1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong dạy học phần công dân với đạo đức, chương trình môn giáo dục công dân lớp 10 (qua khảo sát trường thpt nguyễn du, huyện châu đức, tỉnh bà rịa - vũng tàu)

115 918 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 17,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong Luật Giáo dục, điều 28.2., đã ghi “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với từng đặc điểm của từng lớp học, môn h

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

MAI THỊ MAI

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG

DAY HQC PHAN "CONG DAN VOI DAO DUC",

CHUONG TRINH MON GIAO DUC CONG DAN LOP 10

(QUA KHAO SAT TRUONG THPT NGUYEN DU, HUYEN CHAU DUC,

TINH BA RIA - VUNG TAU)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thành Phố Hồ Chí Minh - 2012

Trang 2

LỜI CÁM ƠN

Để hoàn thành luận văn, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi xin cảm

ơn sự giúp đỡ nhiệt thành đến Lãnh đạo trường Đại học Vinh, Lãnh đạo trường Đại học Sài Gòn Xin cảm ơn quý thầy, cô Khoa Giáo dục Chính trị trường Đại học Vinh đã truyền đạt những tri thức quý báu, giúp tôi hoàn thành chương trình học và thực hiện luận văn

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS -TS Nguyễn Lương Bằng, Khoa Kinh tế trường Đại học Vinh, người đã động viên, giúp

đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn

Xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo giảng đạy môn Giáo dục công dân Trường THPT Nguyễn Du, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã nhiệt tình hợp tác và tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi thực hiện luận văn

Xin cảm ơn gia đình và người thân, cảm ơn sự động viên khích lệ của bạn

bè và đồng nghiệp

TP Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2012

Tác giả

Mai Thị Mai

Trang 3

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIỆT TAT

Bài giảng điện tử BGĐT

Giáo viên GV Giáo dục công dân GDCD

Trang 4

1.1 Cơ sở lý luận của việc vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong

dạy học phần “Công dân với đạo đức”, chương trình môn Giáo dục công dân lớp

2.2 Nội dung thực nghiệm

Kết luận chương 2 2-©22+22EE2+2E222EE1221112711127111271227111271127111211 11 c0 77

Chương 3:QUY TRÌNH VÀ GIẢI PHÁP VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG DẠY HỌC PHẢN “CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC”, CHƯƠNG TRÌNH MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 10 78

3.1 Quy trình vận dụng phương pháp đạy học tích cực trong dạy học phần “Công dân với đạo đức” chương trình môn Giáo dục công dân lớp 10 78

3.2 Giải pháp vận dụng các phương pháp dạy học tích cực trong dạy học phần

“Công dân với đạo đức”, chương trình môn Giáo dục công dân 10 93

Kết luận chương 3 -L 2222222211111 11111 115112211111 1111111 rre 105

C KẾT LUẬN -ccccsscssreeeeeerrrrrrsrrrrrrserrrrrceee TỮỐ D.TÀI LIỆU THAM KHẢO 22 2-2Se2SE222EE‡2EEE2271E1271E221E2221 271 cE2 109

Trang 5

A MO DAU

1 Tính cấp thiết cúa đề tài

Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ thế kỷ XXI phát triển như vũ bão,

đó được xem là sự bùng nổ về cách mạng tri thức và cách mạng thông tin Hệ thống công nghệ cao ra đời, lực lượng sản xuất phát triển, làm cho xã hội biến đổi sâu sắc

về mọi mặt Cùng với sự phát triển mạng viễn thông toàn cầu giúp mỗi người trao

đổi thông tin một cách nhanh chóng, và dễ đàng tiếp cận với nguồn tri thức vô tận

của nhân loại, có thể xem nó là “Bách khoa toàn thư của loài người” Đề thích ứng với điều đó, đòi hỏi nền giáo dục và đào tạo của các nước đang phát triển, trong đó

có Việt Nam, phải cải cách triệt để nền giáo dục gấp rút đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng cho sự phát triển của nền kinh tế Giáo dục nhằm đào tạo ra những con người có phẩm chất, bản lĩnh vững vàng, có trách nhiệm với xã hội, giám nghĩ, giám làm, có tư duy độc lập, năng động sáng tạo, tiếp thu làm chủ tri thức mới, biết ứng dụng linh hoạt sáng tạo vào thực tiễn Đồng thời từ bỏ cách dạy thụ động, áp

Trang 6

6

đặt, nặng nề, nhồi nhét kiến thức mà chú trọng vào phát triển trí tuệ, bôi dưỡng năng lực, phương pháp tiếp cận, giải quyết vấn đề, kỹ năng giao tiếp ứng xử, làm việc trong cộng đồng Chính vì vậy, ở nước ta đã triển khai chiến lược cải cách giáo dục vào các năm 1950,1956,1980 Tập trung vào cải cách giáo dục ở bậc phố thông, mà trọng điểm là cải cách chương trình, sách giáo khoa theo hướng tinh giản, tập trung vào các kiến thức kỹ năng cơ bản, coi trọng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn

Định hướng đổi mới PPDH đã được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII của Đảng (1/1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12/1996) được thể chế hóa trong Luật Giáo dục (2005), được cụ thé hoa trong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt chỉ thị số 14 (4- 1999)

Trong Luật Giáo dục, điều 28.2., đã ghi “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với từng đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi đưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS”

Thực hiện tinh thần của Bộ Trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học đã đưa ra: “Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng HS, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho HS phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm hoc tap cho HS” [6; 8]

Tir nim hoc 2006 — 2007 ca nuéc bắt đầu thực hiện theo triển khai của Bộ

giáo dục và Đào tạo về đổi mới nội dung, chương trình SGK, đấy mạnh PPDH

Đồng thời, bắt đầu tổ chức bồi dưỡng, tập huấn cho giáo viên về PPDH và sau đó

đã có nhiều cuộc hội thảo khoa học về đổi mới PPDH ở các Tỉnh, Thành Phó do Bộ Giáo dục và Đào tạo tô chức

Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng tiếp tục

khắng định: “Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương

Trang 7

7

phap thi, kiém tra theo hướng hiện đại; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội ”[43; 216]

Đặc biệt liên quan đến đề tài nghiên cứu phải nhắc đến các văn bản chỉ đạo như: Chỉ thị số: 3398/CT- BGDĐT, ngày 12 tháng 8 năm 2011, đã xác định một trong những nhiệm vụ của giáo dục phổ thông năm học 2011 - 2012 là điều chỉnh nội dung dạy học theo hướng giảm tải, tiếp tục đổi mới phương pháp giáo dục, PPDH và kiểm tra đánh giá theo chuẩn kiến thức kỹ năng của chương trình giáo dục phổ thông cho tất các các môn học Công văn số 5358/BGDĐT-GDTrH, hướng dẫn nhiệm vụ năm học 2011- 2012 là tiếp tục thực hiện đổi mới PPDH triệt để hơn, sâu rộng hơn đến từng cán bộ quản lý, GV trung học và HS

Thực hiện yêu cầu đổi mới, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

đã triển khai cho đội ngũ GV trong toàn tỉnh thực hiện đổi mới PPDH Kế hoạch

được triển khai thực hiện giai đoạn đầu 5 năm (2006- 2012), nội dung của việc đồi

mới được thể hiện rõ nhất qua tiết dạy thao giảng, hội giảng trong các nhà trường, đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS Trong mỗi tiết dạy đổi mới phương pháp đã tạo nên sự hứng thú, niềm say mê, khám phá, tìm tòi trong học tập của HS, làm cho HS tự tin trình bày quan điểm của mình trước đám đông và kích thích sự tư duy sáng tạo, nhu cầu tự học của HS Đồng thời cũng chính từ trong tiết dạy đã cho thấy GV dần dần làm quen, vận dụng PPDH tích cực vào dạy học Thực

tế việc đối mới PPDH tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trong thời gian qua còn nhiều bat cập và hạn chế, một bộ phận không nhỏ GV chưa thực sự chịu khó, quyết tâm cải tiến PPDH, vẫn còn hiện tượng “đọc - chép” Trong các giờ dạy hoặc sử dụng công nghệ thông tin qua tiết dạy phần mềm PowerPoint bằng “trình chiếu - chép”, chưa

chú trọng đến việc tạo hứng thú, kích thích tư duy học sinh tiếp nhận, làm chủ kiến thức, mà chỉ là thụ động ngồi nghe, ghi chép, nhớ lại những kiến thức của các thầy

cô truyền đạt trong tiết dạy, cho nên phương pháp chủ yếu là thuyết trình, diễn giải

Vì vậy, nhiệm vụ đặt ra cho các GV đang trực tiếp giảng dạy, là phải không ngừng

Trang 8

8 đổi mới PPDH cho phù hợp với đặc trưng môn học Đổi mới nhằm phát huy

tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo và rèn luyện thói quen vào khả năng tự học Tinh thần hợp tác, kỹ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau và trong thực tiễn, tránh sự ý lại và phụ thuộc vào GV, đem lại niềm vui, sự yêu thích qua từng tiết học, bài học Qua những vấn đề thực tế nêu trên, với vai trò

là một người GV đang trực tiếp đứng lớp chúng tôi chọn đề tài: Vận dụng phương

pháp dạy học tích cực trong dạy học phần “Công dân với đạo đức”, chương trình môn Giáo dục công dân lớp 10 làm đề tài nghiên cứu

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Để vận dụng và tổ chức có hiệu quả quá trình giáo dục trong nhà trường phố thông thì các phương pháp giảng dạy — giáo dục là một thành tố vô cùng quan trọng, vì việc vận dụng hợp lý các phương pháp giáo dục đạo đức với các phương pháp dạy học, các phương pháp đó là cách thức hoạt động chung và giao lưu giữa giáo viên, tập thể học sinh và từng cá nhân học sinh nhằm lĩnh hội được nền văn hóa đạo đức của loài người và của dân tộc đề trở thành một nhân cách trọn vẹn Cho nên, giáo dục đạo đức cho HS luôn luôn được Đảng và nhà nước quan tâm Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng viết: “Môi trường văn hóa

bị xâm hại, lai căng, thiếu lành mạnh, trái với thuần phong mỹ tục, các tệ nạn xã hội, tội phạm và sự xâm nhập của các sản phẩm và dịch vụ độc hại làm suy đổi đạo

đức, nhất là trong thanh, thiếu niên, rất đáng lo ngại”[43;169] Xuất phát từ quan

điểm đó cho đến nay đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu

Bản chất của con người đã được nhiều nhà tư tưởng, giáo đục ở phương

Đông và phương Tây, từ thời cổ đại đến nay đều được bàn đến Như Xôcrát (469- 399) và Platôn (427-347) thì “cái thiện” là một ý niệm chung, phổ biến và bất biến

là ý niệm cao nhất được coi là chúa sáng thế, là mặt trời sinh ra muôn vật Không

tử (551- 479) và Mạnh tử (372- 289) thì cho rằng con người ta sinh ra đã mang bản

chất, mầm mống của cái “thiện” “nhân chi sơ tính bản thiện” Người ta không ai là

không thiện cũng như nước không lúc nào là không chảy xuống chỗ trũng (nhân vô

Trang 9

9

hữu bất thiện, thủy vô hữu bất hạ) Rõ ràng các quan niệm trên đều cho thiện,

ác như là những thuộc tính bản chất của con người từ lúc mới sinh ra tính chất tiên thiên — tiền định Theo quan điểm đạo đức học Mác -Lênin thì ý thức của con

người về thiện và ác không phải là sản phẩm trừu tượng thuần túy có tính chất tiên

thiên hoặc “mầm mống” di truyền Ngược lai, nó là kết quả phản ánh những điều

kiện kinh tế - xã hội của một thời đại, một hoàn cảnh cụ thể Ăng ghen chỉ ra rằng:

“Tự giác hay không tự giác, rút cuộc người ta đều lấy những quan điểm đạo đức của mình từ những quan hệ thực tế đã tạo thành cơ sở cho địa vị giai cấp của mình tức là những mối quan hệ kinh tế, trong đó người ta tiến hành sản xuất và trao đổi” [1; 161] Còn Hồ Chí Minh da khang dinh mot quan niém khoa hoc vé ban chat con người và tác dụng của giáo dục đối với con người, nhưng quan điểm giáo dục của

Hồ Chí Minh gần với nhận thức “nhân chi sơ tính bản thiện” Song, lại nhắn mạnh đến tác động của xã hội, ảnh hưởng của gia đình, nhanh chóng làm thay đổi bản chất con người Do đó, cần phải có giáo dục, nhưng không phải để cho việc giáo dục tự nhiên diễn ra mà phải tiến hành giáo dục có định hướng theo một chủ đích

thời kỳ cỗ đại là Không tử nói: “Trò nào không hỏi làm thế nào? Làm thế nào? Thì

ta cũng chăng làm thế nào được” Vì vậy, nhà giáo dục phải tìm mọi biện pháp

động viên, khơi dậy tính tích cực của chủ thể ông nói: “Không tức giận vì muốn

biết thì không gợi mở cho, không bực mình vì không rõ được thì không bày vẽ cho

Trang 10

Vật có bốn góc bảo cho biết một góc mà không suy ra ba góc khác thì không dạy nữa”

Ở Việt Nam tiêu biểu cho các công trình nghiên cứu về phương pháp dạy học như tác giả Phan Huy Ngọ: “Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường” tác giả đã đi sâu nghiên cứu vấn đề lý luận đạy học, các phương pháp dạy học, kỹ thuật sử dụng phương tiện đạy học trong nhà trường, điểm mạnh và hạn chế của các phương pháp dạy học, các phương pháp đánh giá kết quả [33; 183, 326] Cũng như Trần Bá Hoành: “Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình SGK” tác giả nghiên cứu và trình bày lý luận chung đối mới phương pháp dạy học, chương trình và SGK phổ thông [19; 7,176] Còn Đặng Thành Hưng: “Tương tác và hoạt động của thầy trò trên lớp học” tác giả đã chú trọng trình bày kỹ thuật sử dụng câu hỏi trong bài học, hành vi ứng xử của giáo viên, sử dụng lời nói trên lớp và trình bày bảng như một phương tiện ngôn ngữ viết trên lớp [20; 28, 46] Với Trần Bá Đoàn: “Lý luận cơ bản về dạy và học tích cực” tác giả nêu lên những vấn đề chung

về thực trạng dạy và học hiện nay, sự cần thiết phải đôi mới, những định hướng đối mới theo phương pháp đạy và học tích cực [16; 3] và nhiều công trình khác Từ sự nghiên cứu lý luận dạy học và nêu lên hệ thống các PPDH theo hướng tích cực, chủ động của người học, khẳng định vai trò trung tâm của người học trong quá trình dạy học, các tác giả đã có cách viết khác nhau tạo ra sự đa dạng và phong phú về nội dung và phương pháp nghiên cứu

Liên quan đến nội dung của đề tài PGS TS Nguyễn Lương Bằng có một số công trình nghiên cứu như sau: Tiêu chí đánh giá, xếp loại đạo đức học sinh phố thông - một số vấn đề đặt ra trong bối cảnh hiện nay, Tạp chí Đại học Sài Gòn, Số

§ 2012; Truyền thống đạo đức trọng nhân nghĩa và ảnh hưởng của nó đối với sinh

viên hiện nay, Tạp chí Giáo dục, Số 4 2006; Một số vấn đề đặt ra đối với môn

Giáo dục công dân từ thực tiễn dạy học bộ môn ở Nghệ An, Tạp chí Giáo dục, Số

66 2003 Luận văn Th.S Nguyễn Thị Kim Ngân: Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực trong dạy phần “Công dân với việc hình thành thế giới quan, phương

Trang 11

vậy, những đề tài đó tôi sẽ có cái nhìn cu thé hon, giúp cho đề tài của tôi hoàn thiện

dân lớp 10 Từ kết quả khảo sát, thực nghiệm của dé tài, đề xuất một số giải pháp

nhằm nâng cao chất lượng đạy học môn Giáo dục công dân ở lớp 10 (Qua khảo sát tại trường THPT Nguyễn Du, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu)

3.2 Nhiệm vụ của luận văn

- Phân tích và làm rõ tính tất yếu của việc vận dụng PPDH tích cực trong dạy học phần “Công dân với đạo đức”, chương trình môn Giáo dục công dân lớp 10

- Chỉ ra những PPDH tích cực phù hợp có thể vận dụng trong dạy học phần “Công dân với đạo đức”, chương trình môn Giáo dục công dân lớp 10 qua một số bài dạy hoc cu thé

- Tiến hành thực nghiệm tại trường THPT Nguyễn Du, huyện Châu Đức, tỉnh Bà

Rịa - Vũng Tàu Từ đó rút ra quy trình đạy học và đề xuất một số giải pháp cơ bản

để góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn Giáo dục công dân lớp 10 nói chung

và môn Giáo dục công dân lớp 10 ở trường THPT Nguyễn Du, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nói riêng

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Trang 12

12

4.1 Cơ sở lý luận

Đề tài dựa trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác -Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các Văn kiện Đại hội Đảng, Luật Giáo dục 2005 Trên cơ sở nội dung, chương trình SGK, môn GDCD và những tài liệu hướng dẫn giáo viên, các văn bản chỉ đạo dạy học của Bộ

Giáo dục và Đào tạo cùng với các kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả trong thời

gian gần đây về vấn đề này

4.2 Phương pháp nghiên cứu:

Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu đề tài, ngoài sử dụng phương pháp luận khoa học Mác-Lênin, còn có các phương pháp mang tính đặc thù sau đây:

- Phương pháp logic - lịch sử

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi

- Phương pháp phỏng vắn

- Phương pháp quan sát, thực nghiệm: Nhằm kiểm tra giả thuyết nghiên cứu bằng cách trực tiếp nghe nhìn (dự giờ, thực nghiệm giảng dạy)

- Phương pháp xử lý thông tin và phân tích số liệu

5, Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu: Các phương pháp dạy học tích cực môn Giáo dục công dan THPT

- Khách thể nghiên cứu: Hệ thống các PPDH tích cực, các điều kiện dạy học môn Giáo dục công dân tại trường THPT Nguyễn Du, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

- Mẫu nghiên cứu: Chọn trường THPT Nguyễn Du, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa -

Vũng Tàu làm khảo sát

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 13

13

Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu một số phương PPDH phù hợp với phần thứ hai “Công dân với đạo đức”, chương trình Giáo dục công dân lớp 10 và vận dụng vào dạy học một số bài của phần này

6 Giá thuyết khoa học

Nếu vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong dạy học phần “Công dân với đạo đức” chương trình môn Giáo dục công dân lớp 10 phù hợp thì hiệu quả dạy

— học sẽ được nâng cao

7 Đóng góp của đề tài

Góp phần làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lý luận và thực tiễn của việc vận

dụng PPDH tích cực trong phần “Công dân với đạo đức”, chương trình môn Giáo dục công dân lớp 10 ở các trường THPT trên địa bàn huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu

Kết quả nghiên cứu của đề tài làm tài liệu tham khảo, đóng góp cho việc

nghiên cứu và dạy học môn Giáo dục công dân tại các trường THPT

8 Kết cấu của đề tài:

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, đanh mục, tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được trình bày thành 3 chương, 5 tiết

CHUONG 1: CO SG LY LUAN VA THUC TIEN CUA VIỆC VẬN DỤNG PHƯƠNG PHAP DAY HOC TICH CUC TRONG DAY HOC PHAN “CONG

DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC”, CHƯƠNG TRÌNH MÔN GIÁO DUC CONG DÂN LỚP

10

CHƯƠNG 2: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY

HỌC TÍCH CỰC TRONG DẠY HỌC PHẢN “CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC”, TẠI TRƯỜNG THPT NGUYÊN DU, HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CHƯƠNG 3: QUY TRÌNH VÀ GIẢI PHÁP VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG DẠY HỌC PHẢN “CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC”, CHƯƠNG TRÌNH MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 10.

Trang 14

B NỘI DUNG

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỀN CỦA VIỆC VẬN DỤNG

PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG DẠY HỌC PHẢN

“CONG DÂN VỚI ĐẠO DUC”, CHUONG TRINH MON GIÁO DỤC CÔNG

DÂN LỚP 10

1.1 Cơ sớ lý luận của việc vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong dạy học phần “Công dân với đạo đức”, chương trình môn Giáo dục công dân lớp

10

1.1.1 Phương pháp dạy học và phương pháp dạy học tích cực

1.1.1.L Khải niệm phương pháp

Khái niệm phương pháp xuất phát từ thuật ngữ Hi Lạp “Methodos” có nghĩa chung nhất là con đường nghiên cứu, cách thức làm việc, phương tiện mà chủ thể phương pháp dạy học sử dụng tác động, chiếm lĩnh để tìm ra và chứng minh chân

Theo quan điểm của P Bêcơn (1561- 1626) nhà Triết học nổi tiếng người

Anh đã ví phương pháp như ngọn đèn lớn, soi sáng cho con người đi trong đêm tối

Vì vậy, trong dạy học cần phải có phương pháp, phải làm cho HS tiếp thu kiến thức bằng con đường ngắn nhất, với sự nỗ lực của HS, đưới sự hướng dẫn giảng đạy của

GV Kết quả trong trường phổ thông được đánh giá không chỉ ở mặt nội dung mà còn cả về phương pháp

G.Hêghen đưa ra định nghĩa về phương pháp và được Lênin nêu lên trong tác phẩm Bút ký triết học: “Phương pháp là hình thức vận động của nội dung sự

vật Mỗi sự vật đều có bản chất của nó và được thể hiện qua hình thức nhất định

Hình thức không bao giờ tồn tại riêng, tách rời nội dung Đồng thời nội dung cũng không tôn tại tách rời hình thức vận động của nó Mỗi sự vật đều có phương pháp vận động riêng của mình” [33; 142]

Trang 15

15

Theo quan điểm của C Mác (I8I§- 1883): “Phương pháp là sức mạnh tuyệt đối, duy nhất, cao nhất, vô cùng tận, không có vật thể nào có thể cưỡng lại nổi; đó

là xu thế của lý tính đi đến chỗ tìm thấy lại, nhan thay lai ban thân mình ở trong

mọi sự vật” [24; 122] Trong công tác giáo dục muốn đạt được hiệu quả thì GV phải được trang bị đầy đủ cả về cơ sở lý luận khoa học lẫn kinh nghiệm thực tế Vì

có kiến thức tốt chưa chắc đã có phương pháp dạy học tốt, nhưng không thể có phương pháp giảng dạy tốt nếu GV chưa nắm vững kiến thức cơ bản của bộ môn Theo GS.TS Nguyễn Văn Hộ: “Phương pháp là cách thức, con đường, phương

tiện để đạt tới một mục đích nhất định, để giải quyết những nhiệm vụ nhất định”

[18; 57]

Từ những quan niệm trên, chúng tôi đưa ra một định nghĩa về phương pháp như sau: Phương pháp là cách thức làm việc của thây và của trò để đạt được mục đích đặt ra

1.1.1.2 Khải niệm phương pháp dạy học

Cho đến nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về phương pháp dạy học Theo Iu.K.Babanxki “Phương pháp dạy học là cách thức tương tác giữa thầy và trò nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển trong quá trình dạy học ” [1§; 62] Tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Phương pháp dạy học là cách thức làm việc của thầy và trò trong sự phối hợp thống nhất và dưới sự chỉ đạo của thầy, nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ day hoc” [18; 62] Con tác giả Phan Trọng Ngọ:

“Định nghĩa chung nhất về phương pháp dạy học là những con đường, cách thức tiến hành hoạt động dạy học”[33; 145] Theo tác giả Trần Kiều coi PPDH là những hành động, hoạt động của giáo viên “Phương pháp dạy học là một hệ thống tác động liên tục của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của học sinh để học sinh lĩnh hội vững chắc các thành phần của nội dung giáo dục

nhằm đạt mục đích đã định” [50; 25] Nhóm tác giả Hà Thế Ngữ, Phạm Thị Diệu

Vân quan niệm: “Phương pháp dạy học là tổ hợp các cách thức hoạt động của Thay va Trò (trong đó Thầy đóng vai trò chủ đạo) được tiến hành trong quá trình dạy học, nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học” [35; 72] GS TS Đặng Thành

Trang 16

16

Hưng: “Phương pháp dạy học là những phương thức hoạt động trật tự có liên quan qua lại của giáo viên và học sinh nhằm đạt những mục tiêu giáo dục” [21; 1] Tuy nhiên, có nhiều cách diễn đạt khác nhau nhưng nội dung của định nghĩa trên đều có một tư tưởng chung là: Phương pháp dạy học là sự tương tác trong tiến trình hoạt động của giáo viên và học sinh, do đó phương pháp dạy học được xem xét trong mối liên hệ giữa phương pháp với các nhân tố khác của quá trình dạy học (mục đích, nội dung, hình thức tổ chức dạy học, kiểm tra, đánh giá, .) Trên cơ sở nghiên cứu những định nghĩa của nhiều nhà khoa học khác nhau, chúng tôi đã đưa

ra định nghĩa về phương pháp dạy học như sau:

Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động có trình tự, với sự tương tác giữa giáo viên và học sinh nhằm đạt được mục đích của quả trình dạy học

1.1.1.3 Khai niém phương pháp dạy học tích cực

Tư tưởng nhấn mạnh vai trò tích cực chủ động của người học là chủ thể của quá trình học tập cũng đã có từ lâu Ở thế kỷ XVII, A.Kômenski đã viết: “giáo đục

có mục đích đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán đúng đắn, phát triển nhân cách hãy tìm ra phương pháp cho phép giáo viên đạy ít hơn, học sinh học nhiều hơn” [19; 30] Ở nước ta, vấn đề phát huy tính tích cực chủ động của học sinh nhằm đào tạo những người lao động sáng tạo đã được đặt ra trong ngành giáo dục

từ những năm 1960 Khẩu hiệu “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”

cũng đã đi vào các trường sư phạm từ thời điểm đó [19; 30] Tư tưởng chỉ đạo đổi mới về PPDH được phát biểu dưới nhiều hình thức: “lấy học sinh làm trung tâm”,

“phát huy tính tích cực”, “phương pháp dạy học tích cực”, “phương pháp giáo dục tích cực”, “tích cực hóa hoạt động học tập”, “ hoạt động hóa người học”, cùng với điều đó là nhiều lý thuyết dạy học của nhiều tác giả bàn về PPDH Nhưng quan niệm và cách trình bày, lý giải của các tác giả không phải đã hoàn toàn thống nhất với nhau về PPDH

Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước, để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học

Trang 17

17

“Tích cực” trong PPDH tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động, chu động, trải nghĩa với không hoạt động, thụ động chứ không dùng với theo nghĩa trái với tiêu cực

Tác giả Trần Bá Hoành: “PPDH hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, đành rằng để đạy theo PPDH tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều hơn so với dạy theo phương pháp thụ động” [19; §3] Theo tác giả Nguyễn Hữu Châu:

“Phương pháp dạy học tích cực gọi tắt là phương pháp tích cực có ý nghĩa khi người học là tác nhân tự nguyện, tích cực có ý thức về sự giáo dục của chính mình ” [13; 199]

Có quan điểm cho rằng: “ Phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của HS

có nghĩa là phải thay đổi cách dạy và cách học Chuyên cách dạy thụ động, truyền thụ một chiều “ đọc - chép”, GV làm trung tâm sang cách dạy lây HS làm trung tâm hay còn gọi là dạy và học tích cực Trong cách dạy này HS là chủ thể hoạt động, GV là người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn tạo nên sự tương tác tích cực giữa người dạy và người học Dạy và học tích cực là điều kiện tốt khuyến khích sự tham gia chủ động, sáng tạo và ngày càng độc lập của HS vào quá trình học tập ”[42; 2]

Còn cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng khẳng định: “phương pháp dạy học mà các đồng chí nêu ra, nói gọn lại là lấy người học làm trung tâm Người ta thường đặt ra những câu hỏi, đưa ra những câu chuyện có tính hấp dẫn, khêu gợi, đòi hỏi, người nghe, người đọc, dẫu là người suy nghĩ kém cỏi cũng phải chịu khó, suy nghĩ, tìm tòi PPDH tích cực này có khả năng phát triển được những năng lực đang ngủ yên ở mỗi con người Phương pháp này giúp người ta phương pháp tự học và ham học Đó là cái quý báu nhất [17; 5] Theo tác giả Nguyễn Thị Kim Ngân khăng định: “Phương pháp dạy học tích cực là một nhóm các phương pháp mà khi vận dụng vào dạy học giáo viên luôn hướng dẫn tổ chức cho HS thực hiện các hoạt

Trang 18

Trên cơ sở tham khảo một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, chúng tôi đưa ra định nghĩa về phương pháp đạy học tích cực như sau:

Phương pháp dạy học tích cực là phương pháp khơi dậy, phát huy tính chủ động sáng tạo tích cực của cả người dạy và người học, trong đó lấy người học làm trung tâm trên cơ sở phát huy vai trò định hướng, tô chức của người thấy và kết hợp các phương tiện kỹ thuật hiện đại nhằm đạt được các mục tiêu của bài học 1.1.1.4 Đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực

- Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh

Trong dạy và học tích cực, người học là chủ thể của hoạt động được cuốn hút vào các hoạt động học tập do GV thiết kế, tổ chức và hướng dẫn Qua đó, HS có

thể tự khám phá và chiếm lĩnh nội dung bài học HS sẽ hứng thú, thông hiểu, ghi

nhớ những gì mà người học nắm được thông qua hoạt động chủ động, nỗ lực của

chính mình chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức được GV sắp đặt

Thông qua các hoạt động do GV tổ chức và hướng dẫn, HS được đặt vào những tình huống của đời sống thực tiễn, được trực tiếp quan sát, tự làm các thí nghiệm, thảo luận, tranh luận tập thé, ý kiến cá nhân được bộc lộ, khắng định hay bác bỏ, từ

đó khơi dậy trí tò mò và khả năng sáng tạo của HS để lĩnh hội kiến thức, kỹ năng mới, nắm được cách thức giải quyết vấn đề để tìm ra chân lý

Dạy theo cách này thì GV không chỉ là bậc thầy về việc truyền đạt tri thức mà còn là người hướng dẫn hành động Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Học để hành; học và hành phải đi đôi Học mà không hành thì vô ích; hành mà không học thì hành không trôi chảy” [4; 104] Nội dung và PPDH phải giúp cho từng HS biết

Trang 19

19

hành động và tích cực tham gia các chương trình hành động của cộng đồng, thực hiện thầy chủ đạo, trò chủ động: “Hoạt động làm cho lớp én ao hon, nhung 1a

su 6n ao hiéu quả”

- Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học

Hoạt động tự học có vai trò quan trọng trong quá trình học tập của HS Tự

học là yếu tố quyết định chất lượng và hiệu quả hoạt động của học tập Chủ tịch Hồ

Chí Minh đã dạy: “Cách học tập: lấy tự học làm cốt” [26; 510] Trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh chóng các lĩnh vực khoa học — công nghệ thông tin tác động mạnh mẽ đến nhà trường, đòi hỏi nhà trường, GV phải có phương pháp mới Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Phương pháp tự học thực chất là người dạy giúp đỡ người học tự học, tự nghiên cứu, tự điều chỉnh bản thân để ngày càng tiến bộ Trong mỗi lần tự học, người học cô gắng chiếm lĩnh những kiến thức, kỹ năng đã bộc lộ những mặt mạnh, mặt yếu trong quá trình tự

học, đó cũng là cơ hội đề người dạy giúp đỡ người học hiểu kỹ hơn khả năng học

tập của mình để người học phát huy những ưu điểm, khắc phục những nhược điểm bằng những cách thích hợp Vì vậy, GV phải rèn luyện cho HS phương pháp tự học

để người học tự mình chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo thông qua các hoạt động

trí tuệ, hoạt động thực hành nhằm tích lũy kiến thức cho bán thân người học từ kho

tàng tri thức của nhân loại Đồng thời biến những kinh nghiệm này thành những tri thức và vốn sống của cá nhân người học để giải quyết vấn đề đặt ra thì sẽ tạo cho

họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nâng cao Thói quen tự học được thể hiện mọi nơi, mọi lúc, học trên lớp, học

ở nhà, học trong thư viện, học thực tiễn cuộc sống, học thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như sách, báo, truyền hình, Internet, thầy cô và những người xung quanh

- Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác

Người xưa có câu: “Một cây làm chắng nên non, ba cây chụm lại thành hòn núi cao”, dé khang dinh vai trò học tập cá thẻ, phối hợp với học tập hợp tác trong hoạt động nhóm nhỏ, trong mỗi lớp học ở trường THPT hiện nay Khi vận dụng PPDH

Trang 20

20

tích cực vào dạy học thì GV thiết kế bài học thành một chuỗi các hoạt động độc lập Tuy nhiên trong một lớp học, tư duy và trình độ kiến thức của mỗi HS không đồng đều nên GV cần động viên, khuyến kích, tạo cơ hội và điều kiện cho HS tham gia thảo luận, tranh luận trong tập thể một cách tích cực, chủ động, sáng tạo vào quá trình khám phá và lĩnh hội tri thức Từ đó mỗi HS được bộc lộ khả năng của mình trong các hoạt động hợp tác thông qua các nhóm nhỏ từ 4 đến 6 HS Đồng

thời GV phải chú ý khai thác vốn kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng đã có ở HS; tạo

niềm vui, hứng khởi, nhu cầu, hành động và thái độ tự tin trong học tập của người học, từ đó giúp các em từng bước xây dựng tỉnh than tập thé, tinh thần hợp tác giữa các thành viên trong nhóm nhỏ Hiệu quả học tập sẽ tăng lên, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cắn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân đề hoàn thành nhiệm vụ chung trong nhóm Tính cách năng lực của mỗi cá

nhân lúc đó được bộc lộ, được uốn nắn, không thể có hiện tượng y lại; phát triển

tình bạn, ý thức tổ chức, tỉnh thần tương trợ, ý thức cộng đồng được nâng lên

- Kết hợp đánh giá của thấy với tự đánh giá của trò

Trong quá trình dạy học, đánh giá luôn có vai trò quan trọng là một nhân tố

cấu thành quá trình dạy học, là biện pháp phản hồi thông tin Từ đó điều chỉnh hoạt động học của trò và đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng, điều chỉnh hoạt

động dạy của thầy cho phù hợp với mục tiêu, góp phần phát triển trí tuệ, củng cô hệ

thống tri thức và các phương pháp học tập, kính thích học sinh luôn vươn tới kết

quả cao Trước đây quan niệm GV giữ vai trò độc quyền đánh giá HS Nhưng trong PPDH tích cực, bên cạnh việc đánh giá kết quả học tập của người học qua các bài kiểm tra dưới nhiều hình thức khác nhau, GV còn phải bồi dưỡng, hướng dẫn kỹ năng cho HS khả năng tự đánh sản phẩm học tập của mình, đánh giá lẫn nhau và kể

cả PPDH của chính GV, đề HS tự điều chỉnh cách học, GV điều chỉnh cach day sao

cho hiệu quả nhất Để đảm bảo dạy học phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học thì việc kiểm tra, đánh giá theo yêu cầu tái hiện những kiến thức, lặp lại các kỹ năng đã học một cách máy móc Ngược lại, kiểm tra, đánh giá phải chú trọng đến

sự phát triển trí thông minh, sáng tạo, năng lực tự học của HS Khuyến kích người

Trang 21

học vận dụng linh hoạt các kiến thức, kỹ năng đã học vào trong việc giải quyết

những tình huống thực tế, làm bộc lộ những cảm xúc, thái độ trước những vấn đề

21

nóng bỏng của đời sống cá nhân, gia đình và cộng đồng

Với sự trợ giúp của các thiết bị kỹ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn là một công việc nặng nhọc đối với GV, còn có thể thu được nhiều thông tin từ phía

người học đó là bài tập trắc nghiệm, tiết dạy thực hành, thí nghiệm, viết bài thu

hoạch , phương pháp này đang được các trường THPT áp dụng

Tóm lại, với bốn đặc trưng của PPDH tích cực đã thể hiện tính ưu việt của nó

Vì vậy, đề dạy học có hiệu quả thì GV cần nắm rõ bốn đặc trưng của PPDH tích cực

"_ So sánh phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp dạy học tích cực như sau:

Phương pháp dạy học truyền thống

- Học là quá trình tiệp thu và

lĩnh hội tri thức, qua đó hình

thành kiến thức, kỹ năng, tư

tưởng và tình cảm

- Học là quá trình phát triển

nội lực vốn có của người học làm cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học bằng cách tìm tòi, khám phá, thu nhận

và xử lý thông tin từ môi trường xung quanh

Ban chat

- Day 1a qua trinh truyén thu tri

thức, kỹ năng và chứng minh

chân lý theo cách của GV

- Dạy là quá trình tô chức hoạt động nhận thức cho HS Dạy HS tìm ra chân lý

Trang 22

2

Mục tiêu - Chú trọng cung cấp tri thức,

kỹ năng, kỹ xảo

- Học để đối phó với thi cử Tri

thức được truyền đạt đã quy định

trong chương trình và sách giáo

khoa

- Hướng dẫn cho người học

sớm thích ứng với đời sống

xã hội hòa nhập và phát triển cộng đồng, xã hội

- Tôn trọng nhu cầu và lợi ích khả năng của HS

+ Yêu cầu của chương trình quy định

+ Tình huống thực tế, hoàn cảnh xung quanh

+ Nhu cầu xã hội

+ Những vấn đề học sinh quan tâm

vấn đề giúp HS lĩnh hội tri

thức một cách chủ động Dạy học tương tác

Phương Chủ yếu là bảng đen và phấn Bảng đen, phấn trắng, sử

Trang 23

23

tiện trắng dụng các phương tiện kỹ

thuật hiện đại hỗ trợ cho việc giảng dạy

Mô Dạy — Ghi nhớ, tư duy tái tạo Hợp tác hai chiêu: Dạy — Tự hình dạy của người học học

học

Vai trò- Người dạy chủ động truyện - Dạy học hướng tập trung của đạt tri thức, người học thụ động vào người học, đề cao vai trò

Người tiếp thu chủ động, tự lực tích cực của

người :

hoc minh tim ra kiên thức dưới

sự hướng dân của GV

- Người dạy truyền thụ một - Người dạy — người học, chiều độc thoại hay phát van người học — người học

- Người dạy giảng - Người học - Người dạy định hướng, ghi nhớ, học thuộc lòng Người hướng dẫn cho người học về dạy độc quyền đánh giá cho phương pháp tự học, cách điểm ứng xử, giải quyết vấn đề

- Người dạy là thầy dạy, dạy - Người dạy là thầy học cách

chữ, dạy nghề và dạy người dạy cho người học, tự học

chữ, tự học nghề, tự học làm người

Ưu điểm |- Dễ chuyển tải đến người học - Phát huy tính chủ động,

một khối lượng thông tin cần

thiết cho số lượng lớn HS

- Trong một khoảng thời gian

Trang 24

24

tin rất phong phú, được cấu trúc

theo một logic chặt chẽ

- HS tiếp thu bằng con đường

ngắn nhất và ghi chép được đầy

đủ nội dung của bài học

- Trong một khoảng thời gian

ngắn, GV có thể cung cấp cho

người học một khối lượng thông

tin rất phong phú được GV cô

động và chắt lọc từ kho tàng tri

thức và cấu trúc theo một logic

chặt chẽ

- Cung cấp cho người học

khuôn mẫu và phương pháp

nhận thức, phương pháp tổng

hợp, cấu trúc tài liệu học tập,

giúp người học có phương pháp

nhận thức

- Dạy học truyền thống không

đòi hỏi sử dụng nhiều phương

tiện nên đỡ tốn thời gian và

công sức cho GV

năng giao tiếp với mọi người

- Rèn luyện cho HS ý thức được bản thân về quá trình

tự học, tự nghiên cứu và nắm vững các phương pháp

làm việc trí tuệ để hiểu, ghi

nhớ tài liệu học tập, hình thành kỹ năng, kỹ xảo và thực hiện việc kiếm tra lĩnh

hội kiến thức

- Mọi người học đều phải suy nghĩ, chia sẻ, học hỏi và giúp đỡ lẫn nhau, bình đắng

và tự tin hơn, chủ động giải quyết vấn đề

- Không khí lớp học luôn sôi

nol

Han ché

- Thu được rât ít thông tin phan

hồi từ phía người học

- Mức độ lưu giữ thông tin của

người học rất ít, do trí nhớ ngắn

hạn, trí nhớ làm việc của người

nghe thường xuyên bị quá tải

- Tính cá thể hóa trong dạy học

- Đòi hỏi GV phải gia công

Trang 25

thể hiện và áp dụng các ý tưởng - GV thì phải biết áp dụng

của mình đối với tài liệu học các PPDH và PTDH một

tập, không phát huy được tính cách linh hoạt, phù hợp vào tích cực chủ động sáng tạo của từng nội dung của bài học

người học mới đạt hiệu quả

10 như sau:

1.1.2.1 Phương pháp nêu vấn đề

Dạy học nêu vấn đề là một tư tưởng mới về PPDH PPNVĐ xuất hiện vào những năm 60 — 70 tại trường Đại học Hamilton (Canada), sau đó phát triển nhanh chóng tại trường Đại học Maastricht (Hà Lan) Sự ra đời của dạy học nêu van dé được xem là một bước tiến của khoa học sư phạm hiện đại

Tác giả Thái Duy Tuyên “Dạy học nêu vấn đề là một tư tưởng dạy học chủ trương làm cho HS nắm kiến thức trên cơ sở tô chức, hướng dẫn họ, tìm tòi nghiên cứu chứ không phải bị động chờ thầy giáo truyền thụ cho”[40; 86] Nêu lên được vân đề cần nghiên cứu mà quan trọng là vấn đề phải hay, hấp dẫn, lôi cuốn học sinh, tìm tòi, khám phá cái mới Chính vì vậy, GV phải tìm cách tác động vào tâm

lý của học sinh, phải vận dụng kinh nghiệm, kiến thức, nghệ thuật và tài năng sư

Trang 26

Day học nêu vấn đề thì đòi hỏi GV tạo ra tình huống có vấn đề và tô chức, hướng dẫn HS tự học tập một cách khoa học và hiệu quả Vấn đề ở đây là câu hỏi, tình huống, bài toán Cho dù vấn đề biểu thị dưới dạng câu hỏi hay bài toán thì

cũng là một hình thức diễn đạt một vấn đề, một mâu thuẫn đang nảy sinh trong thực

tế PPNVĐ rất phù hợp trong dạy học phần “Công dân với đạo đức”, chương trình lớp 10 và là PPDH đang được các trường THPT khuyến khích GV sử dụng trong các tiết dạy, đặc biệt trong tiết thao giảng cấp trường

Chắng hạn, giải một bài toán cần phải hoạt động trí óc, nhưng suy đến cùng thì đó là một quá trình phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa,

lập luận các điều kiện, đề tìm mối liên hệ giữa các điều kiện, các yêu cầu, có thé

giải quyết những mâu thuẫn giữa điều kiện, yêu cầu

“Một bài toán khó là bài toán mà thường có mối liên hệ tường minh giữa điều kiện và yêu cầu chỉ có ít, còn những liên hệ tiềm ân, những mâu thuẫn cần lý

giải lại nhiều Sự khám phá các điều kiện tiềm ấn chính là quá trình chứng minh, bổ

sung hoàn chỉnh hoặc bác bỏ giả thuyết ban đầu Bởi vì, nhờ làm sáng tỏ các điều kiện tiềm ân đó mà tư duy con người có thể nhìn thấy rõ hơn mối liên hệ thực của điều kiện và yêu cầu, nhờ đó mà việc giải bài toán sẽ đúng hướng và phát hiện được các yêu cầu cần tìm”.[40; 88]

Trong tiến trình dạy học, việc khó khăn nhất là lúc đầu đưa các em từ chỗ

đang vui chơi mà hướng sự chú ý các em vào việc học tập, nghiên cứu đó là khởi động được hoạt động tư duy của các em (Tình huống khởi đầu) Để giải quyết được vấn đề này, các nhà tâm lý học đã cho rằng cần đưa các em vào một trạng thái tâm

lí được gọi là “Tình huống có vấn đề”.

Trang 27

27

Tình huống có vấn đề là một trạng thái tâm lý xuất phát ở người học

có đặc trưng cơ bản sau:

Vấn đề nghiên cứu đã được người học tiếp nhận, được các em chú ý và ghi vào bộ nhớ của các em phụ thuộc vào yếu tố nội dung, hoạt động của học sinh trong việc giải quyết vấn đề được đặt ra, kết quả hoạt động, đánh giá kết quả, công

cụ, phương tiện trực quan, đặc điểm tâm lý của học sinh, am hiểu văn hóa của vùng, miễn, ngôn ngữ của quá trình dạy học Chang hạn trong quá trình dạy học,

GV kiểm tra bài cũ hoặc kể chuyện, ra câu đó, .sẽ kích hoạt kinh nghiệm chủ thể

HS hướng vào môi trường đạy học chính những vấn đề trên sẽ gây được sự chú ý, lôi cuốn của HS

Tuy nhiên, người học chưa tìm được cách giải quyết, trong đầu người học đang ở trạng thái mơ mơ, ảo ảo, nó kích thích trí tò mò, lòng ham hiểu biết của con người, làm cho người học thích tìm hiểu, nghiên cứu, những trở ngại cần khắc phục

để tìm cách giải quyết (tình huống học tập)

Qua đó ta thấy, tình huống có vấn đề là trạng thái tâm lí độc đáo của học sinh khi gặp phải chướng ngại nhận thức, xuất hiện mâu thuẫn nội tâm và có nhu cầu giải quyết mâu thuẫn đó, không phải bằng tái hiện hay bắt chước mà bằng sự tìm

tòi, sáng tạo tích cực, đầy hưng phấn đầu tiên và khi tới đích thì lĩnh hội được

phương pháp giành kiến thức và cả niềm vui sướng của sự phát triển Ý tưởng học tập và ghi nhớ được thay thế bởi ý tưởng hoạt động và thể nghiệm của học sinh trong những tình huống giáo dục (nội dung của môn học, tình huống khởi đầu, hoạt động của học sinh trong việc giải quyết vấn đề được đặt ra, kết quả hoạt động hoặc sản phẩm hoạt động, đánh giá kết quả) Vì vậy, vấn đề nêu ra trong dạy học có thể

là một câu hỏi, một luận để phải chứng minh, lý giải hay bác bỏ Vấn đề bao giờ cũng đòi hỏi giải quyết Vấn đề học tập đặt ra khi giảng bài, tọa đàm khi học sinh

nghiên cứu

Như vậy, PPNVĐ là hoạt động có chủ đích của người GV bằng cách tổ chức,

hướng dẫn HS, tìm tòi, nêu lên được vấn đề cần nghiên cứu, tạo điều kiện cho HS

Trang 28

hoạt động tư duy Yêu cầu đặt ra đối với việc vận dụng PPNVĐ và giải quyết vấn

đề trong môn GDCD đòi hỏi GV phải tiến hành các bước sau:

Bước I: Đặt vấn đề:

GV nêu vấn đề cho HS suy nghĩ GV hướng dẫn HS nhận dạng và thảo luận

van dé cần giải quyết với sự giúp đỡ của GV

Bước 2: Giải quyết vấn đề:

GV hướng dẫn HS tiến hành nghiên cứu, đề tìm ra cách giải quyết vẫn đề được giao, HS tự lực suy nghĩ, sáng tạo và lựa chọn giải pháp tối ưu, cho kết quả

tốt nhất

Bước 3: Kết luận vấn đề:

GV cho các nhóm trình bày kết quả của nhóm mình Cá lớp cùng thảo luận,

so sánh và đánh giá kết quả của từng cá nhân hay của nhóm, GV kết luận vấn đề đã

được giải quyết và đề xuất vấn đề mới

Quá trình nghiên cứu và thử nghiệm, chúng tôi nhận thấy tùy theo nội dung bài học và trình độ HS, GV có thể vận dụng PPNVĐ theo các mức độ đã nêu trên cho phù hợp Tuy nhiên, khi vận dụng, cho dù ở mức độ nào thì GV luôn phải có

sự chuẩn bị chu đáo, trước các tình huống và cảm xúc của HS khi trả lời các câu

hỏi, khi giải quyết các vấn đề

Vận dụng PPNVĐ vào dạy học môn GDCD cần lưu ý một số điểm như sau:

- Dạy học nêu vấn đề có tác dụng tốt trong việc tích cực hóa hoạt động nhận thức cua HS

- Vn dé néu ra phai phi hop voi trình độ HS với mục tiêu bài học và gắn với

thực tiễn cuộc sống, huy động được vốn sống, kiến thức của HS, tránh tầm thường

hóa hoặc thô thiền hóa làm mắt định hướng chính trị.

Trang 29

- _ Phải kết hợp nhuần nhuyễn với các phương pháp khác

Vận dụng phương pháp nêu vấn đề có những ưu điểm sau:

Một là, tạo ra môi trường lý tưởng cho người học, bộc lộ sự hiểu biết của

mình một cách tích cực và tự giác Đồng thời GV tổ chức hoạt động học tap dé HS

nắm vững được tri thức và các phương pháp lĩnh hội khác nhau đề đạt hiệu quả Hai là: PPNVĐ giúp người học tiếp nhận tri thức một cách chủ động, là cơ hội để HS thể hiện khả năng của bản thân trong việc áp dụng kiến thức đã học vào giải quyết van dé các tình huống thực tiễn đặt ra

Ba là, PPNVĐ giúp người học phát huy khả năng độc lập suy nghĩ, phát triển năng lực tư duy, sáng tạo, kỹ năng vận dụng các tri thức của bản thân vào giải quyết các vấn đề học tập và trong thực tiễn Đồng thời PPNVĐ còn tăng cường sự hiểu biết và hợp tác giữa các thành viên trong nhóm thông qua việc hợp tác giải quyết tình huống, thông qua đó GV có thê kiểm tra, đánh giá được năng lực của HS thông qua các hoạt động học tập

Ngoài những ưa điểm trên PPNVĐ còn có những hạn chế như sau:

Để xây dựng một tình huống có vấn đề, đòi hỏi GV phải có nhiều kinh

nghiệm về chuyên môn cũng như kỹ năng vận dụng PPDH, đó là việc không hề đơn giản đối với mọi GV và mọi bài học; hơn nữa PPNVĐ còn đòi hỏi người học phải nắm vững tri thức liên quan đến vấn đề cần giải quyết

Một điều cần lưu ý khi GV sử dụng PPNVĐ, thì người dạy và người học mắt

nhiều thời gian dé giải quyết những vấn đề, rút ra các tri thức cần thiết Vì vậy, các tình huống GV tạo ra phải điển hình và chính xác, nếu không người học dễ bị lạc hướng trong quá trình giải quyết vấn đề

Trang 30

30

Tóm lại: PPNVĐ là PPDH mới, phù hợp với thời đại bùng nổ thông tin, giúp người học rèn luyện tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong quá trình học tập Tuy nhiên, không có PPDH nào là tối ưu cho mọi trường hợp, nên việc nghiên cứu kỹ nội dung bài giảng, đặc điểm riêng của từng môn học và đối tượng người học để có

sự kết hợp đa đạng các PPDH khác

1.1.2.2 Phương pháp vấn đáp

Phương pháp vắn đáp là PPDH trong đó GV đặt ra những câu hỏi và gợi mở

để HS dựa vào kiến thức đã học mà trả lời, qua đó HS lĩnh hội được nội dung bài học và là một trong những phương pháp được nhiều GV áp dụng ở nhiều môn học khác nhau

Theo tác giả Phan Trọng Ngọ: “Phương pháp vấn đáp là quá trình tương tác giữa người dạy với người học, được thực hiện thông qua hệ thống câu hỏi và câu trả lời tương ứng về một chủ đề nhất định được người dạy và người học đặt ra Kết quả là dưới sự dẫn dắt của người dạy, người học thể hiện được suy nghĩ, ý tưởng của mình; khám phá và lĩnh hội được đối tượng học tập”'[33; 209] Như vậy,

PPVD là một kĩ thuật dạy học của GV khéo léo đặt câu hỏi dựa vào những hiểu biết

về kiến thức, kinh nghiệm của HS để GV đưa ra những câu hỏi dé HS tra lời, tìm ra

những kiến thức mới nhằm lĩnh hội nội dung bài học

Căn cứ vào mức độ, tính chất của hoạt động nhận thức có thể phân loại thành

ba phương pháp vấn đáp cơ bản như sau:

* Vận đáp tái hiện: Đó là khi GV đặt ra những câu hỏi chỉ yêu cầu HS nhớ lại kiến thức đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ, không cần suy luận, không mắt nhiều thời gian Các câu hỏi thường không khó hiểu, HS không phải chuẩn bị trước ở

nhà, những kiến thức đó đã định hình sẵn trong trí nhớ, HS chỉ cần tái hiện lại và

trả lời theo yêu cầu của câu hỏi

* Vấn đáp giải thích - minh hoạ: Thực chất đây là hình thức nhằm mục đích

làm sáng tỏ một nội dung vấn đề nào đó trong bài học, GV nêu những câu hỏi kèm

theo những ví dụ minh họa để HS dễ hiểu, dễ nhớ Phương pháp này đặc biệt sẽ

phát huy được hiệu quả cao khi có sự hỗ trợ của các phương tiện nghe nhìn

Trang 31

31

* Vấn đáp tìm tòi: Là khi GV dùng một hệ thống câu hỏi để hướng dẫn HS từng bước phát hiện những nội dung của bài học, những quy luật, bản chất của vấn

đề đang nghiên cứu, tìm hiểu Với PPVĐ GV là người tổ chức, hướng dẫn đề HS tự

lực phát hiện kiến thức mới và qua đó rèn luyện các kỹ năng trong nhận thức

Để áp dụng PPVĐ, GV cần tổ chức cho HS học tập theo các bước như sau:

- GV nêu câu hỏi cần được tìm hiểu trước cả lớp hoặc cho từng nhóm để HS suy nghĩ

- Phân loại các ý kiến HS đã trả lời

- Làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng và khắng định những ý kiến đúng đắn

- GV tổng hợp ý kiến của HS và tạo điều kiện cho HS bồ sung ý kiến hoặc nêu các thắc mắc của mình nếu chưa hiểu vấn đề

PPVĐ có thể vận dụng để lý giải những vấn đề trong phần triết học, đạo đức, pháp luật, các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước Song đặc biệt phù hợp với các vấn đề ít nhiều đã quen thuộc trong đời sống thực tế của HS và vận dụng các kiến thức liên môn đã được học qua các môn học khác nhau, các kiến thức ở các phần, các bài đã học trước đó

Một số lưu ý khi sử dụng PPVĐ trong môn GDCD như sau:

- GV phải biết lựa chọn bài học nào, phần kiến thức nào của bài nên sử dụng phương pháp này

- Phần câu hỏi GV định sử dụng phải được chuẩn bị trước, có hệ thống liên quan

chặt chẽ với nhau Với mỗi câu hỏi đưa ra, GV luôn có những dự kiến phương án

trả lời của học sinh để có thế chủ động thay đổi hình thức, cách thức, mức độ hỏi,

có thể dẫn dắt qua câu hỏi phụ nhằm tránh sự đơn điệu, nhàm chán, bế tắc.

Trang 32

GV phải biết cách sử dụng đề tránh mắt thời gian

- Phải kết hợp nhuần nhuyễn với các phương pháp khác

- Các ý kiến phát biểu nên ngắn gọn, tất cả các ý kiến đều cần được GV hoan nghênh, chấp nhận

- GV nên nhấn mạnh kết quả sự tham gia chung của HS sau mỗi phần, mỗi nội dung để động viên, khuyến khích sự nhiệt tình của HS trong học tập

- Trong quá trình dạy học, việc phân loại 3 PPVĐ chỉ là tương đối, mang tính lý thuyết, quá trình thực hiện tùy theo nội dung bài học các câu hỏi vấn đáp có thể được thực hiện đan xen với nhau nhằm hướng tới mục tiêu bài dạy học

Phương pháp dạy học vấn đáp có rất nhiều ưu điểm nồi bật như sau:

Một là, PPVĐ đã phát huy được hoạt động tư duy của HS, kích thích tính tích cực hoạt động nhận thức của người học và bồi dưỡng cho HS năng lực diễn đạt bằng lời những vấn đề về khoa học một cách chính xác, đầy đủ, ngắn gọn, nhớ lâu

Trang 33

33

trọng tâm dé nhấn mạnh điểm chốt; nếu quá nhiều câu hỏi sẽ mất thời gian, ảnh

hưởng kế hoạch lên lớp

Ngoài ra PPVĐ có thể trở thành đối thoại giữa GV và một vài HS, không thu hút

toàn lớp tham gia vào hoạt động chung Vì vậy, khi GV gọi HS trả lời nên tránh gọi

HS nhiều lần, bỏ quên một số HS khác và đặt câu hỏi phải vừa sức đề duy trì nhịp điệu cần thiết của phương pháp đàm thoại và bảo đảm tính cá biệt trong đạy học Tóm lại: PPVĐ được sử dụng phổ biến trong đạy học ở nước ta hiện nay, tạo hứng thú cho người học, kích thích tính tích cực, độc lập suy nghĩ, giúp người học tiếp

thu bài nhanh, buổi học trở nên sinh động và hấp dẫn

1.1.2.3 Phương pháp thảo luận nhóm

Phương pháp thảo luận nhóm là phương pháp dùng lời nói trong đó GV gợi

mở, động viên và tô chức cho HS tham gia trao đồi ý kiến chung của nhóm mình về một vấn, trên cơ sở đó rút ra kết luận, kiến thức mới, xác định và làm sáng tỏ vấn

đề liên quan đến nội dung bài học

Phương pháp thảo luận nhóm là phương pháp dạy học mà trong đó nhóm lớn (lớp học) được chia thành những nhóm nhỏ để tất cả các thành viên trong lớp đều được làm việc và thảo luận về một chủ đề cụ thể và đưa ra ý kiến chung của nhóm mình về vấn đề đó [33; 223] PPTLN là phương pháp có nhiều ưu thế trong việc tăng cường học tập của cá nhân phối hợp với học tâp hợp tác giúp người học hiểu bài sâu hơn, phù hợp với những vấn đề trong phần đạo đức, pháp luật, các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước

PPTLN có thể tiến hành theo 2 cách là thảo luận lớp và thảo luận theo nhóm nhỏ Trong phạm vi đề tài nghiên cứu chúng tôi chỉ tập trung làm rõ hình thức thảo luận nhóm nhỏ trong một lớp học

Dựa vào nội dung bài học, GV chuẩn bị các câu hỏi thảo luận, chia HS theo nhóm nhỏ từ 6 - 12 em và giao nhiệm vụ cho mỗi nhóm thảo luận 1 — 2 câu hỏi Mọi ý kiến của các thành viên nêu lên trong nhóm phải được bàn bạc thống nhất Sau khi thảo luận, mỗi nhóm cử một người lên trình bày kết quả trước cá lớp Sau

phần trình bày của mỗi nhóm, GV hướng dẫn, điều khiển đề ca lớp được đóng góp

Trang 34

34

ý kiên bô sung Hệ thông câu hỏi của các nhóm chính là câu trúc nội dung của

bài học, hoặc một phần của bài học

Là một trong những PPDH tích cực, PPTLN nếu được sử dụng rộng rãi sẽ giúp cho HS tham gia một cách chủ động vào quá trình học tập, khuyến khích tính tích cực ngay cả với những HS rụt rè, nhút nhát trong học tập, tạo cơ hội để các em

được tự thể hiện mình, HS có thể chia sẻ kinh nghiệm, ý kiến hay cùng giải quyết

một vấn đề, một tình huống về triết học, đạo đức trong chương trình môn GDCD Phương pháp này đòi hỏi người học tích cực động não, cho phép mọi thành viên trong nhóm được phát huy tối đa khả năng của bản thân trong hoạt động hợp tác, cộng tác, tương tác với mọi thành viên khác, được tạo mọi điều kiện để tham gia trực tiếp vào quá trình day học, được thể hiện quan điểm của mình

Áp dụng PPTLN vào dạy học môn GDCD cần phải theo các bước sau:

- GV giới thiệu chủ đề cần thảo luận và nêu các câu hỏi có liên quan đến chủ đề,

thời gian thảo luận

- GV chia số HS của lớp thành các nhóm, chỉ định hoặc yêu cầu các nhóm bầu nhóm trưởng, thư ký và trong nhóm thư ký ghi lại những điểm chính của cuộc thảo luận nhóm mình để trình bày trước cả lớp HS cần luân phiên nhau làm “nhóm

trưởng” và “thư ký”, đại diện cho nhóm trình bày kết quá thảo luận dưới nhiều hình

thức: bằng lời, giấy khổ lớn, bảng phụ, bản trong hoặc phiếu học tập

- GV tổ chức cho các nhóm tiến hành thảo luận các nội dung đã được giao trong thời gian quy định

- Cử đại điện nhóm trình bày kết quả thảo luận trước lớp Các nhóm khác lắng

nghe, chất vấn, trao đổi, bố sung ý kiến

- Trong thời gian học sinh thảo luận, GV cần đi vòng quanh các nhóm và lắng

nghe ý kiến của HS, giúp đỡ, gợi ý nếu cần thiết

- Giáo viên tông kết các ý kiến theo nhóm nhỏ

Đây là một PPDH được đưa vào dạy học trong các trường phố thông Quá

trình vận dụng chiếm nhiều thời gian của tiết học Vì vậy, đòi hỏi GV phải có kinh

nghiệm trong việc tổ chức dạy học Khi vận dụng PPTLN cần lưu ý:

Trang 35

35

- Đưa ra câu hỏi thảo luận phải sát với nội dung bài học và phù hợp với trình

độ HS, không được thảo luận khái niệm, định nghĩa hay những nội dung đã được trả lời đầy đủ trong SGK

- Cách chia nhóm phải hết sức linh hoạt, luôn thay đổi để tạo điều kiện cho mỗi HS được giao lưu với tất cả HS trong lớp học và quy định rõ thời gian thảo luận của các nhóm

- GV phải đi lại, quan sát hoạt động thảo luận, lắng nghe ý kiến của HS để kịp thời

giúp đỡ hoặc nhắc nhở một số HS có biểu hiện thiếu tập trung không muốn đóng

góp ý kiến Cần khích lệ mọi HS cùng tham gia đóng góp ý kiến, không chê bai

- Chỉ sử dụng PPTLN ở những phần có nội dung khó, trọng tâm của bài học, chiếm

nhiều thời gian của tiết đạy học dễ làm “cháy” giáo án

- GV không nên sử dụng PPTLN hai lần trong một tiết học

Vận dụng phương pháp thảo luận nhóm trong qua trình dạy học có rất nhiều

wu điểm nổi bật như sau:

Một là, PPTLN tăng cường khả năng giao tiếp giữa HS với GV, giữa HS với

HS trong nhóm, kỹ năng chia sẻ, kỹ năng thuyết phục người nghe Trong lớp, HS

sẽ được trao đôi, hợp tác với nhau, để bộc lộ hiểu biết, quan điểm của mình về nội

dung, phương pháp học tập, cũng như trong lĩnh vực khác; giúp họ có nhiều cơ hội rèn luyện các khả năng diễn đạt cách thức tư duy, ý tưởng của mình

Hai là, PPTLN đã tạo yếu tố, kích thích thi đua giữa các thành viên trong

nhóm và giữa các nhóm, đặc biệt là trong việc học tập các chủ đề có tính sáng tạo

cao và nhiều người trình bày được nhiều ý kiến dưới góc nhìn khác nhau, tạo điều

Trang 36

36 kiện thuận lợi dé các thành viên học hỏi lẫn nhau với thái độ hiểu biết về trách

nhiệm trong nhóm được nâng cao

Ba là, PPTLN tạo ra nhiều cơ hội cho GV có thông tin phản hồi từ phía

người học, từ đó GV có thê đánh giá năng lực của HS, có thể thu được tri thức và

kinh nghiệm từ phía HS qua các ý kiến phát biểu sáng tạo của người học

Bồn là, PPTLN tạo cơ hội bình đắng trong cách trình bày ý kiến, quan điểm

giữa HS với HS, giữa HS với GV một cách thân thiện, nghiêm túc cũng như nhận

xét, đánh giá ý kiến của người khác và điều chỉnh tư duy của mình Do đó, nếu GV

tổ chức tốt PPTLN sẽ góp phần tăng sự hiểu biết, tin cậy, thân thiện, đoàn kết và

trao đối, học hỏi lẫn nhau giữa các thành viên

Ngoài những ưu điểm trên phương pháp thảo luận nhóm còn có những hạn chế nÌ sau:

Dạy học bằng PPTLN sẽ làm mắt nhiều thời gian của cả người dạy và người

học Nên đòi hỏi phải có sự đầu tư kỹ lưỡng về bài giảng, GV phải lường trước

được các tình huống có thể xảy ra

Cần lưu ý khi thực hiện PPTLN đó là phương pháp này không thể áp dụng cho mọi vấn đề, mọi trường hợp vì mục tiêu dạy học là một khoảng thời gian ngắn, cung cấp cho người học một lượng thông tin lớn, có hệ thống về một chủ đề nhất định, nên đòi hỏi GV phải nắm vững kiến thức chuyên môn, có khả năng ứng xử những ý kiến trái ngược nhau, nhấn mạnh kiến thức trọng tâm, mở rộng các hướng nghiên cứu, làm sáng tỏ thêm các vẫn đề nảy sinh trong quá trình nghiên cứu Đồng

thời, GV phải có kinh nghiệm trong việc đặt ra chủ đề để HS thảo luận không bị lạc

đề, kinh nghiệm về khả năng lắng nghe, kỹ năng điều khiển và kiểm soát lớp học

để học sinh phát huy tính tích cực, sáng tạo trong học tập của HS Nếu GV không nắm vững và thiếu kinh nghiệm trên sẽ không thực hiện được mục tiêu dạy học 1.1.2.7 Phương pháp đóng vai

Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành “Làm thử” một số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định Đây là phương pháp giảng dạy nhằm giúp học sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một sự

Trang 37

Bước 1: GV nêu chủ đề, chia nhóm, giao tình huống và yêu cầu đóng vai cho từng nhóm Trong đó có quy rõ thời gian chuẩn bị, thời gian đóng vai của mỗi nhóm

Bước 2: Các nhóm thảo luận chuẩn bị đóng vai

Bước 3: Các nhóm lên đóng vai

Bước 4: Lớp thảo luận, nhận xét Thường thì thảo luận bắt đầu từ cách ứng

xử của các nhân vật cụ thể hoặc tình huống trong vở diễn, nhưng sẽ mở rộng phạm

vi xem thảo luận những vấn đề khái quát hơn hay những vấn đề và vở diễn chứng minh và GV kết luận bằng cách hỏi đã học được gì qua đóng vai trong tình huống

đã nêu

Khi sử dụng PPĐV trong môn GDCD cần đảm bảo các yêu cầu sư phạm sau:

- Tình huống đóng vai phải phù hợp với chủ đề giáo dục học để cùng chung sống,

phù hợp với lứa tuổi, trình độ HS và điều kiện, hoàn cảnh lớp học

- Tình huống nên để mở, không cho trước “ kịch bản”, lời thoại

- Phải đành thời gian phù hợp cho các nhóm chuẩn bị đóng vai

- Người đóng vai phải hiểu rõ vai của mình trong bài tập đóng vai để không lạc dé

- Nên khích lệ cả những HS nhút nhát cùng tham gia

- Nên có hoá trang và đạo cụ đơn giản để tăng tính hấp dẫn của trò chơi đóng vai Phương pháp đóng vai có những tru điểm sau:

Trang 38

38

Một là, dạy học theo phương pháp này HS được rèn luyện thực hành, những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độ của mình về nhận định, khả năng vận dụng kiến thức để giải quyết những tình huống trong vở diễn hoặc các nhân vật cụ thé dat ra trong hoc tap

Hai là, PPĐV là phương pháp phát triển óc sáng tạo, linh hoạt trong giao

tiếp thể hiện trong các tình huống khi HS tham gia vào vai diễn có sự lập luận,

diễn đạt từ phía vai diễn đã gây hứng thú và sự chú ý của HS vào giải quyết do vai diễn đặt ra

Bên cạnh những ưu điểm trên PPĐV còn có những hạn chế như sau:

Dạy học bằng PPĐV sẽ mất nhiều thời gian và công sức của GV trong việc

thiết kế bài giảng, và đề tiến hành một vai diễn ở một tình huống có giả định thì

đòi hỏi tiến hành phòng học phải rộng, nếu phòng học chặt hẹp sẽ lúng túng trong khi diễn và kéo dài thời gian sẽ không đạt được mục tiêu dạy học

Ngoài ra, trong quá trình tổ chức cho HS, GV nếu không tổ chức và kiểm soát tốt việc “diễn” và sự thảo luận sau phần diễn ấy thì người học dễ xem đóng vai như một trò chơi, không phải là hoạt động học tập, dễ bị lệch mục tiêu dạy học

1.2 Cơ sở thực tiễn cúa việc sứ dụng PPDH tích cực trong phần “Công dân với đạo đức”, chương trình môn Giáo dục công dân lớp 10 tại trường THPT Nguyễn Du, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

1.2.1 Khái quát về quá trình phát triển của trường THPT Nguyễn Du, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

Trường THPT Nguyễn Du được thành lập từ năm 1982 với tên gọi là trường

Ngãi Giao phân hiệu của trường cấp III Châu Thành là trường học đầu tiên và duy

nhất của huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu vào thời kỳ đó Năm 1987 trường không còn là phân hiệu của trường Châu Thành mà bước vào hoạt động độc lập Năm 1992 trường đổi tên thành trường THPT Nguyễn Du đã vươn lên và đạt được những thành tựu đáng kể trong công tác dạy và học Đến ngày 20/11/2006 trường đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận là trường chuẩn quốc gia

Trang 39

có 20 đoàn viên; Ban đại diện cha mẹ HS có 5 và mỗi lớp có Ban đại diện cha mẹ

gồm 3 thành viên Trường có 11 tổ chuyên môn và 1 tổ hành chính

Về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học năm học 2011- 2012, Trường có 36 phòng học phục vụ cho 3 khối học (khối 10, 11, 12) ca sáng và I phòng hiệu trưởng, I phòng phó hiệu trưởng, 1 văn phòng, 1 phòng hội đồng và có đủ các phòng phục vụ giảng dạy như: Phòng thư viện, 3 phòng tin học có gắn máy chiếu dạy giáo án điện tử Trong đó có 80 máy hoạt động tốt, 3 phòng thí nghiệm sinh, lý, hóa Có 36 lớp, trong đó có 12 lớp học chương trình nâng cao và 24 lớp học chương trình cơ bản với tổng số học sinh 1.453 học sinh Trong đó, khối 10 gồm 12

lớp: 452 HS, khối 11 gồm 487 HS, khối 12 gồm 514 HS Số lượng HS được tuyển

vào học phải thông qua thi tuyển nên trình độ của HS tương đối đồng đều về nhận thức

Về đội ngũ GV gồm 93 thầy cô giáo Phần lớn GV của trường có nhiều kinh

nghiệm trong giảng dạy, có trách nhiệm cao trong công tác, luôn có ý thức việc thực hiện đúng quy chế chuyên môn của ngành, có tỉnh thần học hỏi để cầu tiến Trong quá trình giảng dạy GV luôn được bồi đưỡng cập nhật phương pháp đào tạo mới do Nhà trường và Sở giáo dục — Đào tạo cử đi học để nâng cao trình độ phục

vụ chuyên môn Ngoài ra GV môn GDCD còn tham gia các hoạt động tuyên truyền Luật an toàn giao thông và tô chức thi đồ vui có thưởng vào tháng an toàn giao thông

1.2.2 Cầu trúc chương trình, mục tiêu, chuẩn của chương trình lóp 10

Do yêu cầu của đổi mới nội dung và phương pháp dạy học, chương trình môn

GDCD lớp 10 từ năm học 2006 - 2007 được cấu trúc thành hai phan:

Trang 40

40

- Phần thứ nhất: Công dân với việc hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học

- Phần thứ hai: Công dân với đạo đức

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi tập trung phân tích nội dung

chương trình, giới thiệu tổng thể các bài ở phần hai “Công dân với đạo đức”

Về vị trí: Phần thứ hai của chương trình môn GDCD lớp 10 có vai trò quan

trọng trong việc trang bị cho HS những hiểu biết về các phạm trù cơ bản của Đạo đức học và có trách nhiệm đạo đức của người công dân trong giai đoạn hiện nay Đây cũng là phần tổng kết những nội dung giáo dục đạo đức mà HS được học ở bậc tiểu học và THCS

Mục tiêu của phần thứ hai là:

Học xong phần này, HS cần đạt được:

° Về kiến thức: Hiểu được quan niệm đạo đức, một số phạm trù và giá trị đạo đức cơ bản của người công dân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Như vậy, mục tiêu môn GDCD ở bậc THPT: “Góp phần củng có, phát triển hệ

thống giá trị đạo đức, văn hóa, pháp luật, tư tưởng chính trị, lối sống mà HS đã được hình thành ở bậc tiểu học và học sinh THCS Đồng thời giúp họ nhận rõ

trách nhiệm của thanh niên đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, trang bị cho họ phương pháp luận đúng đắn để họ có đủ bản lĩnh, đủ năng lực chủ động và

Ngày đăng: 07/11/2014, 23:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  dạy  của  người  học.  học. - vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong dạy học phần công dân với đạo đức, chương trình môn giáo dục công dân lớp 10 (qua khảo sát trường thpt nguyễn du, huyện châu đức, tỉnh bà rịa - vũng tàu)
nh dạy của người học. học (Trang 23)
Hình  1.2:  Biểu  đồ  đánh  giá  nhận  thức  của  HS  về  vị  trí  của  môn  GDCD - vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong dạy học phần công dân với đạo đức, chương trình môn giáo dục công dân lớp 10 (qua khảo sát trường thpt nguyễn du, huyện châu đức, tỉnh bà rịa - vũng tàu)
nh 1.2: Biểu đồ đánh giá nhận thức của HS về vị trí của môn GDCD (Trang 44)
Hình  1.4:  Biểu  đồ  đánh  giá  thái  độ  hứng  thú  của  HS  về  môn  GDCD - vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong dạy học phần công dân với đạo đức, chương trình môn giáo dục công dân lớp 10 (qua khảo sát trường thpt nguyễn du, huyện châu đức, tỉnh bà rịa - vũng tàu)
nh 1.4: Biểu đồ đánh giá thái độ hứng thú của HS về môn GDCD (Trang 45)
Hình  1.5:  Biểu  đồ  đánh  giá  mức  chủ  động,  sáng  tạo  của  GV  dạy  học  môn - vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong dạy học phần công dân với đạo đức, chương trình môn giáo dục công dân lớp 10 (qua khảo sát trường thpt nguyễn du, huyện châu đức, tỉnh bà rịa - vũng tàu)
nh 1.5: Biểu đồ đánh giá mức chủ động, sáng tạo của GV dạy học môn (Trang 47)
Bảng  2.1:  Thiết  kế  nghiên  cứu  tác  động  ảnh  hưởng  đến  kết  quả  học  tập - vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong dạy học phần công dân với đạo đức, chương trình môn giáo dục công dân lớp 10 (qua khảo sát trường thpt nguyễn du, huyện châu đức, tỉnh bà rịa - vũng tàu)
ng 2.1: Thiết kế nghiên cứu tác động ảnh hưởng đến kết quả học tập (Trang 53)
Bảng  2.3:  Thống  kê  điểm  kiểm  tra  lần  1  của  lớp  TN  và  lớp  ĐC - vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong dạy học phần công dân với đạo đức, chương trình môn giáo dục công dân lớp 10 (qua khảo sát trường thpt nguyễn du, huyện châu đức, tỉnh bà rịa - vũng tàu)
ng 2.3: Thống kê điểm kiểm tra lần 1 của lớp TN và lớp ĐC (Trang 53)
Bảng  2.5:  Phép  kiểm  chứng  khi  bình  phương  kiểm  tra  lan  1 - vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong dạy học phần công dân với đạo đức, chương trình môn giáo dục công dân lớp 10 (qua khảo sát trường thpt nguyễn du, huyện châu đức, tỉnh bà rịa - vũng tàu)
ng 2.5: Phép kiểm chứng khi bình phương kiểm tra lan 1 (Trang 55)
Hình  6:  Biểu  đồ  phân  bó  điểm  kiểm  tra  lần  1  của  lớp  TN  và  lớp  ĐC - vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong dạy học phần công dân với đạo đức, chương trình môn giáo dục công dân lớp 10 (qua khảo sát trường thpt nguyễn du, huyện châu đức, tỉnh bà rịa - vũng tàu)
nh 6: Biểu đồ phân bó điểm kiểm tra lần 1 của lớp TN và lớp ĐC (Trang 55)
Bảng  2.6:  Kiểm  chứng  độ  tin  cậy  dự  liệu  bài  kiểm  tra  sau  tác  động  lớp  TN  và  lớp - vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong dạy học phần công dân với đạo đức, chương trình môn giáo dục công dân lớp 10 (qua khảo sát trường thpt nguyễn du, huyện châu đức, tỉnh bà rịa - vũng tàu)
ng 2.6: Kiểm chứng độ tin cậy dự liệu bài kiểm tra sau tác động lớp TN và lớp (Trang 70)
Bảng  2.7.  Thống  kê  kết  quả  điểm  kiểm  tra  sau  2  lần  thực  nghiệm  (phụ  lục  5,6) - vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong dạy học phần công dân với đạo đức, chương trình môn giáo dục công dân lớp 10 (qua khảo sát trường thpt nguyễn du, huyện châu đức, tỉnh bà rịa - vũng tàu)
ng 2.7. Thống kê kết quả điểm kiểm tra sau 2 lần thực nghiệm (phụ lục 5,6) (Trang 71)
Hình  2.1:  Đồ  thị  so  sánh  về  tần  số  điểm  kiểm  tra  lần  2  giữa  lớp  TN  và  lớp  ĐC - vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong dạy học phần công dân với đạo đức, chương trình môn giáo dục công dân lớp 10 (qua khảo sát trường thpt nguyễn du, huyện châu đức, tỉnh bà rịa - vũng tàu)
nh 2.1: Đồ thị so sánh về tần số điểm kiểm tra lần 2 giữa lớp TN và lớp ĐC (Trang 72)
Bảng  2.8:  Kiếm  chứng  T-  test  độc  lập  điểm  trung  bình  lớp  TN  và  lớp  DC - vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong dạy học phần công dân với đạo đức, chương trình môn giáo dục công dân lớp 10 (qua khảo sát trường thpt nguyễn du, huyện châu đức, tỉnh bà rịa - vũng tàu)
ng 2.8: Kiếm chứng T- test độc lập điểm trung bình lớp TN và lớp DC (Trang 73)
Bảng  2.10:  Thống  kê  phân  loại  điểm  kiêm  tra - vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong dạy học phần công dân với đạo đức, chương trình môn giáo dục công dân lớp 10 (qua khảo sát trường thpt nguyễn du, huyện châu đức, tỉnh bà rịa - vũng tàu)
ng 2.10: Thống kê phân loại điểm kiêm tra (Trang 74)
Hình  2.3:  Đồ  thị  phân  loại  điểm  kiểm  tra  lần  2 - vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong dạy học phần công dân với đạo đức, chương trình môn giáo dục công dân lớp 10 (qua khảo sát trường thpt nguyễn du, huyện châu đức, tỉnh bà rịa - vũng tàu)
nh 2.3: Đồ thị phân loại điểm kiểm tra lần 2 (Trang 75)
Hình  2.5:  Đồ  thị  đánh  giá  hứng  thú  với  môn  học  của  HS. - vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong dạy học phần công dân với đạo đức, chương trình môn giáo dục công dân lớp 10 (qua khảo sát trường thpt nguyễn du, huyện châu đức, tỉnh bà rịa - vũng tàu)
nh 2.5: Đồ thị đánh giá hứng thú với môn học của HS (Trang 76)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w