1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tăng cường quản lý thu, chi ngân sách nhà nước huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

111 677 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Ngân sách Nhà nước NSNN là bộ phận trọng tâm cấu thành quan trọng nhất của nền tài chính nhà nước, là nguồn lực để bảo đảm thực hiện các chức

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: T.S Trần Đình Tuấn

Thái Nguyên, năm 2012

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Ngân sách Nhà nước (NSNN) là bộ phận trọng tâm cấu thành quan trọng nhất của nền tài chính nhà nước, là nguồn lực để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước và phát triển quốc gia Vì vậy, quản lý thống nhất nền tài chính quốc gia, xây dựng NSNN lành mạnh, củng cố kỷ luật tài chính, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả tiền của của Nhà nước, tăng tích lũy để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH, nâng cao đời sống nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại là yêu cầu quan trọng trong quản lý kinh tế của các quốc gia

NSNN là một khâu quan trọng trong điều tiết kinh tế vĩ mô Ngân sách cấp huyện, thị, thành phố là một bộ phận cấu thành NSNN, là công cụ để chính quyền cấp huyện, thị, thành phố thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn trong quá trình quản lý kinh tế xã hội, an ninh - quốc phòng Luật NSNN năm 2002 là cơ sở pháp lý cơ bản để tổ chức quản lý NSNN nói chung

và ngân sách cấp huyện nói riêng nhằm phục vụ cho công cuộc đổi mới đất nước Đại Từ là một huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Thái Nguyên, cách thành phố Thái Nguyên 25km, với tổng diện tích đất tự nhiên 574.157ha, dân số khoảng 160.827 người; mật độ dân số bình quân khoảng 280 người/km² Huyện bao gồm 29 xã và 2 thị trấn, được chia làm 482 xóm Các dân tộc chủ yếu sinh sống trên địa bàn huyện là Kinh, Tày, Nùng, Dao, Sán Dìu, phân bố khá đồng đều trên toàn huyện Trong những năm qua, thực hiện chiến lược ổn định

và phát triển KT-XH, huyện Đại Từ đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Tốc

độ phát triển kinh tế năm sau cao hơn năm trước, trong đó công tác quản lý thu, chi ngân sách được đặc biệt chú trọng Tuy nhiên, thực tế hiện nay những yếu tố, điều kiện tiền đề cho công tác quản lý thu, chi NSNN chưa được hoàn chỉnh, làm cho quá trình quản lý ngân sách các cấp đạt hiệu quả thấp, thu ngân sách địa phương chỉ đáp ứng được gần 20% tổng chi ngân sách huyện hàng năm, công tác quản lý ngân sách chưa đáp ứng được yêu cầu mà Luật NSNN đặt ra Vì vậy,

Trang 3

tăng cường quản lý NSNN, đổi mới quản lý thu, chi ngân sách là nhiệm vụ quan trọng, tạo điều kiện tăng thu ngân sách và sử dụng NSNN tiết kiệm, có hiệu quả hơn, góp phần đạt được mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đáp ứng được yêu cầu phát triển KT-XH, nâng cao đời sống nhân dân

Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Tăng cường quản lý thu, chi ngân sách Nhà nước huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên" mang tính cấp thiết

và có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Từ nghiên cứu, đánh giá thực trạng công tác quản lý thu, chi ngân sách ở huyện Đại Từ, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường công tác quản lý thu, chi ngân sách cho huyện Đại Từ trong thời gian tới

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các vấn đề về thực trạng công tác thu, chi ngân sách Nhà nước ở huyện Đại Từ; đối tượng nộp thuế và các đơn vị hưởng thụ ngân sách trên địa bàn huyện

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: Huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực trạng về công tác quản lý thu, chi ngân sách huyện Đại Từ giai đoạn 2009-2011

Trang 4

- Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến thu, chi NSNN và quá trình quản lý NSNN ở huyện Đại Từ Từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm và đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường công tác quản lý thu, chi ngân sách của huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

4 Ý nghĩa khoa học của Luận văn

- Đề tài góp phần hệ thống hóa được những vấn đề lý luận và thực tiễn

cơ bản về vấn đề NSNN và quản lý thu, chi NSNN nói chung Đồng thời đánh giá được thực trạng công tác quản lý thu , chi ngân sách của huyện Đại T ừ trong giai đoạn vừa qua ; chỉ ra những mặt mạnh , những tồn tại và nguyên nhân, là cơ sở cho việc đề xuất giải pháp

- Qua nghiên cứu, đề tài đã đề xuất được những định hướng cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường công tác quả n lý thu , chi NSNN của huyện Đại Từ, góp phần tăng thu ngân sách và sử dụng có hiệu quả ngân sách nhà nước , thúc đẩy quá trình phát triển KT-XH nói chung của địa phương trong quá trình CNH-HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế Các giải pháp là tài liệu giúp cho lãnh đạo, các nhà quản lý của địa phương trong việc xây dựng chính sách về công tác quản lý NSNN

- Các kết quả nghiên cứu có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các đơn

vị liên quan và cơ quan cùng cấp có điều KT-XH tương tự và cá nhân có quan tâm, là tài liệu dùng trong nghiên cứu, giảng dạy và học tập trong nhà trường,

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được kết cấu thành 4 chương:

Chương 1: Cơ sở khoa học về quản lý ngân sách nhà nước và quản lý

thu, chi ngân sách nhà nước

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu đề tài

Chương 3: Thực trạng công tác quản lý thu, chi ngân sách huyện Đại Từ Chương 4: Giải pháp chủ yếu tăng cường công tác quản lý thu, chi ngân

sách huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

Trang 5

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

VÀ QUẢN LÝ THU, CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

1.1 Lý luận chung về ngân sách nhà nước và quản lý thu, chi ngân sách nhà nước

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1.1 Khái niệm ngân sách nhà nước

NSNN là một phạm trù kinh tế khách quan, ra đời và phát triển trên cơ

sở tồn tại và phát triển của Nhà nước Luật NSNN được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 16/12/2002 đã xác định: NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước NSNN có thể hiểu là một kế hoạch tài chính quốc gia bao gồm chủ yếu các khoản thu và chi của Nhà nước được mô tả dưới hình thức cân đối bằng giá trị tiền tệ Phần thu thể hiện các nguồn tài chính được huy động vào NSNN; phần chi thể hiện chính sách phân phối các nguồn tài chính đã huy động được để thực hiện mục tiêu KT-XH NSNN được lập và thực hiện cho một thời gian nhất định, thường là một năm và được Quốc hội phê chuẩn thông qua [1], [21], [23]

NSNN là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước Quỹ này thể hiện lượng tiền huy động từ thu nhập quốc dân để đáp ứng cho các khoản chi tiêu của Nhà nước,

có hai mặt đó là: mặt tĩnh và mặt động Mặt tĩnh thể hiện các nguồn tài chính được tập trung vào NSNN mà chúng ta có thể xác định được vào bất kỳ thời điểm nào Mặt động thể hiện các quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị gắn liền với quỹ tiền tệ tập trung vào NSNN và từ đó phân bổ các nguồn tài chính cho các ngành, các lĩnh vực, các địa phương của nền kinh tế quốc dân [7], [21]

Trang 6

Hệ thống NSNN là tổng thể các cấp ngân sách có quan hệ hữu cơ với nhau trong quá trình tổ chức huy động, quản lý các nguồn thu và thực hiện nhiệm vụ chi của mỗi cấp ngân sách Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới , hệ thống NSNN được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức bộ máy quản lý nhà nước Ở nước ta bộ máy quản lý hành chính Nhà nước được tổ chức 4 cấp: Trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và xã, phường, thị trấn Mỗi cấp chính quyền đều phải

có ngân sách để thực hiện các nhiệm vụ được giao theo quy định của pháp luật và phù hợp với khả năng quản lý của cấp chính quyền đó [6], [21], [27]

Quan hệ giữa các cấp ngân sách được thực hiện theo những nguyên tắc cơ bản sau [5], [17], [25]:

- NSTW và ngân sách mỗi cấp chính quyền được phân cấp nguồn thu

- Thực hiện phân chia theo tỷ lệ % đối với các khoản thu phân chia giữa ngân sách các cấp và bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để đảm bảo công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, các địa phương

Tỷ lệ % phân chia các khoản thu và số bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới được ổn định từ 3-5 năm Số bổ sung từ ngân sách cấp trên được coi là khoản thu của ngân sách cấp dưới

- Ngoài cơ chế bổ sung nguồn thu và cơ chế ủy quyền không được dùng ngân sách của cấp này để chi cho nhiệm vụ của cấp khác

Trang 7

NSNN được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai minh bạch, có sự phân công, phân cấp quản lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm, nguyên tắc cân đối Các nguyên tắc này xuất phát từ các lý do sau:

Tổ chức bộ máy hành chính của Nhà nước Việt Nam là thống nhất từ Trung ương ngân sách cấp dưới là một bộ phận không thể tách rời của ngân sách cấp trên; NSTW và NSĐP hợp thành một chỉnh thể NSNN thống nhất Nguồn tài chính quốc gia được tạo ra từ một cơ cấu kinh tế thống nhất, được phân bổ trên các vùng lãnh thổ của quốc gia cho nên NSNN là một thể thống nhất, bao gồm toàn bộ các khoản thu, các khoản chi của Nhà nước trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước Hệ thống

tổ chức và quản lý NSNN được thống nhất từ Trung ương đến địa phương dưới sự lãnh đạo và điều hành của Quốc hội và Chính phủ Các cơ chế, chính sách thu chi và phương thức quản lý NSNN phải được thực hiện thống nhất

do Quốc hội, Chính phủ quy định [6], [7], [22]

1.1.1.2 Khái niệm quản lý thu ngân sách Nhà nước

a) Khái niệm thu ngân sách Nhà nước

Thu NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình Nhà nước dùng quyền lực chính trị để thực hiện phân phối các nguồn tài chính dưới hình thức giá trị nhằm hình thành quỹ tiền tệ của Nhà nước Như vậy, thu NSNN bao gồm toàn bộ các khoản tiền được tập trung vào tay nhà nước để hình thành quỹ NSNN đáp ứng cho các yêu cầu chi tiêu xác định của nhà nước [1], [21], [23]

Nét nổi bật của việc thu NSNN là: trong bất cứ xã hội nào, cơ cấu các khoản thu NSNN đều gắn liền với chức năng, nhiệm vụ và quyền lực chính trị của Nhà nước Một đặc trưng khác của thu NSNN là luôn luôn gắn chặt với các quá trình kinh tế và các phạm trù giá trị Kết quả của quá trình hoạt động kinh tế và hình thức, phạm vi, mức độ vận động của các phạm trù giá trị là tiền đề quan trọng xuất hiện hệ thống thu NSNN Nhưng chính hệ thống thu

Trang 8

NSNN lại là nhân tố quan trọng có ảnh hưởng to lớn đến kết quả của quá trình kinh tế cũng như sự vận động của các phạm trù giá trị

Thu NSNN trước hết và chủ yếu gắn liền với các hoạt động kinh tế trong xã hội Mức độ phát triển kinh tế, tỷ lệ tăng trưởng GDP hàng năm là tiền đề đồng thời là yếu tố khách quan hình thành các khoản thu NSNN và quyết định mức độ động viên các khoản thu của NSNN

Trong cơ cấu thu ngân sách của hầu hết các quốc gia trên thế giới, thuế luôn là nguồn thu chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn nhất bởi nó được trích xuất chủ yếu từ những giá trị do nền kinh tế tạo ra và thể hiện rõ nét quyền lực nhà nước Nền kinh tế quốc dân càng phát triển với tốc độ cao thì nguồn thu của nhà nước từ thuế chiếm tỷ trọng càng lớn trong tổng thu NSNN Thu NSNN bao gồm thuế, các khoản phí, lệ phí, thu từ các hoạt động kinh tế của nhà nước, thu đóng góp của các tổ chức và cá nhân, các khoản viện trợ và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật [20], [24]

b) Khái niệm quản lý thu ngân sách nhà nước

Quản lý thu NSNN là quá trình Nhà nước sử dụng hệ thống các công cụ chính sách, pháp luật để tiến hành quản lý thu thuế và các khoản thu ngoài thuế vào NSNN nhằm đảm bảo tính công bằng khuyến khích sản xuất kinh doanh phát triển Đây là khoản tiền Nhà nước huy động vào ngân sách mà không bị ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp ngân sách Phần lớn các khoản thu NSNN đều mang tính chất cưỡng bức, bắt buộc mọi người dân, mọi thành phần kinh tế phải tuân thủ thực hiện [21]

Trong việc quản lý các nguồn thu ngân sách, thuế là nguồn thu quan trọng nhất Thuế không chỉ chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng số thu NSNN hàng năm mà còn là công cụ của nhà nước để quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc dân Để phát huy tốt tác dụng điều tiết vĩ mô của các chính sách thuế, ở nước ta cũng như các nước khác trên thế giới, nội dung của chính sách thuế thường

Trang 9

xuyên thay đổi cho phù hợp với diễn biến thực tế của đời sống KT-XH và phù hợp với yêu cầu của quản lý kinh tế và tài chính Các sắc thuế chủ yếu hiện đang được áp dụng ở nước ta hiện nay gồm có: Thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập DN, thuế xuất nhập khẩu, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, thuế tài nguyên, thuế sử dụng đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế nhà, đất [18], [20]

1.1.1.3 Khái niệm quản lý chi ngân sách nhà nước

a) Khái niệm chi ngân sách nhà nước

Chi NSNN thể hiện các quan hệ tiền tệ hình thành trong quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm trang trải cho các chi phí của bộ máy quản lý nhà nước và thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội mà Nhà nước đảm nhận theo những nguyên tắc nhất định

Chi NSNN là sự phối hợp giữa hai quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN Quá trình phân phối là quá trình cấp phát kinh phí từ NSNN hình thành các loại quỹ trước khi đưa vào sử dụng Quá trình sử dụng là quá trình trực tiếp chi dùng khoản tiền cấp phát từ ngân sách không trải qua việc hình thành các loại quỹ trước khi đưa vào sử dụng [6], [19], [22]

Luật NSNN đã xác định cụ thể chi NSNN bao gồm: các khoản chi phát triển KT-XH, đảm bảo quốc phòng - an ninh; đảm bảo hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật [1], [16], [21]

Mỗi chế độ xã hội, mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử, chi NSNN có những nội dung và cơ cấu khác nhau, song đều có những đặc trưng cơ bản như:

- Chi NSNN luôn gắn chặt với bộ máy nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế chính trị xã hội mà Nhà nước đó đảm nhiệm Nội dung chi ngân sách

do chính quyền nhà nước các cấp đảm nhận theo quy định hoặc phân cấp quản lý NSNN để đảm bảo thực hiện chức năng quản lý, phát triển KT-XH

Các cấp của cơ quan quyền lực nhà nước là chủ thể duy nhất quyết định cơ cấu, nội dung, mức độ của các khoản chi NSNN vì các cơ quan đó

Trang 10

quyết định các nhiệm vụ chính trị, KT-XH của vùng, miền, đất nước, thể hiện

ý chí nguyện vọng của nhân dân

- Chi ngân sách nhằm phục vụ cho lợi ích chung của cộng đồng dân

cư ở các vùng hay ở phạm vi quốc gia Điều này xuất phát từ chức năng quản

lý toàn diện nền KT-XH của Nhà nước

Thông thường các khoản chi của NSNN được xem xét hiệu quả trên tầm vĩ mô Điều này có nghĩa hiệu quả của các khoản chi ngân sách phải được xem xét toàn diện dựa trên việc hoàn thành các mục tiêu KT-XH đề ra

- Các khoản chi NSNN mang tính không hoàn trả hoặc hoàn trả không trực tiếp và thể hiện ở chỗ không phải mọi khoản thu với mức độ và số lượng của những địa chỉ cụ thể đều được hoàn lại dưới hình thức chi tiêu công Điều này được quyết định bởi những chức năng tổng hợp về KT-XH của Nhà nước

- Các khoản chi ngân sách gắn chặt với sự vận động của các phạm trù giá trị khác như tiền lương, giá cả, lãi suất, tỷ suất hối đoái… nói chung là các phạm trù thuộc lĩnh vực tiền tệ

Để đánh giá tính tích cực, tiến bộ của ngân sách một quốc gia người ta thường xem xét đến cơ cấu nội dung chi của ngân sách quốc gia đó Cơ cấu chi ngân sách thường được hiểu là hệ thống các khoản chi ngân sách bao gồm các khoản chi và tỷ trọng của nó Nội dung, cơ cấu chi NSNN là sự phản ảnh những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của Nhà nước đó trong từng giai đoạn lịch sử và chịu sự chi phối của các nhân tố sau [1], [22] :

- Chế độ chính trị - xã hội là nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến nội dung, cơ cấu chi ngân sách vì nó quyết định bản chất và nhiệm vụ KT-XH của Nhà nước

- Sự phát triển của lực lượng sản xuất vì nó tạo khả năng và điều kiện cho việc hình thành nội dung, cơ cấu chi, vừa đặt ra yêu cầu thay đổi nội dung

cơ cấu chi trong từng thời kỳ nhất định

Trang 11

- Khả năng tích lũy của nền kinh tế: khả năng này càng lớn thì nguồn chi đầu tư phát triển kinh tế cũng như khả năng đáp ứng yêu cầu chi thường xuyên tăng lên

- Mô hình tổ chức bộ máy nhà nước và những nhiệm vụ KT-XH mà

nó đảm nhận trong từng giai đoạn lịch sử nhất định

b) Khái niệm quản lý chi ngân sách nhà nước

Quản lý chi ngân sách là việc tổ chức quản lý giám sát quá trình phân phối lại quỹ tiền tệ tập trung một cách có hiệu quả nhằm thực hiện chức năng của nhà nước trên cơ sở sử dụng hệ thống chính sách, pháp luật Chi ngân sách mới chỉ thể hiện ở khâu phân bổ ngân sách còn hiệu quả sử dụng ngân sách như thế nào thì phải thông qua các biện pháp quản lý Rõ ràng quản lý chi ngân sách sẽ quyết định hiệu quả sử dụng vốn ngân sách [19], [21]

Quản lý chi NSNN là quá trình thực hiện có hệ thống các biện pháp phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung nhằm phục vụ chi tiêu cho bộ máy

và thực hiện các chức năng của Nhà nước Thực chất quản lý chi NSNN là quá trình sử dụng các nguồn vốn chi tiêu của Nhà nước từ khâu lập kế hoạch đến khâu sử dụng ngân sách đó nhằm đảm bảo quá trình chi tiết kiệm và hiệu quả, phù hợp với yêu cầu của thực tế đang đặt ra theo đúng chính sách chế độ của nhà nước phục vụ các mục tiêu KT-XH

Vấn đề quan trọng trong quản lý chi NSNN là việc tổ chức quản lý giám sát các khoản chi sao cho tiết kiệm và có hiệu quả cao, muốn vậy cần phải quan tâm các mặt sau:

- Quản lý chi phải gắn chặt với việc bố trí các khoản chi làm cơ sở cho việc quản lý xây dựng quy chế kiểm tra, kiểm soát

- Bảo đảm yêu cầu tiết kiệm và hiệu quả trong việc bố trí và quản lý các khoản chi tiêu NSNN

- Quản lý chi phải thực hiện các biện pháp đồng bộ, kiểm tra giám sát trước, trong và sau khi chi

Trang 12

- Phân cấp quản lý các khoản chi cho các cấp chính quyền địa phương

và các tổ chức trên cơ sở phải phân biệt rõ nhiệm vụ phát triển KT-XH của các cấp theo Luật NSNN để bố trí các khoản chi cho thích hợp

- Quản lý chi ngân sách phải kết hợp quản lý các khoản chi ngân sách thuộc vốn nhà nước với các khoản chi thuộc nguồn của các thành phần kinh tế

để tạo ra sức mạnh tổng hợp, nâng cao hiệu quả chi [7], [16], [25]

1.1.2 Vai trò của quản lý thu, chi ngân sách nhà nước

1.1.2.1 Vai trò của ngân sách nhà nước

Vai trò của NSNN được xác lập trên cơ sở chức năng và nhiệm vụ cụ thể của nó trong từng giai đoạn cụ thể Phát huy vai trò của NSNN như thế nào là thước đo đánh giá hiệu quả điều hành , lãnh đạo của Nhà nước Trong nền kinh tế thị trường có sự định hướng XHCN ở nước ta hiện nay , NSNN có các vai trò chủ yếu sau [22]:

Thứ nhất, với chức năng phân phối, NSNN có vai trò huy động nguồn

tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và thực hiện sự cân đối thu chi tài chính của Nhà nước Đó là vai trò truyền thống của NSNN trong mọi mô hình kinh tế, gắn chặt với các chi phí của Nhà nước trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình

Thứ hai, NSNN là công cụ tài chính của Nhà nước góp phần thúc đẩy

sự tăng trưởng của nền kinh tế, điều chỉnh kinh tế vĩ mô Nhà nước sử dụng NSNN như là công cụ tài chính để kiềm chế lạm phát, ổn định thị trường, giá

cả cũng như giải quyết các nguy cơ tiềm ẩn về bất ổn định KT-XH Muốn thực hiện tốt vai trò này, NSNN phải có quy mô đủ lớn để Nhà nước thực hiện các chính sách tài khóa phù hợp (nới lỏng hay thắt chặt) kích thích sản xuất, kích cầu để góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội

Thứ ba, NSNN là công cụ tài chính góp phần bù đắp những khiếm

khuyết của kinh tế thị trường , đảm bảo công bằng xã hội, bảo vệ môi trường , thúc đẩy phát triển bền vững Kinh tế thị trường phân phối nguồn lực theo phương thức riêng của nó, vận hành theo những quy luật riêng của nó Mặt trái của nó là phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng trong xã hội, tạo ra sự bất

Trang 13

bình đẳng trong phân phối thu nhập, tiềm ẩn nguy cơ bất ổn định xã hội Bên cạnh đó do mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận nên các chủ sở hữu nguồn lực thường khai thác tối đa mọi nguồn tài nguyên, môi trường sinh thái bị hủy hoại, nhiều loại hàng hóa và dịch vụ mà xã hội cần nhưng khu vực tư nhân không cung cấp như hàng hóa công cộng Do đó, nếu để kinh tế thị trường tự điều chỉnh mà không có vai trò của Nhà nước thì sẽ phát triển thiếu bền vững Vì vậy Nhà nước sử dụng NSNN thông qua công cụ là chính sách thuế và chi tiêu công để phân phối lại thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội, cung cấp hàng hóa dịch vụ công cho xã hội, chú ý phát triển cân đối giữa các vùng, miền đảm bảo công bằng xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái

1.1.2.2 Vai trò quản lý thu ngân sách nhà nước

Quản lý thu NSNN đóng vai trò rất quan trọng, thể hiện [20], [22]:

Thứ nhất, quản lý thu NSNN là công cụ quản lý của Nhà nước để kiểm

soát, điều tiết các hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi thành phần kinh tế, kiểm soát thu nhập của mọi tầng lớp dân cư trong xã hội nhằm động viên sự đóng góp đảm bảo công bằng, hợp lý Các nhà nước trong lịch sử đều sử dụng công cụ thuế

để ổn định và phát triển nền kinh tế, chống lại các hành vi kinh doanh phạm pháp

Thứ hai, quản lý thu NSNN là công cụ động viên, huy động các nguồn

lực tài chính cần thiết nhằm tạo lập quỹ tiền tệ tập trung của NSNN Huy động các nguồn tài chính cần thiết vào nhà nước là nhiệm vụ chủ yếu của hệ thống thu dưới bất kỳ chế độ nào, đó là đòi hỏi tất yếu của mọi nhà nước Nhà nước muốn thực hiện các chức năng , nhiệm vụ lịch sử của mình tất yếu phải

có nguồn tài chính Nguồn tài chính mà Nhà nước có được là do quản lý tốt nguồn thu ngân sách mang lại

Thứ ba, quản lý thu NSNN là nhằm khai thác, phát hiện, tính toán

chính xác các nguồn tài chính của đất nước để có thể động viên được và cũng đồng thời không ngừng hoàn thiện các chính sách , các chế độ thu để có cơ chế tổ chức quản lý hợp lý Đây là một nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước trong quá trình tổ chức quản lý kinh tế

Trang 14

Thứ tư, quản lý thu ngân sách góp phần tạo môi trường bình đẳng, công

bằng giữa các thành phần kinh tế, giữa các DN trong và ngoài nước trong quá trình SXKD Với hình thức thu và mức thu thích hợp kèm với các chế độ miễn giảm công bằng, thu NSNN có tác động trực tiếp đến quá trình SXKD của cơ

sở Với sự tác động quản lý thu ngân sách sẽ góp phần tạo nên môi trường kinh

tế thuận lợi đối với quá trình SXKD Đồng thời nó là công cụ quan trọng góp phần thực hiện chức năng kiểm tra, kiểm soát của Nhà nước đối với toàn bộ hoạt động SXKD của xã hội

Thứ năm, quản lý thu ngân sách có vai trò tác động đến sản lượng và

sản lượng tiềm năng, cân bằng của nền kinh tế Việc tăng mức thuế quá mức thường dẫn tới giảm sản lượng trong nền kinh tế, tức là thu hẹp quy mô của nền kinh tế Ngược lại, giảm mức thuế chung có xu thế làm tăng sản lượng cân bằng Trong nền kinh tế thị trường, người ta sử dụng tính chất này để điều chỉnh quy mô sản lượng của nền kinh tế cũng như các DN và hộ kinh doanh

1.1.2.3 Vai trò quản lý chi ngân sách nhà nước

Quản lý chi NSNN có vai trò rất to lớn, thể hiện [16], [20], [22]:

Thứ nhất, thúc đẩy nâng cao hiệu quả sử dụng các khoản chi NSNN

nhằm tăng hiệu quả sử dụng vốn ngân sách, đảm bảo tiết kiệm, có hiệu quả Thông qua quản lý các khoản cấp phát của chi NSNN sẽ có tác động khác nhau đến đời sống KT-XH, giữ vững ổn định, đặc biệt là giải quyết các vấn đề bức xúc của xã hội như: xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, các hoạt động mang tính cộng đồng Quản lý chi tiêu của NSNN có hiệu quả sẽ tác động vào kích cầu khi nền kinh tế bị giảm sút hoặc cắt giảm chi tiêu Chính phủ để bình ổn giá cả thúc đẩy sản xuất phát triển, hình thành quỹ dự phòng trong NSNN để ứng phó với những biến động của thị trường

Thứ hai, thông qua quản lý các dự án đầu tư phát triển nhằm phục vụ

chuyển dịch cơ cấu kinh tế có hiệu quả Quản lý chi ngân sách góp phần điều tiết thu nhập dân cư thực hiện công bằng xã hội Trong tình hình phân hoá giàu nghèo ngày càng gia tăng, chính sách chi NSNN và quản lý chi NSNN sẽ

Trang 15

giảm bớt khoảng cách phân hoá giàu nghèo giữa các vùng, các khu vực, các tầng lớp dân cư, góp phần khắc phục những khiếm khuyết của kinh tế thị trường

Vai trò của quản lý chi ngân sách trong việc phục vụ cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở tầm vĩ mô được thể hiện rất rõ Đồng thời vai trò của nó còn thể hiện ở chỗ thông qua đầu tư và quản lý vốn đầu tư sẽ tạo ra điều kiện rút ngắn khoảng cách nông thôn và thành thị, giữa đồng bằng và miền núi, vùng sâu, vùng xa Có thể nói quản lý chi ngân sách có hiệu quả là yếu tố góp phần thúc đẩy phát triển bền vững

Thứ ba, quản lý chi NSNN có vai trò điều tiết giá cả, chống suy thoái và

chống lạm phát Khi nền kinh tế lạm phát và suy thoái, nhà nước phải sử dụng công cụ chi ngân sách để khắc phục tình trạng này Sự mất cân đối giữa cung - cầu sẽ tác động đến giá cả giá cả tăng hoặc giảm Để đảm bảo lợi ích của người tiêu dùng, nhà nước sử dụng công cụ chi ngân sách để điều tiết, can thiệp vào thị trường dưới hình thức cắt giảm chi tiêu, cắt giảm đầu tư hoặc tăng đầu tư, tăng chi tiêu cho bộ máy QLNN, cũng như trợ vốn, trợ giá và sử dụng quỹ dự trữ của nhà nước Trong quá trình điều tiết thị trường, việc quản lý chi ngân sách có vai trò rất lớn đến việc chống lạm phát và suy thoái, kích cầu nền kinh tế Khi nền kinh tế lạm phát, nhà nước cắt giảm chi tiêu, thắt chặt chính sách tiền tệ để hạn chế tổng cung tổng cầu, hạn chế đầu tư của xã hội làm cho giá cả dần dần ổn định, chống lạm phát Khi nền kinh suy thoái, sức mua giảm sút nhà nước tăng chi đầu tư để tăng cung, tăng cầu, tạo việc làm, kích cầu chống suy thoái nền kinh tế

Thứ tư, để duy trì sự ổn định của môi trường kinh tế, Nhà nước sử dụng

công cụ chi ngân sách Thông qua quản lý các khoản chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển, Nhà nước sẽ điều chỉnh phù hợp với đặc điểm của từng đối tượng cụ thể, tạo ra sự kích thích tăng trưởng nền kinh tế thông qua đầu tư cơ

sở hạ tầng, đầu tư vào các ngành kinh tế mũi nhọn, đầu tư vào các khu công

nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế mở để nhằm thúc đẩy sự phát triển của nền

kinh tế

Trang 16

1.2 Một số vấn đề lý luận chung về ngân sách cấp huyện và quản lý ngân sách cấp huyện

1.2.1 Ngân sách nhà nước cấp huyện

1.2.1.1 Khái niệm

NSNN bao gồm NSTW và NSĐP NSĐP bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có HĐND và UBND Theo quy định của Luật Tổ chức HĐND và UBND hiện hành bao gồm [1], [22]:

- Ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là ngân sách tỉnh) bao gồm ngân sách cấp tỉnh và ngân sách của các huyện, quận, thị

xã, thành phố thuộc tỉnh

- Ngân sách huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sách huyện) bao gồm ngân sách cấp huyện và ngân sách các xã, phường, thị trấn

- Ngân sách các xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách xã)

1.2.1.2 Nội dung thu, chi ngân sách huyện theo Luật Ngân sách Nhà nước

Theo Luật NSNN năm 2002, nội dung phân định nhiệm vụ thu, chi của ngân sách huyện bao gồm những nội dung sau [1], [7], [20], :

a) Nguồn thu ngân sách

Các khoản thu NSĐP được hưởng 100%: Thuế nhà đất; Thuế tài nguyên, không kể thuế tài nguyên thu từ hoạt động dầu khí; thuế muôn bài; thuế chuyển quyền sử dụng đất; tền sử dụng đất; tiền cho thuê đất, thuê mặt nước không kể thuê mặt nước từ hoạt động dầu khí; tiền đền bù thiệt hại đất; tiền cho thuê và bán nhà thuộc sở hữu nhà nước; lệ phí trước bạ; thu từ hoạt động

xổ số kiến thiết; thu từ vốn góp của NSĐP, tiền thu hồi vốn của NSĐP tại cơ

sở kinh tế, thu từ quỹ dự trữ tài chính cấp tỉnh theo quy định; viện trợ không hoàn lại của các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài trực tiếp cho địa phương theo quy định của pháp luật; phần nộp ngân sách theo quy định của pháp luật từ các khoản phí, lệ phí do các cơ quan, đơn vị thuộc địa phương tổ chức thu, không kể phí xăng, dầu và lệ phí trước bạ; các khoản thu phân chia theo tỷ lệ

Trang 17

% giữa ngân sách tỉnh và ngân sách huyện; thu bổ sung từ ngân sách tỉnh; thu

từ huy động đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng theo quy định

b) Nhiệm vụ chi ngân sách

* Chi đầu tư phát triển: Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng KT-XH không có khả năng thu hồi do địa phương quản lý; đầu tư và hỗ trợ cho các DN, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính của Nhà nước theo quy định của pháp luật; phần chi đầu tư phát triển trong các chương trình quốc gia

do địa phương thực hiện; các khoản chi đầu tư phát triển khác theo quy định của pháp luật;

* Chi thường xuyên, bao gồm các khoản chi:

- Các hoạt động sự nghiệp giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, xã hội, văn hóa - thông tin, văn học - nghệ thuật, thể dục - thể thao, khoa học - công nghệ, môi trường, các sự nghiệp khác do địa phương quản lý (giáo dục phổ thông,

bổ túc văn hoá, nhà trẻ, mẫu giáo, phổ thông dân tộc nội trú và các hoạt động giáo dục khác); đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, đào tạo nghề, đào tạo ngắn hạn và các hình thức đào tạo bồi dưỡng khác; phòng bệnh, chữa bệnh và các hoạt động y tế khác; các trại xã hội, cứu tế xã hội, cứu đói, phòng chống các tệ nạn xã hội và các hoạt động khác; bảo tồn, bảo tàng, thư viện, biểu diễn nghệ thuật và hoạt động văn hoá khác; phát thanh - truyền hình và các hoạt động thông tin khác; bồi dưỡng, huấn luyện, huấn luyện viên, vận động viên các đội tuyển cấp tỉnh, các giải thi đấu cấp tỉnh, quản lý các cơ sở thi đấu thể dục - thể thao và các hoạt động thể dục - thể thao khác; nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ;

- Các hoạt động sự nghiệp kinh tế do địa phương quản lý:

+ Sự nghiệp giao thông: Duy tu, bảo dưỡng và sửa chữa cầu đường và các công trình giao thông khác, lập biểu báo cáo và các biện pháp đảm bảo an toàn giao thông trên các tuyến đường

Trang 18

+ Sự nghiệp nông nghiệp, thủy lợi, ngư nghiệp, diêm nghiệp, lâm nghiệp: Duy tu, bảo dưỡng các tuyến đê, các công trình thuỷ lợi, các trạm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, công tác khuyến lâm, khuyến nông, khuyến ngư, khoanh nuôi, bảo vệ phòng chống cháy rừng, bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản

+ Sự nghiệp thị chính: Duy tu bảo dưỡng hệ thống đèn chiếu sáng vỉa hè, hệ thống cấp thoát nước, giao thông nội thị, công viên và các sự nghiệp thị chính khác

* Đo đạc, lập bản đồ và lưu giữ hồ sơ địa chính và các hoạt động địa chính khác; điều tra cơ bản; các hoạt động về sự nghiệp môi trường; các sự nghiệp kinh tế khác

* Các nhiệm vụ về quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội do NSĐP thực hiện theo quy định của Chính phủ

* Hoạt động của các cơ quan nhà nước, cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam ở địa phương

* Hoạt động của các cơ quan địa phương của Uỷ ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Đoàn thanh niên

* Hỗ trợ cho các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội,

tổ chức xã hội - nghề nghiệp ở địa phương theo quy định của pháp luật

* Thực hiện các chính sách xã hội đối với các đối tượng do địa phương quản lý

* Phần chi thường xuyên trong các chương trình quốc gia do các cơ quan địa phương thực hiện

* Trợ giá theo chính sách của Nhà nước

* Các khoản chi thường xuyên khác theo quy định của pháp luật

* Chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới

* Chi chuyển nguồn NSĐP năm trước sang NSĐP năm sau

1.2.2 Quản lý ngân sách cấp huyện

1.2.2.1 Nguyên tắc cơ bản về quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện

* Nguyên tắc đầy đủ trong quản lý NSNN

Trang 19

Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của quản lý NSNN Nội dung của nguyên tắc này là: Mọi khoản thu, chi phải được ghi đầy đủ vào

kế hoạch NSNN, phải được ghi vào sổ và quyết toán rành mạch Chỉ có kế hoạch ngân sách đầy đủ, trọn vẹn mới phản ánh đúng mục đích chính sách và đảm bảo tính minh bạch của các tài khoản thu, chi

* Nguyên tắc thống nhất trong quản lý NSNN

Nguyên tắc thống nhất trong quản lý NSNN bắt nguồn từ yêu cầu tăng cường sức mạnh vật chất của Nhà nước thông qua hoạt động thu - chi của NSNN Nguyên tắc thống nhất trong quản lý NSNN được thể hiện:

- Mọi khoản thu - chi của NSNN phải tuân thủ theo những quy định của Luật NSNN được dự toán hàng năm và phải được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt

- Hoạt động NSNN đòi hỏi phải có sự thống nhất với hoạt động kinh tế,

xã hội của quốc gia Hoạt động NSNN phục vụ cho hoạt động kinh tế, xã hội, đồng thời là hoạt động mang tính chất kiểm chứng đối với hoạt động kinh tế,

xã hội

* Nguyên tắc cân đối ngân sách

NSNN được lập và thu, chi ngân sách phải được cân đối Nguyên tắc này đòi hỏi các khoản chi chỉ được phép thực hiện khi đã có đủ các nguồn thu bù đắp UBND và HĐND luôn cố gắng để đảm bảo cân đối nguồn NSNN bằng cách đưa ra các quyết định liên quan tới các khoản chi để thảo luận và cắt giảm những khoản chi chưa thực sự cần thiết, đồng thời nỗ lực khai thác mọi nguồn thu hợp lý mà nền kinh tế có khả năng đáp ứng

* Nguyên tắc công khai hoá NSNN

Về mặt chính sách, thu chi NSNN là một chương trình hoạt động của Chính phủ được cụ thể hoá bằng số liệu NSNN phải được quản lý rành mạch, công khai để mọi người dân có thể biết nếu họ quan tâm Nguyên tắc công khai của NSNN được thể hiện trong suốt chu trình NSNN và phải được áp dụng cho tất cả các cơ quan tham gia vào chu trình NSNN

Trang 20

* Nguyên tắc rõ ràng, trung thực và chính xác

Nguyên tắc này là cơ sở, tạo tiền đề cho mỗi người dân có thể nhìn nhận được chương trình hoạt động của chính quyền địa phương và chương trình này phải được phản ánh ở việc thực hiện chính sách tài chính địa phương Nguyên tắc này đòi hỏi: NSNN được xây dựng rành mạch, có hệ thống Các dự toán thu, chi phải được tính toán một cách chính xác và phải đưa vào

kế hoạch ngân sách; không được che đậy đối với tất cả các khoản thu, chi NSNN; không được phép lập quỹ đen, ngân sách phụ

1.2.2.2 Nội dung quản lý ngân sách cấp huyện

Nội dung q uản lý ngân sách cấp huyện được thực hiện theo suốt quá trình ngân sách cấp huyện , từ khi lập d ự toán , đến quá trình thức hiện và quyết toán ngân sách cấp huyện [1], [5], [9], [21]

a) Lập dự toán ngân sách huyện:

Mục tiêu cơ bản của việc lập dự toán ngân sách là nhằm tính toán đúng đắn ngân sách trong kỳ kế hoạch, có căn cứ khoa học và căn cứ thực tiễn các chỉ tiêu thu, chi của ngân sách trong kỳ kế hoạch

* Yêu cầu trong quá trình lập ngân sách phải đảm bảo:

+ Kế hoạch NSNN phải bám sát kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội và có tác động tích cực đối với việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội: Kế hoạch ngân sách chỉ mang tính hiện thực khi bám sát kế hoạch phát triển, xã hội Có tác động tích cực đến thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội, cũng chính là thực hiện kế hoạch NSNN Trong điều kiện kinh tế thị trường, Nhà nước thực hiện cơ chế quản lý vĩ mô, kế hoạch phát triển KT-XH chủ yếu mang tính định hướng

+ Kế hoạch NSNN phải đảm bảo thực hiện đầy đủ và đúng đắn các quan điểm của chính sách tài chính địa phương trong thời kỳ và yêu cầu của Luật NSNN Hoạt động NSNN là nội dung cơ bản của chính sách tài chính Do vậy, lập NSNN phải thể hiện được đầy đủ và đúng đắn các quan điểm chủ yếu

Trang 21

của chính sách tài chính địa phương như: Trật tự và cơ cấu động viên các nguồn thu, thứ tự và cơ cấu bố trí các nội dung chi tiêu Bên cạnh đó, NSNN hoạt động luôn phải tuân thủ các yêu cầu của Luật NSNN, nên ngay từ khâu lập ngân sách cũng phải thể hiện đầy đủ các yêu cầu của Luật NSNN như: Xác định phạm vi, mức độ của nội dung các khoản thu, chi; phân định thu, chi giữa các cấp ngân sách, cân đối NSNN

* Căn cứ lập NSNN:

+ Nhiệm vụ phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội, đảm bảo quốc phòng,

an ninh của Đảng và chính quyền địa phương trong năm kế hoạch và những năm tiếp theo

+ Lập NSNN phải dựa trên kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của địa phương trong năm kế hoạch Kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội là sơ sở, căn

cứ để đảm bảo các nguồn thu cho NSNN Đồng thời, cũng là nơi sử dụng các khoản chi tiêu của NSNN

+ Lập NSNN phải tính đến các kết quả phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch ngân sách của các năm trước, đặc biệt là của năm báo cáo + Lập NSNN phải dựa trên các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn định mức

cụ thể về thu, chi tài chính nhà nước Lập NSNN là xây dựng các chỉ tiêu thu chi cho năm kế hoạch, các chỉ tiêu đó chỉ có thể được xây dựng sát, đúng, ngoài dựa vào căn cứ nói trên phải đặc biệt tuân thủ theo các chế độ, tiêu chuẩn, định mức thu chi tài chính nhà nước thông qua hệ thống pháp luật (đặc biệt là hệ thống các Luật thuế) và các văn bản pháp lý khác của nhà nước

b) Chấp hành ngân sách cấp huyện:

* Chấp hành thu ngân sách cấp huyện Theo Luật NSNN, chấp hành thu ngân sách có nội dung như sau:

+ Chỉ có cơ quan tài chính, cơ quan thuế, cơ quan hải quan và cơ quan khác được giao nhiệm vụ thu ngân sách (gọi chung là cơ quan thu) được tổ chức thu NSNN

Trang 22

+ Cơ quan thu có nhiệm vụ, quyền hạn như sau: Phối hợp với các cơ quan nhà nước hữu quan tổ chức thu đúng pháp luật; chịu sự chỉ đạo, kiểm tra của UBND và sự giám sát của HĐND về công tác thu ngân sách tại địa phương; Phối hợp với Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên tuyên truyền, vận động tổ chức, cá nhân thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ nộp ngân sách theo quy định của Luật NSNN và các quy định khác của pháp luật + Cơ quan thu các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm đôn đốc, kiểm tra các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ nộp ngân sách phải nộp đầy đủ, đúng hạn các khoản nộp vào NSNN

* Phân bổ và giao dự toán chi ngân sách: Sau khi UBND giao dự toán ngân sách, các đơn vị dự toán cấp I tiến hành phân bổ và giao dự toán chi ngân sách cho các đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc theo các nguyên tắc được quy định tại Điểm a khoản 1 điều 44 của Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ Dự toán chi thường xuyên giao cho đơn vị sử dụng ngân sách được phân bổ theo từng loại của Mục lục NSNN, theo các nhóm mục: chi thanh toán cá nhân; chi nghiệp vụ, chuyên môn; chi mua sắm, sửa chữa; các khoản chi khác

+ Nội dung cơ bản của chi thường xuyên ngân sách huyện (xét theo lĩnh vực chi): Chi cho các hoạt động sự nghiệp giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, thể dục - thể thao, khoa học - công nghệ, văn hóa - xã hội; chi cho các hoạt động sự nghiệp kinh tế của Nhà nước; chi cho hoạt động hành chính nhà nước; chi cho quốc phòng - an ninh và trật tự an toàn xã hội; chi khác

* Nguyên tắc quản lý chi thường xuyên của ngân sách huyện bao gồm: Nguyên tắc quản lý theo dự toán; nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả; nguyên tắc chi trực tiếp qua KBNN

c) Quyết toán ngân sách cấp huyện

Theo Nghị định 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ, quyết toán ngân sách phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

Trang 23

* Số liệu quyết toán NSNN

+ Số quyết toán thu NSNN là số đã thực thu được, hoặc hạch toán thu NSNN qua KBNN

+ Số quyết toán chi NSNN là số chi đã thực thanh toán hoặc đã hạch toán chi theo quy định tại điều 62 của Luật NSNN và các khoản chi chuyển nguồn sang năm sau để chi tiếp theo quy định tại khoản 2 điều 66 của Nghị định này

* Ngân sách cấp dưới không được quyết toán các khoản kinh phí uỷ quyền của ngân sách cấp trên vào báo cáo quyết toán ngân sách cấp mình Cuối năm, cơ quan tài chính được ủy quyền lập báo cáo quyết toán kinh phí ủy quyền theo quy định gửi cơ quan tài chính ủy quyền và cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực cấp ủy quyền

* KBNN các cấp có trách nhiệm tổng hợp số liệu quyết toán gửi cơ quan tài chính cùng cấp để cơ quan tài chính lập báo cáo quyết toán KBNN xác nhận số liệu thu, chi ngân sách trên báo cáo quyết toán của ngân sách các cấp, đơn vị sử dụng ngân sách

* Xét duyệt, phê chuẩn quyết toán ngân sách huyện:

Trình tự lập, gửi, xét duyệt và thẩm định quyết toán năm của các đơn vị

dự toán được quy đinh như sau:

+ Đơn vị dự toán cấp xã lập báo cáo quyết toán theo chế độ quy định và gửi đơn vị dự toán cấp trên

+ Đơn vị dự toán cấp trên xét duyệt quyết toán và thông báo kết quả xét duyệt cho các đơn vị cấp dưới trực thuộc Các đơn vị dự toán cấp trên là đơn

vị dự toán cấp I, phải tổng hợp và lập báo cáo quyết toán năm của đơn vị mình và báo cáo quyết toán của các đơn vị dự toán cấp dưới trực thuộc, gửi

cơ quan tài chính cùng cấp

Trang 24

+ Cơ quan tài chính cấp huyện thẩm định quyết toán năm của các đơn

vị dự toán cấp huyện, xử lý theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền

xử lý sai phạm trong quyết toán của đơn vị dự toán cấp huyện, ra thông báo thẩm định quyết toán gửi đơn vị dự toán cấp huyện Trường hợp đơn vị dự toán cấp I đồng thời là đơn vị sử dụng ngân sách, cơ quan tài chính duyệt quyết toán và thông báo kết quả xét duyệt quyết toán cho đơn vị dự toán cấp I

* Trình tự lập, gửi, thẩm định quyết toán thu, chi ngân sách hàng năm của ngân sách cấp huyện được quy định như sau:

+ Mẫu, biểu báo cáo quyết toán năm của NSNN nói chung và ngân sách huyện nói riêng thực hiện theo chế độ kế toán nhà nước và các văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính

Ban Tài chính xã lập quyết toán thu, chi ngân sách cấp xã trình UBND

xã xem xét gửi phòng Tài chính cấp huyện; đồng thời UBND xã trình HĐND

xã phê chuẩn Sau khi được HĐND xã phê chuẩn, UBND xã báo cáo bổ sung, quyết toán ngân sách gửi Phòng Tài chính cấp huyện

+ Phòng Tài chính cấp huyện thẩm định quyết toán thu, chi ngân sách xã; lập quyết toán thu chi ngân sách cấp huyện; yổng hợp, lập báo cáo quyết toán thu NSNN trên địa bàn huyện, thành phố, thị xã và quyết toán thu, chi ngân sách huyện (bao gồm quyết toán thu, chi ngân sách cấp huyện và quyết toán thu, chi ngân sách cấp xã) trình UBND đồng cấp xem xét gửi Sở Tài chính; Đồng thời, UBND cấp huyện trình HĐND cấp huyện phê chuẩn Sau khi được HĐND cấp huyện phê chuẩn, UBND báo cáo bổ sung, quyết toán ngân sách gửi Sở Tài chính

* Nội dung duyệt quyết toán năm đối với đơn vị dự toán: Xét duyệt từng khoản thu, chi phát sinh tại đơn vị, các khoản thu phải đúng pháp luật, pháp lệnh thuế, pháp lệnh phí, lệ phí và các chế độ thu khác của Nhà nước; Các khoản chi phải đảm bảo các điều kiện chi quy định, thu chi phải hạch

Trang 25

toán theo đúng chế độ kế toán, đúng mục lục NSNN, đúng niên độ ngân sách; chứng từ thu, chi phải hợp pháp Sổ sách và báo cáo quyết toán phải khớp với chứng từ và khớp với số liệu của KBNN

1.3 Kinh nghiệm quản lý thu, chi ngân sách nhà nước trên thế giới và ở Việt Nam

1.3.1 Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

1.3.1.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc

Ở Trung Quốc, NSNN được chia thành 5 cấp: Cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp thành phố , cấp huyện và cấp xã Tình hình quản lý ngân sách nhà nước được thực hiện như sau [2]:

Trước năm 2000, lập dự toán ngân sách căn cứ chủ yếu vào tình hình thực hiện năm trước và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của năm sau, quy trình lập dự toán đơn giản Các đơn vị dự toán thụ động trong việc lập dự toán, quy định lập dự toán không rõ ràng, ít quyền trong việc đề xuất dự toán của mình Các đơn vị sự nghiệp có thu phí tự sử dụng và để ngoài ngân sách, không kiểm soát được Các đơn vị dự toán được rút kinh phí trực tiếp từ ngân hàng nhân dân Trung Quốc về chi tiêu

Từ năm 2000, quá trình ngân sách của Trung Quốc được tiến hành cải cách mạnh mẽ, đặc biệt trên 3 mặt: Cải cách khâu lập dự toán ngân sách, cải cách công tác cán bộ thông qua đào tạo và đào tạo lại, cải cách công tác kho quỹ Cụ thể:

Đối với lập dự toán và quyết định dự toán: Giao các đơn vị dự toán tiến

hành lập dự toán hàng năm, đồng thời lập kế hoạch tài chính ngân sách từ 3 -

5 năm để làm căn cứ định hướng, nhưng số liệu này không phải thông qua Quốc hội hoặc HĐND các cấp Việc lập và quyết định dự toán ngân sách hàng năm theo từng cấp: Uỷ ban cải cách và phát triển có trách nhiệm chuẩn

bị các báo cáo đánh giá tổng thể về GDP, kế hoạch phát triển KT-XH, kế hoạch trung hạn phát triển đất nước Quy trình lập dự toán được thực hiện

Trang 26

theo hình thức 2 xuống 2 lên, vào tháng 6 hàng năm, cơ quan tài chính ban hành hướng dẫn lập dự toán năm sau, trên cơ sở đó các đơn vị dự toán lập khái toán gửi cho cơ quan tài chính lần thứ nhất Sau khi nhận được khái toán của đơn vị, khoảng tháng 9-10 hàng năm cơ quan tài chính có văn bản yêu cầu đơn vị lập lại dự toán trên cơ sở khả năng cân đối của ngân sách Các đơn

vị dự toán tiến hành điều chỉnh lại khái toán và gửi lại cơ quan tài chính lần thứ hai trước ngày 15/12 hàng năm sau đó cơ quan tài chính tổng hợp xin ý kiến UBND cuối cùng trình HĐND phê chuẩn dự toán Sau khi HĐND phê duyệt, trong vòng một tháng, cơ quan tài chính phê chuẩn dự toán chính thức cho các đơn vị, giao số bổ sung cho ngân sách cấp dưới (cơ quan tài chính không tiến hành thảo luận, làm việc trực tiếp với đơn vị dự toán và ngân sách cấp dưới, không thẩm định dự toán phân bổ chi tiết)

Đối với thu ngân sách: Số thực thu của các đơn vị phải được tổng hợp

qua ngân sách để quản lý Cơ quan thu (cơ quan thuế) được phân định rõ ràng nhiệm vụ quản lý thu giữa Trung ương và địa phương Cơ quan thuế Trung ương trực thuộc Chính phủ thực hiện thu các khoản thu của Trung ương và khoản phân chia giữa NSTW và NSĐP Cơ quan thuế địa phương trực thuộc chính quyền địa phương thu các khoản thuộc địa phương và được điều tiết 100% cho NSĐP Tỷ lệ phân chia giữa NSTW và NSĐP được ghi ngay trong Luật NSNN,

tỷ lệ phân chia giữa các cấp NSĐP do chính quyền địa phương tự quyết định và được ổn định trong một số năm

Đối với chi ngân sách: Định mức chi ngân sách được phân bổ theo từng

ngành đặc thù khác nhau và quy định khung mức cho từng cấp chính quyền địa phương quyết định cụ thể Việc phân cấp chi ngân sách được phân rõ ràng, NSTW đảm bảo chi cho lĩnh vực an ninh, quốc phòng, ngoại giao, môi trường và các hoạt động của cơ quan nhà nước cấp trung ương Với NSĐP, chính quyền cấp nào có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ chi do cấp đó quản lý, ngoài ra còn thực hiện các nhiệm vụ do ngân sách cấp trên giao

Trang 27

Về bổ sung ngân sách cấp trên cho cấp dưới: Trung Quốc có 2 loại bổ

sung: Bổ sung cân đối là khoản hỗ trợ căn cứ vào mức độ giàu nghèo của từng địa phương cụ thể; bổ sung có mục tiêu là mục tiêu theo đề xuất cụ thể của các bộ chủ quản đối với các công trình, dự án trên địa bàn địa phương

Các chính sách đầu tư:

* Đối với giáo dục - đào tạo: Luật Giáo dục đã quy định không phải đóng học phí 9 năm giáo dục phổ thông bắt buộc từ lớp 1 đến lớp 9 Các trường dân lập, bán công tự thành lập và hoạt động, không phải nộp thuế và tiền thuê đất Các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp được phép vay vốn tín dụng để đầu tư trang thiết bị giảng dạy, đồng thời chủ động

sử dụng nguồn thu học phí, thu từ tiền sử dụng đồ dùng học tập để trả nợ khi đến hạn Các trường thuộc Bộ , ngành do đơn vị lập thì phải tự lo kinh phí Chính phủ xét thấy cần thiết thì hỗ trợ một phần Thực hiện khoán chi cho tất

cả các trường

* Đối với nông nghiệp: Sau khi có Luật Nông nghiệp, các chính sách của Chính phủ đã được ban hành bảo hộ hỗ trợ nông dân, nâng cao nhận thức về nông nghiệp đối với nông dân, tạo điều kiện đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp, giải quyết nghèo đói cho nông dân bằng cách tạo ra việc làm nâng cao đời sống, thúc đẩy văn hoá phát triển ở nông thôn Các chính sách được cụ thể hóa như miễn giảm thuế nông nghiệp; phát triển hệ thống thuỷ lợi, xây dựng vùng chuyên canh, cung cấp thông tin về nông nghiệp cho nông dân; hỗ trợ nhà cho nông dân, cho vay ưu đãi đối với nông dân nghèo có thu nhập dưới 850 tệ để phát triển sản xuất

1.3.1.2 Kinh nghiệm của Hàn Quốc

Hàn Quốc có 3 cấp chính quyền hoàn chỉnh: Trung ương; cấp Thành phố trực thuộc Trung ương; cấp huyện, thành phố trực thuộc tỉnh; riêng cấp

xã, thị trấn chỉ mang tính tự quản, không có HĐND (cấp này không có ngân sách) Tình hình quản lý ngân sách được thực hiện như sau [3]:

Trang 28

Công tác lập dự toán, chấp hành kế toán và quyết toán đối với NSĐP được thực hiện như sau: Ngày 31/03 hàng năm các đơn vị phải lập dự toán

gửi Bộ Nội chính, cuối tháng 5, Bộ Nội chính tiến hành kiểm tra các công trình đầu tư với mục đích xem xét lại việc đầu tư có theo đúng dự án ban đầu không, nếu dự án thực hiện đúng theo tiến độ thì đây là cơ sở bố trí cho năm sau Đến 31/7 Bộ Nội chính gửi hướng dẫn xây dựng dự toán năm sau cho các địa phương theo nguyên tắc trao quyền chủ động cho địa phương Tháng

8, Bộ Nội chính giao số kiểm tra cho các đơn vị, trong đó quy định chi tiết từng hạng mục cần thiết như mục chi lương, chi lễ hội Cuối tháng 12, các

cơ quan tài chính địa phương lập và phân bổ dự toán báo cáo UBND trình HĐND quyết định Kết thúc năm, tất cả các đơn vị tỉnh, thành phố, quận, huyện phải nộp quyết toán cho Bộ Nội chính Dựa trên tiêu chuẩn quy định,

Bộ Nội chính thực hiện phân tích quyết toán, mỗi địa phương có một bộ phận chuyên môn riêng kiểm tra quyết toán Việc kiểm tra quyết toán không làm thường xuyên mà tuỳ thuộc hàng năm, thời gian kiểm toán là 20 ngày

Đối với công lập kế hoạch trung hạn: Cùng với việc lập dự toán ngân

sách hàng năm, UBND các cấp phải xây dựng kế hoạch tài chính và chỉ tiêu trung hạn; kế hoạch này được gửi HĐND, nhưng HĐND không phê chuẩn kế hoạch này mà sử dụng để làm căn cứ xem xét quyết định dự toán ngân sách hàng năm Mục tiêu việc xây dựng kế hoạch tài chính và chỉ tiêu trung hạn là

để tăng cường hiệu quả trong việc phân bổ nguồn lực ngân sách, gắn kế hoạch hàng năm với kế hoạch trung hạn;

Phân cấp ngân sách cho địa phương:

Nguồn thu: bao gồm thuế đăng ký, thuế chuyển nhượng, thuế dân cư, thuế giáo dục địa phương, thuế tài sản, thuế giao thông, thuế tiêu dùng thuốc

lá, thuế xe, phí thu từ các dịch vụ công, dịch vụ quản lý hành chính, thu tiền nước, thu từ hoạt động của tầu điện ngầm do địa phương quản lý… với các cơ cấu nguồn thu như trên NSĐP chỉ chiếm khoảng 20% trong tổng NSNN

Trang 29

Nhiệm vụ chi: NSĐP thực hiện nhiệm vụ chi còn lại theo nguyên tắc giao quyền tự trị cho địa phương như chi quản lý hành chính địa phương, chi phúc lợi, y tế xã hội, chi phát triển nông nghiệp, thương mại địa phương, quy hoạch thành phố và xây dựng hệ thống cấp nước, trả nợ vay của NSĐP

Đối với chi ngân sách: Chi ngân sách của Hàn Quốc đặc biệt quan tâm

đến lĩnh vực giáo dục và phát triển nhân lực Chi cho lĩnh vực này chiếm khoảng 13% tổng chi NSĐP trong đó giáo dục phổ thông chiếm 87%, giáo dục trên phổ thông và mầm non là 13% (riêng với giáo dục phổ thông cơ cấu chi lương chiếm 70% tổng chi cho giáo dục)

Bổ sung từ NSTW cho NSĐP: Bổ sung từ NSTW cho NSĐP được chia

thành 3 loại:

- Loại 1 là trợ cấp cân đối để bù đắp thâm hụt ngân sách nhằm đảm bảo cho các địa phương có đủ nguồn tài chính tối thiểu để thực hiện các nhiệm vụ chi được phân cấp Trợ cấp cân đối được xác định trên nguyên tắc chênh lệch thu, chi Nguồn trợ cấp cân đối từ NSTW cho địa phương bằng 15% tổng thu nội địa Tổng thu nội địa được xác định bằng tổng thu thuế quốc gia trừ thuế giao thông, thuế giáo dục, thuế đặc biệt cho phát triển nông thôn và thuế hải quan Tuy nhiên, khi tính trợ cấp cân đối còn trừ thuế rượu, bia và thuế điện thoại vì hai loại thuê này chuyển giao 100% cho địa phương ở trợ cấp loại 2

- Loại 2 là trợ cấp theo mục tiêu và trọn gói cho địa phương nhằm tập trung vào 5 lĩnh vực cần ưu tiêu phát triển như: đường giao thông, hệ thống thoát nước, phát triển nông thôn, phát triển kinh tế địa phương và giáo dục thanh thiếu niên, trong 5 lĩnh vực đầu tư này cũng quy định cụ thể tỉ lệ phần trăm(%) dành cho từng lĩnh vực Cụ thể là 48% cho xây dựng đường giao thông, 25% cho cấp nước, thoát nước, 17% cho phát triển vùng, 8,3 % cho phát triển nông thôn và 0,7% cho giáo dục thanh thiếu niên Nguồn để bổ sung trợ cấp loại 2 được xác định trên cơ sở tổng số của 100% tiền thu sử dụng điện thoại và thuế tiêu thụ đặc biệt mặt hàng bia, rượu

Trang 30

- Loại 3 là trợ cấp theo một tỷ lệ nhất định, loại trợ cấp này được sử dụng cho những lĩnh vực về nguyên tắc Trung ương phải đảm bảo, nhưng do những dự

án này có hiệu quả thiết thực đến người dân địa phương nên nhà nước đã giao cho địa phương thực hiện (như trung tâm văn hoá, thể thao, xây dựng đường tàu điện ngầm) Mức hỗ trợ ngân sách cho từng lĩnh vực được quy định cụ thể, tỷ lệ hỗ trợ cho từng địa phương phụ thuộc vào khả năng ngân sách của từng tỉnh, thành phố

1.3.2 Kinh nghiệm quản lý ngân sách của một số địa phương ở Việt Nam

1.3.2.1 Kinh nghiệm của huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình

Với Luật NSNN được sửa đổi về đẩy mạnh phân cấp, tăng nguồn lực cho địa phương và đơn vị cơ sở khai thác nội lực nâng cao hiệu quả tiết kiệm, giảm bớt thủ tục hành chính, huyện Hưng Hà tổ chức thực hiện khá tốt đáp ứng được các hoạt động phát triển KT-XH Trong điều hành chi ngân sách, cấp ủy, chính quyền các cấp ở Hưng Hà đã chỉ đạo sát sao, chặt chẽ và các cơ quan chuyên môn tăng cường hướng dẫn, kiểm tra, giám sát ngay từ đầu năm nên việc chi tiêu được bám sát dự toán, bảo đảm cân đối tích cực Chi đầu tư phát triển KT-XH được bảo đảm tiến độ thực hiện dự án, chi tiêu dùng tiết kiệm, phục vụ hiệu quả các nhiệm vụ chính trị của huyện và cơ sở Ngoài ra Hưng Hà còn đáp ứng kinh phí phục vụ các khoản chi đột xuất của huyện, xã, thị trấn, đã tạo điều kiện cho các cấp, ngành hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao Công tác quản lý tài chính ngân sách xã luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm Kho bạc huyện đã tích cực kết hợp với các ngành thuộc khối Tài chính quản lý chặt chẽ thu, chi, thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ quản lý, điều hành ngân sách và quỹ quốc gia trên địa bàn huyện Đồng thời Phòng Tài chính đã triển khai chương trình tin học kế toán ngân sách xã, nhằm đưa ứng dụng công nghệ vào việc hạch toán kế toán quản lý thu, chi, đáp ứng nhu cầu quản lý ngân sách xã trong giai đoạn hiện nay

Hiện nay, Chi cục Thuế Hưng Hà đang thực hiện có hiệu quả công tác cải cách hành chính thuế, góp phần đổi mới tác phong, lề lối làm việc, nâng

Trang 31

cao chất lượng công tác trong cơ quan Chi cục Thuế Hưng Hà đã phối kết hợp với các tổ chức, đoàn thể trong cơ quan từng bước tuyên truyền tới các doanh nghiệp hình thức kê khai thuế qua mạng Internet Chủ động phối hợp với cơ quan báo chí, truyền thông làm tốt công tác tuyên truyền đến các tổ chức và cá nhân trên địa bàn nắm và hiểu những điểm mới của các văn bản pháp luật về thuế như Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, Thuế Thu nhập

cá nhân, Nghị định 51/2010/NĐ-CP của Chính phủ… Đẩy mạnh hoạt động tiếp dân, để lắng nghe ý kiến phản ánh của người dân, doanh nghiệp về chính sách, thủ tục hành chính thuế và việc thực thi nhiệm vụ của cán bộ, công chức thuế, tổ chức tiếp nhận hồ sơ khai thuế, đăng ký thuế tại bộ phận một cửa, giải quyết thủ tục hành chính trong ngày cho đối tượng nộp thuế Với việc triển khai sâu rộng cải cách hành chính Thuế đã mở một diễn đàn công khai cho các bên tham gia bình đẳng để xây dựng cơ chế chính sách Trong đó, doanh nghiệp được xếp ở vị trí trung tâm, vừa đứng vai trò là người thụ hưởng cơ chế chính sách vừa đứng vai trò là một bên đối trọng xây dựng cơ chế chính sách thuế Với những nỗ lực cải cách thủ tục hành chính của Chi cục Thuế, sự đồng thuận giữa cơ quan quản lý thuế và đối tượng nộp thuế, trong những năm qua nguồn thu tại Chi cục Thuế huyện Hưng Hà năm sau luôn cao hơn năm trước Cụ thể: Năm 2011, thu ngân sách Nhà nước đạt 214.107.572.900 đồng, so với dự toán đạt 297,9% và so với cùng kỳ bằng 85%

Đối với chi ngân sách, Hưng Hà đã ổn định theo dự toán mà HĐND huyện đã phê duyệt Để chủ động quản lý về điều hành ngân sách những tháng cuối năm, Hưng Hà tập trung khắc phục những yếu kém, đề ra các biện pháp thực hiện, phấn đấu hoàn thành vượt dự toán thu, bảo đảm nhiệm vụ chi Tập trung huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực, phấn đấu thực hiện đạt, vượt mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2007 Các cấp chính quyền, ngành thuế và một số ngành chức năng làm rõ nguyên nhân thất thu đối với từng chỉ tiêu thu ở từng lĩnh vực, từng địa bàn Tổ chức thực hiện đấu giá

Trang 32

quyền sử dụng đất, tạo vốn từ quỹ đất để xây dựng cơ sở hạ tầng Hưng Hà thực hiện nghiêm các quy định để nâng cao hiệu quả SXKD Tiếp tục củng cố công tác quản lý tài chính, bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý điều hành của bộ máy chính quyền cấp xã [30]

1.3.2.2 Kinh nghiệm của huyện Hiệp Hòa , tỉnh Bắ c Giang

Qua khảo sát tại huyện Hiệp Hòa cho thấy công tác lập dự toán hàng năm của huyện đã đi vào ổn định và nề nếp Các nguồn thu, nhiệm vụ chi tương đối ổn định Căn cứ vào chỉ thị của UBND tỉnh, hướng dẫn của Sở Tài chính và thông báo về dự toán ngân sách cho UBND huyện Căn cứ vào chủ trương cấp uỷ, Nghị quyết HĐND huyện, kế hoạch phát triển KT-XH và dự toán thu chi ngân sách của các đơn vị, phòng ban, các xã, thị trấn, Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện phối hợp với Chi cục Thuế xây dựng dự toán ngân sách huyện để UBND huyện báo cáo UBND tỉnh và các ngành chức năng Căn cứ báo cáo của huyện, Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Cục Thuế tỉnh thảo luận dự toán ngân sách và thống nhất với UBND huyện về dự toán thu, chi ngân sách năm của huyện trình UBND tỉnh phê duyệt và ra quyết định giao dự toán thu, chi cho ngân sách huyện [29]

Hết năm ngân sách, các đơn vị dự toán thuộc ngân sách huyện căn cứ số liệu thực hiện sau khi có xác nhận của KBNN lập báo cáo quyết toán trình cơ quan tài chính huyện thẩm định, sau khi thẩm định phòng Tài chính - Kế hoạch tổng hợp báo cáo quyết toán thu chi ngân sách huyện có xác nhận của KBNN báo cáo UBND huyện trình HĐND huyện phê duyệt

Đối với ngân sách xã, thị trấn, căn cứ báo cáo quyết toán xã, thị trấn gửi lên, phòng Tài chính - Kế hoạch thực hiện thẩm định để UBND xã trình HĐND cùng cấp phê duyệt Phòng Tài chính - Kế hoạch tổng hợp quyết toán ngân sách xã báo cáo quyết toán ngân sách huyện, báo cáo HĐND huyện và báo cáo Sở Tài chính để tổng hợp vào NSĐP theo quy định

Các báo cáo về tình hình quản lý ngân sách của huyện Hiệp Hòa

Trang 33

cho thấy , thực trạng công tác quản lý ngân sách trên địa bàn huyện đã có một số kết quả và hạn chế nhất định như sau [29]:

* Những mặt đã đạt được:

- Công tác lập dự toán NSNN của huyện nhìn chung đã đáp ứng được các yêu cầu cơ bản, bám sát kế hoạch phát triển kinh tế xã hội địa phương Công tác thu, chi NSNN của huyện đã sử dụng các biện pháp thích hợp để đảm bảo đúng, đủ và kịp thời Công tác quyết toán và kiểm toán, thanh tra, kiểm tra các khoản chi thường xuyên luôn được thực hiện tốt Tổng thu ngân sách huyện Hiệp Hòa những năm gần đây có nhiều cố gắng, kế hoạch tỉnh giao luôn hoàn thành và hoàn thành với tỷ lệ cao; năm 2008 là 189.193 triệu đồng, đạt 130,7% dự toán; năm 2009 đạt 134,7% dự toán, tăng 23,7% so với cùng kỳ; năm 2010 đạt 138% dự toán, tăng 40,5% so với cùng kỳ; năm 2011

là 386.588 triệu đồng đạt 118,8% dự toán, tăng 17,5% so với cùng kỳ

- Trên cơ sở các nguồn thu được hưởng bảo đảm cân đối ngân sách Đối với các khoản chi thường xuyên, việc lập dự toán được dựa trên cơ sở các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức do Chính phủ và UBND tỉnh quy định Đối với các khoản chi đầu tư phát triển trên cơ sở bố trí kế hoạch cho các dự án có đủ điều kiện, bố trí vốn phù hợp khả năng ngân sách đồng thời

ưu tiên bố trí đủ vốn để trả nợ và các dự án đang thực hiện

Công tác thanh tra kiểm tra cũng là một công tác hết sức quan trọng, Chi cục Thuế huyện luôn chú trọng quan tâm chỉ đạo công tác kiểm tra quản

lý cán bộ Trong quá trình kiểm tra đã phát hiện nhiều trường hợp có đơn xin nghỉ kinh doanh nhưng thực tế vẫn kinh doanh, đã lập biên bản xử lý truy thu thuế nộp vào NSNN Đồng thời, cũng phát hiện ra hàng trăm hộ mới ra kinh doanh để đưa vào quản lý thu thuế Kiểm tra doanh thu và chế độ sử dụng hóa đơn đối với các hộ kinh doanh trên địa bàn, phát hiện hàng trăm hộ có doanh thu thực tế cao hơn doanh thu thuế, đã tiến hành điều chỉnh doanh thu với số thuế tăng hàng trăm triệu đồng Kiểm tra chế độ sử dụng hóa đơn, phát hiện

Trang 34

trường hợp ghi chép hoá đơn bán hàng không đúng quy định, có tính chất gian lận doanh thu Chi cục Thuế đã kết hợp với Phòng Tài chính - Kế hoạch kiểm tra quyết toán tài chính của các xã, thị trấn để kiểm tra tình hình quản lý thu nộp lệ phí và phí, các khoản thu khác Qua kiểm tra đã phát hiện một số đơn vị sử dụng sai chứng từ thu phí, lệ phí đã kiến nghị nộp vào ngân sách Công tác kiểm tra nội bộ ngành, thực hiện tách ba bộ phận thường xuyên duy trì, nhằm tăng cường nâng cao trình độ, phẩm chất đạo đức của người cán bộ thuế

Chi ngân sách của huyện cơ bản thực hiện theo dự toán được duyệt vào đầu năm, ngoài ra còn tăng chi trên cơ sở tăng chi để cân đối Nhờ vậy, đã đáp ứng được nhu cầu phát triển KT-XH, củng cố an ninh - quốc phòng

Khoản chi chiếm tỷ trọng cao nhất là chi cho sự nghiệp văn xã, các năm đều vượt dự toán đầu năm; năm 2008 là 93.384 triệu đồng, chiếm 51,8%; năm

2009 là 117.360 triệu đồng, chiếm 54,1%; năm 2010 là 135.486 triệu đồng, chiếm 43,9%; năm 2011 là 192.975 triệu đồng, chiếm 54,3% trong tổng chi ngân sách huyện

Các khoản chi khác cũng đã bám sát dự toán để phân bổ ngân sách , cơ bản đáp ứng nhiệm vụ chi của ngân sách

* Những tồn tại cần khắc phục:

- Đối với lập dự toán ngân sách hàng năm của các xã, thị trấn, các đơn

vị dự toán thuộc huyện còn chậm

- Đối với thu ngân sách, còn xảy ra tình trạng thất thu ở một số xã, thị trấn Chi ngân sách còn nhiều bất cập đối với chi thường xuyên cũng như chi cho đầu tư XDCB

- Về kế toán và quyết toán ngân sách qua kiểm tra thực tế cho thấy, chất lượng kế toán còn yếu, các đơn vị chưa chấp hành nghiêm chỉnh Luật Kế toán

- Chế độ công khai tài chính đối với NSNN chưa được thực hiện nghiêm túc

Trang 35

1.3.3 Một số bài học kinh nghiệm rút ra trong quản lý thu, chi ngân sách nhà nước đối với huyện Đại Từ

Để tăng cường quản lý có hiệu quả thu , chi ngân sách nhà nước qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:

- Cần phải thực hiện nghiêm chỉnh các quy đị nh của pháp luật trong quản lý ngân sách và thực hiện quá trình ngân sách

- Phải lập dự toán ngân sách sát với thực tế và hợp lý , phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương và nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của địa phương trong từng giai đoạn phát triển Thời gian thực hiện quy trình ngân sách phải đảm bảo theo đúng quy định

- Cần phải tổ chức tốt bộ máy quản lý ngân sách nhà nước theo hướng gọn nhẹ, tiết kiệm nhưng phải có các cán bộ có trình độ chuyên môn cao , biết

áp dụng các kỹ thuật mới tiên tiến vào công tác quản lý ngân sách , đồng thời phải có tinh thần trách nhiệm cao, tư cách đạo đức tốt, Phải có quy hoạch và kế hoạch đào t ạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ

và đạo đức cho các cán bộ làm công tác quản lý thu, chi ngân sách nhà nước

- Công tác thanh kiểm tra thu , chi ngân sách phải được thực hiện thường xuyên và phải xử lý kịp thời , dứt điểm các sai phạm trong thực hiện ngân sách

- Đặc biệt là phải có sự lãnh , chỉ đạo sát sao của các cấp lãnh đạo Đảng

và chính quyền từ tỉnh đến huyện và xuống các xã, thị trấn trong quản lý ngân sách Đồng thời phải có sự phối kết hợ p của các cơ quan , tổ chức, đoàn thể trong quản lý thu , chi ngân sách Sự ủng hộ, chấp hành tốt pháp luật của các doanh nghiệp, đơn vị kinh tế , các hộ kinh doanh và nhân dân trong công t ác này, Có như vậy mới đảm bảo sự thành công và đạt hiệu quả cao trong quản

lý thu, chi ngân sách nói riêng và phát triển kinh tế - xã hội của huyện Đại Từ nói chung

Trang 36

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

2.1 Phương pháp nghiên cứu đề tài

2.1.1 Các câu hỏi nghiên cứu

Để giải quyết được nội dung nghiên cứu đề tài chính là việc phải trả lời những câu hỏi sau:

a) Cơ sở khoa học cho vấn đề quản lý thu, chi ngân sách nhà nước là gì? b) Thực trạng công tác quản lý thu, chi ngân sách ở huyện Đại Từ những năm qua như thế nào?

c) Để tăng cường công tác quản lý thu , chi ngân sách ở huyện Đại Từ trong thời gian tới cần phải căn cứ vào những quan điểm, đính hướng gì và thực hiện những giải pháp nào?

2.1.2 Phương pháp luận

Phương pháp luận được sử dụng trong nghiên cứu đề tài là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin

2.1.3 Phương pháp thu thập thông tin

Trong quá trình thu thập và xử lý thông tin thì quá trình thu thập thông tin đóng vai trò rất quan trọng, bởi nếu không thu thập thông tin thì làm gì có thông tin để mà xử lý, hoặc nếu có thông tin nhưng không đúng phương pháp thì khi xử lý thông tin cũng sẽ gặp nhiều khó khăn

Từ các thông tin công bố chính thức của các cơ quan Nhà nước Các nghiên cứu của cá nhân, tổ chức về ngân sách nhà nước và quản lý ngân sách nhà nước,… Những thông tin về tình hình cơ bản, tình hình phát triển KT-XH hội của địa phương ; các chính sách của đị a phương đối với quản lý thu , chi

Trang 37

ngân sách nhà nước và các vấn đề có liên quan đến đề tài do các cơ quan chức năng của huyện Đại Từ và tỉnh Thái Nguyên cung cấp

Các tài liệu , số liệu thứ cấp có liên quan đến đề tài còn đượ c thu thập thông qua các ấn phẩm, các tài liệu, Niên giám thống kê của huyện, các văn bản pháp quy, báo cáo của các địa phương , của ngành Tài chính, website của các bộ, ngành khác có liên quan

2.1.4 Phương pháp xử lý thông tin

Sau khi thu thập được các thông tin, tiến hành phân loại, sắp xếp thông tin theo thứ tự ưu tiên về độ quan trọng của thông tin để đưa vào sử dụng

trong nghiên cứu đề tài

2.1.5 Phương pháp phân tích thông tin

+ So sánh qua các giai đoạn khác nhau

+ So sánh các đối tượng tương tự:

+ So sánh các yếu tố, hiện tượng cá biệt với trung bình hoặc tiên tiến

Sử dụng phương pháp so sánh thống kê trong nghiên cứu đề tài để so sánh kết quả hoạt động thu, chi ngân sách nhà nước giữa các năm, các thời kỳ, hoặc cơ cấu của các loại thu, chi ngân sách trong tổng số,

2.1.5.2 Phương pháp thống kê mô tả

Dựa trên các số liệu thống kê để mô tả sự biến động cũng như xu hướng phát triển của một hiện tượng kinh tế xã hội Sử dụng phương pháp

Trang 38

này trong nghiên cứu đề tài để mô tả quá trình thu , chi ngân sách và quản lý Nhà nước ở huyện Đại Từ

2.1.5.3 Phương pháp đồ thị

Phương pháp đồ thị là phương pháp mô hình hóa thông tin từ dạng số sang dạng đồ thị để trình bày các đặc điểm của các chỉ tiêu nghiên cứu Các dạng đồ thị được sử dụng bao gồm: đồ thị dạng cột, đồ thị dạng hình tròn và

đồ thị dạng mạng

2.1.6 Phương pháp chuyên gia

Sử dụng phương pháp này để lấy ý kiến của lãnh đạo tỉnh, các chuyên gia, các lãnh đạo có kinh nghiệm đánh giá về hoạt động thu , chi và quản lý ngân sách nhà nước và những dự báo về chính sách thu , chi ngân sách nhà nước, về đổi mới trong quản lý ngân sách nhà nước tro ng tương lai để từ đó góp phần hoàn thiện nội dung nghiên cứu cũng như kiểm chứng kết quả nghiên cứu

2.2 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu

Đề tài đã sử dụng hệ thống thông tin nghiên cứu chủ yếu sau:

* Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiện trạng của địa phương

- Chỉ tiêu đánh giá hiện trạng dân số và lao động

- Chỉ tiêu đánh giá hiện trạng cơ sở hạ tầng: Giao thông, điện, nước, thông tin liên lạc, y tế, giáo dục

- Chỉ tiêu phản ánh cơ cấu kinh tế của huyện qua các năm

- Chỉ tiêu phản ánh sự phát triển của KT-XH: thu nhập bình quân đầu người; thu nhập lương thực bình quân đầu người

* Nhóm chỉ tiêu phản ánh hoạt động thu, chi ngân sách nhà nước:

- Nhóm chỉ tiêu về thu ngân sách

+ Tổng thu NSNN qua các năm;

Trang 39

+ Thu ngân sách trên địa bàn: Thu trong cân đối (thu nội địa: Thu từ xí nghiệp quốc doanh trung ương, thu từ xí nghiệp quốc doanh địa phương, thu từ xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thu từ khu vực công thương nghiệp và ngoài quốc doanh, thu lệ phí trước bạ, thu phí, lệ phí, thu chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất, thu từ ngân sách khác; thu xuất nhập khẩu) + Thu theo sắc thuế: Thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập DN, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế tài nguyên, thuế môn bài, thuế nhà đất, thuế thu nhập cá nhân, thu phí và lệ phí, thu tiền sử dụng đất, thu khác

+ Thu theo ngành kinh tế quốc dân: Công nghiệp - Xây dựng, Thương mại - Du lịch, Nông lâm nghiệp - Ngư nghiệp

+ Số thu bổ sung ngân sách , kết dư ngân sách ,

+ Số thu quản lý qua ngân sách nhà nước ;

- Nhóm chỉ tiêu về chi ngân sách:

+ Tổng số các khoản chi NSNN ;

+ Chi trong cân đối: Chi thường xuyên (chi sự nghiệp kinh tế, chi phát triển nông nghiệp và nông thôn, chi sự nghiệp văn hóa - thông tin, chi sự nghiệp giáo dục, chi sự nghiệp y tế, chi sự nghiệp bảo trợ xã hội, chi quản lý hành chính, chi an ninh quốc phòng, chi bổ sung ngân sách xã, chi dự phòng, chi khác); Chi đầu tư phát triển

+ Chi quản lý qua ngân sách

+ Tạm ứng chi ngoài ngân sách

+ Chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới ,

+ Chi quản lý qua NSNN,

Trang 40

Chương 3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU, CHI NGÂN SÁCH

HUYỆN ĐẠI TỪ GIAI ĐOẠN 2009-2011

3.1.Đặc điểm tình hình cơ bản của huyện Đại Từ

3.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên

- Vị trí địa lý:

Huyện Đại Từ là huyện miền núi nằm ở ph ía Tây Bắc tỉnh Thái Nguyên, cách thành phố Thái Nguyên 25km, có diện tích tự nhiên là 57.416ha, chiếm 16,4% tổng diện tích tự nhiên tỉnh Thái Nguyên ; nằm trong toạ độ từ 21030’ đến 21050’ độ vĩ bắc, từ 105032’ đến 105042’ độ Kinh Đông Huyện tiếp giáp với các địa phương khác như sau [15]:

Phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang và tỉnh Vĩnh Phúc; Phía Đông giáp huyện Phú Lương; phía Bắc giáp huyện Định Hóa; phía Nam giáp huyện Phổ Yên và thành phố Thái Nguyên

Huyện có 31 đơn vị hành chính (trong đó có 29 xã và 2 thị trấn), với số dân là 160.598 người, có 8 dân tộc cùng chung sống Huyện Đại Từ là huyện

có diện tích chè lớn nhất tỉnh Thái Nguyên , diện tích lúa lớn thứ hai của tỉnh , huyện nổi tiếng với truyền thống cách mạng lâu đời với 169 điểm di tích lị ch

sử trên địa bàn Huyện Đại Từ còn có Khu du lịch Hồ Núi Cốc nổi ti ếng đã được nhân dân cả nước đến tham quan du lịc h Hồ Núi Cốc rộng 25km2

với dung tích 175 triệu m3

nước, phần diện tích thuộc địa bàn huyện Đại Từ khoảng 769ha, là khu du lịch của huyện và là nơi cung cấp nước phục vụ tưới tiêu cho huyện Đại Từ các huyện lân cận, tỉnh Bắc Giang, các đập nhỏ ở các

xã trong huyện với dung lượng nhỏ chủ yếu cung cấp khoảng 50ha mỗi đập

Ngày đăng: 07/11/2014, 18:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài chính (2003), Luật NSNN và các văn bản hướng dẫn thực hiện , NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật NSNN và các văn bản hướng dẫn thực hiện
Tác giả: Bộ Tài chính
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2003
4. Bộ Tài chính (2009), Chiến lược cải cách hệ thống thuế, NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược cải cách hệ thống thuế
Tác giả: Bộ Tài chính
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2009
5. Bộ Tài chính (2009) Báo cáo đẩy mạnh phân cấp quản lý nhà nước về tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đẩy mạnh phân cấp quản lý nhà nước về tài chính
Tác giả: Bộ Tài chính
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2009
7. Dương Thị Bình Minh (2010), “Quản lý chi tiêu công ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp”, Nxb Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý chi tiêu công ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp”
Tác giả: Dương Thị Bình Minh
Nhà XB: Nxb Tài chính
Năm: 2010
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2006
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2010), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2010
10. Đẵng Hữu Pháp (2002), “Quản lý nhà nước trong lĩnh vực ngân sách theo luật NSNN”, Quản lý nhà nước, (9), tr. 6 – 14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước trong lĩnh vực ngân sách theo luật NSNN”, "Quản lý nhà nước
Tác giả: Đẵng Hữu Pháp
Năm: 2002
11. Phạm Đình Cường (2009), “Phân cấp trong lĩnh vực tài chính – ngân sách ở Việt Nam”, Tài chính, (7), tr. 15 – 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân cấp trong lĩnh vực tài chính – ngân sách ở Việt Nam”, "Tài chính
Tác giả: Phạm Đình Cường
Năm: 2009
12. Nguyễn Việt Cường (2008), Đổi mới cơ chế phân cấp quản lý NSNN, Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Tài chính – Kế toán, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới cơ chế phân cấp quản lý NSNN
Tác giả: Nguyễn Việt Cường
Năm: 2008
13. Nguyễn Sinh Hùng (2010), “Quản lý và sử dụng NSNN trong tiến trình cải cách tài chính công”, Tạp chí Cộng sản, (3), tr. 36 – 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý và sử dụng NSNN trong tiến trình cải cách tài chính công”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Nguyễn Sinh Hùng
Năm: 2010
14. Nguyễn Văn Tranh (2010), “Quản lý chi ngân sách ở các tỉnh duyên hải miền Trung”, Tạp chí Thuế, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý chi ngân sách ở các tỉnh duyên hải miền Trung”, "Tạp chí Thuế
Tác giả: Nguyễn Văn Tranh
Năm: 2010
15. Nguyễn Đình Tùng (2010), “Phân định chức năng nhiệm vụ quản lý tài chính nhà nước giữa trung ương và địa phương”. Nghiên cứu tài chính, (1), tr. 7 – 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân định chức năng nhiệm vụ quản lý tài chính nhà nước giữa trung ương và địa phương”. "Nghiên cứu tài chính
Tác giả: Nguyễn Đình Tùng
Năm: 2010
16. Lê Minh Thông, (2008), “Quản lý thu chi ngân sách”, Tài chính, (10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý thu chi ngân sách”, "Tài chính
Tác giả: Lê Minh Thông
Năm: 2008
17. Tào Hữu Phùng (2010), “NSNN với chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta”, Tạp chí Cộng sản, (10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: NSNN với chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Tào Hữu Phùng
Năm: 2010
18. Trần Đình Tuấn (2009), Tăng cường các biện pháp quản lý ngân sách cấp huyện ở tỉnh TN, Kinh tế & Phát triển, số Đặc san, tháng 3/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế & Phát triển
Tác giả: Trần Đình Tuấn
Năm: 2009
19. Trần Đình Tuấn, Lê Thị Thu Hương, Phùng Trí Dũng (2011), Một số vấn đề về hoàn thiện công tác quản lý ngân sách Nhà nước ở thành phố Thái Nguyên, Khoa học và Công nghệ, ĐHTN, tập 68 (12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học và Công nghệ, ĐHTN
Tác giả: Trần Đình Tuấn, Lê Thị Thu Hương, Phùng Trí Dũng
Năm: 2011
20. Trường Đại học Kinh tế quốc dân (2003), Giáo trình Thuế , Nxb Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Thuế
Tác giả: Trường Đại học Kinh tế quốc dân
Nhà XB: Nxb Tài chính
Năm: 2003
21. Trường Đại học Kinh tế quốc dân (2000), Giáo trình về quản lý ngân sách, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình về quản lý ngân sách
Tác giả: Trường Đại học Kinh tế quốc dân
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2000
22. Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh (2009), Giáo trình Lý thuyết Tài chính – Tiền tệ, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý thuyết Tài chính – Tiền tệ
Tác giả: Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2009
23. Trịnh Tiến Dũng (2002), “Về phương pháp lập và phân bổ ngân sách ở nước ta hiện nay”, Tài chính, (3), tr. 15 – 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về phương pháp lập và phân bổ ngân sách ở nước ta hiện nay”, "Tài chính
Tác giả: Trịnh Tiến Dũng
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Tình hình sử dụng đất đai huyện Đại Tƣ̀ - Tăng cường quản lý thu, chi ngân sách nhà nước huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.1. Tình hình sử dụng đất đai huyện Đại Tƣ̀ (Trang 41)
Bảng 3.3. Tăng trưởng giá trị sản xuất giai đoạn 2009-2011 - Tăng cường quản lý thu, chi ngân sách nhà nước huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.3. Tăng trưởng giá trị sản xuất giai đoạn 2009-2011 (Trang 44)
Bảng 3.4. Chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất giai đoạn 2009-2011 - Tăng cường quản lý thu, chi ngân sách nhà nước huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.4. Chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất giai đoạn 2009-2011 (Trang 45)
Bảng 3.5. Tổng hợp thu ngân sách trên địa bàn huyện theo từng lĩnh vực - Tăng cường quản lý thu, chi ngân sách nhà nước huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.5. Tổng hợp thu ngân sách trên địa bàn huyện theo từng lĩnh vực (Trang 48)
Bảng 3.7: Tổng hợp chi ngân sách huyện Đại Tƣ̀ giai đoạn 2009-2011 - Tăng cường quản lý thu, chi ngân sách nhà nước huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.7 Tổng hợp chi ngân sách huyện Đại Tƣ̀ giai đoạn 2009-2011 (Trang 52)
Bảng 3.8: Tổng hợp chi ngân sách cấp xã huyện Đại Tƣ̀ - Tăng cường quản lý thu, chi ngân sách nhà nước huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.8 Tổng hợp chi ngân sách cấp xã huyện Đại Tƣ̀ (Trang 54)
Bảng 3.9: Chi thường xuyên của huyện Đại Từ giai đoạn 2009-2011 - Tăng cường quản lý thu, chi ngân sách nhà nước huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.9 Chi thường xuyên của huyện Đại Từ giai đoạn 2009-2011 (Trang 55)
Bảng 3.10. Quyết toán chi ngân sách cho các dự án, chương trình   mục tiêu Quốc gia và các mục tiêu nhiệm vụ khác năm 2011 - Tăng cường quản lý thu, chi ngân sách nhà nước huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.10. Quyết toán chi ngân sách cho các dự án, chương trình mục tiêu Quốc gia và các mục tiêu nhiệm vụ khác năm 2011 (Trang 57)
Bảng 3.12. Tình hình thực hiện kế hoạch chi ngân sách 2 năm 2010-2011 - Tăng cường quản lý thu, chi ngân sách nhà nước huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.12. Tình hình thực hiện kế hoạch chi ngân sách 2 năm 2010-2011 (Trang 63)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w