Đối với công ty Ngân Sơn, việc xác định nhu cầu vốn kinh doanh, xây dựng các định mức và kế hoạch khai thác các nguồn tài trợ vốn kinh doanh, nhất là vấn đề sử dụng vốn sao cho có hiệu quả luôn được chú trọng hàng đầu. Tuy nhiên trong điều kiện cạnh tranh gay gắt cả trong và ngoài nước hiện nay, thị trường truyền thống bị biến động, thị trường mới chưa sẵn sàng chào đón ,… thì việc lựa chọn nguồn tài trợ vốn kinh doanh, việc sử dụng vốn có hiệu quả và tìm cách nâng cao hiệu quả sử dụng vốn thực sự là một thử thách đối với công ty nói riêng và với các doanh nghiệp cùng ngành nói chung.
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC BẢNG BIỂU 3
MỤC LỤC HÌNH VẼ 3
LỜI MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG I: VỐN KINH DOANH VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 6
1.1 Vốn kinh doanh và nguồn hình thành vốn kinh doanh của doanh nghiệp 6
1.1.1 Vốn kinh doanh của doanh nghiệp 6
1.1.1.1.Khái niệm về vốn kinh doanh 6
1.1.1.2 Những đặc trưng của vốn kinh doanh 6
1.1.1.3 Quá trình luân chuyển của vốn kinh doanh 7
1.1.1.4 Phân loại vốn kinh doanh 8
1.1.2 Nguồn hình thành vốn kinh doanh của doanh nghiệp 10
1.2 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của các doanh nghiệp trong điều kiện nền kinh tế thị trường 13
1.2.1 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong các doanh nghiệp 13
1.2.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh 14
1.2.3 Các chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp 15
1.2.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá kết cấu vốn của doanh nghiệp 15
1.2.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp 16
1.3 Một số biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh 18
1.3.1 Các nguyên tắc cần quán triệt trong tổ chức sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp 18
1.3.2 Một số biện pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trong doanh nghiệp 19
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC QUẢN LÝ VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH Ở CÔNG TY CỔ PHẦN NGÂN SƠN 24
2.1 Khái quát về hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần Ngân Sơn 24
2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển 24
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của công ty cổ phần Ngân Sơn 24
2.1.2.1 Chức năng 24
2.1.2.2 Nhiệm vụ 25
2.1.3 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý của công ty 25
2.1.4 Đặc điểm tổ chức sản xuất của công ty cổ phần Ngân Sơn 27
Hình 2: Quy trình sơ chế thuốc lá của công ty cổ phần Ngân Sơn 28
2.1.5 Bảng tổng hợp kết quả sản xuất kinh doanh trong 5 năm gần đây của công ty ( từ 2004- 2008) 28
2.2 Thực trạng sản xuất kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của công ty trong năm 2008 30
2.2.1 Tình hình tổ chức vốn kinh doanh tại công ty cổ phần Ngân Sơn năm 2008 .33 2.2.2 Tình hình sử dụng và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của công ty cổ phần Ngân Sơn trong năm 2008 36
2.2.2.1Tình hình quản lý và hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công ty 36
2.2.2.2 Tình hình quản lý và hiệu quả sử dụng vốn cố định của công ty trong năm 2008 41
Trang 22.2.2.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần Ngân Sơn năm 2008
44
CHƯƠNG III: MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN NGÂN SƠN 52
3.1 Kế hoạch phát triển sản xuất kinh doanh năm 2009 của công ty cổ phần Ngân Sơn .52
3.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty trong thời gian tới 52
3.2.1.Những nhân tố bên ngoài 52
3.2.2.Những nhân tố thuộc về bản thân công ty 54
3.3 Biện pháp tạo lập vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty 55
3.4 Một số biện pháp tài chính chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty cổ phần Ngân Sơn 58
3.4.1 Thực hiện quản lý chặt chẽ các khoản phải thu 58
3.4.2 Thực hiện tốt công tác dự báo, dự trữ hàng tồn kho, quản lý hệu quả vốn về hàng tồn kho 59
3.4.3.Thực hiện tốt chế độ giao tài sản cố định đến từng chi nhánh 60
3.4.4.Tiến hành mua mới và thanh lý tài sản kém hiệu quả 60
3.4.5.Thay đổi phương thức tính khấu hao cho thiết bị quản lý và phương tiện vận tải 61
3.4.6.Tăng cường công tác đào tạo cán bộ công nhân viên 61
3.4.7.Mở thêm phòng đầu tư để thực hiện công tác đổi mới tài sản cố định 61
3.4.8.Mở rộng mạng lưới khách hàng, tăng kim ngạch xuất khẩu 62
3.4.9.Mở rộng và phát triển vùng nguyên liệu, đặc biệt là vùng nguyên liệu có chất lượng cao 62
3.4.10 Đa dạng hoá mặt hàng kinh doanh, nâng cao chất lượng hàng hoá xuất khẩu, cải tiến khâu bán hàng và tiêu thụ sản phẩm 63
3.4.11 Chủ động xây dựng kế hoạch huy động và sử dụng vốn kinh doanh 64
3.4.12.Tích cực mở rộng quan hệ với các công ty cung cấp yếu tố đầu vào cho công ty 64
3.4.13.Ưu tiên bán cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài 64
KẾT LUẬN 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
Trang 3MỤC LỤC BẢNG BIỂU
Biểu 1: Một số chỉ tiêu về kết quả sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần Ngân Sơn
trong 5 năm gần đây 30
Biểu 4: Bảng phân tích vốn lưu chuyển và nhu cầu vốn lưu chuyển 37
Biểu 5: Hiệu quả SD VLĐ của công ty năm 2008 39
Biểu 6:Tình hình biến động TSCĐ năm 2008 của công ty cổ phần Ngân Sơn 43
Biểu 7:Tình trạng kỹ thuật TSCĐ năm 2008 của công ty cổ phần Ngân Sơn 44
Biểu 8: So sánh hiệu quả VCĐ của công ty năm 2008 với năm 2007 44
Biểu 9: Kết quả HĐKD của công ty trong các năm 2005-2008 45
Biểu 10: Đánh giá các chỉ tiêu sinh lời của công ty giai đoạn 2005- 2008 48
Biểu 11: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu 49
Biểu 12:Các mục tiêu kinh doanh chủ yếu của năm 2009 53
Biểu 13 :Nguồn hình thành vốn kinh doanh của công ty 57
MỤC LỤC HÌNH VẼ Hình 1: Sơ đồ tổ chức của công ty cổ phần Ngân Sơn 27
Hình 2: Quy trình sơ chế thuốc lá của công ty cổ phần Ngân Sơn 29
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Công cuộc đổi mới đã đưa nền kinh tế nước ta hoạt động theo cơ chếmới.Một thời gian dài hoạt động theo cơ chế tập trung, quan liêu bao cấpcác doanh nghiệp quen với tư tưởng làm việc ỷ lại, không quan tâm đếnhiệu quả sản xuất kinh doanh dẫn đến thất thoát vốn, thua lỗ kéo dài ở hầuhết các doanh nghiệp
Đại hội Đảng VI năm 1986 tạo ra một bước chuyển mình kỳ diệucho nền kinh tế, chấm dứt thời kỳ khó khăn lạc hậu của nhà nước dưới cơchế tập trung, mở ra cơ chế thị trường với sự quản lý của nhà nước
Đặc biệt, việc Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO
là một bước ngoặt lớn của nền kinh tế.Nó mang lại cho nền kinh tế nướcnhà nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra không ít thử thách Các doanh nghiệpViệt Nam như “ cá ra biển lớn”, được đặt trong một môi trường mới rộnglớn với tính cạnh tranh vô cùng khắc nghiệt
Cũng giống như bất cứ doanh nghiệp nào, để có thể hoạt động được,công ty phải có vốn Vốn là điều kiện tiên quyết và vô cùng quan trọng đểbắt đầu một quá trình kinh doanh Kế hoạch về vốn là “nền móng”, là cơ sởcho doanh nghiệp sắp đặt các kế hoạch khác Tuỳ từng loại hình doanhnghiệp, tuỳ từng lĩnh vực kinh tế mà nhu cầu về vốn, cơ cấu vốn và cáchthức sử dụng vốn vào hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ khác nhau
Đối với công ty Ngân Sơn, việc xác định nhu cầu vốn kinh doanh,xây dựng các định mức và kế hoạch khai thác các nguồn tài trợ vốn kinhdoanh, nhất là vấn đề sử dụng vốn sao cho có hiệu quả luôn được chú trọnghàng đầu Tuy nhiên trong điều kiện cạnh tranh gay gắt cả trong và ngoàinước hiện nay, thị trường truyền thống bị biến động, thị trường mới chưasẵn sàng chào đón ,… thì việc lựa chọn nguồn tài trợ vốn kinh doanh, việc
sử dụng vốn có hiệu quả và tìm cách nâng cao hiệu quả sử dụng vốn thực
sự là một thử thách đối với công ty nói riêng và với các doanh nghiệp cùngngành nói chung
Xuất phát từ việc nhận biết vai trò, vị trí của vốn kinh doanh đối vớicác doanh nghiệp, qua thời gian thực tập tại công ty cổ phần Ngân Sơn ,được sự giúp đỡ của thầy giáo Vũ Văn Ninh cùng các thầy cô khoa TCDN,
Trang 5sự chỉ bảo ân cần của các anh , các chị trong phòng tài chính - kế hoạch
của công ty, em đã mạnh dạn đi sâu nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp
nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty cổ phần Ngân Sơn” Nội dung của bài này chia làm 3 chương chính:
Chương 1: Vốn kinh doanh và sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sửdụng vốn kinh doanh ở công ty cổ phần Ngân Sơn
Chương 2: Tình hình tổ chức và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh ởcông ty cổ phần Ngân Sơn năm 2008
Chương 3: Một số biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sửdụng vốn kinh doanh của công ty cổ phần Ngân Sơn
Đề tài này nhằm mục đích phân tích vai trò của vốn kinh doanh, thựctrạng tình hình sử dụng vốn kinh doanh của công ty trong những năm gầnđây, những thuận lợi và khó khăn cũng như hiệu quả đạt được, trên cơ sở
đó đưa ra một số kiến nghị góp phần giúp công ty nâng cao hiệu quả sửdụng vốn kinh doanh
Trang 6CHƯƠNG I: VỐN KINH DOANH VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH TRONG CÁC
DOANH NGHIỆP 1.1 Vốn kinh doanh và nguồn hình thành vốn kinh doanh của doanh nghiệp.
1.1.1 Vốn kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.1.1.Khái niệm về vốn kinh doanh
Theo luật doanh nghiệp năm 2005, doanh nghiệp là tổ chức kinh tế
có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinhdoanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt độngkinh doanh
Doanh nghiệp là chủ thể kinh doanh phổ biến và chủ yếu.Một trongnhững đặc điểm quan trọng để phân biệt chủ thể kinh doanh với các tổ chức
cá nhân khác đó là “ chủ thể kinh doanh có vốn đầu tư kinh doanh”.Vậyvốn kinh doanh là gi?
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của giá trịtoàn bộ tư liệu sản xuất được doanh nghiệp sử dụng hợp lý và có kế hoạchvào hoạt động kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi
Như vậy vốn là tiền đề vững chắc, là điều kiện tiên quyết để bắt đầumột quá trình sản xuất kinh doanh Thực chất vốn kinh doanh là giá trị của
cả 3 yếu tố: tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động Doanhnghiệp phải ứng vốn tiền tệ để hình thành nên các yếu tố này, lượng vốntiền tệ đó chính là vốn kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.1.2 Những đặc trưng của vốn kinh doanh
Khi nghiên cứu về vốn kinh doanh, có thể hiểu trên nhiều góc độkhác nhau, nhưng vốn kinh doanh phải mang những đặc trưng sau:
Vốn phải đại diện cho một lượng tài sản nhất định hay nói cách khác,biểu hiện của vốn là giá trị của tài sản hữu hình và tài sản vô hìnhtrong doanh nghiệp
Trang 7 Vốn phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định đủ để bắtđầu một hoạt động sản xuất kinh doanh.
Vốn phải vận động để đạt được mục tiêu kinh doanh của doanhnghiệp và vốn có giá trị về mặt thời gian
Vốn phải được quản lý chặt chẽ và gắn liền với một chủ sở hữu nhấtđịnh
Vốn được coi là một hàng hoá đặc biệt và những người có nhu cầu
có thể mua hoặc bán vốn trên thị trường ( thị trường tài chính)
1.1.1.3 Quá trình luân chuyển của vốn kinh doanh
Quá trình kinh doanh của doanh nghiệp là quá trình diễn ra thườngxuyên, liên tục, không ngừng.Vốn kinh doanh cũng vận động thườngxuyên, liên tục và lặp đi, lặp lại có tính chất chu kỳ Vốn kinh doanh vậnđộng không ngừng tạo nên sự tuần hoàn liên tục giữa quá trình sản xuất vàtái sản xuất trong hoạt động của doanh nghiệp Kỳ luân chuyển vốn có thểdài hơn hoặc bằng chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp.Quá trình luânchuyển của vốn được thể hiện qua sơ đồ sau:
T – H …SX…H- T’
Trong quá trình vận động trên, nếu T’ > T, doanh nghiệp kinh doanh
có lãi.Ngược lại, khi T >T’ doanh nghiệp đã kinh doanh không có hiệuqủa Vốn bắt đầu bằng hình thái tiền tệ, tiếp đến là hình thái vật tư hànghóa sử dụng trong quá trình sản xuất lao vụ dịch vụ và kết thúc ở hình tháitiền khi giá trị hàng hoá dịch vụ được thực hiện Do sự luân chuyển khôngngừng đó mà tại một thời điểm bất kỳ trong hoạt động SXKD của doanhnghiệp Vốn kinh doanh có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau
Do đặc điểm kinh tế kỹ thuật của từng ngành kinh doanh khác nhau
mà vốn kinh doanh cũng có những đặc điểm khác nhau
Trong lĩnh vực sản xuất thì vốn kinh doanh vận động tuần tự theo sơ
đồ trên
Trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ vốn vận động theo sơ đồ: T- H –
T’
Trang 8 Trong lĩnh vực tiền tệ sơ đồ vận động của vốn là: T- T’
1.1.1.4 Phân loại vốn kinh doanh
Nếu xét theo vị trí, vai trò và đặc điểm chu chuyển của các bộ phậnkhi tham gia vào quá trình SXKD, vốn kinh doanh được chia làm 2 bộ phận
là vốn cố định và vốn lưu động
- Vốn cố định của doanh nghiệp:
Vốn cố định là một bộ phận của vốn kinh doanh ứng trước để muasắm TSCĐ hữu hình Qui mô của TSCĐ tuỳ thuộc vào qui mô vốn cố địnhsong đặc điểm chu chuyển của vốn cố định lại được quyết định bởi sự vậnđộng của TSCĐ Trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp, vốn cố địnhtham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất vì TSCĐ tham gia và phát huy tác dụngtrong nhiều kỳ sản xuất tiếp nối nhau Mặt khác khi TSCĐ tham gia vàoquá trình sản xuất nó không thay đổi hình thái biểu hiện ban đầu mà chỉgiảm dần về tính năng công dụng và kéo theo dó là giảm về giá trị nên vốn
cố định được luân chuyển dần dần từng phần vào giá trị sản phẩm Theo sựluân chuyển đó, vốn cố định được tách là hai phần:
Một phần tương ứng với giá trị hao mòn được chuyển dịch vào giátrị của sản phẩm dưới hình thức khấu hao và được tích luỹ lại thànhquỹ khấu hao sau khi sản phẩm hàng hoá được tiêu thụ để tái sảnxuất TSCĐ nhằm duy trì năng lực sản xuất của doanh nghiệp
Phần giá trị còn lại của TSCĐ được cố định ngay trong bản thânTSCĐ
Hai bộ phận này vận động ngược chiều nhau trong các chu kỳ sảnxuất kế tiếp Kết thúc quá trình vận động ngược chiều đó cũng là lúc TSCĐhết thời gian sử dụng và vốn cố định hoàn thành một vòng tuần hoàn Tạithời điểm đó phần “cố định” đã giảm tới 0 và quĩ khấu hao đã đủ để bù đắplại nguyên giá TSCĐ
Trong các doanh nghiệp sản xuất vốn cố định chiếm tỷ trọng khá lớntrong tổng số vốn của doanh nghiệp Do đó qui mô vốn cố định và trình độquản lý, sử dụng vốn cố định là những nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp đếnhiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 9-Vốn lưu động của doanh nghiệp:
Vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn ứng ra để hình thành nênTSLĐ cuả doanh nghiệp đảm bảo cho quá trình hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp diễn ra một cách thường xuyên, liên tục và trong quá trìnhchu chuyển, giá trị của vốn lưu động được chuyển dịch một lần và được thuhồi toàn bộ khi kết thúc quá trình tiêu thụ sản phẩm Vốn lưu động hoànthành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ kinh doanh
Vốn lưu động là một bộ phận của vốn SXKD ứng ra để hình thànhnên TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông phục vụ cho quá trình sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp TSLĐ sản xuất là những vật tư đang trong quátrình dự trữ sản xuất hay chế biến ) nguyên nhiên vật liệu, phụ tùng thaythế, sản phẩm dở dang,…) có vai trò đảm bảo cho quá trình sản xuất không
bị gián đoạn TSLĐ lưu thông bao gồm các hàng hoá thành phẩm chờ tiêuthụ, các loại vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán, chi phí chờ kết chuyển,chi phí trả trước Hai loại TSLĐ này luôn vận động thay thế và chuyển hoálẫn nhau trong quá trình SXKD của doanh nghiệp
Khác với TSCĐ, TSLĐ của doanh nghiệp luôn thay đổi hình tháibiểu hiện khi tham gia vào quá trình kinh doanh Giá trị của nó đượcchuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm Vì vậy đặc điểm luânchuyển của vốn lưu động cũng khác so với vốn cố định Vốn lưu động bắtđầu từ hình thái tiền tệ chuyển sang hình thái vật tư hàng hoá dự trữ Tronggiai đoạn sản xuất, vốn lưu động tồn tại dưới dạng sản phẩm dở dang, bánthành phẩm Kết thúc sản xuất, vốn lưu động chuyển sang hình thái sảnphẩm chờ tiêu thụ và quay trở lại hình thái tiền ban đầu khi giá trị thànhphẩm được thực hiện Do quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra một cáchliên tục nên vốn lưu động cũng vận động không ngừng tạo ra sự chuchuyển vốn và tại một thời điểm, vốn lưu động có thể tồn tại dưới nhiềuhình thức khác nhau, cả trong sản xuất và lưu thông hàng hoá
Đặc điểm chu chuyển của vốn lưu động đòi hỏi công tác tổ chứcquản lý và sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp phải thực sự có hiệuquả Muốn vậy trước hết doanh nghiệp phải xác định được sát đúng nhucầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết cho hoạt động SXKD Đây là một
Trang 10nội dung quan trọng trong công tác quản lý tài chính của doanh nghiệp.Đảm bảo vừa đủ nhu cầu vốn lưu động cho sản xuất sẽ giúp doanh nghiệptránh được tình trạng ứ đọng vốn cũng như không gây nên sự căng thẳnggiả tạo về nhu cầu vốn, làm gián đoạn quá trình sản xuất Đồng thời doanhnghiệp phải có kế hoạch tổ chức khai thác triệt để các nguồn tài trợ cho nhucầu vốn lưu động và sử dụng vốn lưu động có hiệu quả Luôn chú trọngnâng cao hiệu suất sử dụng vốn lưu động, sử dụng vốn tiết kiệm nhằm bảotoàn và phát triển vốn.
1.1.2 Nguồn hình thành vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Để có thể tiến hành các hoạt động SXKD, doanh nghiệp cần phải có
và có đủ vốn đảm bảo đủ vốn cho sản xuất là vai trò của tài chính doanhnghiệp Tài chính doanh nghiệp phải lựa chọn các phương pháp hình thứchuy động Thu hút vốn sao cho có thể đáp ứng được nhu cầu vốn một cáchđầy đủ, kịp thời nhưng phả phù hợp với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp
Để làm được điều đó cần phải tiến hành phân loại các nguồn vốn khácnhau, tìm ra những ưu, nhược điểm của từng nguồn, trên cơ sở đó có cácbiện pháp huy động vốn thích hợp và hiệu quả Có 3 cách chủ yếu để phânloại nguồn hình thành vốn như sau:
Căn cứ vào phạm vi huy động vốn ta chia thành
Nguồn vốn bên trong: là nguồn vốn có thể huy động được từ chínhhoạt động của bản thân doanh nghiệp.Nguồn vốn này do doanhnghiệp tự bổ sung từ lợi nhuận để lại và quỹ khấu hao, trong đó chủyếu là từ lợi nhuận để lại dưới hình thức lấy từ quỹ đầu tư phát triển,quỹ dự phòng tài chính và nguồn vốn xây dựng cơ bản Ngoài radoanh nghiệp còn có thể huy động một số nguồn vốn kinh doanhkhác, như tiền nhượng bán vật tư không cấn dùng, khoản thu nhậpròng từ thanh lý tài sản cố định
Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp gồm có:
o Nguồn vốn liên doanh: là số vốn được hình thành từ sự đónggóp của các bên tham gia liên doanh Vốn góp liên doanh cóthể bằng tiền hoặc bằng hiện vật (vật tư, hàng hoá,…)
Trang 11o Nguồn vốn đi vay: số vốn này có thể là các khoản vay nợ có
kỳ hạn của các ngân hàng thương mại, các tổ chức tài chínhkhác hoặc là khoản vay thông qua phát hành trái phiếu trên thịtrường vốn
o Nguồn vốn chiếm dụng: là các khoản vốn phát sinh trong quan
hệ thanh toán giữa doanh nghiệp với các đối tượng khác nhưngười bán, CBCNV, Nhà nước…đây là nguồn vốn mà doanhnghiệp có thể tạm thời sử dụng mà không phải trả chi phí sửdụng vốn Do đó doanh nghiệp nên tận dụng tối đa nguồn vốnnày
Cách phân loại này cho thấy cơ cấu huy động vốn của doanh nghiệp.Doanh nghiệp phải chủ động tích cực huy động vốn, duy trì nguồn vốn cũ,tìm kiếm thêm những nguồn vốn mới, có biện pháp hữu hiệu để khai thácđược các lợi thế từ bên ngoài và tận dụng khả năng sẵn có Đối với nhữngnguồn vốn bên trong, doanh nghiệp có toàn quyền sử dụng và tiết kiệmđược chi phí sử dụng vốn, song chính vì thế mà thường gây ra tâm lý ỷ lại,
sử dụng vốn kém hiệu quả Do đó đối với nguồn vốn này, doanh nghiệpphải theo dõi sát sao tranh để gây ra tình trạng thất thoát vốn.Thêm vào đó,
sự giới hạn về quy mô nguồn vốn cũng gây nhiều khó khăn cho doanhnghiệp khi có nhu cầu đầu tư dài hạn.Vì vậy doanh nghiệp nên chủ độngtìm thêm nguồn tài trợ bên ngoài
Đối với những nguồn vốn bên ngoài, doanh nghiệp cần phải cânnhắc kỹ ưu và nhược điểm của từng nguồn cũng như tình hình của doanhnghiệp mình để lựa chọn hình thức huy động phù hợp Việc sử dụng vốnvay có tác động giống như đòn bẩy tài chính và vốn vay càng nhiều thìdoanh nghiệp càng có lợi khi chỉ đóng góp một lượng vốn ít nhưng lại được
sử dụng một lượng tài sản lớn Đặc biệt khi doanh nghiệp tạo ra lợi nhuậntrên tiền vay lớn hơn so với tiền lãi phải trả thì phần lợi nhuận dành chochủ sở hữu sẽ gia tăng rất nhanh Do vậy doanh nghiệp phải cố gắng nângcao hiệu quả sử dụng vốn để có thể đảm bảo trả nợ đầy đủ, đúng hạn đồngthời phải có những biện pháp để phòng các rủi ro khi nền kinh tế có nhữngthay đổi bất lợi đối với doanh nghiệp
Trang 12- Căn cứ vào quan hệ sở hữu, vốn kinh doanh của doanh nghiệp được chiathành hai loại là vốn chủ sở hữu và các khoản nợ phải trả.
Vốn chủ sở hữu: là phần vốn thuộc quyền sở hữu của chủ doanhnghiệp, bao gồm vốn điều lệ do chủ sở hữu đầu tư, vốn do doanhnghiệp tự bổ sung và vốn tài trợ của nhà nước (nếu có)
Nợ phải trả: là những khoản nợ phát sinh trong quá trình kinh doanhcủa doanh nghiệp, bao gồm các khoản nợ vay ngân hàng và các tổchức tài chính khác, tiền vay từ phát hành trái phiếu và các khoảnchiếm dụng tạm thời như khoản phải trả cho người bán, phải trả choCNV,…
Thường thì các doanh nghiệp phải kết hợp cả hai nguồn vốn này mớiđảm bảo được nhu cầu vốn cho SXKD Kết cấu hợp lý của 2 nguồn vốnnày được dựa trên tình hình chung của nền kinh tế, đặc điểm ngành nghề vàtình hình cụ thể của doanh nghiệp
- Căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn, nguồn vốn của doanhnghiệp gồm có nguồn vốn ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn
Nguồn vốn tạm thời: là các nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể tạmthời sử dụng trong thời hạn dưới 1 năm để đáp ứng những nhu cầu
có tính chất tạm thời phát sinh trong hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp Nguồn vốn này bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hànghoặc các tổ chức tín dụng và các khoản vốn doanh nghiệp được tạmthời chiếm dụng
Nguồn vốn thường xuyên: là nguồn vốn tương đối ổn định mà doanhnghiệp có thể sử dụng lâu dài, gồm vốn chủ sở hữu và các khoản vay
nợ dài hạn doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn này để đầu tư, mua sắmhình thành nên TSCĐ và đáp ứng một phần nhu cầu vốn lưu độngthường xuyên cần thiết cho hoạt động SXKD của doanh nghiệp.Cách phân loại này giúp cho người quản lý huy động được cácnguồn vốn phù hợp với thời hạn sử dụng để đáp ứng nhu cầu vốn củadoanh nghiệp mình Mặt khác, trên cơ sở xác định số vốn cần có, các nhàquản lý lập kế hoạch tài chính, kế hoạch khai thác nguồn vốn và kế hoạch
sử dụng vốn để đạt hiệu quả cao nhất
Trang 131.2 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của các doanh nghiệp trong điều kiện nền kinh tế thị trường
1.2.1 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong các doanh nghiệp
Nền kinh tế thị trường là một guồng máy khổng lồ với nhiều thànhphần cùng đan xen hoạt động Để tồn tại và phát triển trong cơ chế đó, cácdoanh nghiệp phải năng động sáng tạo, bám lấy thị trường, ứng dụng khoahọc công nghệ mới vào sản xuất, đầu tư đổi mới máy móc thiết bị, đa dạnghoá thành phẩm và phấn đấu hạ giá thành vì thế doanh nghiệp cần phải cóvốn Vốn là tiền đề, là cơ sở của sản xuất kinh doanh và việc sử dụng vốn
có hiệu quả có ý nghĩa quyết định đối với sự tăng trưởng và phát triển củadoanh nghiệp Do đó trong công tác quản lý tài chính doanh nghiệp phảiluôn coi trọng việc quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Nâng caohiệu quả sử dụng vốn là với quy mô vốn hiện có, bằng sự kết hợp hàng loạtcác biện pháp tổ chức kinh tế, kỹ thuật và tài chính doanh nghiệp có thể đạtđược lợi nhuận tối đa cho mình như vậy sử dụng vốn có hiệu quả haykhông phản ánh trình độ quản lý SXKD của doanh nghiệp cao hay thấp
Song điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt và nhu cầu của thịtrường đối với sản phẩm của doanh nghiệp ngày càng khó khăn đòi hỏidoanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.Một đồng vốn tham gia vào sản xuất kinh doanh phải tạo ra được ngàycàng nhiều đồng doanh thu và lợi nhuận; một mặt vừa nhằm củng cố vị trícủa doanh nghiệp, mặt khác tạo cơ sở để doanh nghiệp mở rộng hoạt độngkinh doanh trong tương lai Đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối vớidoanh nghiệp và trên tầm vĩ mô, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, từ đótăng khả năng phát triển của doanh nghiệp lại có vai trò quyết định đến sựtăng trưởng và phát triển của nền kinh tế
Qua sự phân tích trên cho thấy việc tổ chức đảm bảo vốn cho hoạtđộng SXKD quyết định trực tiếp đến sự sống còn và tương lai phát triểncủa mỗi doanh nghiệp Vấn đề đặt ra là doanh nghiệp phải xác định chínhxác nhu cầu vốn kinh doanh và tổ chức huy động vốn có hiệu quả Đồng
Trang 14thời từng bước nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhằm đạt được các mục tiêukinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
Đích đến cuối cùng của các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp khinghiên cứu vốn kinh doanh là đề xuất được những phương hướng, nhữngbiện pháp sát đáng để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh.Muốnvậy, phải tiến hành xem xét và đánh giá những nhân tố ảnh hưởng đến hiệuquả sử dụng vốn kinh doanh
Xét về mặt khách quan
Hiệu quả sử dụng vốn KD của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của sựbiến động thị trường (lạm phát,lãi suất, chính sách của chính phủ…) vànhững rủi ro bất thường trong kinh doanh Khi nền kinh tế có lạm phát, sứcmua của đồng tiền bị giảm sút dẫn đến giá cả vật tư hàng hoá tăng lên, nếudoanh nghiệp không kịp thời điều chỉnh các loại tài sản đó thì sẽ làm chovốn kinh doanh của doanh nghiệp bị mất dần theo tốc độ trượt giá của tiền
tệ Mặt khác những rủi ro khó lường trước được như sự bất ổn của thitrường, thiên tai, hoả hoạn… cũng ảnh hưởng xấu đến hiệu quả sử dụngvốn kinh doanh
Xét về mặt chủ quan
Việc xác định nhu cầu vốn hay việc lựa chọn phương án đầu tư cũng
là những nhân tố cơ bản ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sử dụng vốn Vốnđược xác định thừa hay thiếu, các sản phẩm sản xuất ra không phù hợp vớithị hiếu người tiêu dùng đều làm giảm hiệu quả của đồng vốn được sửdụng
Ngoài ra cơ cấu vốn bất hợp lý cũng là một nhân tố ảnh hưởng đếnhiệu quả sử dụng vốn Bởi vì vốn đầu tư vào nhiều vào những tài sản khôngcần sử dụng thì không những không phát huy được tác dụng trong quá trìnhSXKD mà còn bị hao hụt, mất mát dần làm giảm hiệu quả sử dụng vốn
Việc sử dụng lãng phí vốn, nhất là vốn lưu động như: mua các loạivật tư không phù hợp với quy trình sản xuất, không đúng tiêu chuẩn kỹthuật và chất lượng qui định, không tận dụng hết các loại phế phẩm, phế
Trang 15liệu cũng tác động không nhỏ đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh củadoanh nghiệp
Trình độ quản lý của doanh nghiệp yếu kém, hoạt động kinh doanhthua lỗ kéo dài làm vốn bị thâm hụt dần sau mỗi chu kỳ sản xuất dẫn đếnhiệu quả sử dụng vốn giảm
Trên đây là những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụngvốn kinh doanh của doanh nghiệp Để hạn chế những thiệt hại do chúnggây nên, các doanh nghiệp cần xem xét, nghiên cứu chi tiết từng nhân tốmột, nhăm giảm tới mức thấp nhất những hậu qủa xấu có thể xảy ra đápứng kịp thời và đầy đủ nhu cấu vốn cho sản xuất, đồng thời làm cho hiệuquả sử dụng vốn ngày càng tăng
1.2.3 Các chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh kỳ này là một bước cầnthiết để doanh nghiệp nắm bắt được tình hình thực tế của doanh nghiệpmình và đề ra những phương hướng, biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sửdụng vốn kỳ tiếp theo Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh củadoanh nghiệp, người ta sử dụng một số chỉ tiêu cơ bản sau:
1.2.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá kết cấu vốn của doanh nghiệp
Mỗi chỉ tiêu cho phép nhận biết được kết cấu vốn của doanh nghiệp,tổng số nợ của doanh nghiệp trong tổng vốn, từ đó giúp doanh nghiệp vàcác bộ phận liên quan đánh giá được mức độ độc lập về mặt tài chính củadoanh nghiệp và cân nhắc những rủi ro có thể xảy ra Đây cũng là một căn
cứ để doanh nghiệp ra các quyết định về huy động và sử dụng vốn sản xuấtkinh doanh trong kỳ sau
Tổng số nợ của doanh nghiệp
Trang 161.2.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Quá trình kinh doanh của doanh nghiệp cũng là quá trình hình thành
và sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp.Vì vậy hiệu quả sử dụng vốnđược thể hiện ở số lợi nhuận doanh nghiệp thu được trong kỳ và mức sinhlời của đồng vốn kinh doanh.Lợi nhuận là chỉ tiêu tuyệt đối, để đánh giáđầy đủ hơn hiệu quả sử dụng vốn từ nhiều góc độ khác nhau, cần phải sửdụng nhiều chỉ tiêu khác nhau để đánh giá mức sinh lời của đồng vốn kinhdoanh
+ DTT: Doanh thu thuần bán hàng đạt được trong kỳ
+ VKD: Vốn kinh doanh bình quân đạt được trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh vốn kinh doanh trong kỳ chu chuyển được baonhiêu vòng hay mấy lần.Chỉ tiêu này đạt cao, hiệu suất vốn kinh doanhcàng cao
o Tỷ suất lợi nhuận trước lãi vay và thuế trên vốn kinhdoanh( hay tỷ suất sinh lời của tài sản)
E ROA =
Vkd EBIT
Trong đó:
+ ROAE: Tỷ suất lợi nhuận trước lãi vay và thuế trên vốn kinh doanh( hay
tỷ suất sinh lời của tài sản)
+ EBIT: Lợi nhuận trước lãi vay và thuế
+ Vkd: Vốn kinh doanh bình quân sử dụng trong kỳ
Trang 17Chỉ tiêu này cho phép đánh giá khả năng sinh lời của một đồng vốnkinh doanh, không tính đến ảnh hưởng của thuế thu nhập doanh nghiệp vànguồn gốc kinh doanh
o Tỷ suất lợi nhuận sau thuế sau vốn kinh doanh:
Vkd
NI ROA
Trong đó:
+ ROA: Tỷ suất lợi nhuận sau thuế vốn kinh doanh
+ NI: Lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp
+ Vkd: Vốn kinh doanh bình quân sử dụng trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh mỗi đồng vốn kinh doanh bình quân trong kỳtạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế
o Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu:
E
NI ROE
Trong đó:
+ ROE: Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu
+ NI: Lợi nhuận sau thuế
+ E : Vốn chủ sở hữu bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh mỗi đồng vốn chủ sở hữu bình quân trong kỳtạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế cho vốn chủ sở hữu
Vốn cố định
o Hiệu suất sử dụng vốn cố định:
Hiệu suất sử dụng vốn cố định= VCĐ DTTChỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn cố định có thể tham gia tạo
ra bao nhiêu đồng doanh thu bán hàng trong kỳ
o Hiệu suất sử dụng tài sản cố định:
Trang 18Hiệu suất sử dụng tài sản cố định= NGTSCĐ DTTChỉ tiêu này phản ánh một đồng tài sản cố định trong kỳ tham gia tạo
ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần.Thông qua chỉ tiêu này cũng cho phépđánh giá trình độ sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp
Vòng quay các khoản phải thu= NPTBQ DTT
1.3 Một số biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
1.3.1 Các nguyên tắc cần quán triệt trong tổ chức sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Tổ chức sử dụng vốn kinh doanh là một trong những vai trò chủ yếucủa quản trị tài chính doanh nghiệp Nó ảnh hưởng trực tiếp đến kết quảhoạt động, đến sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp Do đó côngtác sử dụng vốn phải được tiến hành một cách cu đáo, có hệ thống và phảituân theo những nguyên tắc nhất định, cụ thể như sau:
Một là: Đảm bảo vốn được sử dụng tiết kiệm và hiệu quả Sau khi
đã huy động đầy đủ và kịp thời số vốn cần thiết thì vấn đề đặt ra là phải sửdụng vốn như thế nào để đem lại hiệu quả kinh doanh cao nhất Điều đó đòihỏi doanh nghiệp phải sử dụng tiết kiệm số vốn đã huy động được Tiếtkiệm không có nghĩa là cắt xén vốn ở các khâu mà là đáp ứng nhu cầu vốnhợp lý với mức tiêu dùng vốn thấp nhất có thể Doanh nghiệp phải làm thế
Số vốn cố định đang dùng trong hoạt động kinh doanh
Hệ số huy
động vốn cố
Trang 19nào hạn chế được sự hao phí từng đồng vốn nhưng vẫn đảm bảo hoạt độngsản xuấtkinh doanh diễn ra thường xuyên liên tục Mặt khác phải có biệnpháp để nâng cao tối đa hiệu quả kinh tế của mỗi đồng vốn được sử dụng.
Có như thế nới mang lại hiệu quả kinh doanh cao nhấ
Hai là: Đảm bảo sự phân phối hợp lý trong từng khâu của quá trình
sản xuất kinh doanh Việc phân bổ vốn cho từng khâu đã được dự tính khilập kế hoạch sử dụng vốn Sự phân bổ vốn hợp lý thể hiện ở sự hợp lý về
số lượng vật tư sự trữ, về thời gian vốn nằm ở các khâu sản xuất và lưuthông, về sự tương ứng giữa lượng vật tư tiêu dùng với nhiệm vụ SXKD,…tránh tình trạng vốn bị ứ đọng, lãng phí, vốn chậm luân chuyển đồng thờikhông để xảy ra tình trạng thiếu vốn, làm gián đoạn quá trình sản xuất Cónhư vậy hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp mới cao
Ba là: Vốn kinh doanh của doanh nghiệp phải đượcbảo toàn và phát
triển trong hoạt động SXKD Trong quá trình sử dụng vốn phải được bảotoàn cả về số lượng lẫn chất lượng Như ta đã biết giá trị từng bộ phận củavốn kinh doanh được chuyển dịch vào giá trị sản phẩm sản xuất ra dướinhiều hình thức khác nhau
Điều đó có nghĩa là sự hao mòn dần giá trị vốn cố định và vốn lưuđộng phải luôn được bù đắp bằng sự tăng lên của giá trị sản phẩm doanhnghiệp không được để xảy ra tình trạng thất thoát vốn, đồng thời phải cónhững biện pháp hữu hiệu để đối phó với những biến động của môi trườngkinh doanh bất lợi cho nguồn vốn của doanh nghiệp Mặt khác vốn kinhdoanh của doanh nghiệp phải luôn được phát triển, hay nói cách khác phảiđảm bảo duy trì và tăng cường sức mua của vốn Chú trọng đổi mới trangthiết bị, bảo dưỡng duy tu TSCĐ đúng chế độ, sử dụng đúng định mức vàtăng nhanh vòng quay vốn lưu động Như thế hiệu quả sử dụng vốn lưuđộng được nâng cao đẫn đến hiệu quả SXKD cũng sẽ được nâng cao
1.3.2 Một số biện pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trong doanh nghiệp
Để bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh, doanhnghiệp cần căn cứ vào điều kiện tình hình kinh doanh cụ thể để đề ra cácbiện pháp thích ứng để quản lý từng thành phần vốn kinh doanh.Sau đây là
Trang 20một số biện pháp chủ yếu mà doanh nghiệp cần chú ý trong quá trình quản
lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Thứ nhất: Xác định sát đúng nhu cầu vốn tối thiểu cần thiết cho
hoạt động SXKD của doanh nghiệp Trên cơ sở đó lập kế hoạch huy độngcác nguồn tài trợ cho nhu cầu vốn Hạn chế tình trạng thiếu vốn gây giánđoạn quá trình sản xuất hay phải đi vay bổ sung với lãi suất cao Nếu cóvốn tạm thời chưa được sử dụng thì doanh nghiệp phải có biện pháp xử lýlinh hoạt không để tình trạng vốn chết, không phát huy được hiệu quả củađồng vốn
Công việc đầu tiên cần phải làm là doanh nghiệp phải xác định chínhxác nhu cầu vốn cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh được tiếnhành bình thường và liên tục, từ đó có kế hoạch huy động vốn kịp thời vàđầy đủ Doanh nghiệp phải tránh xác định nhu cầu vốn quá cao hay quáthấp Nếu quá cao sẽ không khuyến khích doanh nghiệp khai thác các khảnăng tiềm tàng; vật tư hàng hoá tồn đọng nhiều; số vốn thừa tham gia vàohoạt động SXKD không mang lại hiệu quả cao, vốn chậm luân chuyển nênhiệu suất sử dụng vốn thấp; chi phí không cần thiết phát sinh làm tăng giáthành sản phẩm trong khi doanh nghiệp lại có thể để mất cơ hội đầu tư khác
có khả năng mang lại hiệu quả cao hơn Nếu nhu cầu vốn kinh doanh đượcxác định là quá thấp sẽ gây ra nhiều khó khăn cho hoạt động của doanhnghiệp, làm gián đoạn quá trình sản xuất dẫn đến những thiệt hại ngừng sảnxuất; doanh nghiệp không có khả năng thanh toán và khó thực hiện các hợpđồng đã ký Trường hợp này cũng không mang lại hiệu quả sản xuất kinhdoanh như mong muốn Bởi vậy cho nên, việc xác định chính xác nhu cầuvốn là cần thiết đối với mỗi doanh nghiệp
Xác định sát đúng nhu cầu vốn là niệm vụ cơ bản được đặt ra chodoanh nghiệp Với một khối lượng sản phẩm sản xuất theo kế hoạch dựtính, theo nhu cầu thị trường và khả năng hiện có của doanh nghiệp đòi hỏidoanh nghiệp phải làm thế nào để tổ chức vốn hợp lý nhằm đạt hiệu quảcao Nói cách khác là doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn,đảm bảo sản xuất vẫn bình thường và phát huy tối đa sức mạnh của đồngvốn Xác định đúng nhu cầu vốn không những là cơ sở để tổ chức huy độngvốn mà còn là cơ sở để doanh nghiệp áp dụng các phương thức và biện
Trang 21pháp kinh tế tài chính vào sản xuất nhằm đạt được hiệu quả kinh doanh caonhất.
Xác định nhu cầu vốn cũng là một trong những yêu cầu của công tácquản lý vốn vì muốn cho sản xuất đạt hiệu quả ngày càng cao thì việc xácđịnh nhu cầu vốn nhất thiết phải đặt ra ngay sau khi kết thúc một chu kỳSXKD Điều này không thể không làm vì các bộ phận của vốn kinh doanhđược chuyển dịch vào giá trị sản phẩm dưới nhiều hình thức khác nhau.TSCĐ - hình thái hiện vật của vốn cố định, bị hao mòn dần theo sự tăngdần của thời gian sử dụng, giá trị của nó sẽ giảm dần và bằng 0 khi TSCĐkhông còn sử dụng được nữa Vốn lưu động được chuyển dịch toàn bộ mộtlần vào giá trị sản phẩm làm ra và kết thúc vòng tuần hoàn sau mỗi chu kỳsản xuất Vì thế để chu kỳ sản xuất tiếp theo đạt hiệu quả cao cần phải đầu
tư đổi mới TSCĐ và đảm bảo đầy đủ kịp thời vốn lưu động bổ sung Màdoanh nghiệp chỉ có thể làm được điều đó trên cơ sở kế hoạch nhu cầu vốn
đã được xác định trước
Tuy nhiên việc xác định nhu cấu vốn kinh doanh của doanh nghiệpphải được dựa trên những căn cứ nhất định Trước hết đó là quy mô sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp Nhu cầu vốn của doanh nghiệp tỷ lệthuận với quy mô kinh doanh và sự thay đổi của quy mô kinh doanh Nếudoanh nghiệp có kế hoạch mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh hay đầu
tư phát triển chiều sâu thì tất yếu phải trang bị kỹ thuật hiện đại, đổi mớimáy móc thiết bị và tăng thêm nguồn vốn lưu động Cũng có thể doanhnghiệp chuyển sang thị trường mới hay thu hẹp sản xuất thì nhu cầu vốn lạigiảm xuống Chính vì vậy doanh nghiệp phải có kế hoạch xác định nhu cầuvốn cần thiết và có kế hoạch sử dụng vốn hợp lý, phát huy tối đa tác dụngcủa từng đồng vốn trong hoạt động của mình
Bên cạnh đó, việc xác định nhu cầu vốn cũng phải dựa trên mức cầu
về nguyên vật liệu dự trữ và sản xuất trên thị trường và giá cả của từng loạivật tư hàng hoá để điều chỉnh cho phù hợp Mặt khác doanh nghiệp phảiphấn đấu sử dụng tiết kiệm vốn, sắp xếp thời gian vốn nằm trong các giaiđoạn của quá trình sản xuất như vậy hiệu quả sử dụng vốn mới cao
Trang 22Ngoài ra trình độ quản lý của doanh nghiệp, nhất là việc bảo toàn vàphát triển vốn cũng là một nhân tố quan trọng tác động đến việc xác địnhnhu cầu vốn kinh doanh của doanh nghiệp Khi doanh nghiệp tổ chức tốtquá trình sản xuất, giám sát việc sử dụng vốn hợp lý, đúng định mức vàlinh hoạt xử lý các tình huống bất thường xảy ra thì mới mang lại hiệu quảcao đồng vốn bỏ ra phải đảm bảo quay vòng nhanh và đồng bộ, vốn phảiluôn được bảo toàn và phát triển nhằm đạt tới hiệu quả sử dụng cao nhất.
Xác định được nhu cầu vốn, vấn đề tiếp theo là công tác tổ chức huyđộng các nguồn tài trợ cho nhu cầu vốn đó Trong điều kiện nền kinh tế thịtrường hiện nay, có rất nhiều hình thức và phương pháp huy động vốn.Doanh nghiệp phải lựa chọn phương pháp, hình thức phù hợp để đáp ứngđược nhu cầu vốn mà chỉ phải trả chi phí sử dụng vốn thấp nhất nhằm tăngcao hơn lợi nhuận của doanh nghiệp Như vậy hiệu quả sử dụng vốn cũngđược nâng cao vì lợi nhuận cao sẽ làm tăng doanh lợi vốn
Thứ hai: Lựa chọn các hình thức, phương pháp huy động vốn tích
cực; chủ động khai thác triệt để các nguồn vốn bên trong để đáp ứng kịpthời nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh và giảm được chi phí sử dụngvốn; đồng thời tận dụng linh hoạt các nguồn vốn thích hợp bên ngoài chocác phương án đầu tư lớn Vì thế đòi hỏi người quản lý phải xác định đượcmức độ sử dụng nợ vay có hiệu quả nhất Không để xảy ra tình trạng vật tưhàng hóa kém phẩm chất, tài sản không cần sử dụng chiếm tỷ trọng lớntrong khi doanh nghiệp vẫn phải đi vay vốn bên ngoài với lãi suất cao, làmgiảm hiệu quả SXKD
Thứ ba: Phải có phương án đầu tư hiệu quả Doanh nghiệp phải nắm
chắc hiệu quả đầu tư, nguồn tài trợ, quy trình công nghệ, tình hình cung cấpnguyên vật liệu và thị trường tiêu thụ sản phẩm trước khi bắt đầu một quátrình đầu tư Để đảm bảo cho sự phù hợp về máy móc thiết bị, sự hợp lý vềkết cấu TSCĐ và chi phí sử dụng vốn thấp nhất, đồng thời nguyên vật liệuphải được cung cấp đầy đủ khi cần và sản phẩm làm ra phải có sức cạnhtranh và được thị trường chấp nhận
Thứ tư: Tổ chức tốt quá trình sản xuất và đẩy mạnh công tác tiêu
thụ, không ngừng nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, tạo
Trang 23sự ăn khớp giữa các bộ phận trong doanh nghiệp, phấn đấu hạ giá thành sảnphẩm, tiết kiệm nguyên vật liệu, khai thác tối đa công suất máy móc thiết bịhiện có Bên cạnh đó phải tổ chức tốt công tác bán hàng, công tác thanhtoán và thu hồi nợ, nhằm giảm tối đa thành phẩm trong kho.
Thứ năm: Chủ động phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh và thực
hiện tốt công tác thanh toán công nợ Doanh nghiệp phải chủ động có kếhoạch thu hồi tiền bán hàng, hạn chế tình trạng vốn bị chiếm dụng dẫn đếndoanh nghiệp phải đi vay ngoài với lãi suất cao khi phát sinh nhu cầu vốn
bổ sung Hơn nữa vốn bị chiếm dụng rất dễ trở thành nợ khó đòi khi kháchhàng gặp rủi ro, làm thất thoát vốn của doanh nghiệp, đặc biệt là kinhdoanh trong cơ chế thì trường Do đó để chủ động phòng ngừa, doanhnghiệp cần mua bảo hiểm, lập quỹ dự phòng tài chính để có nguồn bù đắpkhi có rủi ro xảy ra
Thứ sáu: Quản lý chặt chẽ, huy động tối đa tài sản hiện có vào hoạt
động kinh doanh để góp phần nâng cao hiệu suất sử dụng vốn kinhdoanh.Đặc biệt cần chú trọng đến công tác quản lý tài sản cố định.lựa chọnphương pháp khấu hao và mức khấu hao hợp lý.Quản lý chặt chẽ và sửdụng có hiệu quả quỹ khấu hao tài sản cố định.Thực hiện tốt việc sửa chữalớn tài sản cố định cùng với việc hiện đại hóa tài sản cố định để tăng thêmsức cạnh tranh của doanh nghiệp.Doanh nghiệp được quyền cho thuê, thếchấp, cầm cố tài sản của doanh nghiệp theo nguyên tắc có hiệu quả, bảotoàn và phát triển vốn của doanh nghiệp
Trên đây là một số biện pháp cơ bản có thể áp dụng để nâng cao hiệuquả sử dụng vốn kinh doanh trong doanh nghiệp Song tuỳ thThuộc vàotừng lĩnh vực kinh tế, tuỳ thuộc từng loại hình doanh nghiệp, tuỳ thuộc vàođiều kiện thị trường, căn cứ vào các biện pháp chung đó mỗi doanh nghiệp
tự lựa chọn cho mình một phương hướng biện pháp cụ thể có tính khả thinhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
Trang 24CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC QUẢN LÝ VÀ HIỆU QUẢ
SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH Ở CÔNG TY CỔ PHẦN NGÂN SƠN 2.1 Khái quát về hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần Ngân Sơn 2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển
Tên công ty: Công ty cổ phần Ngân Sơn
Tên giao dịch quốc tế: NGAN SON JOINT STOCK COMPANY
Công ty Cổ phần Ngân Sơn, tiền thân là Công ty Nguyên liệu Thuốc
lá Bắc, là đơn vị thành viên hạch toán độc lập thuộc Tổng Công ty Thuốc láViệt Nam (Vinataba), được thành lập theo Quyết định số 1987/QĐ-TCCBngày 20 tháng 7 năm 1996 của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp, hoạt động chủyếu trong lĩnh vực sản xuất, chế biến, kinh doanh và xuất khẩu nguyên liệuthuốc lá
Ngày 13 tháng 5 năm 2005, Bộ trưởng Bộ Công nghiệp đã ký Quyếtđịnh số 1738/QĐ-TCCB về việc phê duyệt phương án và chuyển Công tyNguyên liệu Thuốc lá Bắc thành Công ty Cổ phần Ngân Sơn
Ngày 4 tháng 7 năm 2005, Bộ trưởng Bộ Công nghiệp đã ký Quyếtđịnh số 2203/QĐ-TCCB sửa đổi khoản 4 Điều 1 Quyết định số 1738/QĐ-TCCB ngày 13 tháng 5 năm 2005 về việc phê duyệt phương án và chuyểnCông ty Nguyên liệu Thuốc lá Bắc thành Công ty Cổ phần Ngân Sơn
Công ty Cổ phần Ngân Sơn được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinhdoanh Công ty Cổ phần số 0103009019 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thànhphố Hà Nội cấp lần đầu ngày 31 tháng 08 năm 2005, đăng ký thay đổi lầnthứ 1 ngày 08 tháng 09 năm 2006 với số vốn điều lệ là 39.331.000.000đồng
Trải qua nhiều năm xây dựng và phát triển, đến nay Công ty có hệthống các chi nhánh quản lý đầu tư, gieo trồng và thu mua nguyên liệu ởhầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của công ty cổ phần Ngân Sơn
2.1.2.1 Chức năng
Trang 25Căn cứ vào Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0103009019thay đổi lần thứ 1 ngày 8 tháng 9 năm 2006 do Sở kế hoạch và đầu tư thànhphố Hà Nội cấp thì Công ty hiện đang hoạt động các ngành, nghề kinhdoanh sau:
Trồng trọt, thu mua, chế biến và tiêu thụ nguyên liệu thuốc lá và các sảnphẩm nông nghiệp;
Kinh doanh thuốc lá bao, nguyên liệu, phụ liệu phục vụ cho ngành thuốclá;
Xuất nhập khẩu các mặt hàng nông, thủy, hải sản và hàng tiêu dùng;Sản xuất và mua bán vật tư nông nghiệp (không bao gồm thuốc bảo vệthực vật và nguyên liệu làm thuốc) và các sản phẩm nhựa;
Kinh doanh kho bãi, kinh doanh dịch vụ kho vận, kho ngoại quan;
Kinh doanh các hoạt động dịch vụ: ăn uống, nhà hàng Lữ hành nội địa,
lữ hành quốc tế và các dịch vụ phục vụ khách du lịch (không bao gồmkinh doanh phòng hát karaoke, vũ trường, quán bar)
2.1.2.2 Nhiệm vụ
Trong các năm qua, nhiệm vụ kinh doanh chủ yếu của Công ty làđầu tư gieo trồng, thu mua, chế biến và bán nguyên liệu thuốc lá cho thịtrường nội địa và xuất khẩu Ngoài ra, Công ty còn tiến hành sản xuất, kinhdoanh bình bơm,thuốc lá bao,kinh doanh vật nuôi lâm sản và thực hiện cácdịch vụ: ủy thác nhập khẩu nguyên liệu thuốc lá
2.1.3 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý của công ty
Là một công ty cổ phần, bộ máy quản lý của công ty tuân theo hìnhthức tổ chức của công ty cổ phần.Cơ cấu tổ chức quản lý của công ty baogồm: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Giám đốc,ban kiểm soát
Đại hội đồng cổ đông: Đại hội đồng cổ đông gồm tất cả các cổ đông
có quyền biểu quyết, là cơ quan có quyền quyết định cao nhất củacông ty.Đại hội đồng cổ đông thông qua định hướng phát triển củacông ty.Quyết định loại cổ phần và tổng số cổ phần từng loại đượcchào bán; quyết định mức cổ tức hàng năm của từng loại cổ
Trang 26phần.Đây cũng là tổ chức có quyền bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệmthành viên của Hội đồng quản trị, thành viên ban kiểm soát.
Hội đồng quản trị: là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhândanh công ty để thực hiện các quyền và nghĩa vụ khác của công tykhông thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông.Hiện nay hộiđồng quản trị của công ty có… thành viên
Hình 1: Sơ đồ tổ chức của công ty cổ phần Ngân Sơn
Giám đốc: là người điều hành công việc kinh doanh hằng ngày củacông ty; chịu sự giám sát của Hội đồng quản trị.Giám đốc là người
Trang 27đại diện theo pháp luật của công ty, đồng thời giám đốc cũng phảichịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị về việc thực hiện cácquyền và nghĩa vụ được giao.Giúp việc cho giám đốc có hai phógiám đốc phụ trách chuyên môn.
Ban kiểm soát: Do Đại hội đồng cổ đông bầu nhiệm và bãi miễn.bankiểm soát chịu trách nhiệm giám sát Hội đồng quản trị và giám đốctrong việc quản lý và điều hành công ty; chịu trách nhiệm trước Đạihội đồng cổ đông về việc thực hiện các nhiệm vụ được giao
Hiện tại công ty có bảy phòng nghiệp vụ và 5 chi nhánh đặt tại cáctỉnh: Lạng Sơn, Bắc Cạn, Thái Nguyên,Bắc Giang và một xí nghiệpchế biến đặt tại khu công nghiệp Tiên Sơn- Bắc Ninh
2.1.4 Đặc điểm tổ chức sản xuất của công ty cổ phần Ngân Sơn
Quy trình sản xuất của công ty
Sản phẩm chính của công ty là thuốc lá lá và thuốc lá cọng.Công ty
có dây chuyền chế biến liên tục kiểu giản đơn Nguyên liệu đầu vào là láthuốc lá, do các chi nhánh của công ty trực tiếp thu mua tại các vùngnguyên liệu, được phân thành 17 cấp theo tiêu chuẩn TC 26- 1- 02 vàđược tiến hành sơ chế theo quy trình dưới đây Sản phẩm đầu ra là thuốc lá
lá và thuốc lá cọng được đóng gói 200 kg/ thùng
Theo quy trình sơ chế đã nêu, nguyên liệu đầu vào là lá thuốc lá trảiqua quá trình phân loại, được đưa vào sơ chế tại xí nghiệp chế biến thuốc lácủa công ty.Tại đây, sau khi đi qua Tipping , nguyên liệu được phân thànhhai loại là đầu lá và đuôi lá.Sau quá trình hấp ẩm lần một, các công nhân sẽtiến hành lựa lá dưới sự chỉ đạo kỹ thuật của các cán bộ kỹ thuật thuộcphòng kiểm soát chất lượng sản phẩm.Những lá đủ tiêu chuẩn kỹ thuật sẽđược lựa chọn để thực hiện hấp ẩm lần hai.Phần đuôi lá sau khi được tước
và tách cọng sẽ được phân thành hai phần.Phần lá sẽ đưa vào sấy cùngphần đầu lá.Phần cọng được sấy riêng.Sau khi công đoạn sấy được thựchiên, thuốc lá lá và thuốc lá cọng được đóng thùng.Quy cách sản phẩm làthùng có khối lượng 200kg, có dán nhãn ghi đầy đủ các thông số liên quan
về ngày sản xuất, khối lượng, mã sản phẩm, kho nhập
Trang 28Hình 2: Quy trình sơ chế thuốc lá của công ty cổ phần Ngân Sơn
2.1.5 Bảng tổng hợp kết quả sản xuất kinh doanh trong 5 năm gần đây của công ty ( từ 2004- 2008)
Như hầu hết các doanh nghiệp khác, trước những thay đổi của cơ chếmới, công ty cũng gặp không ít khó khăn làm ảnh hưởng đến quá trình hoạtđộng kinh doanh của mình
Với những lỗ lực vượt bậc, tập thể cán bộ công nhân viên toàn công
ty đã từng bước vươn lên khắc phục khó khăn, khẳng định bản thân Chấpnhận cạnh tranh, hạ giá thành và tìm kiếm thị trường, công ty đã từng bước
Hấp ẩm lần hai
Tước và tách cọng
Sống cọng Sấy
Packing Packing
Trang 29vươn lên đưa hàng hoá của mình đến với thị trường nước ngoài, cán bộcông nhân viên công ty có việc làm và thu nhập ổn định Ta có thể xem xéthoạt động kinh doanh của công ty qua số liệu ở biểu 1.
Biểu 1: Một số chỉ tiêu về kết quả sản xuất kinh doanh của công ty cổ
phần Ngân Sơn trong 5 năm gần đây.
và tháng 12/ 2006, công ty đã chính thức niêm yết cổ phiếu của mình trênSàn giao dịch chứng khoán Hà Nội với mã chứng khoán NST.Đây chính lànhân tố thúc đẩy hiệu quả hoạt động của công ty, biến công ty từ mộtdoanh nghiệp làm ăn không hiệu quả trở thành một doanh nghiệp hoạt độnghiệu quả.Lợi nhuận năm 2006 gấp năm lần năm 2005, và luôn duy trì tốc
độ tăng đều đặn.Mức đóng góp vào ngân sách Nhà nước tăng liên tục sau
cổ phần hóa.Năm 2008, mức đóng góp vào Ngân sách gấp bảy lần năm2004
Cùng với sự tăng lên của kết quả kinh doanh, trình độ và mức sốngcủa đội ngũ cán bộ công nhân viên của công ty cũng không ngừng đượcnâng cao.Tính đến thời điểm tháng 2/ 2009, toàn công ty có 520 lao động,trong đó số lao động có trình độ trên đại học là 7 người, 73 lao động cótrình độ đại học, 54 lao động có trình độ trung cấp.Mức lương trung bình
Trang 30của người lao động năm 2008 là 2,7 triệu đồng/ 1 tháng, một mức khá cao
so với mặt bằng chung của khu công nghiệp Tiên Sơn
Như vậy qua nhìn nhận khái quát một số kết quả mà công ty đã đạtđược trong những năm gần đây, có thể thấy rằng, với nỗ lực bản thân, công
ty đang ngày càng phát triển và đứng vững trong xu thế mới, cạnh tranh vàhội nhập
2.2 Thực trạng sản xuất kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của công ty trong năm 2008
Đối với công ty cổ phần Ngân Sơn , việc huy động vốn, sử dụng vốn
có hiệu quả và không ngừng nâng cao hiệu quả cũng là một vấn đề cấpbách có tính chiến lược nhằm đạt được lợi nhuận tối đa, củng cố địa vịcông ty trong nền kinh tế Đặc biệt, năm 2005, công ty tiến hành cổ phầnhóa và tháng 12/2006 công ty niêm yết chứng khoán trên HASTC, việccông khai minh bạch tình hình tài chính của công ty trên các phương tiệnthông tin đại chúng đòi hỏi các nhà quản lý phải có những giải pháp khảthi trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh nhằm tạo uy tín vớicác nhà đầu tư và các tổ chức tín dụng Muốn làm được điều đó trước tiênphải hiểu rõ những thuận lợi và khó khăn cơ bản của công ty trong giaiđoạn hiện nay:
Thuận lợi
Năng lực tài chính:
Trước cổ phần hóa, Công ty Nguyên liệu thuốc lá Bắc ( nay là Công
ty cổ phần Ngân Sơn) thành lập từ năm 1996 trên cơ sở sát nhập các Trạmnguyên liệu thuốc lá trực thuộc các nhà máy thuốc lá phía Bắc.Với số vốnban đầu chỉ có 1.453 triệu đồng, qua nhiều năm hoạt động dưới mô hìnhdoanh nghiệp Nhà nước, Vốn chủ sở hữu không đủ để hoạt động kinhdoanh của công ty diễn ra bình thường, công ty phải đi vay Ngân hàng.Với
cơ chế cũ, việc đi vay không phải là dễ dàng.Công ty hoạt động kinh doanhtrong lĩnh vực nông nghiệp, chịu tác động bởi điều kiện tự nhiên: khí hậu,sâu bệnh, Do đó, kết quả kinh doanh của Công ty thiếu tính ổn định, công
ty không có điều kiện trích lập các quỹ từ lợi nhuận sau thuế để đầu tưphát triển.Năm 2005, công ty tiến hành cổ phần hóa với mức vốn điều lệ là
Trang 3127.500 triệu đồng, về cơ bản đã đáp ứng đủ vốn cố định cho hoạt động sảnxuất kinh doanh, vốn lưu động công ty vay của các tổ chức tín dụng.Dovậy, hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty tăng lên đáng kể, thươnghiệu của công ty được nâng cao.Năng lực tài chính từ đó được nâng cao.
Xây dựng chiến lược kinh doanh hợp lý và năng động
a) Đa dạng hóa lĩnh vực kinh doanh: ngoài kinh doanh nguyên liệuthuốc lá, công ty còn kinh doanh dịch vụ ủy thác nhập khẩunguyên liệu thuốc lá điếu, kinh doanh bình phun thuốc trừ sâu,thuốc lá bao
b) Đa dạng hóa sản phẩm kinh doanh
c) Mở rộng thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước: Công ty khôngchỉ cung ứng thuốc lá cho các doanh nghiệp trong Tổng công ty
mà còn mở rộng đến các công ty trong Hiệp hội thuốc lá.Trướcđây, công ty chỉ bán sản phẩm cho những bạn hàng truyền thốngnhư công ty thuốc lá Sài Gòn, công ty thuốc lá Thăng Long.Hiệnnay, công ty đã mở rộng quan hệ với các công ty thuốc lá miềnTây.Mặt khác, công ty còn hợp tác xuất khẩu nguồn nguyên liệutrong nước sang thị trường Đông Nam Á, EU, Trung Đông
Đổi mới bộ máy quản lý khoa học và hiệu quả
Từ năm 2004 trở về trước , công ty hoạt động theo mô hình DNNN,chịu sự điều hành từ tổng công ty, hoạt động theo cơ chế thị trường nhưngvẫn mang nặng tính bao cấp.Giám đốc là người đứng đầu và có quyềnquyết định tất cả.Theo mô hình này thì tính chủ động và linh hoạt khôngcao, hoạt động sản xuất theo tính bao cấp, dựa dẫm.Từ năm 2005 đến nay ,
cơ cấu tổ chức có sự thay đổi theo mô hình của công ty cổ phần.Theo đó,trách nhiệm của ban lãnh đạo sẽ cao hơn vì họ phải chịu trách nhiệm trướcĐHĐ cổ đông về kết quả kinh doanh của công ty.Bộ máy tổ chức của công
ty được tinh giản và kiện toàn, đã phát huy hiệu quả rõ rệt
Khó khăn
Vai trò quản lý của Nhà nước: theo quy định của Chính phủ thì
kinh doanh nguyên liệu thuốc lá là loại hình kinh doanh có điều kiện,
Trang 32các tổ chức, các cá nhân kinh doanh loại hình này phải có giấy phépcủa sở Công thương, phải có cán bộ, kho tàng, nhưng trên thực tếnhiều tổ chức không đầu tư hoặc đầu tư lấy lệ vẫn tiến hành tổ chứcthu mua sản lượng đầu tư Công ty quản lý dẫn đến tình trạng tranhmua tranh bán, đẩy giá mua lên cao hơn giá trị thực, ảnh hưởng đếnhiệu quả, sản lượng thu mua, chính sách đầu tư của công ty.
Điều kiện tự nhiên: Cây thuốc lá là loại cây trồng chịu tác động
mạnh của điều kiện thời tiết.Lũ lụt, hạn hán, lũ quét, sâu bệnh, đềuảnh hưởng đến sản lượng thu mua của công ty.Mặt khác, sản lượngthuốc lá mang tính mùa vụ ảnh hưởng đến nguồn nguyên liệu đầuvào phục vụ cho dây chuyền sản xuất
Cạnh tranh: do nguyên liệu thuốc lá nhập lậu từ Trung Quốc gây
biến động về giá thu mua nguyên liệu của công ty, ảnh hưởng đếnsản lượng thu mua và giá thành sản phẩm
Ảnh hưởng của yếu tố tác động đến nền kinh tế: Những biến động
của nền kinh tế thế giới nói chung và kinh tế Việt Nam nói riêng đãgây không ít khó khăn cho công ty.Đặc biệt là cuộc khủng hoảngkinh tế làm suy giảm sức tiêu dùng, ảnh hưởng đến tình hình sảnxuất và tiêu thụ sản phẩm của công ty
Ý thức sản xuất của nông dân chưa chuyển biến theo phương thức sản xuất hàng hóa do đó sự chuyển biến ứng dụng quy trình
công nghệ hiện đại nhằm nâng cao năng suất, chất lượng theo tiêuchuẩn thế giới chưa đạt được
Trên thực tế, được sự chỉ đạo và hỗ trợ kịp thời của Hiệp hội thuốc
lá và Tổng công ty thuốc lá Việt Nam, trong những năm vừa qua công ty
đã nỗ lực hết mình vượt khó khăn, phát triển đi lên.Để đánh giá được hiệuquả sản xuất kinh doanh nói chung cũng như hiệu quả sử dụng vốn kinhdoanh nói riêng chúng ta tiến hành phân tích tình hình quản lý và sử dụngvốn tại công ty năm 2008
2.2.1 Tình hình tổ chức vốn kinh doanh tại công ty cổ phần Ngân Sơn năm 2008
Trang 33Để đánh giá tình hình tổ chức vốn kinh doanh của công ty trong năm
2008, chúng ta cần xem xét cơ cấu vốn và nguồn hình thành vốn dựa vào
số liệu biểu 2, đồng thời trên cơ sở so sánh với năm 2007
Căn cứ vào Bảng cân đối kế toán của công ty cổ phần Ngân Sơnngày 31/12/2008 ta lập bảng phân tích về cơ cấu vốn của công ty cổ phầnNgân Sơn tại biểu 2
Nhận xét khái quát:
Năm 2008, cuối năm so với đầu năm tổng số vốn kinh doanh củacông ty tăng từ 170.185,24 triệu đồng lên 211.305,8 triệu đồng.Số tăngtuyệt đối là 41.120,56 triệu đồng, tốc độ tăng là 24,16%.Cùng với sự tănglên của vốn kinh doanh nói chung, hai bộ phận cấu thành là vốn cố định vàvốn lưu động đều tăng, Trong đó, tỷ trọng cũng như tốc độ tăng của vốnlưu động đều lớn hơn vốn cố định
Vốn lưu động: Thông qua số liệu của bảng trên ta có vốn lưu động
cuối năm 2008 tăng 39.750,51 triêu đồng, với tốc độ tăng là 33,65% Sở dĩvốn lưu động của công ty tăng thêm là do khoản mục phải thu ngắn hạn vàhàng tồn kho tăng mạnh.Hàng tồn kho tăng 19.236,18 triệu đồng, tốc độtăng là 40,3%.Các khoản phải thu ngắn hạn tăng 18.168,12 triệu đồng, tốc
độ tăng là 27,5%
Hàng tồn kho của công ty chiếm chủ yếu là thành phẩm và nguyênvật liệu.Nguyên liệu tồn kho tăng thêm là do công ty tăng dự trữ nguyênliệu cho vụ sản xuất năm 2009.Thêm vào đó, sự gia tăng thành phẩm cuốinăm 2008 là do giá bán năm 2008 tăng, công ty chuẩn bị sẵn sản phẩmphục vụ cho năm 2009.Cuối năm 2008 công ty cũng nhận được nhiều đơnđặt hàng của các công ty thuốc lá điếu, đặc biệt là các bạn hàng mới thuộcHiệp hội thuốc lá Việt Nam
Qua xem xét các khoản phải thu ngắn hạn của công ty ta thấy bộphận phải thu của khách hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất, cuối năm 2008chiếm đến 98%.Số phải thu chỉ tập trung vào các bạn hàng lớn của công tybao gồm: công ty thuốc lá Sài Gòn chiếm 53,99 tỷ đồng; công ty thuốc láThăng Long chiếm 10,47 tỷ đồng, còn các bạn hàng khác công ty đều tậnthu khoản này.Điều này không đáng lo ngại bởi hai công ty này đều là cổ