Cộng đồng Cù Lao Chàm đã nhận được lợi ích từ du lịch sinh thái phát triển trên nền tảng của bảo tồn, tuy nhiên người dân địa phương mới chỉ nhận được khoảng 1/3 tổng giá trị đó, phần cò
Trang 12.1 Cộng đồng Cù Lao Chàm đã nhận được lợi ích từ du lịch sinh thái phát triển trên
nền tảng của bảo tồn, tuy nhiên người dân địa phương mới chỉ nhận được khoảng 1/3
tổng giá trị đó, phần còn lại là thuộc về người ngoài KBTB, vì vậy cần tiếp tục
nghiên cứu hành động các diễn biến này nhằm có chính sách phù hợp bảo vệ lợi ích
cho cộng đồng người dân địa phương
2.2 Các sản phẩm du lịch có nguồn gốc từ dịch vụ, chế biến, chăn nuôi, trồng trọt rất
nghèo Hơn nữa, tài nguyên biển và rừng của Cù Lao Chàm theo đánh giá là phong
phú về chủng loại nhưng hạn chế về số lượng Vì vậy cần nâng cao chất lượng dịch
vụ du lịch, phong phú lợi ích du lịch cho cộng đồng thì mới đảm bảo được tính bền
vững trong sự phát triển kinh tế địa phương, gắn liền với bảo tồn
2.3 Hoạt động du lịch và cộng đồng tại KBTB cần phải được xem là một thành phần
của hệ sinh thái, khai thác có sự tái đầu tư để hệ sinh thái này được hoạt động một
cách bền vững
2.4 Phí dịch vụ sinh thái (PES) cần được nghiên cứu, áp dụng thiết thực hơn nhằm
đảm bảo nguồn kinh phí cho việc tái đầu tư vào việc phục hồi các hệ sinh thái bị khai
thác, cũng như hỗ trợ phát triển sinh kế của cộng đồng
2.5 Việc tổ chức chương trình định kỳ thu gom sao biển gai với sự tham gia của các
bên liên quan (các đơn vị kinh doanh du lịch, bộ đội, biên phòng và cộng đồng) cần
phải được xem là một trong những giải pháp hữu hiệu nhất trong điều kiện hiện nay
2.6 Trước tác động của những tai biến thiên nhiên trong những năm qua và sự ảnh
hưởng của các hoạt động từ đất liền thông qua nguồn nước lũ phát tán từ sông Thu
Bồn đã và đang đe dọa đến sự tồn tại và phát triển của tài nguyên đa dạng sinh học
trong KBTB Cù Lao Chàm Vì vậy, vấn đề quản lý hiện nay đòi hỏi cần phải được
nhìn nhận và tiếp cận theo quan điểm quản lý tổng hợp vùng bờ một cách tổng thể
nhằm hạn chế các tác động từ đất liền hoặc các vùng lân cận đối với KBTB Cù Lao
Chàm
2.7 Mở rộng phạm vi bảo tồn biển vào trong vùng bờ mà cụ thể là vùng cửa sông
Thu Bồn và dọc theo đường bờ của Quảng Nam, Sự mở rộng phạm vi của KBTB vào
cửa sông sẽ có điều kiện tuyên truyền, giáo dục và nâng cao nhận thức cộng đồng
trong việc bảo vệ môi trường giảm thiểu chất thải, phục hồi rừng dừa nước Cẩm
Thanh Đồng thời liên kết trong việc bảo vệ nguồn lợi biển và san hô từ xa thông
quan nâng cao nhận thức cho việc khai thác đánh bắt một cách hợp lý tại Cù Lao
Chàm
2.8 Các nghiên cứu tiếp theo cần triển khai ứng dụng mô hình này rộng hơn trong
các KBTB khác, các khu bảo tồn thiên nhiên, các khu dự trữ sinh quyển Đồng thời
các nghiên cứu mới cũng cần mở rộng ứng dụng nhiều hơn với việc sử dụng các
công cụ môi trường gắn liền với phát triển cộng đồng, mặc dù, đề tài cũng đã có đề
cập một phần đến hiệu quả của mô hình ĐQL và các hướng giám sát đánh giá có liên
quan đến sự phát triển bền vững theo các công cụ này
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở nước ta, tài nguyên và môi trường (TN&MT) biển là chỗ dựa sinh kế của hơn 20 triệu người sống dựa vào nguồn lợi ven bờ, trong đó có hơn 157 xã nghèo ven biển và trên hải đảo Sự phụ thuộc này càng trở nên quan trọng sống còn khi công tác quản lý TN&MT biển còn có những bất cập và các biểu hiện suy thoái môi trường, cạn kiệt tài nguyên biển ngày càng rõ nét Khai thác không hợp lý, ô nhiễm biển, thiên tai ở vùng biển, quản lý đơn ngành, thiếu sự phối hợp giữa trung ương và địa phương,… đặc biệt là sự chia sẻ trách nhiệm, lợi ích giữa cộng đồng và Nhà nước trong lĩnh vực quản lý và sử dụng TN&MT biển vẫn là những vấn đề bức xúc
Việc phối hợp giữa Nhà nước, cộng đồng và các bên liên quan (stakeholder)
để bảo vệ và sử dụng hợp lý TN&MT nói chung và biển nói riêng là một trong những hiệu quả đem lại của đồng quản lý (ĐQL) Qua thực tế áp dụng ĐQL ở một số nước trên thế giới, thì cộng đồng địa phương được tham gia trong quá trình quy hoạch, lập kế hoạch phân vùng và ra quyết định thường chú ý các tác động ảnh hưởng TN&MT ở địa phương có hệ thống hơn Gần đây, trong chừng mực khác nhau cơ chế ĐQL được nghiên cứu ứng dụng và bước đầu đã hố trợ công tác quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường biển, ven biển ở một số địa phương như: Bến Tre, Tiên Yên (Quảng Ninh), Cát Bà (Hải Phòng), Đầm Thị Nại (Bình Định), Về mặt chủ trương, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành Quy chế dân chủ cơ sở theo nguyên tắc “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” Có thể nói, hoạt động bảo vệ TN&MT biển của cộng đồng luôn gắn liền với quá trình sản xuất tại hiện trường (trên biển, hải đảo và ven biển) và là một nhiệm vụ không thể tách rời hoạt động sản xuất Vì thế, bảo vệ TN&MT biển phải được xem là một yếu tố nằm ngay trong quá trình sản xuất, cộng đồng phải được giao quyền và được bảo đảm về lợi ích (quyền
và lợi) để họ thực sự tự giác và chủ động tham gia vào sự nghiệp bảo vệ TN&MT biển và ven biển của đất nước
Mặc dù sự tham gia của cộng đồng trong bảo vệ TN&MT nói chung và biển nói riêng đã dần được pháp lý hoá, được cụ thể hoá trong nhiều văn bản chính sách, pháp luật khác nhau (Chỉ thị số 36-CT/TW của Bộ Chính trị Trung ương Đảng CSVN ngày 26/8/1998 về “Tăng cường công tác bảo vệ môi trường (BVMT) trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, Nghị quyết số 41-NQ/TW ban hành ngày 15/11/2004 về bảo vệ môi trường, Luật Thủy sản ban hành tháng 11/2003,…) nhưng đến nay vẫn chưa có một mô hình ĐQL theo đúng nghĩa của nó được áp dụng đại trà, đặc biệt không có ĐQL cho Khu bảo tồn biển (KBTB) Vì vậy, việc “Xây dựng mô hình ĐQL TN&MT biển ở KBTB Cù Lao Chàm, tỉnh Quảng Nam” để cộng đồng tham gia với tư cách là “chủ thể”, không phải “khách thể”, để trách nhiệm
và lợi ích của họ được bảo đảm trong quá trình quản lý KBTB này là một đòi hỏi khách quan và là một nhu cầu thực tế ở nước ta hiện nay và trong tương lai
2 Mục đích nghiên cứu
Trang 2Đưa ra giải pháp tối ưu để vận động cộng đồng địa phương tham gia chia sẻ
trách nhiệm, quyền lợi trong việc bảo vệ và sử dụng hợp lý TN&MT ở KBTB Cù
Lao Chàm theo phương thức Nhà nước và nhân dân cùng làm, cùng hưởng lợi
3 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
a Tổng quan các mô hình ĐQL hoặc liên quan đến ĐQL (quản lý có sự tham
gia của người dân, quản lý dựa vào cộng đồng) trong quản lý TN&MT vùng bờ biển
(gọi tắt là vùng bờ)
b Làm sáng tỏ các khía cạnh lý luận và thực tiễn, cơ chế và tiêu chí ĐQL, và
việc ứng dụng mô hình ĐQL tại KBTB Cù Lao Chàm, tỉnh Quảng Nam
c Thiết kế mô hình ĐQL TN&MT tại KBTB Cù Lao Chàm
d Triển khai ứng dụng thử nghiệm mô hình ĐQL TN&MT trong quá trình
lập kế hoạch phân vùng chức năng, xây dựng quy chế, kế hoạch quản lý, tuần tra
giám sát, cải thiện sinh kế và chuyển đổi sinh kế thay thế cho người dân trên đảo
e Phân tích cơ chế và giải pháp hỗ trợ tính bền vững của mô hình ĐQL
TN&MT tại KBTB Cù Lao Chàm để có thể nhân rộng
4 Đối tượng nghiên cứu
Cộng đồng và các vấn đề ĐQL TN&MT tại KBTB Cù Lao Chàm
5 Pham vị nghiên cứu
Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
6.Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu bản chất, nền tảng ĐQL và xây dựng mô hình ĐQL TN&MT
tại KBTB Cù Lao Chàm
- Nghiên cứu nhu cầu sử dụng TN&MT, văn hóa - xã hội - nhân văn của
cộng đồng địa phương Cù Lao Chàm
- Nghiên cứu tri thức địa phương đối với quản lý TN&MT tại KBTB CLC
- Nghiên cứu các phương pháp, công cụ và kỹ thuật làm việc với cộng đồng
để kêu gọi sự tham gia chia sẻ trách nhiệm quản lý
- Nghiên cứu vai trò lãnh đạo, thúc đẩy của các cấp chính quyền, nhất là
chính quyền địa phương đối với cộng đồng
7 Đóng góp khoa học mới của luận án
•••• Về lý luận
- Xây dựng được khung phân tích logic quá trình ĐQL, khung phân tích nền
tảng hệ quả ĐQL, và mô hình ĐQL trong bảo vệ TN&MT tại KBTB Cù Lao Chàm
- Xác định được sự chia sẻ trách nhiệm, lợi ích giữa Nhà nước, cộng đồng, các
bên liên quan và tính ổn định của mô hình
- Lượng hóa được mức độ tham gia của cộng đồng địa phương vào tiến trình
quản lý TN&MT
- Xác định các phương pháp kinh điển theo PRA, DPSIR, SWOT, SMART,
LFA, CBA như là bộ công cụ chủ yếu để làm việc với cộng đồng trên cơ sở đồng
thuận tham gia trong các bước: nghe, biết, bàn, làm và giám sát trong quá trình ĐQL
- Xác định được tính hiệu quả của việc dựa vào cộng đồng ĐQL TN&MT khi
mối quan hệ mật thiết của cộng đồng địa phương với TN&MT được tôn trọng và
Hình 4.4 Cấp độ đồng quản lý tại KBTB Cù Lao Chàm
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1 Kết luận
1.1 Mô hình ĐQL TN&MT được xây dựng đã góp phần vào công việc bảo tồn và phát triển sinh kế địa phương thông qua các giá trị về đa dạng sinh học và sinh kế thay thế tại Cù Lao Chàm Mô hình đã được giải thích trên cơ sở định lượng các phần tham gia của Nhà nước và cộng đồng
1.2 Mô hình ĐQL đã vận động được cộng đồng tham gia trong việc quy hoạch phân vùng chức năng, xây dựng quy chế quản lý và kế hoạch quản lý KBTB Cù Lao Chàm, đồng thời đã xác định chu kỳ tối thiểu triển khai hiệu quả của quá trình ĐQL
là 7 năm và đánh giá cấp độ ĐQL vào cuối chu kỳ là cấp độ hợp tác
1.3 ĐQL đã góp phần hỗ trợ người dân địa phương đa dạng hoá sinh kế thay thế, giảm khai thác nguồn lợi, nhưng vẫn đảm bảo được sự phát triển của kinh tế địa phương Hoạt động khai thác thuỷ sản đã được kiểm soát và định hướng theo quản lý
hệ sinh thái
1.4 ĐQL đã góp phần xác định được diễn biến các mâu thuẩn trong quản lý TN&MT, đồng thời đã chỉ ra lợi ích cộng đồng chỉ đạt ngưỡng cao nhất khi nó thoả mãn được lợi ích của các nhóm nghề nghiệp khác nhau tại KBTB
1.5 ĐQL đã góp phần thúc đẩy việc thực thi kế hoạch quản lý của KBTB thông qua việc tham gia đóng góp và chia sẻ trách nhiệm và lợi ích giữa Nhà nước, cộng đồng
và các bên liên quan Đồng thời ĐQL đã góp phần trong việc xây dựng cơ chế tài chính bền vững cho hoạt động của KBTB Cù Lao Chàm Mô hình ĐQL TN&MT tại KBTB Cù Lao Chàm đã đủ cơ sở trở thành một trường hợp nghiên cứu điển hình (Case study) cho các khu bảo tồn biển khác tham quan học tập và nhân rộng
1.6 Đã xác định được khung logic ĐQL và các phương pháp kinh điển theo PRA, DPSIR, SWOT, SMART, LFA, CBA là bộ cộng cụ chủ yếu để làm việc với cộng đồng trong quá trình ĐQL
1.7 Đã chứng minh được ĐQL không phải là việc chia sẻ quyền lực trực tiếp giữa Nhà nước và nhân dân, mà là sự chia sẻ trách nhiệm và lợi ích (quyền và lợi) trong quá trình quản lý TN&MT biển ở địa phương
1.8 Đã tổng hợp được quá trình xây dựng và phát triển của bảo tồn biển tại Quảng Nam
1.9 Kết quả đề tài có thể áp dụng cho việc quản lý, bảo vệ và khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là ứng dụng trong việc quản lý lưu vực sông, quản lý vùng bờ, quản lý rừng đầu nguồn
1.10 Kết quả đề tài sẽ là một cẩm nang trong hướng dẫn cũng như cung cấp các phương pháp và công cụ làm việc với cộng đồng; hỗ trợ cho các nhà quản lý những điều kiện thuận lợi hơn trong công việc tiếp xúc với cộng đồng và các bên liên quan
2 Kiến nghị
Trang 3Hình 4.3 Mối quan hệ giữa hành động, cấp độ ĐQL, và cấp độ tham gia
Hành động của cộng đồng Cấp độ đồng quản lý Cấp độ của sự tham gia
Hướng dẫn
Cố vấn Hợp tác
Tư vấn
Thông tin Quyết định
Nói Bàn bạc Làm
Kiểm tra/giám sát
Thụ động Chủ động Thực thi Tuân thủ Tâm huyết
Tự quản
Cấp độ tham gia của cộng đồng CLC vào năm 2010
Thời gian bắt đầu tháng 10/2003
Hướng dẫn
Trao đổi thông tin (tờ rơi,
tranh cổ động, truyền
hình, nói chuyện cộng
đồng)
Cố vấn
Bàn luận thông tin (thảo luận nhóm, hội thảo, họp các tổ chức cộng đồng)
Hợp tác
Hành động (tham gia dự án trình diễn, quản lý, áp dụng, theo dõi)
Cấp độ
đồng quản lý
Mức độ tham gia/
hành động
Thời gian
quyền sử dụng nguồn lợi được bảo vệ, và khi tri thức địa phương của cộng đồng được phát huy cùng với năng lực cán bộ tổ chức cộng đồng được quan tâm, trao dồi
- Quá trình ĐQL đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận các khái niệm quản lý tổng hợp, quản lý thích ứng và quản lý dựa vào hệ sinh thái trong quản lý
TN&MT tại KBTB Cù Lao Chàm
•••• Về thực tiễn
- Kêu gọi được sự tham gia vào công việc bảo tồn và góp phần cải thiện sinh
kế thay thế cho cộng đồng Cù Lao Chàm dựa vào tính bền vững của TN&MT ở địa phương
- Tạo thuận lợi cho cộng đồng địa phương thực hiện quyền tiếp cận TN&MT tại KBTB Cù Lao Chàm
- Lồng ghép được tri thức địa phương với kiến thức khoa học trong quá trình ĐQL của các hoạt động như quy hoạch, phân vùng, xây dựng quy chế, kế hoạch quản lý, phát triển sinh kế, du lịch sinh thái tại KBTB Cù Lao Chàm
- Xác định được vai trò quan trọng của Nhà nước trong việc huy động nguồn lực và sự hỗ trợ bên ngoài, trong việc ban hành văn bản pháp quy, phê duyệt quy hoạch phân vùng, quy chế bảo vệ, kế hoạch quản lý và giao quyền quản lý, khai thác,
sử dụng lợi ích từ TN&MT cho cộng đồng Cù Lao Chàm
•••• Về kết quả nghiên cứu
- Tổng hợp được quá trình xây dựng, phát triển, tính khả thi và hiệu quả của KBTB Cù Lao Chàm theo nguyên tắc: Nhà nước và nhân dân cùng làm, cùng hưởng lợi, đáp ứng được mục tiêu bảo tồn và hỗ trợ phát triển sinh kế của người dân địa phương
- Xác định cơ chế và giải pháp hỗ trợ tính bền vững của mô hình ĐQL tài nguyên và môi trường tại KBTB Cù Lao Chàm, và cơ sở nhân rộng mô hình này Mô hình ĐQL TN&MT tại KBTB Cù Lao Chàm trở thành một trường hợp nghiên cứu điển hình (case-study) trong lĩnh vực bảo tồn biển và vận động cộng đồng tham gia
- Chứng minh được ĐQL không phải là việc chia sẻ quyền lực trực tiếp giữa Nhà nước và nhân dân, mà là sự chia sẻ trách nhiệm và lợi ích (quyền và lợi) trong quá trình quản lý TN&MT biển ở địa phương
- Xác định được chu trình tối thiểu để áp dụng ĐQL TN&MT và đã đánh giá được cấp độ ĐQL tại KBTB Cù Lao Chàm sau 07 năm áp dụng (2003 - 2010)
- Xác định được lợi ích của người dân sống trong KBTB Cù Lao Chàm so với người ngoài từ các hoạt động sinh kế như thủy sản, du lịch sinh thái mang lại trong quá trình bảo tồn, và các thách thức đối với KBTB CLC trong tương lai
8 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục; nội dung luận án được kết cấu thành 4 chương
Chương 1: Phương pháp nghiên cứu
Chương 2: Tổng quan đồng quản lý
Chương 3: Xây dựng và ứng dụng thử nghiệm mô hình ĐQL
Chương 4: Kết quả ứng dụng thử nghiệm mô hình ĐQL
Trang 4Chương 1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 Phương pháp nghiên cứu chung
- Sử dụng cách tiếp cận đa ngành, cộng đồng và hệ thống theo hướng tổng
hợp, phân tích lý luận và thực tiễn, định tính và định lượng thông tin, đồng thời kết
hợp theo chuỗi sự kiện lịch sử và logic
- Áp dụng các phương pháp phân tích kinh điển theo PRA (participatory
rural assessment - đánh giá nhanh nông thôn với sự tham gia của cộng đồng); DPSIR
(Driven, Pressure, State, Impact, Resspondes - động lực, áp lực, tình trạng, tác động,
đáp ứng); SWOT (Strength, Weakness, Opportunity, Threat - điểm mạnh, điểm yếu,
cơ hội, đe dọa) [65]; SMART (Specific, Measurable, Available, Reasonable, Time -
công việc cụ thể, có thể cân đo được, thiết thực, khả thi, mốc thời gian); LFA (logical
framework approach - tiếp cận khung logic); CBA (cost benefit analysis - phân tích
chi phí và lợi ích); và chọn mẫu điều tra
- Sử dụng kết quả của chương trình ghi nhật ký khai thác (log-book) và chương
trinh giám sát đa dạng sinh học và môi trường tại KBTB Cù Lao Chàm
Chương 2 TỔNG QUAN ĐỒNG QUẢN LÝ 2.1 Quan niệm về ĐQL
- Thế giới xem đồng quản lý (ĐQL, co-management) là sự phối hợp, trong đó
người khai thác, sử dụng (user) nguồn lợi, chính quyền, các bên liên quan và các cơ
quan bên ngoài vùng quản lý thông qua tư vấn và thương thuyết cùng thỏa thuận về
vai trò, chia sẻ trách nhiệm và quyền hạn trong việc quản lý TN&MT ĐQL được
chia thành 5 cấp độ: hướng dẫn, tư vấn, phối hợp, cố vấn và thông tin Đi cùng với
ĐQL còn có quản lý có sự tham gia (participatory management), quản lý dựa vào
cộng đồng (community-based management) và ĐQL dựa vào cộng đồng
(community-based co-management)
- Việt Nam đã cụ thể hóa quan niệm nói trên, rằng ĐQL là sự tham gia của
cộng đồng địa phương và các bên liên quan thống nhất chia sẻ trách nhiệm và lợi ích
trong quản lý TN&MT theo hướng Nhà nước và nhân dân cùng làm, cùng hưởng lợi,
và theo nguyên tắc “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” Tuy nhiên, quá trình
triển khai ở Việt Nam cần chú trọng kỹ năng làm việc với cộng đồng để phát huy
hiệu quả thực tế của ĐQL
Như vậy có thể thấy, luận điểm nào cũng phải dựa vào sức mạnh tiềm ẩn
trong cộng đồng người dân, nhất là về vấn đề bảo vệ TN&MT nếu Nhà nước không
dựa vào các thành phần cộng đồng, mà chủ yếu là thành phần chính quyền và người
dân địa phương thì việc quản lý, bảo vệ TN&MT sẽ không thành công Vì từ xưa đến
nay hệ thống “tài nguyên dùng chung” (common pool resource “CPR”) là một hệ
thống tài nguyên có nhiều đối tượng cùng sử dụng và hưởng lợi rất phức tạp vẫn
được quản lý theo kiểu “cha chung không ai khóc” Do đó, Nhà nước cần đặc biệt
quan tâm đến phương pháp, cách làm như thế nào để có được sự đồng thuận, đồng
lý KBTB Cù Lao Chàm được UBND tỉnh Quảng Nam phê chuẩn, tạo cơ sở pháp lý cho việc kêu gọi đầu tư và phát triển nguồn tài chính bền vững Tháng 5 năm 2009, cộng đồng Cù Lao Chàm thống nhất nói không với túi nilon Ngày 26 tháng 5 năm
2009, Cù Lao Chàm chính thức được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới Tháng 9 năm 2009, cộng đồng người dân địa phương Cù Lao Chàm cam kết tham gia bảo tồn loài cua Đá Tháng 12 năm 2010, Cù Lao Chàm thống nhất quy chế bảo vệ các bãi biển thành sản phẩm du lịch chủ đạo thu hút du khách trong và ngoài nước
- Đánh giá tổng thể cấp độ đồng quản lý TN&MT KBTB Cù Lao Chàm:
Cấp độ ĐQL ở KBTB Cù Lao Chàm đến tháng 10/2010 được đánh giá chung
là đạt cấp độ “Hợp tác” đồng nghĩa với mức độ “Dân làm” Quá trình ĐQL TN&MT tại KBTB Cù Lao Chàm được thể hiện trên một hệ trục tọa độ không gian ba chiều bao gồm trục thời gian (x) từ tháng 10/2003 và kết thúc một chu kỳ cơ bản vào tháng 10/2010 Cấp độ đồng quản lý (y) khởi đầu từ cấp hướng dẫn và được tăng trưởng đạt cấp độ hợp tác Mức độ tham gia/hành động của cộng đồng (z) được thể hiện từ trạng thái thụ động chuyển biến lên cấp độ thực thi, điều này tương xứng với hành động của cộng đồng đã được phát triển từ nghe/biết, nói, bàn bạc và làm (Hình 4.3; Hình 4.4.)
Hình 4.2 Cấp độ chuyển biến hành động của cộng đồng
00,00% 00,00%
00,00%
21,58%
Biết
Điều chỉnh
Làm
Kiểm tra
Bàn
Quyết định
20,50%
57,93%
Trang 5- Đánh giá cấp độ đồng quản lý thông qua mức độ tham gia và cấp độ hành
chỉnh-quyết định Trong 14.827 lượt người tham gia các hoạt động cộng đồng được
phân thành 3 nhóm: nhóm các hoạt động truyền thông được tổ chức cho cộng đồng
được hiểu và biết các nội dung định hướng phát triển, bảo vệ và sử dụng hợp lý
TN&MT với 58% số lượt người tham gia; nhóm các hoạt động nâng cao năng
lực-đào tạo được tổ chức cho cộng đồng bàn luận các nội dung, vấn đề được định hướng
với 20,50% lượt người tham gia; và nhóm các hoạt động cộng đồng cùng phối hợp
thực hiện hoặc tự quyết định thực hiện được tổ chức nhằm triển khai hành động các
nội dung cộng đồng đã hiểu, đã bàn luận và đã đồng thuận với 21,58% lượt người
tham gia (Hình 4.2.)
- Đánh giá cấp độ đồng quản lý thông qua chuỗi các sự kiện phát triển của
KBTB Cù Lao Chàm
Kế hoạch ĐQL KBTB Cù Lao Chàm triển khai từ tháng 10/2003 với hai mục
tiêu lâu dài là bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế địa phương Sau khi
được tham gia công tác truyền thông, đào tạo, khảo sát, đánh giá, tham quan học tập,
cải thiện sinh kế, tháng 9/2004, Câu lạc bộ Bảo tồn biển được thành lập là bước đầu
tiên, chứng minh sự chuyển biến nhận thức về bảo tồn của cộng đồng nhằm tập hợp
các thành viên trong cộng đồng tình nguyện tham gia bảo tồn biển và là hạt nhân xúc
tiến hoạt động phân vùng bảo vệ trong KBTB Quá trình quy hoạch và xây dựng quy
chế quản lý KBTB được tăng cường và xúc tiến Đến tháng 12 năm 2005, quy hoạch
phân vùng và quy chế quản lý KBTB được người dân đồng thuận và được UBND
tỉnh Quảng Nam phê chuẩn, đánh dấu một bước ngoặt mới cho sự nghiệp bảo tồn
biển ở Cù Lao Chàm Tháng 3 năm 2006, Ban Quản lý KBTB Cù Lao Chàm được
thành lập và tuyển đội ngũ nhân viên từ cộng đồng địa phương phục vụ cho công
việc tuần tra giám sát theo quy chế KBTB Để hỗ trợ cho công tác quản lý KBTB,
một hệ thống phao phân vùng được thiết lập nhằm giúp cho cộng đồng dân địa
phương dễ dàng xác định được các vùng chức năng trong KBTB một cách rõ ràng
Tháng 12 năm 2006, các Ban bảo tồn thôn được thành lập tại mỗi thôn là tập hợp của
các đại diện người dân trong cộng đồng gồm 20 người, mỗi thôn 5 người; là nhóm
hạt nhân trong cộng đồng, thường xuyên được tham gia các lớp tập huấn chuyên môn
về bảo tồn biển, phát triển sinh kế, tuần tra giám sát, phát triển du lịch, phân tích các
lợi ích cộng đồng Tháng 3 năm 2007, đánh giá ảnh hưởng sinh kế cộng đồng từ việc
thả phao phân vùng được tiến hành Qua khảo sát đánh giá hơn 40 hộ gia đình làm
nghề lặn và 60 hộ gia đình làm nghề lưới có liên quan đã xác định được phần trăm số
hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi việc phân vùng và mức độ ảnh hưởng về kinh tế thu
nhập của các hộ gia đình đó Đánh giá cũng đã góp phần xác định được thành phần
và số lượng thành viên trong cộng đồng sẽ tham gia vào các hoạt động hỗ trợ phát
triển sinh kế thay thế cũng như vay vốn tín dụng Tháng 12 năm 2007, Ban Quản lý
Du lịch xã Tân Hiệp được thành lập, nhằm điều phối các hoạt động du lịch tại Cù
Lao Chàm, và sử dụng hiệu quả các hướng dẫn viên du lịch người địa phương đã
được đào tạo trong thời gian xây dựng KBTB Tháng 12 năm 2008, Kế hoạch quản
lòng của dân chứ không chỉ đơn thuần là tập hợp được sức mạnh “cơ bắp” của lực lượng quần chúng nhân dân
2.2 Áp dụng thực tiễn đồng quản lý
- ĐQL bảo vệ rạn san hô, rừng ngập mặn trong vùng bờ và lưu vực sông đã được áp dụng thành công ở Kon Chang, Pak - Phanang, Thái Lan
- Việt Nam cũng đã triển khai áp dụng thực tế mô hình ĐQL khai thác và nuôi trồng thủy sản, dưới sự hỗ trợ của các tổ chức và trung tâm nghiên cứu quốc tế về cộng đồng, và về bảo vệ TN&MT Nhiều mô hình quản lý dựa vào cộng đồng và ĐQL tài nguyên ven biển, rừng ngập mặn, nghề cá, phát triển nông thôn đã và đang được tổ chức thực hiện trên 9 tỉnh đại diện cho 7 vùng kinh tế sinh thái: Vùng Trung
du miền núi phía Bắc (Quảng Ninh, Yên Bái, Sơn La); Vùng Đồng bằng sông Hồng (Hải Phòng, Nam Định); Vùng Bắc Trung bộ (Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên Huế); Vùng Duyên hải Nam Trung bộ (Quảng Nam, Bình Định, Khánh Hòa, Ninh Thuận); Vùng Đông Nam bộ (Đồng Nai); Vùng Tây Nam bộ (An Giang, Sóc Trăng, Bến Tre,
Cà Mau); Vùng Tây nguyên (Đắc Lắc)
Nhìn chung, các mô hình ĐQL/Quản lý dựa vào cộng đồng đã, đang áp dụng được xem như một công cụ hỗ trợ đắc lực cho quản lý nhà nước hiện nay trong nhiều lĩnh vực quản lý tài nguyên ven biển, quản lý và phát triển rừng ngập mặn, phát triển nông thôn, quản lý nghề cá nói riêng, thủy sản nói chung Hầu hết các mô hình mang lại hiệu quả khả quan đã xuất phát từ nhu cầu thực tế của người dân, cũng như qua phỏng vấn 100% người dân và cán bộ chính quyền, đều thấy được sự cần thiết phải thực hiện mô hình ĐQL để bảo vệ nguồn lợi Trên những địa phương có áp dụng ĐQL, các quy định về quản lý nguồn lợi được tuân thủ tốt hơn, giảm thiểu được các phương tiện khai thác hủy diệt, giảm ô nhiễm môi trường từ nuôi trồng thủy sản và
đã góp phần cải thiện thu nhập cho người dân
Tuy nhên, có những địa phương do chưa hiểu đúng về bản chất và cách tiếp cận ĐQL, nên việc triển khai thực hiện ĐQL chưa hiệu quả Tính hợp pháp của mô hình chưa cao, thiếu văn bản quy định của chính quyền về giao quyền, phân định quyền sử dụng và ranh giới quản lý vùng nước hoặc đã có nhưng chưa rõ ràng, chưa
có văn bản chính thức của chính quyền địa phương phê chuẩn các quy chế, cam kết việc tham gia thực hiện mô hình ĐQL, đã ảnh hưởng nhiều đến các hoạt động và hiệu quả mô hình Mức độ phối hợp giữa chính quyền, cộng đồng và các bên liên quan trong ĐQL chưa chặt chẽ Cán bộ tổ chức cộng đồng tham gia với tâm lý “đi làm dự án” hơn là một công việc thường xuyên Cách tổ chức cộng đồng chưa thống nhất và liên tục, còn nặng về hình thức thành lập các ban bệ hơn là triển khai cụ thể các hoạt động cộng đồng, ảnh hưởng đến sự thành công của mô hình; nên chưa có sự chuyển biến nổi bật về môi trường, nguồn lợi tại một số nơi thực hiện mô hình Do
đó, tính bền vững và khả năng nhân rộng của mô hình chưa cao
Dựa vào các khái niệm, nhận định và những bài học kinh nghiệm qua thực tế
áp dụng ĐQL của Thế giới và Việt Nam; cũng như dù đứng ở góc nhìn nào đối với
hệ thống tài nguyên có nhiều đối tượng cùng sử dụng và hưởng lợi rất phức tạp này, thì tác giả đề tài cũng đồng tình với định hướng phối kết hợp sự tham gia giữa người
Trang 6sử dụng hưởng lợi với Nhà nước và các bên lên quan cùng chia sẻ trách nhiệm và
duy trì lợi ích hợp lý của các thành phần cộng đồng theo hướng Nhà nước và nhân
dân cùng làm, cùng hưởng lợi để quản lý hệ thống này hiệu quả hơn
Tuy đã và đang có nhiều chương trình ĐQL bảo vệ TM&MT dựa vào cộng
đồng đạt được những kết quả khả quan, thế nhưng hiện nay quá trình ĐQL đã được
áp dụng ở Việt Nam cũng như trên Thế giới, thực chất mới chỉ dựa vào các khái
niệm định tính của từ ngữ để đưa ra các tiêu chí, cơ chế khi thực hiện một chương
trình quản lý TN&MT nào đó có cộng tham gia, đều được gọi là mô hình ĐQL Do
chưa có một mô hình ĐQL nào làm sáng tỏ các khía cạnh lý luận ĐQL và nền tảng
của ĐQL dựa vào cộng đồng để xây dựng một mô hình ĐQL khả thi về mặt thực
tiễn, đã dẫn đến thực trạng ĐQL hiện nay được triển khai trên mỗi địa phương mỗi
khác Hầu hết các mô hình được gọi là ĐQL đều chưa có phương pháp luận khoa học
để được tổ chức thực hiện một cách bài bản Cho nên, ĐQL dựa vào cộng đồng là
điều cần phải được chứng minh cả về lý luận lẫn thực tiễn, nhằm minh chứng lý luận
ĐQL đáp ứng được thực tiễn ĐQL
XÂY DỰNG VÀ ỨNG DỤNG THỬ NGHIỆM MÔ HÌNH ĐỒNG QUẢN LÝ
3.1 Xây dựng khung logic ĐQL
Nội dung một chu trình ĐQL được thể hiện trong hình 3.1 tại trang 8
3.2 Phân tích khung logic ĐQL
Tác giả đề tài phân tích, làm sáng tỏ các khía cạnh lý luận và thực tiễn, cơ
chế và tiêu chí ĐQL TN&MT dựa vào cộng đồng bằng cách tiếp cận theo công thức
(1)
1 2 1
1 ( )
1 ) (
=
=
∑
∑
=
=
n
j j
n
j j
S
S
Nếu gọi S1(j) là phần trăm tham gia của Nhà nước vào hoạt độngjcó liên
quan đến quản lý TN&MT và S2(j)là phần trăm tham gia của cộng đồng vào hoạt
động jcó liên quan đến quản lý TN&MT thì S1(j) +S2(j) =100% Như vậy
∑
=
n
j
j
S
1
)
(
1 và ∑
=
n
j
j S
1
) (
2 , với j ( j = 1 , 2 , 3 , n ) là sự tham gia của Nhà nước và cộng
đồng vào toàn bộ các hoạt động có liên quan đến việc bảo vệ TN&MT như: nâng cao
nhận thức, năng lực cộng đồng, quy hoạch, phân vùng chức năng, xây dựng quy chế
và kế hoạch quản lý, cải thiện sinh kế, quản lý rác thải, phát triển du lịch sinh thái,
phê chuẩn quy hoạch phân vùng bảo vệ, phê chuẩn quy chế, kế hoạch quản lý, và ra
Mồ, từ 66 vết năm 2004 xuống còn 1 vết trong năm 2008 Số lượng Sao biển gai cũng giảm hơn so với năm 2004, từ 31 cá thể năm 2004 xuống còn 19 cá thể năm
2008 Còn Cầu gai đen có xu thế gia tăng mật độ và diện tích phân bố Kết quả giám sát sinh thái tại các điểm cố định cho thấy mật độ trung bình của động vật không xương sống (ĐVKXS) kích thước lớn tại 10 điểm giám sát cố định vào năm 2008 cao hơn nhiều so với năm 2004 (trung bình tương ứng là 31,0 và 8,7 con/100 m2)
Mật độ Cầu gai đen (Diadema spp.) chiếm ưu thế, dao động 67%-85% tổng số
*Hải sâm (Holothuridae) là nhóm ĐVKXS kich thước lớn cao thứ hai sau
nhóm cầu gai đen Nhìn chung mật độ nhóm này có sự gia tăng năm 2008 so với năm
2004 (đạt giá trị tương ứng là 1,3 và 5,2 con/100 m2) Hải sâm đen (Holothuria atra)
có mật độ cao nhất là 33,8 con/1002 KBTB Cù Lao Chàm là nơi có mật độ hải sâm còn lại trên rạn thuộc vào loại cao nhất Việt Nam hiện nay Mật độ trung bình của
Thân Mềm (thuộc hai nhóm là Trai tai tượng Tridacna spp và Ốc đụn Trochus spp.)
tại 10 điểm giám sát cố định hầu như không có sự thay đổi giữa hai lần giám sát năm
2004 và 2008 Trong đó vùng bảo vệ nghiêm ngặt mật độ tăng từ 6,7 con/100 m2 lên 41,7 con/100 m2, vùng không được bảo vệ nghiêm ngặt tăng từ 11,2 con/100 m2 lên 17,7 con/100 m2
4.9 Diễn biến quản lý TN&MT
Diễn biến quản lý TN&MT tai KBTB Cù Lao Chàm được thể hiện qua sự thành lập/ban hành và duy trì các thể chế cộng đồng theo thời gian từ tháng 10/2003 đến tháng 10/2010 Trong quá trình ĐQL các thể chế cộng đồng này là kết quả của
sự đồng thuận giữa các thành phần cộng đồng với nhau trong việc quản lý TN&MT, đồng thời nhà nước có trách nhiệm thành lập và phê chuẩn các cam kết của cộng đồng nhằm làm cơ sở pháp lý địa phương hỗ trợ cho công tác quản lý
4.10 Đánh giá kết quả KBTB Cù Lao Chàm theo ý kiến cộng đồng
Việc tổ chức đánh giá hiệu quả của KBTB theo ý kiến của cộng đồng được tổ chức vào cuối năm 2010, nhằm mục đích tăng cường thêm thông tin cho việc đánh giá mô hình ĐQL TN&MT tại KBTB Cù Lao Chàm Bằng phương pháp tập trung, chia nhóm thảo luận theo các chuyên đề: (i) Nguồn lợi và khai thác; (ii) Sinh kế thay thế; (iii) Bảo vệ môi trường; và (iiii) Tổ chức cộng đồng, nghiên cứu đã tập hợp được thông tin thảo luận và nhận định từ đại diện 200 hộ gia đình/560 hộ sinh sống trong KBTB Cù Lao Chàm, theo các phương pháp đánh giá kinh điển PRA, SWOT
4.11 ĐQL đã nâng cao sự tham gia của cộng đồng vào quản lý TN&MT tại KBTB Cù Lao Chàm
- Đánh giá sự phát triển cộng đồng Cù Lao Chàm: Qua quá trình ứng dụng
ĐQL từ tháng 10/2003 đến tháng 10/2010, sự thay đổi của cộng đồng Cù Lao Chàm rất dễ được nhận diện kể cả bằng số liệu cụ thể và sự thay da đổi thịt của địa phương này về các vấn đề: quản lý rác thải, tiếp cận ngư trường, công ăn việc làm, tài nguyên chủ chốt, phát triển du lịch, nhóm/hội sinh kế, tổ chức cộng đồng về bảo tồn và du lịch, không sử dụng túi nilon, dịch vụ du lịch, thu nhập của người dân,…đã được thể hiện về diễn biến so sánh theo thời gian
Trang 7KBTB Cù Lao Chàm được tỉnh Quảng Nam cấp thêm nguồn kinh phí thực
hiện kế hoạch quản lý giai đoạn 2009-2015 Từ năm 2011 trở đi, kinh phí hoạt động
của KBTB bao gồm các nguồn cấp thường xuyên và kế hoạch quản lý KBTB do tỉnh
Quảng Nam cấp và nguồn thu phí dịch vụ sinh thái Nguồn tài chính này sẽ được
tăng dần từ 2,5 tỷ vào năm 2011 đến 3,7 tỷ vào năm 2015, trong đó phần đóng góp
của lệ phí dịch vụ sinh thái có tỷ trọng từ 47% vào năm 2011 đến 63% vào năm
2015 Vì vậy, để đảm bảo được nguồn kinh phí hoạt động thường xuyên một cách
bền vững, KBTB Cù Lao Chàm cần ưu tiên điều phối các hoạt động cộng đồng một
cách tích cực, đẩy mạnh công tác bảo tồn, nâng cao chất lượng dịch vụ
- Tình hình thu lệ phí tham quan/lặn biển tại KBTB Cù Lao Chàm Đỉnh cao
nhất vào năm 2010 đạt 43.113 lượt người/năm, khách nội địa là 30.948 và nước
ngoài là 12.165 lượt người/năm Tổng lệ phí dịch vụ sinh thái (PES) thu được từ năm
2007 đến 2010 là 2.081 triệu Phân bổ cho KBTB khoảng 1.369 triệu, UBND xã Tân
Hiệp - 508 triệu, Đồn Biên phòng 276 và Đồn Biên phòng 260 mỗi đơn vị 78 triệu,
cho quản lý TN&MT tại Cù Lao Chàm theo Quyết định 220/QĐ-UBND và
28/2007/QĐ-UBND tỉnh Quảng Nam
4.7 Quan trắc, giám sát
- Bộ chỉ thị KBTB Cù Lao Chàm: được xây dựng cho các lĩnh vực môi trường,
sinh thái, kinh tế, xã hội Trong đó phần lớn tập trung vào hai mục tiêu lớn là theo
dõi diễn biến đa dạng sinh học và đời sống kinh tế của người dân
- Bộ chỉ tiêu đánh giá các đối tượng tài nguyên mục tiêu: đã được cộng đồng
người dân địa phương tham gia góp ý kiến xây dựng cho 6 đối tượng tài nguyên chủ
chốt và được lượng hóa một cách rõ ràng, dễ dàng cho người dân tiếp cận, theo dõi,
giám sát và đánh giá
4.8 Xu thế thay đổi chất lượng môi trường và đa dạng sinh học theo thời gian
trong KBTB Cù Lao Chàm
- Chất lượng nước: Nhìn chung, giá trị trung bình các yếu tố pH, nhiệt độ, độ
muối, hàm lượng DO ở các mặt cắt khá tương tự nhau qua các năm Độ muối dao
động trong khoảng từ 28,3‰ đến 32,4‰ Sự giàu có về hàm lượng oxy hòa tan
chứng tỏ vùng biển Cù Lao Chàm có sự trao đổi oxy tốt, ít bị ảnh hưởng của các
thành phần hữu cơ Hàm lượng BOD5 và COD có sự biến động tương đối
- Đa dạng sinh học rạn san hô Kết quả đánh giá nhanh cho thấy so với năm
2004 thì độ phủ trung bình của san hô sống giảm 2,40%, san hô cứng giảm gần 1%
và san hô mềm giảm 1,41%, san hô chết tăng 2,46% Sự suy giảm này liên quan đến
nhiều yếu tố tác động, trong đó có ảnh hưởng của các tai biến thiên nhiên
- Cá rạn san hô Kết quả giám sát tại 10 điểm rạn cố định cho thấy mật dộ
trung bình tổng số cá rạn có sự khác nhau không lớn giữa năm 2004 và 2008, tương
ứng là 84,5 và 94,7 con/100 m2 So sánh giữa các vùng được quản lý và bảo vệ khác
nhau cho thấy vùng bảo vệ nghiêm ngặt có mật độ trung bình cá rạn cao hơn (107
con/100 m2) so với vùng không bảo vệ nghiêm ngặt (79,2/100 m2)
- Động vật không xương sống kích thước lớn So với năm 2004, số lượng Sao
biển gai và các vết tẩy trắng giảm hơn một nửa Khu vực giảm nhiều nhất là Hòn
các quyết định Đồng thời ta cũng có ∑S1(j) =∑S2(j)hay là 1
2 1
1 ( )
1 ) (
=
∑
∑
=
=
n
j j
n
j j
S
S
Nếu
S
S j
j
=
) (
) (
2
1
thì A có thể nằm trong 3 trường hợp: A>1; A<1; hoặc A=1 A>1 là biểu hiện phần trăm sự tham gia của Nhà nước nhều hơn hoặc chiếm
ưu thế hơn phần trăm tham gia của cộng đồng trong hoạt động j
A<1 là biểu hiện phần trăm tham gia của cộng đồng nhiều hơn hoặc chiếm
ưu thế hơn phần trăm tham gia của Nhà nước trong hoạt động j
A=1 là biểu hiện phần trăm tham gia của Nhà nước tương đương với phần trăm tham gia của cộng đồng trong hoạt động j, hay là
1 50
50 2
1
) (
)
=
=
j
j
S
S
Đây là tỷ số ĐQL lý tưởng đối với hoạt động j có liên quan đến quản lý TN&MT
Như vậy, A là tỷ số ĐQL của từng hoạt động cộng đồng khác nhau Ví dụ: Nâng cao nhận thức, năng lực cộng đồng, quy hoạch và phân vùng, xây dựng quy chế và kế hoạch quản lý, cải thiện sinh kế, quản lý rác thải, phát triển du lịch sinh thái là những hoạt động thiên về cộng đồng và cần cộng đồng cũng như các bên liên quan tham gia nhiều hơn Nhà nước thì A< 1 Trong khi phê chuẩn quy hoạch và phân vùng cấm, phê chuẩn quy chế, kế hoạch quản lý, ra các quyết định là những hoạt động thiên về quản lý nhà nước tham gia nhiều hơn cộng đồng thì A >1 Trong quá trình ĐQL, Nhà nước phải thực hiện một quy trình từng bước tổ chức các hoạt động thực tiễn dựa vào cộng đồng, xây dựng cơ sở cộng đồng đó đủ vững mạnh và cộng đồng phải được nâng cao nhận thức, năng lực để cùng Nhà nước đồng thuận chia sẻ trách nhiệm quản lý trên cơ sở Nhà nước và nhân dân cùng làm, cùng hưởng lợi Và đây sẽ là những động lực quan trọng để cộng đồng cũng đồng thuận hợp tác tham gia, quản lý bảo vệ TN&MT
50
50 2
1
) (
) (
=
=
j
j S
S
là tỷ số chứng minh nền tảng hệ quả ĐQL dựa vào cộng đồng, Nhà nước và nhân dân cùng đồng thuận, trên dưới đồng một lòng bảo vệ TN&MT
Ngoài ra S1(j)
hoặc S2(j)
không thể bằng 0% hoặc là 100%, nhưng tỷ số
0
100
là Nhà nước quản lý 100% trong vấn đề an ninh quốc phòng; hoặc 100
0
là Nhà nước giao 100% quyền quản lý cho cộng đồng là điều không thể có ở Việt Nam Vì
Trang 8không những ở Việt Nam mà ở các quốc gia khác trên Thế giới, Nhà nước nào cũng
phải tập trung quyền lực quản lý về an ninh quốc phòng, về bảo mật quốc gia để bình
ổn đất nước; còn người dân phải sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật Như
vậy, tỷ số ĐQL thể hiện sự cùng đồng thuận chứ không phải đồng quyền lực hay chia
sẻ quyền lực; cũng như không phải tất cả mọi hoạt động quản lý nào của Nhà nước
cũng cần có cộng đồng tham gia
Hình 3.1 Khung logic ĐQL
Khái niện ĐQL
• ĐQL của Thế giới
Thực tiễn ĐQL
• Thế giới áp dụng ĐQL
• Việt Nam áp dụng ĐQL
• Nhận định về khái niệm, thực tiễn ĐQL Thế giới và Việt Nam
• Các bài học kinh nghiệm
Hồ sơ vùng nghiên cứu
• Nguồn lợi tài nguyên
(tiềm năng và đe dọa)
• Cấu trúc và đặc điểm của
cộng đồng, sự phụ thuộc và các
mâu thuẫn
Các vấn đề tồn tại trong quản
lý
• Xác định các vấn đề chính cần phải ĐQL
• Xác định theo thứ tự ưu tiên các hoạt động cộng đồng (1,2,3,4,5,6,…)
Kế hoạch đồng quản lý
1 Nâng cao nhận thức cộng đồng
2 Quy hoạch phân vùng
3. Nâng cao năng lực cộng đồng
4 Xây dựng quy chế
và kế hoạch quản lý
5. Chương trình cải thiện sinh kế
6. Quản lý rác thải
7. Phát triển du lịch sinh thái
8. Xây dựng cơ chế tài chính bền vững
9. Xây dựng chương trình quan trắc, giám sát
Giai đoạn thực thi kế hoạch đồng quản lý
• Kỹ năng tổ chức cho cộng đồng tham gia
• Cách tham gia của cộng đồng
• Cấp độ tham gia của cộng đồng
Đánh giá, so sánh kết quả
• Các kết quả cuối cùng
• Kết luận / Khuyến nghị
Các tỷ số ĐQL của từng hoạt động cộng đồng
70%
30%
S2
S1
(4)
Σ
Σ S1= ΣΣΣ S2
100%
S1: Quản lý Nhà nước
S2: Cộng đồng tham gia
Nhà nước và nhân dân cùng làm cùng hưởng lợi
(6)
là 21.465 triệu, thủy sản là 13.696 triệu, du lịch là 7.171 triệu và dịch vụ sinh thái là
598 triệu Năm 2009 là 25.539 triệu, trong đó thủy sản là 16.309 triệu, du lịch là 8.380 triệu và dịch vụ sinh thái là 849 triệu Chiếm tỷ trọng 36% tổng doanh thu chung của Cù Lao Chàm
4.5 Lợi ích KBTB Cù Lao Chàm
- Lợi ích hiện tại của KBTB Cù Lao Chàm: Chi phí cho hoạt động khai thác
thủy sản (chi phí hoạt động, chi phí cố định, chi phí đầu tư, bảo hiểm, thuế), chi phí cho hoạt động du lịch bao gồm chi phí hình thành nên các sản phẩm du lịch, chi phí
hỗ trợ tổng đầu tư xây dựng từ dự án KBTB, chi phí từ chương trình hỗ trợ sinh kế của Hợp phần sinh kế KBTB, chi phí do nguồn ngân sách tỉnh Quảng Nam cấp cho hoạt động của Ban Quản lý KBTB (700 triệu/năm) Lợi ích từ khu bảo tồn biển = Lợi ích không tính được bằng tiền + (tổng doanh thu từ các hoạt động kinh tế - tổng chi phí cho các hoạt động)
- Dự đoán lợi ích của KBTB Cù Lao Chàm: Một dự đoán vệ lợi ích có tính mô
phỏng của toàn khu bảo tồn được trình bày như sau:
(1) Thủy sản + Ngắn hạn: không tính toán được (hoặc có thể chưa đạt được) + Trung hạn (5 đến 10 năm): tăng 5% so với mức độ hiện tại + Dài hạn (10 đến 20 năm): tăng 5% so với mức độ hiện tại (2) Du lịch
+ Ngắn hạn: Lợi ích tăng 38% mỗi năm Dự tính 50% lợi ích tăng được đầu tư vào dịch vụ cũng như các cơ sở hạ tầng Do vậy, lợi ích ròng có thể chỉ tăng 19% mỗi năm
+ Trung hạn (5-10 năm): Lợi ích tăng 34%, lợi ích ròng tăng 17%
+ Dài hạn (10-20 năm): Lợi ích tăng 10%, lợi ích ròng tăng 5%
(3) Nguồn lợi yến sào + Ngắn hạn: không có ảnh hưởng + Trung hạn (5-10 năm): mất hẳn lợi ích khoảng 5% (dự báo là do ảnh hưởng của phát triển du lịch không có giới hạn)
+ Dài hạn (10-20 năm): sự thất thoát có thể lên đến 10%
- Kế hoạch phát triển Cù Lao Chàm trong thời gian từ năm 2011-2015: Cù
Lao Chàm đã đón được hơn 40.000 lượt khách du lịch vào năm 2010 với doanh thu hơn 10 tỷ đồng Theo UBND xã Tân Hiệp, Cù Lao Chàm định hướng đạt mức doanh thu 65 tỷ đồng vào năm 2015, tính riêng thủy sản và dịch vụ du lịch sẽ đạt giá trị hơn
45 tỷ đồng Để đạt được mục tiêu doanh thu đề ra, Cù Lao Chàm dự báo phải tiếp nhận được hơn 100.000 du khách năm 2015 và phải có chiến lược nâng cao nhận thức, năng lực cho người dân, nâng cao chất lượng dịch vụ và tăng cường hoạt động bảo tồn, thì mới đủ khả năng tiếp nhận được lượng du khách trên Đối với doanh nghiệp bên ngoài Cù Lao Chàm, thì doanh thu du lịch liên tục tăng và đạt mức 22 tỷ đồng vào năm 2010 gấp đôi doanh thu mà người địa phương thu được
4.6 Tài chính bền vững cho KBTB Cù Lao Chàm
Trang 94.3 ĐQL hỗ trợ KBTB phát triển sinh kế thay thế tại Cù Lao Chàm
ĐQL đã góp phần phát triển sinh kế thay thế trên cơ sở sử dụng các dịch vụ
sinh thái theo hướng bảo tồn, trong đó quan trong nhất là các hoạt động du lịch cộng
đồng Nếu như trước đây, sinh kế của người dân địa phương chủ yếu dựa vào khai
thác biển, thì ngày nay, người dân Cù Lao Chàm đã đa dạng được nguồn sinh kế của
họ vào các lĩnh vực khai thác biển, khai thác rừng, dịch vụ biển, dịch vụ bờ, sản xuất
chế biến, chăn nuôi trồng trọt, và thủ công mỹ nghệ
- Tác động kinh tế hộ gia đình do phân vùng bảo vệ được phân làm 6 mức độ
khác nhau Mức 6: >50% cho hộ gia đình chấp hành nghiêm túc không đánh bắt
trong vùng cấm và không có nghề nghiệp mới làm sinh kế thay thế, thì thu nhập bị
giảm đi hơn 50% so với trước đây Mức 5: từ 40%-50%, mức 4: từ 30%-40%, mức
3: từ 20%-30%, mức 2: từ 10%-20%, và mức 1: <10% Ảnh hưởng đến kinh tế hộ
gia đình này phần lớn nằm trong khoảng 30% trở lại, có nghĩa là 40% số người tham
gia đánh bắt trong vùng rạn san hô trước đây bị ảnh hưởng ở mức 2 (từ 10%-20% thu
nhập), 30% ở mức 3 (từ 20%-30% thu nhập) Một số hộ gia đình bị ảnh hưởng ở múc
4 trở lên, phần lớn là các hộ nghèo, thu nhập chủ yêu phụ thuộc vào việc đánh bắt
bằng thúng chai sơ sài ở vùng rạn san hô Đây là cơ sở quan trọng xác định thứ tự ưu
tiên, công bằng để hỗ trợ cộng đồng
- Phát triển ngành nghề: Nghề nghiệp của người dân được phân chia thành 7
nhóm chính: du lịch bờ chiếm 15,70%, dịch vụ biển 1,77%, khai thác biển 65,35%,
khai thác rừng 6,745%, sản xuất chế biến 2,59%, chăn nuôi trồng trọt 8,63% và thủ
công mỹ nghệ 0,26% Thời gian 5 năm trở lại đây, ngành nghề ở Cù Lao Chàm đa
dạng hơn, tỷ lệ người tham gia trong nhóm nghề khai thác biển theo lứa tuổi giảm
dần từ 24,88% xuống 16,92%, đến 10,20% Các nhóm ngành nghề dịch vụ bờ, dịch
vụ biển, sản xuất chế biến có xu hướng tăng dần Nhóm dịch vụ bờ có số người tham
gia tăng dần từ 2,42%, lên 3,79%, đến 8,14% Đặc biệt nhóm nghề khai thác rừng đã
gia tăng số người tham gia từ 1,47%, lên 1,53% và đến 2,67% Cù Lao Chàm cần
quan tâm giám sát chỉ số này để bảo tồn tài nguyên rừng
- Sản phẩm du lịch: Kết quả khảo sát cho thấy mức độ ưa chuộng của du khách
đến với Cù Lao Chàm tập trung phần lớn vào các nhóm sản phẩm khai thác biển
31,67%, nhóm khai thác rừng 15,65%, nhóm sản xuất chế biến 17,08%, nhóm dịch
vụ bờ 19,92%, nhóm dịch vụ biển 12,45% và nhóm thủ công mỹ nghệ 3,2%
4.4 ĐQL hỗ trợ KBTB góp phần phát triển kinh tế địa phương
ĐQL đã góp phần nâng cao lợi ích của cộng đồng địa phương thông qua các
hoạt động bảo tồn và phát triển sinh kế thay thế trên cơ sở của bảo tồn Trong những
năm đầu của quá trình ĐQL lợi ích của cộng đồng địa phương trong hoạt động thủy
sản có phần chững lại do người dân phải chấp hành các cam kết không khai thác tại
một số vùng cấm Tuy nhiên, trong những năm tiếp theo lợi ích cộng đồng đã được
tăng lên nhờ nguồn thu từ hoạt động du lịch cộng đồng
- Doanh thu từ các hoạt động kinh tế Cù Lao Chàm: Năm 2007 tổng doanh thu
kinh tế Cù Lao Chàm là 17.580 triệu trong đó khai thác thủy sản là 11.088 triệu, du
lịch là 6.125 triệu và thu phí dịch vụ sinh thái là 367 triệu Năm 2008, tổng doanh thu
3.3 Thiết kế mô hình đồng quản lý
Trên tất cả các cơ sở đó, tác giả đề tài đã thiết kế mô hình ĐQL tài nguyên môi trường dựa vào cộng đồng như một công cụ để hỗ trợ cho công đoạn ứng dụng thử nghiệm tại KBTB Cù Lao Chàm (Hình 3.2 tại trang 10)
Nếu mô phỏng lợi ích chung của cộng đồng là B, thì lợi ích này bao gồm tính đa dạng sinh học được bảo vệ, nguồn lợi thủy sản được phục hồi, khai thác sử dụng, chất lượng môi trường đảm bảo, thu thập hộ gia đình ổn định,…được biểu diễn theo công thức (2)
∑ ∑
= =
=
n
i n
j ij
B B
1 1
) ( (2) Trong đó
i: số thứ tự của mỗi nhóm cộng đồng nghề nghiệp trong địa phương
j: số thứ tự của mỗi thành viên trong mỗi nhóm cộng đồng nghề nghiệp )
(ij
B : lợi ích của thành viên j trong mỗi nhóm cộng đồng nghề nghiệp i
Như vậy, nếu gọi lợi ích của mỗi thành viên trong mỗi nhóm cộng đồng nghề nghiệp là B h ( y)(y = 1 , 2 , 3 ) thì B (ij) sẽ bao gồm lợi ích của nhiều B h ( y) Mục tiêu của ĐQL ở đây là làm thế nào để B (ij) đạt nhiều B h ( y), có nghĩa là càng được nhiều lợi ích từ nhiều nhóm cộng đồng nghề nghiệp Trường hợp nếu có B h(y) =0, thì cũng có nghĩa là một vài hộ gia đình nào đó không tham gia váo các nhóm cộng đồng nghề nghiệp trong địa phương
Tương tự
Nếu mô phỏng trách nhiệm chung của cộng đồng là R, thì trách nhiệm này bao gồm việc tham gia quản lý bảo vệ rạn san hô, giữ gìn thôn xóm, bãi biển xanh - sạch - đẹp, môi trường không khí trong lành,… được biểu diễn theo công thức (3)
∑ ∑
= =
=
n
i n
j ij
R R
1 1
) ( (3) Trong đó
i: số thứ tự của mỗi hộ gia đình trong cộng đồng địa phương
j: số thứ tự của mỗi thành viên trong mỗi hộ gia đình )
(ij
R : trách nhiệm của mỗi thành viên j trong mỗi hộ gia đình i trong cộng đồng địa phương
Như vậy, nếu gọi trách nhiệm của mỗi thành viên trong mỗi hộ gia đình đối với TN&MT là R h ( y)(y = 1 , 2 , 3 ), thì R (ij) sẽ bao gồm trách nhiệm của nhiều )
( y h
R Mục tiêu của ĐQL ở đây là làm thế nào để từng thành viên trong mỗi hộ gia đình đều có trách nhiệm quản lý, bảo vệ TN&MT đối với cộng đồng địa phương
Trang 10Hình 3.2 Mô hình ĐQL TN&MT tại KBTB Cù Lao Chàm
3.4 Luận giải mục tiêu ứng dụng mô hình ĐQL
Hiện nay, ĐQL là một vấn đề mới, nhạy cảm do cách hiểu còn khác nhau,
nên còn đang gây tranh cãi Để làm sáng tỏ các khía cạnh lý luận ĐQL dựa vào cộng
QLNN cấp trung ương
UBND tỉnh thành phố
UBNDquận huyện
UBND phường, xã
Tổ dân phố, thôn
Các bên liên quan
Cơ quan
ĐQL
Dịch vụ
sản xuất
Hỗ trợ bên ngoài DANIDA
- NGOs
- GEF
- NIO
- WWF
- IUCN UNESCO
- NOAA
- Trường đại học
- Viện nghiên cứu Chương trình phát triển cộng đồng,
- Sinh viên thực tập, tình nguyện viên…
j1
j3
j2
jn
Tư vấn kỹ thuật cộng đồng
∑ ∑
= =
=
n
i n
j ij B B
1 1 ( )
Hình 4.1 Bản đồ phân vùng KBTB Cù Lao Chàm
4.2 ĐQL hỗ trợ KBTB quản lý nghề cá ven bờ một cách hiệu quả
Nghề cá tại Cù Lao Chàm đã từng được quản lý theo năng suất khai thác hàng năm (tấn/năm), tuy nhiên, đối với mô hình ĐQL TN&MT tại KBTB Cù Lao Chàm, nghề cá trong vùng được quản lý theo cách tiếp cận hệ sinh thái Kết quả thử nghiệm từ tháng 10/2003 đến 10/2010 đã chứng minh được tính hiệu quả của việc quản lý nghề cá ven bờ theo cách tiếp cận này
- Phân bổ hậu cần nghề cá trong các vùng đánh bắt: Ngư trường khai thác
thủy sản được chia ra làm ba vùng khác nhau tính từ bờ đảo trở ra Vùng rạn san hô
từ bờ đảo trở ra khoảng 0,3 km; vùng ngoài rạn từ 0,3-2 km; và vùng nước sâu từ
2-20 km Trong vùng rạn tập trung nghề lặn, lưới kình, lưới dí, lưới nhói, lưới bi và bắt
ốc Trong khi đó các nghề như câu tay lưới trích, lưới dày, lưới thanh hai, lưới thanh
ba, lưới mực thường tập trung trong vùng ngoài rạn Vùng nước sâu là ngư trường của các nghề lưới thưa, lưới cao, mành điện, mành mực và câu vàng
- Sản lượng, sản phẩm đánh bắt: Từ năm 1996 đến năm 2004, mức trung bình
hàng năm là 1.467 tấn Từ năm 2005 đến năm 2009 chỉ đạt trung bình là 865 tấn năm Nếu như trong thời gian trước 2005, tỷ lệ thành phần cá khai thác chủ yếu tập trung vào các loại cá nổi như cá cơm, cá nục, trích, lầm, thì trong giai đoạn từ năm
2005 đến nay, khai thác phần lớn tập trung vào cá có giá trị kinh tế cao như cá hồng,
cá mú, hố, nhói, chim
- Trong thời gian từ năm 1998-2004, doanh thu của hoạt động khai thác hải sản tại Cù Lao Chàm liên tục tăng đều đặn từ hơn 10 tỷ đồng đến 21 tỷ đồng Sang giai đoạn từ năm 2005-2009, ngư trường đánh bắt tại đây đã được kiểm soát và bảo vệ theo quy chế KBTB, vì vậy, sản lượng đánh bắt giảm, kéo theo doanh thu toàn năm khoảng hơn 8 tỷ đồng Tuy nhiên, con số này đã dần tăng lên và đạt hơn 15 tỷ đồng trong những năm sau từ 2006-2010