1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển môi trường giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Hà Giang

92 1,3K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 771,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu đánh giá đúng thực trạng môi trường văn hoá giao tiếp của trường phổ thông DTNT tỉnh Hà Giang, thực trạng một số kỹ năng giao tiếp cơ bản của học sinh và đề xuất các biện pháp phát t

Trang 1

NGUYỄN THỊ THANH HOA

PHÁT TRIỂN MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC

KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO HỌC SINH TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ TỈNH HÀ GIANG

Chuyên ngành: Giáo dục học

Mã số: 60.14.01

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Trang 2

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ TÍNH

Phản biện 1: GS.TSKH Nguyễn Văn Hộ

Phản biện 2: TS Nguyễn Thị Thanh Huyền

Luận văn đã được bảo vệ trước hội đồng chấm luận văn họp tại:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM – ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

Ngày 06 tháng 10 năm 2012

Có thể tìm hiểu luận văn tại:

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Giao tiếp là một trong những hoạt động đặc trưng nhất của đời sống xã hội, là điều kiện quan trọng để con người phát triển toàn diện tâm lý, ý thức và hoàn thiện các phẩm nhân cách Việc xây dựng môi trường văn hoá giao tiếp là một phần không tách rời của việc xây dựng môi trường giáo dục thân thiện trong gia đình, nhà trường và ngoài xã hội Xây dựng môi trường văn hoá giao tiếp giúp cho học sinh phát triển khả năng tư duy trí tuệ, hình thành các phẩm chất nhân cách phù hợp với các mục tiêu, chuẩn mực giáo dục đề ra

Môi trường văn hóa giao tiếp trong nhà trường chính là môi trường sư phạm, đó chính là những chuẩn mực về văn hóa giao tiếp trong việc dạy, học

và cuộc sống hàng ngày Xây dựng môi trường văn hóa giao tiếp lành mạnh, văn minh, chuẩn mực đã góp phần xây dựng nhân cách cho con người Sự giao tiếp văn hóa của mọi người trong môi trường nhà trường sẽ tác động trực tiếp, là những tấm gương, những chuẩn mực cho học học sinh noi theo

Phong trào thi đua "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”

đang được ngành giáo dục triển khai thực hiện ở tất cả các bậc học hiện nay Mục đích của phong trào này là tạo nên một môi trường giáo dục (cả về vật chất lẫn tinh thần) an toàn, bình đẳng, tạo hứng thú cho học sinh trong học tập, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trên cơ sở tập trung mọi nỗ lực của nhà trường vì người học Môi trường học tập thân thiện gắn bó chặt chẽ với việc phát huy tính tích cực, năng lực tiềm ẩn của học sinh Trong môi trường phát triển toàn diện đó, học sinh học tập hứng thú, chủ động tìm hiểu kiến thức dưới sự dìu dắt của thầy cô giáo, gắn chặt giữa học và hành, rèn luyện kỹ năng và phương pháp học tập, phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách của bản thân

Trang 4

Văn hoá nhà trường có ảnh hưởng vô cùng to lớn đối với chất lượng cuộc sống và hiệu quả của mọi hoạt động trong nhà trường Sự phát triển tâm

lý, ý thức và các phẩm chất nhân cách của học sinh, đặc biệt là lứa tuổi học sinh phổ thông chịu ảnh hưởng rất lớn của môi trường văn hoá xã hội nơi các

em học tập, sinh hoạt Một trong những yếu tố cần thiết tạo nên thành công trong việc xây dựng văn hoá trong nhà trường đó là xây dựng kĩ năng giao tiếp ứng xử giữa các thành viên trong nhà trường nói chung và kỹ năng giao tiếp ứng xử cho học sinh nói riêng GS.TS Lê Ngọc Trà (Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh) đã khẳng định: "Giao tiếp có quan hệ chặt chẽ với giáo dục Hay nói một cách cụ thể hơn thì ở phương diện nào đó giáo dục chính là giao tiếp Không có giao tiếp không có giáo dục Ngoài ra giao tiếp không chỉ là hình thức, phương tiện của giáo dục mà còn là một nội dung quan trọng của giáo dục."

Trường học là nơi truyền bá những nét đẹp của văn hóa một cách khuôn mẫu và bài bản Nét đẹp văn hóa trong giao tiếp cũng đòi hỏi các nhà

sư phạm dạy cho học sinh những điều mẫu mực Việc xây dựng chuẩn mực về lời nói, hành vi, rèn luyện các kỹ năng giao tiếp yêu cầu nhà trường phải xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, thân thiện Muốn nâng cao văn hóa ứng

xử, phát triển kỹ năng giao tiếp của học sinh trong học đường con đường gần nhất, hiệu quả nhất không thể nằm ngoài mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau giữa giáo dục và giao tiếp, không nằm ngoài môi trường giáo dục nhà trường

Với ý nghĩa đó, tác giả đã lựa chọn vấn đề nghiên cứu “Phát triển môi

trường giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh trường phổ thông Dân tộc Nội trú (DTNT) tỉnh Hà Giang” làm đề tài luận văn tốt nghiêp thạc sĩ

chuyên ngành Giáo dục học

Trang 5

2 Mục đích nghiên cứu

Làm rõ một số vấn đề về môi trường giáo dục kỹ năng giao tiếp của trường trường phổ thông DTNT tỉnh Hà Giang, từ đó đề xuất các biện pháp phát triển môi trường giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh trường phổ thông DTNT tỉnh Hà Giang

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về phát triển môi trường giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh phổ thông DTNT

3.2 Nghiên cứu thực trạng môi trường giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh trường phổ thông DTNT tỉnh Hà Giang

3.3 Đề xuất một số biện pháp phát triển môi trường giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh trường phổ thông DTNT tỉnh Hà Giang

4 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu: Môi trường giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh trường phổ thông DTNT tỉnh Hà Giang

4.2 Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp phát triển môi trường giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh trường phổ thông DTNT tỉnh Hà Giang

5 Giả thuyết khoa học

Xây dựng môi trường văn hoá giao tiếp là một trong những vấn đề gắn

bó mật thiết với xây dựng môi trường học tập thân thiện trong giáo dục nhà trường Nếu đánh giá đúng thực trạng môi trường văn hoá giao tiếp của trường phổ thông DTNT tỉnh Hà Giang, thực trạng một số kỹ năng giao tiếp

cơ bản của học sinh và đề xuất các biện pháp phát triển môi trường giáo dục

kỹ năng giao tiếp sẽ góp phần phát triển ngôn ngữ, khả năng tư duy, hình thành các phẩm chất nhân cách cho học sinh và nâng cao hiệu quả giáo dục của nhà trường

Trang 6

6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

- Đề tài được nghiên cứu trên đối tượng học sinh dân tộc thiểu số tại trường phổ thông DTNT tỉnh Hà Giang Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu phát triển môi trường giáo dục kỹ năng giao tiếp trong giáo dục nhà trường (bậc THPT) và một số kỹ năng giao tiếp cần thiết đối với học sinh ở trường DTNT,

cụ thể:

+ Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt + Kỹ năng lắng nghe

+ Kỹ năng chia sẻ + Kỹ năng làm việc theo nhóm

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận: Đọc và phân tích tài liệu, văn

bản, sách, giáo trình có liên quan đến nội dung đề tài

7.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Thu thập các thông tin về thực trạng môi trường giao tiếp và một số kỹ năng giao tiếp của học sinh trường phổ thông DTNT tỉnh Hà Giang

7.3 Phương pháp phỏng vấn: Bổ sung thêm các thông tin trực tiếp liên quan đến môi trường giao tiếp trong trường và kỹ năng giao tiếp của học sinh

7.4 Phương pháp quan sát: Quan sát các kỹ năng giao tiếp của học sinh khi tham gia các hoạt động học tập, ngoại khóa trong và ngoài nhà trường

7.5 Phương pháp khảo nghiệm: Khảo nghiệm một số biện pháp đề xuất

để đánh giá tính khả thi

7.6 Phương pháp bổ trợ: Sử dụng thống kê toán học để xử lý các kết

quả nghiên cứu

8 Đóng góp mới của đề tài

8.1 Hệ thống cơ sở lý luận về phát triển môi trường giáo dục, kỹ năng giao tiếp

Trang 7

8.2 Làm sáng tỏ thực trạng môi trường giáo dục và kỹ năng giao tiếp của học sinh phổ thông DTNT tỉnh Hà Giang

8.3 Đề xuất những biện pháp phát triển môi trường giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh trường phổ thông nói chung và học sinh trường phổ thông DTNT tỉnh Hà Giang nói riêng

9 Cấu trúc luận văn

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

2 Mục đích nghiên cứu

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

5 Giả thuyết khoa học

6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

7 Phương pháp nghiên cứu

Trang 8

“Hoàn cảnh sáng tạo ra con người trong chừng mực con người sáng tạo ra hoàn cảnh” Theo quan điểm của Mác thì mối quan hệ giữa con người và môi trường là mối quan hệ hai chiều

Nhà tâm lý học Mỹ Kenloc (1923) đã nuôi trong cùng một môi trường con khỉ 10 tháng tuổi và cậu bé trai 8 tháng tuổi của mình để so sánh ảnh hưởng của môi trường đến con khỉ và con người Đã có nhiều ví dụ để chúng ta hiểu về vai trò của môi trường sống đối con vật hoặc con người, không thể làm thay đổi bản năng của con vật Ngược lại môi trường của loài vật có thể tác động mạnh vào bản chất của con người Nhà xã hội học Mỹ R.E Pác – cơ đã nói: “Người không đẻ ra người, đưa trẻ chỉ trở nên người trong quá trình giáo dục” Điều này khảng định vai trò của yếu tố môi trường văn hóa, môi trường giáo dục có tính quyết định đối với sự hình thành nhân cách con người

I.V Pavlov và B.F Skinnơ I.V.Pavlov nghiên cứu sự hình thành phản

xạ có điều kiện trong môi trường được kiểm soát chặt chẽ, con vật (con chó) hoàn toàn thụ động B.F Skinnơ nghiên cứu sự hình thành phản xạ tạo tác động môi trường gần với thực tế hơn, con vật (chuột, bồ câu…) chủ động trong hành vi đáp ứng trên cơ sở nhu cầu của nó Nội dung học tập thể hiện ngay trong môi trường mà con vật phải tìm cách thích nghi Đây là cơ sở lý

Trang 9

thuyết để xây dựng kiểu dậy học chương trình hóa, dạy học bằng máy Từ nghiên cứu kết quả của hai ông, các nhà gíao dục đã nhận thức một vấn đề rất quan trọng rằng: Yếu tố môi trường trong giáo dục không chỉ góp phần quyết định đến sự hình thành và phát triển nhân cách con người mà quan trọng hơn

là yếu tố thực tế đã kích thích chủ thể (con người) hoạt động năng động và sang tạo hơn Việc tạo lập, xây dựng và phát triển môi trường giáo dục là một nhiệm vụ quan trọng của khoa học giáo dục hiện đại

Nghiên cứu về môi trường dạy học phải kể đến công trình của Jean Marc Denomme và Madeleine Roy về phương pháp sư phạm tương tác Trong đó, mô hình quen thuộc: Người dạy – Người học – Tri thức được chuyển thành Người dạy – Người học – Môi trường Tác giả coi môi trường

là yếu tố tham gia trực tiếp đến quá trình dạy học chứ không đơn thuần chỉ là nơi diễn ra các hoạt động dạy học Các tác giả đã nhấn mạnh đến một quy luật quan trọng: Môi trường ảnh hưởng đến người dạy, người học và người dạy phải thích nghi với môi trường Ảnh hưởng và thích nghi đó chính là hệ quả của phương pháp sư phạm tương tác liên quan đến môi trường

Emile DurKheim quan niệm môi trường học đường bao hàm cả lớp học

và việc tổ chức lớp học, như một sự liên kết có phạm vi rộng hơn gia đình và không trìu tượng như xã hội Một lớp học không đơn thuần chỉ là một khối kết dính các cá nhân độc lập với nhau mà còn là một xã hội thu nhỏ Trong lớp học, học sinh suy nghĩ, hành động và cảm nhận khác với khi chúng tách rời nhau…Những quan niệm trên đây đã có trước hàng thế kỷ, hiện nay đang trở thành vấn đề thời sự của khoa học giáo dục Hầu hết các tác giả đều thống nhất chung quan niệm về môi trường giáo dục đó là môi trường vật chất và môi trường tinh thần do giáo viên, cán bộ quản lý và học sinh tạo ra

PGS.TS Phạm Hồng Quang - Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã nghiên cứu về môi trường văn hóa giáo dục, mối quan hệ của nó với môi trường kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội và chỉ ra những nguyên tắc trong việc phát triển môi trường văn hóa giáo dục trong các nhà trường cơ sở

Trang 10

đào tạo giáo viên như: xây dựng cơ sở vật chất trường học, xây dựng văn hóa chất lượng giáo dục, xây dựng các chuẩn mực trong giao tiếp ứng xử v v

Bàn về môi trường học tập thân thiện đã có một số công trình nghiên cứu đề cập đến, tuy nhiên mới chỉ ở một khía cạnh nào đó mà thôi, tiêu biểu như công trình “Môi trường học tập trong lớp học” của tác giả Vũ Thị Sơn Gần đây có hai công tình nghiên cứu về xây dựng môi trường học tập thân thiện của tác giả Phạm Duy Hưng và Nông Thị Hiểu đã khai thác môi trường dưới góc độ các biện pháp quản lý và các biện pháp giáo dục trong nhà trường phổ thông

Phát triển môi trường giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh phổ thông, đặc biệt là học sinh dân tộc thiểu số là vấn đề còn bỏ ngỏ chưa có công trình nào nghiên cứu, chính vì vậy mà tác giả đã chọn vấn đề làm đề tài nghiên cứu

1.2 Một số khái niệm công cụ

1.2.1 Khái niệm về môi trường

Môi trường sống của con người là tổng hợp các điều kiện tự nhiên và

xã hội bao quanh con người và cơ ảnh hưởng tới sự sống và sự phát triển của từng các nhân cũng như cả cộng đồng người và tác động qua lại với hoạt động sống của con người

Về phân loại, môi trường sống của con người gồm: môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, môi trường nhân tạo Trong các loại môi trường nói trên, môi trường xã hội có ý nghĩa rất quan trọng với sự phát triển của con người Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa con người với con người tạo nên sự thuận lợi hoặc trở ngại cho sự tồn tại và phát triển của cá nhân cùng cộng đồng của họ

Môi trường sống của con người là một phạm trù hẹp hơn so với phạm trù môi trường Môi trường sống thực hiện nhiều chức năng với con người Cụ thể:

Trang 11

- Là không gian sống của con người Mỗi người trong quá trình sống

đều có không gian cần thiết cho các hoạt động như nhà ở, đất đai dùng để sản xuất, tái tạo chất lượng môi trường sống Yêu cầu về không gian sống của con người thay đổi theo trình độ phát triển của kỹ thuật, công nghệ và sản xuất Trình độ phát triển của loài người càng cao thì nhu cầu về không gian sản xuất càng giảm Tuy nhiên nhu cầu về không gian sống của con người không bao giờ mất đi Sự sáng tạo của con người cho phép họ có thể tạo ra những thay đổi đáng kể về không gian sống của mình Con người có thể gia tăng không gian sống bằng bằng việc khai thác và chuyển đổi chức năng sử dụng của các loại không gian khác nhau Điều đáng chú ý là, con người luôn cần và vươn tới một chất lượng tốt của không gian sống Vì vậy, con người cần đến một thời gian xác định để cải tạo môi trường sống đã bị các loại hoạt động khác nhau của con người làm suy giảm Ngoài môi trường vật chất con người còn mong muốn có một môi trường xã hội an toàn, môi trường giao tiếp thân thiện để lao động, học tập, rèn luyện

Môi trường là toàn thể hoàn cảnh tự nhiên tạo thành những điều kiện sống bên ngoài của một sinh vật

Môi trường là toàn thể hoàn cảnh xã hội( phong tục, tín ngưỡng, sinh hoạt văn hoá, nghề nghiệp, gia đình…) xung quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống và sự phát triển của con người

Khái niệm môi trường được hiểu là toàn bộ những nhân tố bao quanh con người hay sinh vật và tác động lên đời sống của con người, môi trường cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của con người

Theo chúng tôi, môi trường là tập hợp tất cả các yếu tố tự nhiên và xã

hội bao quanh con người, ảnh hưởng tới con người và tác động đến các hoạt động sống của con người

Quá trình hình thành nhân cách và sự phát triển nhân cách chỉ có thể thực hiện trong một môi trường nhất định Môi trường tạo nên động cơ, mục đích, cung cấp phương tiện cho hoạt động và giao lưu cá nhân Tuy nhiên,

Trang 12

mức độ ảnh hưởng của môi trường đối với cá nhân còn tuỳ thuộc vào thái độ,

xu hướng và năng lực của cá nhân trong các hoạt động và giao lưu mà con người tham gia, môi trường giao tiếp là nơi con người tham gia quá trình giao tiếp, chính môi trường giao tiếp ảnh hưởng trực tiếp tới năng lực giao tiếp của con người

Vì vậy, nhận thức đúng về vai trò của môi trường giao tiếp và môi trường giáo dục phát triển kỹ năng giao tiếp cho học sinh THPT sẽ giúp nhà giáo dục định hướng cho học sinh tiếp nhận những ảnh hưởng tốt đẹp của môi trường giáo dục kỹ năng giao tiếp, đồng thời có khả năng chống lại những ảnh hưởng xấu của môi trường giao tiếp

1.2.2 Khái niệm về giao tiếp

Giao tiếp là một hiện tượng tâm lý phức tạp và nhiều mặt, nhiều cấp độ khác nhau Do đó, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về giao tiếp Mỗi định nghĩa dựa trên một quan điểm riêng:

Các nhà Tâm lý học Xô Viết như L.X.Vưgôtxki cho rằng: “Giao tiếp là

sự thông báo hoặc là quan hệ qua lại một cách thuần túy giữa người với người, như là một sự trao đổi quan điểm và cảm xúc” X.L.Rubinstêin định nghĩa ngắn gọn: “Giao tiếp là hình thức liên kết giữa con người với nhau” A.A.Lêônchiev lại cho rằng: “Giao tiếp là một hệ thống những quá trình có mục đích và động cơ đảm bảo cho sự tương tác giữa người này với người khác trong hoạt động tập thể thực hiện các mối quan hệ liên nhân cách, các quan hệ tâm lý và sử dụng phương tiện đặc thù mà trước hết là ngôn ngữ”

Sự tồn tại và phát triển của mỗi con người luôn gắn liền với sự tồn tại và phát triển của những cộng đồng xã hội nhất định Không ai có thể sống, hoạt động ngoài gia đình, bạn bè, địa phương, tập thể, dân tộc, tức là ngoài xã hội Người La Tinh nói rằng: “Ai có thể sống một mình thì người đó hoặc là thánh nhân hoặc là quỷ sứ” Trong quá trình sống và hoạt động đó, nảy sinh trong mỗi chúng ta nhiều mối quan hệ Chỉ có một số ít các mối quan hệ là có sẵn từ khi chúng ta cất tiếng chào đời, còn đại đa số các mối quan hệ còn lại được

Trang 13

hình thành, phát triển trong quá trình sống và hoạt động trong cộng đồng xã hội, thông qua các hình thức tiếp xúc, gặp gỡ trao đổi, liên lạc đa dạng với người khác mà chúng ta thường gọi là giao tiếp Xã hội càng phát triển, văn minh thì nhu cầu và hình thức giao tiếp càng cao và đa dạng Giao tiếp càng trở thành một kỹ năng không thể thiếu và cần phải được rèn luyện Có rất nhiều khái niệm về giao tiếp:

“Giao tiếp là việc trao đổi thông tin giữa con người và thường dẫn tới hành động tiếp theo”, “Giao tiếp là sự tiếp xúc giữa hai hay nhiều người thông qua phương tiện ngôn ngữ nhằm trao đổi thông tin, tình cảm, hiểu biết, tác động qua lại và điều chỉnh lẫn nhau”, “Giao tiếp là một quá trình trao đổi thông tin giữa các cá nhân qua một hệ thống bao gồm các ký hiệu, dấu hiệu và hành

vi Giao tiếp cũng có thể hiểu là các hình thức biểu lộ tình cảm, trò chuyện, diễn thuyết, trao đổi thư tín, thông tin…” [Bài giảng Kỹ năng giao tiếp – PGS.TS Đặng Đình Bôi]

Giao tiếp là hoạt động diễn ra rất nhiều, hàng ngày và dưới nhiều hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp như giao tiếp qua lời nói, ngôn ngữ không lời (cử chỉ, hành vi, nét mặt, trang phục…), hỏi đáp, quan sát, nghe, trình bày, nói chuyện, qua báo cáo, gửi thư, thư điện tử…nhằm trao đổi thông tin hay nói cách khác giao tiếp là một quá trình trong đó các bên tham gia tạo ra và chia sẻ thông tin hoặc cảm xúc với nhau để đạt được mục đích giao tiếp

Giao tiếp là hiện tượng tâm lý rất phức tạp của con người Mặc dù có nhiều định nghĩa, quan niệm khác nhau về giao tiếp nhưng nhìn chung mọi người đều thống nhất ở một điểm giao tiếp là quá trình truyền thông, phải có xây dựng một bản thông điệp sau đó gửi đi với hy vọng người nhận sẽ hiểu thông điệp đó

Như vậy, có thể hiểu giao tiếp là hoạt động xác lập, vận hành các mối quan hệ giữa con người với con người nhằm thoả mãn những nhu cầu nhất định đó là trao đổi và tiếp nhận thông tin

Trang 14

Ở Việt Nam, trong giáo trình “giao tiếp sư phạm” tác giả Ngô Công Hoàn đã định nghĩa: “Giao tiếp là hình thức đặc trưng cho mối quan hệ giữa con người với con người mà qua đó nảy sinh sự tiếp xúc tâm lý và được biểu hiện ở các quá trình thông tin, hiểu biết, rung cảm, ảnh hưởng và tác động qua lại lẫn nhau” [Giáo trình giao tiếp sư phạm – Ngô Công Hoàn]

Trong tài liệu “Tâm lý học đại cương” tác giả Nguyễn Quang Uẩn đã nêu ra định nghĩa: “Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa người với người thông qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại với nhau Hay nói khác đi, giao tiếp xác lập và vận hành các quan hệ người - người, hiện thực hóa các quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác”

Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “Giao tiếp là hoạt động xác lập và vận hành các quan hệ người - người để thực hiện các quan hệ xã hội giữa người ta với nhau”

Mỗi tác giả khác nhau dựa trên một quan điểm riêng của mình đã đưa

ra những định nghĩa khác nhau về giao tiếp, tuy nhiên họ đều cho rằng giao tiếp là hoạt động đặc trưng của con người, là sự trao đổi thông tin giữa con người với nhau

Từ những cách hiểu trên, theo chúng tôi, có thể hiểu về giao tiếp như

sau: “Giao tiếp là hình thức đặc trưng của xã hội, là sự tiếp xúc tâm lý giữa

người với người, qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, cảm xúc, tri giác lẫn nhau, tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau, thiết lập và duy trì mối quan hệ giữa con người với con người”

1.2.3 Khái niệm về môi trường giao tiếp

Mỗi một hoạt động giao tiếp khác nhau thì đều có môi trường giao tiếp khác nhau Như đã phân tích ở phần khái niệm môi trường, môi trường giao tiếp được hiểu là những lĩnh vực, không gian giao tiếp xã hội đã được khu

Trang 15

biệt bởi những động cơ, mục đích, nội dung, hình thức và phương tiện giao

tiếp Môi trường giao tiếp luôn phải đảm bảo ba yếu tố cơ bản như sau:

+ Phương tiện (kênh) giao tiếp: Khi lựa chọn phương tiện giao tiếp, bạn cần cân nhắc khả năng hiểu thông điệp của người nhận thông qua phương tiện cụ thể đó

+ Mối quan hệ và vị trí của những người tham gia giao tiếp: Điều này quyết định cách mỗi người nhìn nhận vị trí của mình trong quan hệ giao tiếp,

do đó ảnh hưởng rất lớn đến chiến lược giao tiếp sẽ lựa chọn Mối quan hệ này cũng kéo theo những tình cảm, cảm xúc có thể khiến một cuộc giao tiếp trở nên thành công hay thất bại

+ Môi trường khi diễn ra quá trình giao tiếp (địa điểm, thời gian, không gian, âm thanh, ánh sáng…) cũng ảnh hưởng đến hiệu quả giao tiếp Lựa chọn môi trường vật chất phù hợp sẽ giúp giao tiếp dễ đạt mục đích hơn

Môi trường giao tiếp là không gian diễn ra các hoạt động giao tiếp, có ảnh hưởng trực tiếp đến nội dung giao tiếp, cách thức giao tiếp, chất lượng giao tiếp của con người Môi trường giao tiếp có tầm quan trọng và lợi ích lớn

vì nó quyết định đến chất lượng và hiệu quả của giao tiếp Có khả năng đem lại thành công trong giao tiếp cho con người

Môi trường giao tiếp có thể hiểu là những yếu tố vật chất, hay tinh thần tác động trực tiếp hay gián tiếp đến quá trình giao tiếp Môi trường giao tiếp có thể tạo điều kiện thuận lợi hay khó khăn cho quá trình giao tiếp của con người

Đó là cảnh quan cơ sở vật chất nơi con người thực hiện quá trình giao tiếp, yếu

tố tâm lý do chủ thể giao tiếp tạo ra cho đối tượng giao tiếp, thái độ và hành vi ứng xử giữa các thành viên trong quá trình giao tiếp, những quy định có tính chuẩn mực của tổ chức hay nhà trường nơi diễn ra hoạt động giao tiếp vv…

* Các yếu tố tạo nên môi trường giao tiếp:

Môi trường giao tiếp được tạo nên bởi các yếu tố: cơ sở vật chất (hay môi trường vật chất); yếu tố tâm lý, tinh thần và yếu tố xã hội (còn được gọi là

Trang 16

môi trường tinh thần) Trong nhà trường phổ thông, môi trường giao tiếp của học sinh được tạo bởi các yếu tố: Cơ sở vật chất trường lớp, cảnh quan nhà trường, truyền thống nhà trường, thái độ, hành vi ứng xử của các thành viên trong nhà trường và phương pháp giảng dạy của giáo viên, tính tích cực chủ động tham gia của học sinh trong quá trình hoạt động học tập, rèn luyện vv…

* Những ảnh hưởng tích cực của môi trường giao tiếp:

- Tạo cho học sinh một không gian thuận lợi, tích cực để rèn luyện các

kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ứng xử

- Là điều kiện tốt cho học sinh tự trải nghiệm, chia sẻ, tự khẳng định vị trí và năng lực của bản thân

- Là điều kiện, phương tiện để học sinh tiếp thu kiến thức, hoàn thiện nhân cách và phát triển toàn diện về mọi mặt đặc biệt là phát triển kỹ năng sống

* Những ảnh hưởng tiêu cực của môi trường giao tiếp:

- Môi trường giao tiếp không có văn hóa sẽ là nguyên nhân dẫn đến những hành vi lệch chuẩn ở học sinh phổ thông, dẫn đến hiện tượng bạo lực học đường, làm hạn chế chất lượng giáo dục, dạy học của nhà trường, ảnh hưởng tới mối đoàn kết nội bộ Môi trường giao tiếp có tầm quan trọng đặc biệt, vì vậy, nhà giáo dục cần tạo điều kiện để phát triển, mở rộng môi trường giao tiếp cho học sinh

Giao tiếp là một trong những con đường cơ bản để hình thành và phát triển nhân cách con người Khả năng giao tiếp tốt là chìa khóa khởi nguồn cho

sự thành công Khả năng giao tiếp của mỗi người có ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố khác nhau Nó phụ thuộc vào vốn sống, vốn kinh nghiệm và tính tự chủ của bản thân chủ thể, phụ thuộc vào môi trường, điều kiện, hoàn cảnh giao tiếp Đối với hoạt động giao tiếp của học sinh môi trường giao tiếp là điều kiện cần thiết để phát triển kỹ năng, năng lực giao tiếp cho học sinh Môi trường giao tiếp có văn hóa góp phần tạo nên sự thành công trong giao tiếp, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đồng thời giúp bản thân học sinh hoàn

Trang 17

thiện nhân cách của mình theo mục tiêu giáo dục và yêu cầu xã hội Trong nhà trường phổ thông nói chung, trường phổ thông nói riêng, hoạt động giao tiếp của học sinh thể hiện ở mối liên hệ trực tiếp giữa học sinh với giáo viên, giữa học sinh với học sinh và các mối quan hệ tiếp xúc giữa học sinh với các tổ chức giáo dục trong nhà trường Thông qua hoạt động giao tiếp, giáo viên cung cấp tri thức, kỹ năng, chia sẻ kinh nghiệm, phương pháp cho học tập, phương pháp rèn luyện, phương pháp nhận thức cho học sinh, giúp họ tự thay đổi để phát triển

Đối với giáo viên, môi trường giao tiếp thuận lợi sẽ giúp người giáo viên dễ dàng hiểu được tính cách, năng lực, phẩm chất hay những nét tâm lý riêng của từng học sinh Cũng qua đó, người giáo viên tự điều chỉnh thái độ, lời nói, cử chỉ và hành vi ứng xử phù hợp, rèn luyện thêm các kỹ năng giao tiếp, hoàn thiện nhân cách cũng như năng lực của mình

Hiện nay, với ảnh hưởng của xu thế toàn cầu hóa, yêu cầu đặt ra cho mỗi cá nhân, mỗi quốc gia, dân tộc ngày càng cao Con người cần phải có khả năng thích ứng, hợp tác để tồn tại và phát triển Đặc biệt yêu cầu cao đối với học sinh phổ thông là những người đứng trước ngưỡng cửa của cuộc đời, chuẩn bị bước vào cuộc sống lao động, học tập việc nâng cao năng lực giao tiếp, hình thành kỹ năng sống có vai trò không nhỏ trong việc đào tạo ra những con người “vừa hồng, vừa chuyên” nhằm xây dựng và bảo vệ thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

1.2.4 Phát triển môi trường giáo dục kỹ năng giao tiếp

Phát triển môi trường giáo dục kỹ năng giao tiếp được hiểu là quá trình giáo viên, học sinh tiến hành một hệ thống các biện pháp nhằm tạo ra một môi trường giao tiếp an toàn, hiệu quả, thu hút người học tích cực tham gia, giúp người học có cơ hội được trải nghiệm được phát huy và khẳng định mình thông qua việc trao đổi, tiếp nhận thông tin để rèn luyện các kỹ năng giao tiếp ứng xử

Trang 18

Phát triển môi trường giáo dục kỹ năng giao tiếp là hệ thống những tác động của chủ thể giao tiếp nhằm tạo ra môi trường vật chất, môi trường tinh thần và môi trường xã hội an toàn, thu hút đối tượng giao tiếp tự giác tham gia, đồng thời tạo cơ hội cho đối tượng giao tiếp được bày tỏ thái độ và quan điểm của mình trong môi trường đó nhằm đem đến sự hài lòng cho đối tượng giao tiếp và chủ thể giao tiếp cũng như những người xung quanh, giúp đối tượng giao tiếp phát triển các kỹ năng giao tiếp nâng cao hiệu quả giao tiếp

Phát triển môi trường giáo dục kỹ năng giao tiếp là sự kết thừa, phát huy những yếu tố tích cực của môi trường văn hoá giáo dục nhà trường, đồng thời xây dựng, lựa chọn những phương pháp, phương tiện giao tiếp tích cực

để đạt được hiệu quả giao tiếp Đây là nhiệm vụ của tập thể giáo viên, cán bộ quản lý nhà trường, các tổ chức giáo dục trong và ngoài nhà trường đồng thời

là trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi học sinh

1.3 Những vấn đề cơ bản về phát triển môi trường giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh trường phổ thông DTNT

1.3.1 Đặc điểm tâm lý của học sinh phổ thông DTNT

Mỗi một nhóm người, một cộng đồng xã hội hay một tộc người đều có những đặc trưng tâm lý riêng mang tính chất xã hội - lịch sử Học sinh THPT người dân tộc thiểu số vừa mang đậm tính dân tộc của học vừa mang đầy đủ những đặc điểm tâm lý của học sinh bậc THPT nói chung Học sinh THPT là giai đoạn phát triển bắt đầu từ lúc dậy thì và kết thúc khi bước vào tuổi người lớn Đây là lứa tuổi có những nét nổi bật như nhiệt tình, sôi nổi, đầy ước mơ

và đây cũng là lứa tuổi đang bắt đầu hình thành các chức năng tâm lý như khả năng nhận thức, tình cảm, ý chí …đặc biệt là năng lực trí tuệ Đây là điều kiện

để hình thành một nền tảng kiến thức, tính cách của một con người trong tương lai

Trang 19

Trên thực tế đồng bào dân tộc thiểu số nói chung và đồng bào dân tộc thiểu số ở Hà Giang nói riêng chủ yếu sinh sống ở vùng rừng núi, vùng sâu, vùng xa, điều kiện tự nhiên không thuận lợi, khí hậu khắc nghiệt, giao thông

đi lại khó khăn, ít tiếp xúc với xã hội bên ngoài, nhất là điều kiện để tiếp cận với xã hội là triển bị hạn chế nên trình độ dân trí thấp Cuộc sống của người dân tộc thiểu số sống gắn bó với thiên nhiên, phụ thuộc vào thiên nhiên, lao động thủ công là chủ yếu Các hoạt động kinh tế vẫn là tự cung tự cấp ít có hoạt động sản xuất hàng hóa nên thu nhập không cao, chất lượng cuộc sống thấp Hiện nay, tuy nhà nước đã khuyến khích người dân tộc thiểu số sống định canh, định cư những vẫn còn một ít người dân tộc hoặc nhóm người vẫn sống du canh, du cư học đi cả nhà và ở lại trong rừng, làm nương rẫy Chính đặc điểm này làm cho mặt bằng kiến thức của học sinh người dân tộc thiểu số không đồng đều, chất lượng thấp hơn mặt bằng trung Do vậy, trong quá trình học tập các học sinh người dân tộc thiểu số gặp nhiều khó khăn hơn so với các học sinh khác

Bên cạnh đó, vốn ngôn ngữ phổ thông ở học sinh người dân tộc thiểu

số cũng bị hạn chế Tốc độ nói chậm, phát âm không chuẩn, nói ngọng, nói mất dấu, sai ngữ pháp, diễn dạt rời rạc….Đây có thể coi là khó khăn lớn nhất làm hạn chế khả năng học tập và giao tiếp của các em học sinh người dân tộc thiểu số

Đặc điểm tâm lý tình cảm của học sinh người dân tộc thiểu số thường khép kín, ít bộc lộ Vì vậy, trong hoạt động học tập và các hoạt động sinh hoạt khác các em thường bình thản, ít tham gia nên giáo viên khó nắm bắt được tâm lý của đối tượng học sinh này

Nhận thức ở các em học sinh THPT người dân tộc thiểu số cũng có sự khác biệt đó là ngay từ khi còn bé các em đã được tiếp xúc nhiều với thiên nhiên nên đối tượng tri giác của các em là các sự vật, hiện tượng gắn liền với

tự nhiên, thiên nhiên Chẳng hạn tri giác về không gian hay thời gian các em

Trang 20

thường gắn với những quy ước mang tính cộng đồng như khoảng, buổi, thời điểm của mặt trời, mặt trăng thay vì các đơn vị đo như ngày, giờ, tháng…

Hơn nữa, do sống trong điều kiện tự cấp, tự túc, năng xuất lao động phụ thuộc vào thiên nhiên, ít va chạm, sống theo tập tự và thỏa mãn với những gì đã có nên trong tư duy của các em thể hiện những đặc trung về tư duy hình ảnh trực quan sinh động hơn là khả năng tư duy ngôn ngữ Các em thiếu thói quen suy nghĩ theo chiều sâu Biểu hiện trong học tập và không phát hiện những mâu thuẫn cần giải quyết, suy nghĩ thiếu sâu sắc, nhiều em không hiểu bài nhưng cũng không biết mình không hiểu ở chỗ nào, có thói quen suy nghĩ một chiều và dễ dàng thừa nhận những gì người khác nói, óc phê phán còn hạn chế biểu hiện là trong quá trình làm bài thì thường đọc đề bài qua loa, không suy nghĩ thấu đáo đã bắt tay vào làm bài nên dễ dàng nhầm lẫn hoặc sai sót

Cuộc sống của học sinh dân tộc thiểu số ở các trường nội trú còn nhiều khó khăn, các em phải sống xa gia đình trong khi chưa chuẩn bị đủ cho cuộc sống tự lập, mọi trang trải cho học tập, cuộc sống đều phụ thuộc vào hỗ trợ của nhà nước, sinh hoạt vật chất của các em rất eo hẹp Điều này cũng dẫn đến tâm lý tự ti, mặc cảm, chấp nhận cuộc sống âm thầm, lặng lẽ thiếu thốn tình cảm, vật chất

Có thể nói học sinh người dân tộc thiểu số ở bậc THPT trong cả nước nói chung và ở Hà Giang nói riêng còn gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống

và hoạt động học tập Khả năng nhận thức chậm, ngôn ngữ phổ thông hạn chế khó hòa nhập với phương pháp giảng dậy mới, mặc cảm, tự ti, ngại giao tiếp

là những khó khăn ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả học tập của các em

1.3.2 Mục đích, yêu cầu của việc phát triển môi trường giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh phổ thông DTNT

Mục tiêu của xây dựng môi trường giao tiếp là nhằm tạo điều kiện, tạo phương tiện, tạo động lực cho hoạt động dạy và học phát triển Giúp nhà quản

Trang 21

lý, giáo viên không ngừng nâng cao chất lượng dạy và học, chất lượng giáo dục toàn diện học sinh Môi trường giao tiếp góp phần tạo nên chất lượng giáo dục không ngừng được nâng cao bởi ở đó người học được tiếp nhận và chia sẻ thông tin, được khắc phục những hẫng hụt về tâm lý, được trợ giúp khó khăn trong giao tiếp Các thầy, cô giáo phải thân thiện trong dạy học, thân thiện trong đánh giá kết quả rèn luyện, học tập của học sinh, đánh giá công bằng, khách quan với lương tâm và trách nhiệm của nhà giáo giúp các em tự tin trong học tập, rèn luyện, sẵn sàng chia sẻ thông tin và chủ động tìm kiếm, tiếp nhận thông tin trong học tập, rèn luyện

Môi trường giao tiếp tốt giúp học sinh được học tập, rèn luyện trong môi trường lành mạnh, an toàn, tránh được những bất trắc, nguy hiểm đe dọa Môi trường giao tiếp có đầy đủ các điều kiện về cơ sở vật chất đảm bảo các quyền tự nhiên thiết yếu của con người: đủ nước sạch, ánh sáng, phòng y tế, nhà vệ sinh, sân chơi, bãi tập, không gian cây xanh v v…tạo điều kiện cho học sinh khi đến trường được an toàn, thân thiện, vui vẻ, kích thích lòng ham học và sự say mê tìm kiếm kiến thức của học sinh, giúp học sinh có động cơ học tập đúng đắn

Môi trường giao tiếp thân thiện, chia sẻ tạo lập sự bình đẳng giới, bình đẳng giữa các học sinh thuộc các dân tộc khác nhau, không có sự phân biệt,

kỳ thị giàu nghèo, học sinh khuyết tật Chính môi trường đó chú trọng kỹ năng sống, giáo dục học sinh dân tộc hòa nhập, giáo dục cho học sinh biết rèn luyện thân thể, biết tự bảo vệ sức khỏe, biết sống khỏe mạnh, an toàn Phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh trong học tập và các hoạt động xã hội một cách phù hợp và hiệu quả Tăng cường sự tham gia một cách hứng thú của học sinh trong các hoạt động giáo dục trong nhà trường và tại cộng đồng, với thái độ tự giác, chủ động và ý thức

Môi trường giao tiếp thân thiện, chia sẻ tạo cho thầy và trò gắn kết với nhau, trò – trò quan hệ thân thiện, đoàn kết cùng nhau học tập, rèn luyện để nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường

Trang 22

1.3.3 Ý nghĩa của việc phát triển môi trường giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh DTNT

Ý nghĩa quan trọng nhất của việc phát triển môi trường giáo dục là tạo nên một môi trường (cả về vật chất lẫn tinh thần) an toàn, bình đẳng, tạo hứng thú cho học sinh trong học tập, nâng cao chất lượng giáo dục trên cơ sở tập trung mọi nỗ lực của nhà trường vì người học Kết quả cuối cùng là hướng đến mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường, góp phần nâng cao dân trí, phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Môi trường giao tiếp thân thiện có tác dụng phát triển kỹ năng giao tiếp cho học sinh gắn bó chặt chẽ với việc phát huy tích cực của học sinh Bởi giao tiếp được tiến hành ngay trong quá trình học tập, rèn luyện, trong sinh hoạt sống của học sinh Trong môi trường phát triển toàn diện đó, học sinh học tập hứng thú,chủ động tìm hiểu kiến thức dưới sự dìu dắt của thầy cô giáo, gắn chặt giữa học và hành, biết thư giãn khoa học, rèn luyện kỹ năng và phương pháp học tập, trong đó những yếu tố hết sức quan trọng là khả năng tự tìm hiểu, khám phá, sáng tạo được thực hiện thông qua hoạt động giao tiếp và kỹ năng giao tiếp của bản thân Nhờ có giao tiếp mà học sinh cảm nhận về người khác và về bản thân mình, nhờ giao tiếp mà học sinh tự biến đổi tri thức, kỹ năng cho phù hợp với yêu cầu của cuộc sống

Phát triển môi trường giáo dục kỹ năng giao tiếp là điều kiện để từng bước xây dựng đội ngũ giáo viên có phẩm chất đạo đức, năng lực quản lý, đáp ứng yêu cầu của giáo dục trong thời kỳ phát triển mới Theo đó, các thế hệ học sinh năng động, tích cực dưới sự dạy dỗ của các thầy cô giáo được học tập trong môi trường giao tiếp thân thiện, cởi mở, có tính chuẩn mực trong ứng xử sẽ là nhân tố quyết định sự phát triển bền vững cho nhà trường, cho địa phương, cho đất nước

Trang 23

Xây dựng môi trường văn hoá giáo dục giúp nhà trường trở thành trung tâm văn hóa, gương mẫu trong việc gìn giữ môi trường tự nhiên và môi trường xã hội ở địa phương Xây dựng hình ảnh tốt đẹp cho nhà trường, nêu cao đạo lý tôn sư trọng đạo, tôn vinh nghề dạy học Phát triển môi trường giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh giúp các em tự tin trong học tập, rèn luyện, phát triển năng lực cá nhân, tham gia tích cực hoạt động xây dựng phát triển trường, lớp

Xây dựng môi trường giao tiếp thân thiện tích cực tạo cho học sinh có cảm nhận an toàn, thân thiết, thích đến trường, các em nhận thấy rằng trường học đó trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc đời Giáo dục đó trở thành mục đích sống, lẽ sống của học sinh, nơi đây các em được rèn luyện và phát triển, môi trường giao tiếp góp phần tạo động lực cho học sinh học tập, rèn luyện để phát triển nhân cách

Xây dựng môi trường giao tiếp và phát triển kỹ năng giao tiếp cho học sinh góp phần nâng cao năng lực của cộng đồng và gia đình, giúp học sinh phát triển tối đa tiềm năng, trong đó chú trọng đến sự phát triển về thể chất, nhân thức và tâm lý xã hội, góp phần làm thay đổi hẳn những thói quen, tập quán của đồng bào các dân tộc thiếu số cũng như cuộc sống của các em

Xây dựng môi trường giao tiếp và phát triển kỹ năng giao tiếp cho học sinh là một nội dung quan trọng trong xây dựng văn hóa nhà trường, đối với trường phổ thông DTNT vùng khó khăn, góp phần tạo động lực thúc đẩy học sinh tới trường, nâng cao chất lượng giáo dục, tạo sự công bằng trong giáo dục, giúp giáo dục miền núi phát triển

1.3.4 Nội dung phát triển môi trường giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh phổ thông DTNT

Phát triển môi trường giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh là những biện pháp của chủ thể giao tiếp (giáo viên, cán bộ) và đối tượng giao tiếp (học sinh) nhằm tạo ra môi trường vật chất an toàn, thân thiện với đối tượng giao

Trang 24

tiếp và các mối quan hệ xã hội chia sẻ, cộng đồng hợp tác trong học tập, rèn luyện cùng với các yếu tố tâm lý tích cực thúc đẩy người học tự giác chủ động trong quá trình giao tiếp nhằm thực hiện có hiệu mục tiêu và nhiệm vụ học tập, rèn luyện đề ra Xây dựng môi trường giao tiếp thân thiện, chia sẻ có khả năng phát triển kỹ năng giao tiếp cho học sinh là tạo ra những ảnh hưởng tích cực tới chất lượng giáo dục, dạy học và chất lượng giáo dục toàn diện học sinh Xây dựng môi trường phát triển kỹ năng giao tiếp cho học sinh bao gồm:

1.3.4.1 Phát triển không gian, cơ sở vật chất thân thiện trong nhà trường

- Không gian vật lý thân thiện: trường lớp xanh, sạch, đẹp và thân thiện (luôn đảm bảo vệ sinh, chăm sóc các bồn hao cây cảnh Chú ý trang trí không gian lớp học: Góc thiên nhiên, góc học tập Tăng cường các khẩu hiệu, pa nô vừa có tính thẩm mĩ lại vừa có tính tuyên truyền giáo dục)

Cơ sở vật chất đầy đủ tiện nghi cho việc học tập của học sinh, xây dựng thư viện thân thiện, phòng đọc thân thiện, phòng học đủ ánh sáng và thuận lợi cho việc học tập của học sinh Nhà trường đảm bảo an toàn về vệ sinh, nước uống và tránh xa những nơi có tiếng ồn Hiệu trưởng phải thường xuyên huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nhà trường nhằm đảm bảo thông tin tốt nhất cho trẻ em trong môi trường an toàn, hiệu quả

1.3.4.2 Xây dựng quan hệ thân thiện, chia sẻ giữa giáo viên với đồng nghiệp, giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với học sinh

Xây dựng quan hệ thân thiện giữa giáo viên với học sinh, học sinh với học sinh đó là quan hệ chia sẻ, cộng đồng hợp tác, chia sẻ những khó khăn trong dạy học, giáo dục học sinh và cuộc sống đời thường Huy động giáo viên, học sinh

cùng cộng đồng hợp tác trong xây dựng “trường ra trường, lớp ra lớp”

Giáo viên chia sẻ với đồng nghiệp kinh nghiệm giảng dạy, giáo dục học sinh và những khó khăn trong cuộc sống, tạo nên môi trường làm việc

cộng đồng trách nhiệm với triết lý vì sự tiến bộ của học sinh, người học là lý

do tồn tại của nhà trường Thầy tận tâm với nghề, trách nhiệm với đồng

nghiệp hết lòng vì học sinh thân yêu

Trang 25

Xây dựng môi trường giao tiếp thân thiện trong tập thể sư phạm với nhau Điều này rất quan trọng, vì nó là cái lõi để thân thiện với mọi đối tượng khác Giáo viên chia sẻ với học sinh những khó khăn trong học tập, rèn luyện Quan hệ thầy trò là quan hệ cộng đồng hợp tác cùng chung một mục đích đó là vì sự tiến

bộ của người học và quán triệt triết lý “ Thầy ra thầy, trò ra trò”

Thân thiện giữa tập thể sư phạm, nhất là các thầy, cô với các em học sinh Thầy cô cùng các bộ phận khác trong nhà trường đều hoạt động theo

phương châm: “Tất cả vì học sinh thân yêu” Từ đó, học sinh sẽ quý mến,

kính trọng thầy cô một cách thực sự

Coi trọng việc giáo dục bình đẳng giới để các em học sinh nam, nữ biết quý trọng nhau, sống hòa đồng với nhau Rèn kỹ năng sống cho học sinh thích ứng với xã hội, bởi cuộc sống nhà trường là cuộc sống thực, không để

học sinh phải “ngơ ngác” trước cuộc sống xã hội đang từng ngày thay đổi

1.3.4.3 Dạy và học hiệu quả, lựa chọn và sử dụng phương pháp dạy học tạo môi trường học tập hợp tác, chia sẻ cho học sinh

Biến những kiến thức xa lạ thành gần gũi, thân quen, thu hút học sinh cùng tham gia trong môi trường học tập hợp tác với thầy, với bạn Phương

pháp dạy học (PPDH) phổ biến ở phổ thông hiện nay vẫn theo hướng “Lấy

người dạy là trung tâm” (Teacher – centered) với quan niệm giáo viên là người

truyền đạt kiến thức và học sinh là người tiếp thu kiến thức Kiến thức từ sách giáo khoa được giáo viên “độc quyền” truyền đạt cho học sinh, kiến thức của các em phụ thuộc vào kiến thức của thầy và học sinh luôn là người lĩnh hội tri

thức thụ động PPDH này đã dẫn đến lối dạy “Thầy đọc – trò chép” và lối học

“thuộc lòng những gì thầy đọc cho chép” Đây là phương pháp dạy học tạo nên

thói quen thụ động, trông chờ và sức ỳ của học sinh trong tiếp thu kiến thức, sẽ ảnh hưởng nhiều đến tính năng động, sáng tạo trong cuộc sống và là môi trường giao tiếp không tích cực cho học sinh

PPDH theo hướng tích cực hóa hoạt động của người học centered) thực sự là phương pháp dạy học hướng vào người học, thu hút người học cùng tham gia hợp tác, giáo viên ở đây chỉ là người tổ chức và trợ

Trang 26

(Learner-giúp hoạt động tiếp thu kiến thức cho học sinh Giáo viên chỉ đóng vai trò là người gợi mở và bổ sung thêm những điều học sinh chưa biết, chưa rõ và hiểu chưa đúng mà thôi Học sinh thực là nhân vật trung tâm trên lớp học, các em

có thể lựa chọn kiến thức và phương pháp học phù hợp với mình Giáo viên là người nêu vấn đề và cùng học sinh tranh luận cho tới khi học hiểu thấu đáo vấn đề đó Học sinh có thể được giáo viên giao cho các bài tập làm chung theo nhóm để các em có cơ hội cùng nhau chia sẻ và đóng góp kiến thức của

cá nhân mình cho nhóm Giáo viên cũng có thể nêu trước vấn đề và cho học sinh tự về nhà nghiên cứu từ sách giáo khoa và sách tham khảo khác về vấn

đề đó để đến buổi học trên lớp sau đó học sinh thảo luận và tranh luận với nhau theo cặp và nhóm

Hoạt động dạy học phải thu hút được người học tham gia một cách tích cực và hiệu quả, chất lượng giáo dục dạy học phải được đặt lên hàng đầu, chất lượng dạy học phải đem đến sự hài lòng cho nhà quản lý, giáo viên, học sinh

và đáp ứng yêu cầu của cha mẹ học sinh và xã hội Đây chính là môi trường giao tiếp có chủ định và kiến tạo nhân cách học sinh

Phương pháp kiểm tra, đánh giá thân thiện: phải phản ánh đúng năng lực học tập của học sinh, phát huy được năng khiếu trong các lĩnh vực học tập, đồng thời đánh giá được chiều hướng tiến bộ của học sinh trong quá trình học tập, không nặng nề về điểm số qua các bài kiểm tra, đặc biệt là đối với những học sinh yếu kém Phương pháp đánh giá thân thiện là phương pháp giúp người học hình thành phát triển năng lực tự đánh giá, giúp người học giám đối mặt với thất bại và coi thất bại là bài học và sửa chữa sai lầm Đây là môi trường giúp đối tượng giao tiếp nhận thức đúng về bản thân và người khác, xác định những việc phải làm và những việc không nên làm, phát huy mặt tích cực, khắc phục mặt hạn chế để hoàn thiện nhân cách

1.3.4.4 Tổ chức hoạt động giáo dục đa dạng phong phú, tạo môi trường giao tiếp chủ động, tự tin cho học sinh

Để có một ngôi trường thân thiện thực sự, giáo viên cần quan tâm tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, hoạt động văn hóa, văn nghệ,

Trang 27

thể dục, thể thao, chú trọng đưa vào các hoạt động vui chơi, các trò chơi dân gian, tìm hiểu và chăm sóc di tích lịch sử hay các hoạt động ngoại khóa nhằm tạo ra mối quan hệ gắn kết giữa người học với cộng đồng, giữa con người với cảnh vật, giữa người học với người học Thông qua những hoạt động trên tạo

ra không gian giao tiếp rộng, nội dung giao tiếp gần gũi với học sinh, giúp học sinh có cơ hội trải nghiệm các kỹ năng giao tiếp ứng xử

Tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể thao một cách thiết thực, khuyến khích sự tham gia chủ động, tự giác của học sinh; tổ chức các trò chơi dân gian thông qua đó giúp học sinh rèn luyện kỹ năng sống, kỹ năng ứng xử hợp lý với các tình huống trong cuộc sống Thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp giúp học sinh ứng xử có văn hóa, loại bỏ bạo lực và tệ nạn xã hội trong học đường, củng cố mở rộng đào sâu tri thức, rèn kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thu thập, xử lý thông tin và xử lý tình huống

Tạo điều kiện học sinh được tham gia các hoạt động trong nhà trường một cách chủ động, để các em được bộc lộ quan điểm, thái độ và tình cảm của mình trước các vấn đề của cuộc sống, lao động, học tập Giúp các em rèn luyện các kỹ năng và hình thành quan hệ tốt trong giao tiếp với thầy cô và bạn bè Tổ chức những hoạt động như hội thảo về phương pháp học tập, hay các cuộc thi tìm hiểu để học sinh có cơ hội trải nghiệm và khảng định năng lực cá nhân

1.3.4.5 Xây dựng môi trường giao tiếp thân thiện ngoài nhà trường cho học sinh

Vận động sự vào cuộc của chính quyền, các ban ngành, đoàn thể địa phương, của cộng đồng dân cư đối với các hoạt động giáo dục của nhà trường như: quan tâm đầu tư các điểm vui chơi, các hoạt động văn hóa, văn nghệ thể

thao, các câu lạc bộ, tổ chức sinh hoạt Đoàn – Đội khu dân cư…

Phát huy những phong tục tập quán, nếp sinh hoạt khu dân cư và hương ước làng, bản tốt đẹp cần được duy trì và thu hút học sinh tham gia, đặc biệt

là huy động được các em tham gia các công trình công cộng, bảo vệ môi trường, chăm sóc các di tích văn hóa của địa phương

Trang 28

Sự phối kết hợp thường xuyên, hiệu quả giữa nhà trường, gia đình và

xã hội Trong đó đặc biệt đề cao vai trò gia đình, là môi trường học tập quan trọng của học sinh Khi nói đến vấn đề gia đình, chúng ta thường nghĩ đến vai trò của nó đối với trẻ em Thực tế giáo dục gia đình có ảnh hưởng lâu dài, toàn diện đối với sự tồn tại, phát triển của mỗi cá nhân trong suốt cuộc đời của nó Giáo dục gia đình đặt cơ sở hết sức quan trọng cho sự hình thành nhân cách gốc của trẻ em, thúc đẩy sự phát triển nhân cách ở tuổi vị thành niên, củng cố giữ gìn nhân cách con người ở tuổi trưởng thành và khi về già Giáo dục gia đình vì vậy là thường xuyên, suốt đời và có hệ thống

Giáo dục gia đình có những đặc điểm ưu thế so với giáo dục của xã hội

và nhà trường Trước hết vì nó xuất phát từ tình cảm và thông qua tình cảm,

có khi không cần lời nói mà qua thái độ, việc làm, cách đối xử trong gia đình v.v…Giáo dục gia đình mang tính cá biệt và cụ thể, chú đến những nét cá biệt của từng đứa trẻ Nó linh hoạt theo sự phát triển của trẻ em, theo sự thay đôi cuộc sống của gia đình và xã hội Bởi vậy, giáo dục gia đình có tính thực tiễn, qua thực tế để giáo dục và rất chú trọng đến kết quả thực tế của việc giáo dục

1.3.5 Một số kỹ năng giao tiếp cần thiết của học sinh DTNT

Giao tiếp vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật Để giao tiếp có hiệu quả thì đòi hỏi phải có rất nhiều kỹ năng khác nhau tùy vào đối tượng giao tiếp, môi trường giao tiếp mà bản thân mỗi người phải trau dồi cho mình những kỹ năng cần thiết Với các em học sinh dân tộc nội trú, một số kỹ năng giao tiếp quan trọng và cần thiết:

1.3.5.1 Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt

Cũng như bất kỳ ngôn ngữ nào khác, kỹ năng sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt sẽ được tập trung vào 04 kỹ năng cơ bản là: nghe, nói, đọc, viết Trong

đó mục 1.3.5.1 sẽ trình đề cập đến 3 kỹ năng là nói, đọc, viết còn phần kỹ năng nghe sẽ được trình bày cụ thể ở mục tiếp theo

Trang 29

* Kỹ năng nói trong sử dụng tiếng Việt

Kỹ năng nói hiệu quả là khả năng biểu đạt bằng lời nói, là một loại năng lực thể hiện qua khẩu ngữ để truyền đạt thông tin, biểu đạt tư tưởng, tình cảm một cách chính xác, sinh động, có sức thuyết phúc Có kỹ năng nói tốt không những làm cho việc học tập đạt hiệu quả hơn, mà còn giúp tự khẳng định bản thân trước tập thể, giúp đối tượng học sinh là người DTTS dễ dàng hòa nhập hơn trong quá trình học tập

Ngôn ngữ trong kỹ năng nói có sự khác biệt với ngôn ngữ sử dụng trong văn bản Khi nói cần sử dụng cả ngôn từ và các yếu tố phi ngôn từ, nghĩa là cần xem xét "nói cái gì" và "nói như thế nào"

Việc sử dụng ngôn từ trong giao tiếp “nói” phải đảm bảo các yêu cầu như: chính xác, rõ rang; dễ hiểu, có sức thuyết phục và khách quan, lịch sự Bên cạnh đó, để sử dụng kỹ năng nói có hiệu quả thì các yếu tố phi ngôn từ đóng một vai trò quan trọng Bởi vì, giao tiếp phi ngôn từ là loại hình giao tiếp không sử dụng ngôn ngữ mà dùng những phương thức khác để truyền đạt thông tin như phát âm, giọng nói, nhịp điệu, ngữ điệu, cách đi đứng, cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt, vẻ mặt, tư thế, trang phục, khoảng cách, vị trí

Trong hoạt động giao tiếp trực tiếp, ngôn ngữ không nói bằng lời có ý nghĩa hết sức quan trọng vì ngôn từ chỉ chiếm một phần những điều truyền đạt và những điều không nói ra đôi khi lại quan trọng hơn những điều nói ra Chính yếu tố này góp phần tạo ra nghĩa cho ngôn ngữ

Vì vậy, muốn nâng cao hiệu quả hoạt động giao tiếp của mình, học sinh người DTTS cần nắm được những thói quen, những quy tắc trong việc sử dụng các phương tiện giao tiếp phi ngôn từ để không chỉ hiểu được ý đồ của người khác, mà còn có thể diễn đạt được ý đồ của mình một cách đa dạng, phong phú Người giao tiếp giỏi chính là người biết kết hợp khéo léo, nhuần nhuyễn ngôn ngữ có âm thanh với ngôn ngữ không có âm thanh trong giao tiếp

Trang 30

* Kỹ năng đọc trong sử dụng tiếng Việt

Nếu như nghe và nói là hai kỹ năng được sử dụng trong giao tiếp trực tiếp thì đọc là kỹ năng gián tiếp Kỹ năng này cũng rất cần thiết cho hoạt động giao tiếp nói chung và hoạt động học tập nói riêng

Kỹ năng đọc là một kỹ năng được sử dụng khá nhiều trong quá trình học tập của học sinh nói chung Chúng ta có thể nói thông qua việc đọc, người giao tiếp cũng phần nào thể hiện được phong cách và trình độ giao tiếp của mình Nếu đọc nhanh, nắm bắt được thông tin chính xác sẽ giúp cho quá trình học tập của người học được hiệu quả hơn Vì vậy, trong hoạt động giao tiếp chúng ta không thể không chú ý đến việc đọc và rèn luyện kỹ năng đọc

để nâng cao hiệu quả giao tiếp

* Kỹ năng viết trong sử dụng tiếng Việt

Viết là một trong những kỹ năng giao tiếp cơ bản nhất Trong hoạt động học tập của học sinh thì kỹ năng này khá quan trọng giúp cho quá trình học tập đạt hiệu quả mong muốn Do đó, rèn luyện kỹ năng viết sẽ giúp cho người học sinh học tốt được rất nhiều môn học, đặc biệt là các môn khoa học xã hội Chữ viết là một công cụ dùng để giao tiếp và trao đổi thông tin, là phương tiện để ghi chép và tiếp nhận những tri thức văn hoá, khoa học và đời sống…Do vậy việc dạy cho học sinh từng bước làm chủ được công cụ chữ viết phục vụ cho học tập và giao tiếp là yêu cầu quan trọng của giáo dục nhà trường

Viết đúng, viết đẹp (ngôn ngữ Tiếng Việt) góp phần rèn cho cho các em

những phẩm chất tốt đẹp như tính cẩn thận, tỉ mỉ và tính thẩm mĩ - lòng yêu thích cái đẹp, tinh thần trách nhiệm ý thức tự trọng và thái độ tôn trọng người khác Chính vì thế Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: “ Chữ viết cũng là biểu hiện của nết người Dạy học sinh viết đúng, viết cẩn thận, viết đẹp là góp phần rèn luyện cho các em tính cẩn thận, tính kỉ luật, lòng tự trọng đối với mình”

Với học sinh bậc THPT kỹ năng viết đã phát triển gần như hoàn thiện, các em có thể viết các bài văn nghị luận xã hội bày tỏ quan điểm, thái độ của mình một cách độc lập hoặc viết những bài luận theo những chủ đề, chủ điểm

Trang 31

theo yêu cầu của giáo viên Việc viết tốt một chủ đề nào đó là một việc làm không hề đơn giản, nó là cả một quá trình đòi hỏi cần phải có sự rèn luyện và trau dồi thường xuyên

1.3.5.2 Kỹ năng lắng nghe

Nghe là một kỹ năng quan trọng trong hoạt động giao tiếp Bởi trong quá trình thực hiện hoạt động giao tiếp cả người phát tin lẫn người nhận tin đều phải sử dụng kỹ năng nghe Trong giao tiếp lắng nghe đem lại nhiều lợi ích:

- Thỏa mãn nhu cầu của người nói Người nói muốn được tôn trọng và lắng nghe là thể hiện sự tôn trọng của người nghe đối với người nói

- Thu thập được nhiều thông tin - Người ta chỉ thích nói với những ai biết lắng nghe vì vậy lắng nghe sẽ kích thích người nói nhiều hơn

- Hạn chế được những sai lầm trong giao tiếp Khi bạn lắng nghe sẽ giúp bạn hiểu được những điều họ nói, những cái họ muốn và cũng có thêm thời gian để cân nhắc xem nên đối đáp thế nào cho hợp lý, nghĩa là bạn có thể tránh được sai lầm do hấp tấp, vội vàng

- Tạo không khí biết lắng nghe nhau trong giao tiếp Bạn lắng nghe người nói thì đến khi bạn nói người đó sẽ lắng nghe bạn

- Giúp giải quyết được nhiều vấn đề Có nhiều vấn đề, nhiều mâu thuẫn không giải quyết được chỉ vì các bên không chịu lắng nghe để hiểu nhau Bằng thái độ tôn trọng, biết lắng nghe nhau sẽ giúp mỗi bên hiểu hơn về quan điểm, lập trường của bên kia và xác định được nguyên nhân gây mâu thuẫn từ

đó tìm ra được giải pháp để giải quyết vấn đề

Để lắng nghe có hiệu quả, chúng ta phải nghe ở mức độ nghe chăm chú

và đặc biệt là nghe thấu cảm Muốn làm được điều đó, chúng ta cần chú ý rèn luyện một số kỹ năng sau đây:

1.3.5.3 Kỹ năng chia sẻ

Khi biết lắng nghe thì chủ thể sẽ biết đồng cảm và chia sẻ với đối tượng giao tiếp Hai nguyên tắc này luôn gắn liền và song song với nhau Bản thân

Trang 32

mỗi người đều có những niềm vui, nỗi buồn và mong muốn được chia sẻ, được tâm sự, được ai đó đồng cảm

Chia sẻ là sự truyền hay tách cảm xúc của bản thân chủ thể sang một hay nhiều đối tượng khác để tìm được sự an ủi, vỗ về Những người biết chia sẻ là những người thực sự biết lắng nghe Nghe để rồi hiểu và họ sẽ chia sẻ với nhau tâm sự, cảm xúc Sự chia sẻ xuất phát từ hai phía: đối tượng và chủ thể

Ở lứa tuổi 15-18, học sinh có rất nhiều vướng mắc tâm lý về học tập, tình bạn, mối quan hệ xã hội… Sự ức chế tâm lý của các em đòi hỏi phải được giải toả Các em chia sẻ niềm vui, nỗi buồn với những người bạn thân để mong nhận được sự đồng tình, ủng hộ Hoặc có những vướng mắc các em muốn chia sẻ với giáo viên để tìm được một lời khuyên sâu sắc Người giáo viên hãy đặt địa vị của mình vào vị trí của các em để chia sẻ, để phân tích và đưa ra cho các em học sinh những lời khuyên hữu ích

1.3.5.4 Kỹ năng làm việc nhóm

Hiện nay, với quan điểm lấy người học làm trung tâm trong giáo dục và đào tạo nên việc áp dụng kỹ năng làm việc nhóm trong hoạt đông học tập của học sinh nói chung và học sinh DTTS là việc giúp hình thành một kỹ năng mềm hết sức quan trọng

Làm việc theo nhóm tạo điều kiện tăng năng suất và hiệu quả của hoạt động học tập Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng làm việc theo nhóm năng suất và hiệu quả của mỗi cá nhân cao hơn hẳn năng suất và hiệu quả trung bình của mỗi cá nhân khi làm việc hoặc học tập riêng lẻ Vì trong nhóm, khi làm việc các kỹ năng và kinh nghiệm bổ trợ lẫn nhau

Nhóm có thể tạo ra môi trường làm việc mà các kiến thức và kinh nghiệm của các cá nhân bổ trợ cho nhau, các quyết định đưa ra toàn diện và phù hợp hơn

Nhóm làm việc có đủ khả năng hoàn thành một công việc, bài tập hoàn chỉnh trong khi mỗi cá nhân chỉ có thể hoàn thành một phần việc Nhóm có thể tận dụng những gì tốt nhất của mỗi cá nhân trong công tác chuyên môn và

Trang 33

cả ngoài chuyên môn Các thành viên tự rút ra những gì tốt nhất để học hỏi lẫn nhau, cải thiện thái độ và ứng xử của mình

* Một số kỹ năng cần thiết khi làm việc theo nhóm

+ Kỹ năng ra quyết định Nhóm là một tập thể làm việc để đạt được mục tiêu Rất nhiều công việc cần phải được cùng bàn bạc, thảo luận và cuối cùng là ra quyết định Cho nên đi tới quyết định định cuối cùng là nhiệm vụ rất quan trong của nhóm Quá trình ra quyết định có sự tham gia có những đặc trưng riêng mà mỗi cá nhân trong nhóm cần phải hiểu để làm Trong quá trình làm việc nhóm có rất nhiều cách ra quyết định khác nhau như: ra quyết định kiểu thờ ơ, ra quyết định từ trên xuống, ra quyết định theo thiểu số, ra quyết định theo nguyên tắc đồng thuận

+ Kỹ năng điều hành nhóm Trưởng nhóm giữ vai trò người tổ chức, người thực hiện và người điều hành Trưởng nhóm phải lo bố trí các cuộc họp

từ buổi gặp mặt đầu tiên đến khi nhóm tan rã Việc tổ chức cuộc họp bàn kế hoạch sao cho có sự tham gia bình đẳng giữa các thành viên là kỹ năng cần có của trưởng nhóm Lập kế hoạch và phân công công việc cho các thành viên cũng là nghệ thuật của trưởng nhóm Tất cả các giai đoạn hoạt động của nhóm,

người nhóm trưởng phải nắm vững và điều hành cho tốt

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới việc phát triển môi trường giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh trường phổ thông DTNT

1.4.1 Môi trường văn hoá giao tiếp của nhà trường

Môi trường văn hóa giao tiếp của nhà trường có ảnh hưởng vô cùng to lớn đối với xây dựng môi trường phát triển kỹ năng giao tiếp cho học sinh nói chung và các học sinh là người dân tộc thiểu số Với những đặc điểm tâm lý của học sinh người dân tộc thiểu số như đã được phân tích trên thì sự các em

sẽ chịu nhiều sự ảnh hưởng môi trường văn hóa giao tiếp của nhà trường, nơi được coi là môi trường tổ chức chính thống đầu tiên của đối tượng học sinh

Trang 34

này Do đó, một môi trường văn hoá giao tiếp trường học thuận lợi sẽ giúp học sinh người dân tộc thiểu số có nhiều cơ hội để phát triển các kỹ năng giao tiếp cần thiết và ngược lại môi trường này không thuận lợi sẽ làm thui chột sự phát triển

Môi trường văn hoá giao tiếp nhà trường là một tập hợp các chuẩn mực, các giá trị niềm tin và hành vi ứng xử đặc trưng của một nhà trường Môi trường văn hóa giao tiếp nhà trường liên quan đến toàn bộ đời sống vật chất, tinh thần của một nhà trường Nó biểu hiện trước hết trong tầm nhìn, sử dụng triết lý, mục tiêu, các giá trị, phong cách lãnh đạo, quản lý,bầu không khí tâm lý…Nó được thể hiện thành hệ thống các chuẩn mực, các giá trị, niềm tin, quy tắc ứng xử tốt đẹp, được mọi thành viên trong nhà trường chấp nhận

Một trong những yếu tố cần thiết tạo nên thành công trong việc xây dựng môi trường văn hoá trong nhà trường đó là xây dựng kĩ năng giao tiếp ứng xử giữa các thành viên trong nhà trường và giữa các thành viên với các đối tác khác ngoài nhà trường như: cha mẹ học sinh, các ban ngành đoàn thể trong phường, cộng đồng dân cư,

Đặc thù công việc của người thầy là phải thường xuyên tiếp xúc với học sinh Công cụ lao động của người thầy chính là ngôn ngữ Vì vậy kỹ năng giao tiếp - ứng xử đòi hỏi người thầy phải tự xây dựng cho mính những điều mẫu mực nhất về chuẩn mực lời nói, hành vi trong giao tiếp, ứng xử, là "tấm gương sáng cho học sinh noi theo" Trong xu thế phát triển của thời đại, trong nền kinh tế hội nhập khi mà giá trị về văn hoá đang bị lung lay thì vấn đề giao tiếp và ứng xử lại trở nên vô cùng quan trọng và cần thiết hơn bao giờ hết Nhà trường không chỉ dạy chữ mà còn dạy làm người cho các thế hệ học sinh

Do đó giao tiếp, ứng xử của thầy và trò được coi trọng và coi là mẫu mực Nó

là một điểm quan trọng ảnh hưởng tới việc xây dựng môi trường văn hóa và xây dựng môi trường phát triển kỹ năng giao tiếp cho học sinh

Trang 35

1.4.2 Năng lực tổ chức các hoạt động học tập của giáo viên

Bên cạnh môi trường văn hóa giao tiếp của nhà nước thì năng lực tổ chức các hoạt động học tập của giáo viên sẽ là yếu tố trợ giúp đắc lực trong việc hình thành môi trường phát triển kỹ năng giao tiếp cho học sinh nói chung Bởi lẽ, năng lực tổ chức các hoạt động của giáo viên sẽ giúp định hướng cho mọi hoạt động học tập, giao tiếp của học sinh Một giáo viên có năng lực tổ chức các hoạt động học tập hiệu quả như biết áp dụng các phương pháp giảng dậy mới, hiện đại, biết sử dụng hiệu quả các kỹ năng giao tiếp sư phạm, biết xử lý các tình huống sư phạm trong quá trình giảng dậy sẽ khuyến khích, hỗ trợ được học sinh cùng tích cực tham gia các hoạt động do giáo viên

tổ chức Nggười giáo viên cũng cần mạnh dạn chuyển lối dạy cũ thụ động

“thầy đọc, trò chép”, “thầy giảng, trò nghe” sang lối dạy “thầy tổ chức, trò hoạt động”, “dạy học lấy học sinh làm trung tâm” Có như vậy mới phát huy được tính tự giác, tích cực học tập của các em, mới thực hiện được việc quan tâm đến từng em học sinh, nhất là đối với các em có hoàn cảnh khó khăn, các

em học sinh “cá biệt”

Một giáo viên có năng lực tổ chức các hoạt động học tâp tốt không chỉ

đơn thuần đóng vai trò là người truyền đạt kiến thức mà trở thành người

hướng dẫn cho học sinh trên con đường đi tìm tri thức Một cách cụ thể hơn,

người thầy còn đóng vai trò thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc

lập hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kỹ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình Trên lớp, học sinh hoạt động là chính, giảng viên chỉ là người hướng dẫn Nhưng trước khi lên lớp, giảng viên phải đầu tư nhiều thời gian để thiết

kế bài giảng sao cho thu hút được sự tham gia của học sinh vào quá trình giảng dậy của mình; chọn lọc phương pháp giảng dạy và phương pháp đánh giá phù hợp với mục tiêu và nội dung bài giảng Trong quá trình giảng dạy, ngoài giờ lên lớp, người thầy còn phải theo dõi các hoạt động tự học của sinh viên, giúp đỡ khi cần thiết, trao đổi thảo luận và góp ý để người học đi đúng hướng Như vậy,

Trang 36

người thầy trong giảng dạy và học tập chủ động cần phải đầu tư công sức và thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động mới có thể thực hiện bài lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào hứng, tranh luận sôi nổi của học sinh

1.4.3 Tính tích cực tham gia hoạt động của học sinh

Trong các yếu tố ảnh hưởng tới việc xây dựng môi trường phát triển kỹ năng của học sinh người dân tộc thiểu số thì bên cạnh môi trường văn hóa giao tiếp của nhà trường và năng lực tổ chức các hoạt động học tập của giáo viên được xem là yếu tố hỗ trợ thì có thể xem tính tích cực tham gia hoạt động của học sinh là yếu tố quyết định sự thành công trong việc thúc đẩy các em học sinh sử dụng thành thạo các kỹ năng giao tiếp Bởi lẽ, chính bản thân mỗi em học sinh mới là nhân tố quyết định khả năng giao tiếp của mình, nếu môi trường văn hóa giao tiếp của nhà trường là môi trường văn hóa thân thiện, năng lực tổ chức hoạt động học tập của giáo viên tốt nhưng bản thân các em học sinh lại không chủ động, tích cực tham gia các hoạt động học tập, vui chơi, ngoại khóa…thì cũng không thể giúp bản thân các em nhanh chóng hình thành các kỹ năng giao tiếp hiệu quả được

Trên quan điểm như vậy thì để phát huy tính tích cực tham gia các hoạt động của các em học sinh, nhất là các em học sinh người dân tộc thiểu số vốn

có đặc điểm tâm lý nhút nhát, khép kín, ít bộc lộ cảm xúc cần:

- Tăng cường kiểm tra, phát vấn, giao việc cho các em, qua đó góp phần giúp các em có khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ nói một cách có hệ thống, tự tin khi trình bày trước tập thể

- Phát động trong học sinh tham gia dự thi làm đồ dùng dậy học sau các tiết học Đây là cách để kiểm tra mức độ vận dụng của học sinh đồng thời cũng

là cơ hội để các em tham gia cải tiến giờ dạy có chất lượng cao hơn

- Thầy, cô giáo phải có phương pháp giảng dạy tích cực để cho học sinh có điều kiện tích cực tham gia các hoạt động học tập, ngoại khóa Bởi vì, nếu cứ dậy theo phương pháp truyền thống, thụ động “thầy giảng, trò nghe”

Trang 37

thì bản thân người học sẽ có rất ít cơ hội để tham gia hoạt động Thay vào đó

là các phương pháp dậy học tích cực lấy học viên làm trung tâm như phương pháp làm việc nhóm, phương pháp giảng dậy qua hoạt động dã ngoại… thì sẽ tạo ra nhiều cơ hội cho các em học sinh tham gia vào các hoạt động Bên cạnh

đó, trong một lớp học, số học sinh tích cực rất là ít, thường là những em có học lực và hạnh kiểm khá - giỏi, còn đa số là thụ động

- Đổi mới phương pháp giảng dạy sao cho có thể lôi cuốn tất cả học sinh tham gia

- Tổ chức một số hoạt động sáng tạo, phát huy trí tuệ và năng lực hoạt động của học sinh như thuyết trình, lập báo cáo, làm mô hình kỹ thuật, viết phần mềm tin học, sáng tác thơ văn…

- Các tổ bộ môn cũng sẽ giao một số đề tài nghiên cứu nhỏ cho học sinh thực hiện như: sưu tầm tranh ảnh, tài liệu theo chủ đề…

- Để tạo thêm sân chơi cho học sinh, tuỳ vào sở trường của mình, các

em có thể tham gia các CLB như CLB Tin học, CLB Thơ văn,

- Triển khai giới thiệu cho học sinh những giá trị di sản văn hoá vật thể

và phi vật thể của địa bàn học sinh sinh sống

- Trong những buổi ngoại khoá, chào cờ đầu tuần…nhà trường tổ chức lồng ghép kể chuyện về tấm gương các danh nhân, anh hùng liệt sĩ tiêu biểu của quê hương

- Tạo điều kiện học sinh được tham gia các hoạt động trong nhà trường một cách chủ động, được bộc lộ quan điểm, rèn luyện các kỹ năng và hình thành quan hệ tốt trong giao tiếp với thầy cô và bạn bè Tổ chức những hoạt động như hội chợ (vào dịp lễ, tết), hội thảo về phương pháp học tập, các buổi văn nghệ, trò chơi… để học sinh tự tham gia nhằm rèn luyện kỹ năng mềm để ứng dụng vào cuộc sống như thuyết trình, xây dựng hình ảnh bản thân, phương pháp làm việc nhóm…

Trang 38

Kết luận Chương 1

Phát triển môi trường giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh là những biện pháp của chủ thể giao tiếp (giáo viên, cán bộ) và đối tượng giao tiếp (học sinh) nhằm tạo ra môi trường (vật chất và tinh thần) an toàn, thân thiện, các mối quan hệ xã hội chia sẻ, hợp tác trong học tập, rèn luyện cùng với các yếu

tố tâm lý tích cực thúc đẩy người học tự giác, chủ động trong quá trình giao tiếp để thực hiện có hiệu quả mục tiêu và nhiệm vụ học tập đề ra

Môi trường văn hóa giao tiếp trong nhà trường chính là môi trường sư phạm, đó là những chuẩn mực về văn hóa giao tiếp trong việc dạy, học và cuộc sống hàng ngày Quá trình hình thành nhân cách và sự phát triển nhân cách chỉ có thể thực hiện trong một môi trường nhất định Môi trường tạo nên động cơ, mục đích, cung cấp phương tiện cho hoạt động và giao lưu cá nhân

Do đó, giáo dục nhà trường phải hướng vào việc xây dựng cho người học những định hướng đúng đắn để tiếp nhận những ảnh hưởng tích cực, đồng thời có khả năng chống lại những ảnh hưởng tiêu cực của môi trường

Phát triển môi trường giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh phổ thông, đặc biệt là học sinh DTNT cần quan tâm tới các nội dung: Xây dựng các chuẩn mực trong giao tiếp, văn hóa giao tiếp, phương pháp dạy học giáo dục hợp tác, tạo môi trường hoạt động đa dạng…Xây dựng môi trường giao tiếp và phát triển kỹ năng giao tiếp cho học sinh là một nội dung quan trọng trong xây dựng văn hóa nhà trường Xây dựng môi trường giao tiếp thân thiện, chia sẻ có khả năng phát triển kỹ năng giao tiếp cho học sinh là tạo ra những ảnh hưởng tích cực tới chất lượng dạy học và giáo dục toàn diện, tạo

sự công bằng trong giáo dục nhà trường./

Trang 39

phẩm chất và năng lực cho vùng kinh tế - xã hội (KT - XH) còn chậm phát

triển của tỉnh Hà Giang

Tổng số học sinh của nhà trường từ năm học 2005 - 2006 đến nay giữ ở

mức ổn định là 450 học sinh/năm với 22 dân tộc khác nhau đã và đang theo học tại trường Về cơ cấu dân tộc cũng tương đối ổn định Song về số lượng học sinh mỗi dân tộc còn chênh lệch tương đối lớn, chủ yếu là dân tộc Tày, H’Mông, Nùng, Dao Về giới tính, tỷ lệ học sinh nam nhìn chung nhiều hơn học sinh nữ từ 5% đến 10%

Trong những năm tới, theo định hướng của tỉnh Hà Giang, quy mô nhà trường sẽ tăng dần đảm bảo từ 600 đến 1.000 học sinh mỗi năm Đây là một thử thách lớn đối với đội ngũ giáo viên và đội ngũ lãnh đạo quản lý nhà

trường Nhưng đồng thời cũng là niềm vui phấn khởi của ngành GD – ĐT

tỉnh Hà Giang, của tập thể nhà trường trong quá trình phát triển và mở rộng quy mô hệ thống trường DTNT

Tập thể sư phạm nhà trường đứng đầu là hiệu trưởng luôn luôn quan tâm đến vấn đề phát triển môi trường văn hóa giáo dục của nhà trường nói chung và môi trường giao tiếp cho học sinh nói riêng Ngôn ngữ được sử

Trang 40

dụng giao tiếp chung trong nhà trường là ngôn ngữ tiếng Việt nhằm tạo ra tiếng nói chung giữa học sinh của các dân tộc khác nhau cùng học tập dưới mái trường DTNT

2.1.2 Tổ chức khảo sát thực trạng

* Mục đích khảo sát:

Nhằm đánh giá thực trạng môi trường giao tiếp và các kỹ năng giao tiếp của học sinh phổ thông dân tộc thiểu số trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp phát triển môi trường giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh

* Nội dung khảo sát:

- Khảo sát về thực trạng môi trường giao tiếp của học sinh phổ thông DTNT tỉnh Hà Giang

- Khảo sát về thực trạng kỹ năng giao tiếp của học sinh phổ thông DTNT tỉnh Hà Giang

- Các biện pháp phát triển môi trường giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh phổ thông DTNT tỉnh Hà Giang

Ngày đăng: 08/11/2014, 21:52

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Những lý do học sinh cảm thấy thích thú khi đƣợc học tập ở  trường phổ thông DTNT tỉnh Hà Giang - Phát triển môi trường giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Hà Giang
Bảng 2.1 Những lý do học sinh cảm thấy thích thú khi đƣợc học tập ở trường phổ thông DTNT tỉnh Hà Giang (Trang 43)
Bảng  2.2:  Ý  kiến  của  giáo  viên  về  những  nội  dung  giao  tiếp  học  sinh  trường phổ thông DTNT tỉnh Hà Giang thường trao đổi với giáo viên - Phát triển môi trường giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Hà Giang
ng 2.2: Ý kiến của giáo viên về những nội dung giao tiếp học sinh trường phổ thông DTNT tỉnh Hà Giang thường trao đổi với giáo viên (Trang 44)
Bảng 2.3: Ý kiến của học sinh về nội dung giao tiếp các em thường trao  đổi với giáo viên trường phổ thông DTNT tỉnh Hà Giang - Phát triển môi trường giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Hà Giang
Bảng 2.3 Ý kiến của học sinh về nội dung giao tiếp các em thường trao đổi với giáo viên trường phổ thông DTNT tỉnh Hà Giang (Trang 45)
Bảng  2.5:  Ý  kiến  của  học  sinh  về  những  biểu  hiện  quan  trọng  và  cần  thiết khi giao tiếp với thầy cô và bạn bè - Phát triển môi trường giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Hà Giang
ng 2.5: Ý kiến của học sinh về những biểu hiện quan trọng và cần thiết khi giao tiếp với thầy cô và bạn bè (Trang 48)
Bảng 2.6: Mức độ sử dụng Tiếng Việt (Tiếng Kinh) trong giao tiếp của  học sinh trường phổ thông DTNT tỉnh Hà Giang - Phát triển môi trường giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Hà Giang
Bảng 2.6 Mức độ sử dụng Tiếng Việt (Tiếng Kinh) trong giao tiếp của học sinh trường phổ thông DTNT tỉnh Hà Giang (Trang 50)
Bảng  2.7:  Kỹ  năng  lắng  nghe  của  học  sinh  trường  phổ  thông  DTNT  trong quá trình giao tiếp - Phát triển môi trường giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Hà Giang
ng 2.7: Kỹ năng lắng nghe của học sinh trường phổ thông DTNT trong quá trình giao tiếp (Trang 52)
Bảng  2.9:  Thực  trạng  về  nội  dung  phát  triển  môi  trường  giáo  dục  kỹ  năng giao tiếp cho học sinh trường phổ thông DTNT tỉnh Hà Giang - Phát triển môi trường giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Hà Giang
ng 2.9: Thực trạng về nội dung phát triển môi trường giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh trường phổ thông DTNT tỉnh Hà Giang (Trang 57)
Bảng  2.11:  Thực  trạng  các  phương  pháp,  biện  pháp  phát  triển  môi  trường giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh - Phát triển môi trường giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Hà Giang
ng 2.11: Thực trạng các phương pháp, biện pháp phát triển môi trường giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh (Trang 60)
Bảng 3.1: Kết quả khảo nghiệm về tính khả thi của các biện pháp xây  dựng môi trường phát triển kỹ năng giao tiếp cho học sinh trường phổ thông  DTNT tỉnh Hà Giang - Phát triển môi trường giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Hà Giang
Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm về tính khả thi của các biện pháp xây dựng môi trường phát triển kỹ năng giao tiếp cho học sinh trường phổ thông DTNT tỉnh Hà Giang (Trang 87)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm