1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

vận dụng tri thức tiếng việt trong dạy đọc - hiểu thơ trung học cơ sở

113 266 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 15,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và nhà ngôn ngữ học tự trả lời: “Thể hiện bằng cách: từ ngữ được cảm thụ như là từ ngữ chứ không phải là một kí hiệu tầm thường của sự vật được gọi tên, cũng không phải như một vỡ òa củ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

TRAN BAO ANH

VAN DUNG TRI THUC TIENG VIET TRONG DAY DOC - HIEU THO

O TRUNG HOC CO SO

Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học Văn và Tiếng Việt

Mã số: 60.14.10

Người hướng dẫn khoa học: TS ĐĂNG LƯU

NGHE AN - 2012

Trang 2

02-0008 " 5 1

1 Lý do chọn đề tài ¿+ 5s St x2 2221111021211 111211211 1

2 Lich sth varn dG voces cecccccccsessesscsessesecsecevssssucsesecscsesecsesansacevsacsusevsacsecevaee 1

3 Đối tượng nghiên cứu 2 +©5<+22+2E+EESEEEEE2E1271 2121711111 re 4

4 Nhiệm vụ và mục đích nghiÊn cứu - ¿- 6 6+ +e+S*£+e£seseseeee 5

5 Phương pháp nghiÊn cứu .- -c- 5c S111 E312 BE sikeeek 5

6 Đóng góp của luận văn - tk nh ng ng ướt 5

7 Cấu trúc của luận văn ¿ cv 1E E111 1111111111111 1111k 6

Chuwong I THO, NGON NGU THƠ VÀ VAI TRO CUA TRI THUC

NGON NGU TRONG TIEP NHAN THO

1.1.2 Đặc trưng của ngôn ngữ thƠ - có ng gi ri 9

1.2 _ Các yếu tố của ngôn ngữ thơ - 2 2+2 2 2121211221221 xe 16

In 0 17

1.2.2 Vần thơ ccc 222 nh HH2 18

1.2.3 Tur ngtr va cac bién phap tu tt ce ecceseesceeseeeseeeeeeeereeeneeeeeenaeeeee 19 1.2.4 Kha nang biéu dat cla ngOn ngit tho cceecececsesseeseeseeseesseeeeees 22 1.3 Một số cách tiếp nhận thơ và vai trò của tri thức ngôn ngữ trong

tiếp nhận thơ -:-5+ 22222EE212E112110711211211271211 111111111 cre 27 Tiểu kết chương L ¿52c 2522 2EEE212E2121127112712112111 21111 ecxe 31 Chuong 2 VAN DUNG TRI THUC TIENG VIET DE DAY DOC -

HIEU THO TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN TRUNG HỌC CƠ SỞ - St Se E111 Hước

2.1 _ Tổng quan về mảng thơ trong chương trình Ngữ văn THCS

2.1.1 Về cấu trúc của chương trình và sách giáo khoa theo tiêu chí

thể loại

2.1.2 Máng thơ trong sách giáo khoa Ngữ văn THCS - - 35

Trang 3

2.2.1 Khái niệm đọc - hiểu trong dạy học Ngữ văn hiện nay 42

2.2.2 Vấn đề đọc - hiểu thơ ở THCS -:ccccc 2 tt 45

2.3 _ Vận dụng tri thức tiếng Việt trong dạy đọc - hiểu thơ ở THCS 47

2.3.1 Vận dụng tri thức về khả năng biểu đạt của các yếu tổ ngữ âm

2.3.2 Vận dụng tri thức về sự kết hợp, sự lựa chọn từ ngữ trong thơ 52

2.3.3 Van dung tri thire về tu từ để dạy đọc - hiểu thơ

2.4 Một số phương pháp dạy học nhằm giúp học sinh vận dụng tri

thức tiếng Việt trong đọc - hiểu thơy -2-+5c+cxc+xecrxcsrxcres 55 2.4.1, Phuong phap néu van dé .cccccccscesscsssessessesssesssessesssessecssesssssseesseeses 55 2.4.2 Phương pháp phân tich mau c.ccccccsecsssesseseesessesessessssessesnsseeseseees 61 2.4.3 Phuong phap dam thoai .ccceceeccescesceseeeeeeeceeeeeeeeeeeseeseeeeeeaeeeeaes 63 Tiểu kết chương 2 2-52 S12 E212 122112712112711211211211211 11c 64 Chương 3 THIET KE BAI DAY HOC THE NGHIEM VA KET QUA

KHẢO NGHIIỆÌM - St S SE TT TH HT ướt 65

3.1 _ Thiết kế bài dạy học khảo nghiệm . -©22-5cc2ccccccsrxcerserxee 65

3.1.1 Thiết kế đạy học một bài thơ Nôm trung đại - 2-2 s+czscs2 65 3.1.2 Thiết kế đạy học một bài Thơ mới 1932 - 1945 - 25+ 70

3.1.3 Thiết kế dạy học về một bài thơ sau 1945 -¿+cccccscse+ 78

3.2 Phương thức khảo nghiệm . 6 cv ni ri, 98 3.2.1 Mục đích khảo nghiệm - + St St + EEESEEsrEsrksrrrrrrres 98 3.2.2 Đối tượng khảo nghiệm

3.2.3 Nội dung khảo nghiệm

3.2.4 Quá trình khảo nghiệm -ó- Ác 2S nh HH ng dư

3.3 Kết quả khảo nghiệm -©522E22E22E122152E27E2717EEEEEEErrrerrrer

Tiểu kết chương 3 -.- 25-21 2E2E2215211211211211211211211211211211 2110111 xe

KÉT LUẬN s 5cc S21 2212 22t 21 212 ree

TAI LIEU THA M KHA Ovosessessssssessssssssssssssessssssssssessssssessesssisssessesssessseess

Trang 4

nghĩa cấu trúc, Phê bình mới đã góp phần khẳng định điều đó Ở Việt Nam,

các nhà nghiên cứu, phê bình thơ, với sự tiếp thu vận đụng những thành tựu lý

thuyết của thế giới (nhất là từ Đổi mới đến nay), đã có sự thúc đấy đáng kế sự

tiến bộ trong việc khám phá các giá trị thơ ca (cả về thi pháp thơ Việt nói

chung lẫn sự bình giảng, phân tích các bài thơ cụ thê)

1.2 Những thành tựu nghiên cứu về thơ cũng như sự vận dụng các tri thức tiếng Việt trong khám phá thơ ca đã có tác động tích cực đến việc dạy học đối với thể loại này ở trường phổ thông Tinh trạng tiếp cận theo hướng

xã hội học đối với tác phẩm thơ đã dần dần được thay thế bằng việc tiếp cận

thi pháp học Với sự chuyển biến quan trọng ấy, tri thức tiếng Việt (ngữ âm,

từ ngữ, các biện pháp tu từ, cách tô chức văn bản thơ) cũng ngày càng được

chú trọng đúng mức Đặc biệt, từ khi thay thế bộ sách cũ bằng bộ sách Ngữ

văn mới, với sự quán triệt tinh thần tích hợp, mối quan hệ hai chiều giữa tri

thức tiếng Việt và tri thức văn học càng được coi trọng

Xuất phát từ tình hình thực tế đó, chúng tôi chọn vấn đề Vận dụng tri thức tiếng Việt trong dạy đọc - hiểu thơ ở trung học cơ sớ làm đề tài nghiên

cứu trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục, với hi vọng góp

phần giải quyết một vấn đề thuộc phương pháp dạy học một thể loại cu thé trong chương trình Ngữ văn ở một cấp học

2 Lịch sử vấn đề

Ngôn ngữ thơ và nghiên cứu thơ ca từ góc độ ngôn ngữ vốn là địa hạt rất rộng Từ xưa tới nay, vấn đề này đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới

Trang 5

thức ngôn ngữ (cụ thể là tiếng Việt) vào việc dạy học tác phẩm thơ trong

chương trình Ngữ văn trung học cơ sở

Trong tiểu luận nổi tiếng Ngôn ngữ và thỉ ca, R.Jakobson đặt câu hỏi:

“Thi tính thể hiện ra sao” ? Và nhà ngôn ngữ học tự trả lời: “Thể hiện bằng

cách: từ ngữ được cảm thụ như là từ ngữ chứ không phải là một kí hiệu tầm thường của sự vật được gọi tên, cũng không phải như một vỡ òa của tình cảm;

nó thể hiện bằng cách: những con chữ và cú pháp, và ý nghĩa và hình thể

ngoại tại và nội tại, không phải chỉ là những kí hiệu vô vị của thực tế, trái lại,

những con chữ đó có trọng lượng riêng, có giá trị riêng” [25]

Đặng Tiến trong bài Mấy lối giảng thơ, không đi sâu vào trình bày các

lí thuyết, chỉ tập trung nêu cách cảm thụ những câu thơ cụ thé trên cơ sở đặc biệt chú ý khả năng biểu đạt của ngữ âm trong lời thơ Đó là những thanh bằng liên tiếp trong câu thơ Mây vẫn từng không, chim bay đi của Xuân Diệu; những nguyên âm tròn: o, ô, u gợi hình tròn của tán cây, còn âm ang bằng phẳng, là mặt sông bao la trong hai câu Xanh om cỗ thụ tròn xoe tán/ Trắng xóa tràng giang phẳng lặng tờ của Bà Huyện Thanh Quan; nhịp thơ lạ trong bài Tống biệt của Tản Đà, trong thơ của Ưng Binh Thúc Gia Thị, [52, tr.13] Có thể nói, đây là những gợi ý rất bố ích cho những người muốn sử

dụng những tri thức về ngữ âm (nhịp, vần, thanh điệu ) để phân tích, bình

giảng thơ Riêng Đặng Tiến, ông đã nhiều lần trở lại với vấn đề này qua các

bài viết về thơ Lê Đạt, thơ Hoàng Cầm, thơ Nguyễn Đình Thi

Bên cạnh những công trình về thi pháp học nỗi tiếng, Trần Đình Sử cũng rất quan tâm đến mảng văn học nhà trường Ông đã dành thời gian để viết về khá nhiều bài thơ cụ thể có mặt trong chương trình Ngữ văn trung học (ở cả hai bậc), tập hợp thành cuốn Học văn đọc văn - một cuốn sách tham khảo rất bổ ích cho những người dạy học Văn Về vấn đề đọc văn, ông quan

Trang 6

vào Thi pháp học sẽ giúp ta chiếm lĩnh thế giới nghệ thuật và ngôn ngữ biểu đạt của nó, và trên cơ sở đó mà khám phá ý nghĩa của tác phẩm Trong cách

đọc văn của mình, chúng tôi đặc biệt chú trọng mặt ngôn từ, bởi hình tượng

văn học mọc lên từ đó Từ âm thanh, nhạc điệu, ý nghĩa của từ ngữ, ý nghĩa các biểu trưng đã hình thành trong truyền thống văn hóa, cấu trúc của văn bản, giọng điệu, lời văn của ai, quan hệ đối thoại trong ngữ cảnh đều là

những yếu tố cần được tìm hiểu để hiểu được bài văn Hiểu nhầm một từ có

khi đi chệch hướng bài văn Ngôn từ ở đây là đã là ngôn từ ngôn từ nghệ thuật Chúng đã là những “diễn viên” biểu diễn tâm tình người nghệ si” [47, tr.7] Mặc dù quan điểm vừa dẫn của GS Trần Đình Sử nhằm áp dung cho

việc đọc - hiểu các thể loại văn học nói chung, nhưng có lẽ, với thơ, quan

điểm đó tỏ ra đặc biệt có ý nghĩa

Trong cuốn Con mắt thơ (1994, tái bản bố sung năm 2000 với nhan đề Mat tho), Đỗ Lai Thúy cũng nêu quan niệm của ông về nguyên tắc tiếp cận thơ:

“Nói đến thi phẩm như là một khởi nguyên cũng còn quá chung chung Chính xác hơn, phải là ngôn ngữ tác phẩm Thoạt nghe, ai đó có thể buồn cười Sao lại nghiên cứu pho tượng căn cứ vào gỗ hoặc đá? Xin thưa, ngôn ngữ đâu phải

là thứ vật liệu trơ, như gỗ đá Đó là tiếng nói con người, là sản - phẩm - người

Mã số của ngôn ngữ thơ chỉ có thê cất dấu trong và bằng ngôn ngữ” Vì

thế, cảm thụ phân tích (hoặc đọc - hiểu thì cũng thế) phải là một hành trình

thám mã (giải mã ngôn ngữ nghệ thuật của bài thơ) “Ở phần lớn các sáng tác,

mã số không nằm ở nơi nhất định nào, mà đan cài vào mọi cấp độ của tác

phẩm như ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, bó cục ” [49, tr.25]

Chu Văn Sơn được biết đến như là một trong những cây bút bình thơ

khá chuyên tâm Ông đã tập hợp những bài bình thơ của mình trong cuốn Thơ điệu hồn và cấu trúc Từ những trái nghiệm của bản thân, ông đúc kết: “Thi

Trang 7

thơ là tiếng lòng (Diệp Tiếp); mặt khác, thơ còn là một công trình kiến trúc

chặt chẽ, đến nỗi, chỉ cầẦn bó đi một dấu phấy thì cá bai tho sé sup dé (Nazim

Hikmet) Chính tính nhị nguyên ấy đã gây ra không ít rắc rối cho sự tiếp cận Phía thứ nhất khiến thơ như tiếng nói hồn nhiên nhất của con người Nó chỉ ưng thuận người đọc đến bằng niềm đồng cảm Còn phía thứ hai lại khiến thơ như một văn bản ngôn từ được tô chức hết sức tỉnh vi Nó lại đỏi hỏi phải thâm nhập bằng những thao tác khoa học” “Khi ta nói tới điệu hồn/điệu cảm

xúc tức là nói đến dạng cảm xúc đã được hình thức hóa, là cảm xúc đã hóa

thân vào ngôn ngữ Có thể nói, nó là hơi thở của ngôn ngữ, là nguồn sinh khí tỏa ra từ ngôn ngữ” [43, tr.6-8]

Không trình bày lí thuyết trừu tượng, khô khan, một số nhà thơ, nhà

nghiên cứu, phê bình, nhà giáo say mê thơ, có sự am tường sâu sắc về thơ đã

có những bài phân tích, bình thơ có giá trị Các bài viết của họ đã cho thấy

một lối tiếp cận thơ mới mẻ, có khả năng khám phá những giá trị đích thực

của thơ ca, và nhất là gợi cho các nhà nghiên cứu phương pháp, nhà giáo cách

sử dụng tri thức tiếng Việt trong việc dạy đọc - hiểu thơ Có thể kể đến các

bài viết của giáo sư Lê Trí Viễn (Những bài giáng văn ở đại học); nhà thơ Vũ Quần Phương (Thơ với lời bình); Nguyễn Đức Quyền (Những vé đẹp tho), Phan Huy Dũng (Tác phẩm văn học trong nhà trường phố thông - một góc

nhìn, một cách đọc) Những cuốn sách đó đã trở thành hành trang không thé

thiếu của nhiều giáo viên Văn Với chúng tôi, những quan điểm đã được lược

thuật trên đây cũng như những những bài bình thơ của các tác giả vừa nêu càng củng cố niềm tin vào tính khá thi của dé tài mà chúng tôi đã chọn

3 Đối tượng nghiên cửa

Như tên đề tài đã xác định, đối tượng nghiên cứu của luận văn là hệ

thống vấn đề liên quan tới việc vận dụng tri thức tiếng Việt (ở các cấp độ) vào

Trang 8

4 Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu

4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nhận thức bán chất của thơ và đặc trưng của ngôn ngữ thơ

- Giới thuyết về mảng thơ trong chương trình Ngữ văn THCS, từ đó, nêu khả năng vận dụng tri thức ngữ âm, từ ngữ, ngữ pháp và kết cấu văn bản tiếng Việt trong việc đọc - hiểu các tác phẩm thơ trong sách giáo khoa

- Thiết kế một số giáo án và tiến hành khảo nghiệm sư phạm với sự đầu

tư đúng mức vào việc vận dụng tri thức tiếng Việt nhằm khám phá các giá trị của một số bài thơ trong chương trình Ngữ văn THCS

4.2 Mục đích nghiên cứu

Vận dụng tri thức thể loại, trong đó có vẫn đề trọng tâm là ngôn ngữ thơ ca để nâng cao chất lượng dạy học các tác phâm thơ trong chương trình Ngữ văn THCS theo tinh thần tích hợp

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phối hợp các phương pháp thuộc cả hai nhóm phương

pháp nghiên cứu lý thuyết và phương pháp nghiên cứu thực tiễn Cụ thể là: phương pháp phân tích và tông hợp lý thuyết, phương pháp mô hình hoá,

phương pháp quan sát, phương pháp điều tra, phương pháp kháo nghiệm

6 Đóng góp của luận văn

Trên cơ sở tổng hợp những vấn đề lí thuyết ngôn ngữ thơ và vai trò của tri thức ngôn ngữ trong tiếp cận thơ, luận văn đề xuất sự vận dụng tri thức tiếng Việt vào việc đọc - hiểu tác phẩm thơ trong chương trình Ngữ văn THCS Sự tích hợp này đáp ứng những đòi hỏi của việc thực hiện chương trình, sách giáo

khoa Ngữ văn hiện hành theo hướng đối mới phương pháp dạy học.

Trang 9

văn được triển khai trong ba chương:

Chương I Thơ, ngôn ngữ thơ và vai trò của tri thức ngôn ngữ trong

tiếp cận thơ

Chương2 Vận dụng tri thức tiếng Việt để dạy đọc - hiểu thơ trong

chương trình Ngữ văn trung học cơ sở Chương 3 Giáo án thể nghiệm và kết quả kháo nghiệm

Trang 10

TRONG TIẾP NHẬN THƠ

1.1 Thơ và đặc trưng của ngôn ngữ thơ

1.1.1 Bản chất của thơ

Thơ là một thể loại xuất hiện sớm nhất trong các thể loại văn học của nhân loại Trải qua thời gian, thơ đã có những biến đổi Các nhà nghiên cứu phân biệt các loại hình thơ Có thơ ca dân gian bên cạnh thơ ca của nền văn học viết; và ngay trong thơ của văn học viết có thơ cô điển, thơ lãng mạn, thơ tượng trưng, thơ siêu thực, thơ hậu hiện đại Tuy có những biến đổi và có diện mạo đa dạng, phong phú như vậy, nhưng chung qui, thơ vẫn có những

thuộc tính chung, làm nên bản chất, đặc trưng của thể loại Những nét đặc

trưng ấy có thể qui về hai điểm: thứ nhất, cách chiếm lĩnh và phản ánh thực tại của thơ; thứ hai, cách biểu hiện bằng ngôn ngữ của thơ

Về khía cạnh thứ nhất, có thế nói một cách ngắn gọn: thơ chiếm lĩnh

thực tại bằng tình cảm Thơ, từ trong bản chất sâu xa của nó, là tiếng nói tình

cám của chủ thể trước cuộc sống Tình cảm con người có bao nhiêu cung bậc, thì đều có thể biểu hiện từng ấy cung bậc trong tho ca Khái niệm “trữ tình” gắn với thơ được hiểu là sự giãi bay, thé 16 tinh cảm

Nhiều nhà thơ, nhà nghiên cứu khăng định điều này như một thứ

“tiên đề”, không cần bàn cãi, là điều phải mặc nhiên thừa nhận trước khi đi

vào thế giới nghệ thuật thơ nếu không muốn cắt lên tiếng nói lạc điệu Nhà thi pháp học M.Bakhtin cho rằng: “Thơ là tiếng nói độc bạch, chắng hạn

một bài thơ diễn đạt một nỗi oán thán, một niềm vui, một nỗi nhớ, một suy

tưởng” [dẫn theo 34, tr.103] A.Lamartin - nhà thơ lãng mạn Pháp thế kỉ XIX quan niệm: “Thơ là hiện thân của những gì thầm kín nhất của con tim

và thiêng liêng nhất của tâm hồn con người, và cho những hình ánh đẹp

Trang 11

và sâu sắc Thơ mở rộng và nâng cao tâm hồn người đọc Thơ giáo dục con người về cái đẹp”

Cùng một cách nhìn nhận như vậy, nhà thơ Mỹ U.Phorox quả quyết:

“Nếu người làm thơ không trào nước mắt trên những điều anh ta viết ra, người đọc cũng không bao giờ cảm động về những chuyện đó Nếu người làm thơ không thoáng qua một chút bỡ ngỡ trước bất ngờ của những dòng thơ, người đọc sẽ không bao giờ ngạc nhiên” [34, tr L04]

Ở nước ta, nhiều nhà thơ cũng đã có những phát biểu về thơ thông qua

những trải nghiệm của bản thân trong sáng tác Hàn Mặc Tử thổ lộ: “Tôi làm

thơ, nghĩa là tôi đã tiết lộ tất cá những gì mà máu tôi, hồn tôi đều hết sức giữ

bí mật” Nhà thơ cách mạng Tố Hữu cho rằng: “Thơ là tiếng nói đồng tình,

đồng chí”; “Thơ là điệu hồn đi tìm những hồn đồng điệu”

Có thể nêu ra vô số những lời phát biểu khẳng định vị trí của tình cảm trong thơ, cũng tức là xác nhận một yếu tố làm nên cái gọi là thơ, phân biệt nó

với các thê loại văn học khác

Bên cạnh nhân tố quan trọng thứ nhất ấy, theo nhiều nhà nghiên cứu,

“thi tính” của thể loại văn học này còn thể hiện ở hình thức tổ chức ngôn ngữ

đặc biệt của nó Do vậy, khi định nghĩa về thơ, nhiều người đã xem ngôn ngữ

là yếu tố bản chất của thê loại Nghĩa là, tính thơ chính là ở ngôn ngữ của nó

Ao

“Hồn” và “xác” của thơ đã trở thành “nhất thể” trong hình thức ngôn ngữ Bách Khoa Thần Giáo New Catholie đã đưa ra một định nghĩa về thơ có lẽ nên xem là đại diện tiêu biểu nhất cho xu hướng này: “Thơ trước hết và cuối cùng là hành trình trọn vẹn của ngôn từ, là cuộc đời của ngôn từ Ý nghĩa của một bài thơ chỉ lóe sáng, chỉ kết trái khi mà những ngôn từ diễn trò tạo tác Trước những dòng chảy của ngôn từ khác, chúng bất dịch và có hữu” [dẫn theo 34, tr L06]

Trang 12

vậy mà có một thời gian rất dài, thuật ngữ thơ được dùng chỉ chung cho văn

học Thơ có lịch sử lâu đời như thế, nhưng để tìm một định nghĩa thể hiện hết

đặc trưng bản chất của nó cho việc nghiên cứu thơ thì thật không dễ

Trong nèn lý luận văn học cô điển Trung Hoa, khái niệm "thơ" đã được

đề cập đến từ rất sớm Cách đây khoảng 1500 năm, trong cuốn Văn tâm điêu long, Lưu Hiệp đã đề cập đến ba phương diện cơ bản cấu thành nên một bài thơ là tình cảm, ý nghĩa (tình văn), ngôn ngữ (hình văn) và âm thanh (thanh

văn) Kế thừa quan niệm của Lưu Hiệp, đến đời Đường, Bạch Cư DỊ đã nêu

lên các yếu tố then chốt tạo thành điều kiện tồn tại của thơ: "Cái cám hoá

được lòng người chẳng gì trọng yếu bằng tình cảm, chăng gì đi trước được ngôn ngữ, chẳng gì gần gũi bằng âm thanh, chẳng gì sâu sắc bằng ý nghĩa

Với thơ, gốc là tình cảm, mầm lá là ngôn ngữ, hoa là âm thanh, quả là ý

nghĩa" Quan niệm này không chỉ dừng lại ở việc nêu lên các yếu tố cấu thành tác phẩm mà còn chỉ ra mối quan hệ gắn bó giữa chúng, giống như gốc rễ, mầm lá, hoa, quả gắn liền với nhau trong một thể thống nhất hoàn chỉnh và

sống động Đây có thể coi là quan niệm về thơ toàn diện và sâu sắc nhất trong nén lý luận văn học cổ điển Trung Hoa

Các nhà Cấu trúc chủ nghĩa châu Âu lại thay thế câu hỏi "thơ là gì?"

bằng một câu hỏi khác: tính thơ là gì? Và nó được thể hiện ra như thế nào?

Trong tiểu luận Thơ là gì, Jacobson đưa ra một mệnh đề nổi tiếng: "Chức năng thi ca đem nguyên lý tương đương của trục tuyển lựa chiếu lên trục kết hợp" [23] Mặc dù có lưu ý ít nhiều đến hoạt động nguyên lý tương đương về

ý nghĩa, nhưng trong tư duy nghiên cứu của Jacobson, cái ý nghĩa ở đây chỉ là

ý nghĩa của đối tượng gọi tên và ý nghĩa ngữ pháp nảy sinh từ những mối quan hệ giữa các thành tổ cấu trúc có tính chất khép kín của văn bản Điều đó cũng có nghĩa là khái niệm ý nghĩa được hiểu một cách hạn hẹp Bởi trong

Trang 13

thực tế, như ta thấy, ý nghĩa của thơ nhiều khi đã vượt ra ngoài giới hạn của văn bản

Ở Việt Nam, khái niệm "thơ" cũng đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến với nhiều nhiều khuynh hướng, nhiều quan niệm khác nhau Lí giải bản chất của thơ, các tác giá nhóm Xuân Thu nhã tập cho rằng: "Thơ là một

cái gì huyền áo, tỉnh khiết, thâm thuý, cao siêu" Dưới cái nhìn cấu trúc luận,

nhà nghiên cứu Phan Ngọc định nghĩa: "Thơ là cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đán để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và suy nghĩ đo chính hình thức ngôn ngữ này" [35] Định nghĩa này của Phan Ngọc đã kế thừa được những khám phá quan trọng về thơ của nhiều nhà nghiên cứu thuộc các trường phái khác nhau của Tây Âu trong mấy chục năm qua Đặc biệt, nó đã gợi ra một trường nghiên cứu thơ hết sức rộng rãi: thơ không chỉ là hiện tượng ngôn ngữ học thuần tuý mà chú yếu là hiện tượng giao tiếp nghệ thuật, một phát ngôn trong ý nghĩa đầy đủ của từ này

Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học, nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi quan niệm: "Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm

súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu" Ở định nghĩa này, các tác giả đã dé

cập cá về nội dung và hình thức nghệ thuật của thơ và khu biệt đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ thơ với ngôn ngữ trong những thẻ loại văn học khác

Từ sự nhận diện về thơ như trên, ta có điều kiện để đi vào tìm hiểu

những đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ thơ So với ngôn ngữ văn xuôi, ngôn ngữ thơ trữ tình có những điểm khác biệt

1.1.2.1 Ngôn ngữ thơ giàu nhạc tính

Thơ trữ tình phản ánh cuộc sống qua những rung động của tình cảm

Thế giới nội tâm của nhà thơ không chí biểu hiện bằng ý nghĩa của từ ngữ mà

còn bằng cả âm thanh, nhịp điệu của từ ngữ ấy Nếu như trong văn xuôi, các đặc tính thanh học của ngôn ngữ (như cao độ, cường độ, trường độ ) không

Trang 14

được tổ chứ,c thì trong thơ, trái lại, những đặc tính ấy lại được tổ chức một

cách chặt chẽ, có dụng ý, nhằm tăng hàm nghĩa cho từ ngữ, gợi ra những điều

mà từ ngữ không nói hết Bởi thế, đặc trưng tính nhạc được coi là đặc trưng chủ yếu mang tính loại biệt rõ nét của ngôn ngữ thơ ca

Theo các nhà nghiên cứu, nhạc tính trong thơ được thể hiện ra ở ba mặt

cơ bản Đó là: sự cân đối, sự trầm bồng và sự trùng điệp

Sự cân đối là sự tương xứng, hài hoà giữa các đòng thơ Sự hài hoà đó

có thể là hình ảnh, là âm thanh, chang han:

“Con bac, còn tiền, còn đệ tứ

Hết cơm, hết rượu, hết ông tôi”

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)

Cũng có thé là cách sắp xếp tổ chức mà chúng ta dé dàng nhận thấy ở

cặp câu thực, câu luận trong bài thơ Đường luật thất ngôn bát cú Đối với thơ

hiện đại, yêu cầu này không khắt khe Tuy vậy, nhà thơ vẫn hết sức chú ý đến

hiệu quả nghệ thuật của phép đối xứng trong thơ của mình

Sự trầm bỗng của ngôn ngữ thơ thể hiện ở cách hoà âm, ở sự thay đổi

độ cao giữa hai nhóm thanh điệu Xuân Diệu với hai dòng thơ toàn vận dụng

vần bằng đã biểu hiện được cám xúc lâng lâng, bay bồng theo tiếng đàn du

là âm thanh, âm thanh của từ "xôn xao" đã cùng với nghĩa của nó làm nên

điều kỳ diệu ấy

Sự trùng điệp của ngôn ngữ thơ thể hiện ở sự đùng vần, điệp từ, ngữ và điệp cú Chúng có tác dụng như một phương tiện kết dính các đòng thơ lại với

Trang 15

nhau thành một đơn vị thống nhất, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho trí nhớ vừa

tạo nên vẻ đẹp trùng điệp cho ngôn ngữ thơ:

«[ầu mưa xuống, thềm lan mưa xuống

Mưa xuống lầu, mưa xuống thềm lan

Mưa rơi ngoài nẻo dặm ngàn Nước non rả rích giọt đàn mưa xuân”

(Tiếng đàn mưa - Bích Khê)

Lối điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc ở đây vừa diễn tả được hình ảnh

cơn mưa của đất trời vừa tạo nên một ấn tượng vương vấn không dút trong lòng người

Như vậy, nhạc điệu trong thơ là một đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ thơ Ngày nay, nhu cầu của thơ có phần đổi khác Một số người có xu hướng bỏ

vần để tạo cho câu thơ sự tự do hoá triệt để Nhưng nếu không có một nhạc điệu nội tại nào đó như sự đối xứng giữa các dòng, các đoạn thơ, tiết tấu, nhịp

điệu của câu thơ thì không còn là ngôn ngữ thơ nữa

1.1.2.2 Ngôn ngữ thơ có tính hàm súc cao

Đây là đặc điểm chung của ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương, nhưng đo đặc trưng của thể loại mà nó biểu hiện một cách tập trung với yêu cầu cao nhất trong ngôn ngữ thơ Nếu ngôn ngữ văn xuôi tự sự là ngôn ngữ của cuộc sống đời thường, nó chấp nhận mọi lớp từ, mọi biến thái, mọi

chiều kích, thậm chí cả sự xô bồ, phén tap đến cực độ để tái hiện bộ mặt

cuộc sống, tâm lý con người trong sự sâu rộng, đa chiều vốn có của nó thì ngôn ngữ thơ lại mang nặng tính "đặc tuyển" Là thể loại có một dung lượng ngôn ngữ hạn chế nhất trong các loại tác phẩm văn học, nhưng thơ

lại có tham vọng chiếm lĩnh thế giới Nói như Ôgiêrốp: "Bài thơ là một

lượng thông tin lớn nhất trong một diện tích ngôn ngữ nhỏ nhất" Chính sự hạn định số tiếng trong câu thơ, bài thơ buộc người nghệ sĩ phải "thôi xao",

Trang 16

nghĩa là phải nỗ lực hết mình trong việc lựa chọn từ ngữ cho tác phẩm Bởi thế, Maiacôpxki gọi lao động nghệ thuật ngôn từ của nhà thơ là "trả chữ

với với giá cắt cố"

Như vậy, tính hàm súc được hiểu là khả năng của ngôn ngữ có thể miêu

tá mọi hiện tượng của cuộc sống một cách cô đọng, ít lời mà nói được nhiều

ý, ý tại ngôn ngoại Đây chính là cách dùng từ sao cho đắt nhất, có giá trị biểu hiện cao nhất kiểu như Nguyễn Du đã "giết chết" các nhân vật Mã Giám Sinh,

Sở Khanh, Hồ Tôn Hiến, mỗi tên chỉ bằng một từ: cái vô học của Mã Giám

Sinh: Ghế trên ngồi zớ/ sỗ sàng: cái gian manh của Sở Khanh: Rẽ song đã thấy Sở Khanh /éw vào; cái tầm thường tỉ tiện của Hồ Tôn Hiến: Lạ cho mặt sắt cũng gay vi tinh

Do quy mô của tác phẩm, thơ ca thường sử dụng từ ngữ rất "tiết kiệm" Tính hàm súc của ngôn ngữ thơ, vì vậy, chứa đựng các thuộc tính khác Hàm súc cũng có nghĩa là phải chính xác, giàu hình tượng, có tính truyền cảm và

thể hiện cá tính của người nghệ sĩ Chang hạn, từ "khô" trong câu thơ của Tản

Đà: "Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày" là một từ có tính hàm súc cao

mà những yếu tố tương đương với nó (như "tuôn") không thể có được Nó không chỉ diễn tả chiều sâu của tình cảm mà còn gợi lên cả chiều dài của

những tháng năm chờ đợi Nó vừa đảm bảo được tính chính xác, tính hình

tượng, vừa có tính truyền cảm

Để đạt được tính hàm súc cao nhất, có thể biểu hiện được cái vô hạn của cuộc sông trong những cái hữu hạn của các đơn vị ngôn ngữ, thơ ca phái

tính đến những kiểu tổ chức đặc biệt mà nhà nghiên cứu Phan Ngọc gọi là

"quái đản" Dưới áp lực của cấu trúc ngôn ngữ khác thường này, ngữ nghĩa của từ trong thơ không dừng lại ở nghĩa gốc, nghĩa đen, nghĩa trong từ điển

mà phong phú, sâu sic, tinh tế hơn Đó là thứ nghĩa được tạo sinh nhờ quan

hệ và trong quan hệ Ví dụ: khi Hồng Nguyên viết: "Có nắng chiều đột kích máy hàng cau" thì chính trong quan hệ với những yếu tố trước và sau nó mà

Trang 17

từ "đột kích" được cấp cho một nghĩa mới, gợi lên những rung động thâm mĩ Hay trong câu thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ: "Em đã lấy tình yêu cúa mình thắp lên ngọn lứa" thì sự kết hợp bất thường về nghĩa đã mở ra những liên tưởng

hết sức thú vị Trong đời thường, khi nĩi đến việc "thắp lửa", người ta một là

nghĩ đến phương tiện như: cái bật lửa, que diêm hai là nguyên liệu như: dầu

hoả, dầu dừa Ở đây, nhà thơ lại thay nĩ bằng một "chất liệu" rất trừu tượng

thuộc lĩnh vực tinh thần Và trong quan hệ với cái chất liệu trừu tượng đĩ, nghĩa bề mặt của "ngọn lửa" bị mờ đi, mở ra những nghĩa mới Đĩ là: chân lý, niềm tin, lý tưởng cuộc đời

Định lượng sỐ tiếng trong thơ cũng là tiền đề tạo ra sự xuất hiện với một mật độ dày đặc các phương tiện nghệ thuật trong thơ so với văn xuơi

Nhiều lúc, trong một bài thơ, cĩ thể thấy xuất hiện cùng một lúc các phương

tiện tu từ khác nhau, như ấn dụ, hốn dụ, nhân hố, tượng trưng, điệp từ, điệp ngữ Bài ca dao trữ tình sau đây là một ví dụ:

“ Khăn thương nhớ ai Khăn rơi xuống đất Khăn thương nhớ ạ Khăn vắt lên vai Đèn thương nhơ ai

Mà đèn khơng tắt

Mắt thương nhớ ai

Mắt ngú khơng yên Đêm qua em những lo phiền

Lo vì một nỗi khơng yên một bề”

Bài ca dao cĩ số lượng từ khơng nhiều, nhưng bằng các biện pháp tu từ,

nĩ đã thể hiện được tâm trạng khắc khối, nhớ mong của người con gái Nỗi niềm ấy dường như cịn vang mãi theo thời gian, trở thành tiếng lịng của bao

nhiêu thế hệ.

Trang 18

1.1.2.3 Ngôn ngữ thơ giàu tính truyền cắm

Tính truyền cảm cũng là đặc trưng chung của ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương, bởi tác phẩm văn học là sản phẩm của cảm xúc của người nghệ

sĩ trước cảnh đời, trước thiên nhiên Cho nên, ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương phải biểu hiện được cảm xúc của tác giả và phải truyền được cắm xúc

ấy đến người đọc, khơi dậy trong lòng người đọc những cảm xúc thâm mĩ Tuy nhiên, do thơ là tiếng nói trực tiếp của tình cảm, của trái tim, nên ngôn ngữ thơ ca có tính gợi cảm đặc biệt

Ngôn ngữ thơ không bao giờ là ngôn ngữ chú trọng miêu tả cái khách quan như ngôn ngữ trong tác phâm tự sự Nếu nhà văn dùng ngôn ngữ để

thuyết minh, miêu tả, giải thích thì nhà thơ dùng ngôn ngữ để chuyến tải

những cảm xúc mãnh liệt của mình Khi Quang Dũng viết:

“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau néo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

thì nhà thơ không có ý hỏi ai lên Châu Mộc trong budi chiều sương nào

đó, có nhìn thấy phong cảnh hữu tình không, ngược lại, tác giả khơi trong ta

nỗi nhớ thương chồng chất gắn với những kỉ niệm không thể phai mờ về một

vùng đất và những con người mà tác giả đã từng gắn bó

Lời thơ thường là lời đánh giá trực tiếp thể hiện quan hệ của chủ thể với cuộc đời Là lời đánh giá trực tiếp, thể hiện tâm trạng, cho nên sự lựa

chọn từ ngữ, phương thức tu từ trong thơ bao giờ cũng nhằm làm cho nội

dung cảm xúc, thái độ đánh giá, sự đồng cảm hoặc phê phán, ca ngợi trở nên nối bật:

%Ôi những cánh đồng quê chảy máu Dây thép gai đâm nát trời chiều”

(Nguyễn Đình Thị)

Trang 19

Ở đây, các từ ngữ trong mỗi câu thơ đều mang sức nặng của tình cảm Những từ ngữ đó như là những "tiêu điểm" để ta nhìn thấu vào tâm hồn của chủ thể trữ tình Tính truyền cảm của ngôn ngữ thơ không chỉ biểu hiện qua

cách lựa chọn từ ngữ, các phương thức tu từ mà còn biểu hiện qua nhạc điệu

tho Chang han:

“Chi dy nim nay con ganh thóc Dọc bờ sông trắng nắng chang chang ?”

Tóm lại, thơ là một hình thái nghệ thuật cao quí, tính vi của sáng tạo

nghệ thuật Vì vậy, ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ mang tính nghệ thuật; ngôn ngữ thơ trước hết mang đầy đú những thuộc tính của ngôn ngữ văn học, đó là: tính

chính xác, tính hàm súc, tính đa nghĩa, tính tạo hình, tính biểu cảm Tuy nhiên, ở mỗi loại tác phẩm khác nhau, những đặc điểm ấy lại biểu hiện dưới

những sắc thái và mức độ khác nhau Đồng thời, mỗi loại tác phẩm lại có

những đặc trưng ngôn ngữ riêng

1.2 Các yếu tổ của ngôn ngữ thơ

Đọc tác phẩm văn học trước hết chúng ta tiếp xúc với những hình thức

cụ thể của ngôn từ nghệ thuật Đó là những dấu câu và cách ngắt nhịp, là vần điệu, âm hưởng và nhạc tính, là từ ngữ và hình ánh, là câu và sự tổ chức đoạn văn, là văn bản và thể loại của văn bản Phân tích tác phẩm văn học không được thoát ly văn bản có nghĩa là trước hết phải bám sát các hình thức biểu

hiện lên của ngôn từ nghệ thuật, chỉ ra vai trò và ý nghĩa của chúng trong việc

thể hiện nội dung Vậy các yếu tố thuộc bình diện hình thức của thơ là gì?

Trang 20

1.2.1 Nhịp thơ

Nhịp điệu có vai trò, ý nghĩa quan trọng đối với thơ trữ tình Nó giúp nhà thơ nâng cao khả năng biểu cảm, cảm xúc Phân tích thơ trữ tình tình không thể không chú ý đến phân tích nhịp thơ Để xác định nhịp điệu của từng bài thơ ngoài việc đọc từng câu thơ cho ngân vang âm điệu và làm bừng sang hình ảnh thơ, việc nắm được đặc điểm chung của mỗi thể loại cũng là điều rất cần thiết Thường thường nhip điệu câu thơ lục bát uyên chuyền, mềm mại, thanh thoát, nhịp điệu thơ thất ngôn bát cú hài hòa, chặt chẽ, nhịp của thơ tự do, thơ hiện đại rất phóng khoáng, phong phú

Nhịp điệu là yếu tố hết sức quan trọng giữ vai trò tạo tính nhạc cho thơ Maiacovki khang định: “Nhịp điệu là sức mạnh cơ bản, năng lượng cơ bản của

câu thơ” “Câu thơ và vần có một cái duyên mà thậm chí khi lời, ý dở, nhà thơ

vẫn quyến rũ người nghe bằng nhịp điệu và sự cân đối” (Isokrate) Theo Hà

Minh Đức, “Nhịp điệu là kết quả của một sự chuyển động nhịp nhàng, sự lặp

lại đều đặn những âm thanh nào đó ở trong thơ” Nhịp thơ có thé đài, ngắn, đọc lên có thể nhanh hay chậm phụ thuộc vào trạng thái cảm xúc:

“Nhiều day uen/ mấy tuổi rồi?

- Hai mươi!

- Ờ nhĩ/ tháng năm trôi!

Sóng bồi thêm bãi / thuyền thêm bến

Gió lộng đường khơi/ rộng đất tròi!”

(Mẹ Tơm - Tố Hữu)

Ba dòng đầu bị cắt ra nhiều nhịp như sự dừng lại sững sờ, ngạc nhiên

trước sự đôi thay của thời đại Dòng 4,5 nhịp dài ra như niềm vui trải rộng

Trong thơ trữ tình, cách ngắt nhịp có khi là một cách tạo nghĩa Ta biết rằng, trong những tình huống giao tiếp thông thường của cuộc sống, im lặng lắm khi lại nói được rất nhiều: khi căm thù tột đỉnh, lúc xao xuyến bâng khuâng, khi cô đơn buồn bã, lúc xúc động dâng trào Những cung bậc tình

Trang 21

cảm ấy nhiều khi không được mô tả bằng chữ nghĩa Sự ngắt nhịp là một trong những phương tiện hữu hiệu để thể hiện “sự im lặng không lời” tạo nên

“ý tại ngôn ngoại” Ví dụ, khi dạy đoạn ngâm trong bài Sau phút chia ly, ta

thay tâm trạng nha tho chi phối trực tiếp cách tổ chức, vận hành nhịp điệu của

khúc ngâm Với tâm trạng lưu luyến, nỗi buồn xa cách giữa người chinh phu

và người chinh phụ, chúng ta phải đọc đúng cách ngắt nhịp mới phân tích được khúc ngâm một cách sâu sắc

1.2.2 Van tho

van 1a su lặp lại những âm thanh tương tự để tạo chỗ dựa cho nhạc

tính Thơ có vần chính và vần thông Vần chính là vần cùng một khuôn âm, vần thông là theo một khuôn âm tương tự Xét về vị trí vần, còn chia ra vần

chân và vần lưng Thơ hiện đại không bó buộc về hiệp van, nhung cac nha tho

vẫn sử dụng vần như một yếu tố biểu cảm làm tăng vẻ đẹp của tho:

“Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan Đường Bạch Dương sương trắng nắng tràn”

Tố Hữu lặp lại vần ngay trong một dòng thơ khiến câu thơ như ngân

lên điệu nhạc du dương, man mác

Tiếng Việt rất giàu tính nhạc Hệ thống vần điệu và thanh điệu là những

yếu tố cơ bản tạo nên tính nhạc của tiếng Việt nói chung và ngôn từ văn học nói viết bằng tiếng Việt nói riêng Vì vậy khi phân tích thơ trữ tình giáo viên cần chú ý phân tích vần thơ, cách gieo vần Ví dụ:

«Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu Ngàn dâu xanh ngắt một màu

Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?”

(Chinh phụ ngâm, bản dịch của Doan Thi Điểm)

Vần của các câu được hiện với nhau trong đoạn thơ trên là sự hài hòa trong cùng một âm vực cao thấp, một trường độ âm thanh phát ra Đó là sự

Trang 22

hài hòa có được từ việc phối âm giữa các tiếng trong một cặp song thất Xét từng cặp câu, chúng ta thây được sự hòa âm giữa câu 1 và câu 2, giữa câu 3

và câu 4 nhờ vào những âm giống nhau giữa tiếng thứ bảy của câu bảy và tiếng thứ năm của câu bảy ở câu song thất, giữa tiếng thứ sáu của câu sáu và tiếng thứ sáu của câu tám trong cặp lục bát Với sự hòa âm này, các câu thơ

như níu giữ lấy nhau trong từng đoạn hay cả bài thơ, tạo nên sự trầm lắng,

mênh mông, bâng khuâng, đa diết của cái buồn trong đoạn thơ, góp phần biểu đạt một cách hiệu quả tâm trạng nhân vật trữ tình

Tạo nên nhạc tính của thơ thực ra không chỉ có vần và hệ thống âm điệu,

mà ngay cả các âm trong mỗi tiếng cũng có những giá trị biểu đạt nhất định

“c3?

Theo Đinh Trọng Lạc, âm “a” gợi sự vui tươi bao la “Nhìn nhau mặt lắm cười

ha ha” (Phạm Tiến Duật), âm “r” gợi sự hãi hùng run sợ “Những luồng run ray rung rỉnh lá” (Xuân Diệu), âm “u”, “âu” gợi sự u sầu bâng khuâng “Thấy

xanh xanh những mấy ngàn dâu - Ngàn dâu xanh ngắt một màu”

Có thể dẫn ra rất nhiều ví dụ để minh họa cho tính nhạc của tiếng Việt trong thơ Khi phân tích tác phẩm văn học (nhất là thơ), giáo viên cần hết sức chú trọng yếu tố này Khi thấy âm hưởng, nhạc điệu của câu thơ không bình thường, có sự chuyển đổi thì hãy tập trung phân tích chỉ ra giá trị, vai trò và tác dụng cúa chúng trong việc thể hiện nội dung

1.2.3 Từ ngữ và các biện pháp íu từ

Đây là yếu tố cơ bản và quan trọng nhất của hình thức chất liệu ngôn

từ Bởi vì mọi nội dung cần thể hiện của tác phẩm văn học không thể có cách

nào khác là nhờ vào hệ thống từ ngữ ấy Các phương tiện như dấu câu, nhịp

điệu, ngữ âm đã nêu ở trên chỉ thực sự có ý nghĩa khi nằm trong một văn bản

mà từ ngữ là nền tảng Nhà thơ muốn mô tả, tái hiện hiện thực phải thông qua

từ ngữ Muốn đánh giá được nhà thơ viết về những điều đó như thế nào, lại

cũng phải thông qua chữ nghĩa trong văn bản Đó là cơ sở đề người ta khắng định “văn học là nghệ thuật của ngôn từ” Do tầm quan trọng ấy mà lao động

Trang 23

của nhà văn được coi là thứ lao động chữ nghĩa Có thể nói, ngôn từ là một

đặc trưng quan trọng và nỗi bật của văn học Vì thế giáo viên khi dạy phải chú

Ở bài Tiếng gà trưa của Xuân Quỳnh, trong khổ thơ cuối, từ “vì” có thay từ

khác được không? Tại sao tác giả lại dùng từ đó? Hoặc giáo viên có thé dat

câu hỏi: trong câu ấy, đoạn ấy, từ nào cần chú ý? Giáo viên cần phải lưu ý cho

học sinh biết một bài thơ có những từ có giá trị diễn đạt đắt nhất Trong thực

tế, có những giáo viên không để ý khi phận tích, lại say sưa tán tụng những từ ngữ không phải nhãn tự của bài thơ Làm như vậy sẽ làm mất thời gian và

không làm nỗi bật được bài thơ

Trong trường hợp phân tích các bài thơ dịch, phải thật thận trọng khi phân tích từ ngữ Bởi vì những từ đưa ra bình giá chưa chắc là những từ tác giả dùng trong nguyên bản

Thứ hai, phân tích thơ là phải phân tích hình ảnh trong thơ, nhưng mọi

hình ảnh đều được “vế” nên bằng từ ngữ Vậy, phân tích hình ảnh là phải

phân tích từ ngữ Nhiều người đã nhằm tưởng từ ngữ và hình ảnh khác nhau, nhưng thật ra là một Chẳng hạn, câu thơ của Nguyễn Du tả chân dung Tú Bà:

“Thoat trông lờn lot mau da,

Ăn gì to lớn đẫy đà làm sao!”

đã vẽ chính xác thần thái của một mụ chủ nhà chứa, bọn buôn thịt bán ngudi

Đồng thời, thái độ của tác giả đối với loại người đó cũng được biểu hiện rõ

nét qua từng từ ngữ Chữ “lờn lợt” thực khó thay thế bằng bất cứ từ ngữ

khác “Lờn lợt” phải chăng vừa bóng nhẫy, vừa mai mái hay vàng bing? Còn hai chữ “ăn gì” lại dường như muốn liệt mụ chủ chứa vào một giống loài gi

Trang 24

đó không phải giống người Chữ “ăn gì” là sao? Chăng lẽ mụ Tú Bà ăn những thứ hoàn toàn khác với thức ăn thường tình của loài người? Phân tích thơ mà không chú ý những từ ngữ như thế thì làm sao thấu hiểu được ý nghĩa của câu thơ cũng như thái độ, tình cảm của người viết?

Hệ thống từ ngữ, hình ảnh, cảm giác trong tiếng Việt rất phong phú, đa dạng Gợi về tâm trạng có: xao xuyến, bâng khuâng, nhớ nhung : gợi về thị

giác: la đà, lơ lửng, chấp chới : gợi về thính giác: bì bõm, thánh thót, ầm

Ĩ ; gợi về vị giác: mặn chát, chua lòm, ngọt lịm : gợi xúc giác: lạnh lẽo,

run ray, nóng nực

Thứ ba, để tạo cách nói, cách viết có hình ảnh, gợi hình tượng bằng từ

ngữ, các nhà văn có thể vận dụng nhiều cách khác nhau Có khi thì dùng từ láy, dùng cách điệp âm Chắng hạn:

«~ Nỗi niềm chỉ rửa Huế ơi

Mà mưa xối xá trắng trời Thừa Thiên

(Tế Hữu)

%- Ruộng nương anh gửi bạn thân cay Gian nhà không mặc ké gid Jung lay ”

(Chính Hữu) Thứ tư, ngôn từ văn học là loại ngôn từ đã được nhà văn lấy từ ngôn ngữ cuộc sống đời thường, được nâng cấp, trau chuốt, làm cho nó toát lên những vẻ đẹp riêng, giàu sức biểu hiện Các biện pháp tu từ chính là những phương tiện

quan trọng, thực hiện nhiệm vụ “trang điểm” cho ngôn từ văn học Có rất nhiều

biện pháp tu từ: ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa, so sánh, điệp ngữ, Tắt cả những biện pháp đó nhằm mục đích giúp người nói, người viết có những cách diễn đạt hay hơn, đẹp hơn, phong phú hơn, và do vậy mà hiệu quả cao hơn Phân tích

các biện pháp tu từ giáo viên cần chỉ ra tính hiệu quả của cách viết, cách nói

ấy, vai trò và tác dụng của chúng trong việc miêu tả, biểu đạt chứ không phái đơn thuần chỉ gọi tên liệt kê các biện pháp mà nhà văn đã dùng

Trang 25

1.2.4 Khả năng biểu đạt của ngôn ngữ thơ

Nếu như giai điệu, âm thanh là ngôn ngữ của âm nhạc; màu sắc, đường nét là ngôn ngữ của hội họa; mảng khối là ngôn ngữ của kiến trúc, thì ngôn ngữ là chất liệu của tác phẩm văn chương Macxim Gorki đã nói: “Ngôn ngữ

là yếu tố thứ nhất của văn học” Tuy nhiên, tùy vào đặc trưng thể loại, ngôn ngữ trong mỗi loại thể văn học có những đặc điểm riêng Là nghệ thuật “lấy ngôn ngữ làm cứu cánh” (Jakobson), ngôn ngữ giữ một vị trí đặc biệt quan trong trong thơ Đó là thứ ngôn ngữ được chưng cất công phu vì bài thơ là tổ chức ở trình độ cao của ngôn ngữ, một tổ chức chặt chẽ tinh tế của ngôn ngữ Ngôn ngữ thơ là một phương tiện hình thức luôn được coi trọng, là một giá trị

không thể phủ nhận trong yếu tính thơ, vì thơ tức là phần tinh lọc nhất của

ngôn ngữ Ngôn ngữ thơ là thứ ngôn ngữ biểu hiện tập trung nhất tính hàm xúc phong phú của ngôn ngữ, vừa giàu hình ánh, sắc màu (tính họa) vừa giàu nhạc điệu (tính nhạc) Các đặc điểm trên hòa quyện với nhau tạo nên hình tượng thơ lung linh, đa nghĩa

Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ giàu hình ánh, sắc màu Hình ảnh thơ bao giờ cũng là sự kết tỉnh của việc sử dụng ngôn ngữ Vì thế, hình ảnh thơ luôn

có ý nghĩa trong việc tạo hiệu ứng nghệ thuật, góp phần khẳng định sự hiện

hữu của thơ Vì thơ là biểu tượng, là hình ảnh Thơ tạo dựng một vũ trụ qua trung gian, biểu tượng một vũ trụ phi thực, một vũ trụ chỉ có ý nghĩa trong

tính cách phi thực của nó Hơn đâu hết, biểu tượng hình ảnh là điều kiện của thơ, lý do tồn tại của thơ, là yếu tính của thơ Như vậy, dù là tiếng vọng từ

tâm linh, là tiếng gọi từ trong vô thức, thì thơ cũng phải tồn sinh dựa vào nhiều phương thức biểu hiện, trong đó không thể không có ngôn ngữ và hình

ảnh - những thi liệu đầu tiên mà người đọc chạm tới trước khi bước vào khám

pha thé giới mộng ảo của thơ “Thơ là vũ trụ những hình ảnh có giá trị một sự

mê hoặc, một thứ ma thuật Nó biến thành hình ảnh của chính hình ảnh Nhưng thơ không là thực tại, không là tổng số những hình ảnh xác định một

Trang 26

thực tại rõ ràng Nó là một ước muốn, hơn thế nữa, là một đam mê mù quáng

cũng nên” (Huỳnh Phan Anh) Rõ ràng, hình ảnh thơ không phải là tổng số của nhiều hình ảnh mà chính sự chọn lọc những hình ánh có giá trị biểu cảm,

có tính hàm súc, tạo hiệu ứng nghệ thuật cao, mới thể hiện tư tưởng, tinh thần

lập ngôn và cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ Nhà thơ không nói bằng phạm trù của tư duy lô-gic như trong các môn khoa học tự nhiên mà thông qua hình ảnh cụ thể đề diễn đạt những ý niệm trừu tượng

Nhà thơ Tố Hữu viết về bốn mùa (đông, xuân, hè, thu) ở Việt Bắc bằng

ngôn ngữ giàu tính họa (có người gọi đây là bức tranh tứ bình):

“Rừng xanh hoa chuối đó tươi

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng

Ngày xuân mơ nớ trắng rừng, Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

Ve kêu rừng phách đỗ vàng, Nhớ cô em gái hái măng một mình

Rừng thu trăng rọi hòa bình, Nhớ ai tiếng hát ân tình thúy chung”

Khương Hữu Dụng viết: “Một tiếng chim kêu sáng cả rừng” (Hành quân qua đèo Hái Vân) tạo cảm giác như ta vừa bước từ bóng tối ra ánh sáng, thật sung suớng Hay như Nguyễn Duy trong bài Lời ru đồng đội, viết:

“Neu ham, ngủ võng, ngủ bung

Gối đầu tay ngủ, cầm chừng mỗi đêm

Có người ngủ thế thành quen

Đã nghe sợi tóc bạc trên tay mình”

Có nhà thơ so sánh mái tóc dài của thiếu nữ khá độc đáo: “Tóc em dài

như một tiếng chuông ngân” (chuyển từ quan sát bằng thị giác sang thính giác) Trần Đăng Khoa cảm nhận được âm thanh rất nhẹ của chiếc lá đa rơi trong bài Đêm ngủ ở Côn Sơn: Ngoài thềm rơi chiếc lá đa/ Tiếng rơi rất mỏng

Trang 27

như là rơi nghiêng (chuyển sự cảm nhận từ thính giác sang thị giác) Tất cả những câu thơ trên đều gợi liên tưởng, tạo hình tượng khá rõ Nếu không có trí tưởng tượng kỳ diệu thì khó mà viết được những câu thơ như thế Để có được những từ ngữ “lóe sáng” đó, ngoài vốn từ vựng phong phú, nhà thơ còn

phải biết kết hợp các biện pháp tu từ như: so sánh, ân dụ, hoán dụ, nhân hóa,

điệp từ, tượng trưng, nói quá, nói giảm trong cách diễn đạt

Chế Lan Viên viết về nỗi nhớ một cách trực tiếp thật đẹp qua một loạt hình ảnh so sánh trùng điệp gợi trường liên tưởng rộng:

« Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét

Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng

Như xuân đến chim rừng lông trớ biếc

Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương”

(Tiếng hát con tàu) Nỗi nhớ trong tình yêu giữa anh với em là tất yếu như quy luật đất trời: đông về nhớ rét Còn tình yêu ta quý như cánh kiến hoa vàng - một thứ đặc sản của núi rừng Tây Bắc và đẹp như sắc biếc lông chim lúc xuân sang Tác gia da cu thể hóa khái niệm trừu tượng là tình yêu thành những hình anh gan

gũi, quen thuộc với con người, nhất là người miền núi

Ở một bài khác, ông lại bộc lộ nỗi nhớ sâu lắng hơn, trăn trở và da

diết hơn:

« Anh nhớ em như đất liền xa cách bé

Nữa đêm sâu nằm lắng sóng phương em

Em thân thuộc sao thành xa lạ thế Sắp gặp em rồi sóng lại đây xa thêm”

Không tin vào cuộc sống, không tin vào tình yêu, tất cả trước mắt chỉ là một màu xanh ám đạm, Nguyễn Bính tìm tới cá quán trọ bên đường, tới chiếc

lá khoai để so sánh với tình yêu vô vọng:

“Lòng em như quán bán hàng

Trang 28

Dừng chân cho khách qua đàng mà thôi Lòng em như chiếc lá khoai

Đỗ bao nhiêu nước ra ngoài bấy nhiêu”

(Hai lòng)

Ta có thể bắt gặp vô vàn những hình ảnh so sánh ví von tạo hình ảnh độc đáo trong thơ Xuân Diệu: Tháng giêng ngon như một cặp môi gần, Tóc mịn đầy tay như suối mát, Lá liễu dài như một nét mi, Không gian xám tướng sắp tan thành lệ, Mây đa tình như thi sĩ thời xưa, Cuộc đời cũng đìu hiu như dặm khách Mà tình yêu như quán trọ ven đường

Thơ phản ánh cuộc sống qua những rung động của tình cảm Như nhịp đập của trái tim khi xúc động, ngôn ngữ thơ có nhịp điệu riêng của nó Thế giới nội tâm của nhà thơ không chỉ biểu hiện bằng ý nghĩa của từ ngữ mà

bằng cả âm thanh, nhịp điệu của từ ngữ Ấy Có thể xem tính nhạc là nét đặc

thù rất cơ bản của ngôn ngữ thơ

“Nhạc điệu là một yếu tính của thi ca Thiếu nhạc tính thơ trở thành văn xuôi” (Bằng Giang) Bởi nhạc tính như một nét đuyên thầm làm nên vẻ đẹp

của thơ, cũng là một yếu tố tạo mỹ cảm cho người đọc “Ly khai nhạc tính, thơ chỉ còn là một nhan sắc trơ trẽn thiếu duyên” (Tam Ích) Thơ bao giờ

cũng là sự kết hợp hài hòa giữa ý và nhạc Nếu “rơi vào cái vực ý thì thơ sẽ sâu nhưng rất đễ khô khan Rơi vào cái vực nhạc thì thơ dé lam say lòng người nhưng dễ nông cạn” (Chế Lan Viên) Rõ ràng, nhạc tính là tiếng nói linh diệu của thi ca, gợi thức trí tưởng tượng của người đọc, nói như La Fontaine “Chang co tho nao khéng cé nhac” Hon bat cứ ngôn ngữ ở thể loại nao khác, ngôn ngữ thơ với tính cách là một thứ ngôn ngữ giàu nhịp điệu,

phong phú về cách hòa âm, tiết tấu, giàu từ láy âm, tượng hình, chính là thứ

ngôn ngữ giàu tính nhạc

Nếu ngôn ngữ và hình ảnh là những yếu tố song hành thì âm điệu cũng

là yếu tố đồng hành với tính nhạc Nói một cách hình ảnh, nếu ngôn ngữ là

Trang 29

sợi dây đàn thì nhạc tính và âm điệu là những cung bậc thanh âm ngân lên từ

sợi dây đàn Ấy Việc kiến tạo âm điệu trong thơ cũng chính là kiến tạo nhạc

tính Và âm điệu cũng là chiếc cầu nối thơ với người đọc, dẫn dụ người đọc đi vào thế giới mầu nhiệm của thơ ca Các câu thơ sau sở dĩ “đầy nhạc” chính vì

sự tập trung dày đặc các nguyên âm mở và phụ âm vang tạo âm điệu cho thơ: Long lanh tiếng sỏi vang vang hận (Nguyệt cầm - Xuân Diệu); Dọc bờ sông trắng nắng chang chang (Mùa xuân chín - Hàn Mặc Tử) Nhạc thơ chủ yếu còn do các thanh điệu tạo nên Xuân Diệu viết hai dòng toàn bằng để gợi tả

điệu nhạc du đương đưa tâm hồn phiêu diêu bay bỗng khi nghe Nhị Hồ:

“Sương nương theo trăng ngừng lưng trời Tương tư nâng lòng lên chơi vơi”

Hai câu thơ của Bích Khê sở đĩ đầy nhạc tính như ta cảm thấy chính là

vì các âm tiết trong đó toàn thanh bằng:

“Ô hay buồn vương cây ngô đồng Vàng rơi, vàng rơi thu mênh mông”

(Tỳ bà) Tản Đà trong hai câu thơ:

Tài cao phận thấp chí khí uất,

Giang hồ mê chơi quên quê hương”

đã sử dụng một nhịp điệu đặc biệt trên cơ sở tương phản về thanh điệu như

hai về đối lập Câu trên là một tình thế bất công, một cảnh ngộ uất ức Câu thơ

bị dồn chặt, đóng chặt bởi những âm tiết mang thanh trắc giống như uất ức bị

nén lại Câu thơ sau là một hướng giải quyết tiêu cực và buông xuôi, toàn bộ câu thơ trôi đi trên nền thanh bằng như một sự buông tỏa, giải thoát, không có phương hướng, không có gì níu giữ lại

Thơ hay bao giờ cũng là cuộc “hôn phối” kỳ diệu giữa âm thanh và hình ảnh, ý nghĩa Chữ và nghĩa trong ngôn ngữ thi ca hòa quyện với nhau như hình với bóng, như xác với hôn, nên việc tách rời chúng ra khỏi nhau sẽ

Trang 30

làm tốn hại đến bình diện ngôn ngữ và thâm mĩ của câu thơ Thơ không phải

là một mớ lý thuyết mà là một thực thể ngôn ngữ Và thơ ca ám ảnh người

đọc phải chăng cũng vì vẻ đẹp toát ra từ “thực thể ngôn ngữ” ấy? Vũ trụ tâm

hồn thi nhân có hòa điệu với tâm hồn người đọc không, có “tri âm” với người

tiếp nhận hay không, tất cả phải thông qua chiếc cầu ngôn ngữ, nói như Bùi Giáng, “thi ca vẫn có sức đưa dẫn người ta vào giữa huyền nhiệm của cuộc sống Ngôn ngữ thơ bao giờ cũng là sản phẩm của “tiểu hóa công”: người nghệ sĩ Mỗi chữ trong thơ đều là sự vang vọng từ tâm hồn thi nhân Vì “thực chất của thơ là cái linh hồn, là sự sống của những chữ ta dùng Làm văn xuôi, chữ không có sức mạnh ma quái như vậy ( ) thi nhân là một thần linh nói một thứ chữ riêng mà thế nhân phải diễn tả dai dòng thô lậu” (Nguyên Sa) 1.3 Một số cách tiếp nhận thơ và vai trò của trì thức ngôn ngữ trong tiếp nhận thơ

Tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương trong nhà trường là một xu hướng tiến bộ, nó vừa đảm bảo được phương pháp lịch sử phát sinh, vừa chú

trọng được tác giả, tác phẩm, đồng thời chú trọng đến vai trò tích cực của

người đọc Đặc biệt là đặt tác phẩm trong bối cảnh nó ra đời để hiểu sự vận

động cũng như hiểu thông điệp mà nhà văn gửi tới bạn đọc

Quan điểm tiếp cận đồng bộ thể hiện ở 3 đặc điểm chính

Thứ nhất, quan điểm tiếp cận từ lịch sử phát sinh và sự vận dụng một

cách thích hợp những hiểu biết phi văn bản (xã hội, văn hoá, nhà van ) dé cắt

nghĩa tác phẩm

Mỗi nhà văn đều được sinh ra trong một hoàn cảnh lịch sử và đều chịu

sự tác động trở lại hoàn cảnh lịch sử Mỗi nhà văn đều có khuynh hướng khăng định tài năng và nhân cách riêng, khẳng định vị thế của mình trong

dòng chảy văn học Do vậy, việc nghiên cửu văn học phải dựa vào lịch sử là

một tất yếu Mặt khác, mỗi nhà văn là một bản thể văn hoá, là một cá nhân

Trang 31

trong cộng đồng xã hội, nên việc tìm hiểu cá nhân văn hoá của nhà văn ở một mức độ nào đó sẽ giúp cho người đọc hiểu hơn tác phẩm của họ

Mỗi tác phẩm văn chương ra đời trong những bối cánh lịch sử xã hội văn hoá cụ thể; những yếu tố đó thắm thấu, chắt lọc thông qua lăng kính của nhà văn để đưa vào tác phẩm Thế nên muốn nghiên cứu cụ thể một tác phẩm, chúng ta phải tìm đến bối cảnh lịch sử gắn với sự ra đời của nó Chẳng hạn, bài thơ Quê hương của Giang Nam ra đời giữa những ngày quân thù đang ra sức truy lùng, bắt bớ, tàn sát những người thân của cán bộ cách

mạng Nhà thơ xây dựng tứ thơ từ cái chết thê thảm của người yêu Để thấy

rõ hơn về tư tưởng, tình cảm cũng như sự vận động của tứ thơ và tâm tư tác

giá, cũng như dụng ý nghệ thuật và ý nghĩa khái quát điển hình của nỗi đau trong bài thơ khi nói đến cái chết có vẻ riêng tư, chúng ta phải tiếp cận tác

phẩm dựa trên bối cảnh ra đời của bài thơ: hoàn cảnh lịch sử cụ thể của miền

Nam hồi đó

Thứ hai, quan điểm tiếp cận thơ từ chính văn bản

Hiểu biết ngoài văn bản cực kì quan trọng nhưng vẫn không thay thế cho việc khám phá bản thân văn bán Quan điểm tiếp cận theo hướng này giúp cho người đọc, người nghiên cứu, giảng dạy không thoát ly văn bản như

là một “đề án tiếp nhận” mà nhà văn muốn gửi đến bạn đọc

Đặc trưng cơ bản của văn bản nghệ thuật là thông tin thẩm mĩ Nhà văn gửi đến độc giá niềm xúc động mãnh liệt nhất, những rung động tha thiết nhất của mình về cuộc sống con người Đây là điểm mau chốt nhất phân biệt phương pháp tiếp cận văn học đích thực với lối phân tích xã hội

học dung tục

Tác phẩm văn chương chứa đựng trong nó muôn mặt, muôn vẻ của đời sống xã hội, con người mà chúng ta không thể bỏ qua, không thê không biết đến Chính các yếu tố văn hoá của văn bản lại càng làm nỗi rõ hơn yếu tố thâm mĩ của văn bản Người đọc phải có sự trải nghiệm cần thiết mới có hi

Trang 32

vọng giái mã được những thông tin thâm mĩ trong tác phẩm Đặc biệt, người đọc phải có một khả năng ngôn ngữ tối thiểu để tri giác văn bản, dé thấu hiểu ngôn từ và đời sống của nó trong văn bản

Thiếu vốn văn hoá cần thiết thì việc cảm thụ văn chương cũng dễ bị sai lệch hoặc thiếu sâu sắc Văn chương vốn là một cuốn “bách khoa toàn thư” về

cuộc sống Mác đã từng ghi nhận tính chân thực sâu sắc của văn chương M.Gorki cho rằng, nhờ văn chương mà hiểu cuộc đời và con người hơn Nói đến tác phẩm văn chương là nói đến một văn bán trong chỉnh thể Tác phẩm văn chương được cấu tạo bằng ngôn ngữ nghệ thuật nhằm xây

dựng lên một thế giới nghệ thuật riêng, được kết cấu một cách chặt chẽ trong

những quan hệ giữa nội dung và hình thức, giữa bộ phân và toàn thẻ, giữa yếu

tố hữu hình và yếu tố vô hình, giữa phản ánh và biểu hiện, giữa văn bản và tiềm văn bản Chính vì vậy mà khi giảng văn, cần chú trọng tính nhất quán, cảm hứng chủ đạo của nhà văn, tư tưởng chủ đề của tác phẩm và đặc biệt là tính chỉnh thể của tác phẩm

Có nhiều yếu tô thuộc lĩnh vực tiềm văn bản khi tiếp nhận văn chương nếu không chú ý sẽ không khai thác hết giá trị của tác phẩm ví dụ như khoáng lặng giữa dòng câu thơ, những câu thơ vắt dòng, Những biểu hiện

như vậy không chỉ có giá trị biểu đạt hết ý hoặc tiếp nối ý, mà nó quy định

ngữ điệu đọc, quy định khoảng ngắt nghỉ, đồng thời quy định giọng cao, thấp,

Trang 33

biết rằng, đặc trưng của ca dao là tính ước lệ tượng trưng, từ đó sẽ lí giải được

tại sao sen lại có cành

Thứ ba, quan điểm tiếp cận hướng vào đáp ứng của học sinh

Quan điểm tiếp cận đồng bộ cho người đọc có một cái nhìn thấu đáo về

lịch sử phát sinh, tính chất nội tại cũng như xu hướng thâm mĩ mà tác phẩm

vươn tới Mỗi tác phẩm là một thế giới nghệ thuật Việc tiếp cận nó thực sự

có sự tác động vào nó, biến tác phẩm thành một đối tượng và biến chủ thể người đọc thành chủ thể văn học Người đọc trở thành đồng sáng tạo với tác giả Người đọc có khả năng “lấp đầy” những “khoảng trống” của tác phâm, làm cho thông điệp của nhà văn trở nên có hồn, có số phận Chừng nào chưa

có quá trình tiếp nhận, chứng đó tác phẩm còn ở ngoài chủ thể Tác phẩm văn chương là một hệ thống mở Vòng đời tác phẩm văn chương cũng được nhận diện lại trong nhiều quan hệ hữu cơ, biện chứng hơn Tác phẩm văn chương

thực sự đi hết “vòng đời” trong mối quan hệ với bạn đọc để trở lại với cuộc

sống vốn là xuất phát điểm

Chính vì thế, việc day hoc van theo lối truyền thụ một chiều là dạy học

áp đặt, không đem lại hiệu quả Công cuộc đổi mới phương pháp giảng văn ở trung học theo hướng coi học sinh là bạn đọc sáng tạo cũng là sự vận dụng sáng tạo kịp thời những thành tựu về lí thuyết tiếp nhận, tư tưởng dạy học hiện đại Việc dạy học tác phẩm văn chương phải bắt đầu từ thói quen tự đọc của học sinh, từ thói quen tự khám phá trên cơ sở gợi ý của giáo viên Khi đó,

tác phẩm là “tình huống có vấn đề” trước người đọc là học sinh Giáo viên

phải là người kiểm soát quá trình đọc, hoạt động tiếp nhận của học sinh Bằng cách ra dé, kiểm tra thường xuyên, giáo viên từng bước hướng dẫn học sinh tiếp nhận đồng bộ tác phẩm văn chương trong nhà trường

Từ thực tế giáng dạy, chúng tôi nhận thấy có nhiều con đường để tiếp cận với những giá trị của tác phẩm, trong đó có một phương pháp kha đơn giản và hữu hiệu là tiếp cận tác phẩm từ góc nhìn đặc trưng thể loại

Trang 34

Tiéu két chuwong 1

Chương một của luận văn đã nêu và giải quyết một số vấn đề thuộc cơ

sở lý thuyết của đề tài Một khi bàn đến việc sử dụng tri thức ngôn ngữ trong

dạy đọc - hiểu thơ, thì nhất thiết phải làm rõ một số vấn đề về đặc trưng của

thể loại này Luận văn đã điểm một số ý kiến bàn về thơ của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, trong đó, nhắn mạnh những cách cắt nghĩa thơ liên quan đến việc xác định vai trò của ngôn ngữ trong thơ Có thể nói, đây là điểm tựa lí thuyết rất quan trọng để chúng tôi có cơ sở đi vào giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra ở các chương sau.

Trang 35

Chương trình sách giáo khoa Ngữ văn gồm 3 phân môn: Văn, Tiếng

Việt và Tập làm văn Mỗi phân môn có kiến thức và kỹ năng riêng

Chương trình lấy 6 kiểu văn bản: tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh và hành chính - công vụ làm trục chính để tuyển chọn các văn bản, rèn kỹ năng nghe - nói - đọc - viết, hình thành các năng lực tiếp nhận và

Cấu trúc sách giáo khoa Ngữ văn THCS cho thấy sự nhắn mạnh những điểm đồng quy về kiến thức, kỹ năng giữa 3 phân môn, để thực hiện quan điểm tích hợp trong nội dung dạy học và xác định phương pháp dạy học cho từng bài Yếu tố tạo nên sự đồng quy này chính là ngôn ngữ trong văn bản của mỗi bài học Ngôn ngữ cần được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ bao gồm ngữ âm, từ vựng, cú pháp mà còn là các kiểu văn bản, các quy tắc ngôn ngữ, các quy tắc tổ chức không gian, thời gian của văn bán để phản ánh những điều văn bản muốn thê hiện Như vậy, với chương trình sách giáo khoa mới, phải tận dụng những kiến thức, kỹ năng về tiếng Việt dé tạo lập những

Trang 36

kiến thức, kỹ năng giải mã, sinh sản văn bản Ngược lại, vận dụng những kiến

thức, kỹ năng sinh sản văn bản để củng cố và phát triển những kiến thức, kỹ năng tiếng Việt

Một trong những nhược điểm của chương trình, sách giáo khoa cũng như việc giảng dạy môn học trước đây là chỉ chú trọng đến nghe, viết Mặc dù viết văn là kỹ năng hàng đầu, nhưng với chương trình sách giáo khoa mới hiện nay, đòi hỏi giáo viên phải chú ý thích đáng đến năng lực tiếp nhận bằng thính giác và năng lực biểu đạt tư tưởng, tình cảm bằng ngôn ngữ của chính người học, nhằm tạo lập cho các em năng lực giao tiếp tốt, một khả năng sử dụng ngôn ngữ linh hoạt

Cấu trúc chương trình như vậy cho thấy sự quan tâm phát triển năng

lực tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong học Ngữ văn Thông qua

việc cung cấp cách tiếp nhận, tạo lập các loại hình văn bản, cách giái quyết và tận dụng những kiến thức, kỹ năng Văn, tiếng Việt, Tập làm văn vào thực tiễn cuộc sống một cách năng động và sáng tạo

Những thay đổi của sách giáo khoa Ngữ văn trung học cơ sở hiện hành đòi hỏi giáo viên phái có những thay đổi về cách thức dạy học Giáo viên các trường trung học cơ sở trong thời gian qua đã quen với lối giảng dạy tách rời từng phân môn theo từng giờ học, với từng cuốn sách giáo khoa riêng biệt Yêu cầu mới: đạy học ba phân môn theo từng bài học như một thể thống nhất, trong đó, mỗi giờ Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn vừa giữ bản sắc riêng, vừa hòa nhập với nhau để hình thành cho học sinh những kỹ năng, năng lực tổng hợp Đây là một việc làm vừa quen vừa lạ Quen, vì bản chất của việc dạy học môn Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn trong nhà trường đã từng có sự kết hợp dạy ngữ qua văn, dạy văn qua ngữ ở một mức nào đó Lạ, vì giờ đây một bài học Ngữ văn bao gồm ba phân môn, ba mạch kiến thức, kỹ năng Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn Trong ba nội dung của môn Ngữ văn, giờ học Tập làm văn

có vị trí đặc biệt: một mặt, nó là giờ học thể hiện kết quả học tập từ hai phân

Trang 37

môn, mặt khác, nó là giờ học có tính chất thực hành tổng hợp đề học sinh vận

dụng những kiến thức, kỹ năng nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt theo yêu cầu cụ

thể, mục đích đào tạo của cấp học

Tuy nhiên, trong mỗi bài học, có những mạch kiến thức, kỹ năng của phân môn này không thể tìm thấy sự đồng quy của phân môn khác Lúc đó, giáo viên phải tổ chức chúng như những yếu tô độc lập theo cách thức riêng Việc tích hợp ba phân môn trong một bài học cũng dẫn đến một thực tế: ở nhiều giờ học, phải chấp nhận bỏ qua một số kiến thức, kỹ năng học sinh đã biết, để dạy những kiến thức, kỹ năng khác; và không cần đi sâu vào những kiến thức sẽ được dạy ở giờ học sau hay ở lớp sau

Trong ý đồ thiết kế và thực hiện chương trình dạy học Ngữ văn ở cấp THCS, thể loại là một tiêu chí quan trọng Một trong những yêu cầu quan trọng của chương trình Ngữ văn THCS là hình thành ở HS những hiểu biết

về các kiểu văn bản và nắm được các phương thức biểu đạt chủ yếu (tự sự,

miêu tả, biểu cảm, thuyết minh, nghị luận) Hầu hết các văn bản được lựa chọn để học là các tác phẩm văn học (hoặc đoạn trích tác phẩm), vì thế, mỗi

kiểu văn bản trong chương trình Ngữ văn lại thuộc về một thể loại văn học

nhất định Những hiểu biết về thể loại có một ý nghĩa rất quan trọng không

chỉ đối với việc tiếp nhận, phân tích các tác phẩm có trong chương trình, mà

còn cần thiết cho học sinh để đọc - hiểu được các tác phẩm khác ngoài

chương trình Sở dĩ như thế là bởi, thể loại văn học là sự thống nhất giữa

một loại nội dung và một dạng hình thức văn bản và phương thức chiếm lĩnh

đời sống, là dạng thức tồn tại chỉnh thể của tác phẩm Đọc - hiểu văn bản phải đi từ đạng hình thức văn bản để cảm thụ phương thức chiếm lĩnh đời

sống, rồi từ đó hiểu được nội dung, ý nghĩa, các khía cạnh tư tưởng nghệ

thuật mà tác giả thể hiện qua văn bản; phải đi từ việc nắm bắt và sử dụng

những thông tin có ngay trong văn bản (có ý kiến cho rằng đây là hoạt động đọc - hiểu cấu trúc văn bản) đến những thông tin có trong bài (đọc - hiểu nội

Trang 38

dung văn bản), rồi cao hơn là khái quát liên hệ giữa những cái mà học sinh

đã đọc với thế giới bên ngoài (đọc - hiểu ý nghĩa văn bản) Có thể đồng tình

với quan niệm cho rằng: tính chất của hoạt động đọc - hiểu văn bản sẽ được quy định theo nguyên tắc đọc - hiểu văn bản phù hợp với đặc điểm thể loại của văn bản

2.1.2 Mang tho trong sách giáo khoa Ngữ văn THCS

Như đã trình bày ở trên, chương trình Ngữ văn ở trung học cơ sở được biên soạn theo nguyên tắc tích hợp, trong đó, thể loại là một trục tích hợp

quan trọng Để thay được vị trí và đặc điểm của mảng thơ trong chương trình,

ta hãy quan sát bảng thống kê sau:

Bảng 2.1 Thống kê đơn vị bài thuộc máng thơ trong chương trình

Ngữ văn trung học cơ sở

LOP 6

1 | Mặt đường khát vọng (Nguyễn Khoa Điểm - trích) Đọc thêm

3 | Sơn Tỉnh, Thủy Tỉnh (Nguyễn Nhược Pháp - trích) Đọc thêm

5 | Nước non ngàn dặm (Tố Hữu - trích) Đọc thêm

7 | Đêm nay Bác không ngủ (Minh Huệ)

§_ | Lượm(Tố Hữu)

10 | Tre Viét Nam (Nguyén Duy - trích) Doc thém

11 | Bai tho Hac Hai (Nguyén Dinh Thi - trích) Doc thém

Trang 39

LỚP7

1 | Thư gứi mẹ (Hen-rích Hai-nơ, Tế Hanh dịch) Đọc thêm

2 | Thế giới rộng vô cùng (Báo Hoa học trò) Đọc thêm 3| Ca dao - Dân ca Những câu hát về tình cảm gia đình

4 _ | Những câu hát về tình yêu quê hương, đất nước, con người

10 | Sông núi nước Nam (Nam quốc sơn hà - Thơ văn Lí

Trần, Lê Thước - Nam Trân dịch)

11 | Pho gia về kinh (Tụng giá hoàn kinh sư - Trần Quang

Khải, Trần Trọng Kim dịch)

12 | Tức sự (Trần Nhân Tông)

13 | Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra (Thiên

trường vãn vọng - Trần Nhân Tông)

14 | Chiều hôm nhớ nhà (Bà Huyện Thanh Quan - trích) Đọc thêm

15 | Bài ca Côn Sơn (Thơ văn chữ Hán Nguyễn Trãi,

Phan Võ - Lê Thước - Đào Phương Bình dịch)

16 | Đêm Côn Son (Tran Dang Khoa)

17 | Sau phút chia li (Chỉnh phụ ngâm - Đặng Trần Côn,

Đoàn Thị Điểm dịch, trích)

18 | Bánh trôi nước (Hồ Xuân Hương)

19 | Ca dao, Truyện Kiều - Nguyễn Du, trích) Đọc thêm

Trang 40

20_ | Qua Đèo Ngang (Bà Huyện Thanh Quan)

21 | Bạn đến chơi nhà (Nguyễn Khuyến)

22 | Khóc Dương Khuê (Nguyễn Khuyến, trích) Đọc thêm

23 | Xa ngắm thác núi Lư (Vọng Lư sơn bộc bố - Lí Bạch)

24 | Đêm đỗ thuyền ở Phong Kiều (Phong Kiều dạ bạc - | Đọc thêm

Trương Kế)

25 | Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh (Tĩnh dạ tứ - Lí Bạch)

26 | Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê (Hối hương ngẫu

thư - Hạ Tri Chương)

27 | Bài ca nhà tranh bị gió thu phá (Mao ốc vị thu phong sở

phá ca - Đỗ Phủ)

28 | Cánh khuya

Rằm tháng giêng (Nguyên tiêu)

(Hồ Chí Minh)

29 _ | Tiếng gà trưa (Xuân Quỳnh)

LỚP8

1 | Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác (Phan Bội Châu)

2 | Dap da ở Côn Lôn (Phan Châu Trinh)

3| Muốn làm thằng Cuội (Tản Đà)

4 | Hai chữ nước nhà (Trần Tuân Khải, trích)

5 | Chiêu hồn nước (Phạm Tắt Đắc, trích) Đọc thêm

Cuối thu (Đoàn Văn Cừ)

7 | Nhớ rừng (Thế Lữ)

Ngày đăng: 07/11/2014, 23:09

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  2.1.  Thống  kê  đơn  vị  bài  thuộc  máng  thơ  trong  chương  trình - vận dụng tri thức tiếng việt trong dạy đọc - hiểu thơ trung học cơ sở
ng 2.1. Thống kê đơn vị bài thuộc máng thơ trong chương trình (Trang 38)
Hình  ảnh  Lượm  nằm  trên  cánh  đồng - vận dụng tri thức tiếng việt trong dạy đọc - hiểu thơ trung học cơ sở
nh ảnh Lượm nằm trên cánh đồng (Trang 97)
Bảng  3.1.  Kết  quả  khảo  nghiệm  tại  trường  THCS  Bình  Trị  Đông - vận dụng tri thức tiếng việt trong dạy đọc - hiểu thơ trung học cơ sở
ng 3.1. Kết quả khảo nghiệm tại trường THCS Bình Trị Đông (Trang 104)
Bảng  3.3.  Kết  quả  khảo  nghệm  tại  trường  THCS  Bình  Trị  Đông  A - vận dụng tri thức tiếng việt trong dạy đọc - hiểu thơ trung học cơ sở
ng 3.3. Kết quả khảo nghệm tại trường THCS Bình Trị Đông A (Trang 105)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w