Lí do chọn đề tài Tìm hiểu Phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả trong văn bản tiếng Anh và tiếng Việt thực chất trước hết là tìm hiểu vấn đề hoạt động của tư duy thông qua ngôn ngữ,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN VĂN THÀNH
PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN QUAN HỆ NHÂN QUẢ
TRONG VĂN BẢN TIẾNG ANH
VÀ TIẾNG VIỆT
N NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH - ĐỐI CHIẾU
MÃ SỐ: 62.22.01.10
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ V
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN VĂN THÀNH
PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN QUAN HỆ
NHÂN QUẢ TRONG VĂN BẢN TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH - ĐỐI CHIẾU
MÃ SỐ: 62.22.01.10
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
TP HỒ CHÍ MINH - 2013
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH TRẦN NGỌC THÊM
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Vào lúc: …… giờ…… ngày …… tháng …… năm ……
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Khoa học Tổng hợp
62 Lý Tự Trọng, Quận 1, TP.HCM
- Thư viện trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
10 – 12 Đinh tiên Hoàng, Quận 1, TP.HCM
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Tìm hiểu Phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả trong văn bản
tiếng Anh và tiếng Việt thực chất trước hết là tìm hiểu vấn đề hoạt động
của tư duy thông qua ngôn ngữ, định hình bằng cơ chế và chất liệu của ngôn ngữ để xác lập phương thức liên kết nhân quả trong văn bản tiếng Anh và văn bản tiếng Việt Cho đến nay, cơ chế tích hợp này vốn chưa được quan tâm đầy đủ Làm sáng tỏ được cơ chế nói trên, chẳng những
ta hiểu rõ được đặc điểm của phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả,
mà còn nhận ra sự tương tác biện chứng giữa phạm trù chức năng và hình thái trong cách tư duy ngôn ngữ Chính từ đó, ta có điều kiện tường minh hơn trong cách nhận dạng về một loại hình phổ niệm ngôn ngữ học vốn có trong tiếng Anh biến hình và tiếng Việt không biến hình Điều này sẽ giúp nâng cao quá trình thực hành giảng dạy một cách có cơ sở lí
thuyết hơn trong giai đoạn hiện nay Cơ chế về mối quan hệ giữa tư duy
lô-gic và bình diện cú pháp trong việc thể hiện cấu trúc nhân quả lâu nay
chưa được giới nghiên cứu quan tâm đúng mức Kết quả nghiên cứu sẽ được áp dụng vào quá trình giảng dạy ngoại ngữ, đặc biệt là giảng dạy tiếng Anh, theo phương pháp chủ đạo hiện nay trên thế giới – phân tích
và thực hành các kỹ năng theo các nội dung/chủ đề trong các thể loại
văn bản
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Tình hình nghiên cứu cấu trúc nhân quả trong tiếng Anh
Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học như: M.A Halliday (1976, 2004),
L Alterberg (1984), E Sweetser (1990), J Haiman (1986), R Jackendoff (1995), J.J Song (1996), A.E Golberg (2001), C Khoo and others (1999, 2002), R Girju (2003), N Kwon (2004), R Mulkar-Mehta (2011), … đã nghiên cứu về các phạm vi ngôn ngữ khác nhau: liên kết văn bản, cấu trúc nhân quả trong các loại văn bản khoa học tự nhiên như sinh học, y khoa, … hoặc các lý thuyết về quan hệ nhân quả trong văn bản, đặc biệt là về động từ gây khiến (causal verbs) Theo
Halliday (2004), quan hệ nhân quả thể hiện rất nổi bật, với tư cách là
một tác nhân liên kết, trong nhiều thể loại văn bản, một số tác tố thể hiện quan hệ nhân quả một cách tổng quát, một số thể hiện rất cụ thể một kết quả, lý do, hoặc mục đích (In many types of discourse the relation of cause figures very prominent as a cohesive agent Some cause expressions are general, others relate more specifically to result, reason or purpose.)
Trang 42.2 Tình hình nghiên cứu cấu trúc nhân quả trong tiếng Việt
Ở Việt Nam, ngữ pháp văn bản, sự liên kết của hai mối quan hệ
nguyên nhân-hệ quả và điều kiện-hệ quả bắt đầu được một số nhà
nghiên cứu Việt Nam quan tâm, như Hoàng Trọng Phiến (1980), các tác giả thuộc Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam (1983), Trần Ngọc Thêm (1985), Cao Xuân Hạo (1991), Hồ Lê (1992), Diệp Quang Ban (1996),
và Nguyễn Đức Dân (1998); Lê Thị Minh Hằng (2005), Nguyễn Khánh
Hà (2008), Nguyễn Thị Thu Hà (2008), và Nguyễn Thị Thu Hương (2010) cũng có các nghiên cứu liên quan quan hệ nhân quả và điều kiện-
hệ quả… Hướng chung nhất có thể nhận ra của các tác giả là quá trình điều chỉnh đi từ miêu tả, phân tích đên lí giải cấu trúc Không phải ngẫu nhiên mà trong công trình của mình, Trần Ngọc Thêm đã chỉ ra mô
thức: “Giữa hai mặt liên kết nội dung và liên kết hình thức có mối quan
hệ biện chứng chặt chẽ: liên kết nội dung được thể hiện bằng một hệ thống các phương thức liên kết hình thức, và liên kết hình thức chủ yếu dùng để diễn đạt sự liên kết nội dung Tất nhiên điều đó không có nghĩa
là giữa hai mặt này có sự tương ứng tuyệt đối theo kiểu một-đối-một”
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
3.1 Mục đích
a Làm sáng tỏ tính liên thông của sự thể hiện tư duy lô-gic thông
qua ngôn ngữ từ đó xác định rõ hơn sự đa dạng có thể có của các phương thức thể hiện quan hệ nhân quả
b Tìm hiểu, nhận dạng, và xác định bản chất cấu trúc liên kết nhân quả thông qua các mối liên kết (hiển ngôn hay ngầm ẩn), qua đó, so sánh đối chiếu, để phục vụ việc biên/phiên dịch, giảng dạy, học tập tiếng Anh cho người Việt, cũng như giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài
3.2 Nhiệm vụ
a Tìm hiểu, nhận dạng, xác định các phương thức biểu hiện liên kết nhân quả trong văn bản chính luận, truyện ngắn, và thơ ca tiếng Anh và tiếng Việt
b So sánh và đối chiếu các phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả trong văn bản tiếng Anh và tiếng Việt
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
a Về hình thức, đối tượng được chú ý là các cấp độ liên kết khác
nhau như ngữ, cú, câu, được thể hiện qua các phương tiện liên kết (tường minh hoặc ngầm ẩn)
Trang 5b Về nội dung, đối tượng được chú ý là các hình thái cấu trúc ngôn ngữ khác nhau có thể dùng để thể hiện câu lô-gic nhân quả
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận án giới hạn vào nghiên cứu cấu trúc lô-gic nhân quả có dùng
hoặc không dùng tác tố liên kết Từ nguyên tắc một chức năng có thể
được thể hiện thông qua nhiều hình thái, chúng tôi tạm phân chia làm ba
loại hình thái (gắn liền với ba phương thức liên kết khác nhau) dùng để
thể hiện cấu trúc nhân quả: a loại dùng tác tố trong suốt, b loại dùng
tác tố mờ đục, và c loại dùng tác tố zero Đề tài không nghiên cứu về
các động từ gây khiến (causal verbs)
5 Cái mới và ý nghĩa khoa học
Về lí thuyết:
a Nhận dạng vấn đề chuyển hóa nghĩa một cách tương đối có quy
luật từ ba bình diện lô gic–ngữ nghĩa-cú pháp trong mối liên hệ với hiệu lực giao tiếp
b Làm rõ chức năng lô-gic ngữ nghía qua hiệu lực giao tiếp để
nhận ra đích thực hơn thế nào là cơ chế ngữ pháp – ngữ nghĩa (trong mối quan hệ với ngữ pháp cấu trúc) theo cách nhìn hiện nay của ngôn ngữ học tri nhận
c Xác định tính liên kết nội dung-hình thức không tách rời với định
hướng tạo nghĩa trong giao tiếp thông qua cơ chế chức năng–hình thái
theo quy luật: một nội dung có thể được thể hiện thông qua nhiều hình
thái, và một hình thái nhất định có thể thể hiện cho nhiều nội dung để
mở ra một hướng xử lí mới biện chứng hơn về mối quan hệ giữa nội dung–hình thức
d Bổ sung thêm các phương thức liên kết nhân quả
Về thực tiễn:
e Phục vụ việc nghiên cứu so sánh/đối chiếu văn bản về quan hệ nhân quả
f Gợi mở cho người nghiên cứu tầm nghiên cứu cấu trúc nói chung
g Phục vụ việc dạy và học tiếng Anh học thuật và văn học
6 Phương pháp và tư liệu nghiên cứu
6 1 Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở chung: Dù phương thức liên kết nào, và dù qua văn bản báo chí, truyện ngăn hay thơ trong tiếng Anh hoặc tiếng Việt, chúng đều được nhận dạng qua cơ chế hoạt động liên thông giữa phạm trù từ vựng ngữ nghĩa với tính liên kết cú pháp và tính tiền giả định từ tiền đề bối cảnh để xác lập hiệu lực giao tiếp Do vậy, về mặt phương pháp, vấn đề
Trang 6chức năng lô-gic ngữ nghĩa được quan tâm ở đây không thể tách rời với
hiệu lực giao tiếp
a Phương pháp miêu tả theo hai hướng: (i) hướng phân tích diễn
dịch bằng phân loại thiên về định lượng, (ii) tổng hợp quy nạp để đúc
kết và xác lập mô hình thiên về định tính
b Phương pháp mang tính chất thủ pháp: đó là thủ pháp cải biến (transformational operation) – lược bỏ, bổ sung, thay thế, chêm xen, hoán vị, mô hình hóa – để xử lí sự tương đồng và dị biệt giữa các cấu
trúc
c Phương pháp So sánh – đối chiếu được sử dụng để làm nổi bật
những nét tương đồng và dị biệt của các phương thức biểu hiện quan hệ Nhân-Quả qua các thể loại văn bản của hai loại hình văn bản tiếng Anh
và tiếng Việt
6 2 Tư liệu nghiên cứu
Về văn bản chính luận báo chí, chúng tôi sử dụng nguồn tư liệu hiện
đại, chủ yếu là báo chí tiếng Anh, và các bản tin và báo điện tử Thông
Tấn Xã Việt Nam (TTXVN) và Thời sự quốc tế-Báo Nhân Dân ND) trong vài năm trở lại đây Chúng tôi cũng khảo sát thêm văn bản
(TSQT-chính luận qua bài phê bình điện ảnh Đừng Đốt của nhà văn Chu Lai
Về văn bản truyện ngắn tiếng Anh, chúng tôi sử dụng văn bản
truyện ngắn The Last Leaf (Chiếc lá cuối cùng/CLCC) của nhà văn Mỹ
O Henry (1862-1910) Văn bản tiếng Anh, được dịch đối chiếu ra tiếng Việt năm 1980 Về văn bản truyện ngắn tiếng Việt, chúng tôi chọn
truyện ngắn Khói trời lộng lẫy của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư Bên cạnh
Khói trời lộng lẫy, và trong truyện ngắn Má Hồng của nhà văn Nguyễn
Khải
Về thơ ca, chúng tôi chọn năm bài thơ tiêu biểu của nhà thơ Anh,
Lord Byron (1788-1824), được thế giới nhắc đến nhiều Trong thơ ca
tiếng Việt, chúng tôi chọn Truyện Kiều của Nguyễn Du (1765-1820),
một nhà thơ xuất hiện ở thời điểm tương đồng với Lord Byron
7 Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục từ viết tắt, danh mục các bảng, ngữ liệu khảo sát, tài liệu tham khảo, danh mục các công trình đã công bố, phụ lục, luận án gồm 4 chương chính
Trang 7CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tiểu dẫn
1.1.1 Khái niệm nhân quả trong triết học
Trong triết học, khái niệm nhân quả là một phạm trù nhận thức, nằm
trong hình thái tư duy lô-gic của loài người Nó là hình thức của sự phản ánh giới tự nhiên vào trong nhận thức của chính con người Chính vì thế,
không phải ngẫu nhiên mà Lê-nin khẳng định “phạm trù lô-gic nhân
quả là một học thuyết về nhận thức” (Vladimir, L., 2006, 192)
1.1.2 Khái niệm nhân quả trong ngôn ngữ học
Riêng trong ngôn ngữ học, từ trước đến nay quan hệ nguyên
nhân-hệ quả/ điều kiện-nhân-hệ quả được chú ý như là một hiện tượng nằm trong
ngữ pháp, gắn với các kiểu câu có tính chất chuyên môn là “câu
nhân-quả” và “câu điều kiện-hệ nhân-quả” với các dấu hiệu ngữ pháp là các quan
hệ từ nối các vế câu
Trong luận án này, quan hệ nhân quả được hiểu theo dạng đầy đủ là
nguyên nhân-hệ quả, với từ hệ quả mang nghĩa trung tính, bao gồm
được cả nghĩa tích cực (“kết quả”) lẫn nghĩa tiêu cực (“hậu quả”), và
tương ứng với tiếng Anh là consequence
1.1.3 Một số hướng cơ bản trong cách nhìn và xử lí quan hệ nhân quả của luận án
a Dù được thể hiện qua văn bản tiếng Anh hay tiếng Việt, nhân-quả bao giờ cũng là những phổ niệm khái quát thuộc phạm trù tư duy lô-gic được mã hóa bằng ngôn ngữ gắn liền với hoạt động nhận thức của con người Thông qua ngôn ngữ, lô-gic nhân quả được cụ thể hóa bằng cấu trúc nhân quả nhằm xác lập và giải trình sự tương tác nhân quả mà con người nhận thức được từ đời sống thực tiễn
b Trong tính hiện thực của nó, tương tác giữa nguyên nhân (P) và
hệ quả (Q) trong cấu trúc nhân quả là loại tương tác được xác lập và giải
trình theo nhiều cung bậc trải nghiệm (từ chủ quan đến khách quan) gắn liền với trình độ nhận thức của con người, định hướng vào nhiều phạm
vi đối tượng khác nhau, và thể hiện theo nhiều đặc trưng phong cách diễn ngôn qua nhiều thể loại văn bản khác nhau
c Khi nhận dạng phương thức biểu hiện nhân quả như những phổ niệm được mã hóa trong văn bản tiếng Anh và tiếng Việt, ta không thể không lưu ý đến sự vận dụng các cung bậc tri giác khác nhau trong quá trình diễn ngôn Tại đây, có loại tương tác giữa P và Q được xác lập theo hướng tri nhận trực quan để miêu tả trực tiếp hiện thực theo hướng trần
Trang 8thuật; có loại được xác lập thiên về lí trí mang tính đúc kết quá trình trải nghiệm; có loại được xác lập theo hướng biểu cảm, giải trình lô-gic thông qua hình tượng trong diễn ngôn nghệ thuật
d Nhưng dù qua tiếng Anh hay tiếng Việt, và dù ở cung bậc tri giác nào, cuối cùng nó phải được phân tích và chứng minh bằng lập luận về
sự hiện diện và tương tác giữa P và Q theo nguyên tắc: Nếu không cảm thụ đúng thì không có quá trình lí giải đúng; và quá trình lí giải đúng về
mặt lô-gic không thể tách rời với quá trình cảm thụ đúng về mặt đặc
trưng tạo nghĩa của nguồn liệu văn chương thông qua hiệu lực giao tiếp
e Dù với phương thức liên kết nào, và dù qua văn bản báo chí, truyện ngắn hay thơ trong tiếng Anh hoặc tiếng Việt, tương tác P-Q đều được nhận dạng qua cơ chế hoạt động liên thông giữa phạm trù từ vựng ngữ nghĩa với tính liên kết cú pháp và tính tiền giả định từ tiền đề bối
cảnh để xác lập hiệu lực giao tiếp Như vậy, vấn đề chức năng lô-gic
ngữ nghĩa được quan tâm ở đây không thể tách rời với hiệu lực giao tiếp Vì chỉ khi nào nghĩa của từ biểu lộ thành hiệu lực giao tiếp trong
tính hiện thực của nó thì ngôn ngữ mới thực sự trở thành công cụ giao tiếp trong ý nghĩa cụ thể và đầy đủ nhất của nó
1.2 Giao thoa giữa quan hệ nhân quả và quan hệ điều kiện
Luận điểm 1: Nhìn đúng thực chất các mối quan hệ trên trong nghiên cứu, ta mới có điều kiện làm rõ sự hình thành các cấu trúc nhân
quả thông qua tục ngữ được biểu hiện theo hướng đặc ngữ – với tính
lô-gic ngữ nghĩa dồn nén cao – gắn với giá trị văn hóa truyền thống riêng
biệt của từng cộng đồng
Luận điểm 2: Chúng tôi xác định những điều cần chú ý: (i) Sự hình
thành đơn vị tục ngữ trên không thể tách rời tiền đề điều kiện, vì không
có tiền đề điều kiện thì không có cơ chế tạo nên giá trị khuyến cáo; (ii)
Tiền đề điều kiện ở đây không thể tách rời với hạt nhân tương tác nhân
quả Vì không có tương tác nhân quả thì không có tiền đề cho cấu trúc
điều kiện; (iii) Và một chú ý mang tính liên hoàn có liên quan đến tiền
đề cảm nhận là: Nhân quả làm tiền đề cho sự xuất hiện cấu trúc điều
kiện được rút ra ở đây không đơn giản chỉ là một sự quan sát mang tính
hoàn toàn trực giác mà là một phạm trù giải thích kinh nghiệm
Luận điểm 3: Theo lô-gic từ nhận biết thực tiễn đến giải thích thực tiễn và vận dụng quy luật được lí giải từ thực tiễn để khuyến cáo và định hướng hành động cho con người, chúng tôi có thể xác lập trình tự lô-gic
về quá trình ấy như sau:
Trang 91 John has hardship in life, he will succeed (T1) Nam ở hiền và gặp lành (T1)
(cấu trúc tiền nhân quả)
2
Because John has hardship in life, he will succeed (T2)
Vì Nam ở hiền nên nó gặp lành (T2)
(cấu trúc nhân quả)
3 If / As long as John takes pain, he will have gain (T3) Nếu / hễ ở hiền thì gặp lành (T3)
(cấu trúc điều kiện)
4
No pain, no gain (T4)
Ở hiền gặp lành (T4)
(cấu trúc tục ngữ)
Bảng 1.1 Trình tự lô-gic của hoạt động nhận thức
Qua cách thao tác lô-gic ngữ nghĩa trong cơ chế tương tác hình thái
- chức năng, bước đầu chúng tôi có thể nhận ra:
a Chỉ khi nào hiểu được sự chuyển hóa bên trong giữa câu điều
kiện và câu nhân quả trong đơn vị tục ngữ thì mới nhận ra đầy đủ cơ chế
hình thành ngữ nghĩa dưới dạng hình thái bị rút gọn của tục ngữ – mặc
dù các tác tố lập luận chỉ nhân quả và chỉ điều kiện bị rút gọn, nhưng lô-gic ngữ nghĩa của sự khuyến cáo được tích hợp từ câu nhân quả và câu điều kiện ở đây vẫn được bảo lưu
b Khi xét tương tác giữa bình diện chức năng lên bình diện hình
thái, nếu so sánh với những nghiên cứu ở tiếng Anh về phương diện này,
ta thấy hình thái thể hiện lô-gic nhân quả được nghiên cứu mở rộng
1.3 Điều kiện để xác định quan hệ nhân-quả
Hai nhà tâm lí học T Trabasso, P van den Broek, (1985) đã đề nghị
bốn tiêu chuẩn có tính chất nguyên tắc (principal criteria) – về thực
chất, đây là bốn điều kiện thực tế để cho sự kiện là nguyên nhân đủ chân
thực để tạo ra hệ quả chân thực – để thiết lập một sự nối kết nhân-quả
giữa hai sự kiện thực tế, và đã được nhà nghiên cứu Diệp Quang Ban dẫn lại như sau:
– Tính ưu tiên về thời gian (temporal priority)
– Tính còn hiệu lực (operativity)
– Tính cần (necessity)
– Tính đủ (sufficiency)
Trang 101.4 Các phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả
a Phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả dùng tác tố trong suốt
(transparent operators) là loại phương thức được biểu hiện bằng loại tác
tố cú pháp mà tự bản thân nó đủ rõ nghĩa để thực thi chức năng liên kết
nhân quả, không cần đến sự trợ giúp của áp lực ngữ nghĩa bên ngoài
b Phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả dùng tác tố mờ đục
(opaque operators) là loại phương thức tuy có tác tố nhưng bản thân nó
không đủ rõ nghĩa để thể hiện liên kết nhân quả mà phải nhờ áp lực nghĩa của văn bản và ngữ cảnh
c Phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả dùng tác tố zero (zero
operators) là loại phương thức được thực hiện không thông qua tác tố cú
pháp mà phải hoàn toàn nhờ vào áp lực nghĩa của cấu trúc trong mối liên hệ với văn bản và ngữ cảnh
1.5 Tiêu chí xác định phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả
1.5.1 Tiêu chí xác định phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả
dùng tác tố trong suốt
Trong câu ghép, khi các liên từ (tác tố) định hướng nghĩa một cách
rõ rệt cho sự nối kết giữa hai vế câu thì chúng thuộc kiểu trong suốt, khi bản thân chúng chưa định hướng được một cách rõ rệt, cần đến sự giải thích thêm của văn bản và ngữ cảnh, thì chúng thuộc kiểu mờ đục
1.5.2 Tiêu chí xác định phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả
dùng tác tố mờ đục
Khi lấy văn bản làm đối tượng khảo sát PTLKNQ, chúng tôi thực sự quan tâm đến hoạt động tạo nghĩa từ thế mở của văn bản định hướng vào hiệu lực giao tiếp (không tách rời nghĩa chủ đề và nghĩa ngữ dụng) Đối với chúng tôi, tiếp cận văn bản là nói đến sự chú ý hai mặt: (a) bản chất mở của hoạt động ngôn ngữ trong văn bản, (b) không tách rời với hướng tạo nghĩa gắn liền với hiệu lực giao tiếp từ cảm thụ của người tiếp nhận
1.5.3 Tiêu chí xác định phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả
Trang 111.6 Các kiểu cấp độ liên kết biểu hiện quan hệ nhân quả
1 Liên kết ở cấp độ liên ngữ
2 Liên kết ở cấp độ liên cú
3 Liên kết ở cấp độ liên câu
1.7 Tiểu kết
Giao thoa giữa câu nhân quả và điều kiện là môi trường tốt nhất để
nhìn ra sự hình thành lô-gic ngữ nghĩa qua tương tác giữa phạm trù chức
năng – hình thái một cách có cơ chế Vấn đề mang tính thời sự này cũng chính là tiền đề rất cơ bản có thể giúp xác định, phân loại và lí giải các dạng cấu trúc thể hiện quan hệ nhân quả trong luận án
Dù ở tiếng Anh hay tiếng Việt, và dù nằm trong dạng cấu trúc liên kết nhân quả được xác lập qua hình thái nào, sức sống lô-gic ngữ nghĩa của cấu trúc không bao giờ tách rời với hiệu lực giao tiếp theo hướng của hoạt động mở của ngôn ngữ
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN QUAN HỆ NHÂN QUẢ
TRONG VĂN BẢN TIẾNG ANH 2.1 Tiểu dẫn
Chúng tôi cũng tìm hiểu về sự thay đổi cách biểu hiện quan hệ liên
kết nhân quả trong truyện ngắn The Last Leaf của nhà văn Mỹ O Henry
(1862-1910) và thơ Anh của Lord Byron (1788-1821) so với tiếng Anh/Mỹ ngày nay: Không có nhiều thay đổi, chỉ có sự chuyển đổi giữa
2.2.1.1 Phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả ở cấp độ liên ngữ
a Phương thức biểu hiện qua cấu trúc this, thus/thereby + V-ing
b Phương thức biểu hiện thông qua cú khiếm khuyết với due to
c Phương thức biểu hiện thông qua ngữ trực thuộc với because of 2.2.1.2 Phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả ở cấp độ liên cú
Đại từ quan hệ which có thể được xem như là một giải pháp thỏa hiệp giữa This và V-ing Which được sử dụng khi phương thức This hoặc khi phương thức V-ing không thuận tiện Trong trường hợp này thì phương thức khiếm khuyết động từ sẽ được xét đến
2.2.1.3 Phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả ở cấp độ liên câu
Trang 12a Phương thức biểu hiện với đại từ hồi chỉ This + động từ
b Phương thức biểu hiện bằng phép lặp chủ đề mới với so
2.2.2 Phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả dùng tác tố mờ đục
Chúng ta cũng thường gặp trong văn bản một dạng tương tác nhân quả có yếu tố chỉ dẫn quan hệ liên kết nhưng sự chỉ dẫn ở đây không được tường minh Phần lớn trường hợp trên là những nhân tố thuộc
phạm trù giới từ chỉ quan hệ thời gian, quan hệ không gian, quan hệ
sở hữu (chẳng hạn như from, before, after, when, whenever, where,
under, with, of,…)
2.2.2.1 Phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả ở cấp độ liên ngữ
(cú-ngữ)
(43) The elderly also face special harm from smoking
(Người lớn tuổi cũng đối mặt với nguy hại đặc biệt vì khói.)
2.2.2.2 Phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả ở cấp độ liên cú
(cú-cú)
(46) A 53-year-old North York man died Thursday afternoon when
the car he was driving struck a rock cut on Highway 401 and rolled several times… (Một người đàn ông 53 tuổi vùng North York đã chết
vào tối thứ Năm vì chiếc xe mà ông ta lái đã đâm sầm vào một tảng đá
trên Xa lộ 401 và văng ra vài vòng…)
2.2.3 Phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả dùng tác tố zero
2.2.3.1 Phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả thông qua tương liên
về nghĩa
Theo Mann và Thompson (1986): Một vài quan hệ giữa các thành
phần của văn bản là không được nhận thấy, vì thế chúng ta phải suy
diễn từ quan hệ ý nghĩa của phát ngôn được đề cập
(51) In the early evening of October 21, 1974, the 93,000 tons dwt
tanker Universe Leader began taking on a cargo of crude oil at Gulf’s Whiddy Island terminal By next morning, 2,500 tons of it was in Bantry Bay instead of in the ship’s tanks (Q) Someone had apparently overlooked an open valve for half an hour (P)
(Vào chiều tối ngày 21 tháng Mười năm 1974, chiếc tàu chở 93.000 tấn dầu mang tên Universe Leader đang bắt đầu tiếp nhận dầu thô tại vịnh Whiddy Vào sáng hôm sau, 2.500 tấn dầu của chiếc tàu đã bị đổ ra Vịnh Bantry thay vì vào trong ngăn chứa của tàu chở dầu Rõ ràng, ai
đó đã không nhìn thấy cái van đã bị mở suốt nữa giờ đồng hồ.)
2.2.3.2 Phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả thông qua lập luận
lô-gic ngữ nghĩa
Trang 13(52) A: You look tired (Trông chị mệt quá!) (Q)
B: Yes, Peter’s teething I’ve been up all night
(Cháu Peter bị đau răng Tôi phải thức suốt đêm cùng với nó.) (P)
2.3 Các phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả trong văn xuôi
văn học tiếng Anh
2.3.1 Phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả dùng tác tố trong suốt
2.3.1.1 Phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả ở cấp độ liên cú
(cú-cú)
(54) “Vass!” he cried: “Is dere people in de world mit der
foolishness to die because leafs dey drop off from a confounded vine?” (Quái lạ trên đời này lại có người ngớ ngẫn chết vì chiếc lá rụng chết
2.3.2 Phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả dùng tác tố mờ đục
2.3.2.1 Liên kết nhân quả ở cấp độ liên ngữ (cú-ngữ, ngữ-cú)
(62) With good nursing, you'll win
(Nhờ chăm sóc chu đáo, cô sẽ thắng.)
2.3.2.2 Phương thức biểu hiện nhân quả ở cấp độ liên cú (cú-cú)
(63) When the last one falls, I must go, too…
(Khi chiếc lá cuối cùng rụng thì em phải ra đi…)
2.3.3 Phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả dùng tác tố zero
2.3.3.1 Lô-gic ngữ nghĩa P-Q được xác lập theo hướng siêu hình
(67) It is the last one…”I thought it would surely fall during the
night I heard the wind It will fall today and I shall die the same time” (Chiếc lá cuối cùng… Em nghĩ là thế nào đêm qua nó cũng rụng
Em nghe thấy tiếng gió thổi Hôm nay nhất định nó lìa cành và em cũng
sẽ lìa đời…)
(Vì nghe) Gió thổi (P) + Lá rụng (Q)
2.3.3.2 Lô-gic ngữ nghĩa P-Q được xác lập theo hướng hiện thực