ ràng: Ông lấy mặt tốt, mặt sáng để phủ nhận cái xấu, cái tối tăm còn vương vất, thậm chí còn đè nặng quanh ta Những điều xấu chỉ là cơn mưa bóng mây, chúng sẽ mất hút và tan biến khi

trời tỏa nắng

Chưa thể gọi một cách chính xác tư tưởng nghệ thuật của Lý Biên Cương như trường hợp Nam Cao, Nguyễn Tuân Hoàn cảnh, thời gian, bạo bệnh … đã khiến ông “ra đi” vào thời điểm đỉnh cao của tài năng Song cảm hứng về con người với những nỗi niềm trong đời sống, tinh thần, trong cuộc mưu sinh, trong các mối quan hệ giữa con người …vẫn là mối quan tâm lớn của ông Với nguồn cảm hứng này, Lý Biên Cương đã thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của mình, tạo nên những tình huống khác nhau, thay đổi điểm nhìn trần thuật, hình thành giọng điệu và bản sắc riêng mình trong ngôn ngữ nghệ thuật Tất cả những điều đó, trong sức mạnh tổng hợp của nó, đã làm nên một Lý

Biên Cương với tư cách là một trong những nhà văn tiêu biểu của vùng đất mỏ

Với quan niệm về một nhà văn, về lao động viết văn, về sự đổi mới trong văn học và quan niệm về con người như vậy, cùng với sự kết hợp của các tiền đề: Quê hương, gia đình, thời đại đã kết tinh lại để tạo nên một phong cách văn xuôi nghiêng về trữ tình pha chất men lãng mạn và thiên về miêu tả chất thơ trong cuộc đời bằng một giọng điệu rất riêng, một dấu ấn Lý

Biên Cương không thể trộn lẫn trên văn đàn

Trang 39

Chương 2 NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRONG VĂN XUÔI

LÝ BIÊN CƯƠNG

Phong cách là sự tổng hợp những nét riêng trong sáng tác của nhà văn

Nó bao gồm cả các yếu tố bút pháp, thi pháp, nhưng các yếu tố bút pháp này lại gắn liền với nhãn giới tức là quan niệm về thế giới của nhà văn, tức là liên quan đến các yếu tố nội dung Đối với phong cách nhà văn trong thể loại tự sự tìm hiểu phong cách trước hết là chỉ ra cái riêng trong xây dựng nhân vật vì nhân vật là một yếu tố trung tâm của thể loại truyện, nhất là với các truyện viết theo lối truyền thống (tức không phải hậu hiện đại) Truyện của Lý Biên Cương là loại truyện viết theo lối truyền thống như vậy

2.1 Thế giới nhân vật trong sáng tác Lý Biên Cương

Thế giới nhân vật là sự sáng tạo nghệ thuật, là sản phẩm của hoạt động

có ý thức của nhà văn Thế giới đó không chỉ tồn tại trong tác phẩm văn học

mà còn tồn tại trong trí tưởng tượng của đọc giả Nó có thể thống nhất nhưng

không đồng nhất với thực tại

Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Nhân vật văn học là con người cụ thể

được miêu tả trong các tác phẩm văn học Nhân vật văn học có thể có tên riêng (Tấm Cám, chị Dậu, anh Pha), cũng có thể không có tên riêng như

“thằng bán tơ”, “một mụ nào” trong Truyện Kiều” [30,162]

Còn theo Giáo trình lý luận văn học thì nhân vật văn học được quan

niệm rộng hơn: “Đó không chỉ là con người có tên hoặc không có tên, mà có thể là những sự vật, loài vật khác nhau, ít nhiều mang bóng dáng tính cách của con người, được dùng như những phương thức khác nhau để biểu hiện con người Đó là nhân vật Dế mèn, võ sĩ Bọ ngựa, con mèo lười trong truyện thiếu nhi của Tô Hoài; là vầng trăng, là bông hoa hồng trong thơ Hồ Chí Minh Cũng có khi đó không phải là những con người, sự vật cụ thể mà chỉ là một

Trang 40

hiện tượng về con người hoặc có liên quan đến con người, được thể hiện nổi

bật trong tác phẩm” [11,126]

Nhân vật trong tác phẩm văn học là sản phẩm của sáng tạo của nhà văn,

là kết quả của quá trình khám phá, chiêm nghiệm Cũng vì vậy mà mang dấu

ấn cá nhân sáng tạo ra nó Khi dấu ấn ấy được lặp đi lặp lại trong nhiều sáng tác của nhà văn, sẽ dần hình thành nên phong cách nghệ thuật và tư tưởng nghệ thuật của nhà văn ấy Bởi vậy, giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh đã khẳng định: “Trong thế giới nghệ thuật của nhà văn thường có một hình tượng tâm huyết cứ trở đi trở lại nhiều lần như là một “ám ảnh” đối với nhà văn Những hình tượng như thế càng có tình phổ biến bao nhiêu, càng có ý nghĩa tư tưởng sâu sắc và cơ bản bấy nhiêu” [23] Như vậy, nhân vật chính là căn cứ quan trọng giúp người đọc có thể hiểu được phong cách nghệ thuật và tư tưởng nghệ thuật của nhà văn, và điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi nghiên cứu tác phẩm cũng như tác gia văn học

Các nhà văn lớn bao giờ cũng tạo ra cho mình một thế giới nhân vật mang đậm dấu ấn cá nhân Thế giới nhân vật của Nguyễn Tuân là những con người hết mực tài hoa, thiên lương trong sáng, sống ngông nghênh, kiêu bạc, qua đó thể hiện tinh thần yêu nước, thái độ bất hòa với xã hội thực dân, ngợi

ca những giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc Gần như hầu hết các nhân vật trong truyện của Nguyễn Ngọc Tư là những con người lao động bình thường vùng đồng bằng sông Cửu Long Cuộc sống đời thường với những con người lao động bình thường làm nên thế giới nghệ thuật của Nguyễn Ngọc Tư, có thể gọi là một “chủ nghĩa đời thường” trong văn học Nó là sự tiếp tục truyền

thống của Nguyễn Quang Sáng

Như vậy, nhân vật văn học thể hiện cách hiểu của nhà văn về con người theo một quan điểm nhất định, là nơi để nhà văn gửi gắm, kí thác những tâm

tư ước vọng, cùng với những vấn đề triết lý nhân sinh Qua hệ thống nhân vật, người đọc thấy được tư tưởng nghệ thuật và phong cách nghệ thuật của nhà

Ngày đăng: 08/11/2014, 21:52

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1  Hoàn cảnh, bi kịch của người phụ nữ - Phong cách nghệ thuật văn xuôi Lý Biên Cương (Qua truyện vừa và tiểu thuyết)
Bảng 2.1 Hoàn cảnh, bi kịch của người phụ nữ (Trang 55)
Bảng 2.2. Thống kê nhà văn đặc tả đôi mắt của các nhân vật - Phong cách nghệ thuật văn xuôi Lý Biên Cương (Qua truyện vừa và tiểu thuyết)
Bảng 2.2. Thống kê nhà văn đặc tả đôi mắt của các nhân vật (Trang 67)
Bảng 3.2: Ngôn ngữ hiện thực của đời sống - Phong cách nghệ thuật văn xuôi Lý Biên Cương (Qua truyện vừa và tiểu thuyết)
Bảng 3.2 Ngôn ngữ hiện thực của đời sống (Trang 108)
Bảng 3.3: Thành ngữ, quán ngữ được sử dụng trong sáng tác Lý Biên - Phong cách nghệ thuật văn xuôi Lý Biên Cương (Qua truyện vừa và tiểu thuyết)
Bảng 3.3 Thành ngữ, quán ngữ được sử dụng trong sáng tác Lý Biên (Trang 109)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w