nghiên cứu điều kiện lưu giữ và lựa chọn thức ăn phù hợp trong quá trình ương nuôi ban đầu cá chình hương sau khi thu vớt
Trang 1PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, ngành nuôi trồng thuỷ sản phát triển mạnh
mẽ, góp phần đáng kể vào sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân Trên cơ sở
đó nghề nuôi cá nước ngọt cũng đang trên đà đa dạng hóa về giống loài vàhình thức nuôi Một số loài cá đặc sản nước ngọt như cá Tầm, cá Anh Vũ, cáChình, cá Chiên, cá Lăng … đang được các nhà khoa học quan tâm nghiêncứu
Trong số đó, cá chình được coi là loài thủy đặc sản có giá trị kinh tếnhất Thịt cá chình thơm ngon, giàu protein, giàu vitamin, các acid amin vàcác acid béo thiết yếu Bên cạnh đó, thịt cá chình còn được xem như là mộtnguồn dược liệu quý hiếm Hiện nay giá cá chình hoa loại 0,5 - 1kg/conkhoảng 300 - 320 ngàn đồng/kg; loại 1 - 2 kg/con từ 360 - 380 ngàn đồng/kg;trên 2 kg/con có thể mua từ 280.000 -300.000 đồng/kg Cỡ cá chình hoa giốngloại 20 - 30 con/kg từ 480 - 500 ngàn đồng/kg Cá chình phân bố rộng từ vùngnhiệt đới đến ôn đới của vùng Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, từ Đông
châu Phi đến quần đảo Polynesia, từ Bắc tới Nam Nhật Bản Ở Việt Nam, Cá
chình hoa phân bố từ Hà Tĩnh đến Bình Định Nhu cầu tiêu thụ cá chình ngàycàng lớn Hằng năm, một lượng lớn cá chình được tiêu thụ ở Trung Quốc,Nhật Bản, các nước EU Ở Việt Nam, nhu cầu tiêu thụ loài thủy đặc sản nàycũng ngày càng tăng, song song với quá trình nâng cao mức sống của ngườidân
Nuôi cá chình trở thành một nghề có hiệu quả kinh tế cao từ những năm
2000, cá chình được nuôi nhiều ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long và cáctỉnh miền Trung, nghề nuôi loài cá đặc sản này đã đem lại lợi ích về kinh tế rấtđáng kể cho các hộ nuôi trồng thủy sản Tuy nhiên, việc nuôi cá chình gặpphải khó khăn trong việc chủ động con giống, bởi vì cá chình chỉ có nguồngiống duy nhất từ tự nhiên Việc thu vớt cá chình thường gặp nhiều khó khăn
từ kỹ thuật thu gom đến việc vận chuyển, lưu giữ và ương nuôi ở giai đoạnđầu Cho đến nay, chưa có một công trình khoa học nào hoàn thiện để phổbiến một quy trình đầy đủ về thu vớt, vận chuyển, lưu giữ và ương nuôi Trước
mối quan tâm đó, tôi đã tiến hành “nghiên cứu điều kiện lưu giữ và lựa chọn thức ăn phù hợp trong quá trình ương nuôi ban đầu cá chình hương sau khi thu vớt” cho đến lúc thả vào ao nuôi Nghiên cứu nhằm xác định các điều
kiện lý hóa thích hợp cho các chình ở các kích cở khác nhau khi ngư dân thuvớt được từ cửa sông, đồng thời nhằm khuyến cáo cho người dân lưu giữ cáchình giống được lâu mà không ảnh hưởng đến giá trị kinh tế và sức khỏe của
cá giống
Trang 2PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên của địa điểm nghiên cứu
2.1.1 Vị trí địa lý
Quảng Bình là một tỉnh ven biển Bắc
Trung bộ, là nơi giao thoa các điều kiện tự
nhiên, kinh tế, xã hội giữa hai miền Nam
Bắc của đất nước Phía Bắc giáp tỉnh Hà
Tĩnh, phía Nam giáp tỉnh Quảng Trị, phía
Đông giáp biển Đông và phía Tây giáp nước
Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào
Nằm trên nhiều đầu mối giao thông
quan trọng nên Quảng Bình có nhiều thuận
lợi cho việc phát triển kinh tế - xã hội, giao
lưu hợp tác với các Tỉnh, Thành phố trong cả
nước và các quốc gia trong khu vực
2.1.2 Địa hình, khí hậu
Địa hình Quảng Bình hẹp, dốc,
nghiêng từ Tây sang Đông và bị chia cắt bởi nhiều sông suối tạo thành nhiềuvùng đất có điều kiện khác nhau, trong đó vùng núi, gò đồi chiếm 85% diệntích tự nhiên; vùng đồng bằng chiếm 11% còn lại là vùng cát và đụn cát venbiển
Khí hậu Quảng Bình nằm trong vùng khí hậu chuyển tiếp của 2 miềnNam Bắc: mùa mưa (từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau) đặc trưng có gió mùaĐông Bắc, lượng mưa trung bình hàng năm từ 2.000-2.300mm/năm Mùa khô(từ tháng 4 đến tháng 8) có ảnh hưởng của gió Tây Nam tạo nắng nóng khô,tuy nhiên do được điều hoà bởi Biển Đông nên khí hậu Quảng Bình về đêmkhá mát mẻ Nhiệt độ trung bình của mùa khô là 24-25oC; các tháng nóng nhấtcủa mùa khô là tháng 6,7 và 8 nhiệt độ có thể lên đến trên 38-39oC
Quảng Bình có nhiều sông suối cắt ngang và đổ ra biển, đây là điều kiệnrất thuận lợi cho cá chình tập trung sinh sản và phát triển,đồng thời điều kiệnkhí hậu cũng khá thích hợp cho quá trình ương nuôi
2.2 Vị trí phân loại và đặc điểm sinh học của cá chình hoa (Anguilla marmorata)
Loài : Anguilla marmorata (Quoy and Gaimard, 1824)
Tên địa phương: cá Chình bông (Miền Nam), Chình hoa (Miền Bắc),Chình cẩm thạch, Chình khổng lồ
Tên tiếng anh: Marbled eels, Giant mottled eels
2.2.2 Đặc điểm hình thái
Hình 1: Bản đồ Quảng Bình
Trang 3Thân cá Chình bông có hình trụ dài có vảy xếp dạng hình chiếc chiếu,nhỏ, dạng trái xoan và vây chạy vùng quanh ngực Đầu tròn, mắt bé, miệnghơi chếch, môi dày, lưỡi tự do không dính vào đáy miệng mút nhọn của mõm
và hàm dưới có gờ thịt, răng nhỏ và xếp trên hai hàm và xương khẩu cái thànhcác dải răng
Hình 2: Cá chình bôngChình bông trưởng thành có màu vàng với màu nâu xanh đến đen trênlưng và bụng màu trắng, con nhỏ có màu hơi xám đến vàng Chiều dài thângấp 7 lần chiều dài đầu, gấp 3,5 lần chiều dài trước vây lưng và 2 lần chiều dàivây hậu môn Chình bông có 2 lỗ mũi, lỗ trước ở phía trước miệng, lỗ sau ở lỗtrước mắt, mũi rất nhỏ khi xuống bùn thì đóng lại để bùn không chui vào Dotập tính sống ở hang hốc và đáy sông hồ nên mắt nhỏ, và các cơ quan khứugiác, cơ quan đường bên phát triển Da gồm nhiều biểu bì bài tiết để làm giảmbớt lực cản của nước, tăng tốc độ bơi và giảm ma sát khi chui vào hang, niêmdịch cá tiết ra chất dịch có tác dụng bảo vệ thân cá khi gặp môi trường khôngthích hợp Đường bên dọc giữ thân, vây ngực nhỏ gần như hình tròn, không cóvây bụng Vây lưng, vây hậu môn, vây đuôi đính liền nhau đều và tương đốiphát triển, khoảng cách từ khởi điểm vây lưng đến vây hậu môn lớn hơn từ đóđến khe mang, hậu môn ở nửa trước của thân
Theo Wikipedia (1976), khác với các loài khác cùng thuộc giống
Anguilla, Chình bông có lưng màu đen, có các chấm đen nằm rải rác trên thân
dạng hoa văn, cẩm thạch (Marbling) do đó được gọi là Chình bông, Chìnhhoa hay Chình cẩm thạch (Marbled eel)
2.2.3 Phân bố
Trên thế giới Chình bông được tìm thấy vùng Indo-Thái Bính Dương(Nhật Bản, Thái Lan, Indonesias, Philippins, Trung Quốc…) và khu vực đôngChâu Phi Ở Châu Phi có thể tìm thấy trong sông Mozambique và vùng thấpcủa sông Zambezi Cá Chình bông là loài phân bố rộng nhất so với các loài
khác cùng thuộc giống Anguilla Chình bông thường được tìm thấy ở vùng
nhiệt đới từ 240N đến 330S Một số vùng nó được liệt kê vào danh sách đỏ củanhững loài đang bị đe dọa như ở Thái Lan, họ săn lùng Chình bông với mụcđích làm dược liệu
Trang 4Ở Việt Nam, cá chình bông phân bố từ Hà Tĩnh đến Bình Định, chủ yếutập trung ở các khu vực sau:
- Sông Ngàn Phố của Hà Tĩnh
- Sông Gianh, sông Roòn, sông Nhật Lệ của Quảng Bình
- Sông Thạch Hãn, sông Hiền Lương, huyện Triệu Phong, Đakrong, KheSanh (Tà Rụt) tỉnh Quảng Trị
- Sông Bồ, sông Hương và đầm Cầu Hai của Thừa Thiên Huế
- Sông Trà Khúc và vùng Ba Tơ của Quảng Ngãi
- Sông Con và sông Ba tỉnh Phú Yên
- Hồ Đắc Uy tỉnh Kon Tum
- Đầm Châu Trúc tỉnh Bình Định
Cá chình hương và giống tập trung chủ yếu ở các cửa sông và đầm pháven biển (Nguyễn Chung, 2008)
2.2.4 Điều kiện môi trường sống
Nắm rõ điều kiện môi trường sống, chúng ta sẽ có cơ sở để tìm ra biệnpháp lưu giữ, ương nuôi cũng như nuôi thương phẩm cá chình tốt nhất Cũngnhư các loài động vật thuỷ sản khác, cá chình cũng đòi hỏi các điều kiện môitrường nhất định
2.2.4.1 Nhiệt độ
Cá chình là loài cá có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới, chúng chỉ có thể sinhtrưởng và phát triển bình thường khi nhiệt độ nằm trong khoảng 13 – 30oC.Ngưỡng nhiệt độ tối đa mà cá chình có thể chịu đựng được là 38oC, nhiệt độtối thiểu là 1 – 2oC, nhưng ở nhiệt độ 12oC cá mới bắt đầu bắt mồi (NguyễnĐình Trung, 2004) Nhiệt độ môi trường cũng ảnh hưởng lớn đến lượng thức
ăn cá chình sử dụng Đối với cá chình có trọng lượng từ 100 – 200 g/con, khinhiệt độ môi trường thấp hơn 18oC, lượng thức ăn mà chúng sử dụng ít hơn2% trọng lượng cơ thể; từ 18 – 23oC lượng ăn vào từ 2 – 2,8%; tại nhiệt độ 23– 280C là 2,8 – 3,2% và trên 28oC lượng ăn giảm xuống còn từ 2 – 2,8% trọnglượng cơ thể Nhiệt độ thích hợp nhất là 25 – 27oC (Ngô Trọng Lư, 2000)
2.2.4.2 Hàm lượng oxy hoà tan
Trong thủy vực DO có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của cá chình.Khi hàm lượng oxy hoà tan trong nước ao không đầy đủ cá ăn kém, sinhtrưởng chậm Vì vậy hàm lượng oxy hòa tan là yếu tố cần thiết nhất, thậm chí
nó là yếu tố giới hạn đối với sự sống của cá chình và các loài thủy sinh vật
Sự tăng cao quá mức của DO cũng gây ảnh hưởng xấu đến đối tượngnuôi Hàm lượng DO ở quá mức bão hoà (vượt quá 12 mg/l) sẽ là nguyênnhân gây ra bệnh bọt khí (Nguyễn Đình Trung, 2004) Hàm lượng oxy hoà tantối thiểu trong nước mà cá chình có thể chịu đựng được trong khoảng từ 0,5 –2,0 mg/l Cá càng lớn thì lượng oxy tiêu hao càng nhiều Ở nhiệt độ 25oC, vớitrạng thái yên tĩnh, lượng tiêu hao theo kích cỡ cá Ở nhiệt độ 10 – 30oC thì sựtiêu hao oxy tăng theo nhiệt độ tăng, dưới 10oC và trên 30oC lượng tiêu haooxy có xu hướng giảm Hàm lượng oxy hoà tan thích hợp cho cá chình là từ 5– 10 mg/L (Atsushi Usui, 1991)
2.2.4.3 Độ mặn
Trong vòng đời của cá chình, ở mỗi giai đoạn khác nhau có sự đòi hỏikhác nhau về độ mặn và tính thích ứng khác nhau
Trang 5Giai đoạn ấu trùng và tiền ấu trùng chúng sống trong nước mặn và nước
lợ Đến giai đoạn cá chình con, chúng di cư dần vào các thủy vực nước ngọt.Suốt giai đoạn trưởng thành chúng sống trong nước ngọt, thường từ 2 – 30năm trước khi trở lại biển Khi cá đến tuổi thành thục chúng di cư ra biển để
đẻ và cá mẹ chết sau khi đẻ xong (Atsushi Usui, 1991) Tuy nhiên do cá chình
là loài rộng muối nên chúng có thể sống và sinh trưởng ở cả nước mặn vànước ngọt nhờ có khả năng điều tiết áp suất thẩm thấu của cơ thể
2.2.4.4 Độ pH trong thủy vực
Trong tự nhiên cá chình có thể sống ở môi trường có giá trị pH từ 4 – 10,
pH thích hợp từ 6,5 – 8,5 Giá trị pH thích hợp nhất cho cá phát triển là từ 7,0– 8,0 (Boestius, 1980; dẫn theo Chu Văn Công, 2006)
Ở Trung Quốc yêu cầu kỹ thuật của ao nuôi có giá trị pH từ 7,2 – 8,5, ởNhật Bản giá trị pH từ 7,0 – 9,0; pH dưới 7,0 bất lợi cho sinh trưởng của cáchình (Atsuishi Usui, 1991)
2.2.4.6 Các yếu tố môi trường khác
Hàm lượng Nitơ thích hợp cho cá chình sinh trưởng phát triển là nhỏhơn 5 mg/L (Zhong Lin, 1991; dẫn theo Phạm Thị Hà, 2005) Bên cạnh đó cònrất nhiều yếu tố vô sinh, hữu sinh khác cũng ảnh hưởng đến hoạt động của cá
2.2.5 Đặc điểm dinh dưỡng
Cá Chình bông là loài cá dữ ăn động vật Thành phần thức ăn của chúngbao gồm những loài trong nhóm động vật như giun ít tơ, thân mềm, chânkhớp, cá lưỡng cư và một số loài động vật trên cạn khác Cá Chình sống trongmôi trường khác nhau có thành phần thức ăn khác nhau Cá Chình sống trongsông, suối, ao, hồ ăn cá, côn trùng và giáp xác là chính Cá Chình sống trongvùng nhiệt đới và biển thành phần thức ăn chủ yếu là giun đốt và cua
Ở giai đoạn phát triển khác nhau thành phần thức ăn của cá Chình bôngthay đổi khác nhau Cá Chình con mới đi vào vùng cửa sông trong ruột và dạdày của chúng có chứa một lượng đáng kể mùn bã hữu cơ Ở giai đoạn con
giống thức ăn chủ yếu là động vật phù du,như Neomysi, Alona, Moina…, các
ấu trùng của côn trùng thủy sinh, động vật thân mền nhỏ,giun chỉ và giun íttơ
Ở giai đoạn trưởng thành thức ăn của chúng là cá, tôm, và các động vậtđáy Chình bông có tính ăn dữ do đó nó có thể ăn thịt đồng loại, rình bắtnhững con có kích thước nhỏ hơn Khi kích cỡ đạt dài hơn 20cm không nhậnthấy có sự sai khác nhiều về thành phần các sinh vật là thức ăn của chúng,nhưng có sự sai khác nhiều về kích cỡ của loại thức ăn
Để phát triển, sinh sản và duy trì các hoạt động sinh lý bình thườngkhác Chình bông cần phải được cung cấp protein, muối khoáng, vitamin vàcác nguồn cung cấp năng lượng khác Sự thiếu hụt của một hay một vài chấtdinh dưỡng khác nhau sẽ dẫn đến tỷ lệ tăng trưởng giảm, cá dễ bị bệnh và cóthể bị chết
Trang 6Thức ăn của Chình bông phải đảm bảo protêin là 45%, lipid chiếm 3%,cellulose 1%, calci 2,5%, phosphor 1.3% cộng thêm muối khoáng, vi lượng,vitamin thích hợp Nói chung tỷ lệ bột cá chiếm khoảng 70-75%, tinh bột 20-25% và một ít vi lượng, vitamin.
Thức ăn của cá Chình có tỷ lệ bột khá cao, mỡ nhiều nên dễ hút ẩm, dễmốc, phải chý ý bảo quản tốt, thời gian bảo quản không quá 2 tháng Cũngnhư với các giống, khi cho ăn, thức ăn phải được thêm nước, thêm dầu dinhdưỡng trộn đều làm thành loại thức ăn, mịn mới cho cá ăn
Bảng 1: Các tỷ lệ thức ăn dầu, nước, phụ thuộc vào điều kiện nhiệt độ
Cá cỡnhỏ
Cá thươngphẩmTrọng lượng cá (g) 0,2 – 0,8 1 – 1,5 16 - 40 40 - 100 150 – 200Thức ăn (%) 6 - 10 4 - 6 3 - 4 2,8 - 3 2 – 2,5
2.2.6 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển
Nhìn chung, tốc độ tăng trưởng của cá chình sống trong tự nhiên đượcxác định là thấp hơn nhiều so với các loài cá khác Các ấu trùng và ấu thể của
cá chình châu Âu phải mất 3 năm mới đến được các thủy vực nội địa
Tốc độ tăng trưởng của cá chình được đo vào tháng 6 hàng năm chothấy, ở năm thứ nhất cá đạt chiều dài 25 cm, năm thứ hai dài 53 cm, năm thứ
ba dài 75 cm, cá chình đực phát triển chậm hơn cá cái Sự khác biệt này thể
hiện rõ khi cá đạt kích cỡ từ 30 cm trở lên Đối với cá chình Nhật (A.
japonica) vào giai đoạn thành thục cá chình đực có khối lượng 70 gam/con,
chiều dài 30 – 35 cm; cá chình cái có khối lượng từ 300 – 350 gam/con, chiềudài 57 – 60 cm Như vậy cá chình cái lớn hơn cá chình đực khoảng 4 lần(Atsushi, 1991)
Cá chình nuôi trong điều kiện nhân tạo thường có tốc độ tăng trưởngkhác nhau tuỳ theo điều kiện môi trường, mật độ nuôi và chất lượng thức ăn.Tốc độ sinh trưởng của cá chình nuôi ở Nhật sau 18 tháng nuôi tăng trọng từ
160 – 180 g/con (9 – 10 g/con/tháng) Tuy nhiên thời gian tăng trưởng thực tếchỉ khoảng 10 tháng do nhiệt độ môi trường xuống quá thấp, cá không bắtmồi Khi nuôi trong điều kiện đảm bảo ổn định nhiệt độ, cá chình Nhật cótrọng lượng ban đầu 20 g/con, mật độ thả 40 – 50 con/m2, sau một năm có thểđạt kích cỡ 150 – 200 g/con Trong khi cũng mức tăng trọng đó cá được nuôi ở
Trang 7Trung Quốc và Đài Loan chỉ cần thời gian 8 – 10 tháng (Chen T.P, 1976; dẫn
từ Nguyễn Thị Quế Phụng, 2006)
2.2.7 Đặc điểm sinh sản
Cá Chình bông là loài di cư sinh sản (Spawning migration fish), cá bố
mẹ sống trong nước ngọt đến lợ trong các sông và cửa sông, gần đến giai đoạnchín mùi sinh dục thì di cư những đoạn đường rất xa ra biển khơi đến bãi đẻ
Cá Chình thường đẻ vào mùa xuân đến giữa hè, nơi có độ sâu 400 - 500mnước, nhiệt độ nước 16-170C, độ mặn 35‰, cá Chình chỉ đẻ 1 lần trong năm
2.3 Sơ lược kỹ thuật thu vớt cá chình giống
Kỹ thuật thu vớt có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe, tỷ lệ sống cũng nhưtốc độ tăng trưởng của cá trong quá trình lưu giữ và ương nuôi sau này
2.3.1 Mùa vụ thu vớt
Cá chình bột mới nở còn ở dạng ấu thể hình lá liểu theo dòng hải lưu vàthủy triều trôi dạt vào vùng biển ven bờ, trong thời gian ngắn khoảng 15-20ngày cá bột biến thành cá con có chiều dài thân khoảng 5-6cm, mảnh, thondài, màu trắng đục nên thường được gọi là chình lá liểu hay cá chình trắng.Ban ngày cá nằm dưới đáy chui rúc vào các khe đá, rong, cỏ,… ẩn nấp, banđêm chui ra ngoài hoạt động và chờ khi có điều kiện thích hợp tập trung thànhđàn đi vào các cửa sông và di cư ngược dòng về các thủy vực nước ngọt ở sâutrong nội địa Thời điểm này là mùa vụ khai thác, thu vớt cá chình bột, cáchình con để nuôi
Cá chình giai đoạn này thường có kích cỡ 5-6cm, khối lượng khoảng0,15-0,18g/con tương đương với 5500-7000con/kg
Nhìn chung mùa vụ xuất hiện bắt đầu từ tháng 9 năm trước đến cuốitháng 4 năm sau Nhưng tập chủ vào tháng 1 đến tháng 2, đặc biệt sau mùa lũ,
ở những ngày biển động nhẹ, có gió mùa Đông Bắc kết hợp với triều cường,vào những ngày trời tối Thời điểm di cư nhiều nhất ở chập tối đến 10-11 giờđêm, còn về sau thì giảm dần
Tuy nhiên thời gian thu vớt trong 1 lần có thể có lẫn cá chình có kích cỡlớn hơn, do các đợt cá di cư các đợt trước trộn lẫn vào Càng về cuối vụ kích
cỡ cá chình thu được càng lớn
2.3.2 Ngư cụ sử dụng để thu vớt
Hiện nay có khoảng 3-4 loại ngư cụ khai thác, thu vớt cá chình trắng.Tùy loại ngư cụ mà có hiệu quả hay khả năng làm tổn hại cá chình và lạm sátcác loại cá khác
- Lưới trũ:
Đây là loại ngư cụ thu vớt chủ yếu Lưới này có kích thước khoảng 2m x1,2m Lưới được dùng để làm là loại lưới xăm nhỏ, có mắt lưới khoảng 2a =2mm
Lưới được cắt hình chữ nhật, hai đầu gắn vào 2 que gỗ hay tre, dàikhoảng 1,5m, cho 2 người giữ 2 bên xúc cá chình trắng trôi nổi hay đang di
cư Giềng dưới kẹp chì, giềng trên gắn phao hay không gắn gì tùy thuộc vàotừng người dân làm
Lưới trũ dùng để xúc cá vào ban đêm Đi kèm với ngư cụ này là loại vợtnhỏ cũng sử dụng lưới xăm có kích cỡ mắt lưới 2a = 2mm trên để làm, lướiđược gắn vào vòng sắt có đường kính khoảng 20-30cm, cán vợt dài khoảng
Trang 80,5-1m tùy theo người làm Vợt này dùng để vớt cá thu được từ lưới trũ Ngoài
ra còn dùng đèn pin hoặc đèn ắcquy để soi có xúc được cá hay không
Đầu tiên 2 người giữ ở 2 đầu lưới trũ và xúc vào nơi có cá, dùng đèn soi
có cá hay không Nếu không có thì tiến hành xúc tiếp, nếu có thì dùng vợt xúc
cá ở lưới trũ lên và cho vào xô hay thùng chứa cá
So với các loại ngư cụ khác thì loại này thu vớt có hiệu quả nhất và ít tổnhại cho cá chình tự nhiên
- Vợt nhỏ:
Loại vợt này giống như vợt đi kèm cùng với lưới trũ, nhưng có cải tiếnbằng cách uốn thẳng miệng vợt có hình “bán nguyệt” để thu cá chình men theođập di cư, cán vợt cũng được nối dài để tiện sử dụng Nó được sử dụng độc lập
để vớt cá chình trắng vượt đập
Ngư cụ này ít hiệu quả vì số lượng thu vớt được ít Nhưng khi sản lượng
cá lớn thì loại ngư cụ này có vẻ chiếm ưu thế hơn bởi sự nhanh nhẹn và tiệnlợi của nó
- Vợt lớn:
Vợt lớn là loại vợt được làm như vợt nhỏ nhưng đường kính vòng vợtlớn hơn, khoảng 0,8-1m để xúc cá chình ẩn nấp dưới lớp cát sỏi, lớp rong rêu,bụi cỏ,… ở đáy sông vào ban ngày
Người dân dùng vợt cào mạnh vào đáy đưa cá và lớp cát sỏi… ở đáysông lên rồi đổ ra trên bờ để tìm kiếm cá chình
Như vậy loại ngư cụ này vừa ít hiệu quả, vừa gây tổn hại đến sức khỏe
cá chình và hệ sinh thái thủy sinh Ngư cụ này không sử dụng phổ biến, chỉ sửdụng để thu cá chình thêm vào ban ngày
+ Sóng, gió thủy triều lớn rất vất vả cho người sử dụng
+ Thời gian khai thác ngắn chỉ 4-6 giờ/ngày vì liên quan tới chế độ thủytriều
+ Năng suất khai thác thấp, chỉ từ 1-30con/1 lưới/đêm lẫn nhiều đốitượng khác và rác thải
Lưới đáy thường đặt cố định có dạng hình túi gồm 2 cánh lưới và 1 túiđáy Cánh lưới được kết ráp từ nhiều tấm lưới có mắt lưới đồng cỡ 2a = 2mm.Hàm trên cánh lưới kết dây giềng gắn các phao nhựa lớn để miệng lưới trênnổi trên mặt nước, hàm dưới cánh lưới kết dây giềng có gắn chì để đủ nặngkéo miệng lưới mở rộng ra chìm sát đáy Cánh lưới dài từ 15-20m, miệng lưới
mở rộng 10-15m
Túi đáy hình tròn, dài, trước lớn hơn sau Túi đáy có 2 phần, phần trướcnối từ cuối thân cánh lưới dài 1,5-2m, phần sau dài 2-2,5m Miệng cuối túi đáykết dây giềng thắt nút tháo mở được và được buộc với neo để cố định đáy.Phần miệng túi được buộc vào phao tiêu để xác định vị trí của túi Khi thu cá,kéo phao này lên xuồng và rũ cá từ miệng túi đáy ra phía sau để trút vào dụng
Trang 9cụ chứa Ngay phần miệng túi đáy còn được ráp thêm phần “toi” cũng đượcmay bằng lưới mùng nhằm hạn chế cá quay trở lại khi đã vào túi đáy.
Dùng neo sắt để cố định 2 cánh lưới và mở rộng miệng lưới Neo phầnmiệng lưới nặng 15kg, neo phần đụt lưới nặng 10kg Hàm trên lưới luôn nổitrên mặt nước và hàm dưới luôn chìm sát đáy, miệng lưới mở rộng hình oval.Đặt lưới đáy cố định ở cửa sông, rộng, thông thoáng hay có thể lùi vàophía trong để hạn chế sóng gió, nơi có cá chình theo dòng nước trôi vào lưới.Nơi đặt lưới phải có độ sâu đạt yêu cầu, nhưng không nên ở nơi quá sâu dòngchảy mạnh khó thao tác Dựa vào địa thế vùng cửa sông để đặt đáy, thường đặtphía bờ cát có độ sâu vừa phải (2-3m) Chỉ đặt miệng đáy hướng về biển khithủy triều lên
Thường vào 17-18 giờ chiều phải tiến hành thả lưới, để có thể thu được
cá ngay từ chập tối và dễ quan sát, thao tác khi thả lưới Cá chình theo dòngnước thủy triều bơi vào lưới, khi triều gần đứng thì thu cá Trong một lần thảlưới có thể thu 2-3 lần tùy theo số lượng cá vào nhiều hay ít
Dùng lưới đáy cố định có thể làm ảnh hưởng tới sức khỏe của cá dodòng nước chảy tạo áp lực đè nặng lên cá và con này ép con kia hoặc bị cá tạp,cua ghẹ và rác thải trôi vào ép nén làm những con vào túi trước dễ bị chết ngạthay yếu sức
Khai thác bằng hình thức này phải có thêm dụng cụ để lọc cá Có thểdùng thau, thùng (nhựa, nhôm) chứa sẵn nước Cá khai thác được trút vàothau, sau đó khẩn trương lượm bỏ tất cả các tạp chất (rác thải, cá tạp, cua ghẹ),rồi chuyển tiếp sang xô, thùng chứa khác để phân loại Sau khi phân loại cáđược chứa trong thùng có các dụng cụ sục khí để cung cấp đủ oxy cho cá vừamới thu được, nước chứa trong thùng phải lấy tại chổ và lắng sạch
Nơi cá chình tập trung nhiều nhất là vùng tiếp giáp giữa vùng nước ngọt
và vùng nước mặn (nước lợ) Vì vậy ngư dân thường chọn những vùng này đểthu vớt cá chình trắng
Tuy nhiên cá chình trắng có thể xuất hiện từ cửa sông đến chân đập thủylợi Tùy theo đập thủy lợi xa hay gần cửa biển
Đối với những dòng sông không có đập thủy lợi chắn ngang, cá chìnhtrắng thường xuất hiện từ 1-5km tính từ biển vào
Người dân thường đặt ngư cụ thu vớt nơi có dòng chảy nhẹ, ven bờsông, tương đối kín gió và độ sâu từ bờ ra đến độ sâu khoảng 2m trở lại.Thường là những bãi bồi và những gò cát giữa sông, còn những bờ sông lở dodòng chảy xiết và nguy hiểm nên không có người khai thác Theo kinh nghiệmvào mùa này cá tập trung chủ yếu ở bờ Bắc, nơi kín gió
2.4 Các phương pháp lưu giữ cá chình hương sau thu vớt
Cá chình giống vừa thu vớt được cho vào thùng chứa có sục khí Lúc này có lẫn nhiều rác bẩn và cá tạp lẫn lộn Khi chuyển vào bờ cần sàng lọc, sau đó đưa vào nuôi tạm để cá thải hết phân trong ruột ra
Trang 10Việc nuôi tạm cá chình trong thời gian ngắn 2-3 ngày có thể thực hiện như sau:
- Nuôi khô và phun nước:
Cá thu được chứa trong thùng nhựa hay gỗ, cách 1-2 giờ phun nước một lần để giữ cho da cá luôn có độ ẩm, tạo thuận lợi cho cá hô hấp bằng da Có thể nuôi tạm trong 2 – 3 ngày, tỷ lệ sống 80-90% Tuy nhiên cá bị yếu sức nhiều do phải sống trong môi trường không nước, một số bộ phận của cá bị ứcchế, ảnh hưởng khi thả nuôi sau này
- Nuôi trong giai
Dùng giai lưới có kích thước khoảng 200 x 100 x 150 cm, mắt lưới 10 lỗ/cm2, đặt dưới nước, tại nơi thu vớt cá chình giống, phải đảm bảo nước sạch, thông thoáng
Dùng giai có thể nuôi tam cá chình hoa giống trong một thời gian dài, từ 15- 30 ngày Trong quá trình nuôi tạm nên thường xuyên rửa sạch bùn và rongđóng kín trên mắt lưới giai, vớt cá chết và cho cá ăn
Tỷ lệ sống khi nuôi tạm trong giai có thẻ đạt 80%, tuy nhiên chất lượng
cá cũng bị giảm do cá bị nuôi nhốt trong môi trường chật hẹp, cá ăn ít hoặc không chịu ăn
Bảng 3: Mật độ và thời gian nuôi tạm cá chình trong giai
Mật độ (kg/m2) Nhiệt độ (oC) Thời gian (ngày)
- Nuôi tạm trong bể Composit hay bể Ciment
Đây là cách nuôi tạm có trang bị dụng cụ tương đối, bể composit hay bể ciment có hệ thống cấp thoát nước, có máy sục khí liên tục và có mái che, tạo điều kiện tốt cho cá sinh sống Bể có thể tích 15 – 25 m3, cao 80cm Nước cấp vào bể phải được lọc kỹ, pH từ 7-8, độ mặn 5-6 ‰
Bảng 4: Mật độ nuôi giữ trong bể composit tuy theo nhiệt độ
2.5 Tình hình nghiên cứu cá chình trên thế giới
2.5.1 Tình hình ương nuôi cá chình trên thế giới
Trang 11Trên thế giới hiện nay việc nuôi chủ yếu khai thác nguồn giống tự nhiêntại các cửa sông vào cuối mùa thu đến mùa đông khi chúng đang di cư ngượcdòng Ngư dân tại Nhật Bản thường dùng các cây lau, sậy rỗng bên trong lànơi cho cá Chình vào chú ẩn (dựa vào tập tính sống ưa bóng tối) TheoQuedens (1963), ở các nước như Austraila, Nam Phi người ta sử dụng mồi câumóc vào trong một hộp gỗ và thả xuống nước.
Hiện nay cá Chình được xem như một sản phẩm thủy sản quan trọng CáChình được đánh giá cao về chất lượng thịt, mùi vị ngon và giàu dinh dưỡng,các nước Tây Âu và Nhật Bản là thị trường tiêu thụ cá Chình mạnh nhất trênthế giới Trang trại nuôi cá Chình đầu tiên được xây dựng ở Đài Loan năm
1952 và đặc biệt những trang trại phát triển nuôi cá Chình lớn cũng được tìmthấy ở vùng này Xue (1988) thông báo sản lượng hàng năm mang lại 41.000tấn và giá trị sản lượng là 300 triệu USD cho khu vực này
Nuôi cá Chình ở Nhật Bản bắt đầu vào những năm cuối của thế kỷ 19 tạiTokyo, suốt đầu thế kỷ 20, việc nuôi cá Chình mở rộng đáng kể ở ba trungtâm của Nhật Bản là Shizuoka, Aichi và Mie Năm 1942, tổng diện tích nuôi
cá Chình trong các ao đạt đến 2000 ha, sau sự sụt giá suốt chiến tranh thứ 2,việc nuôi lại Chình lại bắt đầu phát triển trở lại và vượt qua mức độ ban đầutrước chiến tranh thế giới thứ 2 năm 1960 Sản lượng Chình đánh bắt hangnăm dao động trong khoảng 200 tấn mỗi năm, sản lượng cá Chình nuôi đãđược tính toán với các con số cao hơn rất nhiều, đạt 14.000 tấn năm 1972 và27.000 tấn năm 1977 Tổng diện tích nuôi đạt đến 2.500 ha năm 1977 Nhờphương pháp nuôi tiên tiến có thể làm tăng cao sản lượng và nhu cầu tiêu thụtăng lên, việc khai thác con giống tự nhiên không đủ nhu cầu tiêu dùng và kếtquả là Nhật Bản phải nhập con giống từ Úc, Philippines, Trung Quốc, Châu
Âu, và Mỹ
Từ Nhật Bản nghề nuôi cá Chình đã lan rộng sang Trung Quốc, HànQuốc,Đài Loan Những năm 70 của thập kỷ XX, việc nuôi cá Chình được bắtnguồn đầu tiên ở Nam và Đông của Trung Quốc với mục đích để xuất khẩu.Sản lượng ban đầu chỉ giới hạn trong khoảng 3000 đến 4500 kg/ha bởi vì thiếu
kỹ thuật, thức ăn và kế hoạch phát triển Tuy nhiên từ năm 1980, với việc ápdụng hệ thống nuôi thâm canh, các trang trại nuôi Chình đã có những bướctiến nhanh chóng và sản lượng cũng tăng lên nhanh ở vùng đất liền (Yu,1988).có hàng trăm trang trại nuôi Chình mọc lên ở các tỉnh Quảng Đông vàFujian Năm 1988, tổng diện tích nuôi Chình là 530 ha với sản lượng hàngnăm là 8000-10.000 tấn và giá trị sản lượng là 65-80 triệu USD Vào nhữngnăm 80-90 của thập kỷ XX, Trung Quốc đã thành công về kỹ thuật nuôi cáChình trong ao đất, giúp nghề cá Chình trong ao đất ở Trung Quốc phát triểnnhanh chóng, giảm giá thành có thể cạnh tranh với nhiều nước
Đài Loan đã học nghề nuôi cá Chình và ứng dụng vào năm 1952, sau đó
mô hình nuôi cá Chình thương phẩm với quy mô nhỏ đã được tổ chức thựchiện vào năm 1985, nuôi Cá Chình trong các trang trại với quy mô lớn đượcthực hiện vào năm 1964 Đến năm 1964 tổng diện tích nuôi cá Chình ở ĐàiLoan xấp xỉ 3000 ha
Trang 12Ở Mỹ cũng thực hiện nuôi cá Chình, tuy nhiên do nhu cầu người dânkhông cao, nguồn lợi tự nhiên khá phong phú và ổn địng nên số lượng trangtrại nuôi chỉ khoảng 50 trang trại Kỹ thuật nuôi được chuyển giao từ Nhật.
Ở New Zealand, cá Chình đang được nuôi thử nghiệm bởi trường Đạihọc Victoria, bang Wellington Mục đích chính của chương trình là làm thếnào để khai thác ổn định và tối đa nguồn lợi, thúc đẩy nghề nuôi cá Chình pháttriển và nghiên cứu thêm đặc điểm sinh học của các loài cá Chình NewZealand Còn ở Úc , hoạt động nuôi cá Chình vẫn năm trong thử nghiệm vàđang thu hút được sự quan tâm của người nuôi
Nuôi cá Chình ở các nước Đông Nam Á và Nam Á vẫn chưa phát triểnmạnh, còn chưa được quan tâm đầu tư do người dân của các nước này cònnghèo, bữa ăn của họ còn thiếu nhiều Protein nghiêm trọng, như vậy việc nuôi
cá Chình đồng nghĩa với việc cạnh tranh nguồn thức ăn Protein của con người.Hơn nữa do mức sống của người dân ở nay còn thấp nên họ không có điềukiện để ăn những loại thực phẩm cao cấp như cá Chình Do nhu cầu nuôi thực
tế ở khu vực này còn chưa phat triển do đó những nghiên cứu ứng dụng chonuôi ở khu vực này còn rất ít, chưa thu hút được quan tâm đúng mức.Vàu nămgần nay mới bắt đầu thu hút được một số nhà nghiên cứu về lĩnh vực này
Bảng 5: Sản lượng nuôi cá Chình ở một số quốc gia năm 2001
(theo thống kê FAO)
Hệ thống nuôi hiện nay trên thế giới có 2 phương thức nuôi đó là nuôi aonước tĩnh và nuôi ao nước chảy