1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

XÂY DỰNG MÔ HÌNH ĐỒNG QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG TẠI KHU BẢO TỒN BIỂN CÙ LAO CHÀM TỈNH QUẢNG NAM

27 416 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 801,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc phối hợp giữa Nhà nước, cộng đồng và các bên liên quan stakeholder để bảo vệ và sử dụng hợp lý TN&MT nói chung và biển nói riêng là một trong những hiệu quả đem lại của đồng quản lý

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

………

Chu Mạnh Trinh

XÂY DỰNG MÔ HÌNH ĐỒNG QUẢN LÝ

TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG TẠI KHU BẢO TỒN BIỂN CÙ LAO CHÀM

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại: Trường Đại học Khoa học Xã hội

và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Chu Hồi

Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, Bộ Tài nguyên và Môi trường

Phản biện 1:……… Phản biện 2:……… Phản biển 3:………

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp nhà nước họp tại:

………

……… Vào hồi… giờ… ngày… tháng… năm……

Có thể tìm hiểu luận án tại:

1) Thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,

Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

2) Thư viện Tổng hợp tỉnh Quảng Nam

3) Thư viện Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm, tỉnh Quảng Nam

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ở nước ta, tài nguyên và môi trường (TN&MT) biển là chỗ dựa sinh kế của hơn 20 triệu người sống dựa vào nguồn lợi ven bờ, trong đó có hơn 157 xã nghèo ven biển và trên hải đảo Sự phụ thuộc này càng trở nên quan trọng sống còn khi công tác quản lý TN&MT biển còn có những bất cập và các biểu hiện suy thoái môi trường, cạn kiệt tài nguyên biển ngày càng rõ nét Khai thác không hợp lý, ô nhiễm biển, thiên tai ở vùng biển, quản lý đơn ngành, thiếu sự phối hợp giữa trung ương và địa phương,… đặc biệt là sự chia sẻ trách nhiệm, lợi ích giữa cộng đồng và Nhà nước trong lĩnh vực quản lý và sử dụng TN&MT biển vẫn là những vấn đề bức xúc

Việc phối hợp giữa Nhà nước, cộng đồng và các bên liên quan (stakeholder)

để bảo vệ và sử dụng hợp lý TN&MT nói chung và biển nói riêng là một trong những hiệu quả đem lại của đồng quản lý (ĐQL) Qua thực tế áp dụng ĐQL ở một số nước trên thế giới, thì cộng đồng địa phương được tham gia trong quá trình quy hoạch, lập kế hoạch phân vùng và ra quyết định thường chú ý các tác động ảnh hưởng TN&MT ở địa phương có hệ thống hơn Gần đây, trong chừng mực khác nhau cơ chế ĐQL được nghiên cứu ứng dụng và bước đầu đã hố trợ công tác quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường biển, ven biển ở một số địa phương như: Bến Tre, Tiên Yên (Quảng Ninh), Cát Bà (Hải Phòng), Đầm Thị Nại (Bình Định), Về mặt chủ trương, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành Quy chế dân chủ cơ sở theo nguyên tắc “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” Có thể nói, hoạt động bảo vệ TN&MT biển của cộng đồng luôn gắn liền với quá trình sản xuất tại hiện trường (trên biển, hải đảo và ven biển) và là một nhiệm vụ không thể tách rời hoạt động sản xuất Vì thế, bảo vệ TN&MT biển phải được xem là một yếu tố nằm ngay trong quá trình sản xuất, cộng đồng phải được giao quyền và được bảo đảm về lợi ích (quyền

và lợi) để họ thực sự tự giác và chủ động tham gia vào sự nghiệp bảo vệ TN&MT biển và ven biển của đất nước

Mặc dù sự tham gia của cộng đồng trong bảo vệ TN&MT nói chung và biển nói riêng đã dần được pháp lý hoá, được cụ thể hoá trong nhiều văn bản chính sách, pháp luật khác nhau (Chỉ thị số 36-CT/TW của Bộ Chính trị Trung ương Đảng CSVN ngày 26/8/1998 về “Tăng cường công tác bảo vệ môi trường (BVMT) trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, Nghị quyết số 41-NQ/TW ban hành ngày 15/11/2004 về bảo vệ môi trường, Luật Thủy sản ban hành tháng 11/2003,…) nhưng đến nay vẫn chưa có một mô hình ĐQL theo đúng nghĩa của nó được áp dụng đại trà, đặc biệt không có ĐQL cho Khu bảo tồn biển (KBTB) Vì vậy, việc “Xây dựng mô hình ĐQL TN&MT biển ở KBTB Cù Lao Chàm, tỉnh Quảng Nam” để cộng đồng tham gia với tư cách là “chủ thể”, không phải “khách thể”, để trách nhiệm

và lợi ích của họ được bảo đảm trong quá trình quản lý KBTB này là một đòi hỏi khách quan và là một nhu cầu thực tế ở nước ta hiện nay và trong tương lai

2 Mục đích nghiên cứu

Đưa ra giải pháp tối ưu để vận động cộng đồng địa phương tham gia chia sẻ trách nhiệm, quyền lợi trong việc bảo vệ và sử dụng hợp lý TN&MT ở KBTB Cù Lao Chàm theo phương thức Nhà nước và nhân dân cùng làm, cùng hưởng lợi

Trang 4

3 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể

a Tổng quan các mô hình ĐQL hoặc liên quan đến ĐQL (quản lý có sự tham gia của người dân, quản lý dựa vào cộng đồng) trong quản lý TN&MT vùng bờ biển (gọi tắt là vùng bờ)

b Làm sáng tỏ các khía cạnh lý luận và thực tiễn, cơ chế và tiêu chí ĐQL, và việc ứng dụng mô hình ĐQL tại KBTB Cù Lao Chàm, tỉnh Quảng Nam

c Thiết kế mô hình ĐQL TN&MT tại KBTB Cù Lao Chàm

d Triển khai ứng dụng thử nghiệm mô hình ĐQL TN&MT trong quá trình lập kế hoạch phân vùng chức năng, xây dựng quy chế, kế hoạch quản lý, tuần tra giám sát, cải thiện sinh kế và chuyển đổi sinh kế thay thế cho người dân trên đảo

e Phân tích cơ chế và giải pháp hỗ trợ tính bền vững của mô hình ĐQL TN&MT tại KBTB Cù Lao Chàm để có thể nhân rộng

4 Đối tượng nghiên cứu

Cộng đồng và các vấn đề ĐQL TN&MT tại KBTB Cù Lao Chàm

5 Pham vị nghiên cứu

Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam

6.Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu bản chất, nền tảng ĐQL và xây dựng mô hình ĐQL TN&MT tại KBTB Cù Lao Chàm

- Nghiên cứu nhu cầu sử dụng TN&MT, văn hóa - xã hội - nhân văn của cộng đồng địa phương Cù Lao Chàm

- Nghiên cứu tri thức địa phương đối với quản lý TN&MT tại KBTB CLC

- Nghiên cứu các phương pháp, công cụ và kỹ thuật làm việc với cộng đồng

để kêu gọi sự tham gia chia sẻ trách nhiệm quản lý

- Nghiên cứu vai trò lãnh đạo, thúc đẩy của các cấp chính quyền, nhất là chính quyền địa phương đối với cộng đồng

7 Đóng góp khoa học mới của luận án

- Xác định được tính hiệu quả của việc dựa vào cộng đồng ĐQL TN&MT khi mối quan hệ mật thiết của cộng đồng địa phương với TN&MT được tôn trọng và quyền sử dụng nguồn lợi được bảo vệ, và khi tri thức địa phương của cộng đồng được phát huy cùng với năng lực cán bộ tổ chức cộng đồng được quan tâm, trao dồi

- Quá trình ĐQL đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận các khái niệm quản lý tổng hợp, quản lý thích ứng và quản lý dựa vào hệ sinh thái trong quản lý

TN&MT tại KBTB Cù Lao Chàm

Trang 5

•••• Về thực tiễn

- Kêu gọi được sự tham gia vào công việc bảo tồn và góp phần cải thiện sinh

kế thay thế cho cộng đồng Cù Lao Chàm dựa vào tính bền vững của TN&MT ở địa phương

- Tạo thuận lợi cho cộng đồng địa phương thực hiện quyền tiếp cận TN&MT tại KBTB Cù Lao Chàm

- Lồng ghép được tri thức địa phương với kiến thức khoa học trong quá trình ĐQL của các hoạt động như quy hoạch, phân vùng, xây dựng quy chế, kế hoạch quản lý, phát triển sinh kế, du lịch sinh thái tại KBTB Cù Lao Chàm

- Xác định được vai trò quan trọng của Nhà nước trong việc huy động nguồn lực và sự hỗ trợ bên ngoài, trong việc ban hành văn bản pháp quy, phê duyệt quy hoạch phân vùng, quy chế bảo vệ, kế hoạch quản lý và giao quyền quản lý, khai thác,

sử dụng lợi ích từ TN&MT cho cộng đồng Cù Lao Chàm

•••• Về kết quả nghiên cứu

- Tổng hợp được quá trình xây dựng, phát triển, tính khả thi và hiệu quả của KBTB Cù Lao Chàm theo nguyên tắc: Nhà nước và nhân dân cùng làm, cùng hưởng lợi, đáp ứng được mục tiêu bảo tồn và hỗ trợ phát triển sinh kế của người dân địa phương

- Xác định cơ chế và giải pháp hỗ trợ tính bền vững của mô hình ĐQL tài nguyên và môi trường tại KBTB Cù Lao Chàm, và cơ sở nhân rộng mô hình này Mô hình ĐQL TN&MT tại KBTB Cù Lao Chàm trở thành một trường hợp nghiên cứu điển hình (case-study) trong lĩnh vực bảo tồn biển và vận động cộng đồng tham gia

- Chứng minh được ĐQL không phải là việc chia sẻ quyền lực trực tiếp giữa Nhà nước và nhân dân, mà là sự chia sẻ trách nhiệm và lợi ích (quyền và lợi) trong quá trình quản lý TN&MT biển ở địa phương

- Xác định được chu trình tối thiểu để áp dụng ĐQL TN&MT và đã đánh giá được cấp độ ĐQL tại KBTB Cù Lao Chàm sau 07 năm áp dụng (2003 - 2010)

- Xác định được lợi ích của người dân sống trong KBTB Cù Lao Chàm so với người ngoài từ các hoạt động sinh kế như thủy sản, du lịch sinh thái mang lại trong quá trình bảo tồn, và các thách thức đối với KBTB CLC trong tương lai

8 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục; nội dung luận án được kết cấu thành 4 chương

Chương 1: Phương pháp nghiên cứu

Chương 2: Tổng quan đồng quản lý

Chương 3: Xây dựng và ứng dụng thử nghiệm mô hình ĐQL

Chương 4: Kết quả ứng dụng thử nghiệm mô hình ĐQL

Chương 1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 Phương pháp nghiên cứu chung

- Sử dụng cách tiếp cận đa ngành, cộng đồng và hệ thống theo hướng tổng hợp, phân tích lý luận và thực tiễn, định tính và định lượng thông tin, đồng thời kết hợp theo chuỗi sự kiện lịch sử và logic

Trang 6

- Áp dụng các phương pháp phân tích kinh điển theo PRA (participatory rural assessment - đánh giá nhanh nông thôn với sự tham gia của cộng đồng); DPSIR (Driven, Pressure, State, Impact, Resspondes - động lực, áp lực, tình trạng, tác động, đáp ứng); SWOT (Strength, Weakness, Opportunity, Threat - điểm mạnh, điểm yếu,

cơ hội, đe dọa) [65]; SMART (Specific, Measurable, Available, Reasonable, Time - công việc cụ thể, có thể cân đo được, thiết thực, khả thi, mốc thời gian); LFA (logical framework approach - tiếp cận khung logic); CBA (cost benefit analysis - phân tích chi phí và lợi ích); và chọn mẫu điều tra

- Sử dụng kết quả của chương trình ghi nhật ký khai thác (log-book) và chương trinh giám sát đa dạng sinh học và môi trường tại KBTB Cù Lao Chàm

Chương 2 TỔNG QUAN ĐỒNG QUẢN LÝ 2.1 Quan niệm về ĐQL

- Thế giới xem đồng quản lý (ĐQL, co-management) là sự phối hợp, trong đó người khai thác, sử dụng (user) nguồn lợi, chính quyền, các bên liên quan và các cơ quan bên ngoài vùng quản lý thông qua tư vấn và thương thuyết cùng thỏa thuận về vai trò, chia sẻ trách nhiệm và quyền hạn trong việc quản lý TN&MT ĐQL được chia thành 5 cấp độ: hướng dẫn, tư vấn, phối hợp, cố vấn và thông tin Đi cùng với ĐQL còn có quản lý có sự tham gia (participatory management), quản lý dựa vào cộng đồng (community-based management) và ĐQL dựa vào cộng đồng (community-based co-management)

- Việt Nam đã cụ thể hóa quan niệm nói trên, rằng ĐQL là sự tham gia của cộng đồng địa phương và các bên liên quan thống nhất chia sẻ trách nhiệm và lợi ích trong quản lý TN&MT theo hướng Nhà nước và nhân dân cùng làm, cùng hưởng lợi,

và theo nguyên tắc “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” Tuy nhiên, quá trình triển khai ở Việt Nam cần chú trọng kỹ năng làm việc với cộng đồng để phát huy hiệu quả thực tế của ĐQL

Như vậy có thể thấy, luận điểm nào cũng phải dựa vào sức mạnh tiềm ẩn trong cộng đồng người dân, nhất là về vấn đề bảo vệ TN&MT nếu Nhà nước không dựa vào các thành phần cộng đồng, mà chủ yếu là thành phần chính quyền và người dân địa phương thì việc quản lý, bảo vệ TN&MT sẽ không thành công Vì từ xưa đến nay hệ thống “tài nguyên dùng chung” (common pool resource “CPR”) là một hệ thống tài nguyên có nhiều đối tượng cùng sử dụng và hưởng lợi rất phức tạp vẫn được quản lý theo kiểu “cha chung không ai khóc” Do đó, Nhà nước cần đặc biệt quan tâm đến phương pháp, cách làm như thế nào để có được sự đồng thuận, đồng lòng của dân chứ không chỉ đơn thuần là tập hợp được sức mạnh “cơ bắp” của lực lượng quần chúng nhân dân

Trang 7

được tổ chức thực hiện trên 9 tỉnh đại diện cho 7 vùng kinh tế sinh thái: Vùng Trung

du miền núi phía Bắc (Quảng Ninh, Yên Bái, Sơn La); Vùng Đồng bằng sông Hồng (Hải Phòng, Nam Định); Vùng Bắc Trung bộ (Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên Huế); Vùng Duyên hải Nam Trung bộ (Quảng Nam, Bình Định, Khánh Hòa, Ninh Thuận); Vùng Đông Nam bộ (Đồng Nai); Vùng Tây Nam bộ (An Giang, Sóc Trăng, Bến Tre,

Cà Mau); Vùng Tây nguyên (Đắc Lắc)

Nhìn chung, các mô hình ĐQL/Quản lý dựa vào cộng đồng đã, đang áp dụng được xem như một công cụ hỗ trợ đắc lực cho quản lý nhà nước hiện nay trong nhiều lĩnh vực quản lý tài nguyên ven biển, quản lý và phát triển rừng ngập mặn, phát triển nông thôn, quản lý nghề cá nói riêng, thủy sản nói chung Hầu hết các mô hình mang lại hiệu quả khả quan đã xuất phát từ nhu cầu thực tế của người dân, cũng như qua phỏng vấn 100% người dân và cán bộ chính quyền, đều thấy được sự cần thiết phải thực hiện mô hình ĐQL để bảo vệ nguồn lợi Trên những địa phương có áp dụng ĐQL, các quy định về quản lý nguồn lợi được tuân thủ tốt hơn, giảm thiểu được các phương tiện khai thác hủy diệt, giảm ô nhiễm môi trường từ nuôi trồng thủy sản và

đã góp phần cải thiện thu nhập cho người dân

Tuy nhên, có những địa phương do chưa hiểu đúng về bản chất và cách tiếp cận ĐQL, nên việc triển khai thực hiện ĐQL chưa hiệu quả Tính hợp pháp của mô hình chưa cao, thiếu văn bản quy định của chính quyền về giao quyền, phân định quyền sử dụng và ranh giới quản lý vùng nước hoặc đã có nhưng chưa rõ ràng, chưa

có văn bản chính thức của chính quyền địa phương phê chuẩn các quy chế, cam kết việc tham gia thực hiện mô hình ĐQL, đã ảnh hưởng nhiều đến các hoạt động và hiệu quả mô hình Mức độ phối hợp giữa chính quyền, cộng đồng và các bên liên quan trong ĐQL chưa chặt chẽ Cán bộ tổ chức cộng đồng tham gia với tâm lý “đi làm dự án” hơn là một công việc thường xuyên Cách tổ chức cộng đồng chưa thống nhất và liên tục, còn nặng về hình thức thành lập các ban bệ hơn là triển khai cụ thể các hoạt động cộng đồng, ảnh hưởng đến sự thành công của mô hình; nên chưa có sự chuyển biến nổi bật về môi trường, nguồn lợi tại một số nơi thực hiện mô hình Do

đó, tính bền vững và khả năng nhân rộng của mô hình chưa cao

Dựa vào các khái niệm, nhận định và những bài học kinh nghiệm qua thực tế

áp dụng ĐQL của Thế giới và Việt Nam; cũng như dù đứng ở góc nhìn nào đối với

hệ thống tài nguyên có nhiều đối tượng cùng sử dụng và hưởng lợi rất phức tạp này, thì tác giả đề tài cũng đồng tình với định hướng phối kết hợp sự tham gia giữa người

sử dụng hưởng lợi với Nhà nước và các bên lên quan cùng chia sẻ trách nhiệm và duy trì lợi ích hợp lý của các thành phần cộng đồng theo hướng Nhà nước và nhân dân cùng làm, cùng hưởng lợi để quản lý hệ thống này hiệu quả hơn

Tuy đã và đang có nhiều chương trình ĐQL bảo vệ TM&MT dựa vào cộng đồng đạt được những kết quả khả quan, thế nhưng hiện nay quá trình ĐQL đã được

áp dụng ở Việt Nam cũng như trên Thế giới, thực chất mới chỉ dựa vào các khái niệm định tính của từ ngữ để đưa ra các tiêu chí, cơ chế khi thực hiện một chương trình quản lý TN&MT nào đó có cộng tham gia, đều được gọi là mô hình ĐQL Do chưa có một mô hình ĐQL nào làm sáng tỏ các khía cạnh lý luận ĐQL và nền tảng của ĐQL dựa vào cộng đồng để xây dựng một mô hình ĐQL khả thi về mặt thực tiễn, đã dẫn đến thực trạng ĐQL hiện nay được triển khai trên mỗi địa phương mỗi

Trang 8

khác Hầu hết các mô hình được gọi là ĐQL đều chưa có phương pháp luận khoa học

để được tổ chức thực hiện một cách bài bản Cho nên, ĐQL dựa vào cộng đồng là điều cần phải được chứng minh cả về lý luận lẫn thực tiễn, nhằm minh chứng lý luận ĐQL đáp ứng được thực tiễn ĐQL

XÂY DỰNG VÀ ỨNG DỤNG THỬ NGHIỆM MÔ HÌNH ĐỒNG QUẢN LÝ 3.1 Xây dựng khung logic ĐQL

Nội dung một chu trình ĐQL được thể hiện trong hình 3.1 tại trang 8

3.2 Phân tích khung logic ĐQL

Tác giả đề tài phân tích, làm sáng tỏ các khía cạnh lý luận và thực tiễn, cơ chế và tiêu chí ĐQL TN&MT dựa vào cộng đồng bằng cách tiếp cận theo công thức (1)

121

1 ) (

n

j j

và kế hoạch quản lý, cải thiện sinh kế, quản lý rác thải, phát triển du lịch sinh thái, phê chuẩn quy hoạch phân vùng bảo vệ, phê chuẩn quy chế, kế hoạch quản lý, và ra

các quyết định Đồng thời ta cũng có ∑S1(j) =∑S2(j)hay là 1

21

1 ) (

1 ) (

n

j j

Trang 9

A<1 là biểu hiện phần trăm tham gia của cộng đồng nhiều hơn hoặc chiếm

ưu thế hơn phần trăm tham gia của Nhà nước trong hoạt động j

A=1 là biểu hiện phần trăm tham gia của Nhà nước tương đương với phần trăm tham gia của cộng đồng trong hoạt động j, hay là

150

502

1)

) (

Như vậy, A là tỷ số ĐQL của từng hoạt động cộng đồng khác nhau Ví dụ: Nâng cao nhận thức, năng lực cộng đồng, quy hoạch và phân vùng, xây dựng quy chế và kế hoạch quản lý, cải thiện sinh kế, quản lý rác thải, phát triển du lịch sinh thái là những hoạt động thiên về cộng đồng và cần cộng đồng cũng như các bên liên quan tham gia nhiều hơn Nhà nước thì A< 1 Trong khi phê chuẩn quy hoạch và phân vùng cấm, phê chuẩn quy chế, kế hoạch quản lý, ra các quyết định là những hoạt động thiên về quản lý nhà nước tham gia nhiều hơn cộng đồng thì A >1 Trong quá trình ĐQL, Nhà nước phải thực hiện một quy trình từng bước tổ chức các hoạt động thực tiễn dựa vào cộng đồng, xây dựng cơ sở cộng đồng đó đủ vững mạnh và cộng đồng phải được nâng cao nhận thức, năng lực để cùng Nhà nước đồng thuận chia sẻ trách nhiệm quản lý trên cơ sở Nhà nước và nhân dân cùng làm, cùng hưởng lợi Và đây sẽ là những động lực quan trọng để cộng đồng cũng đồng thuận hợp tác tham gia, quản lý bảo vệ TN&MT

50

50 2

1) (

) (

ổn đất nước; còn người dân phải sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật Như vậy, tỷ số ĐQL thể hiện sự cùng đồng thuận chứ không phải đồng quyền lực hay chia

sẻ quyền lực; cũng như không phải tất cả mọi hoạt động quản lý nào của Nhà nước cũng cần có cộng đồng tham gia

Trang 10

• Các bài học kinh nghiệm

Hồ sơ vùng nghiên cứu

• Nguồn lợi tài nguyên

(tiềm năng và đe dọa)

• Cấu trúc và đặc điểm của

• Xác định theo thứ tự ưu tiên các hoạt động cộng đồng (1,2,3,4,5,6,…)

Kế hoạch đồng quản lý

1 Nâng cao nhận thức cộng đồng

2 Quy hoạch phân vùng

3. Nâng cao năng lực cộng đồng

4 Xây dựng quy chế

và kế hoạch quản lý

5. Chương trình cải thiện sinh kế

6. Quản lý rác thải

7. Phát triển du lịch sinh thái

8. Xây dựng cơ chế tài chính bền vững

9. Xây dựng chương trình quan trắc, giám sát

Giai đoạn thực thi kế hoạch đồng quản lý

• Kỹ năng tổ chức cho cộng đồng tham gia

• Cách tham gia của cộng đồng

• Cấp độ tham gia của cộng đồng

Trang 11

3.3 Thiết kế mô hình đồng quản lý

Trên tất cả các cơ sở đó, tác giả đề tài đã thiết kế mô hình ĐQL tài nguyên môi trường dựa vào cộng đồng như một công cụ để hỗ trợ cho công đoạn ứng dụng thử nghiệm tại KBTB Cù Lao Chàm (Hình 3.2 tại trang 10)

Nếu mô phỏng lợi ích chung của cộng đồng là B, thì lợi ích này bao gồm tính đa dạng sinh học được bảo vệ, nguồn lợi thủy sản được phục hồi, khai thác sử dụng, chất lượng môi trường đảm bảo, thu thập hộ gia đình ổn định,…được biểu diễn theo công thức (2)

j ij

B B

1 1

) ( (2) Trong đó

i: số thứ tự của mỗi nhóm cộng đồng nghề nghiệp trong địa phương

j: số thứ tự của mỗi thành viên trong mỗi nhóm cộng đồng nghề nghiệp

)

(ij

B : lợi ích của thành viên j trong mỗi nhóm cộng đồng nghề nghiệp i

Như vậy, nếu gọi lợi ích của mỗi thành viên trong mỗi nhóm cộng đồng nghề nghiệp là B h ( y)(y = 1 , 2 , 3 ) thì B (ij) sẽ bao gồm lợi ích của nhiều B h ( y) Mục tiêu của ĐQL ở đây là làm thế nào để B (ij) đạt nhiều B h ( y), có nghĩa là càng được nhiều lợi ích từ nhiều nhóm cộng đồng nghề nghiệp Trường hợp nếu có B h(y) =0, thì cũng có nghĩa là một vài hộ gia đình nào đó không tham gia váo các nhóm cộng đồng nghề nghiệp trong địa phương

Tương tự

Nếu mô phỏng trách nhiệm chung của cộng đồng là R, thì trách nhiệm này bao gồm việc tham gia quản lý bảo vệ rạn san hô, giữ gìn thôn xóm, bãi biển xanh - sạch - đẹp, môi trường không khí trong lành,… được biểu diễn theo công thức (3)

j ij

R R

1 1 ( )

(3) Trong đó

i: số thứ tự của mỗi hộ gia đình trong cộng đồng địa phương

j: số thứ tự của mỗi thành viên trong mỗi hộ gia đình

Trang 12

Hình 3.2 Mô hình ĐQL TN&MT tại KBTB Cù Lao Chàm

3.4 Luận giải mục tiêu ứng dụng mô hình ĐQL

Hiện nay, ĐQL là một vấn đề mới, nhạy cảm do cách hiểu còn khác nhau, nên còn đang gây tranh cãi Để làm sáng tỏ các khía cạnh lý luận ĐQL dựa vào cộng đồng, đề tài này đã cố gắng làm sáng tỏ nền tảng của hệ quả ĐQL dựa vào cộng đồng

QLNN cấp trung ương

UBND tỉnh thành phố

UBNDquận huyện

UBND phường, xã

Tổ dân phố, thôn

Các bên liên quan

- NOAA

- Trường đại học

- Viện nghiên cứu Chương trình phát triển cộng đồng,

- Sinh viên thực tập, tình nguyện viên…

j ij B B

) (

Trang 13

để có căn cứ xây dựng mô hình Nhưng hệ quả này còn phải được kiểm chứng về mặt thực tiễn qua quá trình ứng dụng thử nghiệm mô hình ĐQL tại KBTB CLC

ĐQL bảo vệ TN&MT tại KBTB Cù Lao Chàm được ứng dụng theo nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn Quá trình ĐQL nâng cao nhận thức để bảo

vệ TN&MT tại KBTB Cù Lao Chàm đã được phát triển theo hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thức phù hợp với hoàn cảnh cụ thể tại KBTB Cù Lao Chàm Hoạt động thực tiễn đối với ĐQL KBTB Cù Lao Chàm là quá trình dựa vào cộng đồng, từng bước xây dựng cơ sở cộng đồng đó vững mạnh, đem lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng nhằm vận động cộng đồng đồng thuận cùng tham gia quản lý bảo vệ TN&MT tại địa phương

3.5 Các vấn đề cần lưu ý khi thực hiện ĐQL

đồng thuận, đồng hành, đồng tâm hợp lực với chính quyền, với các bên liên quan để cùng giải quyết vấn đề và còn có nghĩa là trên dưới đồng một lòng cùng tham gia quản lý, bảo vệ TN&MT

hiện trạng TN&MT, về tình hình kinh tế - xã hội - chính trị trên nền tảng văn hóa truyền thống và tri thức bản địa của người dân địa phương nhằm xây dựng cộng đồng

đó đủ vững mạnh về nhận thức, năng lực và kinh tế, để có được sự đồng thuận tham gia của cộng đồng và Nhà nước cũng có cơ sở để đồng thuận chia sẻ trách nhiệm quản lý, bảo vệ TN&MT

Các hình thức quản lý liên quan: Hiện nay, liên quan đến ĐQL còn có những hình thức quản lý khác như:quản lý có sự tham gia, quản lý dựa vào cộng đồng là những hình thức quản lý mang tính hỗ trợ quá trình ĐQL

Nhà nước/chính quyền địa phương và các bên liên quan cùng phối kết hợp với nhau trong mối quan hệ và sự tham gia tam phương của quá trình ĐQL

công trách nhiệm Nhà nước thực hiện những công việc cụ thể nào và đem lại lợi ích

gì cho cộng đồng để có được sự đồng thuận của người dân tham gia quản lý TN&MT Ngược lại, cộng đồng địa phương thực hiện những công việc phù hợp nào

để phát huy được khả năng tự quản của mình

nhiên - kinh tế - xã hội, tình trạng TN&MT, phong tục tập quán, năng lực tổ chức, quản lý cộng đồng ở một địa phương, một vùng hoặc một khu vực Trên cơ sở đó xác định các vấn đề cần phải ĐQL là gì? Đồng thời sắp xếp theo thứ tự ưu tiên các hoạt động cần phải ĐQL và theo đó tiến hành phân công trách nhiệm giũa Nhà nước, cộng đồng và các bên liên quan

Khi nào thực hiện ĐQL hiệu quả nhất: Khi người dân tự phát hiện hoặc được hướng dẫn để nhận thấy những dấu hiệu khan hiếm nguồn lợi, ô nhiễm môi trường có nguy cơ ảnh hưởng đến cuộc sống của mình và cộng đồng, đã lên tiếng kêu gọi sự quan tâm của chính quyền địa phương; đồng thời, thể hiện sự đồng thuận hợp tác tham gia hành động trong một kế hoạch, một dự án được tài trợ Tuy nhiên, tìm kiếm được nguồn hỗ trợ về tài chính và pháp lý là điều kiện cần đầu tiên và quan

Ngày đăng: 07/11/2014, 22:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1. Khung logic ĐQL - XÂY DỰNG MÔ HÌNH ĐỒNG QUẢN LÝ  TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG  TẠI KHU BẢO TỒN BIỂN CÙ LAO CHÀM TỈNH QUẢNG NAM
Hình 3.1. Khung logic ĐQL (Trang 10)
Hình 3.2. Mô hình ĐQL TN&amp;MT tại KBTB Cù Lao Chàm - XÂY DỰNG MÔ HÌNH ĐỒNG QUẢN LÝ  TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG  TẠI KHU BẢO TỒN BIỂN CÙ LAO CHÀM TỈNH QUẢNG NAM
Hình 3.2. Mô hình ĐQL TN&amp;MT tại KBTB Cù Lao Chàm (Trang 12)
Hình 4.1. Bản đồ phân vùng KBTB Cù Lao Chàm. - XÂY DỰNG MÔ HÌNH ĐỒNG QUẢN LÝ  TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG  TẠI KHU BẢO TỒN BIỂN CÙ LAO CHÀM TỈNH QUẢNG NAM
Hình 4.1. Bản đồ phân vùng KBTB Cù Lao Chàm (Trang 17)
Hình 4.2. Cấp độ chuyển biến hành động của cộng đồng - XÂY DỰNG MÔ HÌNH ĐỒNG QUẢN LÝ  TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG  TẠI KHU BẢO TỒN BIỂN CÙ LAO CHÀM TỈNH QUẢNG NAM
Hình 4.2. Cấp độ chuyển biến hành động của cộng đồng (Trang 23)
Hình 4.4. Cấp độ đồng quản lý tại KBTB Cù Lao Chàm - XÂY DỰNG MÔ HÌNH ĐỒNG QUẢN LÝ  TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG  TẠI KHU BẢO TỒN BIỂN CÙ LAO CHÀM TỈNH QUẢNG NAM
Hình 4.4. Cấp độ đồng quản lý tại KBTB Cù Lao Chàm (Trang 24)
Hình 4.3. Mối quan hệ giữa hành động, cấp độ ĐQL, và cấp độ tham gia. - XÂY DỰNG MÔ HÌNH ĐỒNG QUẢN LÝ  TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG  TẠI KHU BẢO TỒN BIỂN CÙ LAO CHÀM TỈNH QUẢNG NAM
Hình 4.3. Mối quan hệ giữa hành động, cấp độ ĐQL, và cấp độ tham gia (Trang 24)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w