Các nội dung của chính sách xã hội gắn bó mật thiết với đời sống con người, gópphần giải quyết có hiệu quả những vấn đề xã hội Social Problems nảy sinh như: xoáđói giảm nghèo, giải quyết
Trang 1DẪN LUẬN
1. Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
Chính sách xã hội (Social policy) là 1 bộ phận cấu thành chính sách chung của mộtchính quyền Nhà nước, hướng tới lĩnh vực xã hội nhằm giải quyết những vấn đề liênquan đến cuộc sống con người, đến lợi ích của các giai cấp, tầng lớp, giới, … trong xãhội Chính sách xã hội góp phần điều chỉnh các quan hệ xã hội cho phù hợp với mụctiêu của chính đảng cầm quyền và của chính quyền Nhà nước
Các nội dung của chính sách xã hội gắn bó mật thiết với đời sống con người, gópphần giải quyết có hiệu quả những vấn đề xã hội (Social Problems) nảy sinh như: xoáđói giảm nghèo, giải quyết việc làm, hạn chế và ngăn chặn các tệ nạn xã hội, đền ơn đápnghĩa, các chương trình nhân đạo – từ thiện … Trong đó, xóa đói giảm nghèo khôngchỉ là chính sách xã hội quan trọng của mỗi quốc gia, mà đã trở thành vấn đề toàn cầu.Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) là một thành phố lớn của Việt Nam với tổngdân số đến năm 2006 là 6.424.519 người, nếu kể cả dân tạm trú có hơn 8 triệu người(chiếm tỷ lệ 6,6% dân số của cả nước), là một trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội, khoahọc kỹ thuật, là đầu mối quan trọng trong giao lưu khu vực và quốc tế
Từ vị trí và tầm quan trọng như đã nêu trên, trong 20 năm đổi mới và tiến hànhcông cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa (1986-2006), cùng với chủ trương phát triểnkinh tế, TPHCM đặc biệt coi trọng việc thực hiện đồng bộ các chính sách xã hội và đãđạt được những thành quả quan trọng: đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân thànhphố được nâng lên, các nhu cầu thiết yếu của người dân được cải thiện; phong trào toàn
xã hội chăm lo đồng bào nghèo, giải quyết việc làm, giáo dục-đào tạo, dạy nghề cũngnhư các dịch vụ xã hội cơ bản khác, chương trình “ba giảm”, … mang lại kết quả thiếtthực, có ý nghĩa kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội rộng lớn
Trong bối cảnh chung đó, ý thức được vai trò, trách nhiệm và những điều kiện đặcthù của giới, phụ nữ TPHCM thông qua tổ chức Hội Liên hiệp Phụ nữ (sau đây gọi tắt
là Hội phụ nữ - Hội) và các tổ chức xã hội – nghề nghiệp khác đã tích cực tham giathực hiện các chính sách xã hội, có những cố gắng to lớn, đóng góp đáng kể cho sự pháttriển của thành phố
Tuy nhiên, hàng loạt vấn đề trực tiếp tác động đến việc phát huy khả năng của phụ
nữ chưa được giải quyết tốt đã hạn chế sự đóng góp của phụ nữ đối với công việcchung Sự bình đẳng về giới, địa vị người phụ nữ trong gia đình và xã hội chưa đượcnâng cao, chưa tương xứng với công sức và trách nhiệm họ đảm nhận với tư cáchngười lao động làm ra của cải vật chất, tinh thần và với tư cách người mẹ sản sinh ra bảnthân con người Vấn đề đặt ra là làm thế nào để vừa tăng trưởng kinh tế, vừa đảm bảocông bằng, tiến bộ xã hội cho mọi tầng lớp nhân dân, cả nam giới và nữ giới, tạo điềukiện và cơ hội cho họ tiếp cận bình đẳng với cái mới, những tiến bộ trong việc làm, thunhập, hưởng thụ văn hóa và các phúc lợi xã hội khác? Nhà nước, cộng đồng xã hội đã
có những chính sách gì hỗ trợ cho họ và bản thân họ đã có những cố gắng ra sao nhằm
Trang 2đáp ứng yêu cầu mới để có việc làm, ổn định đời sống, đảm bảo ấm no, hạnh phúc chogia đình, con cái?
Là người có nhiều năm phụ trách công tác chuyên môn ở Bảo tàng Phụ nữ Nam
bộ, có quá trình tiếp xúc và nghiên cứu về phụ nữ ở nhiều góc độ; được TPHCM chọnđào tạo trong Chương trình 300 tiến sĩ, thạc sĩ của thành phố, tác giả chọn đề tài “Phụ
nữ thành phố Hồ Chí Minh với quá trình thực hiện các chính sách xã hội của thành phốtrong công cuộc đổi mới (1986-2006)” để làm đề tài luận án với mong muốn đi sâunghiên cứu những vấn đề bức xúc về mặt xã hội của TPHCM, hoạt động và vai trò củaphụ nữ TPHCM trong việc thực hiện các chính sách xã hội, những kết quả đạt được,những tồn tại, vướng mắc trong quá trình tham gia giải quyết các vấn đề xã hội của phụ
nữ TPHCM, trên cơ sở đó đề xuất những định hướng và giải pháp thích hợp để phụ nữTPHCM tiếp tục thực hiện tốt các chính sách xã hội của thành phố
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong thời gian qua nhiều công trình nghiên cứu về những vấn đề xã hội của Việt
Nam nói chung đã được công bố : Mại dâm, ma túy, cờ bạc, tội phạm thời hiện đại
của các tác giả Nguyễn Xuân Yêm, Phạm Đình Khánh, Nguyễn Thị Kim Liên (Nhà
xuất bản Công an Nhân dân, 2003), Tệ nạn mại dâm: thực trạng và các giải pháp của Trần Hải Âu (Nhà xuất bản Công an Nhân dân, 2004), Phòng, chống các tệ nạn xã hội, mại dâm, ma túy, mê tín dị đoan, cờ bạc của Trần Minh Hưởng (nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, 2004), Những vấn đề xã hội trong công cuộc đổi mới do Mai Quỳnh Nam chủ biên (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2006), Phòng, chống tệ nạn xã hội của Trần
Đức Châm (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2007), … Các tác phẩm trên đề cập khátoàn diện về những vấn đề xã hội của Việt Nam trong bối cảnh từ sau khi đất nướcbước vào thời kỳ đổi mới, phát triển kinh tế thị trường, tiến hành công nghiệp hóa, hiệnđại hóa, phân tích những nguyên nhân, đặc điểm của các hiện tượng xã hội, tệ nạn xãhội, đồng thời đưa ra một số giải pháp phòng chống tệ nạn xã hội
Ở góc độ khác, liên quan đến vấn đề xóa đói giảm nghèo có các công trình như:
Vấn đề xóa đói giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay của Nguyễn Thị Hằng (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 1997), Một số chính sách Quốc gia về việc làm và xóa đói giảm nghèo của Đức Quyết (Nhà xuất bản Lao động, 2002), … Đáng chú ý là kết quả
các khảo sát đánh giá nghèo và giảm nghèo ở TPHCM qua tham vấn cộng đồng về dựthảo chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo của Việt Nam do
Shanks Edwin, Carrie Turk tập hợp trong Ý kiến của cộng đồng về chiến lược giảm nghèo, Các đề xuất của người nghèo về chính sách, Cùng người nghèo hoàn thiện chính sách (Trung tâm thông tin phát triển Việt Nam, 2002).
Ở khía cạnh lao động và việc làm, có thể kể đến các công trình tiêu biểu như: Sử
dụng nguồn lao động và giải quyết việc làm ở Việt Nam của Trần Đình Hoan, Lê Mạnh
Khoa (Nhà xuất bản Sự Thật, 1991) nghiên cứu việc sử dụng nguồn lao động và giảiquyết việc làm ở cả nông thôn và thành thị trong bối cảnh đô thị hóa Trên cơ sở nghiêncứu xã hội học, tác giả cho thấy mối tương quan giữa phát triển kinh tế với giải quyết
Trang 3việc làm và chính sách xã hội, đi đến sự khẳng định việc phát triển kinh tế xã hội ở nông
thôn có ảnh hưởng lớn đến việc làm của dân cư thành thị Một số vấn đề về lao động, việc làm và đời sống người lao động ở Việt Nam hiện nay do Th.s Đinh Đăng Định chủ biên (Nhà xuất bản Lao động, 2004), Thị trường lao động - cơ sở lý luận và thực tiễn ở Việt Nam của Phạm Đức Chính (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2005), Thị trường lao động Việt Nam - Thực trạng và giải pháp do Nguyễn Thị Thơm chủ biên (Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia, 2006) lại nêu lên những vấn đề lý luận và thực tiễn về thị trườnglao động ở Việt Nam, tầm quan trọng của lao động và việc làm trong chiến lược pháttriển kinh tế - xã hội, phân tích những thực trạng và đời sống người lao động ở ViệtNam, đưa ra những phương hướng và giải pháp căn bản nhằm nâng cao chất lượngnguồn lao động, việc làm và đời sống người lao động Việt Nam
Dưới góc độ giới, đã có nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu những khía cạnh khác
nhau của chính sách xã hội liên quan đến phụ nữ: Vấn đề tạo việc làm, tăng thu nhập, giảm nghèo khổ đối với phụ nữ Việt Nam hiện nay của Trung tâm nghiên cứu khoa học
về phụ nữ (Trung tâm thông tin Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, 1990) đề cậpmột cách khái quát, toàn diện và mối quan hệ hữu cơ giữa tạo việc làm, tăng thu nhập,
giảm nghèo khổ đối với phụ nữ Những vấn đề chính sách xã hội với phụ nữ nông thôn trong giai đoạn hiện nay do Đỗ Thị Bình chủ biên (Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1997) và Phụ nữ nông thôn và việc phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp của GS.
Lê Thi (Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1998) nghiên cứu một số vấn đề lý luận vềchính sách xã hội đối với phụ nữ nông thôn, có liên hệ nhận xét từ nông thôn miền Nam
và vùng ngoại ô TPHCM, đưa ra một số quan điểm và giải pháp giải quyết việc làmcho lao động nữ ở nông thôn trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế Riêng tác phẩm
Phụ nữ và bình đẳng giới trong đổi mới ở Việt Nam của Lê Thi (Nhà xuất bản Phụ nữ,
1998) phân tích khá rõ nét các khía cạnh việc làm, đời sống của phụ nữ Việt Nam tronghơn 10 năm đầu đổi mới trên cơ sở thuyết nam nữ bình quyền Đáng chú ý hơn, bằngviệc phân tích thực trạng tạo việc làm cho lao động nữ trên địa bàn Hà Nội và một số
mô hình tạo việc làm cho lao động nữ ở một số nước trong khu vực như: Thái Lan, Hàn
Quốc, Philippines, Bangladesh, tác giả Trần Thị Thu với Tạo việc làm cho lao động
nữ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (Nhà xuất bản Lao động – xã hội, 2003)
đã rút ra bài học kinh nghiệm và đưa ra những quan điểm và giải pháp tạo việc làm cholao động nữ Hà Nội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đây là mộtcông trình có thể kế thừa nghiên cứu so sánh vào thực tiễn đối với tạo việc làm cho laođộng nữ TPHCM
Ngoài ra, nhiều báo cáo khoa học về những vấn đề liên quan đến nội dung nghiêncứu của luận án được đăng trên các tạp chí cũng như một số bài phát biểu của các đồngchí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, lãnh đạo các Bộ, Cục, Ban ngành, đoàn thể, đã gópphần bổ sung và làm sáng tỏ những quan điểm, chủ trương của lãnh đạo TPHCM đốivới các vấn đề xã hội, chính sách xã hội của thành phố trong quá trình đổi mới
Trang 4Một số công trình nghiên cứu khác bằng tiếng Anh như: Expanding choices for
the rural poor: human development in Viet Nam (U.N, 1998) về chính sách lao động
và nhân lực Việt Nam, Situation analysis and Policy Recommendations to Promote the Advancement of Women and Gender Quality in Vietnam, của GENDCEN, CFWS, IOS, CEPEW (2000) nghiên cứu về bình đẳng giới ở Việt Nam, Proposed program loan Socialist Republic of Vietnam support the implementation of the poverty reduction program (ADB, 2006) đề cập đến viện trợ kinh tế của Ngân hàng Phát triển Châu Á cho Việt Nam trong chương trình giảm nghèo, Occupational segregation and gender discrimination in labor markets : Thailand and Viet Nam của Hyun H Son (ADB,
2007) về phân biệt giới tính trong công việc ở thị trường lao động Thái Lan và ViệtNam Song song đó, về kinh nghiệm sử dụng nguồn tài chính vi mô trong các chươngtrình giảm nghèo mang lại nhiều hiệu quả thiết thực như Bangladesh có các công trình
liên quan như: Commercialization of microfinance: Bangladesh của Stephanie Charitonenko and S.M Rahman (ADB, 2002), Bangladesh from counting the poor to
making the poor count của Shekhar Shah (World Bank , 1999), Bangladesh:
strategies for enhancing the role of women in economic development.(World Bank,
1990), … Các tác phẩm này đề cập đến vấn đề lập kế hoạch tín dụng và viện trợ tàichính, kỹ thuật của Ngân hàng Phát triển Châu Á cho Bangladesh, tài chính vi mô vàcác chương trình tín dụng, vai trò của phụ nữ trong công cuộc phát triển kinh tế củaBangladesh, việc làm của nữ lao động nhập cư, …
Ngoài những công trình nghiên cứu những vấn đề liên quan của các tác giả nướcngoài, những đề tài kể trên đề cập đến những vấn đề chung hoặc một số khía cạnhchuyên biệt của chính sách xã hội trên phạm vi cả nước hoặc ở TPHCM, nhưng chưagắn với họat động và vai trò của lực lượng phụ nữ TPHCM Nói cách khác, cho đếnnay chưa có đề tài nghiên cứu chuyên sâu về quá trình thực hiện các chính sách xã hộicủa thành phố Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới (1986-2006) với sự tham gia củaphụ nữ thành phố Việc nghiên cứu về nội dung có liên quan đề tài trên mới chỉ dừng lại
ở nghiệp vụ tổng kết họat động của Hội Liên hiệp Phụ nữ TPHCM trong từng giaiđoạn; các nghiên cứu riêng lẻ về thực trạng bất bình đẳng giới, vai trò phụ nữ trong giađình và xã hội; các thống kê về lực lượng lao động, tình trạng thất nghiệp, tệ nạn mạidâm, ma túy, … của ngành Lao động - Thương binh & Xã hội thành phố, …
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động và vai trò của phụ nữ TPHCM (cáctầng lớp phụ nữ sinh sống ở TPHCM) gắn với tổ chức Hội Liên hiệp Phụ nữ TPHCMtrong việc thực hiện các chính sách xã hội và tham gia giải quyết các vấn đề xã hội củathành phố trong 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới (từ 1986 đến 2006) trên các lĩnhvực: các chương trình trợ vốn, góp phần xóa đói giảm nghèo cho phụ nữ; đào tạo nghề
và giải quyết việc làm cho lao động nữ, việc thực hiện chương trình mục tiêu “ba giảm”(trong đó tập trung chủ yếu là giảm mại dâm)… Đây là các lĩnh vực trọng điểm, là cácđiểm nhấn nổi bật trong quá trình phụ nữ TPHCM tham gia thực hiện các chính sách xã
Trang 5hội trên địa bàn thành phố trong công cuộc đổi mới.
Đề tài được tiến hành nghiên cứu trên cơ sở kết hợp hai phương pháp cơ bản củakhoa học lịch sử là phương pháp lịch sử và phương pháp logic Bên cạnh đó, tác giả cònvận dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành, sử dụng các kết quả nghiên cứu vàphương pháp nghiên cứu của các ngành khoa học có liên quan (như xã hội học, kinh tếhọc, văn hóa học, …) trong quá trình thực hiện đề tài Các thao tác cơ bản của phươngpháp nghiên cứu (như điều tra xã hội học, phỏng vấn sâu, so sánh đối chiếu, thốngkê…) được vận dụng phù hợp với nội dung và yêu cầu cụ thể của từng chương, mụctrong nội dung đề tài
5. Nguồn tư liệu sử dụng trong luận án
Luận án được thực hiện dựa trên những nguồn tài liệu chủ yếu sau đây:
- Các văn bản, báo cáo, Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, Nhànước, của Thành ủy, Ủy Ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Liên đoàn Laođộng, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố, …
- Một số tham luận khoa học, sách, báo và tạp chí có liên quan
- Đồng thời, tác giả cũng tiến hành khảo sát thực địa nhằm tìmhiểu và thu thập thêm tư liệu liên quan đến việc thực hiện các chính sách xã hội củaphụ nữ TPHCM
6 Những đóng góp mới của luận án:
Với những kết quả nghiên cứu đạt được, đề tài này có những đóng góp sau:
- Về mặt khoa học: đề tài cung cấp những tư liệu và luận cứ
khoa học có độ tin cậy cao liên quan đến hoạt động và vai trò của phụ nữ TPHCMtrong việc thực hiện các chính sách xã hội của thành phố, phục dựng bức tranhtổng thể về những đóng góp của phụ nữ TPHCM trong việc giải quyết các vấn đề
xã hội qua 20 năm (1986-2006)
- Ở phương diện thực tiễn, từ kết quả nghiên cứu khoa học,
bên cạnh việc làm rõ những thành tựu đạt được, đề tài nêu ra những tồn tại, yếukém trong việc thực hiện các chính sách xã hội ở TPHCM và góp phần đề xuấtnhững giải pháp khả thi nhằm phát huy vai trò của nữ giới trong việc thực hiện cácchính sách xã hội ở TPHCM nói riêng và trong cả nước nói chung
- Từ những kết quả mà luận án đạt được về nội dung và tư liệu,
đề tài này cũng hy vọng sẽ thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu trong cũngnhư ngoài nước trên các lĩnh vực: sử học, xã hội học, kinh tế học, văn hóa học, …
7 Bố cục của luận án:
Ngoài phần mở đầu (13 trang), kết luận (9 trang), tài liệu tham khảo (29 trang) vàphụ lục (66 trang), nội dung chính của luận án gồm 3 chương Chương 1: Quan điểm vàchính sách của Đảng bộ, chính quyền thành phố Hồ Chí Minh đối với các vấn đề xã hội(1986-2006) (39 trang) Chương 2: Phụ nữ TPHCM tham gia thực hiện các chính sách
xã hội của thành phố (1986-2006) (74 trang) Chương 3: Hiệu quả hoạt động của phụ
nữ TPHCM trong việc thực hiện chính sách xã hội (1986 – 2006) và những giải phápcho thời gian tới (52 trang) Luận án có 15 bảng biểu tổng hợp các số liệu để làm rõ cácnội dung nghiên cứu
Trang 6CHƯƠNG 1 QUAN ĐIỂM VÀ CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG BỘ, CHÍNH QUYỀN TPHCM
ĐỐI VỚI CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI (1986 – 2006)
1.1 TPHCM và những vấn đề xã hội cấp thiết trong thời kỳ đổi mới và hội nhập 1.1.1 Những vấn đề chung
Sau Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI (1986), Đảng bộ TPHCM đãsớm quán triệt và triển khai thực hiện đường lối đổi mới giành được những thành tựu có
ý nghĩa quyết định cho sự phát triển Bên cạnh những thành tựu đó, tình hình xã hội củathành phố vẫn còn nổi lên một số vấn đề xã hội cấp thiết cần phải khẩn trương giảiquyết: tình trạng tăng dân số cơ học ngày càng cao, tỷ lệ lao động có kỹ thuật còn thấp,
số người chưa có việc làm ổn định còn đông, dẫn đến lao động thiếu việc làm cònnhiều, gây thêm phức tạp về an ninh trật tự xã hội, sự gia tăng tội phạm và các tệ nạn xãhội, gây tác hại đến truyền thống tốt đẹp của dân tộc
1.1.2 Thực trạng đời sống, việc làm của nhân dân và sự phân hóa giàu nghèo
Từ khi thực hiện chính sách đổi mới, tình hình kinh tế của thành phố tiếp tục tăngtrưởng, tạo điều kiện thuận lợi cho đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện vànâng cao Các chương trình an sinh và công tác xã hội, nhất là chương trình xóa đóigiảm nghèo đạt nhiều kết quả có ý nghĩa quan trọng Tuy nhiên, mặt trái của kinh tế thịtrường đã tác động trực tiếp đến đời sống vật chất và văn hóa tinh thần của cá nhân, giađình và của các nhóm xã hội Tiến trình đô thị hóa, công nghiệp hóa của thành phố làmcho một bộ phận dân cư trở nên nghèo hoặc đã giảm nghèo nhưng bị tái nghèo trở lại,khoảng cách phân tầng xã hội giữa hai cực giàu và nghèo có xu hướng ngày càng giãnrộng ra TPHCM có số công nhân và người lao động đông nhất nước Đời sống của kháđông cán bộ, công nhân viên chức, lực lượng vũ trang, hưu trí, thương binh, gia đình liệt
sĩ, diện chính sách vẫn còn gặp nhiều khó khăn
Nhìn chung việc giải quyết đời sống tuy có nhiều cố gắng nhưng còn chắp vá, bị
động, chưa tạo được đầy đủ các điều kiện cơ bản để nhân dân tự giải quyết mà còn
nặng các biện pháp trợ cấp, cứu tế, do đó kết quả còn hạn chế
1.1.3 Tệ nạn xã hội và những bất ổn về trật tự an toàn xã hội
Tiêu cực trong kinh tế đã tác động xấu đến văn hóa, xã hội, làm cho tệ nạn xã hội,tội phạm có chiều hướng tăng lên, nhất là nạn mại dâm, ma tuý biến tướng dưới nhiềuhình thức tinh vi, phức tạp Việc quản lý nhà nước, quản lý đô thị trên nhiều mặt cònlỏng lẻo; kỷ cương, biện pháp bị buông lơi Việc giáo dục và đấu tranh để ngăn ngừacác tệ nạn xã hội chưa kiên quyết
1.1.4 Những phức tạp trên lĩnh vực văn hóa- nghệ thuật
Sự phát triển văn hóa chưa tương xứng với phát triển kinh tế, chưa tác động tíchcực đến đời sống xã hội Chưa có những biện pháp hữu hiệu, đồng bộ ngăn chặn sựxâm nhập của các loại văn hoá phẩm đồi trụy, phản động từ nước ngoài vào cũng nhưviệc xuất bản và lưu hành trên địa bàn thành phố những loại sách báo xấu có tính chất
Trang 7kích động, giật gân, câu khách Phim ảnh, băng từ phản động, đồi trụy, nhảm nhí lưuhành khá rộng
Trên đây là những vấn đề xã hội cấp thiết trong thời kỳ đổi mới và hội nhập, những
tồn tại, yếu kém trên một số lĩnh vực của đời sống xã hội ở TPHCM qua 20 năm đổimới Thực tế đó đặt ra nhiều vấn đề phải tập trung giải quyết – mà trước hết là phải xácđịnh thực sự đúng đắn, khoa học các quan điểm, chính sách đối với các vấn đề xã hộicấp thiết trên địa bàn thành phố
1.2 Chính sách của Đảng bộ và chính quyền TPHCM đối với các vấn đề xã hội 1.2.1 Chính sách về dạy nghề, giải quyết việc làm và đời sống
Đại hội Đảng bộ thành phố từ lần thứ IV (10/1986) đến lần thứ VIII (12/2005)cũng như các Quyết định của Ủy ban Nhân dân TPHCM về kế hoạch chỉ đạo, điềuhành phát triển kinh tế - xã hội thành phố từng năm đều xác định vấn đề bức bách hàngđầu của Đảng bộ và chính quyền thành phố là tạo điều kiện để các tầng lớp nhân dân cócông ăn việc làm, có đời sống vật chất, tinh thần, văn hoá ngày một tốt hơn, từ đó đề raphương hướng tiếp tục phấn đấu nâng mức thu nhập các tầng lớp dân cư, nhất là nhândân lao động Về đào tạo nghề và giải quyết việc làm, chủ trương khuyến khích mọingười dân, mọi thành phần kinh tế ở trong nước cũng như các nhà doanh nghiệp nướcngoài bỏ vốn đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh tạo việc làm (theo quan niệm mọihoạt động tạo ra thu nhập hợp pháp đều được coi là có việc làm) Tiếp tục giải quyếtviệc làm mới đồng thời với việc giảm tỷ lệ thất nghiệp Tiến hành các chương trình đàotạo lao động lành nghề, có trình độ cao, vừa đáp ứng nhu cầu phát triển của thành phố
và khu vực, vừa tạo nguồn xuất khẩu lao động Đào tạo tại các trường dạy nghề, trườngchuyên nghiệp, đại học và tại doanh nghiệp, trong đó hệ thống trường dạy nghề đóngvai trò quan trọng nhất Tăng cường đầu tư và đẩy mạnh xã hội hóa công tác dạy nghề;
mở rộng và nâng cấp các cơ sở dạy nghề, xây dựng các trung tâm đào tạo dạy nghềtrình độ cao, gắn với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố
1.2.2 Chương trình xóa đói giảm nghèo
Chủ trương xóa đói giảm nghèo được chính thức đặt ra trong Nghị quyết Đại hộiĐảng bộ thành phố lần thứ V (10/1991) Đầu tháng 11/1992, chương trình được tiếnhành sơ kết và mở rộng ra toàn thành phố (sau đó được mở rộng dần ra các tỉnh, thànhphố khác, mở đầu cho chương trình xóa đói giảm nghèo cả nước.)
Chương trình xóa đói giảm nghèo của thành phố được triển khai qua 2 giai đoạn: giaiđoạn 1 (1992-2003) và giai đoạn 2 (2004-2010) Chương trình được tổ chức chỉ đạo thựchiện một cách thường xuyên, kiên trì và liên tục Trong từng năm và từng giai đoạn,Thành ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban Nhân dân TPHCM đều có nghị quyết và kếhoạch thực hiện với mục tiêu chỉ tiêu giảm nghèo cụ thể; đồng thời tổ chức sơ – tổng kếtrút kinh nghiệm thực tiễn để tiếp tục bổ sung hoàn thiện cơ chế chính sách, đề ra mục tiêu
và giải pháp thực hiện nhằm từng bước nâng cao hiệu quả chất lượng hoạt động củachương trình Thành phố thành lập Ban Chỉ đạo xóa đói giảm nghèo ở mỗi cấp, bồi dưỡng
Trang 8và nâng cao nhận thức, trình độ nghiệp vụ và đội ngũ cán bộ làm công tác xóa đói giảmnghèo các cấp
1.2.3 Chính sách về an ninh - trật tự an toàn xã hội và phòng chống tệ nạn xã hội
Từ năm 1986, Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ IV đề ra nhiệm vụ “bảo vệ Tổ
quốc, bảo đảm an ninh chính trị và giữ gìn trật tự an toàn xã hội là trách nhiệm của các
ngành, các cấp, các đoàn thể và nhân dân thành phố, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cáccấp ủy Ðảng thông qua phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc và quốc phòng toàn dân.Đối với nạn nhân các tệ nạn xã hội, cần dựa vào dân để quản lý, giáo dục, cảm hóa, tạoviệc làm tại cơ sở; đồng thời nghiêm trị bọn chủ chứa, bọn buôn bán xì-ke, ma túy ”.Tại Đại hội lần thứ V (10/1991), Đảng bộ thành phố tiếp tục khẳng định quan điểm:
“Bằng những biện pháp tích cực, từng bước đẩy lùi các tệ nạn xã hội như mại dâm, matúy, cướp giật, mê tín, dị đoan, người sống vỉa hè, cùi hủi, góp phần làm lành mạnh hóa
xã hội” Đến năm 1996, Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ VI đưa ra giải pháp: giảiquyết tệ nạn xã hội phải kết hợp nhiều biện pháp kinh tế, giáo dục, hành chính, trong đóchú trọng biện pháp hành chính
Trước tình hình tội phạm, mại dâm và ma túy, Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứVII (12/2000) đã xác định Chương trình mục tiêu “ba giảm” (giảm tội phạm, ma túy vàmại dâm) là một trong 12 chương trình, công trình trọng điểm của thành phố Ngày23/7/2001, Ủy ban Nhân dân TPHCM ra Quyết định số 62/2001/QĐ/UB v/v triển khai
kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu “ba giảm” trên địa bàn TP giai đoạn 2001 –
2005 với quan điểm chỉ đạo chung là: trong 3 loại đối tượng: ma tuý, mại dâm, và tội
phạm, trọng điểm cần tập trung giải quyết triệt để là đối tượng ma tuý Giải quyết tốt đốitượng ma tuý là giải quyết được trên 50% tội phạm, mại dâm, nhiễm HIV/AIDS và các
tệ nạn xã hội khác Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ VIII (2005) khẳng định tiếp tục
“Phát huy thành quả các chương trình xã hội, tiếp tục thực hiện chương trình mục tiêu
ba giảm, có giải pháp giải quyết cơ bản nạn ăn xin, trẻ lang thang Giải quyết tốt cácvấn đề xã hội, thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội đồng bộ với phát triển kinh tế”
1.2.4 Giải quyết các vấn đề xã hội khác
* Chính sách đền ơn, đáp nghĩa, chăm lo người nghèo
Văn kiện đại hội Đảng bộ thành phố các khóa đều liên tục đề ra chỉ tiêu, nhiệm vụphải quan tâm chăm lo đời sống vật chất tinh thần đối với cán bộ cách mạng lão thành,cán bộ nghỉ hưu, cựu chiến binh, cán bộ hưu trí, gia đình chính sách, người cao tuổi…,thực hiện nhất quán chính sách đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn” Nổi bật trongchương trình này là các phong trào “Phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng”, tặng “nhàtình nghĩa”, “nhà tình thương” cho gia đình chính sách và người nghèo; học bổng chohọc sinh nghèo con thương binh, liệt sĩ hiếu học; xây dựng "“quỹ đền ơn đáp nghĩa”,
“Quỹ khám, chữa bệnh cho người nghèo”, đã thu hút được đông đảo nhân dân thànhphố, các mạnh thường quân, các doanh nghiệp và nhân dân cùng tham gia
* Chính sách dân số, phụ nữ và trẻ em
Trang 9Đại hội Đảng bộ thành phố từ lần thứ IV (1986) đến lần thứ VIII (2005) đều xácđịnh: cần phải tiếp tục thực hiện các biện pháp đồng bộ để hạn chế tăng dân số tự nhiên
và cơ học Thực hiện tốt luật pháp và chính sách đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch cán bộ
nữ, tích cực chăm lo quyền lợi mọi mặt của phụ nữ và trẻ em, coi trọng và thực hiện tốtchính sách bình đẳng giới trong xã hội; nâng cao trình độ học vấn, tạo việc làm, đấutranh chống bạo hành đối với phụ nữ
Tiểu kết
Có thể nói, với phương châm tăng trưởng kinh tế một cách bền vững đi đôi vớixóa đói giảm nghèo và giải quyết tốt các vấn đề xã hội trên cơ sở sự phối hợp, cộngđồng trách nhiệm và quyết tâm cao giữa các cấp chính quyền và các ban – ngành - đoànthể, với tinh thần năng động, sáng tạo và có tiềm lực kinh tế nên trong 20 năm đổi mới(1986-2006), TPHCM có điều kiện đi đầu trong cả nước về giải quyết các vấn đề xãhội và đã đạt được các thành công bước đầu rất quan trọng Nhiều phong trào của thànhphố như: xóa đói giảm nghèo, xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương, khám chữabệnh miễn phí cho người nghèo, phong trào “ba giảm”, đem lại những kết quả tíchcực về kinh tế, chính trị, xã hội trên địa bàn thành phố và có sức lan tỏa, trở thành cácphong trào rộng khắp cả nước
Trong bối cảnh của một thành phố năng động, dám nghĩ, dám làm, đi đầu trongnhiều họat động xã hội, lực lượng phụ nữ thành phố đã tích cực tham gia vào việc thựchiện các chính sách xã hội, giải quyết các vấn đề xã hội của thành phố bằng đặc thùhọat động của giới mình, khẳng định vai trò quan trọng của phụ nữ TPHCM trong cácchương trình trợ vốn, đào tạo nghề, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, phòngchống mại dâm,
CHƯƠNG 2 PHỤ NỮ TPHCM THAM GIA THỰC HIỆN
CÁC CHÍNH SÁCH XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ (1986 – 2006) 2.1 Thực trạng đời sống, điều kiện lao động của phụ nữ TPHCM
2.1.1 Điều kiện lao động và đời sống của lao động nữ TPHCM
Theo số liệu Cục Thống kê TPHCM, đến năm 2006, dân số thành phố là6.424.519 người, nữ chiếm 51,97% (3.342.715 người) Hơn 4 triệu dân trong tuổi laođộng và hơn 50% trong số đó là nữ Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 10,75%o/ năm, chủyếu là tăng cơ học (19,91%o/ năm) Theo Sở Lao động - Thương binh và Xã hộiTPHCM, mỗi năm thành phố có khoảng 200.000 người trong tuổi lao động không cóviệc làm, trong đó 55% là nữ Nền kinh tế đổi mới, mở cửa, vận hành theo cơ chế thịtrường đã tạo ra không ít khó khăn thiệt thòi cho lao động nữ, đặt người phụ nữ phải đốiđầu với các thách thức mới
Điều kiện lao động và đời sống sinh hoạt của phần lớn nữ công nhân lao động
thành phố còn quá nhiều vất vả, việc phân bổ, sử dụng lao động nữ còn nhiều chỗ chưahợp lý đã làm cho chị em phải lao động với cường độ cao, hao phí sức lao động nhiều
mà năng suất vẫn thấp, nhất là vào lúc thời vụ, hoặc vào những tháng cuối quý, cuối
năm Mặt khác, điều kiện ăn, ở, đi lại, công việc gia đình, việc học hành, chữa bệnh của
con cái v.v cũng làm cho chị em hao tâm, tổn sức không ít, làm cho họ ít có điều kiện
Trang 10học tập, nghỉ ngơi, giải trí, trình độ chậm được nâng cao và sức khỏe giảm sút nhanhchóng
Trang 112.1.2 Trình độ lao động nữ
Theo kết quả điều tra dân số giữa kỳ 01/10/2004 của Sở Lao động – Thương binh
& Xã hội TPHCM, tỷ lệ lao động nữ chia theo trình độ chuyên môn kỹ thuật như sau:
Bảng 2.2 Tỷ lệ lao động nữ chia theo trình độ chuyên môn kỹ thuật
Chia theo trình độ chuyên môn:
Không có trình độ chuyên môn kỹ thuật, bằng cấp, chứng chỉ
Công nhân kỹ thuật, có bằng cấp chứng chỉ
Trung học chuyên nghiệp
Cao đẳng
Đại học
Trên đại học
45,42%1,71%0,62%0,85%3,38%0,13%
Nguồn: Sở Lao động – Thương binh & Xã hội TPHCM
Một nguyên nhân khiến phụ nữ không được chú ý đào tạo về chuyên môn nghềnghiệp và ít có điều kiện học tập như nam giới là bởi ở nhiều gia đình gặp khó khăn vềkinh tế, các bậc cha mẹ thường ưu tiên đầu tư cho con trai về học tập Bên cạnh đó, chiphí giáo dục trong thời đại toàn cầu hóa cũng ngày càng đắt đỏ, vì vậy phụ nữ là đốitượng được đầu tư thấp hơn so với nam giới Chính vì thế, sự tiến bộ của giới nữ thườngchậm chạp hơn đồng nghiệp nam cả về trình độ chuyên môn, về thu nhập và địa vịcông tác Bên cạnh đó, một số phụ nữ tâm lý mặc cảm, e ngại, buông xuôi, tỏ ra thiếunăng động và an phận không chịu phấn đấu vươn lên, không thích ứng được kịp thờitrước yêu cầu đổi mới Rất đông lao động nữ không tham gia bất cứ một chương trìnhhọc tập nào, trong số này nhiều người cho rằng lý do lớn nhất là công việc bận rộn,không có thời gian và điều kiện kinh tế
2.1.3 Lao động nhập cư
Dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập toàn cầu, didân là vấn đề có tính quy luật chung Những chênh lệch về mức sống, khác biệt trongthu nhập, cơ hội việc làm, nhu cầu dịch vụ xã hội và sức ép sinh kế đang ngày càng trởthành những áp lực cơ bản tạo nên các dòng di chuyển lao động từ nông thôn ra thànhthị với quy mô ngày càng lớn
Thoát ly khỏi quê hương đi làm ăn xa không còn là vấn đề của riêng nam giới Từgiữa thập niên 90 thế kỷ XX, di dân ngày càng có nhiều sự tham gia đông đảo của laođộng nữ Sự gia tăng về quy mô, tỷ trọng cũng như các loại hình di cư nữ, là một thực tếkhách quan phản ánh quy luật phát triển trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.Phụ nữ đi xa nhà đến các thành phố và đi xuất khẩu lao động ở nhiều nước đã là mộtthực tế từ nhiều năm sau đổi mới Hằng năm TPHCM tiếp nhận 70.000 người nhập cưdưới nhiều hình thức khác nhau, trong đó nữ chiếm 53% Họ một mặt tham gia vào đờisống thành phố, là một lực lượng lớn bổ sung vào thị trường lao động, dịch vụ ở thànhthị, đáp ứng nhu cầu nhiều mặt của thành phố trong quá trình phát triển nhưng mặt khácviệc di chuyển lao động tự do từ các vùng nông thôn ra thành phố hiện đang là vấn đề
Trang 12nổi cộm, nảy sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp, nhất là các tệ nạn xã hội và cũng làmcho đội quân thất nghiệp ngày càng thêm đông đúc ở thành phố
2.2 Hội Liên hiệp Phụ nữ TPHCM với các chương trình trợ vốn, góp phần xóa đói giảm nghèo cho phụ nữ thành phố
2.2.1 Các chương trình trợ vốn
Hội Liên hiệp Phụ nữ TPHCM đã chủ động, tích cực thực hiện các cuộc vậnđộng: từ cuộc vận động “Phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đình” đến “Phụ nữ giúpnhau phát triển kinh tế gia đình, cần kiệm xây dựng đất nước”, vận động “Phụ nữ tíchcực nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật” ; từ phong trào “Ngày tiết kiệm vì phụ nữnghèo” đến chương trình “Hỗ trợ phụ nữ tạo việc làm, tăng thu nhập”, “Hỗ trợ phụ nữphát triển kinh tế gia đình” và chương trình xóa đói giảm nghèo của thành phố Đặc biệtchương trình trợ vốn, tạo việc làm, tăng thu nhập, nâng cao đời sống phụ nữ đã đượccác cấp Hội tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện ngày càng đi vào chiều sâu và đạt hiệuquả thiết thực
Chương trình “Tín dụng - tiết kiệm” của phụ nữ TPHCM đã có tác động rõ nétnhất trong việc giúp chị em nâng cao đời sống Mô hình “nhóm phụ nữ tín dụng - tiếtkiệm” đã được khẳng định là tối ưu nhất, tập hợp được rộng rãi những người phụ nữcùng chung một trận tuyến chống đói nghèo Việc phát động “Ngày tiết kiệm vì phụ nữnghèo” và thực hiện các dự án cho vay theo “nhóm phụ nữ tín dụng tiết kiệm” của HộiLiên hiệp Phụ nữ thành phố đã được sự huởng ứng đông đảo của các thành phần xãhội, đã khơi dậy được lòng nhân ái, truyền thống tốt đẹp của phụ nữ nói riêng và nhândân TPHCM nói chung, góp phần cùng thành phố thực hiện chủ trương xóa đói giảmnghèo Hoạt động hiệu quả này của Hội Phụ nữ được đánh giá là đã góp phần thực hiệnchương trình xóa đói giảm nghèo của TPHCM từ 30%-40%
2.2.2 Các hoạt động hỗ trợ của Hội Liên hiệp Phụ nữ nhằm xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống phụ nữ-trẻ em
Bên cạnh hoạt động trợ vốn, giải quyết việc làm, để xóa đói giảm nghèo có hiệuquả, một trong những kinh nghiệm từ cách làm của Hội Phụ nữ là phải giải quyết cácnguyên nhân khác như: y tế, giáo dục, văn hóa, môi trường, huy động được nhiềunguồn lực và phối hợp tốt các ngành, các cấp lãnh đạo Chương trình học bổng NguyễnThị Minh Khai được duy trì liên tục kể từ năm 1990 trở thành người bạn đồng hànhđáng tin cậy cho các chị em nghèo, chương trình bữa ăn tình thương dành cho bệnh nhinghèo, “Bữa ăn ngon” cho phụ nữ cao tuổi neo đơn, chương trình vệ sinh môi trườngnông thôn, chương trình trợ giúp đồng bào bị lũ lụt, chương trình 3.000 căn nhà tìnhthương dành cho người nghèo ở thành phố, nhà tình nghĩa giúp cho mẹ liệt sĩ, phụ nữnghèo các vùng sâu, vùng xa, phòng khám sức khoẻ cho phụ nữ và tham vấn phòngchống HIV/AIDS do tổ chức tình nguyện quốc tế IVS tài trợ, … là những chương trìnhhoạt động trợ giúp xã hội cho phụ nữ và trẻ em nghèo có hoàn cảnh khó khăn được cáccấp Hội phụ nữ thành phố lồng ghép, phát động trong cán bộ hội viên và quần chúngphụ nữ Tất cả những việc làm trên giúp cho phụ nữ nghèo có cơ hội vươn lên ổn định
Trang 13đời sống, nâng cao nhận thức, quan tâm chăm sóc nuôi dạy con, xây dựng gia đìnhhạnh phúc để có điều kiện tốt nhất khẳng định vai trò vị trí của người phụ nữ trong giađình cũng như xã hội
2.3 Hội Liên hiệp Phụ nữ TPHCM với hoạt động đào tạo nghề và giải quyết việc làm
2.3.1 Thực trạng đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho phụ nữ TPHCM
Được thử thách trong nền kinh tế thị trường, lực lượng lao động nữ ở TPHCM đã
có những tiến bộ đáng kể về số lượng, chất lượng, nhưng đồng thời cũng bộc lộ ranhiều điểm yếu kém về trình độ học vấn, trình độ tay nghề, kỹ năng, kỹ thuật lao động,tác phong và kỷ luật lao động công nghiệp Theo số liệu của Liên đoàn Lao độngTPHCM, lực lượng lao động nữ tăng lên không ngừng và luôn nhiều hơn lao động nam(có khoảng hơn 53% lao động là nữ và lao động nữ thất nghiệp), nhưng con đường để
có được công ăn việc làm của phụ nữ lại chật hẹp hơn, nguy cơ mất việc cao hơn namgiới Đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho người lao động nói chung, nữ lao động nóiriêng, là một trong những vấn đề bức xúc của xã hội Việc hướng nghiệp, dạy nghề,giúp kinh nghiệm làm ăn đóng vai trò vô cùng quan trọng trong tạo việc làm, tăng thunhập, nâng cao đời sống Riêng đối với phụ nữ, tạo cho chị em một nghề là một trong
những điều kiện cơ bản, đầu tiên để sinh sống, làm tiền đề hỗ trợ phụ nữ thoát đói giảm
nghèo
Tuy nhiên, nhìn chung các trung tâm dạy nghề của TPHCM qui mô hoạt động cònkhiêm tốn, đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất cho các nghề mới còn yếu và thiếu, khảnăng tổ chức, kinh nghiệm tư vấn, thông tin về thị trường còn hạn chế Học viên của cáctrung tâm dạy nghề của Hội Phụ nữ đa số là phụ nữ nghèo sinh sống tại các quận,huyện xa và ngoại thành Những phụ nữ này thường gặp nhiều khó khăn hơn khi tiếpcận dịch vụ dạy nghề như : thông tin về nghề hạn chế, chi phí cao, địa điểm học xa,chịu áp lực nặng nề của vai trò giới truyền thống, đặc biệt là gánh nặng trách nhiệm gia
ngày, hoạt động dạy nghề trong hệ thống của Hội Liên hiệp Phụ nữ TPHCM không
ngừng được đổi mới và từng bước nâng cao về chất lượng Các loại nghề được dạy đadạng hơn, phù hợp với yêu cầu thực tiễn, hình thức đào tạo cũng ngày càng linh hoạt,phù hợp với phụ nữ hơn Với chức năng chăm lo quyền lợi của phụ nữ, các trung tâm
dạy nghề của Hội Phụ nữ đã tổ chức dạy nghề miễn phí cho các đối tượng chính sách, phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em tàn tật … Hoạt động Nhà Văn Hoá Phụ nữ thành phố, các câu lạc bộ Phụ nữ quận, huyện và các điểm dạy nghề của Phụ nữ
phường, xã ngày càng nâng cấp bằng chính nguồn tài chính thu được (tự túc về kinh