1. Quyền bình đẳng của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân từ trước năm 1945. 1.1 Quyền bình đẳng của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân ở các triều đại phong kiến. 1.2 Quyền bình đẳng của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân thời kì pháp thuộc. 2. Quyền bình đẳng của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân sau năm 1945. Chương II: Quyền bình đẳng của người phụ nữ trong quan hệ quan hệ tài sản. 1. Quyền bình đẳng của người phụ nữ trong quan hệ tài sản từ trước năm 1945. 2. Quyền bình đẳng của người phụ nữ trong quan hệ tài sản sau năm 1945. 2.1 Quyền bình đẳng của người phụ nữ trong quan hệ tài sản giai đoạn 1945 1959 2.2 Quyền bình đẳng của người phụ nữ trong quan hệ tài sản giai đoạn từ sau 1959 đến nay. Chương III: Thực trạng và ý nghĩa thực hiện quyền bình đẳng trong hôn nhân gia đình. 1. Thực trạng 2. Ý nghĩa thực hiện quyền bình đẳng trong hôn nhân gia đình.
Trang 1BÀI TẬP LỚN HỌC KÌ
Chủ đề: THỰC HIỆN KĨ NĂNG THỰC TẾ- VIẾT CHUYÊN ĐỀ KHOA HỌC
Chuyên đề: QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG QUAN
HỆ PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH.
LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Cựu tổng thư ký liên hợp quốc B.Ga-Li từng nhận định: “Phụ nữ chiếm hơn một nửa nhân loại nhưng chưa có quốc gia nào trên thế giới đối xử với phụ nữ một cách thật sự bình đẳng” Ngay từ thời kỳ phong kiến, với quan niệm “Trọng nam khinh nữ”
đã làm cho địa vị của người phụ nữ trong xã hội nói chung và trong gia đình nói riêng
vô cùng thấp kém Thuyết “tam tòng, tứ đức” trói buộc số phận người phụ nữ vào chồng - con, họ gần như không được bảo vệ dưới bất kỳ hình thức pháp lý nào Ở ViệtNam, khi xã hội ngày càng phát triển thì vấn đề bình đẳng giới càng được đặc biệt quantâm và được thể hiện ở mọi lĩnh vực Trong đó, bình đẳng trong gia đình là cái gốc chomọi sự bình đẳng khác trong xã hội Đây là một vấn đề mang tính cấp bách và lâu dài.Nếu thực hiện tốt điều này sẽ góp phần giải phóng và tạo điều kiện cho phụ nữ pháttriển tốt hơn, để họ “giỏi việc nước, đảm việc nhà” Với những lý do đó, chúng tôi đã
cha-quyết định chọn đề tài “Quyền bình đẳng của người phụ nữ trong quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình” cho tiểu luận của mình.
2.Tình hình nghiên cứu:
Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về giải phóng phụ nữ, bình đẳng nam nữ đã
du nhập vào nước ta từ đầu thế kỷ XX Ngay từ năm 1930, nam nữ bình quyền đã làmột nội dung quan trọng trong Chính cương vắn tắt của Đảng hay trong Mười chínhsách Việt Minh năm 1941 Trong bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 và cả những bảnHiến pháp sau này cũng như trong Sắc lệnh 97 cho tới gần đây nhất là Luật Hôn nhângia đình sửa đổi 2014 đều khẳng định quyền bình đẳng của người phụ nữ trong gia đình.Hiện nay, có rất nhiều cơ sở nghiên cứu về vấn đề bình đẳng giới nói chung và quyền
Trang 2bình đẳng của phụ nữ trong gia đình nói riêng như Viện gia đình và giới thuộc Bộ khoa học xã hội Việt Nam, khoa Xã hội học Đại học mở TPHCM…hay các tác giả như Chu Thị Thoa ( bình đẳng về giới trong gia đình nông thôn ở đồng bằng sông Hồng), Trần Thanh Hiển (vấn đề bình đẳng giới trong gia đình nông dân ở đồng bằng sông Cửu Long), Nguyễn Hoài Anh (bình đẳng giới trong gia đình ở Việt Nam),…
Ngoài ra còn có rất nhiều cuốn sách như : Gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi mới (2002) - NXB Khoa học xã hội của GS.Lê Thi; Nghiên cứu phụ nữ, giới
và gia đình (2003) - NXB Khoa học xã hội của tiến sĩ Nguyễn Linh Khiếu; Gia đình học (2007) - NXB Lý luận chính trị của GS.Đặng Cảnh Khanh và PGS.Lê Thị Quý, Quyền bình đẳng của phụ nữ trong cuộc sống và sự nghiệp gia đình (2003)-NXB Lý
luận chính trị của tác giả Trần Thị Báo,…
Và còn rất nhiều luận án, luận văn, bài viết đăng trên các tạp chí Khoa học và phụ nữ, Nghiên cứu lý luận,… cũng đi sâu nghiên cứu vấn đề này
3.Giới hạn và nội dung nghiên cứu:
Nghiên cứu vấn đề quyền bình đẳng của người phụ nữ trong quan hệ pháp luậthôn nhân và gia đình ở Việt Nam về quan hệ nhân thân và tài sản qua các thời kỳ lịch sử(phong kiến, thời kỳ Pháp thuộc, sau cách mạng tháng Tám cho tới ngày nay)
5.Kết cấu của bài tiểu luận:
Bài tiểu luận gồm 2 chương:
Chương I: Quyền bình đẳng của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân.
Trang 31 Quyền bình đẳng của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân từ trước năm1945.
1.1 Quyền bình đẳng của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân ở các triều đạiphong kiến
1.2 Quyền bình đẳng của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân thời kì phápthuộc
2 Quyền bình đẳng của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân sau năm 1945
Chương II: Quyền bình đẳng của người phụ nữ trong quan hệ quan hệ tài sản.
1 Quyền bình đẳng của người phụ nữ trong quan hệ tài sản từ trước năm 1945
2 Quyền bình đẳng của người phụ nữ trong quan hệ tài sản sau năm 1945
2.1 Quyền bình đẳng của người phụ nữ trong quan hệ tài sản giai đoạn 1959
1945-2.2 Quyền bình đẳng của người phụ nữ trong quan hệ tài sản giai đoạn từ sau
Trang 4Luật Bình đẳng giới (Điều 5) xác định: “Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí,vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sựphát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự pháttriển đó Mục tiêu bình đẳng giới là xoá bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhaucho nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tớibình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữanam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình”.
Nhưng ở thời phong kiến với việc đề cao quyền gia trưởng, vợ chồng không có sựbình đẳng với nhau, mọi quyền hành trong gia đình đều thuộc về người chồng Lễ giáophong kiến luôn đòi hỏi người phụ nữ, người vợ phải đủ tứ đức: Công (chăm chỉ), Dung(duyên dáng), Ngôn (ăn nói dịu dàng), Hạnh (nết na) và phải theo nguyên tắc tam tòng:Tại gia tòng phụ (ở nhà theo cha), Xuất giá tòng phu (lấy chồng theo chồng), Phu tửtòng tử (chồng chết theo con) Người vợ phải phục tùng chồng và chịu sự dạy dỗ củangười chồng; “Không được tố cáo chồng, ông, bà, cha, mẹ chồng” (Điều 482, 504, 511Quốc triều hình luật)
Chỉ có người vợ mới phải chung thủy với người chồng, chứ người chồng khôngphải thủy chung với vợ, và pháp luật còn khuyết khích người chồng lấy nhiều vợ (Traithì năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên chỉ lấy một chồng)
Khi người chồng chết, người phụ nữ được coi là tiết hạnh được kính trọng khi chị
ta ở vậy trung thành với chồng Điều 322 Hoàng Việt luật lệ qui định: “Nếu vi phạmnghĩa vụ trung thành, thì người vợ và gian phu sẽ bị phạt 100 trượng, người chồng đượctùy ý bán vợ cho người khác”
Người chồng là người tham gia các công việc ngoài xã hội, người vợ chỉ làm cáccông việc trong gia đình, cuộc sống của người vợ thường quanh quẩn trong nhà, ngoàiđồng Người vợ nếu muốn làm một nghề kinh doanh hoặc một nghề nào đó ngoài xãhội, luật pháp yêu cầu phải có sự đồng ý của người chồng nếu người chồng không ưngthuận thì được quyền đứng tên và làm những công việc đó Tuy nhiên, nếu người chồngkhông đồng ý, mà người vợ chính, vợ thứ chứng minh rằng việc làm đó là vì lợi ích
Trang 5chung cho đoàn thể hay lợi ích chung cho gia đình thì cũng có thể xin Chánh án đệ nhịcấp cho phép được làm công nghệ hoặc chức nghiệp đó.
Tuy nhiên, vấn đề bình đẳng giới cũng đã được các nhà nước phong kiến ViệtNam quan tâm, thể hiện qua tư duy pháp lý hướng đến các giá trị nhân văn và quyềncon người mà đỉnh cao là những quy định tại Bộ luật Hồng Đức Bộ luật này gồm 13chương và 722 điều ban hành vào thời vua Lê Thánh Tông (1470-1497) Trong bộ luậtnày có hẳn một nội dung lớn bênh vực và bảo vệ quyền lợi cho cho người phụ nữ, thểhiện quan điểm bình đẳng giới mà đến nay vẫn mang tính thời sự và cần kế thừa, họctập
Thứ nhất: Quyền được nhà nước bảo vệ hôn nhân
Để thực hiện quyền này, Bộ luật Hồng Đức quy định rất nhiều các điều kiện màhai bên nam nữ phải tuân theo khi kết hôn nhằm bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ,trong đó Điều 338 quy định: "Những nhà quyền thế mà ức hiếp để lấy con gái kẻ lươngdân, thì xử tội phạt, biếm hay đồ” (Biếm có thể được hiểu như một hình thức làm hạthấp tư cách của người bị phạt; Đồ: Giam cầm, bắt làm việc khổ sai) Điều 315 quyđịnh việc trừng trị tất cả những ai đã gả con gái rồi (tức đã nhận đồ sính lễ) mà lại thôikhông gả nữa thì bị phạt “80 trượng” và đem gả cho người khác mà đã thành hôn rồi thì
bị xử tội “đồ”, người sau biết thế mà cứ lấy thì cũng bị xử tội “đồ”, người con gái đóphải gả cho người hỏi trước, nếu người đó không lấy nữa thì nhà người con gái phải bồithường đồ sính lễ gấp đôi cho người đó Còn Điều 321 quy định, vợ cả vợ lẽ nếu tự tiện
bỏ nhà chồng cũng như đi lấy chồng khác đều bị xử tội “đồ” và họ cùng gia sản phải trả
về cho nhà chồng cũ Điều 333 ghi rõ: Đã gả con gái rồi mà về sau vì thấy người chồngnghèo khổ, lại bắt con gái về thì bị xử phạt “60trượng”, biếm hai tư, người con gái đóphải bắt trở về nhà chồng
Tất cả những người đàn ông nào biết mà vẫn lấy họ làm vợ đều bị xử tội “đồ”.Ngoài ra, các Điều 308, 309,…còn yêu cầu người chồng phải luôn thương yêu người
vợ, phải chăm lo hạnh phúc cho gia đình
Thứ hai: Quyền ly hôn của phụ nữ
Trang 6Như Điều 308 Luật Hồng Đức chỉ rõ: Phàm chồng bỏ lững vợ 5 tháng không đilại (vợ được trình quan sở tại, quan xã làm chứng) thì chồng đó mất vợ Nếu đã có conthì gia hạn 1 năm Nếu đã thôi vợ mà cản trở người khác cưới vợ cũ thì xử “biếm” Điều
309 quy định: Người nào mà quá say đắm với nàng hầu mà thờ ơ với vợ thì bị xửtội “biếm” Bên cạnh đó, tất cả những hành vi gian dâm đều bị nghiêm trị với khunghình phạt rất nặng
Chồng không được bỏ vợ trong ba trường hợp:
- Vợ đã để tang nhà chồng 3 năm;
- Khi lấy nhau nghèo mà sau giàu có;
- Khi lấy nhau vợ có bà con mà khi bỏ lại không có bà con để trở về
Đồng thời, khi hai bên vợ chồng đang có tang cha mẹ thì vấn đề ly hôn cũngkhông được đặt ra Khi ly hôn, con cái thường thuộc về chồng nhưng nếu muốn giữ con,người vợ có quyền đòi chia một nửa số con Điều 167 - Hồng Đức thiện chính thư - quyđịnh rõ hình thức thuận tình ly hôn: Giấy ly hôn được làm dưới hình thức hợp đồng,người vợ và người chồng mỗi bên giữ một bản làm bằng
Qua đó, cho thấy bên cạnh sự ưng thuận của cha mẹ hay các bậc tôn thuộc rấtquan trọng thì sự ưng thuận của hai bên trai - gái cũng là một thành tố được nhà lậppháp chú ý đến Quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng sau khi ly hôn hoàn toàn chấmdứt, hai bên đều có quyền kết hôn với người khác mà không bị pháp luật ngăn cấm
Bộ Luật Hồng Đức là Bộ luật đều cao và xem trọng vai trò của người phụ nữ nhấttrong thời kì phong kiến, khi có những quy định tiến bộ về quan hệ giữa nam- nữ, giữa
vợ - chồng trong pháp luật hôn nhân và gia đình Tuy có những hạn chế nhất định,song nó phần nào khơi lên tiến nói bình đẳng cho người phụ nữ thời bấy giờ và cónhững tiến bộ đến nay vẫn còn nguyên giá trị
1.2 Quyền bình đẳng của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân thời kì pháp thuộc.
Trang 7Sau khi xâm lược nước ta, thực dân Pháp đã thay đổi hoàn toàn các văn bản luậtđương thời (Hoàng việt luật lệ) thành một hệ thống văn bản luật hoàn toàn mới Trongthời kì này Pháp chia Việt Nam thành 3 miền với 3 bộ dân luật riêng để điều chỉnh: ởBắc kì là bộ luật Dân luật Bắc kì 1931, ở Trung kì là bộ Dân luật Trung kì 1936 và ởNam kì là bộ Dân luật giản yếu 1883 Cả 3 bộ luật đều thừa nhận tình trạng bất bìnhđẳng trong gia đình, quy định cho người phụ nữ nhiều nghĩa vụ bất bình đẳng trong khihoàn toàn quy định ngược lại đối với người chồng - người đàn ông.
Lúc này, trong gia đình duy trì quan hệ bất bình đẳng giữa vợ và chồng, với việc
đề cao quyền hành của người chồng va sự phụ thuộc của người vợ Điều 204 Bộ Dânluật Bác kì 1931 “ Quyền chủ thể đối với tất cả mọi người đồng cư trong nhà là quyềncủa người gia trưởng” hay thừa nhận cho người chồng có thể kiểm soát hành vi của vợ,kiểm soát mọi giao dịch và thư tín của vợ và thường đại diện cho vợ trong các giaodịch liên quan đến người vợ
2 Quyền bình đẳng của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân sau năm 1945.
Hiến pháp năm 1946, Điều 9 quy định: “Đàn bà ngang quyền đàn ông về mọiphương diện”
Đó là những quy định lần đầu tiên có ý nghĩa rất lớn trong bối cảnh nước ViệtNam dân chủ cộng hòa vừa mới được thành lập Điều này đã góp phần vào sự nghiệpgiải phóng phụ nữ, giải phóng con người trong lịch sử lập hiến Việt Nam Quy định đóthực sự đã phá tan xiềng xích tư tưởng “trọng nam kinh nữ” của chế độ phong kiến, chế
độ thuộc địa nửa phong kiến
Hiến pháp 1959, Điều 24 quy định: “Phụ nữ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa cóquyền bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội vàgia đình’’
Điều 65 Hiến pháp 1980 quy định: “Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ,một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng… Nhà nước và xã hội không thừa nhận việcphân biệt đối xử giữa các con”
Trang 8Trong sắc lệnh số 97-SL mặc dù chỉ có 15 Điều nhưng cũng đã bắt đầu xuất hiệncác chế định nhằm bảo vệ quyền bình đẳng của người phụ nữ Về quan hệ vợ chồng,Sắc lệnh khẳng định “Chồng và vợ có địa vị bình đẳng trong gia đình” - nghĩa là baohàm bình đẳng cả về quyền nhân thân và tài sản Nếu như trong thời kỳ phong kiến,người phụ nữ phải “Tam tòng” thì lúc này, họ được yêu cầu li hôn, hơn nữa nếu việc lihôn là do lỗi của người chồng thì họ còn được bồi thường phí tổn (theo Điều 7) Điềunày đã xóa bỏ sự phân biệt về các duyên cớ cho ly hôn riêng quy định cho người chồngtrong các bộ Dân luật cũ, tạo cơ sở pháp lý bình đẳng cho cả vợ và chồng Bên cạnh đó,Sắc lệnh số 159-Sl đã quy định một số điều khoản bảo vệ phụ nữ mà không bị coi là bấtbình đẳng như: “Trường hợp li hôn mà người vợ có thai thì vợ hay chồng có thể xin Tòa
án hoãn ly hôn” (Điều 5) Đồng thời, họ cũng có quyền tái giá nếu chồng mất sau 10tháng chứ không phải “phu tử tòng tử” nữa Như vậy, những nhu cầu về mặt đời sốngtinh thần của họ cũng rất được nhà nước quan tâm Mặc dù quy định của Luật vẫn cònnhiều hạn chế và chưa thực sự bình đẳng (Ví dụ: Để có thể kết hôn khi người chồngmất, người vợ phải chứng minh là mình đang không mang thai) nhưng đã được coi làmột bước tiến lớn về bình đẳng trong quan hệ vợ chồng
Luật HN&GĐ năm 1959 quy định cụ thể về quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng
Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, quý trọng, săn sóc nhau, giúp đỡ nhau tiến bộ, nuôidạy con cái, lao động sản xuất, xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc (Điều 13), Vợ
và chồng đều có quyền tự do chọn nghề nghiệp, tự do hoạt động chính trị, văn hóa và xãhội (Điều 14) Việc xác lập quan hệ vợ chồng không làm ảnh hưởng tới nghề nghiệp củamỗi bên Ngược lại vợ chồng có trách nhiệm hỗ trợ, giúp đỡ nhau phát triển về chuyênmôn, nghề nghiệp, năng khiếu, tư chất của bản thân theo nguyện vọng và khả năng củamỗi người Những quy định này nhằm bảo đảm quyền bình đẳng trên thực tế giữa vợ vàchồng Mặt khác, Luật HNGĐ 1959 lần đầu tiên quy định về hôn nhân tiến bộ một vợmột chồng Lúc này, tình trạng “trai năm thê bảy thiếp”, “ba vợ tám nàng hầu” đã đượcpháp luật điều chỉnh để đảm bảo quyền lợi cho người phụ nữ cũng như bảo vệ hạnhphúc gia đình, bởi đây là chế độ hôn nhân đa thê-một tàn dư lạc hậu của chế độ phongkiến Luật HNGĐ 1959 cũng đã khắc phục hạn chế của Sắc lệnh theo quy định ở Điều
Trang 97: Việc để tang không cản trở việc kết hôn Như vậy, khác với sắc lệnh, lúc này ngườiphụ nữ không còn phải chứng minh việc mình không mang thai để kết hôn nữa, quyềnlợi của người phụ nữ đã được nâng lên và được đảm bảo bằng pháp luật.
Tiếp tục phát triển Luật Hôn nhân gia đình 1959, các luật HNGĐ 1986, 2000,LHNGĐ sửa đổi bổ sung 2014 sắp tới có hiệu lực vẫn kế thừa và chú trọng hơn nữa đến
sự bình đẳng trong quan hệ nhân thân giữa vợ - chồng, như: Tiếp tục nguyên tắc hônnhân tự nguyện, bình đẳng, tiến bộ Vợ, chồng có quyền có tài sản riêng, tôn trọngquyền tự thỏa thuận, tự do quyết định của hai bên vợ chồng Nhưng không được tráipháp luật, đạo đức xã hội Nhìn chung, trong mối quan hệ nhân thân giữa vợ chồng LuậtHôn nhân gia đình và các Luật liên quan càng về sau càng tiến bộ, rút ngắn khoảng cáchphân biệt đối xử, “Trọng nam khinh nữ” Vai trò và vị thế của người phụ nữ trong giađình ngày được đề cao
vệ quyền lợi của người phụ nữ Tính đặc thù của "Quốc triều hình luật" thể hiện rõ trong
hai chương "Hộ hôn" và "Điền sản" Qua hai chương này, các nhà làm luật đã coi trọng
cá nhân và vai trò của người phụ nữ – điều mà các bộ luật trước và sau không mấy quantâm Có 53/722 điều luật (7%) bàn về hôn nhân – gia đình; 30/722 điều luật (4%) bàn vềviệc hương hỏa, tế lễ, thừa kế và sở hữu tài sản Những điều luật này ít nhiều đã đề cậpđến một số quyền lợi của người phụ nữ trong xã hội và trong gia đình Người vợ, trên lýthuyết, bị đòi hỏi phải lệ thuộc vào chồng và không được làm điều gì nếu không có sự
Trang 10chỉ đạo hay đồng ý của chồng Nhưng trên thực tế, địa vị của người vợ – chồng thay đổinhiều tùy thuộc theo vị trí xã hội và kinh tế của họ Cũng giống như chồng, người phụ
nữ Việt Nam xưa có tài sản riêng và tham gia các hoạt động kinh tế Đó là điều khácbiệt với người phụ nữ Trung Quốc Trong lao động, người phụ nữ được trả công ngangbằng với người thợ nam, "không có sự phân biệt về tiền công nhật cho lao động đàn ôngvới đàn bà"(1) Điều 23 trong "Quốc triều hình luật" quy định tiền công nhật cho nô tỳ
là 30 đồng Việc trả công ngang bằng như thế rõ ràng cho thấy lao động của phụ nữđược đánh giá cao và vị trí của người phụ nữ được tôn trọng trong xã hội Trong hônnhân, người phụ nữ cũng có thể yêu cầu ly hôn (đâm đơn kiện)
Khi ly hôn, tài sản của ai, người đó được nhận riêng và chia đôi tài sản chung củahai người Còn khi chồng chết trước (hay vợ chết trước) tài sản có do bố mẹ dành chođược chia làm hai phần bằng nhau, một phần dành cho gia đình bên chồng/vợ để lo việc
tế lễ (bố mẹ bên chồng/vợ hoặc người thừa tự bên chồng/vợ giữ) Một phần dành chovợ/chồng để phụng dưỡng một đời (nhưng không có quyền sở hữu) Khi ngườivợ/chồng chết, thì phần tài sản này giao lại cho gia đình bên chồng
Đối với tài sản do hai người tạo ra cũng chia làm hai phần bằng nhau: một phầndành cho vợ/chồng làm của riêng; một phần dành cho vợ/chồng chia ra như sau: 1/3dành cho gia đình nhà chồng/vợ để lo việc tế lễ; 2/3 dành cho vợ/chồng để phụng dưỡngmột đời, không được làm của riêng, khi chết giao lại cho gia đình bên chồng "Quốctriều hình luật" không nhắc tới động sản, chỉ đề cập tới điền sản, theo Vũ Văn Mẫu:
"Điểm này cũng dễ hiểu vì trong một nền kinh tế trọng nông, các động sản khác chỉ lànhững vật có ít giá trị" Song trong "Hồng Đức thiện chính thư" (điều 258-259) đãkhông gạt hẳn các động sản ra ngoài thừa kế "Đến như nhà cửa chỉ có thể chia làm hai,người sống được một phần làm chỗ ở, người chết được một phần làm nơi tế lễ" "Cònđến của nổi, phải để cung vào việc tế tự và theo lệ dân trả nợ miệng, còn thừa bao nhiêucũng chia cho vợ con" "Của nổi" ở đây được hiểu là vàng, bạc, lụa, vải, thóc lúa,giường chiếu, đồ sứ, mâm thau… Như vậy, pháp luật đã ghi nhận một cách bình đẳng
sự đóng góp của người vợ trong tài sản chung của vợ chồng và bảo vệ quyền sở hữuhợp pháp đối với tài sản do hai vợ chồng làm ra
Trang 11Trong quyền thừa kế tài sản của cha mẹ để lại, pháp luật nhà Lê không phân biệtcon trai – con gái Nếu cha mẹ mất cả thì lấy 1/20 số ruộng đất làm phần hương hỏa,giao cho người con trưởng giữ, còn lại chia đều cho các con (điều 388); "người giữhương hỏa có con trai trưởng thì dùng con trai trưởng, không có con trai trưởng thì dùngcon gái trưởng" (điều 391) "Ruộng hương hỏa giao cho con trai, cháu trai, nếu không
có thì giao cho cháu gái ngành trưởng"
Sau khi xâm lược nước ta, thực dân Pháp đã thay đổi hoàn toàn các văn bản luậtđương thời (Hoàng việt luật lệ) thành một hệ thống văn bản luật hoàn toàn mới trongthời kì này Pháp chia Việt Nam thành 3 miền với 3 bộ dân luật riêng để điều chỉnh: ởBắc kì là bộ luật Dân luật Bắc kì 1931, ở Trung kì là bộ Dân luật Trung kì 1936 và ởNam kì là bộ Dân luật giản yếu 1883 Cả 3 bộ luật đều thừa nhận tình trạng bất bìnhđẳng trong gia đình, quy định cho người phụ nữ nhiều nghĩa vụ bất bình đẳng trong khihoàn toàn quy định ngược lại đối với người chồng - người đàn ông
Trong Bộ dân luật Bắc Kỳ (1931) và Bộ dân luật Trung Kỳ (1936), chế độ tài sảnpháp định chỉ đặt ra khi vợ chồng không lập hôn ước Theo chế độ này, tài sản chungcủa vợ chồng bao gồm tất cả của cải, hoa lợi của chồng cũng như của vợ, không kể tàisản đó được tạo ra trước hay trong thời kì hôn nhân Hay như trong Tập Dân luật giảnyếu năm 1883 không thừa nhận người vợ có tài sản riêng, do đó không thể có cộngđồng tài sản giữa vợ và chồng mà toàn bộ tài sản trong gia đình đều thuộc quyền sở hữuduy nhất của người chồng…
2 Quyền bình đẳng của người phụ nữ trong quan hệ tài sản sau năm 1945 2.1 Quyền bình đẳng của người phụ nữ trong quan hệ tài sản giai đoạn 1945- 1959.
Cách mạng tháng tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời đã tạo
ra bước ngoặt vĩ đại khi Hiến pháp 1946 ghi nhận “ Mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng” Đây là cơ sở lí luận quan trọng để khẳng định quyền bình đẳng của phụ nữ
trong quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình
Trang 12Sau khi tuyên bố đất nước độc lập, nhằm xóa bỏ các quy định lạc hậu, áp đặttrong hôn nhân và gia đình trước đó, chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành hai sắc lệnh đầutiên quy định điều chỉnh một số quan hệ hôn nhân và gia đình Trong đó, Sắc lệnh số97-SL đã bước đầu khẳng định quyền bình đẳng của người phụ nữ.
Sắc lệnh số 97-SL, gồm 15 điều, khẳng định quyền công dân Việt Nam về dân sự,hôn nhân và gia đình
Mặc dù trong chế độ cũ, quan hệ vợ chồng nói chung và quan hệ tài sản giữa vợchồng nói riêng là quan hệ bất bình đẳng song pháp luật đã cũng bắt đầu đặt ra vấn đềbảo vệ quyền của người phụ nữ trong quan hệ tài sản giữa vợ với chồng Trước hết về
quan hệ vợ chồng, Sắc lệnh khẳng định “Chồng và vợ có địa vị bình đẳng trong gia đình” Từ đó dẫn tới việc Sắc lệnh tiếp tục khẳng định quyền bình đẳng của người phụ
nữ trong quan hệ tài sản Điều đó được thể hiện qua Điều 6 Sắc lệnh “Người đàn bà có chồng có toàn năng lực về mặt hộ” và Điều 11 “ Trong lúc còn sinh thời người chồng goá vợ hay vợ goá, các con đã thành niên có quyền xin chia phần tài sản thuộc quyền
sở hữu của người chết, sau khi đã thanh toán tài sản chung” Đây là lần đầu tiên quyền
gia trưởng của người đàn ông trong gia đình bị xóa bỏ, bước đầu xác lập bình đẳng vợchồng về mọi mặt, đặc biệt là bình đẳng về mặt tài sản Mặt khác, nếu như trước đótrong thời kỳ phong kiến, chỉ người chồng mới có quyền thôi vợ và toàn bộ tài sản của
vợ sẽ thuộc về gia đình nhà chồng thì trong giai đoạn này, người phụ nữ cũng đượcphép ly hôn, thậm chí nếu việc ly hôn là lỗi của người chồng thì họ còn được quyền yêucầu bồi thường phí tổn Rõ ràng, mặc dù các quy định còn ít ỏi nhưng vấn đề bình đẳnggiới trong gia đình đã được nhà nước ta đặc biệt quan tâm, thể hiện sự tiến bộ và đã đặt
ra nền tảng để xây dựng một nền pháp chế mới
Bác Hồ đã từng nói “Nếu không giải phóng phụ nữ thì xây dựng chủ nghĩa xãhội chỉ là một nửa” Để thực hiện được điều đó và tiếp tục hoàn thiện pháp luậtHN&GĐ, Quốc hội khóa 1 kỳ họp thứ 11 đã thông qua LHNGĐ 1959 và chính thức cóhiệu lực ngày 13/1/1960
Luật Hôn nhân và gia đình 1959 gồm 6 chương và chia thành 35 điều