1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tư tưởng triết học của trần nhân tông

24 402 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 269,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khoa học xã hội, Hà Nội, 1980; Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng 8 3 tập của Trần Văn Giàu, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996… Các công trình khoa

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng và nhân dân ta lựa chọn, tiến hành cùng với nhiệm vụ phát triển toàn diện các lĩnh vực kinh tế, chính trị – xã hội, khoa học và công nghệ, giáo dục và văn hóa, đặc biệt là đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm “xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật

nhiệm vụ hết sức quan trọng đó là “xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, tương xứng với sự phát triển của nền kinh tế – xã hội Đó cũng chính là triết lý của sự phát triển xã hội hài hòa và bền vững giúp chúng ta có thể tiếp nối và phát huy sức mạnh truyền thống của dân tộc trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, phong phú nhưng không kém phần phức tạp hiện nay

Trong tiến trình của công cuộc đổi mới, hơn 20 năm qua đất nước ta đã đạt được những thành tựu thực sự to lớn và toàn diện trên các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Đạt được kết quả đó, văn hóa đóng vai trò rất quan trọng bởi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là nguồn lực nội sinh, là động lực, mục tiêu của sự phát triển kinh tế – xã hội Vì vậy, việc tìm hiểu, nghiên cứu những giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc ta trong tiến trình lịch sử tư tưởng Việt Nam, trên cơ sở đó phát huy sức mạnh của những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp và lâu đời của dân tộc trong cuộc sống hôm nay là việc làm vừa có ý nghĩa lý luận lâu dài vừa có tính thời sự cấp bách

Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Thiền phái Trúc Lâm đời Trần, trong đó tiêu biểu là tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông – “đệ nhất tổ thiền Trúc Lâm

cách tâm hồn Việt Nam nói chung và đặc trưng của triết học Phật giáo Việt Nam nĩi riêng trong quá trình phát triển Trần Nhân Tông không chỉ là nhà chính trị – một vị vua anh minh, “nhân từ, hòa nhã, cố kết lòng dân, sự nghiệp trùng hưng sáng ngời thuở trước”( ) 2 mà còn là nhà quân sự tài năng; không chỉ là nhà văn, nhà thơ mà còn là nhà tư tưởng lớn, một bậc thiền sư lỗi lạc – người sáng lập ra một dòng thiền mang bản sắc Việt Nam Ông đã biết dung hợp các nguồn tư tưởng từ quá khứ của dân tộc với triết lý phong phú, sâu sắc, thâm trầm của Nho, Lão, Phật, đặc biệt là triết lý Phật giáo, bằng sự kế thừa, chọn lọc các dòng thiền trước

(1)Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr 18.

( ) 2 Viện khoa học xã hội Việt Nam: Đại việt sử ký toàn thư, tập 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998, tr 44.

Trang 2

đây như Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường và tư tưởng triết lý thiền của Trần Thái Tơng, Tuệ Trung Thượng sĩ để sáng tạo nên hệ thống tư tưởng triết học của mình với những nét độc đáo và đặc sắc riêng, ghi dấu ấn sâu đậm trong

lịch sử tư tưởng Việt Nam Chính vì thế, tôi đã chọn vấn đề “Tư tưởng triết học

Trần Nhân Tông” làm luận án Tiến sĩ của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Sự nghiệp, cuộc đời của Trần Nhân Tông nói chung, tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông nói riêng từ trước tới nay đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu ở nhiều mặt, qua các vấn đề phong phú khác nhau Có thể khái quát kết quả các công trình nghiên cứu đó trong ba chủ đề chính sau:

Thứ nhất, đó là các công trình nghiên cứu về Trần Nhân Tông dưới dạng lịch sử Tiêu biểu cho chủ đề này phải kể đến các tác phẩm lớn như: Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998; Đại cương lịch sử Việt Nam, do

Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn chủ biên, Nxb Giáo dục, Hà

Nội, 2005, Tìm hiểu xã hội Việt Nam thời Lý – Trần của Viện Sử học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1980; Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng 8 (3 tập) của Trần Văn Giàu, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

1996… Các công trình khoa học này đã trình bày và phân tích khá khái quát và sâu sắc điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cũng như cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng của Trần Nhân Tông gắn liền với các biến cố lịch sử Việt Nam giai đoạn thế kỷ XIII –

Thứ hai, đó là các công trình nghiên cứu về Trần Nhân Tông dưới góc độ tư

tưởng văn hóa tôn giáo Liên quan đến chủ đề này phải kể tới các công trình như:

Thơ văn Lý – Trần, do Viện Văn học biên soạn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1989; Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang, Nxb Văn học, Hà Nội, 2000; Lịch sử Phật giáo Việt Nam, do Nguyễn Tài Thư chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993; Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến thế kỷ XIII của Trần Văn Giáp, Ban tu thư, Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn, 1968; Lịch sử Phật giáo Việt Nam

của Thích Minh Tuệ, Thành hội Phật giáo Tp Hồ Chí Minh, 1993 Trong các công

trình trên đáng chú ý là tác phẩm lớn như Thơ văn Lý – Trần, do Viện Văn học

biên soạn Đây là công trình khoa học khá công phu, đồ sộ, giới thiệu, đánh giá và cung cấp cho người đọc một cách khá đầy đủ, sâu sắc và đáng tin cậy nhất các bản văn về thơ, văn, triết học, tôn giáo của Trần Nhân Tông; hay như các tác phẩm

Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang, Tổng tập văn học Phật giáo Việt Nam của Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, do Nguyễn Tài Thư chủ biên,

đã trình bày và phân tích khá sâu sắc tư tưởng của Trần Nhân Tông, vai trò, vị trí của Trần Nhân Tông trong lịch sử tư tưởng Phật giáo Việt Nam nói chung và Thiền tông Việt Nam nói riêng…

Trang 3

Thứ ba, đó là các công trình nghiên cứu về Trần Nhân Tông dưới góc độ tư tưởng triết học, như các tác phẩm: Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập 1, do Nguyễn Tài Thư chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, 1993, Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến thế kỷ XIV của Nguyễn Hùng Hậu, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002, Tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm đời Trần của Trương Văn Chung, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998; Tư tưởng Việt Nam thời Lý – Trần, do Doãn Chính – Trương Văn Chung chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008; Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006; Tam tổ Trúc Lâm giảng giải của Thích Thanh Từ, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1995; và

các bài báo khoa học đăng trên tạp chí chuyên ngành, các kỷ yếu hội thảo khoa học… Các công trình kể trên đã tập trung nghiên cứu tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông qua các vấn đề lớn về bản thể luận, nhận thức luận và triết lý đạo đức nhân sinh của ông gắn liền với quá trình phát triển của lịch sử tư tưởng Việt Nam

ở mức độ khái quát nhất Kế thừa thành quả của các công trình nghiên cứu trên, luận án cố gắng đi sâu vào nghiên cứu tư tưởng triết học Trần Nhân Tông có tính chuyên biệt và hệ thống hơn

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án

Mục đích của luận án

Từ sự trình bày làm rõ những nội dung tư tưởng triết học cơ bản của Trần Nhân Tông, luận án nhằm chỉ ra những đặc điểm và những giá trị có ý nghĩa lịch

sử to lớn trong tư tưởng triết học của ông

Nhiệm vụ của luận án

Để đạt được mục đích trên, luận án phải thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Trình bày, phân tích cơ sở xã hội và những tiền đề lý luận và tôn giáo hình thành tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông

- Trình bày và phân tích nội dung tư tưởng triết học cơ bản của Trần Nhân

đặc điểm và những giá trị lịch sử trong tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ trên, luận án dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng thời tác giả luận án còn sử dụng tổng hợp các phương pháp sử học, hệ thống cấu trúc, lôgic và lịch sử, phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, so sánh và đối chiếu… để nghiên cứu và trình bày luận án Luận án được tiếp cận dưới góc độ triết học lịch sử và triết học tôn giáo

5 Cái mới của luận án

Một là, luận án đã trình bày một cách hệ thống tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông qua phân tích những khái niệm, phạm trù triết học, thiền học của ông

ở những vấn đề về bản thể luận, nhân sinh quan và triết lý đạo đức

Trang 4

Hai là, luận án đã trình bày, phân tích, đánh giá rút ra những đặc điểm chủ yếu của tư tưởng triết học Trần Nhân Tông, đó là tính chất kế thừa, dung hợp, tinh thần thiền hành động nhập thế tích cực và tinh thần nhân văn sâu sắc; đồng thời luận án cũng nêu lên những giá trị lịch sử của tư tưởng triết học Trần Nhân Tông; đó là triết học Trần Nhân Tông góp phần tạo nên hệ thống triết lý thiền đặc sắc Việt Nam, là nền tảng tinh thần để xây dựng một quốc gia Đại Việt độc lập, thống nhất, một nền chính trị thân dân

6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận án

Về ý nghĩa khoa học, luận án góp phần làm rõ nội dung và những đặc điểm

cơ bản trong tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông qua các vấn đề bản thể luận, nhận thức luận, đạo đức nhân sinh, từ đó giúp người đọc tìm hiểu một cách sâu sắc và hệ thống tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông

Về ý nghĩa thực tiễn, thông qua những đặc điểm của tư tưởng triết học Trần

Nhân Tông được trình bày trong luận án, có thể rút ra những bài học lịch sử bổ ích góp phần vào việc gìn giữ và phát huy bản sắc và truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam, trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay Kết quả nghiên cứu của luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu và giảng dạy về lịch sử tư tưởng Việt Nam cho sinh viên và học viên cao học các ngành Triết học, Tôn giáo học, Văn hóa học, Sử học trong các trường Cao đẳng và Đại học

7 Kết cấu cơ bản của luận án

Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu gồm 3 chương, 6 tiết và 14 mục

1.1.1 Khái quát đặc điểm điều kiện lịch sử kinh tế, chính trị – xã hội Việt Nam thời kỳ nhà Trần

Là hình thái ý thức xã hội, tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông một mặt phản ánh và bị chi phối bởi đặc điểm, nhu cầu của xã hội Việt Nam thời kỳ nhà Trần; mặt khác, là sự kế thừa những tiền đề tư tưởng, tôn giáo trước đó Đúng như C Mác đã nói: “Các triết gia không mọc lên như nấm từ trái đất, họ là sản phẩm của thời đại

Trang 5

đẩy xã hội tiến lên một bước đáng kể Về tổ chức hành chính và bộ máy quan lại,

năm 1240 nhà Trần đổi 24 lộ thời Lý thành 12 lộ Dưới lộ, phủ có châu, huyện, xã

quan lại nhà Trần nói chung cũng giống như nhà Lý nhưng quy củ hơn Các chức quan trọng yếu trong triều đều giao cho vương hầu quý tộc nắm giữ, nhằm tập trung mọi quyền lực về dòng họ mình Để tạo điều kiện cho vương hầu, tôn thất làm việc, nhà nước cấp cho mỗi người một vùng đất lớn nhỏ tùy theo thứ bậc gọi là thái ấp Năm 1226 do yêu cầu mới về kinh tế và chính trị, vua Trần lại ra lệnh cho các vương hầu, công chúa, phò mã chiêu mộ dân hữu lưu vong đi khai hoang lập trang trại riêng, tạo thành một mạng lưới tôn thất nhà Trần trấn trị khắp nơi trong nước

Về pháp luật, năm 1230 Trần Thái Tông ban hành Quốc triều thông chế (20

quyển), quy định về tổ chức chính quyền, sau đó qua vài lần sửa chữa bổ sung nhà

Trần lại ban hành bộ Quốc triều hình luật, nhằm khẳng định và củng cố sự phân

chia chế độ đẳng cấp, đồng thời xác nhận và bảo vệ quyền tư hữu tài sản, đặc biệt là tư hữu ruộng đất của vua chúa và giai cấp quý tộc Trong quá trình trị vì đất nước, nhà Trần cũng ra sức củng cố và tăng cường sức mạnh quân sự với chủ trương “ngụ binh ư nơng”, xây dựng quân chủ lực gồm cấm quân và quân các lộ để đủ sức bảo vệ nền độc lập dân tộc, đặc biệt là ba lần chống quân Nguyên – Mông xâm lược

Cũng như thời Lý, các vua Trần chú ý thúc đẩy mạnh sự phát triển kinh tế, đặc biệt là chế độ sở hữu ruộng đất Các hình thức sở hữu ruộng đất cơ bản thời kỳ nhà Trần là ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước và sở hữu ruộng đất tư nhân Có hai bộ phận cấu thành ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước: Một là, ruộng đất do nhà nước trực tiếp quản lý: nó tồn tại như tài sản của bản thân nhà vua và hoàng cung, một loại “tư hữu” đặc biệt mà những hoa lợi bóc lột là của riêng chính hoàng đế Bộ phận ruộng đất do nhà nước trực tiếp quản lý có sơn lăng, tịch điền và quốc khố Hai là, ruộng đất công của thôn làng: ruộng công các làng xã thời bấy giờ được gọi là quan điền hay “quan điền bản xã” Từ năm 1266 trở đi, bản thân tầng

( ) 3 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr 156.

Trang 6

lớp quý tộc đã dựa vào hai tổ chức kinh tế cơ bản: thái ấp và điền trang là hai bộ phận quan trọng có ý nghĩa quyết định tính chất loại hình sở hữu ruộng đất của quý tộc Ngồi ra còn có ruộng đất thuộc sở hữu tư nhân của địa chủ và tiểu nông Nhà Trần vừa nắm quyền đã có biện pháp nhanh chóng phục hồi sản xuất nông nghiệp, mở rộng thêm diện tích canh tác Triều đình đã áp dụng nhiều biện pháp khuyến khích nông nghiệp, trong đó có tổ chức làm thủy lợi trong phạm vi cả nước

Về kinh tế thủ công nghiệp và thương nghiệp, triều đại nhà Trần vẫn tiếp tục xây dựng quan xưởng thủ công nghiệp nhà nước gồm các ngành nghề như nhề gốm, nghề dệt, nghề sản xuất vũ khí Bên cạnh đó còn có nền kinh tế thủ công nghiệp nhân dân với các nghề thiết yếu như nghề gốm, nghề mộc, nghề rèn, nghề đúc đồng, nghề làm giấy và khắc bản in, nghề khai khoáng… Nhà Trần đã tạo một hệ thống giao thông thủy bộ trong cả nước phục vụ cho yêu cầu quân sự nhưng cũng có nhiều tác dụng tốt cho thương nghiệp Thời kỳ nhà Trần tiền cũng đã được sử dụng là phương tiện lưu thông hàng hóa Quan hệ tiền tệ đã thâm nhập vào đời sống chính trị và tín ngưỡng, như việc nhà nước thu tô thuế bằng tiền… thể hiện chức năng thanh toán của tiền tệ thời Trần đã phát triển rộng lớn

Về sự phân hóa đẳng cấp xã hội thời kỳ nhà Trần: Đất nước ta bước vào thời đại nhà Trần trên nền tảng xã hội được xây dựng ổn định và vững chắc từ thời Lý Trong quá trình xây dựng chính quyền quý tộc quân chủ vững mạnh, đồng thời củng cố, phát triển kinh tế, văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc, xã hội Trần đã diễn ra sự phân hóa mạnh mẽ Một xã hội mới với những đẳng cấp mới dần được hình thành Nhìn chung trong gần hai thế kỷ, xã hội Trần đã hình thành và tồn tại

ba đẳng cấp chính: Đẳng cấp quý tộc, tôn thất – quan lại trong chính quyền quân chủ, đẳng cấp những người bình dân, chủ yếu là nông dân các làng xã, thợ thủ công và thương nhân, địa chủ và đẳng cấp nô tỳ

1.1.2 Sự phát triển văn hóa, giáo dục thời kỳ nhà Trần

Trên cơ sở phát triển của kinh tế – xã hội, nền văn hóa giáo dục thời Trần đã có bước phát triển khá rực rỡ Dưới sự ảnh hưởng của truyền thống văn hóa dân tộc cũng như ảnh hưởng của tư tưởng văn hóa Phật giáo, Nho giáo và Lão giáo, nền giáo dục, sử học, văn học, kiến trúc và các thành tựu khoa học tự nhiên như thiên văn, y học… dưới triều đại nhà Trần đã có sự phát triển vượt bậc Có thể

thấy các thành tựu văn hóa thời Trần qua các tác phẩm nổi tiếng như: Hịch tướng

sĩ, Binh thư yếu lược, Bạch Đằng giang phú; và đặc biệt là các bài thơ Quốc âm

Cư trần lạc đạo ca, Đắc Thú Lâm tuyền thành đạo ca của Trần Nhân Tông; các tác phẩm sử học như Việt sử lược, An Nam chí lược, Việt Điện u linh, Lĩnh Nam chích quái và các công trình kiến trúc như tháp Bình Sơn, chùa Phổ Minh… Đặc

biệt trong lĩnh vực giáo dục, nhà Trần đã xây dựng một chế độ giáo dục khoa cử khá hệ thống với nội dung giáo dục là tư tưởng chính trị đạo đức của Nho giáo

Trang 7

nhưng cũng ảnh hưởng khá sâu sắc triết lý đạo đức nhân sinh của Phật giáo do Phật giáo thời Trần được coi là quốc giáo, để đào tạo và tuyển chọn nhân tài, góp phần hoàn thiện bộ máy chính quyền từ địa phương đến trung ương, phát triển nền văn hóa, tư tưởng Đại Việt, như các kỳ thi Thái học sinh, các khoa thi Tam giáo…

Trong thời gian tồn tại, nhà Trần đã tổ chức được 14 khoa thi để tuyển lựa nhân tài, bổ vào làm trong các quán, các, sảnh, viện với 273 người đỗ Thái học sinh

Tóm lại, toàn bộ điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị – xã hội Việt Nam thế kỷ XIII – XIV đã đặt ra cho vua tôi nhà Trần nói chung và Trần Nhân Tông nói riêng nhiệm vụ lớn lao; đó là phải xây dựng một thiết chế chính trị và nhà nước phong kiến trung ương tập quyền vững mạnh, một nước Đại Việt quy mô, bề thế, có nền văn hóa độc lập nhằm trị nước, an dân và chống lại các cuộc xâm lăng tàn bạo của giặc Nguyên – Mông Tư tưởng triết học Trần Nhân Tông ra đời chính là xuất phát từ đòi hỏi cấp thiết đó của lịch sử Nó không chỉ đáp ứng nhu cầu về tư tưởng là đưa triết lý đạo đức của nhà Phật trở thành một trong những nền tảng đạo đức cho toàn xã hội trên cơ sở xây dựng một tổ chức Phật giáo Việt Nam thống nhất mà còn đáp ứng nhu cầu về chính trị là nhằm thiết lập hệ tư tưởng độc lập, thống nhất làm chỗ dựa về mặt tinh thần vững chắc cho xã hội Đại Việt

1.2 NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ TÔN GIÁO HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG

TRIẾT HỌC TRẦN NHÂN TÔNG

Tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông không chỉ được hình thành và phát triển trên cơ sở đặc điểm và nhu cầu của điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội thời kỳ nhà Trần, mà còn là sự kế thừa những tiền đề tư tưởng trước kia, đó là tư tưởng của ba thiền phái đời Lý là Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường và đặc biệt, trực tiếp là tư tưởng triết lý của Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng sĩ

1.2.1 Giá trị văn hóa Việt Nam truyền thống và tư tưởng của “Tam giáo” với việc hình thành tư tưởng triết học Trần Nhân Tông

Tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông là sự kế thừa truyền thống văn hóa dân tộc, thể hiện ý chí độc lập và tinh thần yêu nước nồng nàn của dân tộc

Dân tộc Việt đã có một lịch sử dựng nước sớm, một nền văn minh lâu đời, đó là nền văn minh Sông Hồng và việc hình thành nhà nước sơ khai – nhà nước Văn Lang [700 trCN – 258 trCN] và nhà nước Âu Lạc [257 trCN – 208 trCN] Việc hình thành một nền văn hóa và hình thức nhà nước phôi thai sớm cùng với việc dân tộc ta liên tiếp phải chống lại các cuộc xâm lăng của các thế lực phong kiến

phương Bắc, đã giúp cho dân tộc ta hình thành ý thức về quốc gia dân tộc, về tinh

sáng lập ra dòng thiền độc đáo Việt Nam, đưa triết lý đạo đức Phật giáo thành nền

Trang 8

tảng đạo đức cho toàn xã hội; thiết lập nên một hệ tư tưởng độc lập, thoát khỏi sự lệ thuộc chặt chẽ vào ý thức hệ bên ngoài

Cùng với việc kế thừa và phát triển các giá trị của tư tưởng và văn hóa truyền thống Việt Nam, tư tưởng triết học của ông còn tiếp thu chắt lọc các quan điểm khác nhau của Nho, Lão, Phật

Nho giáo truyền vào Việt Nam từ những năm đầu Công nguyên vừa bằng con đường giao lưu văn hóa, vừa bằng con đường xâm lược của các triều đại phong kiến Trung Quốc Cho nên ngay từ buổi đầu nó đã gặp sự phản ứng và sự đón nhận dè chừng của đông đảo nhân dân Nhưng đến thời Trần nó đã chiếm ưu thế và trở thành một nhu cầu tư tưởng thiết yếu để xây dựng một chế độ quân chủ tập quyền Tư tưởng của Nho giáo, đặc biệt là tư tưởng chính trị đạo đức không chỉ ảnh hưởng đến Trần Nhân Tông trong việc trị nước an dân mà còn ảnh hưởng đến nội dung tư tưởng triết học của ông Điều này được phản ánh rõ nét qua các bài thơ của Trần Nhân Tông Ông từng nhiều lần đề cập đến các điển tích Nho giáo, nhắc đến Nghiêu, Thuấn và sử dụng nhiều quan điểm, khái niệm quan trọng của Nho giáo khi bàn về vấn đề đạo đức nhân sinh như: “Sống mà không giúp ích gì cho đời là điều đáng hổ thẹn của kẻ trượng phu”, hay quan điểm “thờ chúa, thờ cha”, cùng với các trạm phù đạo đức khác của Nho giáo như “đạo nghĩa”, “nhân nghĩa”, “trung hiếu”…

Cùng với Nho giáo, Đạo giáo truyền vào nước ta từ những năm đầu Công nguyên Không đặc sắc và không ảnh hưởng lớn như Nho giáo nhưng Đạo giáo cũng giữ vai trò nhất định trong nhân dân và là một trong những tiền đề lý luận của tư tưởng triết học Trần Nhân Tông Các đạo sĩ Đạo giáo đã giữ một vai trò quan trọng cho đời sống tâm linh đời Trần Những bùa phép, tín ngưỡng ma thuật của Đạo giáo khá phù hợp với những tín ngưỡng cổ xưa của người Việt Chính vì thế, Đạo giáo đã hòa mình vào tín ngưỡng dân gian của nhân dân Việt Nam, tạo nên sự dung hợp trong tinh thần “Tam giáo đồng nguyên” Trong tư tưởng triết học của mình, Trần Nhân Tông cũng ảnh hưởng quan điểm của Đạo giáo, nhưng sự ảnh hưởng đó trên cơ sở triết lý của Đạo gia chứ không phải là sự ảnh hưởng trên lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, ma thuật Trần Nhân Tông đề cao quan điểm “tiêu dao”, hòa với tự nhiên “vô vi” của Đạo gia Ông chủ trương sống ung dung tự tại nơi non xanh nước biếc hoặc thanh thản nơi thôn dã thanh bình trong triết lý nhân sinh của mình

Một trong những tiền đề lý luận quan trọng nhất của tư tưởng triết học Trần Nhân Tông đó là Phật giáo Phật giáo truyền vào Việt Nam khoảng đầu thế kỷ 1 khi nước ta nội thuộc nhà Hán Trải qua nhiều giai đoạn phát triển, tư tưởng Phật giáo đã khẳng định được tầm quan trọng trong đời sống tâm linh, tinh thần đạo đức của dân tộc ta Ở thời nhà Trần, Phật giáo còn được tôn là quốc giáo, là tôn giáo của triều đình Phật giáo với tư tưởng vô thường, vô ngã, nhân quả, nghiệp báo và

Trang 9

triết lý nhân sinh từ, bi, hỷ, xả, cứu khổ, cứu nạn, đứng về phía người nghèo khổ qua học thuyết Tứ diệu đế, Thập nhị nhân duyên, Bát chính đạo, gần gũi và phù hợp với triết lý đạo đức nhân sinh cũng như phong tục tập quán của người Việt, như quan điểm phúc đức, nhân ái, vị tha, hòa hiếu, nên Phật giáo đã được đông đảo người Việt tiếp nhận

Trong sự ảnh hưởng của Phật giáo với tư tưởng triết học Trần Nhân Tông, tư tưởng của ba thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường thời nhà Lý đã trở thành tiền đề lý luận gián tiếp nhưng vô cùng quan trọng cho quá trình hình thành Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử nói chung, cũng như tư tưởng triết học thiền của Trần Nhân Tông nói riêng Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, thiền phái Vô Ngôn Thông, thiền phái Thảo Đường mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về triết lý, về cách thức và phương pháp tu tập, nhưng giữa ba thiền phái trên cũng có một số đặc điểm chung nhất định, chúng đều dựa trên những triết lý cơ bản của Thiền tông để bàn luận phát triển, làm sáng tỏ phong phú hơn những vấn đề cốt

lõi của thiền, như tâm (tâm ấn của Tỳ Ni Đa Lưu Chi, tâm địa của phái Vô Ngôn Thông), Phật tính, kiến tính, đốn ngộ, trực giác, giải thoát, Niết bàn… Cả ba thiền

phái này đều có xu hướng hòa mình vào cuộc sống để giúp nước, giúp đời Triết lý của ba trường phái này là những tiền đề lý luận căn bản cho sự hình thành một thiền phái duy nhất đời Trần sau này nói chung và là tiền đề lý luận cho tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông nói riêng, đặc biệt trong quan niệm về cái “tâm”

1.2.2 Tư tưởng triết học Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng sĩ – tiền

đề lý luận trực tiếp của tư tưởng triết học Trần Nhân Tông

Trần Thái Tông (năm sinh 1218, mất năm 1277) là người đã kết hợp các luồng

tư tưởng trước đó trên tinh thần kế thừa có lựa chọn, nhào nặn chúng thành một hệ thống triết lý hoàn chỉnh, làm nền tảng cho thiền học Trúc Lâm sau này Triết học Trần Thái Tông là tập đại thành đầu tiên của Phật giáo Việt Nam

Về bản thể luận, Trần Thái Tông lấy cái tâm làm điểm xuất phát cho tư

tưởng của mình và trên cơ sở luận giải về cái tâm ấy để đào sâu, tìm kiếm lời giải

đáp cho những vấn đề triết học khác như: “ngộ”, “kiến tính”, “sinh tử”, “giải thoát”, “Niết bàn”… Tâm này là cái tâm ban đầu, Trần Thái Tông gọi là tâm không, hư Theo ông bản thể, khởi nguyên cội nguồn của vũ trụ là không (sunya),

hư Không chính là hư, hư cũng là không Trong đó, không bao trùm tất cả hướng

đến cái khách quan bên ngoài, tức vũ trụ chưa từng sinh diệt; còn hư là sự thể hiện của không trong tâm mỗi người tức là hướng đến mặt chủ quan bên trong Theo

Trần Thái Tông từ không xuất hiện vọng (không khởi vọng), và từ vọng sinh ra chúng sắc, tức từ vọng hay vô minh sinh ra thế giới hiện tượng có hình danh, sắc tướng Nhưng ở con người vọng còn là niệm Nếu như ở trên, vọng là nguyên nhân

xuất hiện của thế giới hiện tượng, thì niệm là nguyên nhân xuất hiện cái ngã, tức

con người cá nhân Theo Trần Thái Tông, phải thủ tiêu vọng niệm để đạt tới cái tâm

Trang 10

vô niệm Bản thể ở Trần Thái Tông còn là Phật tính, cũng được gọi là chân như, tức

là cái tính chân thực, chưa hề biến cải, chẳng sinh chẳng diệt, là mầm thiện, mầm giác ngộ sẵn có ở mỗi người

Về nhận thức luận, đối tượng nhận thức trong triết học Trần Thái Tông là hướng vào tâm, nhận thức cái tâm trong con người chứ không phải nhận thức sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan bên ngoài Mục đích của nhận thức theo Trần Thái Tông là “kiến tính” Thực chất kiến tính là sự trở về với bản tâm, nguyên sơ, tĩnh lặng, thuần khiết của chúng sinh Về phương pháp nhận thức theo

Trần Thái Tông là dung hòa giữa đường lối tiệm ngộ và đốn ngộ, là sự tổng hợp giữa thuật vấn đáp, niệm, tụng, kết hợp với tọa thiền và thực hiện giới, định, tuệ, sám hối

Về triết lý nhân sinh, Trần Thái Tông dành nhiều tâm trí cho vấn đề triết lý

nhân sinh – đạo đức, được thể hiện hầu khắp các trước tác của ông Trong tư tưởng đạo đức, Trần Thái Tông cũng lấy tâm làm nền tảng để xây dựng nên quan niệm

về đạo đức của mình Trần Thái Tông đã có bước phát triển mới hơn ở chỗ coi

sinh tử không còn là vấn đề mang tính thuần lý, cao siêu, trừu tượng nữa, mà nó chính là bản thân cuộc sống thực của mỗi người, với thái độ tự tại, ung dung, hài hòa giữa tâm vật và tâm ta Từ thái độ sống không lầm sinh tử này đã được Trần

Thái Tông nâng nên thành một phương châm độc đáo: “sống thiền” – vui với cái

vui của sự hiểu biết chân thực, hòa với cái vô cùng tận của cuộc đời để xác lập nên một con đường đi đến giác ngộ của thiền học Việt Nam Đó là con đường cứu dân độ thế, đem đạo vào đời chứa đựng ý nghĩa nhân văn cao đẹp

Trong học thuyết của Trần Thái Tông nổi bật lên những giá trị thiết thực về phương diện đạo đức, thể hiện ở lòng mong muốn và việc khuyên răn mọi người tích cực hành thiện, tránh ác, sống có ích cho đời dựa trên triết lý nhân quả báo ứng trong Phật giáo, định hướng cho việc tạo lập một xã hội tốt đẹp dựa trên nền đạo đức từ bi Phật giáo, đảm bảo cho nền thái bình thịnh trị của quốc gia, dân tộc Đây là những điểm cốt yếu về tính chất thiền nhập thế tích cực cũng như vấn đề nhân sinh của Trần Thái Tông mà sau này Trần Nhân Tông đã kế thừa

Tuệ Trung Thượng sĩ (năm sinh 1230, mất năm 1291) là người thứ hai có ảnh hưởng lớn lao đến việc hình thành tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông Ơng không chỉ là một thiền gia mà còn là một vị tướng có nhiều công trạng trong cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên – Mông Ông có lòng mến mộ đạo Phật ngay từ nhỏ, lại được vua Trần Thái Tông, một thiền gia đắc đạo nhận làm con nên Tuệ Trung Thượng sĩ có nhiều điều kiện thuận lợi để tham vấn Thiền học với nhà vua, và chắc chắn là có ảnh hưởng sâu sắc triết lý của Trần Thái Tông Ơng đã trở thành “ngọn đuốc sáng nhất của Thiền học đời Trần”, là “ngọn đèn tổ của Phật Hoàng”

Trang 11

tưởng Việt Nam đưa ra khái niệm bản thể để giải thích nguồn gốc của vũ trụ vạn vật, với nội dung hết sức phong phú và sâu sắc Bản thể ở Tuệ Trung Thượng sĩ

được hiểu là cái ban đầu, gốc rễ, cội nguồn của vạn vật, là cái hàm chứa, tiềm ẩn sâu khín trong bản thân sự vật, không thể dùng mắt thường mà thấy được, chỉ những ai đạt đến giác ngộ mới thấu suốt được chân tính của bản thể này Nó là cái bản nhiên, trong sáng, không tịch, không được không mất, chưa từng có mê lầm, vốn có ở trong tâm mỗi người Bản thể này vượt lên mọi sự phân biệt phải trái, tốt xấu, còn mất Nó vô thị vô phi, phi hư phi thực, vô khứ vô lai, vô hậu vô tiền, phi trần phi cấu( ) 4 Bản thể này không thể dùng “trí” mà biết được, không thể dùng “thức” mà hiểu được mà phải dùng trực giác, vượt lên trên mọi quan niệm đối đãi, “nhị kiến”

Về nhận thức luận, ở Tuệ Trung Thượng sĩ từ không hay vô xuất hiện huyễn hóa (ảo hóa hay vô minh) phân thành nhị kiến Do vậy, để đạt đến giác ngộ và

giải thoát, Tuệ Trung hướng nhiệm vụ thiền học của mình là làm sao để giúp chúng sinh phá bỏ mê lầm, thủ tiêu nhị kiến, vượt lên mọi đối đãi thị phi, phàm

thánh để trở về với tâm thể trong sáng, bản nhiên của mình

Trong quan niệm nhân sinh, Tuệ Trung Thượng sĩ rất quan tâm đến việc lý

giải tận gốc vấn đề sinh tử Cũng chính vì quan niệm xem sinh tử là thông nhàn, thảnh thơi mà Thượng sĩ đã có cái nhìn tích cực với cuộc đời Cuộc đời đối với ông không chỉ là bể khổ trầm luân mà còn là nơi tốt nhất để hành thiền Tôn chỉ thiền của Tuệ Trung không chỉ gói gọn trong tu thiền, tham vấn Phật học, mà quan trọng hơn đó là sống thiền Đưa thiền vào gần gũi đời sống hàng ngày để đón nhận cái hạnh phúc thoải mái, bình dị của chính cuộc sống thường nhật Đó cũng chính là tinh thần phá chấp trong tính chất thiền nhập thế của Tuệ Trung Thượng sĩ, mà sau này Trần Nhân Tông đã kế thừa và phát triển rõ nét trong đặc điểm thiền hành động, nhập thế tích cực của mình

Kết luận chương 1

Tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông ra đời, trong quá trình tiến triển nội tại của Thiền tông Việt Nam, không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên mà nó có cội nguồn từ đặc điểm lịch sử xã hội Việt Nam thời kỳ Lý – Trần Trước hết nó được hình thành và phát triển trên cơ sở đặc điểm và nhu cầu của điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội thời kỳ nhà Trần Tư tưởng triết học của ông còn là sự kế thừa, dung hợp, phát triển những yếu tố Nho, Lão, Phật với các dòng thiền trước đó như thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, thiền phái Vô Ngôn Thông, thiền phái Thảo Đường thời nhà Lý, trực tiếp nhất là triết lý thiền của Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng sĩ; là sự dung hợp của Thiền, Tịnh, Nho, Lão trên tinh thần

( ) 4 Nguyễn Hùng Hậu (Chủ biên), Đại cương lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, tập 1, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002, tr 111.

Trang 12

truyền thống triết lý, đạo đức nhân sinh Việt Nam, tạo nên bước phát triển mới cho thiền học Việt Nam

Chương 2 NỘI DUNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC

CỦA TRẦN NHÂN TÔNG

2.1 THẾ GIỚI QUAN TRONG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC TRẦN NHÂN TÔNG

Trần Nhân Tông (sinh năm 1258 – mất năm 1308) không chỉ là một vị vua anh minh, người có công lớn trong hai cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên – Mông, mà còn là một thiền sư lỗi lạc, người sáng lập ra dòng thiền mang bản sắc Việt Nam – thiền phái Trúc Lâm Yên Tử Trần Nhân Tông đã sáng tạo nên hệ thống tư tưởng triết học hết sức phong phú, thâm trầm và sâu sắc, thể hiện qua quan điểm về thế giới và nhân sinh của ông

2.1.1 Quan niệm về bản thể trong tư tưởng triết học Trần Nhân Tông

niệm như “bản”, “tâm”, “Bồ đề”, “tính sáng”, “tính gương”, “báu vật”, “Chân như”, “lòng trong sạch”, “gia hương”… để chỉ bản thể của vạn pháp Trước hết là

quan điểm về chữ “bản”, Trần Nhân Tông muốn dùng để chỉ cái gốc, cái bản thể của vũ trụ “Vậy mới hay! Bụt ở trong nhà; Chẳng phải tìm xa Nhân khuây bản

Tông, “tâm” cái được coi là nguồn gốc, chân thể của vạn vật và chúng sinh vẫn là

Trần Nhân Tông coi “tâm” là thể tính hoàn toàn tĩnh lặng, vừa bao la vô tận,

không thể ràng buộc và khuôn dấu bằng ngôn ngữ và tư tưởng được, vừa vốn có

sẵn trong mỗi con người, gọi là “Tâm tĩnh lặng” Cái “Tâm tĩnh lặng” ở Trần Nhân

Tơng là sự dứt bỏ, buông xả mọi quan niệm, ý tưởng Nếu chỉ khuấy lên mảy may

ý niệm thôi thì thể tĩnh lặng đó bị phá vỡ, bị che lấp bởi thế giới hình tướng Thể tính đó giống như trăng đáy nước, khi mặt nước tĩnh lặng thì trăng trong sáng, tràn đầy, còn nếu xao động, gợn sóng thì bị phá vỡ tan biến thành từng mảnh Có thể

thấy cái “Tâm tĩnh lặng” của Trần Nhân Tông và cái “Tâm không hư” của Trần Thái Tông là một Vì cái “vô tâm”, “vô niệm” của tâm “không hư” chính là đạt đến

cái tâm ở trạng thái tĩnh lặng Nhưng Trần Nhân Tông chú trọng đến khía cạnh trạng thái và hình tướng của tâm nhiều hơn Qua đó ta có thể thấy quan điểm về

“bản” hay “gốc” của Trần Nhân Tơng ở đây chính là lòng trong sạch, là tính sáng (giác tính), tính gương là bản tính, thể tính Đó là cái ban đầu vốn có ở mỗi con

người, luôn luôn thanh tịnh, không thiện không ác, không sinh không diệt, chẳng đi

( ) 5 Viện Văn học, Thơ văn Lý – Trần, tập 2, quyển thượng, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr 497

Ngày đăng: 07/11/2014, 22:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w