vậy tôi chọn đề tài “Sự đa dạng các loài ếch nhái ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên Tây Yên Tử và các giải pháp bảo tồn” Mục tiêu nghiên cứu - Nghiên cứu sự đa dạng của các loài ếch nhái ở KBT
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
PHẠM THẾ CƯỜNG
SỰ ĐA DẠNG CÁC LOÀI ẾCH NHÁI
Ở KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN TÂY YÊN TỬ VÀ
CÁC GIẢI PHÁP BẢO TỒN
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
HÀ NỘI, NĂM 2012
Trang 2MỞ ĐẦU
Các nghiên cứu về đa dạng sinh học nói chung và lớp ếch nhái nói riêng những năm gần đây được tiến hành mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực như nghiên cứu về khu hệ, nghiên cứu sinh học, sinh thái,…Đặc biệt là các nghiên cứu về đa dạng các loài ếch nhái ở các khu bảo tồn của Việt Nam
Theo Nguyen et al (2009) ở Việt Nam ghi nhận có 176 loài ếch nhái Ngay sau
khi cuốn sách “Herpetofauna of VietNam” được xuất bản đã có một loạt loài mới được công bố như: Leptolalax applebyi (Rowley & Cao, 2009); Odorrana geminata (Bain et al., 2009); Theloderma lateriticum (Bain et al., 2009), Rhacophorus vampyrus (Rowley et al., 2010), Leptolalax croceus (Rowley et al., 2010), Leptolalax
bidoupensis (Rowley et al., 2010), Leptobrachium leucops (Stuart et al., 2011) Theloderma palliatum và T nebulsum (Rowley et al., 2011), Gracixalus quangi
(Rowley et al., 2011), Ichthyophis nguyenorum (Nishikawa el al., 2012), Leptolalax
firthi (Rowley et al., 2012) Theloderma chuyangsinensis, T bambusicolum và Rhacophorus robertingeri (Orlov et al., 2012), mới đây nhất là loài Gracixalus waza
(Nguyen et al., 2012) Hiện nay đã ghi nhận có tới hơn 190 loài ếch nhái ở Việt Nam [63]
Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Tây Yên Tử nằm ở vị trí sườn Tây núi Yên Tử, chiếm phần lớn diện tích rừng tự nhiên trong quần thể các dãy núi thuộc cánh cung Đông Triều Đây là khu rừng tự nhiên tập trung lớn của tỉnh Bắc Giang, nối liền với diện tích rừng thường xanh của tỉnh Quảng Ninh và Hải Dương thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam (Chi cục Kiểm lâm Bắc Giang, 2010) Rừng trên núi Yên Tử không chỉ chứa đựng khu hệ động thực vật đa dạng và phong phú, trong đó có các loài ếch nhái
Kể từ năm 2005 trở lại đây đã có một số loài mới được phát hiện như: Tylototriton
vietnamensis (Boehme et al., 2005), Odorrana yentuensis (Tran et al., 2008), cũng như
ghi nhận mới như: Rhacophorus maximus và Rhacophorus rhodopus (Nguyen et al.,
2008) được phát hiện ở khu vực này, điều đó chứng tỏ tiềm năng đa dạng các loài ếch nhái ở khu vực này là rất lớn Tuy nhiên quần thể các loài ếch nhái ở khu vực này đang
bị đe dọa do tác động của con người như xây dựng nhà máy nhiệt điện, khai thác than
Trang 3vậy tôi chọn đề tài “Sự đa dạng các loài ếch nhái ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên Tây
Yên Tử và các giải pháp bảo tồn”
Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu sự đa dạng của các loài ếch nhái ở KBTTN Tây Yên Tử
- Xác định các nhân tố đe dọa đến các quần thể của các loài ếch nhái ở KBTTN Tây Yên Tử và đề xuất một số giải pháp bảo tồn
Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá sự đa dạng của các loài ếch nhái ở KBTTN Tây Yên Tử
- Xác định giá trị bảo tồn của các loài ếch nhái thông qua thống kê các loài quý hiếm
và đặc hữu
- So sánh sự tương đồng về thành phần loài ếch nhái của KBTTN Tây Yên Tử với một
số khu bảo tồn thiên nhiên lân cận
- Xác định các nhân tố đe dọa đến các quần thể của các loài ếch nhái ở KBTTN Tây Yên Tử và đề xuất một số giải pháp bảo tồn
Trang 4NỘI DUNG CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số nghiên cứu về sự đa dạng của các loài ếch nhái ở Việt Nam
Theo Nguyễn Văn Sáng và cs (2009), lịch sử nghiên cứu về ếch nhái ở Việt Nam
có quá trình phát triển khá lâu đời
Từ xa xưa, Tuệ Tĩnh (?-1713) - nhà y học dân tộc, người đầu tiên đã ghi nhận một số vị thuốc có nguồn gốc từ ếch nhái (Tuệ Tĩnh, sách in lại năm 1972) Sau đó đã
có một số những ấn phẩm chuyên khảo về ếch nhái, bò sát nói chung được xuất bản
vào cuối thế kỷ XIX như: “Sur la faune de la Cochinchine Francaise” của Morice A., năm 1875; “Notes sur les Reptiles et Batraciens de la Cochinchine at du Cambodge”
của tác giả Tirant G., năm 1885
Từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX có 84 loài mới về ếch nhái và bò sát đã được mô tả với mẫu chuẩn thu được ở Việt Nam của các tác giả Bourret (1920, 1937,
1939, 1942), Cuvier (1829), Smith (1921, 1922, 1924), Boulenger (1903, 1927), Angel (1927, 1928, 1933)…[31]
Năm 1942, Bourret xuất bản cuốn Les Batraciens de l’Indochine Cuốn sách đã
mô tả 171 loài và phân loài ếch nhái, đây được coi là tài liệu đầy đủ nhất về ếch nhái của vùng Đông Dương vào những năm giữa thế kỷ XX [92]
Năm 1977, Đào Văn Tiến đã công bố khóa định loại 87 loài ếch nhái trong bài
báo “Về định loại ếch nhái Việt Nam” Năm 1981, Trần Kiên và cộng sự đã thống kê
thành phần loài động vật Miền Bắc Việt Nam (1955-1976) trong đó có 69 loài ếch
nhái Năm 1996, Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc xuất bản chuyên khảo Danh lục bò
sát và ếch nhái Việt Nam, ở chuyên khảo này các tác giả đã thống kê được 82 loài ếch
nhái [31]
Năm 1999, nghiên cứu tổng quan về ếch nhái của tác giả Hồ Thu Cúc đã thống kê được 100 loài ở Việt Nam [5]
Trang 5Nguyễn Văn Sáng và cộng sự (2001) điều tra khảo sát khu hệ ếch nhái, Bò sát núi Kon Ka Kinh, tỉnh Gia Lai năm 1999, đã thống kê được ở khu vực này có 22 loài ếch
Năm 2005, Nguyễn Văn Sáng và cs thống kê trong Danh lục ếch nhái và bò sát
Việt Nam có 162 loài ếch nhái thuộc 9 họ, 3 bộ [34]
Trong các báo cáo khoa học về Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật ở Hội thảo Quốc gia lần thứ I (2005) các tác giả đã công bố một số công trình nghiên cứu sự đa dạng của khu hệ trong đó có đa dạng ếch nhái
Lê Nguyên Ngật và cs (2005): Thành phần ếch nhái, bò sát ở một số vùng thuộc tỉnh Thanh Hóa trong đó ghi nhận 44 loài ếch nhái thuộc 6 họ, 1 bộ [12]
Năm 2009, Nguyen et al đã thống kê được 176 loài ếch nhái thuộc 10 họ, 3 bộ ở
Việt Nam [66]
Trong Hội thảo Quốc gia về Lưỡng cư và Bò sát ở Việt Nam lần thứ nhất diễn ra năm 2009 tại Trường Đại học Sư phạm Huế, tỉnh Thừa Thiên-Huế, các báo cáo khoa học về đánh giá khu hệ ếch nhái như:
Đinh Thị Phương Anh và cs (2009) đã điều tra và thống kê thành phần loài ếch nhái của KBTTN Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng từ năm 2007 đến 2009 ghi nhận 12 loài thuộc 5 họ, 1 bộ [3]
Ngô Đắc Chứng và cs (2009) đã điều tra và thống kê được 46 loài ếch nhái thuộc
23 giống, 12 họ, 1 bộ tại KBTTN Đăk Rông, tỉnh Quảng Trị với mẫu thu được năm
Trang 6Lê Nguyên Ngật và cs (2009) đã đánh giá khu hệ ếch nhái tại Khu dự trữ sinh quyển Kiên Giang bao gồm 23 loài thuộc 6 họ, 2 bộ [14]
Lê Nguyên Ngật và cs (2009) đánh giá sự đa dạng ếch nhái ở KBTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa năm 2008 gồm 38 loài thuộc 21 giống, 6 họ, 1 bộ [16]
Hoàng Thị Nghiệp và cs (2009) thống kê thành phần loài ếch nhái của huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp từ năm 2008 đến 2009 bao gồm 17 loài thuộc 5 họ, 2 bộ [8]
Trần Duy Ngọc và cs (2009) đã nghiên cứu tính chất địa động vật của khu hệ ếch nhái và bò sát của tỉnh Phú Yên Các tác giả đã thống kê được 21 loài ếch nhái thuộc 7
họ, 2 bộ [36]
Đỗ Thành Trung và cs (2009) đã nghiên cứu khu hệ huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên từ năm 2007 đến 2008 và thống kê được 16 loài ếch nhái thuộc 5 họ, 1 bộ [4] Ziegler et al (2009) đã tổng kết 10 năm nghiên cứu đa dạng sinh học ếch nhái,
Bò sát ở Vườn Quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng từ năm 2000 đến 2009 và thống kê được
45 loài ếch nhái [41]
Trong báo cáo khoa học về Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Hội nghị khoa học toàn quốc lần thứ III năm 2009, có một số kết quả nghiên cứu về đa dạng khu hệ ếch nhái của một số vùng trên cả nước:
Ngô Thái Lan và cs (2009) điều tra thành phần loài ếch nhái ở xã Kháng Nhật, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang ghi nhận 19 loài thuộc 6 họ, 2 bộ [24]
Ngô Thái Lan và cs (2009) điều tra thành phần loài ếch nhái ở xã Trung Mĩ, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc, đã thống kê 26 loài thuộc 4 họ, 1 bộ [25]
Lê Nguyên Ngật và cs (2009) điều tra thành phần loài và đã thống kê được 22 loài ếch nhái thuộc 6 họ, 1 bộ tại KBTTN Copia, tỉnh Sơn La [15]
Nguyễn Văn Sáng và cs (2009) điều tra đa dạng ếch nhái bò sát tại VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ đã ghi nhận 29 loài ếch nhái thuộc 8 họ, 3 bộ [35]
Nguyễn Thiên Tạo (2009) điều tra ở khu vực rừng núi Pi Oắc, huyện Nguyên
Trang 7Nguyễn Kim Tiến (2009) điều tra tại VQG và KBTTN tỉnh Thanh Hóa đã thống
kê được 48 loài ếch nhái thuộc 7 họ, 1 bộ [26]
Trong báo cáo khoa học về Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, hội nghị khoa học toàn quốc lần thứ IV năm 2011, có một số báo cáo nghiên cứu về đa dạng khu hệ ếch nhái:
Lê Vũ Khôi và cs (2011) điều tra tại KBTTN Pù Huống, tỉnh Nghệ An đã thống
kê được 25 loài ếch nhái thuộc 7 họ, 1 bộ [20]
Hoàng Thị Nghiệp và cs (2011) điều tra và thống kê được 24 loài ếch nhái thuộc
6 họ, 2 bộ tại vùng An Giang, Đồng Tháp [9]
Poyarkov (2011) nghiên cứu khu hệ VQG Côn Đảo, Bà Rịa - Vũng Tàu đã thống
kê được 11 loài ếch nhái thuộc 6 họ, 2 bộ [79]
Nguyễn Kim Tiến (2011) nghiên cứu khu hệ KBTTN Pù Hu, tỉnh Thanh Hóa thống kê được 32 loài ếch nhái thuộc 7 họ, 1 bộ [27]
Lê Nguyên Ngật và cs (2011) điều tra khu hệ vùng Tây Bắc Việt Nam bao gồm
4 tỉnh: Lai Châu, Điện Biên, Sơn La và Hòa Bình, đã thống kê được 59 loài ếch nhái thuộc 9 họ, 3 bộ [17]
Hoàng Xuân Quang và cs (2012) điều tra khu hệ ếch nhái, bò sát ở VQG Bạch
Mã, tỉnh Thừa Thiên - Huế đã thống kê được 44 loài ếch nhái thuộc 6 họ, 1 bộ [11] Bên cạnh những điều tra, nghiên cứu về khu hệ các tác giả đã công bố mô tả những loài mới trong khu hệ nghiên cứu Đặc biệt, trong những năm gần đây, rất nhiều loài mới hay những ghi nhận mới cho khu hệ:
Lathrop et al (1998) đã mô tả hai loài mới với mẫu vật thu được từ tỉnh Gia Lai
Leptobrachium banae và L xanthospilum, các tác giả cũng đã mô tả lại đặc điểm hình
thái của loài L chapaense [42]
Ohler (2003) mô tả loài mới Ophryophryne gerti và O hansi với mẫu thu được
tại Langbian, tỉnh Lâm Đồng [68]
Orlov et al (2003) mô tả loài Rana trankieni với mẫu thu được ở khu hệ tỉnh Sơn
La Năm 2007, loài này được chuyển sang giống Odorrana [70]
Trang 8Bain and Nguyen (2004) mô tả 3 loài mới cho giống Mycrohyla: M marmorata,
M nanapollexe và M pulverata với mẫu thu được ở núi Ngọc Linh, tỉnh Quảng Nam
[45]
Bain (2003) mô tả sáu loài mới thuộc giống Rana: Rana bacboensis và R
megatympanum với mẫu thu được ở Nghệ An, R banaorum và R morafkai với mẫu
thu được ở tỉnh Gia Lai, R daorum và R hmongorum với mẫu thu được ở tỉnh Lào Cai Các loài này sau này được chuyển sang giống Odorrana [43]
Bain & Nguyen (2004) đã công bố danh sách khu hệ ếch nhái, bò sát của tỉnh Hà Giang năm 2000, ở khu hệ này các tác giả đã thống kê được 36 loài ếch nhái và mô tả
hai loài mới Rana iriodes và Rana tabaca [45]
Matsui & Orlov (2004) mô tả loài Chirixalus ananjeva với mẫu thu được ở tỉnh
Hà Tĩnh [58]
Orlov (2005) khảo sát đa dạng sinh học núi Ngọc Linh, tỉnh Kon Tum và mô tả
loài Vibrissaphora ngoclinhensis cho khu hệ này Tuy nhiên, các nghiên cứu về quan
hệ di truyền sau đó của các tác giả Rao & Wilkinson (2008) và Zheng et al (2008) đã
thống nhất chuyển các loài thuộc giống Vibrissaphora sang giống Leptobrachium [72] Orlov et al (2004) mô tả loài Philautus supercornutus ở khu hệ Thừa Thiên-Huế,
Đà Nẵng, Quảng Nam Sau đó, Delorme et al (2005) đã chuyển loài này và đưa về
giống Gracixalus với tên khoa học Gracixalus supercornutus [71]
Từ năm 2005 đến nay đã có hàng loạt loài mới được mô tả như: Philautus
truongsonensis (Orlov et al., 2005); Rana khalam (Stuart et al., 2005); R gigatympana
(Orlov et al., 2006), Theloderma ryabovi (Orlov et al., 2006); Amolops spendissimus
và A monutus (Orlov et al., 2007); Rhacophorus chuyangsinensis (Orlov et al., 2008);
Philautus quyeti (Nguyen et al., 2008); Theloderma lateriticum (Bain et al., 2009); Leptolalax applebyi (Rowley et al., 2009); Odorrana geminata (Bain et al., 2009); Rhacophorus vampyrus (Rowley et al., 2010); Leptolalax croceus (Rowley et al.,
2010); Leptolalax bidupensis (Rowley et al., 2011); Theloderma palliatum và T
nebulsum (Rowley et al., 2011); Gracixalus quangi (Rowley et al., 2011); Leptobrachium leucops (Stuart et al., 2011); Ichthyophis nguyenorum (Nishikawa,
Trang 92012); Leptolalax firthi (Rowley et al., 2012) [73, 87, 74, 75, 76, 77, 61, 47, 80, 48,
giả đã mô tả và công bố 3 loài mới trong Họ Rhacophoridae là Theloderma
chuyangsinensis, Theloderma bambusicolum và Rhacophorus robertingeri (trước đây
được định loại là R calcaneus) ở phía Nam dãy Trường Sơn Ở bài viết này các tác giả cũng đã chuyển loài Philautus laevis thành Theloderma laeve [78]
Về nghiên cứu sinh thái, sinh học một số loài ếch nhái trong điều kiện tự nhiên và trong nuôi nhốt để đề ra những phương hướng bảo tồn và phát triển kinh tế có một số những nghiên cứu điển hình như sau:
Nguyễn Văn Sáng và cs (2003) đã nghiên cứu và khảo sát thực địa ở các huyện
Ba Bể và Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn với mục tiêu đánh giá hiện trạng loài cá cóc Tam Đảo ở khu vực này và xây dựng chương trình thích hợp nhất nhằm bảo tồn loài cá cóc này và sinh cảnh sống của chúng [32]
Ngô Đắc Chứng và cs (2009) nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái học
của ếch gai sần Quasipaa verrucospinosa (Bourret, 1973) ở vùng A Lưới, tỉnh Thừa
Thiên - Huế [22]
Lê Vũ Khôi và cs (2009) đưa ra những dẫn liệu về sự sinh trưởng và phát triển
của chàng xanh đốm Polypedates dennysi trong điều kiện nuôi nhốt ở Trại thực
nghiệm Sinh học Cổ Nhuế - Hà Nội [20]
Trang 10Nghiên cứu về đặc điểm sinh sản của một số loài ếch cũng được thực hiện trong thập kỷ gần đây Hendrix et al (2007) mô tả hình thái và phân tích trình tự DNA nòng
nọc loài ếch cây Rhacophorus annamensis Smith, 1924 (Anura: Rhacophoridae) ở
Phong Nha - Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình [55]
Năm 2009, Gawor et al nghiên cứu đặc điểm của nòng nọc 4 loài thuộc giống
Hylarana ở Việt Nam và Thái Lan Dựa vào sự sai khác các đặc điểm hình thái và
phân tích di truyền phân tử, các tác giả đã mô tả và so sánh quá trình phát triển nòng
nọc 4 loài giống Hylarana ở Việt Nam và Thái Lan [52]
Hoàng Xuân Quang và cs (2009) mô tả đặc điểm hình thái nòng nọc 2 loài
trong giống Quasipaa Dubois, 1992 ở Vườn Quốc gia Bạch Mã, Việt Nam [10]
Cũng trong năm 2009, Lê Thị Thu và cs công bố kết quả nghiên cứu mô tả
hình thái nòng nọc 4 loài thuộc 3 giống Megophrys (nay là giống Xenophrys),
Leptolalax và Leptobrachium của họ Megophryidae (Anura) ở miền núi Tây Nghệ An,
tỉnh Nghệ An [18]
1.2 Một số nghiên cứu về ếch nhái ở vùng núi Yên Tử
Nguyễn Văn Sáng và cs (1968): đã tiến hành nghiên cứu ếch nhái ở các xã Thanh Sơn, Lục Sơn, An Lac (Tài liệu chưa được công bố)
Năm 1999: Viện điều tra quy hoạch rừng đã nghiên cứu đa dạng sinh học ở khu vực này trong đó có các loài ếch nhái để làm luận chứng cho xây dựng KBTTN [2]
Hồ Thu Cúc và cs (2005): Thành phần loài ếch nhái ở một số khu vực thuộc vùng núi Đông Bắc Việt Nam bao gồm 82 loài thuộc 9 họ, 3 bộ Trong đó khu vực núi Yên Tử có 18 loài, đây là khu vực có mức độ thấp nhất trong những vùng được nghiên cứu [16]
Boehme et al (2005) mô tả loài Cá Cóc sần việt nam Tylototriton vietnamennsis
với mẫu thu được ở vùng núi Yên Tử thuộc tỉnh Bắc Giang [50]
Trần Thanh Tùng và cs (2006) đã thống kê được ở khu vực núi Yên Tử có 41 loài ếch nhái thuộc 8 họ, 3 bộ [37]
Trang 11Lê Nguyên Ngật và cs (2007) nghiên cứu về sự phân bố của các loài ếch nhái và
bò sát theo sinh cảnh và độ cao của vùng núi Yên Tử Qua nghiên cứu này các tác giả
đã thống kê được 49 loài ếch nhái thuộc 17 giống, 8 họ, 3 bộ Các tác giả cũng đã nhận xét về sự phân bố của Lớp Ếch nhái phân bố chủ yêu ở độ cao 100-300m, sau đó là độ cao dưới 100m, với độ cao trên 300m thì số loài ghi nhận ít nhất.[13]
Trần Thanh Tùng và cs (2008) mô tả loài Odorrana yentuensis cho khu hệ núi
Yên Tử, tỉnh Bắc Giang [90]
Trần Thanh Tùng và cs (2008) điều tra sự đa dạng và hiện trạng ếch nhái, bò sát
ở vùng núi Yên Tử trong thời gian 2004 đến năm 2008 đã thống kê được 50 loài ếch nhái thuộc 8 họ, 2 bộ [38]
Nguyen et al (2008) ghi nhận hai loài mới cho khu hệ ếch nhái vùng núi Yên Tử
gồm Rhacophorus maximus và R rhodopus [64,65]
Năm 2010, Windelhues et al đã mô tả các giai đoạn nòng nọc và con trưởng
thành ếch cây loài Rhacophorus maximus ở khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử, tỉnh
Ninh, Hải Dương, phía Tây và Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn và phần còn lại của Thị trấn Thanh Sơn, các xã Thanh Luận, An Lạc, Dương Hưu, Long Sơn, Lục Sơn Trụ sở chính của KBTTN đặt tại thị trấn Thanh Sơn, huyện Sơn Động [2]
Trang 12dựng đứng Khu vực giáp ranh tỉnh Quảng Ninh có độ dốc bình quân 35–400 Do địa hình phức tạp đã tạo nên cảnh quan thiên nhiên đẹp đồng thời chứa đựng tiềm năng đa dạng sinh học cao, đặc trưng cho vùng Đông bắc Việt Nam [2]
1.3.3 Khí hậu
Khu vực Tây Yên Tử nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa đặc trưng bởi dạng thời tiết nóng ẩm, mưa nhiều Theo số liệu của trạm khí tượng thuỷ văn tỉnh Bắc
năm là 1483,3 mm (tháng cao nhất là 317,1 mm; tháng thấp nhất là 11,4 mm) Tổng số ngày mưa là 120 ngày, tập trung vào các tháng V–VIII Độ ẩm không khí bình quân hàng năm là 82%, thấp nhất là 79% Sương mù thường xuất hiện vào các tháng I–II và IX–XII Sơn Động và Lục Nam chịu ảnh hưởng của hai loại gió mùa là gió mùa Đông Bắc xuất hiện vào mùa đông, kèm theo mưa phùn và giá lạnh (từ tháng XI đến tháng III năm sau); gió mùa đông nam từ tháng IV đến tháng X, trong mùa này thường nóng
và xuất hiện giông bão, kèm theo mưa to đến rất to [2]
1.3.4 Thuỷ văn
KBTTN Tây Yên Tử thuộc lưu vực Yên Tử Tây, có 7 suối lớn là: Đồng Rì, Đồng Bài, Nước Nóng, Nước Vàng, Đá Ngang, Khe Đin và Khe Rỗ Các suối nằm ở thượng nguồn và cung cấp nước cho sông Lục Nam Diện tích rừng của vùng thượng lưu đã giúp cho việc tích luỹ nước thường xuyên cho các suối trên Đây là nguồn cung cấp nước chính cho sinh hoạt và sản xuất của người dân ở các xã Thanh Sơn, Thanh Luận, Lục Sơn và An Lạc [2]
1.3.5 Địa chất, thổ nhưỡng
Theo chi cục Kiểm lâm Bắc Giang 2010, đất thuộc các xã An Lạc, Thanh Luận, Lục Sơn, và Thị trấn Thanh Sơn được hình thành trên phức hệ đất trầm tích, gồm các loại đá mẹ sa thạch, phiến thạch sét, sa phiến thạch, cuội kết và phù sa cổ Trong KBTTN Tây Yên Tử có hai loại đất chính sau:
Đất Feralit trên núi, phân bố ở độ cao 300 m trở lên, hầu hết được che phủ nởi
Trang 13Đất Feralit điển hình, phân bố ở độ cao 200–300 m, tập trung chủ yếu ở khu Tây bắc KBT, hình thành trên đá mẹ phiến thạch, sa thạch Tầng đất từ trung bình đến dầy còn mang tính chất đất rừng [2]
1.4 Điều kiện kinh tế, văn hoá và xã hội
1.4.1 Dân số, dân tộc, lao động
Dân số trên địa bàn Thị trấn Thanh Sơn và 4 xã An Lạc, Thanh Luận, Tuấn Mậu
và Lục Sơn là 17446 nhân khẩu với tổng số hộ là 3778, số người trong độ tuổi lao động là 6649, trong đó có 3524 nữ và 3125 nam Thành phần dân tộc gồm: Cao Lan, Hoa, Kinh, Nùng, Sán Chí, Sán Dìu, Sán Trắng, Tày [2]
1.4.2 Tình hình sản xuất và đời sống
Từ khi KBTTN Tây Yên Tử được thành lập, một bộ phận các hộ gia đình đã tham gia vào công tác bảo vệ rừng, trồng rừng theo các chương trình, dự án của khu bảo tồn Hiện nay, đời sống của người dân trong KBT và vùng đệm đã từng bước được nâng cao do chuyển đổi tập quán canh tác như trồng một số cây công nghiệp (chè, cây
ăn quả), cây dược liệu (sả, hương bài) [2]
1.4.3 Cơ sở hạ tầng
Giao thông vận tải: Năm 2009, trục đường chính 289 chạy qua Thị trấn Thanh Sơn, các xã Thanh Luận, Lục Sơn đã được nâng cấp trải nhựa tạo điều kiện thuận lợi cho lưu thông và phát triển kinh tế Giao thông đi lại trong KBTTN Tây Yên Tử chủ yếu là hệ thống đường lâm nghiệp cũ, đường mòn
Thuỷ lợi: Nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp và đời sống sinh hoạt của người dân trong và quanh KBT phần lớn phụ thuộc vào nguồn nước tự nhiên ở các suối thuộc lưu vực Tây Yên Tử
Y tế, giáo dục, văn hoá: Toàn bộ dân cư trên địa bàn KBT và vùng đệm đã có điện lưới quốc gia, nên đời sống văn hóa các hộ gia đình đã có sự tiến bộ rõ rệt Các xã đều
có trường học và trạm xá Việc mua bán trao đổi hàng hoá tập trung ở các chợ: Nòn (Thị trấn Thanh Sơn), Đồng Đỉnh (xã Lục Sơn), và Vân Sơn (xã Vân Sơn) [2]
1.5 Đa dạng sinh học
Trang 14Trong những năm gần đây, KBTTN Tây Yên Tử là địa điểm triển khai hàng loạt nghiên cứu về lâm nghiệp và đa dạng sinh học KBTTN đã phối hợp với các cơ quan trong và ngoài nước thực hiện các nghiên cứu chuyên đề của nghiên cứu sinh và chuyên gia, khảo sát thực tế cho các sinh viên Kết quả nghiên cứu khoa học không chỉ góp phần phát hiện và nâng cao giá trị đa dạng sinh học mà còn là cơ sở quan trọng cho việc quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững trong khu vực
1.5.1 Hệ thực vật
Tại Tây Yên Tử đã xác định được 5 kiểu thảm thực vật chính: ở độ cao dưới 100 m: trảng cỏ và cây bụi; ở độ cao 100–200 m: trảng hóp xen cây gỗ nhỏ và tre nứa; ở độ cao 200–900 m: kiểu rừng kín thường xanh, cây lá rộng thường xen cây lá kim, mưa
ẩm nhiệt đới; trên 900 m: kiểu rừng cây gỗ lá rộng
Về hệ thực vật, theo kết quả khảo sát của Trường Đại học Lâm nghiệp (1999), đã thống kê được 492 loài thực vật bậc cao có mạch, xếp theo 8 nhóm sử dụng: nhóm cho
gỗ 32,3%; nhóm cây thuốc 20,9%; còn lại là các nhóm cho ta-nanh, nhóm cho tinh dầu
và nhựa, nhóm làm thức ăn cho người và động vật nuôi, nhóm làm vật liệu xây dựng, nhóm làm hàng mỹ nghệ và nhóm cây cảnh (chủ yếu là loài lan) Trong số đó có trên 40% tổng số loài cây đã thống kê được có khả năng làm dược liệu [2]
1.5.2 Hệ động vật
Theo kết quả nghiên cứu của Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật (2003, 2009), bước đầu đã thống kê được sự đa dạng về thành phần phân loại học của các lớp thú, chim, bò sát và ếch nhái gồm: 27 bộ, 91 họ, 285 loài Trong số đó có nhiều loài quý hiếm bị đe doạ cấp quốc gia ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) và cấp toàn cầu ghi trong Danh lục Đỏ IUCN (2009) Bên cạnh đó, hàng loạt ghi nhận mới đang tiếp tục được nghiên cứu và công bố Như vậy, có thể nói rằng KBTTN Tây Yên Tử chứa đựng tiềm năng đa dạng sinh học khá cao, cần tiếp tục được nghiên cứu và khám phá trong thời gian tới
Các loài thú quan trọng đã ghi nhận ở KBTTN Tây Yên Tử như: Cu li lớn
Nycticebus bengalensis, Khỉ mặt đỏ Macaca arctoides, Khỉ vàng Macaca mulatta,
Mèo rừng Prionailurus bengalensis, Sơn dương Capricornis sumatraensis Một số loài
Trang 15chim có giá trị bảo tồn có mặt trong KBTTN như: Gà lôi trắng Lophura nycthemera,
Cú lợn lưng nâu Tyto longimembris, Cú mèo khoang cổ Otus lempiji, Yểng Gracula
religiosa, Khướu bạc má Garrulax chinensis Các loài bò sát quan trọng như Rùa tròn
đẹp Cuora cyclornata, Rùa hộp trán vàng Cuora galbinifrons, Rùa sa nhân Cuora
mouhotii, Rùa đất s-peng-le Geoemyda spengleri, Rùa đầu to Platysternon megacephalum, một số loài thằn lằn và rắn cũng được ghi nhận trong khu vực rừng
Yên Tử và Khe Rỗ [2]
Trang 16CHƯƠNG II THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 Thời gian và địa điểm khảo sát
- Các đợt khảo sát: Cùng với các chuyên gia và đồng nghiệp, tôi đã tiến hành 3 đợt khảo sát trong từ năm 2010 đến 2012: Đợt 1: Từ 30/5/2010 đến 26/6/2010; đợt 2:
Từ 15/11/2011 đến 21/11/2011; đợt 3: Từ 29/6/2011 đến 11/7/2012
Bảng 2.1 Địa điểm, thời gian và sinh cảnh thu mẫu Ếch nhái ở KBTTN Tây Yên Tử
Địa điểm, thời gian, tọa độ, độ cao của khu vực nghiên cứu được trình bày cụ thể
ở Hình 2.1 và Phụ lục 3, Phần Phụ lục
Sinh cảnh thu mẫu
Từ 15-16/11/2011
- Rừng thường xanh ít
bị tác động
- Rừng thứ sinh đang phục hồi
Từ 17-19/2011
- Rừng thường xanh ít
bị tác động
- Rừng thứ sinh đang phục hồi
- Rừng trồng quanh khu dân cư
- Rừng trồng quanh khu dân cư
Trang 17Hình 2.1 Bản đồ thu mẫu ếch nhái ở KBTTN Tây Yên Tử
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thu thập mẫu vật
- Khảo sát thực địa:
Chọn địa điểm thu mẫu: Thường tập trung ven các suối, vũng nước, ao nhỏ hoặc các vùng ẩm ướt ven các đường mòn trong rừng, dưới gốc cây mục trong rừng hoặc trên cành cây, chúng tôi cũng tiến hành khảo sát ven các cửa hang và vách đá Xác định toạ độ các điểm nghiên cứu bằng máy định vị vệ tinh GPS Garmin Dakota 20 Thời gian thu mẫu: Một số loài ếch nhái có thể thu thập mẫu vật và quan sát vào ban ngày Hầu hết các loài ếch nhái hoạt động vào ban đêm, do đó thường thu mẫu và quan sát ếch nhái vào buổi tối từ 18h:00 đến 24h:00
Phương pháp thu mẫu: ếch nhái trưởng thành chủ yếu được thu thập bằng tay, mẫu nòng nọc được thu bằng vợt (một số mẫu chúng tôi chỉ quan sát và chụp ảnh ghi nhận)
Trang 18Xử lý mẫu vật: Mẫu vật thu được thường đựng trong các túi nilon Sau khi chụp ảnh, một số mẫu thông thường được thả lại tự nhiên, hoặc giữ lại làm tiêu bản
- Làm tiêu bản:
Gây mê: Mẫu vật được gây mê bằng miếng bông thấm etyl a-xe-tat Mẫu cơ dùng
để phân tích sinh học phân tử (ADN) được lưu giữ trong cồn 95%
Ký hiệu mẫu: Sau khi gây mê, đeo nhãn ký hiệu vào cho mẫu vật: nhãn và chỉ buộc không thấm nước, chữ viết trên nhãn không bị tan trong cồn Nhãn được buộc vào chân đối với Bộ Có chân và Bộ Có đuôi, với Bộ Không chân thì khâu chỉ dưới da gần cổ
Cố định mẫu: Việc cố định mẫu cần đảm bảo mẫu có hình dạng dễ phân tích hoặc quan sát sau này Sắp xếp mẫu vật theo hình dạng mong muốn, sau đó phủ vải màn hoặc giấy thấm lên trên, ngâm trong cồn 80-90% trong vòng 8-10 tiếng Đối với mẫu ếch nhái cỡ lớn, cần tiêm cồn 80% vào bụng và cơ của con vật để tránh thối hỏng mẫu Bảo quản mẫu vật: Để bảo quản lâu dài, sau khi cố định thì chuyển sang ngâm cồn 70%
2.2.2 Phân tích mẫu vật
+ Mẫu vật nghiên cứu
- Mẫu vật nghiên cứu: đã phân tích 110 mẫu ếch nhái
- Mẫu vật được lưu trữ tại Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật
+Đo đếm Các chỉ tiêu hình thái
- Tiến hành đo các chỉ số hình thái của mẫu vật: Các chỉ tiêu về kích thước được
đo bằng thước kẹp điện tử Alpha-Tool với đơn vị đo nhỏ nhất là 0,01 mm
Bảng 2.2 Các chỉ tiêu hình thái (đơn vị đo: mm)
Trang 192 AG Khoảng cách từ nách đến bẹn:
Đo từ phía sau hốc nách sau chi trước đến hốc trước chi sau
mắt
Chi trước
Chi sau
Trang 2026 FL Chiều dài đùi
cổ chân
+ Định loại và phân tích số liệu
Định loại mẫu vật: So sánh hình thái của mẫu vật thu được với các mẫu đã được định tên đang lưu giữ ởViện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật và Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, Hà Nội Định loại tên loài theo các tài liệu của Bourret (1942); Hendrix et
al (2008); Inger et al (1999); Nguyen et al (2009); Taylor (1962); Ohler (2003); Ziegler et al (2002) và một số tài liệu khác có liên quan Tên khoa học và phổ thông của loài theo Nguyen et al (2009) và một số tài liệu mới công bố gần đây
Thống kê:
Sử dụng phần mềm PAST Statistics (Hammer et al., 2001) để phân tích thống kê
và so sánh sự tương đồng về thành phần loài ếch nhái giữa KBTTN Tây Yên Tử với các KBT lân cận
Số liệu về phân bố được mã hóa theo dạng đối xứng (1: có mặt, 0: không có mặt) Chỉ số tương đồng (Dice index) dựa trên công thức của Sorensen được tính như sau:
djk = 2M / (2M+N) trong đó M là số loài ghi nhận ở cả 2 vùng, N là tổng số loài chỉ ghi nhận ở một vùng
Trang 21CHƯƠNG III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Thành phần loài ếch nhái ở KBTTN Tây Yên Tử
Qua phân tích và định loại mẫu vật, chúng tôi ghi nhận có 35 loài ếch nhái ở KBTTN Tây Yên Tử Mô tả của từng loài được trình bày dưới đây theo hệ thống phân loại của Nguyen et al (2009) và tham khảo Frost (2012)
Họ Cóc Bufonidae
1 Cóc nhà Duttaphrynus melanostictus (Schneider, 1799)
Mẫu vật nghiên cứu: Cá thể đực trưởng thành TYT 2012.37 (SVL 64,38 mm) thu vào tháng 7/2012
Đặc điểm nhận dạng: Mõm tròn, nhô về phía trước so với hàm dưới; gờ mõm rõ, vùng má xiên; vùng giữa 2 ổ mắt lõm; khoảng cách gian ổ mắt bằng khoảng 1,5 lần chiều rộng mí mắt trên (IOD 7,69 mm; UEW 5,01 mm); gờ mõm và gờ sọ rõ; gờ sau ổ mắt và gờ ổ mắt-màng nhĩ rõ; tuyến mang tai rất phát triển; mắt lớn; lỗ mũi tròn, nằm gần mút mõm hơn so với mắt; màng nhĩ rõ, đường kính màng nhĩ bằng khoảng 2/3 lần đường kính mắt (TD 5,12 mm, ED 7,06 mm); không có răng lá mía
Chi khỏe, các ngón tay tự do, ngón tay I dài hơn ngón II; ngón chân khoảng 1/3
có màng; củ bàn trong dài hơn củ bàn ngoài; khi gập dọc thân khớp cổ-bàn chạm tới ổ mắt
Trên thân và chi có các mụn to nhỏ không đều, các mụn ở giữa lưng thường lớn hơn và bé dần sang hai bên, đầu các mụn thường đen Mặt trên thân màu vàng sẫm, đôi khi xám nhạt; bụng trắng bẩn với các vệt đen; mút các ngón tay, ngón chân màu đen, các gờ sọ màu xám đến đen (Định loại theo Bourret, 1942; Inger et al., 1999; Ziegler, 2002)
Phân bố
Trang 22KBTTN Tây Yên Tử: Gặp ở hầu hết các sinh cảnh
Việt Nam: Khắp cả nước
Thế giới: Sri Lanka, Ấn Độ, Pakistan, Nepal, Trung Quốc, Mi-an-ma, Lào, Thái Lan, Căm-pu-chia, Ma-lai-xia, Phi-lip-pin
2 Cóc rừng Ingerophrynus galeatus (Günther, 1864)
Mẫu vật nghiên cứu: Con cái còn non VH44 (SVL 39,04 mm) thu vào tháng 10/2009, ở độ cao 400-600 m so với mực nước biển
Đặc điểm nhận dạng: Mõm ngắn, hơi nhọn; mắt lớn, khoảng cách gian ổ mắt rộng hơn chiều rộng mí mắt trên (UEW 3,67 mm, ED 4,04 mm); gờ mõm rõ, vùng giữa hai gờ ổ mắt lõm; gờ giữa ổ mắt và tuyến mang tai dày, rất phát triển; lỗ mũi nằm gần mút mõm hơn so với mắt; màng nhĩ rõ (TD 2,85 mm), đường kính màng nhĩ gần bằng 3/4 lần đường kính mắt; không có răng lá mía; lưỡi dài, hẹp, tròn ở phía sau
Mút ngón tay và ngón chân tù; ngón tay I dài hơn ngón II; ngón chân ½ có màng, hai củ bàn rõ Trên thân và chi có nhiều mụn; các mụn ở 2 bên lớn hơn xếp thành dãy; mụn ở trên mi mắt và các chi nhỏ hơn
Đầu và thân màu nâu vàng hoặc xám nâu, hai bên sườn vàng; gờ sọ có màu nâu vàng; có một vệt sẫm nhỏ xếp thành hình chữ V ngược giữa 2 tuyến mang tai, một vệt khác lớn hơn giữa lưng; chi thẫm màu hơn trên thân, có vệt sẫm vắt ngang; bụng xám hơi vàng với một số vệt sẫm màu (Định loại theo Bourret, 1942; Inger et al., 1999; Ziegler 2002)
Phân bố
KBTTN Tây Yên Tử: Mẫu VH44 được tìm thấy vào buổi chiều muộn trong rừng gần Suối Tuyến II Một cá thể trưởng thành khác đã được nhìn thấy gần ao Ba Bếp vào chiều 03/6/2010
Trang 23Việt Nam: Lào Cai, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Thanh Hoa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam, Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Đồng Nai
Thế Giới: Trung Quốc, Lào, Căm-pu-chia
Họ cóc Bùn Megophryidae
3 Cóc mày sa pa Leptobrachium chapaense (Bourret, 1937)
Mẫu vật nghiên cứu: Một cá thể cái trưởng thành VH29 (SVL 76,55 mm) thu bởi Nguyễn Quảng Trường vào tháng 5/2009
Đặc điểm nhận dạng: Đầu rộng hơn dài; mí mắt trên không có riềm da; mõm tròn không nhô về phía trước so với hàm dưới; con ngươi dọc, phần trên mống mắt màu trắng; vùng má lõm; màng nhĩ rõ (TD 4,69 mm); lỗ mũi ở phía bên, gần mút mõm hơn
so với mắt; khoảng cách hai lỗ mũi xấp xỉ bằng chiều rộng mí mắt trên; khoảng cách gian ổ mắt lớn hơn khoảng cách gian mũi; gờ da trên màng nhĩ kéo dài từ sau mắt đến phía trên của chi trước; không có răng lá mía, lưỡi xẻ đôi ở phía sau
Chi trung bình, ngón tay I bằng ngón tay II, hai củ bàn tay nổi rõ; ngón chân 1/4
có màng; củ bàn trong hình bầu dục, không có củ bàn ngoài; khi gập dọc thân khớp chày-cổ chạm đến sau ổ mắt, khớp cổ-bàn chạm gần tới mõm
Đầu và thân màu nâu sẫm, vùng má nhạt hơn; phía bên thân có các vết sẫm đen xen lẫn với các đốm trắng nhỏ; hai bên sườn, bụng, mặt dưới và phía sau chân nổi hạt rõ; cằm và họng màu trắng đục, có nhiều hạt nhỏ; mặt dưới bàn tay và bàn chân màu nâu, có các chấm và vân trắng; chi sau có vệt ngang sẫm màu, mảnh (Định loại theo Athrop et al., (1998); Bourret, 1942; Ziegler, 2002)
Phân bố
KBTTN Tây Yên Tử: mẫu vật thu được trên mặt đất trong khu rừng tre gần trạm Vũng Tròn, Khe Rỗ
Trang 24Việt Nam: Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thừa Thiên-Huế
Thế Giới: Trung Quốc, Mi-an-ma, Lào, Thái Lan
4 Cóc mày bùn Leptolalax pelodytoides (Boulenger, 1893)
Mẫu vật nghiên cứu: Cá thể cái trưởng thành IEBR 3659 thu vào tháng 4/2008
Đặc điểm nhận dạng: Đầu dài hơn rộng (HL 11,27 mm, HW 10,71 mm); mõm hơi nhô ra về phía trước so với hàm dưới, chiều dài mõm lớn hơn đường kính mắt (SL 5,75 mm, ED 4,61 mm); chiều rộng mí mắt trên lớn hơn khoảng cách gian mũi (UEW 3,91 mm, IND 3,02 mm); lỗ mũi hình bầu dục nằm gần đỉnh mút mõm hơn so với mắt; màng nhĩ rõ, tròn (TD 3,32 mm), khoảng cách mắt màng-nhĩ bằng 3/4 đường kính màng nhĩ (TED 2,44 mm); có răng lá mía
Các ngón tay không có riềm da phía ngoài, không có màng bơi; các ngón chân không có đĩa bám, 1/4 có màng bơi; chai dưới khớp rõ, củ xương bàn chân ngắn
Da lưng, trên đầu, giữa mắt, hai bên sườn có các nốt sần nhỏ, hai bên đầu có các gai nhỏ; mặt trên của đùi, cổ chân có các mụn cóc nhỏ nằm rải rác; cổ họng, ngực, bụng, mặt dưới các chi nhẵn
Màu sắc mẫu ngâm trong cồn: Lưng, đầu và thân có màu nâu xen với các vệt nhỏ; hai bên sườn xám nâu bên trái có 8 đốm, bên phải có 10 đốm nâu to; màng nhĩ màu nâu với viền màu nâu đen; môi trên màu nâu sáng với các vệt màu nâu sẫm; mặt trên của các chi trước màu be, tối hơn với những vệt ngang màu nâu; mặt trên của đùi
và cẳng chân có màu nâu vàng với các vệt ngang màu nâu tối, một phần phía sau của đùi màu be; ngực, bụng, mặt dưới của các chi có màu trắng với những đốm nâu nhỏ (Định loại theo Inger et al., 1999; Ohler et al., 2011)
Phân bố:
Trang 25KBTTN Tây Yên Tử: Mẫu vật của loài này bắt gặp ở suối quanh khu vực Vũng Tròn (Khe Rỗ), Đồng Rì, Đồng Thông-Ba Bếp
Việt Nam: Lào Cai, Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Phú Thọ, Quảng Ninh, Hải Dương, Hòa Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam, Kon Tum, Gia Lai
Thế giới: Trung Quốc, Mi-an-ma, Lào, Thái Lan, Ma-lai-xia
5 Cóc núi miệng nhỏ Ophryophryne microstoma (Boulenger, 1903)
Mẫu vật nghiên cứu: Cá thể đực trưởng thành TYT 2010.34 (SVL 36,73 mm) thu vào tháng 6/2010, một cá thể đực IEBR 3627 (SVL 34,36 mm) thu vào tháng 4/2008, hai cá thể đực VH20 (SVL 34,15 mm) và VH21 (SVL 38,49 mm) thu bởi Nguyễn Quảng Trường vào tháng 5/2009; một cá thể cái trưởng thành VH41 (SVL 46,36 mm) thu vào tháng 10/2009, ở độ cao 400-600 m so với mực nước biển
Đặc điểm nhận dạng: Đầu dài hơn rộng (HL 11,03-11,16 mm, HW 10,07-10,81 mm); chiều dài mõm ngắn hơn so với đường kính mắt (SL 3,06-3,61 mm, ED 3,52-4,43 mm), mõm tù ở phía trước; vùng má lõm; khoảng cách gian mắt rộng gần bằng
mí mắt trên (IOD 4,7-4,9 mm, UEW 4,61-4,75 mm); gai da trên mí mắt rõ, mắt nhỏ, đường kính mắt lớn hơn màng nhĩ (TD 2,49-2,81 mm); màng nhĩ rõ; con đực có túi kêu lớn
Chi mảnh, các ngón tay và ngón chân hơi phình ở mút; không có củ bàn dưới ngón; củ bàn tay và bàn chân không rõ; khi gập dọc thân khớp chày-cổ chạm tới vai hoặc màng nhĩ Da lưng với những mụn nhỏ; các hạt xếp thành gờ da đối xứng, có hai
gờ hình chữ V trên đầu và phần trước của lưng, một hình chữ X ở phần sau của lưng
Thân màu hơi xám hoặc nâu đỏ; có các đốm đen ở hai bên thân và các chi; có mụn trắng ở mỗi bên của ngực (Định loại theo Bourret, 1942 và Ohler, 2003)
Phân bố
Trang 26KBTTN Tây Yên Tử: các cá thể thu vào buổi tối trên các tảng đá ở các suối nước chảy trong khu vực Khe Rỗ, Đồng Rì, Đồng Thông-Ba Bếp
Việt Nam: Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Vĩnh Phúc, Hải Dương, Thanh Hóa, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng
Thế giới: Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Căm-pu-chia
6 Cóc mắt lớn Xenophrys major (Boulenger, 1908)
Mẫu vật nghiên cứu: Một cá thể đực TYT 2012.46 (SVL 69,63 mm), một cá thể cái trưởng thành TYT 2012.45 (SVL 64,34 mm) thu vào tháng 7/2012, ở độ cao 300-
500 m so với mực nước biển
Đặc điểm nhận dạng: Cơ thể dẹp; đầu rộng hơn dài (HL 25,04-27,07 mm, HW 25,84-27,63 mm); mõm ngắn, tù, nhô về phía trước so với hàm dưới; lưỡi tròn, hơi khía lõm ở phía sau; con ngươi dọc; có gai da nhỏ trên mí mắt; chiều rộng mí mắt trên hẹp hơn khoảng cách gian ổ mắt (UEW 6,1-6,98 mm, IOD 8,12-8,49 mm); màng nhĩ
rõ, cách xa ổ mắt; đường kính màng nhĩ bằng nửa đường kính mắt (TD 5,33-5,43 mm,
ED 9,09-10,59 mm); gờ da trên màng nhĩ rõ; răng lá mía dài, xếp gần thẳng, chạm bờ trước lỗ mũi trong; con đực có túi kêu lớn
Chi trung bình, các ngón dài; ngón chân 1/4 có màng bơi; củ bàn trong hình bầu dục, dẹp; không có củ bàn ngoài; củ khớp dưới ngón không rõ hoặc không có; khi gập dọc thân khớp cổ-bàn chạm giữa mắt
Thân màu xám hoặc nâu đỏ; có một vệt sẫm màu hình tam giác ở giữa hai mí mắt trên, đỉnh hướng về phía sau; mõm và vùng sau mắt và màng nhĩ màu đen, có vệt trắng đứt đoạn từ sau mũi đến hàm; cằm và họng màu đen nhạt với vệt trắng mảnh ở mép kéo xuống; hai bên sườn phía dưới nếp da bên nổi các hạt màu trắng; đùi và các ống chân có các vệt sẫm, mảnh, vắt ngang; mặt dưới cổ chân và bàn chân màu đen Bụng
và dưới đùi màu trắng bẩn với các vết loang lổ (Định loại theo Bourret, 1942)
Trang 27KBTTN Tây Yên Tử: các cá thể tìm được ở các suối nước chảy, trên các tảng đá ngay lòng suối hay trên đường mòn ẩm gần suối trong khu vực Khe Rỗ, Đồng Rì, Đồng Thông-Ba Bếp
Việt Nam: Lào Cai, Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Sơn La, Hòa Bình, Hà Tây (cũ), Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam, Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đồng Nai
Thế giới: Ấn Độ, Bangladesh, Trung Quốc, Mi-an-ma, Lào, Thái Lan
Họ Nhái bầu Microhylidae
7 Ếch ƣơng đốm Kalophrynus interlineatus (Blyth, 1854)
Mẫu vật nghiên cứu: Một cá thể đực trưởng thành TYT 2012.41 (SVL 37,79 mm) thu vào tháng 7/2012 và một cá thể cái trưởng thành VH37 (SVL 46,61 mm) thu vào tháng 10/2009, ở độ cao 70-150 m so với mực nước biển
Đặc điểm nhận dạng: Mõm nhọn; gờ mõm tù, vùng má gần phẳng, thẳng đứng; miệng hẹp, mõm dài hơn một chút so với mắt (SL 4,78 mm, ED 4,34 mm); mắt bé, con ngươi nằm ngang; lỗ mũi nằm gần mút mõm hơn so với mắt, khoảng cách gian mắt rộng hơn so với mí mắt trên (IOD 4,85 mm, UEW 2,77 mm); màng nhĩ rõ, bằng 2/3 của đường kính mắt (TD 2,73 mm, ED 4,34 mm); gờ da trên màng nhĩ rõ; răng lá mía xếp xiên, gần chạm mép dưới lỗ mũi trong; lưới dài hẹp, tròn ở phía sau
Ngón tay hoàn toàn tự do; ngón chân 1/4 có màng, mút các ngón tù; củ bàn trong
và củ bàn ngoài tròn, kích thước tương đương; củ khớp dưới các ngón tay và ngón chân lồi, rõ; khi gập dọc thân khớp chày-cổ chạm vai, khớp cổ-bàn chạm đến mắt
Thân có nhiều nốt sần, các nốt sần ở vùng mõm nhỏ, ở lưng, bụng và các chi lớn hơn Thân màu nâu vàng, có các đốm sáng hơn dọc theo sườn từ sau mắt đến gốc đùi; màng nhĩ, vai và hai bên sườn màu nâu sẫm; cằm và họng sáng màu hơn Có hai đốm
Trang 28đen sẫm ở phía lưng, phần tiếp giáp với bẹn; bụng màu trắng đục (Định loại theo Bourret, 1942)
Phân bố
KBTTN Tây Yên Tử: Cá thể VH 37 được tìm thấy vào buổi chiều, trong rừng tre quanh ao Khe Cam, cá thể TYT 2012.41 được tìm thấy vào buổi tối, trên mặt đường gần khu dân cư cạnh trạm Kiểm lâm Đồng Thông
Việt Nam: Lạng Sơn, Phú Thọ, Bắc Giang, Ninh Bình, Quảng Bình, Đồng Nai, Kiên Giang
Thế giới: Ấn Độ, Trung Quốc, Mi-an-ma, Lào, Thái Lan, Căm-pu-chia, xi-a
In-do-ne-8 Nhái bầu bút-lơ Microhyla butleri (Boulenger, 1900)
Mẫu vật nghiên cứu: Một cá thể đực trưởng thành TYT 2012.18 (SVL 24,69 mm), một cá thể cái trưởng thành TYT 2012.2 (SVL 25,67 mm) thu vào tháng 7/2012, một cá thể đực trưởng thành VNMN 1326 (SVL 22,39 mm) và một cá thể cái trưởng thành VH15 (SVL 25,55 mm) thu vào tháng 6/2010, ở độ cao 200-600 m
Đặc điểm nhận dạng: mõm tròn, dài hơn so với đường kính mắt (SL 3,36-3,93
mm, ED 2,08-2,3 mm); khóe mắt tròn; vùng má xiên, con ngươi ngang, khoảng cách gian mắt rộngbằng 1,9-2,6 lần mí mắt trên (IOD 2,53-2,88 mm, UEL 1,15-1,46mm); màng nhĩ không rõ; con đực có túi kêu
Mút ngón tay có đĩa bám rất nhỏ, tay không có màng bơi, ngón chân 1/3 có màng bơi; củ dưới bàn nổi rõ, có củ bàn trong và bàn ngoài; khi gập dọc thân khớp cổ-bàn chạm giữa mắt và mút mõm Da lưng và da bụng nhẵn
Màu sắc mẫu sống: Phần trên cơ thể màu xám với những mảng màu nâu và đỏ, một vệt màu trắng kéo từ mắt đến đầu của cánh tay; chân tay có sọc ngang sẫm màu,
Trang 29bụng màu trắng, cổ họng và ngực có đốm màu nâu sẫm (Định loại theo Bourret, 1942; Ziegler, 2002)
Phân bố
KBTTN Tây Yên: Mẫu TYT 2012.2 được tìm thấy trên đá ở suối Ba Bếp, mẫu TYT 2012.18 được tìm thấy ven đường ngay cạnh trạm Kiểm lâm Đồng Thông Cá thể VNMN 1326 thu ở suối Tuyến II, mẫu VH15 được tìm thấy trên mặt đất của rừng tre gần ao có nước
Việt Nam: Lào Cai, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hải Phòng, Phú Thọ, Bắc Giang, Hải Dương, Sơn La, Hòa Bình, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thừa Thiên-Huế, Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Bình Phước, Đồng Nai, Hồ Chí Minh
Thế giới: Trung Quốc, Mi-an-ma, Lào, Thái Lan, Cam-pu-chia, Ma-lai-xia,
Sing-ga-po
9 Nhái bầu hây-môn Microhyla heymonsi (Vogt, 1911)
Mẫu vật nghiên cứu: Ba cá thể cái trưởng thành TYT 2010.27 (SVL 22,43 mm), TYT 2010.32 (SVL 24,17 mm), TYT 2010.33 (SVL 25,87 mm) thu vào tháng 6/2010 và một cá thể đực trưởng thành TYT 2012.17 (SVL 21,52 mm) thu vào tháng 7/2012, ở
độ cao 200-500 m
Đặc điểm nhận dạng: Thân mảnh, có dạng hình tam giác; đầu rộng hơn dài (HW 5,86-8,1 mm; HL 5,56-7,44 mm) mõm hơi tròn, dài hơn một chút so với đường kính mắt (SL 3,18-3,38 mm, ED 2,12-2,36 mm); vùng má hơi xiên; lỗ mũi nằm gần mút mõm hơn so với mắt; khoảng cách gian mũi tương đương với khoảng cách gian ổ mắt
và rộng hơn so với mí mắt trên (IND 2,22-2,49 mm, IOD 2,13-2,62 mm, UEW 1,64 mm); không có răng lá mía; lưỡi dài, tròn ở phía sau; màng nhĩ ẩn
Trang 301,38-Các ngón tay tự do; chi sau dài, củ khớp dưới ngón rõ; củ bàn trong và củ bàn ngoài bé; ngón chân có màng bơi nhưng không phát triển; khi gập dọc thân khớp chày-
cổ chạm gần đến mút mõm
Thân màu vàng đến nâu xám nhạt với các vệt sẫm hơn ở trên lưng, các vệt sẫm hai bên đối diện nhau; giữa lưng có vệt trắng mảnh với một đốm đen nhỏ; mỗi bên thân với vệt đen sẫm kéo dài từ mõm, ngang qua mắt dọc 2 bên sườn tới bẹn; mặt bên chi sau có các vệt ngang, mảnh, sẫm màu (Định loại theo Bourret,1942; Frost, 2012) Phân bố
Trong KBTTN Tây Yên Tử: Các cá thể thường được tìm thấy trên nền đất hoặc
lá mục quanh các ao, vũng nước và trên đường mòn quanh rừng: ao Ba Bếp, ao Đèo Gió, đường mòn đi ao Đá Lửa,
Việt Nam: Lào Cai, Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Phú Thọ, Hải Dương, Sơn La, Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ
An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam, Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng, Đồng Nai, Hồ Chí Minh, Kiên Giang, Cà Mau Thế giới: Ấn Độ, Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Căm-pu-chia, Ma-lai-xia, In-do-ne-xia
10 Nhái bầu vân Microhyla pulchra (Hallowell, 1861)
Mẫu vật nghiên cứu: Một cá thể trưởng thành TYT 2010.24 (SVL 29,16 mm), hai cá thể chưa trưởng thành VH13 (SVL 17,58 mm) và TYT 2010.35 (SVL 16,11 mm) thu vào tháng 6/2010, ở độ cao 100-200 m so với mực nước biển
vùng má hơi xiên, mõm hơi tròn, dài hơn đường kính mắt (SL 3,87 mm, ED 2,59 mm) Con đực có túi kêu lưỡi hình bầu dục, tròn ở phía sau; đường kính mắt rộng hơn mí mắt trên, bằng khoảng 4/5 lần chiều dài mõm (ED 2,79 mm, UEW 2,26 mm, SL 3,87
Trang 31khoảng cách gian ổ mắt một chút (IOD 2,98 mm); con ngươi tròn, màng nhĩ không rõ; con đực có túi kêu
Các ngón tay không có màng; các ngón 1/2 có màng bơi; củ bàn trong hình bầu dục, củ bàn ngoài tròn, màu trắng; khi gập dọc thân khớp chày-cổ chạm hay vượt mắt một chút
Thân màu nâu xám nhạt; trên đầu, lưng và chi sau với các hoa văn màu nâu sẫm, nhạt xen kẽ; mặt bên đầu và thân có vệt đen từ sau mắt đến gần gốc đùi; phần bẹn và phía sau đùi, ống chân có màu vàng; bụng và dưới đùi màu trắng, cằm và họng màu tối hơn (Định loại theo Bourret, 1942 và Ziegler, 2002)
Thiên-Thế giới: Ấn Độ, Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Căm-pu-chia
Họ Ếch nhái chính thức Dicroglossidae
11 Ngóe Fejervarya limnocharis (Gravenhorst, 1829)
Mẫu vật nghiên cứu: Một cá thể đực trưởng thành TYT 2010.20 (SVL 55,09 mm) thu vào tháng 6/2010, một con đực trưởng thành VH23 (SVL 46,05 mm) thu bởi Nguyễn Quảng Trường thu vào tháng 5/2009 ở độ cao 75-90 m so với mực nước biển
Trang 32Đặc điểm nhận dạng: Mõm dài và nhọn, dài hơn so với mắt (SL 8,69 mm, ED 5 mm); gờ mõm tù; vùng má hơi lõm và xiên; lỗ mũi tròn, gần mút mõm hơn mắt; khoảng cách gian mũi rộng hơn khoảng cách gian ổ mắt; đường kính mắt lớn hơn chiều rộng mí mắt trên và khoảng cách gian ổ mắt (ED 5 mm, UEW 4,38 mm, IOD 4,28 mm); màng nhĩ rõ, đường kính màng nhĩ bằng khoảng 2/3 đường kính mắt (TD 3,52 mm); răng lá mía xếp thành 2 hàng hình chữ V; lưỡi dài, xẻ thùy ở phía sau; con đực có 2 túi kêu
Ngón tay hoàn toàn tự do; chân 1/3 có màng bơi; củ bàn trong dài, củ bàn ngoài bé; khi gập dọc thân khớp chày-cổ chạm giữa mắt, khớp cổ-bàn chạm mút mõm Gờ
da trên màng nhĩ rõ, mặt trên lưng có nhiều nếp da ngắn
Màu sắc khá đa dạng ở các cá thể khác nhau Mặt trên đầu, lưng có màu xanh rêu hay nâu nhạt; giữa hai mắt thường có vệt sẫm hình chữ V nông; giữa sống lưng đôi khi
có vệt sáng từ mút mõm tới trước hậu môn, vệt sáng này có khi rộng ở phần trên đầu nhưng hẹp dần về phía sau; bụng và mặt dưới chi trắng; chi sau có các vệt sẫm màu vắt ngang (Định loại theo Bourret, 1942; Ziegler, 2002 và Goodall & Faithfull, 2010) Phân bố
KBTTN Tây Yên Tử: các cá thể tìm thấy nhiều trên các cánh đồng gần khu dân
cư, các đường mòn ẩm trong rừng
Việt Nam: trong cả nước
Thế giới: Afghanistan, Pakistan, Ấn Độ, Nêpal, Sri Lanka, Bangladesh, Trung Quốc, Mi-an-ma, Lào, Thái Lan, Căm-pu-chia, Ma-lai-xia, Sing-ga-po, In-do-ne-xi-a, Phi-lip-pin, Nhật Bản
12 Ếch đồng Hoplobatrachus rugulosus (Wiegmann, 1834)
Mẫu vật nghiên cứu: Cá thể trưởng thành TYT 2012.42 thu vào tháng 7/2012, ở
độ cao 75-90 m so với mực nước biển
Trang 33Đặc điểm nhận dạng: Đầu dài hơn rộng (HL 31,5 mm, HW 28,29 mm); mắt lớn
và lồi, đường kính mắt bằng khoảng 2/3 lần chiều dài mõm, lớn hơn gần 2 lần so với khoảng cách gian ổ mắt (ED 8,38 mm, SL 12,87 mm, UEW 4,09 mm); mõm hơi tù, nhô về phía trước so với hàm dưới; gờ mõm không rõ, vùng má lõm và hơi xiên; lỗ mũi nằm gần mút mõm hơn mắt; màng nhĩ rất rõ, bằng khoảng 3/4 lần đường kính mắt (TD 6,57 mm); có răng lá mía, con đực có 2 túi kêu
Mút các ngón tay và ngón chân tù; các ngón tay tự do; các ngón chân có màng bơi hoàn toàn; củ bàn trong dài, không có củ bàn ngoài; củ dưới khớp nhỏ; khi gập dọc thân khớp cổ-bàn chạm mút mõm
Trên lưng có nhiều nếp da gián đoạn; gờ da trên màng nhĩ; lưng, hai bên thân và mặt trên các chi có các nốt sần Mặt dưới màu trắng đục hay phớt vàng xen những vệt sẫm không đều; chi sau có các vệt ngang, sẫm màu (Định loại theo Bourret, 1942) Phân bố
KBTTN Tây Yên Tử: Loài này được tìm thấy nhiều trên các cánh đồng gần khu dân cư
Việt Nam: Cả nước
Thế giới: Trung Quốc, Đài Loan, Mi-an-ma, Lào, Thái Lan, Căm-pu-chia, lai-xia
Ma-13 Ếch nhẽo Limnonectes cf kuhlii (Tschudi, 1838)
Mẫu vật nghiên cứu: Một cá thể cái trưởng thành TYT 2010.26 (SVL 47,43 mm) thu vào tháng 6/2010, ở độ cao 300-600 mm so với mực nước biển
Đặc điểm nhận dạng: Đầu dài hơn rộng (HL 20,9 mm, HW 19,79 mm); mõm tròn, nhô về phía trước so với hàm dưới; không có gờ mõm, vùng má hơi lõm; lỗ mũi nằm gần mút mõm hơn mắt; khoảng cách gian mũi bằng khoảng 3/4 lần gian ổ mắt (IND 4,36 mm, IOD 6,14 mm); đường kính mắt gấp gần 2 lần chiều rộng mí mắt trên
Trang 34và lớn hơn khoảng cách gian ổ mắt (ED 6,96 mm, UEW 3,56 mm, IOD 6,14 mm); màng nhĩ không rõ; hai bên hàm có mấu hình răng rõ; răng lá mía xếp thành 2 hàng hình chữ V gần chạm nhau ở phía sau; lưỡi xẻ thùy ở phía sau
Các ngón tay tự do, ngón tay I bằng ngón II, mút các ngón hơi phình; chân ngắn, mập, mút các ngón chân có đĩa rất nhỏ, ngón chân có màng bơi hoàn toàn; củ bàn trong bé, không có củ bàn ngoài; khi gập dọc thân khớp chày-cổ chạm đến mắt Da trơn, phần sau mi mắt trên và hai bên thân có những nốt sần rất nhỏ, một số cá thể hoàn toàn không có nốt sần Gờ da trên màng nhĩ rõ, có một nếp da khác ngang qua đầu ở ngay sau ổ mắt
Lưng thường có màu nâu, nâu xám hay có màu đen, trên thân có các đốm sẫm nhỏ; phía sau ổ mắt có hoặc không có vệt sẫm màu; môi thường có 2-3 vệt sẫm Một
số cá thể có sọc vàng dọc giữa lưng Mặt bụng màu trắng có các vệt nâu ở cằm và ngực (Định loại theo Ziegler, 2002)
Thế giới: Ấn Độ, Trung Quốc, Mi-an-ma, Lào, Căm-pu-chia, Ma-lai-xia, pin
Phi-lip-Ghi chú: Phân loại của loài ếch nhẽo hiện chưa rõ ràng Có thể loài L kuhlii sẽ bị
tách ra thành các loài khác nhau dựa trên kết quả phân tích ADN và đặc điểm hình thái các mẫu vật thu ở miền Nam Trung Quốc và Việt Nam (McLeod, 2010) Do kết quả
Trang 35này chưa được công bố nên trong nghiên cứu này tôi tạm thời coi mẫu vật thu được ở
Yên Tử là loài L kuhlii
14 Ếch Limnonectes sp
Mẫu vật nghiên cứu: hai cá thể đực trưởng thành TYT 2010.10 (SVL 87,26 mm), TYT 2010.13 (SVL 89,59 mm), một cá thể cái trưởng thành TYT 2010.11 (SVL 102,23 mm) thu vào tháng 6/2010; hai cá thể đực trưởng thành TYT 2011.8 (SVL 88,12 mm), TYT 2011.9 (SVL 83,88 mm) thu vào tháng 11/2011; một cá thể đực trưởng thành TYT 2012.13 (SVL 96,53 mm) thu vào tháng 7/2012, ở độ cao 300-600
m so với mực nước biển
Đặc điểm nhận dạng: Đầu rộng hơn dài (HL 29,77-36,5 mm, HW 32,16-39,93 mm); mõm tròn, dài hơn mắt một chút (SL 11,28-15,1 mm, ED 8,44-11,46 mm); vùng
má xiên, lõm; lỗ mũi nằm ở giữa hoặc gần mắt hơn so với mút mõm; khoảng cách gian mũi rộng hơn khoảng cách gian mắt và hẹp hơn mí mắt trên một chút (IND 7,14-8,54
mm, IOD 5,08-6,93 mm, UEW 7,32-9,08 mm); răng lá mía xếp thành dãy xiên chéo quá về phía sau lỗ khoan; con đực có túi kêu trong, màng nhĩ không rõ
Ngón tay tự do, ngón chân có màng bơi hoàn toàn, đầu ngón phình thành đĩa nhỏ nhưng rõ; khi gập dọc thân khớp cổ-bàn chạm tới mắt hay hơi quá một chút; gót chồng lên nhau khi chân gập vuông góc với thân; củ dưới khớp lớn, lồi; có củ bàn trong, không có củ bàn ngoài
Da thô ráp, hai bên sườn có nhiều nốt sần nhỏ Màu sắc: lưng màu xám vàng hay thẫm đen, có một vệt ngang sáng màu phía sau ổ mắt Gờ da trên màng nhĩ rõ, dài từ sau mắt tới tận vai Mặt trên chân sau có những vệt ngang, mờ Bụng trắng, ức và phía dưới các chi lốm đốm xám Vào mùa sinh sản ở ngực và họng của cá thể đực có nhiều gai sừng màu đen Mặt trong gốc ngón tay I, II, III và các củ bàn tay phía trong đều có các gai sừng đen
Phân bố
Trang 36KBTTN Tây Yên Tử: Loài này được tìm thấy ở các suối trong rừng, chúng ngồi trên các tảng đá hay trên mặt đất cạnh suối Tuyến II, Tuyến III, suối Ba Bếp, suối Đầu Đồng (Đồng Thông), Khe Rỗ
Ghi chú: Mẫu vật thu ở Yên Tử gần giống với loài Limnonectes kuhlii nhưng
lưng và mặt bên đùi có nhiều nốt sần hơn Hình thái loài này cũng tương tự với loài
Limnonectes bannaensis Ye, Fei & Jiang, (2007) (hiện ghi nhận phân bố ở Nam Trung
Quốc (Ye, Fei & Jiang, 2007) Hiện tại, chúng tôi chưa đủ cơ sở để kết luận chính xác
về phân loại học của loài này do nếu chỉ căn cứ vào mô tả gốc của loài L kuhlii và L
bannanensis thì không đủ số liệu so sánh sự khác biệt về hình thái
15 Cóc nước mac-ten Occidozyga martensii (Peters, 1867)
Mẫu vật nghiên cứu: Một cá thể TYT 2012.36 (SVL 25,75) thu vào tháng 7/2012, một cá thể cái trưởng thành VH19 (SVL 24,95 mm) Nguyễn Quảng Trường thu vào tháng 5/2009, ở độ cao 100-400 m so với mức nước biển
Đặc điểm nhận dạng: Đầu dài hơn rộng (HL 9,37 mm, HW 7,88 mm); mắt lớn lồi; mõm hẹp vượt quá hàm dưới; không có răng lá mía; lưỡi tròn ở phía sau, màng nhĩ
ẩn, co túi kêu
Ngón tay và ngón chân có đĩa nhỏ; khi gập dọc thân khớp cổ-bàn chạm mắt; ngón chân có màng hoàn toàn, ngoại trừ ngón IV; có củ bàn trong Da lưng nhẵn ở phía trước, phần sau có một số nốt sần nhỏ, da bụng nhẵn
Màu sắc khi sống: lưng màu xám; vùng giữa hai mắt có một sọc ngang, sẫm màu;
có 2 dải sáng dọc từ mút mõm đến mắt và từ sau ổ mắt đến gần bẹn; chi có các vệt ngang, bụng màu trắng (Định loại theo Bourret, 1942; Ziegler, 2002)
Phân bố
KBTTN Tây Yên Tử: Loài này được tìm thấy ở các ao có nước hay ở suối trong rừng cả ban ngày và buổi tối, trong khu vực ao Khe Cam, ao Ba Bếp, suối Ba Bếp, ao
Trang 37Việt Nam: Lào Cai, Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam, Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đồng Lai, Bà Rịa-Vũng Tàu Thế giới: Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Căm-pu-chia
Họ Ếch nhái Ranidae
16 Ếch bám đá Amolops ricketti (Boulenger, 1899)
Mẫu vật nghiên cứu: Một cá thể cái trưởng thành TYT 2011.10 (SVL 56,0 mm), hai cá thể đực trưởng thành TYT 2011.11 (SVL 50,0 mm), TYT 2011.12 (SVL 45,0 mm) thu vào tháng 11/2011, một cá thể cái IEBR 3632 (SVL 52,2 mm) thu vào tháng 4/2008, ở
độ cao 250-500 m so với mức nước biển
Đặc điểm nhận dạng: Đầu rộng hơn dài một chút (HW 15,6-19,6 mm, HL 18,9 mm); mõm tròn, nhô về phía trước so với hàm dưới, dài hơn đường kính mắt (SL 6,8-8,0 mm, ED 5,1-6,9 mm); gờ mõm rõ, vùng má gần thẳng đứng; mắt lớn và lồi, đường kính mắt gần gấp 2 lần chiều rộng mí mắt trên (UEW 2,9-3,6 mm); lỗ mũi nằm gần mõm hơn so với mắt, khoảng cách gian mũi lớn hơn khoảng cách gian ổ mắt; màng nhĩ bé, bằng 1/3 đường kính mắt (TD 1,9-2,4 mm); răng lá mía ngắn, xếp thành hình chữ V; lưỡi tròn, xẻ nông ở phía sau
15,0-Ngón tay hoàn toàn tự do, mút các ngón phình rộng thành đĩa tròn lớn; đĩa ngón I
và ngón II bé, lớn hơn đường kính màng nhĩ; đĩa ngón III và IV lớn, lớn hơn đĩa ngón chân; củ dưới khớp ngón bé, lồi; ngón chân có màng bơi hoàn toàn; củ bàn trong hình bầu dục, không có củ bàn ngoài; khi gập dọc thân khớp chày-cổ gần chạm mút mõm
Lưng màu xám đen hay xám xanh, mặt dưới màu xám nhạt; trên thân có các vệt, đốm sẫm màu tạo thành hình mạng lưới; hai bên thân có các đốm nhỏ, sáng màu; chi sau có các vệt ngang sẫm màu; màng bơi giữa các ngón chân màu đen (Định loại theo Bourret, 1942 và Hoàng Xuân Quang và cs., 2011)
Phân bố
Trang 38KBTTN Tây Yên Tử: Các cá thể được tìm thấy bám trên đá vào buổi tối ở các suối nước chảy (suối Tuyến II, suối Tuyến III, suối Ba Bếp); thường gặp nhiều ở các đoạn thác, dốc
Việt Nam: Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Sơn La, Hòa Bình, Nghệ An, Quảng Bình, Thừa Thiên-Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Kon Tum, Gia Lai
Thế giới: Trung Quốc
17 Chàng sa pa Babina chapaensis (Bourret, 1937)
Mẫu vật nghiên cứu: Bốn cá thể cái trưởng thành TYT 2010.22 (SVL 39,42 mm) TYT 2010.25 (SVL 32,11 mm), TYT 2010.42 (SVL 36,98 mm) thu vào tháng 6/2010, ở độ cao 200-600 m so với mực nước biển
Đặc điểm nhận dạng: đầu dài hơn rộng (HL 11,97-15,6 mm, HW 9,79-14,25 mm); mõm tù, tròn, dài hơn đường kính mắt (SL 5,52-6,94 mm, ED 3,66-4,81 mm); khoảng cách gian mũi rộng hơn khoảng cách gian mắt (IND 5,15-5,78 mm, IOD 3,88-4,62 mm) và gần gấp 2 lần chiều rộng mí mắt trên (UEW 2,14-2,52 mm); màng nhĩ nhỏ hơn so với mắt (TD 3,19-4,3 mm); có răng lá mía
Mút ngón tay không có đĩa bám; ngón chân 1/3-1/2 có màng bơi; khi gập dọc thân, khớp cổ-bàn vượt qua mõm; gờ da trên màng nhĩ rõ; gờ da lưng-sườn rõ
Lưng có màu nâu đồng hoặc nâu sẫm, giữa lưng có một đường màu trắng chạy từ giữa hai ổ mắt tới tận hậu môn, rõ hơn ở phía sau; phía trên sườn màu nâu đen, phía gần bụng màu trắng đục; tay vàng xỉn có các vệt đen ngang mờ; trên đùi và cẳng chân
có những vệt ngang sẫm mầu trên nền sáng; dọc theo mép trên có sọc màu trắng bạc kéo dài tới tận vai, cằm màu sẫm (Định loại theo Bourret, 1942)
Phân bố
Trang 39KBTTN Tây Yên Tử: Các cá thể được tìm thấy ngay cạnh bờ sát mép nước các vũng, ao trong rừng (ao Đá Lửa, ao Đèo Gió, ao Cua, ao Dứa)
Việt Nam: Lào Cai, Bắc Giang, Hà Tĩnh, Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk
Thế giới: Lào, Thái Lan
18 Chẫu Hylarana guentheri (Boulenger, 1882)
Mẫu vật nghiên cứu: Bốn cá thể đực TYT 2010.16 (SVL 72,85 mm), TYT 2010.12 (SVL 73,10 mm), TYT 2010.17 (SVL 71,31 mm), TYT 2010.23 (SVL 44,45 mm) thu vào tháng 6/2010 và một cá thể cái TYT 2011.22 (SVL 52,39 mm) thu vào tháng 11/2011, ở độ cao 100-300 m so với mực nước biển
Đặc điểm nhận dạng: Đầu dài hơn rộng (HL 16,93-26,75 mm, HW 12,48-20,11 mm); mõm nhọn, nhô về phía trước so với hàm dưới; gờ mõm rõ, vùng má lõm và xiên; khoảng cách gian mũi lớn hơn chiều rộng mí mắt trên và gần bằng đường kính màng nhĩ (IND 4,74-7,38 mm, UEW 3,16-5,2 mm, TD 4,9-7,17 mm); gờ da trên màng nhĩ rõ; màng nhĩ rất rõ; có răng lá mía chạm bờ trước của lỗ mũi trong
Ngón chân có màng bơi gần như hoàn toàn trừ ngón IV; mút ngón chân hơi phình rộng, không có củ bàn ngoài; khi gập dọc thân, khớp cổ-bàn chạm góc trước của mắt;
có nếp da lưng-sườn kéo dài từ sau mắt tới gốc đùi; có gờ da nhỏ từ góc sau mép đến vai
Da nhẵn, lưng xám nâu hay nâu đỏ, đồng màu, đôi khi có các vết nâu sẫm; màng nhĩ màu nâu sẫm hay nâu đỏ với viền sáng xung quanh; bụng màu trắng đục, cằm và dưới chân màu trắng hơi vàng; phần sau mặt dưới đùi có các nốt sần nhỏ (Định loại theo Bourret, 1942; Hoàng Xuân Quang và cs., 2012 và Ziegler, 2002)
Phân bố
Trang 40KBTTN Tây Yên Tử: Các cá thể tìm thấy cạnh các suối trong rừng Chúng thường ngồi trên mặt đất cách mép nước khá xa khoảng 3-4 m, gặp nhiều ở suối Đông Thông, suối Ba Bếp
Việt Nam: Khắp các vùng trong cả nước
Thế giới: Trung Quốc, Đài Loan, Mi-an-ma, Lào
19 Chàng hiu Hylarana macrodactyla Günther, 1858
Mẫu vật nghiên cứu: Cá thể cái trưởng thành TYT 2012.3 (SVL 41,29 mm) thu vào tháng 7/2012, ở độ cao 200 m so với mực nước biển
Đặc điểm nhận dạng: Đầu dài hơn rộng (HL 15,79 mm, HW 9,93 mm); mõm nhọn, gờ mõm rõ, vùng má lõm; mép miệng kéo dài đến 1/2 màng nhĩ; lỗ mũi gần mút mõm hơn so với mắt; màng nhĩ rõ ràng; đường kính màng nhĩ nhỏ hơn đường kính mắt (TD 3,6 mm, ED 4,39 mm); mắt lớn, khoảng cách gian ổ mắt rộng hơn chiều rộng
mí mắt trên (IOD 3,97 mm, UEW 2,56 mm); răng lá mía xếp xiên, cách xa nhau, không chạm lỗ mũi trong; lưỡi dài, xẻ đôi ở phía sau,có túi kêu
Ngón tay không có màng bơi; mút ngón tay và ngón chân phình thành đĩa nhỏ; ngón chân khoảng 1/3 có màng bơi; củ bàn trong hình bầu dục, củ bàn ngoài hình tròn; khi gập dọc thân khớp chày-cổ đạt đến trước mắt, khớp cổ-bàn chạm hay vượt quá mõm một chút
Da lưng có những nốt sần nhỏ, nếp da bên lưng-sườn rất rõ bắt đầu từ phía sau ổ mắt về phía bẹn Có vệt nâu sẫm từ mút mõm đến mắt và từ sau mắt qua màng nhĩ và
mờ dần về phía sau; mép màu trắng kéo dài về phía sau và kết thúc bằng một đốm trắng phía sau màng nhĩ; gờ lưng-sườn màu trắng, giữa lưng có một sọc màu trắng chạy từ mút mõm về phía hậu môn; trên lưng có các đốm nâu sẫm xếp rải rác Trên đùi, cổ, ống chân và bàn chân có các vệt sẫm màu vắt ngang; mặt bụng màu trắng sáng (Định loại theo Bourret, 1942 và Hoàng Xuân Quang và cs., 2012)