1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu cơ sở khoa học cho đề xuất một số giải pháp phòng cháy chữa cháy rừng tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

79 710 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

về phòng cháy chữa cháy rừng, phương pháp dự báo cháy rừng đều dựa trên cơ sở mối quan hệ giữa các yếu tố khí tượng với nguồn vật liệu cháy hoặc giữa các yếu tố khí tượng với số vụ cháy

Trang 1

1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

MẠC VĂN XUYÊN

NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC CHO

ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP PCCCR TẠI THÀNH

PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Thái Nguyên, năm 2012

Trang 2

2

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa Lời cảm ơn……… i

Chữ viết tắt ……… ii

Danh mục các biểu………iii

ĐẶT VẤN ĐỀ ………….1

Chương 1 : TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1.Trên thế giới 4

1.2 Ở Việt Nam 11

Chương 2: MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 20

2.1.1 Mục tiêu chung 20

2.1.2 Mục tiêu cụ thể 20

2.2 Đối tượng nghiên cứu 20

2.3 Giới hạn nghiên cứu 20

2.4 Nội dung nghiên cứu 20

2.5 Phương pháp nghiên cứu 21

2.5.1 Phương pháp luận 21

2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu 22

2.5.3 Phương pháp xử lý số liệu 25

Chương 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI KHU VỰC 26

3.1 Vị trí địa lý 26

3.2 Địa hình 26

3.3 Khí hậu: 26

3.4 Sông ngòi và chế độ thuỷ triều: 27

3.5 Tài nguyên thiên nhiên: 28

3.6 Dân số 30

Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31

4.1 Đặc điểm rừng và tình hình cháy rừng tại thành phố Hạ Long 31

4.1.1 Diện tích và sự phân bố các loại rừng … 31

4.1.2 Một số đặc điểm cấu trúc trạng thái rừng chủ yếu ……… 32

4.1.3 Tình hình cháy rừng tại thành phố Hạ Long 37

4.2 Đặc điểm một số nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến cháy rừng tại thành phố Hạ Long - Quảng Ninh 38

4.2.1 Đặc điểm VLC 38

4.2.2 Ảnh hưởng của tốc độ gió đến khả năng cháy rừng 44

4.2.3 Đặc điểm của độ dốc 46

Trang 3

3

4.3 Đánh giá thực trạng công tác quản lý cháy rừng tại thành phố Hạ Long 50

4.3.1 Công tác tổ chức lực lượng PCCCR 50

4.3.2 Công tác giáo dục tuyên truyền 50

4.3.3 Công trình PCCCR 52

4.3.4 Trang thiết bị PCCCR 54

4.3.5 Công tác PCCCR ở các hộ gia đình……… 54

4.3.6 Những thuận lợi, khó khăn trong công tác PCCCR ở địa phương…… 55

4.3.6.1 Thuận lợi………55

4.3.6.2 Khó khăn………56

4.4 Đề xuất các giải pháp quản lý cháy rừng cho thành phố Hạ Long …… 57

4.4.1 Giải pháp về tổ chức - thể chế 58

4.4.2 Giải pháp kỹ thuật 59

4.4.3 Giải pháp về kinh tế - xã hội 67

KẾT LUẬN - TỒN TẠI - KIẾN NGHỊ 69

Kết luận 69

Tồn tại 71

Kiến nghị 71 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 4

4

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dậy: “Rừng là vàng nếu mình biết bảo

vệ, xây dựng thì rừng rất quý” Không những rừng là vàng mà trong tình hình

biến đổi khí hậu hiện nay rừng trở nên quan trọng hơn trong việc ứng phó việc nhiệt độ trái đất tăng lên, ô nhiễm môi trường càng nhiều

Thật vậy, rừng là một nguồn tài nguyên quan trọng đối với Việt Nam cũng như bất cứ quốc gia nào trên thế giới Ngoài giá trị kinh tế cao, rừng còn đóng vai trò quan trọng về môi trường sinh thái Trong những năm vừa qua những hoạt động của con người: khai thác cạn kiệt, phát nương làm rẫy, chuyển đổi mục đích sử dụng đất tràn lan đã làm cho tài nguyên rừng bị suy giảm nghiêm trọng cả về số lượng và chất lượng Đây là nguyên nhân gây nên những biến đổi khí hậu, hạn hán, lũ lụt, sạt lở đất xảy ra nghiêm trọng

Rừng có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế và môi trường sinh thái: giữ đất, giữ nước, chống xói mòn rửa trôi Bảo vệ nguồn nước cho sinh hoạt, cho các hoạt động công nghiệp, tạo không khí trong lành cho sự sống của con người, góp phần hạn chế thiên tai lũ lụt Rừng cung cấp nguyên, vật liệu cho các ngành: chế biến lâm sản, ngành xây dựng, công nghiệp khai thác than, hoạt động du lịch, cung cấp các lâm sản quý Đặc biệt rừng có vai trò quan trọng trong chiến lược thế trận quốc phòng toàn dân góp phần đảm bảo ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội Với ý nghĩa to lớn của rừng như vậy nhưng thực tế hiện nay nguy cơ mất rừng (đặc biệt là rừng phòng hộ và rừng đặc dụng) đang xảy ra ngày càng nhiều Có rất nhiều nguyên nhân mất rừng trong đó có nguyên nhân do cháy rừng, công tác PCCCR đã và đang được quan tâm nhưng vẫn còn rất hạn chế, nhiều nơi còn chưa thực hiện được Trong vài thập kỷ gần đây, biến đổi khí hậu với những đợt nóng hạn kéo dài bất thường đã làm cho cháy rừng trở thành thảm hoạ ngày càng nghiêm trọng Theo số liệu của Cục kiểm lâm, ở Việt Nam bình quân mỗi năm xẩy ra hàng trăm vụ cháy rừng và diện tích bị thiệt hại là hàng nghìn ha, trong đó chủ yếu là: rừng trồng tập trung các loài cây dễ cháy, rừng non, rừng phục

Trang 5

5

hồi, rừng tre nứa….Về kinh tế thiệt hại hàng trăm tỷ đồng, còn môi trường ngày càng ô nhiễm, làm tăng lũ lụt ở vùng hạ lưu, giảm tính đa dạng sinh học, phá vỡ cảnh quan, tác động xấu đến an ninh quốc phòng…

Nhận thức được vấn đề đó, trong những năm gần đây Đảng và Chính phủ Việt Nam đã rất quan tâm đến công tác quản lý, bảo vệ rừng đặc biệt là phòng cháy chữa cháy rừng, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra Tuy nhiên kết quả vẫn chưa được như mong muốn, cháy rừng vẫn thường xuyên xảy ra: do việc chấp hành các quy định của các chủ rừng chưa thực sự được quan tâm Việc đầu tư xây dựng các công trình PCCCR của các chủ rừng chưa đảm bảo theo quy định, một số địa phương chưa thực sự quan tâm đến công tác PCCCR, ý thức của người dân sống ở ven rừng và trong rừng đối với công tác PCCCR chưa cao Công tác PCCCR là một việc phải được áp dụng đồng bộ và phải được các cấp các nghành quan tâm, người dân hưởng ứng, các cơ quan quản lý nhà nước, các chủ rừng đòi hỏi phải nắm được đầy đủ những quy định pháp luật và những biện pháp cụ thể liên quan đến phòng cháy, chữa cháy rừng, vận dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh

cụ thể của từng địa phương

Quảng Ninh là một tỉnh đặc thù có trên 70% diện tích đất lâm nghiệp những năm vừa qua đã triển khai đồng loạt các dự án trồng rừng tập trung với một số loài cây dễ cháy như: Thông, Quế, Hồi Một số diện tích rừng tự nhiên là rừng tre nứa xen gỗ cộng với sự biến đổi khắc nghiệt của khí hậu thời tiết, có nhiều đợt nắng nóng kéo dài, phong tục tập quán đốt nương làm rẫy, đốt đồng

cỏ để chăn thả trâu, bò, đốt ong đã làm cho nguy cơ cháy rừng trên địa bàn luôn ở mức báo động Theo số liệu theo dõi tổng hợp từ Chi cục kiểm lâm tỉnh Quảng Ninh từ 2005 – 2010 trên địa bản tỉnh đã xảy ra 200 vụ cháy rừng thiệt hại 919 ha chủ yếu là rừng trồng tập trung thuần loài, trong đó địa bàn thường xuyên xảy ra cháy là địa bàn thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh

Từ những thực tế trên cho thấy mặc dù đã được quan tâm thường xuyên hơn nhưng cháy rừng vẫn xảy ra nhiều trong cả nước cũng như tỉnh Quảng

Trang 6

6

Ninh Một trong những nguyên nhân cháy rừng vẫn xảy ra là do còn thiếu những nghiên cứu cơ sở lý luận và những giải pháp cho công tác PCCCR

Xuất phát từ những thực tế đó chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu cơ sở

khoa học cho đề xuất một số giải pháp PCCCR tại thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh” nhằm góp phần khắc phục những tồn tại trong công tác

PCCCR tại địa phương cũng nhưng nâng cao hơn nữa công tác PCCCR trên địa bàn

Trang 7

Khi nghiên cứu về các biện pháp PCCCR người ta chủ yếu hướng vào làm suy giảm 3 thành phần của tam giác lửa Những công trình nghiên cứu của

Mỹ, Nga, Thụy Điển, Nhật Bản, Trung Quốc về phòng cháy chữa cháy rừng, phương pháp dự báo cháy rừng đều dựa trên cơ sở mối quan hệ giữa các yếu tố khí tượng với nguồn vật liệu cháy hoặc giữa các yếu tố khí tượng với

số vụ cháy xảy ra trong nhiều năm Các nghiên cứu chủ yếu hướng vào làm suy giảm 3 thành phần của tam giác lửa: (1) - Giảm nguồn lửa bằng cách tuyên truyền vận động không mang lửa vào rừng, dập tắt than sau khi dùng lửa (2) - Giảm khối lượng vật liệu cháy bằng cách đốt trước một phần vật liệu cháy, hoặc đốt đón đầu để cô lập đám cháy; (3) - Giảm khả năng cung cấp oxi cho đám cháy bằng cách dùng chất dập lửa (Hóa chất, cát, nước, đất ) để ngăn vật liệu cháy tiếp xúc với oxi Các chất dập cháy cũng có tác dụng làm giảm nhiệt độ để làm giảm hoặc ngưng hản quá trình cháy

Các nhà khoa học đã phân biệt có 3 loại cháy rừng: (1) Cháy dưới tán cây hay cháy mặt đất rừng là trường hợp chỉ cháy một phần hay toàn bộ lớp cây bụi, cỏ khô và cành rơi lá rụng trên mặt đất; (2) Cháy tán rừng (cháy ngọn cây) là trường hợp lửa lan tràn từ tán cây này sang tán cây khác; (3) Cháy ngầm (cháy dưới mặt đất) là trường hợp xảy ra khi lửa lan tràn chậm, âm ỉ dưới mặt đất trong lớp thảm mục dày hoặc than bùn Trong một đám cháy có

Trang 8

Năm 1918, Weitmann đã xác định được mối quan hệ chặt chẽ giữa hàm lượng nước của vật liệu cháy là thảm khô, thảm mục và cỏ dại với khả năng phát sinh cháy rừng Ông nghiên cứu thấy rằng giữa độ ẩm nhỏ nhất của VLC

và nhiệt độ trong ngày có quan hệ chặt chẽ với nhau, để từ đó đưa ra được mối quan hệ giữa hàm lượng nước của VLC với khả năng cháy rừng để dự báo nguy cơ cháy rừng như bảng 1.1 [4]

Bảng 1.1: Hàm lượng nước của VLC với mức độ nguy hiểm của cháy

rừng Cấp

Trang 9

9

phát sinh đám cháy Trên cơ sở phân tích trên ông đã đưa ra chỉ tiêu khí tượng tổng hợp để đánh mức độ nguy hiểm cháy rừng theo công thức:

Trong đó:

P: Chỉ tiêu tổng hợp phản ánh nguy cơ cháy rừng của một ngày nào đó

ti13: Nhiệt độ không khí lúc 13h ngày thứ i (0

Di: Là nhiệt độ điểm sương (0C)

Các chỉ tiêu được ký hiệu như ở công thức 1.1

Thực tế, nhiệt độ điểm sương phụ thuộc vào độ chênh lệch bão hòa của độ

ẩm không khí nên về bản chất 2 công thức (1.1) và (1.2) là giống nhau Tuy nhiên hạn chế của phương pháp này là chưa tính đến tốc độ gió và đặc điểm vật liệu cháy Với hệ số K xác định lượng mưa ngày và áp dụng công thức

Trang 10

10

(1.2), tính được chỉ tiêu P, từ đó phân mức nguy hiểm của cháy rừng thành 5 cấp như bảng 1.2

Bảng 1.2: Phân cấp mức độ nguy hiểm của cháy rừng theo chỉ tiêu P

Cấp cháy Chỉ tiêu tổng hợp P Mức độ nguy hiểm

của cháy rừng Theo Nesterov Theo ΓMЦ

- Năm 1979, Trabaud [8] tiến hành nghiên cứu thực nghiệm về cháy rừng

ở miền nam nước Pháp và đã kết luận rằng: tốc độ cháy lan của ngọn lửa ở một đám cháy nhỏ phụ thuộc vào tốc độ gió, chiều cao thực bì của VLC theo công thức:

Vp = 0.066 × Uv0.439 × H0.345 với r = 0.84 (1.3) Trong đó: Vp: Là tốc độ cháy lan (cm/s)

Uv: Tốc độ gió trung bình (cm/s)

H: Chiều cao thực bì (cm)

Theo công thức (1.3), khi tốc độ gió càng lớn thì lửa cháy lan càng nhanh, chiều cao thực bì có liên quan đến sinh khối của VLC cũng như tốc độ cháy của ngọn lửa

Cũng theo Trabaud, độ ẩm VLC càng cao, mức độ cháy lan càng giảm thể hiện bằng công thức

Vp = với r = 0.88 (1.4)

Trong đó: Te - Hàm lượng nước tính theo trọng lượng tươi của vật liệu Công trình nghiên cứu của ông còn chỉ ra rằng chiều cao của ngọn lửa tỷ lệ thuận với tốc độ cháy lan và chiều cao thực bì được tính theo công thức:

Lf = 12.33 × Vp0.428 × H0.477 với r = 0.83 (1.5)

Trang 11

11

Trong đó: Lf - Chiều cao ngọn lửa (cm)

Ở Thụy Điển dự báo cháy rừng dựa trên cơ sở chỉ số Angstrom [4]:

Trong đó: I - Là chỉ số Angstrom để xác định khả năng cháy rừng

R - Độ ẩm không khí thấp nhất trong ngày (%)

T - Nhiệt độ không khí cao nhất trong ngày (0C)

Sau khi tính được chỉ số I theo công thức trên, tiến hành phân mức nguy

cơ cháy rừng theo các cấp như bảng 1.3

Bảng 1.3: Phân cấp nguy cơ cháy rừng theo chỉ số Angstrom

Cấp cháy Chỉ số I Mức nguy cơ cháy rừng

II 2.5 ≤ I < 4.0 Ít có khả năng cháy

III 2.0 ≤ I < 2.5 Khả năng cháy rừng trung bình

Phương pháp dự báo này không tính đến ảnh hưởng của các nhân tố khí tượng: nhiệt độ không khí, độ ẩm không khí, lượng mưa, thời gian mưa và gió nên chưa phản ánh rõ nét mối quan hệ giữa nhiệt độ không khí, độ ẩm không khí với vật liệu cháy và ảnh hưởng đến cháy rừng

Tuy nhiên, đây là phương pháp đơn giản, dễ tính toán nên phương pháp dự báo cháy rừng theo chỉ số Angstrom vẫn được áp dụng rộng rãi ở Bồ Đào Nha

và nhiều nước thuộc địa cũ của Bồ Đào Nha

Theo nghiên cứu của Byram [8], [16], khối lượng vật liệu cháy ảnh hưởng đến cường độ đám cháy thể hiện qua công thức:

I = (1.7) Trong đó: I - Cường độ cháy (KW/m)

H - Nhiệt lượng cháy của vật liệu cháy (KJ/kg)

W - Khối lượng vật liệu cháy có sẵn (tấn/ha)

R - Tốc độ cháy lan của ngọn lửa phía trước (m/phút)

Trang 12

12

Cường độ cháy được chia thành 4 cấp theo bảng 1.4

Bảng 1.4: Phân cấp cường độ cháy theo Byram

Cấp Cường độ cháy (KW/m) Chiều cao ngọn lửa lớn nhất

Qua nghiên cứu các khu vực bị cháy ở Trung Quốc, Yangmei [8] đã đưa

ra phương pháp dự báo cháy rừng theo chỉ tiêu khả năng bén lửa với trình tự như sau:

- Dựa vào mối quan hệ của mức độ bén lửa của vật liệu cháy với các yếu

tố về: nhiệt độ không khí cao nhất (T14), độ ẩm tương đối không khí nhỏ nhất trong ngày (R14), số giờ nắng (m), lượng bốc hơi (M)

- Sau đó căn cứ vào trị số của cường độ cháy trung bình (I) để đánh giá mức độ nguy hiểm của cháy rừng với 5 cấp: không cháy, khó cháy, có thể cháy, dễ cháy và cháy mạnh

Phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng theo chỉ tiêu bén lửa của Yangmei cũng đã tính tới tác động tổng hợp của các nhân tố khí tượng có ảnh hưởng quan trọng tới khả năng phát sinh và phát triển của cháy rừng trong những ngày tháng dễ xảy ra cháy rừng một cách định lượng nhưng phương pháp này còn chưa đề cập tới sự ảnh hưởng của gió cũng như độ ẩm của vật liệu cháy đến tốc độ của đám cháy Vì vậy, mức độ chính xác còn có những hạn chế nhất định, nếu tính được cả thì phương pháp này sẽ chính xác hơn Cho đến những năm đầu của thế kỷ XX, nhiều chuyên gia về lửa rừng ở các nước trên thế giới đã bắt đầu quan tâm đến việc xây dựng các công trình nhằm hạn chế tác hại của lửa rừng như: làm đường băng trắng, đường băng xanh cản lửa; đốt trước vật liệu cháy có kiểm soát ở những nơi có nguy cơ cháy rừng cao…nhằm hạn chế tối đa những thiệt hại mà lửa rừng gây ra cho

Trang 13

cơ cháy cao [36] Đốt trước có kiểm soát được sử dụng phổ biến ở những

nước này và được coi là một biện pháp quản lý rừng hiệu quả

Năm 1995, ở Trung Quốc Wu Deyou cùng một số tác giả khác đã tiến hành nghiên cứu các biện pháp đốt trước có điều khiển dưới rừng Thông đuôi ngựa, Thông ba lá và Thông vân sam để làm giảm lượng VLC [38] Theo các tác giả, khi tiến hành đốt trước cần quan tâm đến 4 nhân tố chính ảnh hưởng đến khả năng cháy rừng đó là: chiều cao dưới cành, loại vật liệu cháy bề mặt,

sự tích lũy vật liệu cháy và chỉ số khô hạn Bên cạnh những yếu tố đó thì địa hình và độ dốc cũng là những nhân tố cần được quan tâm khi thực hiện biện pháp đốt trước VLC Kết quả nghiên cứu cho thấy giữa chiều cao bị cháy xém của cây và tỷ lệ cây bị chết có quan hệ với nhau Từ đó tác giả đưa ra một số quy định về việc đốt trước có điều khiển cho các loại rừng trên ở Trung Quốc Đây được coi là công trình đầu tiên của Trung Quốc về vấn đề đốt trước VLC

có điều khiển với quy mô lớn

Các phương pháp dự báo cháy rừng đã được mô hình hoá và xây dựng thành những phần mềm làm giảm nhẹ công việc và tăng độ chính xác của dự báo nguy cơ cháy rừng Việc ứng dụng ảnh viễn thám và công nghệ GIS đã cho phép phân tích những diễn biến thời tiết, dự báo nhanh chóng và chính xác khả năng xuất hiện cháy rừng, phát hiện sớm đám cháy trên những vùng rộng lớn

Nhìn chung có thể thấy rằng các nghiên cứu về dự báo cháy rừng, quản lý VLC trong công tác PCCCR được bắt đầu và hoàn thiện dần phần lớn từ những nước ở Châu Âu, Mỹ, Australia…Còn ở những nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam những công trình nghiên cứu mới chủ yếu áp dụng có

Trang 14

14

cải tiến những công trình nghiên cứu của các nước, vì vậy cần có những nghiên cứu cụ thể để áp dụng trong công tác PCCCR cho phù hợp với từng địa phương

1.2 Ở Việt Nam

Công tác dự báo khả năng xuất hiện cháy rừng mới được đề cập đến vào những năm 70 của thế kỷ XX nhưng chỉ được xem một cách định tính về các yếu tố khí tượng như: nắng, gió, mưa…

Năm 1988, Phạm Ngọc Hưng đã áp dụng phương pháp của V.G.Nesterov trên cơ sở nghiên cứu cải tiến, điều chỉnh hệ số K theo lượng mưa ngày để tính toán và xây dựng phương pháp dự báo cháy rừng cho rừng Thông tỉnh Quảng Ninh [17] theo công thức sau:

Trong đó:

P: Chỉ tiêu tổng hợp đánh giá nguy cơ cháy rừng

K: Hệ số điều chỉnh theo lượng mưa, K có giá trị bằng 1 khi lượng mưa ngày < 5mm, K có giá trị bằng 0 khi lượng lượng mưa ngày ≥ 5mm

ti13: Nhiệt độ không khí lúc 13h ngày thứ i (0

C)

di13: Độ chênh lệch bão hòa độ ẩm không khí tại thời điểm 13h ngày thứ i (mb) n: Số ngày không mưa hoặc có mưa nhưng nhỏ hơn 5mm kể từ ngày cuối cùng có lượng mưa ≥ 5mm

Sau đó tác giả dựa vào kết quả phân tích mối quan hệ giữa chỉ tiêu P với

số vụ cháy đã xảy ra trong 10 năm để chỉnh lý ngưỡng của các cấp dự báo cháy rừng ở Quảng Ninh, kết quả được ghi ở bảng 1.5

Trang 15

15

Bảng 1.5: Phân cấp cháy rừng Thông theo chỉ tiêu P ( Phạm Ngọc Hưng)

Cấp cháy Độ lớn của P Khả năng cháy rừng

V >10000 Cực kỳ nguy hiểm đối với cháy rừng Năm 1991, A.N.Cooper, chuyên gia về quản lý cháy rừng của FAO, sau khi khảo sát một số địa phương nước ta đề nghị sử dụng phương pháp của V.G Nesterov nhưng cần phải tính tới tốc độ gió[37] Sau khi tính chỉ tiêu P nhân với hệ số gió như sau:

Khi tốc độ gió là 0 - 4km/h P × 1

Khi tốc độ gió từ 5 - 15km/h P ×1.5

Khi tốc độ gió từ 16 - 25km/h P ×2

Khi tốc độ gió lớn hơn 25km/h P ×3

Sau khi tính chỉ tiêu P thì giá trị P mới (Pm) cho Việt Nam từ đó ông phân cấp nguy cơ cháy rừng thành 4 cấp theo bảng 1.6

Bảng 1.6: Cấp cháy cho rừng Thông của Việt Nam

(theo A.N Cooper, 1991) Cấp cháy Đặc trưng cấp cháy Chỉ số P Chỉ thị theo

màu

I Có nguy hiểm cháy thấp < 4000 Xanh

II Có nguy hiểm cháy trung

bình

4001 - 12000 Vàng

III Có nguy hiểm cháy cao 12001 - 30000 Da cam

IV Có nguy hiểm cháy rất cao > 30000 Đỏ

Trang 16

Năm 1995, Phan Thanh Ngọ nghiên cứu một số giải pháp PCCCR cho rừng Thông ba lá và rừng Tràm ở Việt Nam [22] Tác giả đã thử nghiệm và đề xuất giải pháp phòng cháy chủ động cho rừng Thông ba lá ở Đà Lạt và Nghệ

An Theo tác giả, với rừng Thông lớn tuổi không cần phải gom vật liệu cháy

mà trước khi đốt chỉ cần tuân thủ những nguyên tắc về chọn thời điểm và thời tiết thích hợp để đốt Tác giả cũng cho rằng có thể áp dụng đốt trước vật liệu cháy cho một số trạng thái rừng ở địa phương khác Tuy nhiên nghiên cứu mới chỉ áp dụng cho các lâm phần Thông trên 10 tuổi còn những trạng thái khác thì chưa được đề cập, nghiên cứu đến

Năm 1995, Võ Đình Tiến và các cộng sự đã tiến hành dự báo cháy rừng theo phương pháp chỉ tiêu tổng hợp P cải tiến và chỉ số khô hạn của Phạm Ngọc Hưng dựa vào các yếu tố: khí hậu và thời tiết, loại rừng, VLC, địa hình

và các yếu tố khí tượng Từ đó để đưa ra chỉ tiêu nguy hiểm cháy rừng và tiến hành phân cấp trọng điểm cháy dựa vào sự ảnh hưởng của các yếu tố khí tượng đến độ ẩm vật liệu cháy [27] Tác giả đã phân vùng trọng điểm cháy rừng cho Bình Thuận dựa vào những điều kiện khí tượng riêng biệt của vùng và rất quan tâm đến yếu tố con người là một trong những nguyên nhân gây cháy rừng Đây

Trang 17

Tác giả đã nghiên cứu tại 3 khu vực: huyện Hoành Bồ - Quảng Ninh, Hà Trung - Thanh Hóa và Nam Đàn - Nghệ An, kết quả cho thấy cả 3 khu vực khi áp dụng các phương trình dự báo độ ẩm VLC để có sai số tích lũy theo thời gian Trong 5 ngày, sai số trung bình là 7%, trong 10 ngày liên tục sai số trung bình là 8.5%, trong 15 ngày liên tục sai số trung bình xấp xỉ 10% và trong khoảng 20 ngày liên tục sai số trung bình trong cả 3 khu vực là lớn hơn 10% Do đó để đảm bảo độ chính xác cho công tác dự báo chính xác thì sau

10 ngày phải xác định lại độ ẩm vật liệu cháy bổ sung Từ đó tác giả đưa ra được biểu phân cấp cháy rừng theo độ ẩm VLC như bảng 1.7

Bảng 1.7: Phân cấp cháy rừng theo độ ẩm VLC

Biến đổi của tốc độ cháy

Khả năng xuất hiện cháy

IV 10 - 16.9 0.0064 - 0.0096 Nhanh Có nhiều khả năng cháy,

nguy hiểm

Trang 18

và truyền tin về nguy cơ cháy rừng, tự động cập nhật, lưu trữ số liệu và xác định nguy cơ cháy cho các địa phương Phần mềm này đã góp phần tích cực trong việc nâng cao nhận thức về phòng cháy chữa cháy rừng của cán bộ và nhân dân cả nước Tuy nhiên, phần mềm dự báo cháy rừng sau một thời gian

áp dụng đã thể hiện một số tồn tại sau: nguy cơ cháy rừng được đồng nhất cho những đơn vị hành chính rộng lớn và đồng nhất cho các kiểu rừng khác nhau Trong khi đó, điều kiện khí hậu và nguy cơ cháy rừng phân hoá mạnh theo không gian và cả các trạng thái rừng Vì vậy tính chính xác của thông tin dự báo cháy rừng chưa cao

Năm 2004 - 2006, Lê Thị Hiền và các cộng sự đã thực hiện đề tài nghiên cứu cơ sở khoa học để hiệu chỉnh phương pháp dự báo cháy rừng ở các tỉnh phía Bắc [15] Đề tài đã nghiên cứu được đặc điểm phân hóa của một số nhân

tố khí tượng, phân hóa tiểu khí hậu và nguy cơ cháy rừng ở các kiểu rừng có nguy cơ cháy cao ở các tỉnh phía Bắc Từ đó làm cơ sở nghiên cứu hiệu chỉnh phương pháp dự báo cháy rừng cho các tỉnh phía Bắc, là công thức dự báo cháy rừng ở Miền Bắc có dạng chung của công thức dự báo nguy cơ cháy rừng của Việt Nam - công thức của Nesterov Tuy nhiên đây là công thức dự báo cho một vùng không phải cho một khu vực đơn lẻ, do đó sẽ gặp khó khăn cho một số địa phương khi có những điều kiện về khí hậu địa phương khác Năm 2004, Nguyễn Tiến Đạt đã nghiên cứu phương pháp dự báo cháy rừng cho một số kiểu rừng dễ cháy tỉnh Gia Lai [12] Tác giả đã nghiên cứu đặc điểm cấu trúc một số trạng thái rừng với nguy cơ cháy rừng và đưa ra một số phương trình dự báo độ ẩm vật liệu cháy, tốc độ cháy dưới rừng Thông và rừng Khộp ở khu vực nghiên cứu để giúp cho việc bố trí lực lượng

Trang 19

19

và phương tiện chữa cháy Tuy nhiên, đề tài vẫn chưa thử nghiệm được tốc độ cháy của vật liệu cháy cho từng trạng thái rừng nên chưa xác định được cấp cháy cho từng trạng thái rừng, phải kế thừa phân cấp nguy cơ cháy rừng của các nghiên cứu trước mà chưa có kiểm nghiệm độ chính xác

Năm 2006, Vương Văn Quỳnh và các cộng sự đã nghiên cứu xây dựng phần mềm dự báo lửa rừng cho khu vực U Minh và Tây Nguyên Phần mềm này khắc phục được một số nhược điểm của phần mềm xây dựng năm 2002 Cho đến nay phương pháp dự báo cháy rừng ở nước ta vẫn còn mới mẻ, trong đó vẫn chưa tính đến đặc điểm của trạng thái rừng, đặc điểm khí hậu và điều kiện kinh tế xã hội có ảnh hưởng tới cháy rừng từng địa phương

Năm 2007, Lê Văn Tập nghiên cứu cơ sở khoa học để hiệu chỉnh cấp dự báo nguy cơ cháy rừng cho các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ [24] Tác giả đã nghiên cứu trên 3 loại rừng:

Loại 1: là rất dễ cháy bao gồm rừng tre nứa tự nhiên, rừng trồng Thông, tre luồng và một số trạng thái thực bì như ràng ràng, cỏ tranh, lau lách…

Loại 2: là rừng dễ cháy gồm một số trạng thái rừng trồng ngoài Thông, trạng thái Ia, Ib

Loại 3: là rừng ít có khả năng cháy là rừng tự nhiên và rừng ngập mặn Qua nghiên cứu tác giả đã đưa ra bảng hiệu chỉnh chỉ tiêu P cho 2 loại rừng rất dễ cháy và dễ cháy cho khu vực Bắc Trung Bộ, hệ số điều chỉnh chính là hệ số Đề tài nghiên cứu đã kết luận: Đặc điểm cấu trúc có ảnh hưởng

rõ rệt đến nguy cơ cháy rừng của các kiểu rừng khác nhau Nhưng nghiên cứu mới chỉ đưa ra các yếu tố khí tượng có ảnh hưởng đến biến đổi vật liệu cháy

là nhiệt độ, độ ẩm không khí, lượng mưa mà chưa đưa ra ảnh hưởng của gió đến vật liệu cháy

Năm 2007, Hà Văn Hoan đã nghiên cứu một số giải pháp nhằm quản lý vật liệu cháy cho rừng trồng tại huyện Cam Lộ, Tỉnh Quảng Trị [16] Tác giả

đã thử nghiệm trên rừng Thông 6 tuổi, 10 tuổi, 20 tuổi và rừng Keo lá Tràm 3 tuổi, 6 tuổi Nghiên cứu chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng đến đặc tính đám

Trang 20

20

cháy bao gồm: khối lượng vật liệu cháy, độ ẩm vật liệu cháy, loại thực bì Tuy nhiên nghiên cứu chưa đề cập đến một số yếu tố khí tượng ảnh hưởng đến VLC, ảnh hưởng của địa hình đến vật liệu cháy

Năm 2008, Trần Văn Thắng đã nghiên cứu xây dựng giải pháp quản

lý thủy văn phục vụ phòng cháy chữa cháy rừng vườn quốc gia U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang [26] Kết quả nghiên cứu cho thấy để đảm bảo an toàn cho rừng Tràm trên than bùn không bị cháy thì mực nước cần đảm bảo duy trì ở mức ngập 50 cm so với mặt than bùn Kết quả này làm cơ sở cho việc điều tiết chế độ thủy văn phục vụ công tác PCCCR ở VQG U Minh Thượng nhưng lại chưa có cơ hội để kiểm nghiệm thực tế

Năm 2008, Nguyễn Tuấn Anh đã phân vùng trọng điểm cháy cho tỉnh Quảng Bình [1].Tác giả đã đưa ra được mối quan hệ giữa nhiệt độ không khí

và lượng mưa trung bình theo kinh độ, vĩ độ và độ cao để có thể phân vùng trọng điểm cháy của Quảng Bình theo điều kiện khí hậu và địa hình thành 5 cấp Tuy nhiên đề tài mới chỉ dừng lại ở một số trạng thái rừng điển hình của khu vực, chưa có nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế - xã hội đến nguy cơ cháy rừng

Năm 2009, Nguyễn Đình Thành đã nghiên cứu giải pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm giảm thiều nguy cơ cháy rừng trồng ở Bình Định [25] Tác giả đã tiến hành nghiên cứu trên trạng thái Bạch đàn và Keo ở các tuổi khác nhau, ảnh hưởng của vật liệu cháy, độ ẩm vật liệu cháy và độ dốc đến khả năng cháy rừng, đồng thời cũng đưa ra một số loài cây trồng làm băng xanh để giảm thiểu nguy cơ cháy rừng như: Sao đen, Muồng đen, Chò chỉDầu rái, Xoan ta, Bời lời nhớt, Sữa Tác giả cũng đã nghiên cứu thấy rằng với rừng trồng Bạch đàn thì việc đốt trước có hiệu quả hơn việc áp dụng biện pháp vệ sinh rừng Tuy nhiên việc nghiên cứu mới chỉ thử nghiệm trên diện tích chưa rộng và việc lựa chọn loài cây trồng làm băng cản lửa chưa được thử nghiệm trên từng điều kiện lập địa Vì vậy cần có những nghiên cứu cho các vùng lân cận để đánh giá chính xác hơn của nghiên cứu này Trong quá trình nghiên cứu tác

Trang 21

21

giả đã đưa ra bảng phân cấp khả năng xuất hiện cháy rừng theo độ ẩm VLC Việc dự báo khả năng cháy rừng và phân cấp mức độ nguy hiểm của cháy rừng cho từng ngày cụ thể cần phải xác định chính xác độ ẩm vật liệu trong ngày đó Nhưng thực tế điều này rất khó làm, nên việc dự báo phải thông qua yếu tố khí tượng

Năm 2010, Trịnh Phú Thuận đã nghiên cứu xây dựng các giải pháp quản

lý cháy rừng tại thị xã Uông Bí [30] Tác giả đã tiến hành nghiên cứu trên trạng rừng tự nhiên (IIa, IIIa), rừng trồng Keo ở các cấp tuổi, rừng trồng Thông Bạch đàn ở các cấp tuổi Ảnh hưởng của vật liệu cháy, điều kiện khí tượng, điều kiện địa hình ảnh hưởng đến khả năng cháy rừng, xây dựng bản

đồ quản lý cháy rừng cho khu vực Uông Bí Tác giả cũng đã đề xuất các biện pháp kỹ thuật: xây dựng đường băng xanh cản lửa, đường băng trắng, quản lý vật liệu cháy, đốt trước vật liệu cháy… Trong đề tài nghiên cứu đã chỉ ra rằng những nơi có địa hình dốc trên 250

không nên xây dựng băng trắng cản lửa, nên xây dựng đường băng xanh, nếu trong trường hợp chưa có điều kiện có thể làm đường băng trắng 1-2 năm đầu sau đó xây dựng đường băng xanh Việc đốt trước có điều khiển cần chú ý đến tuổi rừng, tốc độ gió, chiều cao dưới cành của tầng cây cao, độ ẩm vật liệu cháy và thời điểm đốt Tuy nhiên việc tiến hành nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở một số trạng thái rừng nhất định chưa được tiến hành trên diện rộng, tập trung ở phường Vàng Danh, Thượng Yên Công Chính vì vậy nếu có điều kiện nghiên cứu rộng hơn, thời gian theo dõi dài thì kết quả nghiên cứu sẽ áp dụng trên diện rộng, chính xác

Nhìn chung quá trình nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy rằng các tác giả đã vận dụng những phương pháp của thế giới thay đổi cho phù hợp với điều kiện của chúng ta Tuy nhiên thì việc nghiên cứu mới chỉ quan tâm nhiều đến nhân

tố VLC, còn vấn đề quản lý nguồn VLC và các vấn đề kinh tế xã hội thì chưa được đi sâu nghiên cứu

Thành phố Hạ Long thuộc tỉnh Quảng Ninh, có diện tích đất Lâm nghiệp khá lớn với nhiều diện tích rừng dễ cháy (chủ yếu là rừng trồng Thông, Bạch

Trang 22

22

đàn, Keo, rừng tự nhiên là rừng ngập mặn), tuy nhiên chưa có một nghiên cứu

cụ thể nào về công tác PCCCR Những công trình PCCCR chủ yếu là thủ công chưa có nhiều cơ sở khoa học Do đó, nghiên cứu xây dựng các giải pháp quản lý cháy rừng cho thành phố Hạ Long là rất cần thiết

Đánh giá chung

Điểm qua các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan tới

đề tài nghiên cứu cho thấy, trên thế giới các công trình nghiên cứu PCCCR… được triển khai tương đối toàn diện ở các nước phát triển, cách tiếp cận và các phương pháp đánh giá đã được được chuẩn hoá hoàn thiện nên độ chính xác

của kết quả cao

Ở Việt Nam các công trình nghiên cứu về PCCCR, được đặc biệt quan tâm chú ý trong những năm gần đây khi quan điểm phát triển bền vững được

đề cao, trong bối cảnh thiên tai bất lợi ngày một nhiều Phương pháp nghiên cứu, đánh giá cũng dần được hoàn thiện và tiếp cận được với khu vực và thế giới Tuy nhiên, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng, công tác dự tính, dự báo chỉ dừng lại ở bước đầu, vì khi tiến hành nghiên cứu cơ sở vật chất, trang thiết bị còn thiếu thốn nhiều vì vậy độ chính xác không cao vì thế đưa ra các giải pháp can thiệp hiệu quả thấp Đây là một trong những tồn tại lớn nhất hiện nay ở nước ta cần được khắc phục trong thời gian tới

Những kết quả nghiên cứu trên đây, các phương pháp áp dụng trên thế giới và trong nước có liên quan là những tài liệu thảm khảo có giá trị của đề tài trong việc nghiên cứu của đề tài

Trang 23

23

Chương 2: MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Lửa rừng và các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng trồng đã và đang được áp dụng tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

2.3 Giới hạn nghiên cứu

Đề tài tập trung vào nghiên cứu một số các yếu tố ảnh hưởng đến cháy rừng và các biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng đã và đang thực hiện tại một số phường của thành phố Hạ Long

2.4 Nội dung nghiên cứu

Đề tài tiến hành nghiên cứu những nội dung chủ yếu sau:

2.3.1: Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và thực trạng tài nguyên rừng

2.3.2: Thực trạng cháy rừng từ năm 2002- 2011 (số vụ cháy rừng;loại rừng

bị cháy; mức độ thiệt hại; nguyên nhân)

2.3.3: Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến cháy rừng

+ Đặc điểm vật liệu cháy

+ Điều kiện khí tượng

+ Đặc điểm địa hình

2.3.4: Đánh giá thực trạng công tác phòng cháy chữa cháy rừng

- Công tác tổ chức

Trang 24

- Giải pháp kinh tế xã hội

2.5 Phương pháp nghiên cứu

2.5.1 Phương pháp luận

Rừng là một hệ sinh thái bao gồm các thành phần sống và không sống, có quan hệ mật thiết với nhau Muốn nghiên cứu những quy luật diễn ra với hệ sinh thái rừng cần phải nghiên cứu đầy đủ các thành phần trong hệ sinh thái Tuy nhiên do giới hạn thời gian, đề tài chỉ nghiên cứu những thành phần ảnh hưởng quyết định đến nguy cơ cháy rừng như: cấu trúc rừng, thành phần vật liệu cháy, khí hậu khu vực nghiên cứu

Cấu trúc rừng là quy luật sắp xếp tổ hợp của các thành phần cấu tạo nên quần thể rừng theo không gian và thời gian Các đặc điểm về cấu trúc như: loài cây, mật độ, độ tàn che, độ che phủ có ảnh hưởng lớn đến khả năng xuất hiện

và lan rộng đám cháy Mặt khác cấu trúc rừng còn ảnh hưởng đến việc hình thành tiểu khí hậu, làm thay đổi các chỉ tiêu về độ ẩm không khí, nhiệt độ, tốc

độ gió và các yếu tố này lại ảnh hưởng trực tiếp đến nguy cơ cháy rừng

Cháy rừng chỉ xuất hiện khi có đầy đủ cả 3 yếu tố: oxi, nguồn lửa và vật liệu cháy Thiếu một trong ba yếu tố này thì cháy rừng không xảy ra Trong các yếu tố nói trên, Oxi luôn có sẵn trong không khí (khoảng 21%), luôn đủ đáp ứng để duy trì và phát triển đám cháy Nguồn lửa chủ yếu do con người mang đến hoặc do các hiện tượng của tự nhiên sấm sét, nhưng khó kiểm soát Vật liệu cháy phụ thuộc vào độ ẩm, khi có độ ẩm nhỏ sẽ dễ cháy còn khi có

độ ẩm lớn sẽ không cháy hoặc quá trình cháy sẽ tự tắt Điều này phụ thuộc vào điều kiện khí hậu Vật liệu cháy, là tất cả vật chất hữu cơ ở trong rừng có

Trang 25

25 thể bắt lửa và bốc cháy, bao gồm cả chất hữu cơ trong đất và trên mặt đất, nhưng vật liệu chỉ có thể cháy khi độ ẩm thấp Nhiều công trình nghiên cứu

về dự báo cháy rừng đã kết luận: độ ẩm và khả năng cháy rừng phụ thuộc chủ yếu vào điều kiện khí hậu và cấu trúc rừng Độ ẩm vật liệu cháy là yếu tố dễ thay đổi nhất dưới ảnh hưởng của điều kiện thời tiết, độ ẩm không khí, gió…Sự khác biệt về thời tiết, khí hậu trong lãnh thổ là do sự khác biệt về điều kiện địa hình Do đó khi đề xuất các giải pháp phòng cháy, chữa cháy người ta thường căn cứ vào các quy luật ảnh hưởng của vật liệu cháy đến cháy rừng và đặc điểm biến đổi của chúng trong khu vực Trong đó cũng phải thừa nhận thấy rằng lửa rừng là nhân tố chịu ảnh hưởng cả của yếu tố tự nhiên

và xã hội Việc quản lý lửa rừng phải dựa trên cả những đặc điểm về kinh tế

và xã hội mới đạt được hiệu quả cao

2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu

2.5.2.1 Phương pháp kế thừa các số liệu có chọn lọc

- Kế thừa có chọn lọc các tài liệu về điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội ở

khu vực nghiên cứu, báo cáo tổng kết của Hạt Kiểm lâm huyện, UBND xã, Trạm kiểm lâm địa bàn theo từng năm về công tác quản lý bảo vệ rừng

- Nghiên cứu các tài liệu có liên quan về công tác PCCCR

- Tìm hiểu luật và các văn bản dưới luật liên quan đến công tác PCCCR cña chÝnh phñ, hướng dẫn về công tác PCCCR của tỉnh Quảng Ninh

2.5.2.2 Phương pháp điều tra nhanh nông thôn (PRA)

Thông qua việc đi quan sát thực tế và phỏng vấn một số cán bộ và người

dân tham gia công tác PCCCR để thu thập những thông tin cần thiết phục vụ

đề tài sử dụng công cụ phỏng vấn cá nhân với bộ câu hỏi đã xây dựng trước Cán bộ được phỏng vấn 10 người là cán bộ làm công tác chuyên trách bảo

vệ rừng, cán bộ địa phương liên quan đến bảo vệ rừng và phòng chữa cháy rừng Người dân được tiến hành phỏng vấn họ là những người dân có tham gia và hiểu biết về PCCCR, nhưng người này đại diện về tuổi, giới tính, dân

tộc (câu hỏi xem phụ lục 02)

Trang 26

26

2.4.2.3 Nghiên cứu thực nghiệm tìm ảnh hưởng của cấu trúc rừng, vật liệu cháy ảnh hưởng đến cháy rừng

* Phương pháp điều tra đặc trưng cấu trúc rừng

Trên địa điểm nghiên cứu đã lựa chọn, đề tài tiến hành lập 10 ô tiêu chuẩn phân bố ở các trạng thái rừng trồng trên một số địa phương khác nhau Thông tin về cấu trúc các trạng thái rừng được thu thập bằng phương pháp điều tra trên các ô tiêu chuẩn điển hình tạm thời Diện tích mỗi ô tiêu chuẩn là 500m2 Trên mỗi ô tiêu chuẩn lập 5 ô dạng bản để điều tra cây bụi thảm tươi, cây tái sinh Bộ mẫu biểu điều tra ngoài thực địa được trình bày ở phụ lục 01 phần phụ biểu

+ Điều tra tầng cây cao

- Đường kính D1.3 được xác định bằng thước kẹp kính có độ chính xác đến mm

- Chiều cao vút ngọn (Hvn) và chiều cao dưới cành (Hdc) của tầng cây cao

được xác định bằng thước Blume-lessi có độ chính xác đến 0.5m

- Đường kính tán của tầng cây cao được xác định bằng thước dây có độ

chính xác đến 0.1m

- Xác định độ tàn che bằng phương pháp hệ thống mạng lưới 100 điểm

được bố trí ngẫu nhiên, cách đều trong các ô tiêu chuẩn( kết quả ghi vào biểu

01 phụ lục)

+ Điều tra cây bui thảm tươi

- Lớp cây tái sinh cây bụi, thảm tươi được điều tra trên 5 ô dạng bản phân

bố ở bốn góc và giữa ô tiêu chuẩn, diện tích mỗi ô dạng bản là 25m2(5m*5m) Trong mỗi ô dạng bản tiến hành điều tra chiều cao, độ che phủ và tình hình sinh trưởng của cây bụi, thảm tươi Cây tái sinh được điều tra theo nguồn gốc tái sinh (chồi hay hạt), chiều cao phân 3 cấp (<0.5m, từ 0.5 - 1m, > 1m), chất lượng được đánh giá theo 3 cấp (tốt, trung trình, xấu)

- Chiều cao cây tái sinh được xác định bằng sào có độ chính xác đến dm

- Chất lượng cây tái sinh được đánh giá qua hình dạng thân và tán lá kết

quả ghi vào biểu 02 03 phụ lục)

Trang 27

27

* Điều tra đặc điểm vật liệu cháy

- Vật liệu cháy được điều tra trên ô dạng bản có diện tích 1m2 phân bố đều trong ô tiêu chuẩn Xác định khối lượng của vật liệu cháy bằng cách thu gom toàn bộ VLC trong ô dạng bản chia thành 3 loại: thảm tươi, thảm khô và thảm mục; từng loại được cân riêng bằng cân có độ chính xác đến 10 gam, sau đó

tính trung bình cho cả ô tiêu chuẩn (tấn/ha),( kết quả ghi vào biểu 04 phụ lục)

- Độ ẩm VLC: Lấy mẫu VLC ở các ÔTC trong thời gian sau 5 ngày không

có mưa, xác định độ ẩm của chúng bằng phương pháp cân sấy

Công thức xác định độ ẩm của vật liệu cháy như sau:

W = (Q0 – Q)* 100%

Trong đó Q0 là khối lượng mẫu, Q là khôi lượng khô tuyết đối sấy ở 1050c

- Khả năng cháy của vật liệu và tốc độ lan tràn của đám cháy được xác định qua kết quả đốt thử Trên mỗi ô tiêu chuẩn tiến hành đốt thử trên ô mẫu, diện tích đốt thử là 1m2 (1m×1m) Trước khi đốt, xác định khối lượng VLC, tốc độ gió, độ dốc Trong quá trình đốt xác định chiều cao ngọn lửa bằng thước sào có chia đến cm, thời gian ngọn lửa cháy hết làm cơ sở xác định tốc

độ đám cháy Khi đốt chuẩn bị đầy đủ các yêu cầu để đảm bảo an toàn tránh

để cháy lan

+ Quan trắc các yếu tố khí tượng ở khu vực nghiên cứu

Để phân tích ảnh hưởng của các yếu tố khí tượng đến độ ẩm vật liệu cháy

và nguy cơ cháy rừng, đề tài kế thừa các số liệu khí tượng nhiệt độ và độ ẩm không khí, tại trung tâm khí tượng thủy văn tỉnh Quảng Ninh Trong thời gian

40 ngày tiến hành nghiên cứu Đây là thông tin cần thiết để phân tích quan hệ giữa tốc độ cháy của vật liệu với các yếu tố khí tượng

* Điều tra đánh giá thực trạng công tác quản lý cháy rừng tại khu vực nghiên cứu

- Sử dụng bản đồ hiện trạng rừng của thành phố Hạ Long kết hợp với đi khảo sát ngoài thực tế

Trang 28

28

- Phỏng vấn thu thập thông tin, số liệu tại UBND thành phố Hạ Long

- Khảo sát thực tế các biện pháp, công trình phòng cháy chữa cháy rừng

2.5.3 Phương pháp xử lý số liệu

* Xử lý và phân tích thông tin được thực hiện theo phương pháp thống kê toán học trên máy vi tính bằng phần mềm Ecxel và SPSS Để tính toán các trị

số điều tra và tính tương quan giữa tốc độ đám cháy với độ ẩm; chiều cao

ngọn lửa; độ dốc và tốc độ gió (Kết quả tính toán xem phần phụ biểu 03)

Trang 29

29

Chương 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI KHU VỰC

NGHIÊN CỨU 3.1 Vị trí địa lý

Thành phố Hạ Long ở trung tâm của tỉnh, có diện tích đất là 27.195,03 ha,

có quốc lộ 18A chạy qua tạo thành chiều dài của Thành phố, có cảng biển, có

bờ biển dài 50 km, có vịnh Hạ Long 2 lần được UNESCO công nhận là Di sản thế giới với diện tích 434 km2

3.2 Địa hình

Thành phố Hạ Long có địa hình đa dạng và phức tạp, là một trong những

khu vực hình thành lâu đời nhất trên lãnh thổ Việt Nam, bao gồm cả đồi núi,

thung lũng, vùng ven biển và hải đảo, được chia thành 3 vùng rõ rệt:

Vùng đồi núi bao bọc phía bắc và đông bắc (Phía bắc quốc lộ 18A) chiếm 70% diệc tích đất của thành phố, có độ cao trung bình từ 150m đến 250m, chạy dài từ Yên Lập đến Hà Tu, đỉnh cao nhất là 504m Dải đồi núi này thấp dần về phía biển, độ dốc trung bình từ 15 – 20%, xen giữa là các thung lũng nhỏ hẹp

Vùng ven biển ở phía nam quốc lộ 18A, độ cao trung bình từ 0,5 - 5 m Vùng hải đảo là toàn bộ vùng vịnh, với gần hòn đảo lớn nhỏ, chủ yếu là đảo

đá Riêng đảo Tuần Châu, rộng trên 400 ha nay đã có đường nối với quốc lộ 18A dài khoảng 2 km Qua khảo sát địa chất cho thấy, kết cầu địa chất của thành phố Hạ Long chủ yếu là đất sỏi sạn, cuội sỏi, cát kết, cát sét ổn định

và có cường độ chịu tải cao, từ 2,5 đến 4,5kg/cm2, thuận lợi cho việc xây dựng các công trình

3.3 Khí hậu

Thành phố Hạ Long thuộc khí hậu vùng ven biển, mỗi năm có 2 mùa rõ rệt, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, mùa hè từ tháng 5 đến tháng 10 Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,70C, dao động không lớn, từ 16,70C đến 28,60

C Về mùa hè, nhiệt độ trung bình cao là 34,90C, nóng nhất đến

380C Về mùa đông, nhiệt độ trung bình thấp nhất là 13,70C, rét nhất là 50C

Trang 30

30

Lượng mưa trung bình 1 năm là 1832 mm, phân bố không đồng đều theo 2 mùa Mùa hè mưa từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm từ 80 – 85% tổng lượng mưa cả năm Lượng mưa cao nhất vào tháng 7 và tháng 8, khoảng 350mm Mùa đông là khô, ít mưa, từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, chỉ đạt khoảng 15-20% tổng lượng mưa cả năm Lượng mưa ít nhất là tháng 12 và tháng 1, chỉ khoảng từ 4 đến 40 mm

Độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 84% Cao nhất có tháng lên tới 90%, thấp nhất có tháng xuống đến 68%

Do những đặc điểm về địa hình và vị trí địa lý, ở thành phố Hạ Long có 2 loại hình gió mùa hoạt động khá rõ rệt là gió Đông Bắc về mùa đông và gió Tây Nam về mùa hè Tốc độ gió trung bình là 2,8m/s, hướng gió mạnh nhất là gió Tây Nam, tốc độ 45m/s

Hạ Long là vùng biển kín nên ít khi chịu ảnh hưởng của những cơn bão lớn, sức gió mạnh nhất trong các cơn bão thường là cấp 9, cấp 10, cá biệt có cơn bão mạnh cấp 11

3.4 Sông ngòi và chế độ thuỷ triều

Các sông chính chảy qua địa phận thành phố gồm có các sông Diễn Vọng,

Vũ Oai, Man, Trới, cả 4 sông này đều đổ vào vịnh Cửa Lục rồi chảy ra vịnh

Hạ Long Riêng sông Míp đổ vào hồ Yên Lập

Các con suối chảy dọc sườn núi phía nam thuộc phường Hồng Gai, Hà Tu,

Hà Phong Cả sông và suối ở thành phố Hạ Long đều nhỏ, ngắn, lưu lượng nước không nhiều Vì địa hình dốc nên khi có mưa to, nước dâng lên nhanh

và thoát ra biển cũng nhanh

Chế độ thủy triều của vùng biển Hạ Long chịu ảnh hưởng trực tiếp của chế

độ nhật triều vịnh Bắc Bộ, biên độ dao động thủy triều trung bình là 3,6m Nhiệt độ nước biển ở lớp bề mặt trung bình là 180C đến 30,80C, độ mặn nước biển trung bình là 21,6% (vào tháng 7) cao nhất là 32,4% (vào tháng 2

và tháng 3 hàng năm)

Trang 31

31

3.5 Tài nguyên thiên nhiên

- Tài nguyên khoáng sản: Đối với địa bàn thành phố Hạ Long bao gồm chủ yếu là than đá và nguyên vật liệu xây dựng Tổng trữ lượng than đá đã thăm

dò được đến thời điểm này là trên 530 triệu tấn, nằm ở phía bắc và phía đông bắc thành phố trên địa bàn các phường Hà Khánh, Hà Lầm, Hà Trung, Hà Phong, Hà Tu, (Đại Yên và Việt Hưng nằm trong vùng cấm hoạt động khoáng sản) Loại than chủ yếu là than Antraxit Bên cạnh đó là trữ lượng sét phục vụ làm nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng tại vùng Giếng Đáy, theo đánh giá triển vọng trữ lượng hiện có khoảng trên 30 triệu tấn Ngoài ra là đá vôi phục vụ làm nguyên liệu xi măng và vật liệu xây dựng, tập trung tại phường Hà Phong và khu vực Đại Yên, theo đánh giá trữ lượng hiện còn khoảng 15 triệu tấn có thể khai thác được Bên cạnh đó, còn có các khu vực

có thể khai thác cát xây dựng tại ven biển phường Hà Phong, Hà Khánh, khu vực sông Trới tiếp giáp Hà Khẩu, Việt Hưng, tuy nhiên trữ lượng là không đáng kể (đến nay chưa có đánh giá thống kê cụ thể)

- Tài nguyên rừng: Theo số liệu thống kê tính đến hết năm 2009, trên địa bàn thành phố có tổng diện tích rừng và đất Lâm nghiệp là 9.932,6 ha Tổng diện tích tự nhiên thành phố là 27.195,03ha Tỷ lệ che phủ của đất rừng đạt 22,3% Trong đó rừng trồng 5.687,3 ha và rừng tự nhiên 851,7 ha (bao gồm: rừng gỗ 8,6 ha, rừng ngập mặn 843,1 ha)

- Bên cạnh đó là tài nguyên rừng của Vịnh Hạ Long rất phong phú, đặc trưng với tổng số loài thực vật sống trên các đảo, núi đá khỏang trên 1.000 loài Một số quần xã các loài thực vật khác nhau bao gồm các loài ngập mặn, các loài thực vật ở bờ cát ven đảo, các loài mọc trên sườn núi và vách đá, trên đỉnh núi hoặc mọc ở cửa hang hay khe đá Các nhà nghiên cứu của Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên thế giới đã phát hiện 7 loài thực vật đặc hữu của Vịnh Hạ Long Những loài này chỉ thích nghi sống ở các đảo đá vôi vịnh Hạ Long mà không nơi nào trên thế giới có được đó là: thiên tuế Hạ Long, khổ cử đại tím (Chirieta halongentis), cọ Hạ Long (Livisona halongentis), khổ cử đại nhung

Trang 32

32

(Chirieta hiepii), móng tai Hạ Long, ngũ gia bì Hạ Long, hài vệ nữ hoa vàng Ngoài ra, qua các tài liệu khác danh sách thực vật của vịnh Hạ Long có 347 loài, thực vật có mạch thuộc 232 chi và 95 họ: trên 477 loài mộc lan, 12 loài dương xỉ và 20 loài thực vật ngập mặn Trong số các loại trên, có 16 loài đang nằm trong danh sách đỏ của Việt Nam đã nguy cấp và sắp nguy cấp Trong các loài thực vật quý hiếm, có 95 loài thuộc cây làm thuốc, 37 loài cây làm cảnh, 13 loài cây ăn quả và 10 nhóm có khả năng sử dụng khác nhau

- Tài nguyên đất: Thành phố Hạ Long có tổng diện tích đất tự nhiêm là 27.195,03 ha, bao gồm các loại đất sau: đất nông nghiệp 9.544,86 ha, đất phi nông nghiệp 16.254,92 ha, đất chưa sử dụng 1.395,25 ha

- Tài nguyên biển: Do lợi thế có vịnh Hạ Long 2 lần được UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới Với tổng diện tích 1.553 km2 bao gồm 1.969 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó 989 đảo có tên và 980 đảo chưa có tên Vùng

di sản được Thế giới công nhận có diện tích 434 km2 bao gồm 775 đảo, như một hình tam giác với ba đỉnh là đảo Đầu Gỗ (phía tây), hồ Ba Hầm (phía nam), và đảo Cống Tây (phía đông) Với nhiều hang động đẹp và huyền ảo như hang Bồ Nâu, Trinh Nữ, Sửng Sốt, Đầu Gỗ, Thiên Cung, Tam Cung, Mê Cung đã đưa danh tiếng của vịnh Hạ Long là một trong những điểm du lịch nổi tiếng trên toàn thế giới Bên cạnh đó, vùng biển Hạ Long cũng rất phong phú về các loại động vật và thực vật dưới nước Theo nghiên cứu có 950 loài

cá, 500 loài động vật thân mềm và 400 loài giáp xác, trong đó có nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế cao như cá thu, cá nhụ, cá song, cá hồi, cá tráp, cá chim và tôm, cua, mực, ngọc trai, bào ngư, sò huyết, 117 loài san hô thuộc

40 họ, 12 nhóm

- Tài nguyên nước: Tài nguyên nước mặt tại thành phố Hạ Long tập trung tại các khu vực hồ Yên Lập (tổng dung tích chứa của cả hồ bao gồm cả huyện Yên Hưng, Hoành Bồ khoảng 107.200.000 m3 (thời điểm đo tháng 8/2010),

hồ Khe Cá tại phường Hà Tu đây là nguồn cung cấp lớn nước tưới tiêu phục

Trang 33

Các dân tộc và tôn giáo trên địa bàn thành phố đều đoàn kết trong một đại gia đình để xây dựng thành phố ngày càng phát triển giàu mạnh

Đánh giá chung

- Thành phố Hạ Long có địa hình đa dạng và phức tạp, là một trong những khu vực hình thành lâu đời nhất trên lãnh thổ Việt Nam, bao gồm cả đồi núi, thung lũng, vùng ven biển và hải đảo, được chia thành 3 vùng rõ rệt

- Khí hậu vùng ven biển, có 2 mùa rõ rệt, Độ ẩm không khí trung bình hàng năm

là 84% Đó là khí hậu nhiệt đới điển hình thuận lợi cho phát triển nông lâm nghiệp, mùa hanh khô dễ xẩy ra cháy rừng

- Tài nguyên rừng: Theo số liệu thống kê năm 2009, trên địa bàn thành phố có tổng diện tích rừng và đất rừng là 9.932,6 ha Tỷ lệ che phủ đạt 22,3% Trong đó rừng trồng 5.687,3 ha và rừng tự nhiên 851,7 ha chủ yếu là rừng ngập mặn 843,1

ha Rừng trồng chủ yếu là các loài cây dễ cháy như: Thông, bạch đàn

- Thành phố Hạ Long có 55.172 hộ dân với hơn 215.795 người, trong đó ngoài dân tộc kinh chiếm đa số, còn có 15 dân tộc khác là: Sán Dìu, Hoa, Tày, Nùng, Hán, Dao, Thổ, Mường, Vân Kiều, Cao Lan, với 2.073 nhân khẩu, Ngoài ra Hạ Long là trung tâm Kinh tế, du lịch của cả nước, hàng năm đón hàng triệu lượt khách đến du lịch, dẫn đến việc quản lý khó khăn, đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến cháy rừng

Trang 34

34

Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Đặc điểm rừng và tình hình cháy rừng tại thành phố Hạ Long

4.1.1 Diện tích và sự phân bố các loại rừng

Kết quả điều tra về diện tích rừng và đất lâm nghiệp ở thành phố Hạ Long được tổng hợp trong bảng 4.1

Bảng 4.1: Diện tích rừng và đất lâm nghiệp tại thành phố Hạ Long

Stt Tên Phường Diện tích có rừng

Chia ra

Đất trống

Đất khác

Rừng tự nhiên

Rừng trồng

(Nguồn: Hạt kiểm lâm Hạ Long, 2011)

Số liệu ở bảng 4.1 cho thấy tính đến hết năm 2011, tổng diện tích đất có rừng là 6.539ha trong đó diện tích rừng tự nhiên 851,77ha chiếm 13,02% diện

Trang 35

35 tích (đây đều là rừng ngập mặn), rừng trồng là 5.687,8ha chiếm 86,98% chủ yếu là rừng trồng Thông, Bạch đàn, Keo tai tượng Diện tích đất trống trong khu vực còn tương đối nhiều với diện tích 3.393,43 ha so với diện tích đất có rừng chiếm 50%, điều này cần phải được quan tâm trong thời gian tới để xây dựng những hệ sinh thái rừng cho phù hợp nhằm đảm bảo môi trường sinh thái cũng như cảnh quan cho phát triển du lịch [31]

Diện tích rừng và đất Lâm nghiệp thuộc quản lý của các chủ thể quản lý là Doanh nghiệp nhà nước, Công ty cổ phần, các Trung tâm, đơn vị, các hộ gia đình và một phần diện tích còn lại do UBND các phường, xã quản lý Rừng ở khu vực nghiên cứu được phân chia theo 3 loại rừng: đặc dụng, phòng hộ và sản xuất

Qua số liệu ở bảng 4.1 cũng cho thấy, rừng trồng chiếm 86,98% tổng diện tích đất có rừng của thành phố Hạ Long, với các loài cây chủ yếu là Thông nhựa, Keo tai tượng và có một phần là Bạch đàn, ở nhiều cấp tuổi khác nhau, tập trung nhiều ở các phường như Đại Yên, Hùng Thắng, Bãi Cháy

4.1.2 Một số đặc điểm cấu trúc trạng thái rừng chủ yếu

* Đặc điểm rừng tự nhiên

Rừng tự nhiên ở thành phố Hạ Long mang đặc điểm khác với rừng tự nhiên ở những nơi khác nơi đây chủ yếu là rừng ngập mặn một hiện trạng rừng gần như không bao giờ xảy ra cháy Rừng ngập mặn nơi đây với các loài cây Mấm trắng, Vẹt, Đước, Sú… chiều cao trung bình từ 0.5-1m là nơi tập trung rất nhiều những loài hải sản có giá trị đồng thời cũng là vùng đê chắn sóng kiên cố cho vùng đất liền Diện tích rừng ngập mặn hiện đang bị giảm sút nhiều do phát triển nuôi trồng thuỷ hải sản của người dân Chính quyền địa phương nơi đây cần có những biện pháp mạnh hơn nữa trong vấn đề bảo

vệ và phát triển nguồn tài nguyên rừng ngập mặn, không chỉ với mục đích là bảo vệ môi trường sinh thái mà còn cho phát triển du lịch với một vịnh Hạ Long kỳ quan thiên nhiên của thế giới

Trang 36

36

Việc bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn trong tương lai đã và đang được Chính phủ, các tổ chức phi chính phủ quan tâm đến Với vai trò to lớn là những vành đai xanh chắn sóng biến, ngăn chặn xâm thực của nước biển vào đất liền, rừng ngập mặn đang cần phát triển trong tình hình biến đổi khí hậu như hiện nay

D 1.3 (cm)

D t (m)

H vn (m)

H dc (m)

Độ tàn che

Trang 37

* Đặc điểm tầng cây bụi, thảm tươi và cây tái sinh

+ Đặc điểm lớp cây bụi, thảm tươi

Kết quả điều tra về đặc điểm lớp cây bụi, thảm tươi của các trạng thái rừng được trình bày ở bảng 4.3

Số liệu ở bảng 4.3 cho thấy dưới tán các trạng thái rừng đều có khá nhiều loài thảm tươi, cây bụi, lượng cây bụi thảm tươi dễ cháy khá cao Điều này cho thấy hàng năm việc dọn dẹp, phát quang cây bụi thảm tươi là điều cần thiết để giảm đi lượng VLC cũng như hạn chế sự cạnh tranh dinh dưỡng, sâu bệnh hại cho rừng

Cây bụi thảm tươi ở một số trạng thái rừng trong khu vực còn tương đối lớn, việc phát dọn chúng cũng không được tiến hành thường xuyên Vì vậy, đây là nguồn VLC hàng năm rất lớn ảnh hưởng trực tiếp đến nguy cơ cháy rừng Việc phát dọn thực bì cần được tiến hành thường xuyên hơn để giảm đi nguồn vật liệu cháy, nơi trú ẩn của sâu bệnh hại đồng thời hạn chế sự cạnh tranh dinh dưỡng, ánh sáng với cây tái sinh

Trang 38

38

Bảng 4.3: Đặc điểm lớp cây bụi, thảm tươi ở các trạng thái rừng

TT Trạng thái Loài cây chủ yếu H ttcb

(m)

Che phủ (%)

Tình hình sinh trưởng

1 Keo 2 tuổi Bền bệt, lấu, sói

rừng, mẫu đơn, guột,

bồ cu vẽ, cỏ ba cạnh…

Ở rừng Keo, cây bụi thảm tươi có chiều cao trung bình từ 0.83 – 1.04m,

độ che phủ bình quân là 64.4 – 73.8% Chiều cao và độ che phủ của cây bụi, thảm tươi đều giảm dần theo tuổi rừng Điều đó cho thấy khả năng cháy rừng

sẽ có chiều hướng giảm khi tuổi của rừng ngày càng cao vì chiều cao bình quân, độ che phủ bình quân của cây bụi thảm tươi đều giảm

Trạng thái rừng Thông có sự thay đổi rõ rệt về chiều cao và độ che phủ của cây bụi, thảm tươi Thông ở tuổi nhỏ chiều cao và độ che phủ của lớp cây bụi, thảm tươi lớn hơn nhiều so với những khu vực Thông tuổi cao Một phần do

độ tàn che cao hơn và một phần do Thông đến tuổi chuẩn bị khai thác nhựa hàng năm đều được chăm sóc, phát dọn thực bì nên lượng cây bụi, thảm tươi giảm đi nhiều Riêng ở rừng Thông khu vực phường Hồng Hải cây bụi thảm tươi ở đây tương đối cao vì nơi đây có độ dốc tương đối lớn, phía dưới là nơi dân cư sinh

Trang 39

39

sống, đời sống của người dân tương đối cao Vì vậy, sự tác động vào rừng không nhiều nhất là việc lấy củi thu gom cây bụi, cành khô để phục vụ sinh hoạt hàng ngày là không có, việc chăn thả gia súc để giảm bớt cỏ dại cũng không có Ngoài những tác động trên thời điểm điều tra cũng là thời gian bắt đầu có mưa xuân, cây bụi thảm tươi bắt đầu sinh trưởng mạnh, chăm sóc của con người chưa có nên chiều cao trung bình, độ che phủ của cây bụi thảm tươi cũng cao hơn so với những thời điểm khác

Trạng thái rừng Bạch đàn và Bạch đàn + Keo có độ che phủ của cây bụi, thảm tươi tương đối cao chiều cao bình quân từ 0.9 – 1.12m, độ che phủ bình quân từ 82.6 – 91.2% do rừng Bạch đàn có mật độ và độ tàn che không lớn nên cây bụi thảm tươi sinh trưởng mạnh

Thành phần cây bụi thảm tươi chủ yếu là các loài cây: Mẫu đơn, Lấu, Guột, cỏ tranh, bền bệt, cỏ lau, Sim… Các loại thảm tươi dễ cháy chủ yếu là Guột, cỏ tranh, cỏ lau Đặc biệt ở rừng Thông và Bạch đàn, thảm tươi dễ cháy

là tương đối cao, vì vậy ở những trạng thái rừng trồng dễ xảy ra cháy hơn là

ở những khu vực khác

+ Đặc điểm cây tái sinh

Nhìn chung tình hình cây tái sinh ở các trạng thái rừng rất ít, chủ yếu một

số cây con của Thông, Keo Còn lại thì không thấy xuất hiện những loài cây tái sinh khác loài trong các trạng thái rừng trồng trong khu vực nghiên cứu Những loài cây tái sinh có thể tham gia vào tổ thành tầng cây cao sau này, nhiều loài cây trong chúng cũng góp gia tăng sự lan tràn của lửa rừng Trong công tác quản lý VLC cần quan tâm đến việc phát dọn cây bụi thảm tươi giúp cây tái sinh sinh trưởng phát triển tốt, là nguồn cây con tham gia vào tầng trên của rừng khi những cây bố mẹ già cỗi, góp phần phát triển bền vững các hệ sinh thái rừng Việc bảo vệ và phát triển nguồn cây con tái sinh là một việc cần được quan tâm tiến hành thường xuyên để duy trì và phát triển nguồn tài nguyên rừng

Ngày đăng: 08/11/2014, 21:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Hàm lượng nước của VLC với mức độ nguy hiểm của cháy - Nghiên cứu cơ sở khoa học cho đề xuất một số giải pháp phòng cháy chữa cháy rừng tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Bảng 1.1 Hàm lượng nước của VLC với mức độ nguy hiểm của cháy (Trang 8)
Bảng 1.2: Phân cấp mức độ nguy hiểm của cháy rừng theo chỉ tiêu P - Nghiên cứu cơ sở khoa học cho đề xuất một số giải pháp phòng cháy chữa cháy rừng tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Bảng 1.2 Phân cấp mức độ nguy hiểm của cháy rừng theo chỉ tiêu P (Trang 10)
Bảng 1.4: Phân cấp cường độ cháy theo Byram - Nghiên cứu cơ sở khoa học cho đề xuất một số giải pháp phòng cháy chữa cháy rừng tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Bảng 1.4 Phân cấp cường độ cháy theo Byram (Trang 12)
Bảng 4.3: Đặc điểm lớp cây bụi, thảm tươi ở các trạng thái rừng - Nghiên cứu cơ sở khoa học cho đề xuất một số giải pháp phòng cháy chữa cháy rừng tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Bảng 4.3 Đặc điểm lớp cây bụi, thảm tươi ở các trạng thái rừng (Trang 38)
Hình 4.1: V c - W c  Hình 4.2: H l - W c - Nghiên cứu cơ sở khoa học cho đề xuất một số giải pháp phòng cháy chữa cháy rừng tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Hình 4.1 V c - W c Hình 4.2: H l - W c (Trang 44)
Hình 4.5: V c - W c  Hình 4.6: H l - W c - Nghiên cứu cơ sở khoa học cho đề xuất một số giải pháp phòng cháy chữa cháy rừng tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Hình 4.5 V c - W c Hình 4.6: H l - W c (Trang 45)
Bảng 4.6. So sánh các phương trình tương quan giữa V c , H l  với W v - Nghiên cứu cơ sở khoa học cho đề xuất một số giải pháp phòng cháy chữa cháy rừng tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Bảng 4.6. So sánh các phương trình tương quan giữa V c , H l với W v (Trang 45)
Bảng 4.7: Phương trình tương quan giữa V c  – W v  và H - W V - Nghiên cứu cơ sở khoa học cho đề xuất một số giải pháp phòng cháy chữa cháy rừng tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Bảng 4.7 Phương trình tương quan giữa V c – W v và H - W V (Trang 46)
Hình 4.7: V c  - V g  Hình 4.8: H l  - V g - Nghiên cứu cơ sở khoa học cho đề xuất một số giải pháp phòng cháy chữa cháy rừng tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Hình 4.7 V c - V g Hình 4.8: H l - V g (Trang 47)
Bảng 4.8: So sánh các phương trình tương quan giữa V c , H l  với V g - Nghiên cứu cơ sở khoa học cho đề xuất một số giải pháp phòng cháy chữa cháy rừng tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Bảng 4.8 So sánh các phương trình tương quan giữa V c , H l với V g (Trang 48)
Bảng 4.9: Phương trình tương quan giữa V g  với V c  và H l - Nghiên cứu cơ sở khoa học cho đề xuất một số giải pháp phòng cháy chữa cháy rừng tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Bảng 4.9 Phương trình tương quan giữa V g với V c và H l (Trang 49)
Hình 4.13: V c  - α  Hình 4.14: H l  - α - Nghiên cứu cơ sở khoa học cho đề xuất một số giải pháp phòng cháy chữa cháy rừng tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Hình 4.13 V c - α Hình 4.14: H l - α (Trang 50)
Bảng 4.10: So sánh các phương trình tương quan giữa V c , H l  với α - Nghiên cứu cơ sở khoa học cho đề xuất một số giải pháp phòng cháy chữa cháy rừng tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Bảng 4.10 So sánh các phương trình tương quan giữa V c , H l với α (Trang 51)
Bảng 4.12: Tổng hợp các công trình PCCCR - Nghiên cứu cơ sở khoa học cho đề xuất một số giải pháp phòng cháy chữa cháy rừng tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Bảng 4.12 Tổng hợp các công trình PCCCR (Trang 55)
Bảng 4.13: Phỏng vấn một số hộ gia đình về công tác PCCCR - Nghiên cứu cơ sở khoa học cho đề xuất một số giải pháp phòng cháy chữa cháy rừng tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Bảng 4.13 Phỏng vấn một số hộ gia đình về công tác PCCCR (Trang 58)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w