1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu, đề xuất một số nguyên tắc và giải pháp đồng quản lí rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn, Kỳ Thượng, Hoành Bồ, Quảng Ninh

125 663 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 2,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở cho việc đề xuất các nguyên tắc và giải pháp đồng quản lý rừng, nhằm góp phần vào công tác quản lý bền vững tài nguyên rừng ở Khu BTTN Đồng Sơ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS VŨ NHÂM

Thái Nguyên- 2012

Trang 3

MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài

Không thể phủ nhận vai trò quan trọng của Rừng trong đời sống của con người , không chỉ bởi các giá trị của chúng đối với môi trường sinh thái mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn sống của con người, đặc biệt là những người dân sống gần rừng và sống phụ thuộc vào rừng Rừng là nơi cung cấp các sản phẩm gỗ và lâm sản ngoài gỗ phục vụ cho việc xây dựng nhà cửa , tạo ra nguồn lương thực , thực phẩm, nguồn dược liệ u cho người dân trong cuộc sống hằng ngày

Trước tình hình hiện nay, song song với sự phát triển của nền kinh tế, nền công nghiệp, là sự suy giảm một cách nghiêm trọng các nguồn tài nguyên thiên nhiên do sự tàn phá của còn người bằng cách này hay cách khác Đặc biệt là sự suy giảm đa dạng sinh học, suy giảm tài nguyên rừng đã, đang và sẽ mang lại những ảnh hưởng to lớn theo hướng tiêu cực đến đời sống của con người, đến sản xuất nông lâm nghiệp mà chúng ta ai cũng biết: biến đổi khí hậu rõ rệt những năm qua, lũ lụt hạn hán, thiên tai động đất ngày càng nhiều và thường xuyên hơn Việt Nam và cả thế giới đang cùng nhau chung tay để đưa ra các giải pháp để có thể bảo vệ nguồn tài nguyên rừng Các cuộc họp, các cuộc thảo luận, các cuộc hội đàm, các nghiên cứu, các dự án, của các nước, các ban ngành, các cá nhân vẫn thường xuyên được tổ chức, được nghiên cứu, được diễn ra nhằm đưa ra các chính sách, các giải pháp để cứu vãn tình thế Để có thể bảo tồn, giữ gìn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là nguồn tài nguyên rừng, để đảm bảo chất lượng môi trường cuộc sống Từ đó nhu cầu phải thành lập các vườn quốc gia, các khu bảo tồn, các khu dự trữ sinh quyển cũng là một giải pháp hữu hiệu để có thể bảo vệ, bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên rừng tự nhiên hiện còn lại Giữ gìn cho hiện tại và thế hệ tương lai

Ở nước ta tính năm 2008, hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam gồm

164 khu rừng đặc dụng với tổng diện tích 2.265.753,88 ha (bao gồm 30 Vườn Quốc gia, 69 khu bảo tồn thiên nhiên (58 Khu dự trữ thiên nhiên và 11 khu bảo tồn loài), 45 khu bảo vệ cảnh quan, 20 khu nghiên cứu thực nghiệm khoa học) và 03 khu bảo tồn

Trang 4

biển chứa đựng các hệ sinh thái, cảnh quan đặc trưng với giá trị đa dạng sinh học tiêu biểu cho hệ sinh thái trên cạn, đất ngập nước và trên biển đã và đang được xây dựng trên khắp các vùng, miền trong cả nước Đây là những tài sản thiên nhiên quý báu không chỉ có giá trị trước mắt cho thế hệ hôm nay mà còn là di sản của nhân loại mai sau

Mặc dù vậy thì diện tích rừng và đa dạng sinh học ở nước ta trong những năm qua vẫn đang bị suy giảm cả về số lượng và chất lượng Chất lượng và số lượng tài nguyên rừng tại các Khu bảo tồn vẫn chưa thực sự được đảm bảo theo mong muốn đặt

ra của các nhà quản lý Một trong số những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do công tác quản lý rừng chưa được quan tâm đúng mức Tài nguyên rừng ở nước ta trước đây do Nhà nước quản lý và quyết định mọi phương án quản lý và sử dụng Một phần diện tích rừng được giao cho các chủ rừng quản lý nhưng lại chưa có những cơ chế hưởng lợi hợp lý giữa các bên tham gia và nhiều khi chính các chủ rừng lại tham gia phá rừng, năng lực quản lý của các cán bộ vẫn còn rấtc hạn chế

Để khắc phục tình trạng trên, các ngành, các cấp, các Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam đã và đang thay đổi cách tiếp cận trong quản lý tài nguyên rừng, trao đổi kinh nghiệm, hài hòa với những thông lệ, tiêu chí quản lý bảo tồn thiên nhiên quốc tế Vấn đề quản lý rừng bền vững đang được rất nhiều người quan tâm và quản lý rừng có sự tham gia của cộng đồng đang là một hướng đi có hiệu quả

Khu BTTN Đồng Sơn- Kỳ Thượng được thành lập theo Quyết định số

440/QĐ-UB, ngày 12 tháng 2 năm 2003 của UBND tỉnh Quảng Ninh Địa bàn trải rộng trên 5

xã Đồng Lâm, Đồng Sơn, Kỳ Thượng, Vũ Oai và Hoà Bình, cách trung tâm thị trấn

Trới huyện Hoành Bồ 25km về phía Đông Bắc, cách thành phố Hạ Long 35km Đây là

khu vực điển hình của hệ sinh thái rừng kín lá rộng thường xanh núi thấp có diện tích rừng tự nhiên tập trung lớn nhất vùng Đông Bắc Việt Nam với nhiều loài động vật, thực vật rừng phong phú

Mục tiêu của Khu bảo tồn là:

Trang 5

 Bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học, quần thể các loài động thực vật quý hiếm, các loài đang bị đe dọa và các loài đặc hữu;

 Phục hồi tái tạo vốn rừng nhằm nâng cao độ che phủ của rừng;

 Phát huy tác dụng phòng hộ môi trường của rừng, đặc biệt là tác dụng giữ đất giữ nước, đảm bảo cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân huyện Hoành Bồ và thành phố Hạ Long

Trước khi Khu bảo tồn được thành lập, khu vực này thuộc sự quản lý của Lâm trường Hoành Bồ và địa phương Từ khi được thành lập đến nay Khu BTTN Đồng Sơn

- Kỳ Thượng đã phối hợp với các nhà khoa học trong nước: Trường Đại học khoa học tự nhiên, Viện tài nguyên và sinh vật Hà Nội, cùng các tổ chức Quốc tế Xanh-Pê-Téc-Bua (Nga) điều tra phát hiện nhiều động vật quý hiếm hiện có trong Khu bảo tồn Kết quả điều tra nghiên cứu ban đầu đã cho thấy Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng hiện

có 485 loài thực vật bậc cao có mạch, thuộc 280 chi, 101 họ trong đó có các loài được

ghi trong sách đỏ Việt Nam như: Giổi bà, Giổi nhung, Giổi thơm, Dẻ đen, Lát hoa, Sao

hòn gai, Sến mật, Trầm hương, Ba kích động vật hiện có 249 loài thuộc 79 họ và 28

bộ của 04 lớp động vật là: thú (58 loài), chim (154) loài, Bò sát và ếch nhái (có 43 loài) Trong 249 loài có 30 loài động vật quý hiếm có tên trong sách đỏ Việt Nam và

danh lục đỏ của IUCN (2007) đang bị đe dọa toàn cầu như: Sơn Dương, Gấu ngựa, Khỉ

vàng, Khỉ mặt đỏ, Cáo lửa, Cầy gấm, Cầy vằn Bắc, Báo lửa, Báo gấm, Báo hoa mai, Mèo gấm, Nai, Hoẵng, Sóc bay lông tai, Sóc bay trâu Đặc biệt mới đây (2007) Khu

bảo tồn đã phát hiện một loài Cá cóc bụng hoa, loài có tên trong sách đỏ Việt Nam và

danh lục IUCN năm (2006, 2007).(Theo báo cáo CNA- VCF)

Tuy nhiên, cho đến nay ngoài những nghiên cứu phục vụ cho dự án đề xuất xây dựng Khu Bảo tồn do Viện điều tra quy hoạch thực hiện, những nghiên cứu đánh giá

về đa dạng sinh học tại Khu Bảo tồn còn rất hạn chế, cần được nghiên cứu bổ sung

Việc thành lập Khu BTTN đã làm thay đổi phần lớn cuộc sống của người dân sống trong khu vực vùng đệm Thực tế cho thấy rằng các cộng đồng ở đây phần lớn là người dân tộc ít người như Dao, Sán Dìu,…trình độ dân trí thấp, đời sống còn khó

Trang 6

khăn, chủ yếu là tìm nguồn sinh kế từ rừng của Khu BTTN như khai thác lâm sản, sử dụng đất rừng trồng cây nông nghiệp, lâm nghiệp, bãi chăn thả gia súc,…tạo nên nhiều tiêu cực cho quản lý bảo vệ rừng nhưng vẫn không nâng cao được đời sống của cộng đồng Những hoạt động này chỉ được xem là cách sinh kế tạm thời, không bền vững Việc xây dựng kế hoạch quản lý và hoạt động các khu bảo tồn thiên nhiên vẫn thường được tiếp cận theo kiểu từ trên xuống, ít quan tâm đến người dân sống trong và gần các khu rừng Điều này vô hình chung đã đặt người dân với vai trò là người ngoài cuộc trong công tác bảo tồn thiên nhiên Tiềm năng to lớn của người dân về lực lượng

về những hiểu biết và kinh nghiệm lâu đời trong quản lý và sử dụng tài nguyên chưa được khai thác ứng dụng Trong khi đó, bảo tồn thiên nhiên thưòng mâu thuẫn với những lợi ích của người dân vốn sinh sống phụ thuộc rất nhiều vào tài nguyên rừng Nhiều nơi, thay vì tham gia quản lý bảo vệ tài nguyên, người dân đã đối đầu với lực lượng quản lý bảo vệ rừng của chính quyền

Do đó, các câu hỏi được đặt ra là: “Làm thế nào để nâng cao nội lực của cộng

đồng, phát huy những tiềm năng sẵn có và lôi cuốn cộng đồng tham gia vào các hoạt động đồng quản lý bảo vệ tài nguyên rừng vì mục tiêu phát triển bền vững của địa phương” Đây là bài toán khó không chỉ đối với những nhà quản lý, các nhà khoa học

mà của cả người dân sở tại

Vì thế, để giảm áp lực đối với các khu rừng bảo tồn thiên nhiên, chia sẻ gánh nặng đối với chính quyền các cấp trong tình trạng trên thì việc tham gia của cộng đồng với vai trò đồng quản lý là giải pháp tốt

Trên cơ sở thực tiễn và lý luận, cùng với những kiến thức đã học hỏi được từ thầy, cô giáo và để phần nào trả lời được câu hỏi trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu

đề tài: “Nghiên cứu, đề xuất một số nguyên tắc và giải pháp đồng quản lí rừng tại Khu

BTTN Đồng Sơn- Kỳ Thượng, Hoành Bồ, Quảng Ninh.”

Ý nghĩa khoa học

Trang 7

Đề tài là công trình đầu tiên tiến hành điều tra, nghiên cứu có tính hệ thống tiềm năng đồng quản lý tài nguyên rừng ở Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng Các kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở cho việc đề xuất các nguyên tắc và giải pháp đồng quản lý rừng, nhằm góp phần vào công tác quản lý bền vững tài nguyên rừng ở Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng nói riêng và các khu bảo tồn thiên nhiên khác có điều kiện tự nhiên và xã hội tương tự

Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần làm cơ sở cho việc điều chỉnh các cơ chế chính sách quản lý tài nguyên thiên nhiên tại khu vực nghiên cứu và các vùng lân cận có điều kiện tự nhiên tương tự

Đề xuất được một số nguyên tắc và giải pháp thực hiện đồng quản lý rừng tại Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý bền vững tài nguyên rừng ở tỉnh Quảng Ninh

Trang 8

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Nhận thức chung về đồng quản lý

Xã hội hiện đại đang phát triển nhanh chóng trong thời gian gần đây về mọi mặt, đặc biệt là dân số Nhu cầu của con người cũng một ngày càng cao về nguồn lương thực, thực phẩm, chất đốt, dược phẩm, nước uống, quỹ đất cho sản xuất, đi lại và làm nơi cư trú, điều đó đồng nghĩa với việc tăng sức ép đối với Tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học, trong đó có tài nguyên rừng Trong thời gian qua đã có nhiều tổ chức của chính phủ và phi chính phủ tiến hành nghiên cứu và thực thi các chính sách nhằm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên dưới dạng văn bản luật, tuy nhiên do đặc điểm của từng quốc gia về điều kiện kinh tế- xã hội- văn hóa mà kết quả bảo vệ tài nguyên vẫn còn nhiều mặt hạn chế dẫn đến nhiều diện tích rừng bị tàn phá, nhiều hệ sinh thái bị đe dọa nghiêm trọng, nhiều loài động thực vật bị tuyệt chủng và có nguy cơ tuyệt chủng Một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hậu quả trên chủ yếu do sự phối hợp giữa các thành phần liên quan tài nguyên chưa tốt, còn tồn tại nhiều mâu thuẫn về lợi ích, đây là một trong những mắt xích quan trọng trong để giải quyết vấn đề quản lý, khai thác sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách hiệu quả bền vững Liên quan đến chủ đề này đã có rất nhiều nhà nghiên cứu và các thành phần liên quan tích cực thực hiện các đề tài nhằm tìm ra câu trả lời cho vấn đề trên trong thời gian gần đây và nhiều tác giả ghi nhận rằng đây có thể hướng giải quyết mang tính chiến lược, tiềm năng cho vấn đề gìn giữ và khai thác các giá trị tài nguyên có sự tham gia, nhằm bảo vệ rừng một cách hiệu quả Thuật ngữ “Đồng quản lý” đã được các tác giả sử dụng trong các nghiên cứu theo hướng tiếp cận mới này và được giải thích thông qua quá trình nghiên cứu của họ và điều chỉnh tùy theo tác giả và thời gian

Thuật ngữ "đồng quản lý" được sử dụng để mô tả sự bố trí, sắp xếp chính thức hoặc không chính thức giữa chính phủ, thành phần tư nhân hoặc tầng lớp dân cư liên quan đến việc quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên

Trang 9

Đồng quản lý đang nổi lên như một cách tiếp cận quốc gia đầu tiên, các chính phủ và tư nhân, ngành công nghiệp để chia sẻ quyền lực, quyền lợi và trách nhiệm (Bickmore 2002)

Đồng quản lý ở các VQG là tìm kiếm sự hợp tác, trong đó các bên liên quan cùng nhau thoả thuận chia sẻ chức năng quản lý, quyền và nghĩa vụ trên một vùng lãnh thổ hoặc một khu vực tài nguyên dưới tình trạng bảo vệ Khái niệm này do Borrini -

Feyerabend đưa ra năm 1996 Đến năm 2000 tác giả lại đưa ra khái niệm chung “đồng

quản lý như là một dạng hợp tác, trong đó hai hoặc nhiều đối tác xã hội hiệp thương với nhau xác định và thống nhất việc chia sẻ chức năng quản lý, quyền và trách nhiệm

về một vùng, một lãnh thổ hoặc nguồn tài nguyên thiên nhiên được xác định” Tác giả

giải thích thêm đối với mục tiêu về văn hoá, chính trị nhằm tìm kiếm sự “công bằng”

trong quản lý tài nguyên thiên nhiên Tác giả đưa ra thuật ngữ tiếp cận “số đông” trong

quản lý tài nguyên, kết hợp giữa nhiều đối tác có vai trò khác nhau nhằm mục tiêu chung là bảo tồn thiên nhiên, phát triển bền vững và chia sẻ công bằng quyền lợi liên quan đến tài nguyên

Hai tác giả Wild và Mutebi, 1996 [32] giải thích: Đồng quản lý là một quá trình

hợp tác giữa các cộng động địa phương với các tổ chức nhà nước trong việc sử dụng và quản lý tài nguyên thiên nhiên hoặc các tài sản khác Các bên liên quan, nhà nước hay

tư nhân, cùng nhau thông qua một hiệp thương xác định sự đóng góp của mỗi đối tác và kết quả là cùng nhau ký một hiệp ước phù hợp mà các đối tác đều chấp nhận được.

Sự chia sẻ việc ra quyết định giữa người sử dụng tài nguyên với các nhà quản lý tài nguyên về chính sách sử dụng các vùng bảo vệ đã được Rao và Geisler, 1990 [28] nhấn mạnh Ngoài ra họ còn đề xuất các đối tác cần hướng tới mối quan tâm chung bảo tồn thiên nhiên để trở thành “đồng minh tự nguyện”

Một nhà nghiên cứu Lâm nghiệp người Việt Nam là ông Nguyễn Quốc Dựng,

2004 đã khái quát cụm từ “Đồng quản lý khu bảo tồn thiên nhiên” là quá trình tham gia và hiệp thương của nhiều đối tác có mối quan tâm tới nguồn tàì nguyên trong khu bảo tồn, nhằm đạt được một thỏa thuận thống nhất về quản lý vừa đáp ứng mục tiêu chung

Trang 10

là bảo tồn thiên nhiên, vừa đáp ứng mục tiêu riêng có thể chấp nhận được phù hợp với từng đối tác

Dựa vào cơ sở các khái niệm và định nghĩa đã nêu trên và tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng khu bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam mà tôi có thể đi đến khái niệm chung mang tính chất tương đối về đồng quản lý tài nguyên rừng trong luận văn

này như sau: “Đồng quản lý là việc sắp xếp lại quyền và trách nhiệm giữa các bên

tham gia trong quản lý tài nguyên rừng Hoạt động sắp xếp này liên quan đến việc chuyển từ hình thức đưa ra quyết định từ trên xuống dưới và thiếu sự phối kết hợp giữa người bản địa với việc quản lý nguồn tài nguyên của Nhà nước sang hình thức đưa ra quyết định có sự chia sẻ, hợp tác và thoả thuận của các bên liên quan trong bảo tồn tài nguyên thiên nhiên”

Hay “Đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên là một cách tiếp cận đa nguyên để

quản lý tài nguyên thiên nhiên bằng cách kết hợp nhiều đối tác với nhiều vai trò, với mục đích cuối cùng là bảo vệ môi trường, quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên và phân chia đồng đều những quyền lợi và trách nhiệm liên quan đến tài nguyên”

1.2 Nghiên cứu đồng quản lý tài nguyên rừng trên thế giới

Đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên là bước ngoặt mới về quản lý tài nguyên,

đó là một quy trình mang tính chính trị và trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu đưa ra khái niệm này

Sự thịnh hành của hình thức quản lý này đang tăng lên đáng kể trong 20 năm qua, có thể tìm thấy rất nhiều ví dụ ở các nước đang phát triển nơi mà tình trạng đói nghèo và sự suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên đang dẫn dắt xã hội và quốc gia đó vào việc thực hiện hình thức đồng quản lý

Quốc gia đầu tiên trên thế giới đặt nền móng cho phương pháp tham gia quản lý tài nguyên rừng và khái niệm “tham gia quản lý rừng nói chung” (Joint Forest Management) lần đầu tiên được biết đến là Ấn Độ vào năm 2004 Đồng quản lý (hay hợp tác quản lý) (Co-management Protected Areas) bảo vệ rừng được tiến hành trong

Trang 11

thời gian này và nhanh chóng lan rộng tới các quốc gia thuộc các nước châu Phi, châu

Mỹ La Tinh và châu Á

Có thể thấy rằng, đối với các khu rừng sản xuất thì việc chia sẻ lợi ích là khá dễ dàng, do vậy có thể dễ dàng hợp tác quản lý Tuy nhiên, đối với các khu rừng cấm, khu rừng đặc dụng được bảo vệ thì việc đảm bảo lợi ích khi tiến hành hợp tác quản lý là rất khó khăn do gỗ và lâm sản ngoài gỗ không còn là nguồn lợi chủ yếu nữa Như vậy, đối với những diện tích rừng này muốn hợp tác quản lý rừng (đồng quản lý) thành công thì chúng ta phải biến các lợi ích tổng hợp khác của rừng như khả năng hấp thụ carbon, du lịch sinh thái,… thành lợi ích kinh tế để đảm bảo lợi ích vật chất cho đối tượng tham gia hợp tác quản lý nhất là đối với người dân địa phương hay nói cách khác chúng ta cần tiến hành quản lý rừng theo hướng đa mục đích

Nghiên cứu của Eva Wollenberg, Bruce Campbell, Sheeona Shackletton, Davi Edmunds và Patricia Shanley (2004) tại Orissa và Uttarkhand ở Ấn Độ, Bộ lâm nghiệp cho phép người dân được trực tiếp tiếp cận với sản phẩm rừng, đất rừng, lợi ích từ tài nguyên rừng hoặc tạo cơ hội để họ được tiếp cận với cách quản lý rừng của nhà nước Ngược lại thì Nhà nước cho phép người dân hợp tác với họ để quản lý rừng thông qua việc bảo vệ rừng hoặc trồng rừng, yêu cầu người dân chia sẻ lợi nhuận với các cơ quan quản lý rừng của nhà nước

Thông qua việc chia sẻ nguồn lợi giữa các nhóm người dân địa phương với nhà nước, các chương trình dự án cũng đã giúp hoà giải sự tranh chấp nguồn tài nguyên giữa người dân và nhà nước Các chương trình đồng quản lý hoặc hợp tác rừng đã đem lại những kết quả to lớn Ở Ấn Độ có hơn 63.000 nhóm - tổ tham gia tham gia vào các chương trình trồng mới 14 triệu ha rừng

Ở Nam Phi, tại VQG Kruger trước đây người dân đã chuyển đi từ Makuleke, khi chính phủ mới thành lập đã cho phép người dân trở lại vùng đất truyền thống để sinh sống Để đạt được quyền sử dụng đất đai cũ, người dân phải xây dựng quy ước bảo vệ môi trường trong khu vực VQG đồng thời họ cũng được chia sẻ lợi ích thu được

Trang 12

từ du lịch Từ những kết quả đạt được về đồng quản lý tài nguyên ở Nam Phi đã trở thành bài học kinh nghiệm cho các nước đang phát triển khác (Reid, H 2000) [29]

Ở Thái Lan theo kết quả đánh giá của các nhà khoa học khi đồng quản lý tài nguyên rừng trên thế giới lan đến Châu Á thì Thái Lan là một nước được đánh giá đạt nhiều thành tựu trong công tác xây dựng các chương trình đồng quản lý bảo vệ rừng Các cộng đồng dân cư có đời sống phụ thuộc vào tài nguyên rừng thường có nhiều kinh nghiệm khi đóng vai trò là người bảo vệ hoặc người tham gia quản lý khu bảo tồn

Trong báo cáo “Liên minh cộng đồng” đồng quản lý rừng ở Thái Lan đã có nghiên cứu điểm tại vườn quốc gia Dông Yai nằm ở Đông Bắc và khu rừng phòng hộ Nam Sa ở phía Bắc Thái Lan Đó là những vùng quan trọng đối với công tác bảo tồn đa dạng sinh học, đồng thời cũng là những vùng có đặc điểm độc đáo về kinh tế - xã hội,

về thể chế truyền thống của cộng đồng người dân địa phương trong quản lý và sử dụng tài nguyên (Poffenberger, M và McGean, B 1993) [27]

Tại Dong Yai, người dân đã chứng minh được khả năng của họ trong việc tổ chức các hoạt động bảo tồn, đồng thời phối hợp với Cục Lâm nghiệp Hoàng gia xây dựng hệ thống quản lý rừng đảm bảo ổn định về môi trường sinh thái cũng như phục vụ lợi ích của người dân trong khu vực Tại Nam Sa, cộng đồng dân cư cũng rất thành công trong công tác quản lý rừng phòng hộ Họ khẳng định rằng chính phủ khuyến khích và chuyển giao quyền lực thì họ chắc chắn sẽ thành công trong việc kiểm soát các hoạt động khai thác quá mức nguồn tài nguyên rừng, các hoạt động phá rừng và tác động tới môi trường Đồng quản lý ở Thái Lan có thể trở thành bài học kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam bởi vì Thái Lan cũng là một nước trong vùng Đông Nam Á, đặc biệt Việt Nam là quốc gia có một số đặc điểm tương đồng về điều kiện tự nhiên và văn hoá xã hội [27]

Ở Uganda khi tiến hành nghiên cứu về lĩnh vực đồng quản lý tại vườn quốc gia Bwindi Impenetrable và MgaHinga Gorilla thuộc Uganda hai nhà nghiên cứu Winld và Mutebi, 1996 [32] Cho thấy hợp tác quản lý được thực hiện giữa ban quản lý vườn quốc gia và cộng đồng dân cư Hai bên thoả thuận ký kết quy ước cho phép người dân

Trang 13

khai thác bền vững một số lâm sản, đồng thời có nghĩa vụ tham gia quản lý bảo vệ tài nguyên thiên nhiên trên địa bàn của cộng đồng Đồng quản lý chỉ có hai đối tác là Ban quản lý và cộng đồng dân cư địa phương

Ở Canada kể từ khi ký hiệp định Northern Quebec và James Bay năm 1975, việc sắp xếp công tác đồng quản lý ở Canada đã tăng lên nhanh chóng Có rất nhiều hình thức sắp xếp công tác đồng quản lý và nhiều ban chính thức liên quan đến Tuần Lộc,

cá Voi Trắng, các sản phẩm lâm nghiệp và phi lâm nghiệp và các loại cá được đặt tên nhưng rất ít Việc sắp xếp quyền đồng quản lý đối với chủ đề này là một chủ điểm giữa tỉnh Saskatchewan, công ty quản lý lâm nghiệp Mistik và các cộng đồng người dân thuộc Hội đồng bộ lạc Meadow

Khi viết về đồng quản lý rừng tại VQG Vutut, tác giả Sherry E (1999) [31] cho

rằng đây vừa là một khu bảo tồn thiên nhiên vừa là khu di sản văn hoá của người thổ dân ở vùng Bắc Cực Liên minh giữa chính quyền và thổ dân đã huy động được lực lượng người dân và kết hợp với ban quản lý làm thay đổi chiều hướng bảo tồn tự nhiên hoang dã và tăng các giá trị của vườn quốc gia Đồng quản lý ở đây đã kết hợp được giữa các mối quan tâm và kiến thức bản địa với mục tiêu bảo tồn Ban quản lý VQG giúp về kỹ thuật xây dựng các mô hình bảo tồn thiên nhiên và phát triển kinh tế - xã hội, còn dân bản địa tham gia thực hiện các mô hình đó Hợp tác quản lý ở đây đã giải quyết hài hoà mâu thuẫn giữa chính sách của chính quyền và bản sắc truyền thống của người dân, đảm bảo cho sự thành công của công tác bảo tồn hoang dã và bảo tồn các di sản văn hoá Đồng quản lý ở VQG Vutut được đánh giá rất thành công, theo tác giả thì

nó được thiết kế để “kết hợp giữa sự tốt đẹp nhất của hai thế giới” nhà nước văn minh và thổ dân

Ở Madagascar tác giả Schachenmann 1999 [30] đã đưa ra một ví dụ ở VQG Andringitra là VQG thứ 14 của nước cộng hoà Madagascar Theo tác giả này vườn quốc gia là một vùng núi có mối liên hệ giữa các hệ sinh thái, sinh cảnh, đa dạng sinh học và cảnh quan cũng như di tích văn hoá Chính phủ có nghị định đảm bảo các quyền của người dân như quyền chăn thả gia súc, khai thác tài nguyên rừng phục hồi để sử

Trang 14

dụng tại chỗ, cho phép giữ gìn những tập quán truyền thống khác nhau như có thể giữ gìn các điểm thờ cúng thần rừng Để đạt được những thoả thuận trên, người dân phải đảm bảo tham gia bảo vệ sự ổn định của các hệ sinh thái trong khu vực Ngoài ra, có nhiều bên liên quan tham gia trong đồng quản lý như du lịch, chính quyền

Ở Brazil, nông dân đã giúp quản lý 2,2 triệu ha rừng phòng hộ, khoảng một nửa

số huyện ở Zimbabuê tham gia vào chương trình CAMPFIRE Ở đó người dân có thể chia sẻ lợi nhuận từ du lịch trong các khu rừng bảo vệ động vật hoang dã, các chương trình này giúp nhà nước bảo vệ được rừng, giúp người dân cải thiện được quyền tiếp cận với tài nguyên rừng Tuy nhiên, chưa giúp người nghèo cải thiện đáng kể kế sinh nhai

Năm 1975 nhà nước Nepal thực hiện quốc hữu hóa rừng, tập trung quản lý bảo vệ rừng và đất rừng, kết quả là người dân ở đây đã ít quan tâm đến bảo vệ rừng của nhà nước dẫn đến trong vòng 20 năm hàng triệu ha rừng bị tàn phá Từ năm 1978, Chính phủ đã giao quyền quản lý bảo vệ rừng cho người dân để thực hiện chính sách phát triển lâm nghiệp Tuy nhiên, sau một thời gian người ta nhận thấy các đơn vị hành chính này không phù hợp với việc quản lý và bảo về rừng do các khu rừng nằm phân tán, không theo đơn vị hành chính và người dân có nhu cầu, sở thích sử dụng sản phẩm rừng khác nhau

Năm 1989, nhà nước thực hiện chính sách lâm nghiệp mới đó là chia rừng và đất rừng làm hai loại: Rừng tư nhân và rừng nhà nước cùng với hai loại sở hữu rừng tương ứng là sở hữu rừng tư nhân và sở hữu rừng nhà nước Trong quyền sở hữu của nhà nước lại được chia theo các quyền sử dụng khác nhau như rừng cộng đồng theo nhóm người sử dụng, rừng hợp đồng với các tổ chức, rừng tín ngưỡng, rừng phòng hộ Nhà nước công nhận quyền pháp nhân và quyền sử dụng cho các nhóm sử dụng

Năm 1993, Nepal phát triển chính sách lâm nghiệp mới, nhấn mạnh đến các nhóm sử dụng rừng, cho phép gia tăng quyền hạn và hỗ trợ cho các nhóm sử dụng rừng, thay chức năng của các phòng lâm nghiệp huyện từ chức năng cảnh sát và chỉ

Trang 15

đạo sang chức năng hỗ trợ và thúc đẩy cho các bên liên quan, từ đó rừng được quản lý và bảo vệ có hiệu quả hơn

Theo báo cáo của nhà khoa học Oli Krishna Prasad (1999) [26], tại khu bảo tồn

Hoàng gia Chitwan ở Nepal, cộng đồng dân cư vùng đệm được tham gia hợp tác với một số các bên liên quan quản lý tài nguyên vùng đệm phục hồi cho du lịch Lợi ích của cộng đồng khi tham gia quản lý tài nguyên là khoảng 30% - 50% thu được từ du lịch hàng năm sẽ đầu tư trở lại cho các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng Nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở đồng quản lý tài nguyên rừng phục vụ du lịch

ở vùng đệm

1.3 Nghiên cứu đồng quản lý tài nguyên rừng ở Việt Nam

1.3.1 Đồng quản lí là một hình thức trong chiến lược phát triển Lâm nghiệp xã hội

Trong một thời gian dài phát triển lâm nghiệp , khái niệm quản lý rừng cũng như các hình thức của nó đã liên tụ c thay đổi qua những giai đoạn khác nhau trên thế giới cũng như ở Việt Nam Vào những thời kì đầu , nhiệm vụ chính của lâm nghiệp chủ yếu là sản xuất gỗ Loại hình lâm nghiệp này được hình thành và phát triển mạnh ở nhi ều nước hình thành nên hình thức quản lý rừng truyền thống để phân biệt với các hình thức quản lý rừng khác hiện nay

Tuy nhiên đến đầu những năm 80, do ảnh hưởng của nền kinh tế phi tập trung , hình thức quản lý rừng tr uyền thống không còn phù hợp Sự phụ thuộc vào rừng của các cộng đồng miền núi về lương thực, thực phẩm được sản xuất trên đất rừng, tiền mặt thu được từ bán lâm sản như gỗ , chất đốt ,…ngày càng tăng dẫn đến khai thác t ài nguyên quá mức , nhiều nơi rừng không còn khả năng tái sinh dẫn đến đồi trọc hóa Những xung đột trong sử dụng tài nguyên rừng ngày càng nhiều Lâm nghiệp nhà nước không còn khả năng kiểm soát có hiệu quả việc quản lý t ài nguyên rừng Trong bối cảnh như vậy cần phải có một phương thức quản lý rừng thích hợp , vừa đáp ứng được nhu cầu lợi ích của người dân , vừa bảo vệ và phát triển được tài nguyên rừng Lâm nghiệp xã hội được hình thà nh, được chấp nhận và ngày càng phát triển Nhiều chính sách đổi mới của nhà nước được áp dụng đã hỗ trợ cho sự phát triển phương thức lâm

Trang 16

nghiệp xã hội , chẳng hạn như Khoán 10 năm 1988 (Nghị quyết 10 của Bộ chính trị ); Luật đất đai ban hành năm 1988, được bổ sung năm 1993, 1998; Luật bảo vệ và phát triển rừng…

Vào cuối thập kỷ 80, các hội nghị , hội thảo, diễn đàn quốc tế về lâm nghiệp xã hội được tổ chức tại khu vực có ảnh hưởng rấ t lớn đến Việt Nam trong quá trình bắt đầu mở cửa Các cuộc giao lưu , học hỏi kinh nghiệm với nước ngoài đã thúc đẩy cách nhìn mới về phát triển lâm nghiệp xã hội Vào đầu thập kỷ 90 nhiều chương trình hỗ trợ phát triể n của các tổ chức quốc tế , chính phủ và phi chính phủ được thực hiện Chương trình hợp tác lâm nghiệp Việt Nam – Thụy Điển , các dự án của các tổ chức quốc tế như: FAO, UNDP, GTZ và các tổ chức phi chính phủ đã áp dụn g cách tiếp cận mới trong phát triển lâm nghiệp

Trong quá trình phát triển , chiến lược của Lâm nghiệp xã hội rất đa dạng , mỗi một chiến lược có những đặc điểm , thế mạnh và giới hạn cụ thể với các mục tiêu quản

lý rừng và phát triển nông thôn khác nhau Do vậy, có nhiều cách nhìn Lâm nghiệp xã hội tùy bối cảnh kinh tế xã hội có quan điểm cho Lâm nghiệp xã hội là một phương thức tiếp cận có sự tham gia, một lĩnh vực quản lý tài nguyên, một trong những phương thức quản lý tài nguyên

Hiện nay ở Việt Nam tồn tại nhiều hình thức quản lý rừng , chủ yếu là các hình thức sau đây:

- Lâm nghiệp truyền thống

- Quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng (Community based natural

resources management)

- Đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên (Co-management of Natural Resources)

- Quản lý mang tính thích nghi (Adaptation management) :

- Bảo tồn và phát triển tổng hợp (Integrated Conservation and Developement

Projects)

- Phát triển bền vững về mặt sinh thái (Ecologically sustainable development):

- Quản lý bền vững dựa trên Hệ SinhThái (Ecosystem management)

Trang 17

Trong các hình thức quản lý rừng, có sự tham gia của nhiều bên liên quan, thông thường có 6 chủ thể chính như sau :

- Cộng đồng dân cư thôn

- Tổ chức lâm nghiệp xã

- Các cấp chính quyền tỉnh, huyện và xã

- Các cơ quan chuyên ngành lâm nghiệp cấp tỉnh và huyện

- Các tổ chức lâm nghiệp Nhà nước

- Các tổ chức lâm nghiệp ngoài Nhà nước

1.3.2 Ảnh hưởng của hình thức đồng quản lí rừng đến sinh kế của các bên có liên quan

Sự thay đổi của các chính sách lên hình thức quản lý rừng có ảnh hưởng lớn đến sinh kế của các bên tham gia , mà đặc biệt là của người dân địa phương Việc chuyển đổi từ phương thức lâm nghiệp truyền thống sang lâm nghiệp xã hội tạo ra những cơ hội và cả những thách thức cho người dân địa phương trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống của mình

Hình thức đồng quản lý được áp dụng cho nhữ ng nơi chịu nhiều áp lực do con người, nhất là người dân địa phương gây bất lợi cho nguồn tài nguyên này vẫn đang xảy ra dưới nhiều hình thức và cấp độ khác nhau Trong bối cảnh đó, công tác bảo tồn tài nguyên thiên nhiên càng đặt ra nhiều vấn đề bức thiết hơn và không chỉ gói gọn trong các hoạt động chuyên biệt mà còn đòi hỏi ở mức độ bảo tồn cao hơn như bảo tồn cấp độ vùng với nhiều bên cùng tham gia và lồng ghép nhiều lĩnh vực hoạt động như một sự điều phối giữa lợi ích bảo tồn và phát triển theo hướng bền vững Cộng đồng địa phương được đánh giá có tính quyết định cao để bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên thiên nhiên

Một ví dụ trong việc phân chia trách nhiệm và quyền lợi cho hình thức đồng quản lý tài nguyên rừng ở Thừa Thiên Huế như sau:

- Vai trò chính quyền cấp xã: Chính quyền cấp xã là cầu nối quan trọng giữa các cơ

quan chức năng và cộng đồng địa phương trong việc quản lý tài nguyên thiên nhiên

Trang 18

Tuy nhiên do cơ chế còn nhiều bất cập cũng như sự phối hợp chưa nhuần nhuyễn nên vai trò của chính quyền cấp xã chưa phát huy hết hiệu quả Tại Thừa Thiên Huế, Chi cục Kiểm lâm đã đưa ra một số mô hình điểm nhằm đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa trên nền tảng là chính quyền cấp xã và sự hậu thuẫn của cộng đồng người dân địa phương Điển hình như mô hình đồng quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Phong Điền, mô hình làng sinh thái vùng đệm khu bảo tồn Phong Điền Các mô hình này được xem như bước đi tiên phong trong cả nước về việc đồng quản lý tại các khu bảo tồn ở Việt Nam Trong khung quản lý này, chính quyền cấp xã được đặc biệt chú trọng ngay từ khâu lập kế hoạch đến việc thực hiện các hoạt động và giám sát mô hình Chính quyền cấp xã có cơ hội thể hiện vai trò và thực lực của mình trong việc quản lý tài nguyên thiên nhiên tại địa phương thông qua sự hỗ trợ của các cơ quan có liên quan Một ví dụ điển hình như chính quyền xã Phong Mỹ (huyện Phong Điền) khi ngăn chặn các hành vi phá rừng, đào đãi vàng trong phạm vi khu bảo tồn thiên nhiên Phong Điền Bên cạnh đó, chính quyền xã này cùng Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Phong

Điền tham gia lập kế hoạch quản lý rừng, tham gia các hoạt động điều tra vốn rừng

- Các tổ chức đoàn thể: Hiện nay, các tổ chức đoàn thể như Hội Nông dân, Hội Phụ

nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh, và một số tổ chức hội khác đang dần phát huy hiệu quả trong công tác bảo tồn và phát triển tài nguyên thiên nhiên ở Thừa Thiên Huế Các đoàn thể thông qua sự tư vấn, hỗ trợ của các cơ quan chức năng đã từng bước thể hiện mình như một tổ chức chuyên sâu trong lĩnh vực bảo tồn tài nguyên thiên nhiên Hội Nông dân xã Phong Mỹ đã có bước chuyển mình quan trọng trong việc thành lập Hội Bảo tồn thiên nhiên vì cuộc sống với tiêu chí ”bảo tồn thiên nhiên vì cuộc sống của thế hệ tương lai“ Nguồn kinh phí ban đầu do Chi cục Kiểm lâm hỗ trợ phát triển kinh tế hộ gia đình kết hợp bảo vệ môi trường thông qua các hoạt động sản xuất nông lâm kết hợp, trồng rừng kinh tế gắn với phủ xanh đất trống, tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân Đến nay Hội này đã chủ động trong việc quản lý các nguồn tài trợ cũng như xin tài trợ từ các tổ chức trong và ngoài nước

Trang 19

- Cộng đồng dân cư địa phương: Hình thức quản lý mới này không mang tính áp

đặt từ trên xuống, mà các nhà quản lý nhạy bén đã biết kết hợp hài hòa giữa bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên thiên nhiên gắn với phát triển sinh kế người dân địa phương Cộng đồng người dân địa phương tham gia nhiều lĩnh vực trong hoạt động bảo tồn và phát triển tài nguyên thiên nhiên tại Thừa Thiên Huế, vai trò của họ là không nhỏ trong kết quả đạt được như ngày hôm nay Họ chính là những người sống ở gần nguồn tài nguyên nhất, có điều kiện theo dõi, kế thừa thông tin lịch sử diễn biến,

có kiến thức bản địa truyền thống Lợi ích của nguồn tài nguyên thiên nhiên thật sự gắn

bó trực tiếp, thường xuyên đối với cộng đồng người dân địa phương nên chính họ sẽ là lực lượng thường xuyên tham gia bảo vệ, giữ gìn và phát huy nó

1.3.3 Hình thức đồng quản lý, một hướng đi mới trong công tác bảo vệ và phát nguồn tài nguyên rừng

Quản lý rừng là một cá ch thức nhằm duy trì , bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng Các hình thức quản lý rừng được thay đổi liên tục nhằm phù hợp với yêu cầu của mỗi giai đoạn Trong giai đoạn hiện nay , lâm nghiệp truyền thống với cách quản lý từ trên xuống không còn phù hợp với nhiều nơi , lâm nghiệp xã hội đang trở thành xu thế , thu hút sự tham gia của nhiều bên liên quan Hiện nay, ở Việt Nam không chỉ tồn tại một hình thức quản lý rừng cụ thể , mà có rất nhi ều hình thức quản lý rừng , chẳng hạn như quản lý rừng dựa vào cộng đồng , đồng quản lý tài nguyên rừng , quản lý mang tính thích nghi,…Các hình thức này có đặc điểm chung là thu hút sự tham gia của nhiều bên liên quan, không chỉ nhà nước có trách nhiệm quản lý , mà có sự tham gia của các ngành, các đoàn thể, và đặc biệt của người dân

Việc quản lý tài nguyên rừng không còn là trách nhiệm của nhà nước nữa mà của chung mọi ngành , mọi ngư ời Việc thay đổi này có sự ảnh hưởng lớn đến nhận thức, cũng như lợi ích của các bên liên quan , đặc biệt là cộng đồng người dân sống gần rừng Chính phủ đã nhận thấy vai trò ngày càng quan trọng của cộng đồng trong cô ng tác quản lý tài nguyên rừng , đây là một giải pháp giúp quản lý hiệu quả tài nguyên này

Trang 20

cũng như là tạo nguồn thu nhập cho người dân , cải thiện sinh kế và chất lượng sống , kích thích sự quan tâm của người dân vào công tác bảo vệ phát triển rừng

Thực tế cho thấy tài nguyên rừng ở nước ta trước đây do nhà nước quản lý và quyết định mọi phương án quản lý và sử dụng Do vậy, diện tích rừng ở nước ta trong thời gian qua suy giảm nhanh chóng cả về số lượng lẫn chất lượng, ngay các khu rừng đặc dụng cũng bị xâm phạm nghiêm trọng làm cho tài nguyên rừng ngày càng cạn kiệt

Đã có một số đề tài, dự án của các tổ chức nước ngoài và trong nước được thực hiện nhằm quản lý bền vững cho các khu rừng đặc dụng

Trong hơn 10 năm qua, đồng quản lý đã được thử nghiệm tại Việt Nam ở nhiều hoàn cảnh, địa phương và thể chế pháp lý khác nhau Những sáng kiến thí điểm này đã ứng dụng đồng quản lý vào lâm nghiệp, rừng ngập mặn và thuỷ sản, với những mức độ thành công khác nhau

Năm 1997 tại VQG Cát Tiên trong khoá tập huấn về “Kết hợp bảo tồn và phát triển” phương pháp đồng quản lý tài nguyên rừng lần đầu tiên được đưa vào giới thiệu và thảo luận Sau thời gian đó, đồng quản lý tiếp tục được giới thiệu trong một số khoá tập huấn về bảo tồn thiên nhiên của các dự án được triển khai thực hiện

Hội thảo quốc gia về lâm nghiệp tại Hà Nội năm 2001 đã làm rõ các yếu tố khuôn khổ pháp lý của rừng cộng đồng, việc thực thi các chính sách hỗ trợ cho quản lý rừng cộng đồng tại Việt Nam Trong hội thảo có rất nhiều báo cáo và các vấn đề thảo

luận như “Báo cáo về khuôn khổ pháp lý, chính sách của Nhà nước và hiện trạng quản

lý rừng cộng đồng ở Việt Nam” của các tác giả Phạm Xuân Phương, Hà Công Tuấn,

Vũ Văn Mê, Nguyễn Hồng Quân; Các báo cáo về sự vận dụng chính sách lâm nghiệp nhà nước ở cấp tỉnh của các tác giả Sheelagh, Orelly, Vũ Hữu Tuynh, Nguyễn Ngọc Lung, Lê Ngọc Anh, Nguyễn Hải Nam, Cao Vĩnh Hải,… Cuối cùng hội thảo đi đến kết luận cộng đồng đang quản lý 15% diện tích rừng của nhà nước, đó là thực tế mang tính khách quan và ngày càng có một vị trí quan trọng trong hệ thống quản lý tài nguyên rừng ở Việt Nam Tuy nhiên, vẫn còn một số những vướng mắc trong khuôn khổ chính sách hưởng lợi từ rừng khi tham gia bảo vệ và phát triển như không quy định cộng

Trang 21

đồng dân cư thôn bản là đối tượng của chính sách này Sự vận dụng các chính sách của nhà nước và địa phương đã có tính sáng tạo, cụ thể là một số tỉnh đã mạnh dạn thí điểm giao đất, giao rừng và cấp sổ đỏ cho cộng đồng dân cư thôn bản như Sơn La, Thừa Thiên Huế, Đăk Lăk

Tại khu BTTN Pù Luông, trong nghiên cứu về phối hợp quản lý và bảo tồn Ulrich Apel, Oliver C Maxwell và các tác giả năm 2002 [24] đã có đánh giá nghịch lý

về sử dụng đất đai và nhà ở, tình hình quản lý tài nguyên thiên nhiên ở một số thôn bản vùng đệm khu BTTN Pù Luông Kết quả nghiên cứu của các tác giả này mới chỉ đánh giá một số thể chế, chính sách hiện nay với công tác quản lý rừng đặc dụng, phân tích sự phụ thuộc của người dân đối với tài nguyên rừng, chưa đánh giá đầy đủ tiềm năng

về đồng quản lý và không đưa ra được nguyên tắc và giải pháp thực hiện

Đòi hỏi của thực tiễn là cần có tiến trình, nguyên tắc và các giải pháp thích hợp

để xây dựng kế hoạch đồng quản lý tài nguyên rừng Đây là câu trả lời mà các dự án triển khai trong thời gian gần đây đang lúng túng Ngày 4/8/2003 hội thảo về “ý tưởng thành lập khu BTTN Phu Xai Leng do cộng đồng quản lý” được tổ chức tại thành phố Vinh, Nghệ An đã đề xuất một số vấn đề đồng quản lý khu bảo tồn Tuy nhiên, hội thảo cũng chưa thống nhất được các nguyên tắc quản lý và giải quyết triệt để vấn đề

Hội thảo quốc gia về lâm nghiệp cộng đồng năm 2004 tại Hà Nội được tổ chức với nội dung về khuôn khổ và thể chế quản lý rừng cộng đồng, chính sách hưởng lợi trong quản lý rừng cộng đồng, đánh giá tài nguyên rừng và khai thác rừng cộng đồng Hội thảo kết luận, quản lý rừng cộng đồng hiện đang tồn tại như một xu thế khách quan và ngày càng có vị trí quan trọng trong hệ thống quản lý tài nguyên rừng, nhiều diện tích đất lâm nghiệp có thể giao cho cộng đồng quản lý những diện tích rừng xa khu dân, có địa hình phức tạp mà các tổ chức nhà nước và hộ gia đình không có khả năng quản lý và quản lý không có hiệu quả, các khu rừng giữ nguồn nước phục vụ trực tiếp cho cộng đồng, khu rừng giáp ranh giữa các thôn, xã

Bên cạnh đó, vấn đề hưởng lợi của cộng đồng quản lý rừng được nhiều nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu, đặc biệt là tác giả Nguyễn Bá Ngãi, Nguyễn Ngọc

Trang 22

Lung, Bảo Huy Tác giả Phạm Xuân Phương đã khảo sát đánh giá tình hình triển khai tình chất hưởng lợi đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng được giao nhận khoán rừng năm 2003

Kỹ thuật đánh giá thực trạng quản lý rừng cộng đồng của các tác giả Nguyễn Hồng Quân, Vũ Long, Phạm Xuân Phương đã đưa ra khung định vị đánh giá hiện trạng quản lý rừng cộng đồng gồm 5 tiêu chí Qua hội thảo, các báo cáo và các công trình nghiên cứu của các tác giả cho thấy tuy nhà nước chưa quy định quyền hưởng lợi của cộng đồng với những diện tích rừng cộng đồng hiện đang quản lý, song trên thực tế cộng đồng đang quản lý và có quyền hưởng lợi, phân chia lợi ích từ rừng

Bàn về hiệu quả đạt được từ quản lý bảo vệ rừng cộng đồng ở nước ta cho đến nay chưa có đánh giá hiệu quả quản lý rừng cộng đồng ở quy mô toàn quốc Tuy nhiên, căn cứ vào 3 kết quả Hội thảo quốc gia về quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam được tổ chức tại Hà Nội (tháng 6/2000, tháng 11/2001 và tháng 11/2004) có thể đưa ra một số nhận định sau:

- Nhiều nơi rừng cộng đồng được bảo vệ và phát triển tốt hơn, những nơi rừng

do cộng đồng quản lý hầu như không bị chặt phá, do không có xâm hại nên rừng ngày càng tăng trưởng

Đối với diện tích rừng do cộng đồng nhận khoán bảo vệ, hàng năm được Nhà nước hoặc chủ rừng trả tiền công khoán, đã góp phần giải quyết một phần khó khăn về đời sống cho một bộ phận dân cư

Đối với diện tích rừng và đất rừng chính quyền địa phương giao, cộng đồng có thể tận dụng khi rừng chưa khép tán hoặc đất trống chưa trồng rừng để canh tác kết hợp cây nông nghiệp, chăn thả dưới tán rừng, được các dự án đầu tư hỗ trợ vốn để sản xuất, được hưởng lợi sản phẩm từ rừng

Đối với diện tích rừng cộng đồng quản lý theo truyền thống cho đến nay hầu như cộng đồng có toàn quyền quyết định việc sử dụng tài nguyên rừng, trong đó đáp ứng nhu cầu lâm sản cho các công trình chung của cộng đồng, giải quyết nhu cầu gỗ làm nhà cho các hộ gia đình

Trang 23

- Tiết kiệm chi phí cho Nhà nước: Hiện nay có nhiều cộng đồng đang quản lý rừng hầu như không có sự hỗ trợ của Nhà nước về kinh phí, nhưng rừng vẫn được bảo vệ tốt

- Rừng cộng đồng đã góp phần bảo vệ nguồn nước, giải quyết một phần nhu cầu

gỗ gia dụng cho cộng đồng và thành viên của cộng đồng, khai thác lâm sản ngoài gỗ,…, góp phần phát triển nghề thủ công truyền thống và tăng thu nhập cho cộng đồng

- Góp phần khôi phục truyền thống văn hoá, phong tục tập quán tốt đẹp của cộng đồng thông qua việc quản lý rừng cộng đồng, có sự giúp đỡ và hướng dẫn của các

tổ chức nhà nước, đã góp phần thúc đẩy việc xây dựng và thực hiện quy chế quản lý, bảo vệ rừng; Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; Khôi phục truyền thống văn hoá tốt đẹp, hương ước của cộng đồng

Nhìn chung, quản lý rừng và đất rừng trên cơ sở cộng đồng là vấn đề tổng hợp và phụ thuộc nhiều vào khuôn khổ thể chế, chính sách của từng quốc gia, từng địa phương, do vậy không thể sao chép nguyên vẹn một mô hình nào từ nơi này sang nơi khác Tuy nhiên, việc chia sẻ kinh nghiệm, những bài học thành công hay thất bại trong

cả nước và khu vực là rất cần thiết trong bối cảnh chính sách lâm nghiệp đang cải cách và hoàn thiện như hiện nay Điều đáng chú ý là phải có những nghiên cứu tổng hợp đánh giá và đúc rút kinh nghiệm, bổ sung và xây dựng những chính sách mới phù hợp cho mỗi vùng

Vì vậy, quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng được xem như nền tảng của sự phát triển vì nó đảm bảo đáp ứng được những nhu cầu lợi ích cho cộng đồng, góp phần xoá đói giảm nghèo và phục vụ được tình trạng cạn kiệt tài nguyên trong những phương thức sử dụng kém bền vững

Đồng quản lý tài nguyên rừng ở nước ta tuy chưa có những nghiên cứu hoàn chỉnh, nhưng trong điều kiện thực tế cho thấy phương pháp này là một trong những xu hướng phù hợp với điều kiện bảo tồn đa dạng sinh học trong các khu rừng đặc dụng

Một số dự án với nội dung đồng quản lý đã được triển khai ở một số vùng: Dự án quản

lý vùng chiến lược kết hợp với bảo tồn thiên nhiên (MOSAIC) do UASID/WWF tài trợ

Trang 24

triển khai ở phía tây tỉnh Quảng Nam, trong đó có nội dung thử nghiệm đồng quản lý khu BTTN Sông Thanh tiến hành năm 2001

Một dự án nhỏ khác về đồng quản lý khu BTTN Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế do tổ chức Catherine T Macarthur Foundation tài trợ Mục tiêu của dự án nhằm xây dựng mô hình đồng quản lý khu bảo tồn giữa cộng đồng dân cư và các tổ chức, cơ quan liên quan (bao gồm cả tổ chức chính phủ và phi chính phủ)

Các nghiên cứu gần đây về “đồng quản lý rừng” tại khu BTTN Sông Thanh, tỉnh Quảng Nam của Nguyễn Quốc Dựng (Luận văn thạc sỹ Lâm nghiêp năm 2004)

[17]; tại VQG Chư yang sin, tỉnh ĐăkLăk của Phạm Văn Hạ (Luận văn thạc sỹ Lâm nghiệp 2007), bước đầu đã chỉ ra được kinh nghiệm đồng quản lý rừng tại nơi nghiên

cứu và cũng là những gợi ý cho những nghiên cứu tiếp theo về đồng quản lý rừng ở các địa phương khác

Ngày 14 tháng 12 năm 2009, Ban Điều phối Quốc gia tạm thời Rừng ngập mặn cho tương lai (MFF) tổ chức cuộc họp lần thứ hai (cuộc họp lần thứ nhất được tổ chức vào tháng 6 năm 2009) Phần đầu của cuộc họp, các đại biểu trình bày và thảo luận về kết quả của hai dự án phục hồi và tái tạo rừng ngập mặn: một dự án tại tỉnh Thanh Hóa

do CARE thực hiện, và một dự án ở tỉnh Sóc Trăng do GTZ thực hiện Chương trình và thành phần đại biểu tham dự được đính kèm bên dưới tài liệu này Những dự án này đều thu hút sự quan tâm bởi cả hai dự án đều sử dụng cách tiếp cận đồng quản lý, đây là hình thức chuyển sở hữu đất từ nhà nước sang cộng đồng

Ngày 17-19/03/2010 tại Sóc Trăng đã diễn ra Hội thảo Quốc gia về Đồng quản

lý với nội dung: Đồng quản lý/Quản trị Chia sẻ nguồn Tài nguyên Thiên nhiên và các Khu Bảo tồn tại Việt Nam

Hiện nay Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã và đang xúc tiến giải pháp đồng quản lý rừng, nhằm phát triển tài nguyên rừng một cách bền vững trong giai đoạn từ nay đến năm 2020 trước mắt Bộ sẽ tổ chức thực hiện thí điểm tại một số Công ty lâm nghiệp, Ban quản lý rừng đặc dụng, phòng hộ để tổng kết rút kinh nghiệm và hoàn thiện chính sách thực thi trong cả nước

Trang 25

Theo đó, ban quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, doanh nghiệp được Nhà nước giao rừng và đất lâm nghiệp sẽ thực hiện cơ chế đồng quản lý với dân cư địa phương, trên cơ sở cùng chia sẻ trách nhiệm quản lí bảo vệ rừng, phát triển rừng và cùng hưởng lợi ích từ rừng và sự đóng góp của các bên chủ rừng và cộng đồng dân cư địa phương

Thông qua cơ chế chia sẻ trách nhiệm và lợi ích tạo cho cộng đồng, các cá nhân, hộ gia đình sống trong và gần rừng (chủ yếu là rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất tự nhiên), có cơ hội tiếp cận có kiểm soát các nguồn tài nguyên được chia sẻ, nâng cao động lực của cộng đồng trong bảo vệ, bảo tồn và phát triển rừng, từng bước thực hiện xã hội hóa hoạt động quản lý, bảo vệ rừng và bảo tồn thiên nhiên

1.4 Nhận xét đánh giá chung về đồng quản lý rừng

Qua các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước về các vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu có thể rút ra một số nhận xét sau đây:

- Các công trình nghiên cứu trên thế giới đã được tiến hành khá đồng bộ trên nhiều khía cạnh khác nhau, từ việc đưa ra các quan điểm, khái niệm về đồng quản lý, nghiên cứu về sự hưởng lợi và nghĩa vụ của các bên có liên quan và các phương thức hợp tác quản lý rừng, Những nghiên cứu này đã tạo ra cơ sở khoa học cho việc triển khai thực hiện đồng quản lý tài nguyên rừng ở các nước trên thế giới

- Ở Việt Nam, đồng quản lý hay hợp tác quản lý là một vấn đề mới, còn đang trong giai đoạn thử nghiệm và gặp nhiều khó khăn trong thực tiễn do tính phức tạp của các yếu tố xã hội Thực hiện đồng quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng cần phải được triển khai thực hiện để có tổng kết đánh giá nhân rộng; các bước tiến hành về quản lý phải phù hợp với điều kiện và tình hình thực tiễn ở nước ta và đặc biệt là sự hợp tác nhiệt tình của địa phương

- Có thể nhận thấy, vấn đề đồng quản lý trong giai đoạn này rất được các chính phủ các nước, nhà quản lý lâm nghiệp, các nhà khoa học, trong và ngoài nước quan tâm

Trang 26

- Đồng quản lý là một một công cụ quản lý tài nguyên thiên nhiên đang được sử dụng ngày càng nhiều tại những nơi vừa cần phải bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên vừa phải đảm bảo kế sinh nhai của dân cư địa phương những người đã từ lâu sống dựa vào các nguồn tài nguyên này Đồng quản lý bao gồm từ hai đối tác liên đới trở lên (thường là chính phủ và cộng đồng địa phương) ngồi lại cùng nhau để đàm phán cách thức quản lý một lĩnh vực cụ thể hoặc một tổ hợp những nguồn tài nguyên thiên nhiên, thống nhất về việc chia sẻ công bằng chức năng quản lý, lợi ích, trách nhiệm của tất cả các đối tác liên đới Để vận hành đồng quản lý một cách hiệu quả, cần có sự tham gia tích cực của tất cả các đối tác liên đới, như vậy là cần phải trao quyền cho các cộng đồng địa phương để tiếng nói của họ có trọng lượng tại bàn đàm phán

- Hiện nay đã và vẫn đang có nhiều chương trình thử nghiệm về thực hiện mô hình đồng quản lý rừng, đề tài- luận văn nghiên cứu về đồng quản lý tài nguyên, và

cả các chương trình tổng kết đánh giá các kết quả đạt được từ dự án Đồng quản lí đã, và sẽ được thực hiện trên cả nước

Khu BTTN Đồng Sơn- Kỳ Thượng có diện tích tương đối rộng, rất đa dạng về sinh học Nhưng cho đến nay tại đây chưa có một nghiên cứu nào có tính hệ thống về quản lý rừng cộng đồng và đồng quản lý tài nguyên rừng Vậy làm sao để quản lý rừng bền vững? Cần có những nguyên tắc và giải pháp đồng quản lý như thế nào để giải quyết được các mâu thuẫn trong quản lý tài nguyên rừng tại Khu BTTN Đồng Sơn- Kỳ

Thượng Đây là những yêu cầu, đòi hỏi cần giải quyết Đề tài: “Nghiên cứu, đề xuất

một số nguyên tắc và giải pháp đồng quản lí rừng tại Khu BTTN Đồng Sơn- Kỳ Thượng, Hoành Bồ, Quảng Ninh.” được thực hiện nhằm góp phần cung cấp thêm

những thông tin về đồng quản lý rừng Trên cơ sở đánh giá tiềm năng đồng quản lý rừng tại Khu BTTN Đồng Sơn- Kỳ Thượng, đưa ra các nguyên tắc và biện pháp quản

lý rừng khả thi để áp dụng tại địa phương nhằm đạt hiệu quả tốt

Trang 27

CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá được tiềm năng đồng quản lý rừng tại Khu BTTN Đồng Sơn- Kỳ Thượng

- Đề xuất được một số nguyên tắc và giải pháp cơ bản thực hiện đồng quản lý rừng tại Khu BTTN Đồng Sơn- Kỳ Thượng

2.2 Đối tượng nghiên cứu

- Cơ chế, chính sách của các cấp có liên quan đến công tác quản lý hệ thống rừng đặc dụng ở Khu BTTN Đồng Sơn- Kỳ Thượng, tỉnh Quảng Ninh

- Kiến thức bản địa và thể chế của cộng đồng dân cư địa phương trong quản lý tài nguyên thiên nhiên ở Khu BTTN Đồng Sơn- Kỳ Thượng, tỉnh Quảng Ninh

- Tổ chức quản lý tài nguyên thiên nhiên ở Khu BTTN Đồng Sơn- Kỳ Thượng, tỉnh Quảng Ninh

- Tài nguyên thiên nhiên ở Khu BTTN Đồng Sơn- Kỳ Thượng, tỉnh Quảng Ninh

2.3 Giới hạn nghiên cứu

- Về địa bàn nghiên cứu: Chỉ giới hạn trong xã Đồng Lâm thuộc địa phận quản

lí của Khu BTTN Đồng Sơn- Kỳ Thượng- huyện Hoành Bồ- Tỉnh Quảng Ninh

- Về nội dung nghiên cứu: Chỉ tập trung phân tích cơ sở lý luận - thực tiễn thực

hiện đồng quản lý rừng và đánh giá tiềm năng đồng quản lý rừng tại Khu BTTN Đồng Sơn- Kỳ Thượng và hỗ trợ để các đối tác thiết lập được các nguyên tắc và giải pháp thực hiện Đồng quản lý

2.4 Nội dung nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài tiến hành thực hiện một số nội dung chủ yếu sau:

Trang 28

- Phân tích cơ sở khoa học và thực tiễn thực hiện đồng quản lý rừng tại Khu BTTN Đồng Sơn- Kỳ Thượng

- Đánh giá tiềm năng đồng quản lý rừng tại Khu BTTN Đồng Sơn- Kỳ Thượng

- Đề xuất một số nguyên tắc đồng quản lý tài nguyên rừng tại Khu BTTN Đồng Sơn- Kỳ Thượng

- Đề xuất một số giải pháp thực hiện đồng quản lý rừng tại Khu BTTN Đồng Sơn- Kỳ Thượng

2.5 Phương pháp nghiên cứu

2.5.1 Cách tiếp cận và phương hướng giải quyết vấn đề

- Đề tài bắt đầu từ việc tìm hiểu các thông tin về đồng quản lý rừng và khảo sát tổng thể khu vực nghiên cứu để chọn ra được địa điểm nghiên cứu phù hợp nhất với các yêu cầu đặt ra

- Phát triển bền vững đang là yêu cầu và đòi hỏi cấp thiết của thực tiễn Quản lý rừng bền vững là một trong những nội dung có vai trò vô cùng quan trọng Để tìm ra được một số nguyên tắc và giải pháp đồng quản lý tại khu vực nghiên cứu thì cách tiếp

cận của đề tài là tiếp cận tổng hợp Ngoài việc phân tích những cơ sở lý luận và thực

tiễn thực hiện đồng quản lý tại khu vực, đề tài còn quan tâm đến việc đánh giá các tiềm năng của đồng quản lý Đặc biệt chú ý đến chế độ hưởng lợi của các bên tham gia và cách giải quyết các mâu thuẫn còn đang tồn tại trong công tác quản lý

- Đồng quản lý là việc quản lý rừng có sự tham gia của các cơ quan, tổ chức, người dân, cộng đồng xã hội Cho nên để giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa các bên

tham gia thì cần phải tiếp cận từ đa phương

- Đề tài kế thừa các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, đồng thời tiến hành điều tra thu thập bổ sung các thông tin sơ cấp Trên cơ sở đánh giá, phân tích các kết quả này, đề tài đề xuất một số nguyên tắc và giải pháp đồng quản lý rừng tại địa phương theo hướng phát triển tài nguyên rừng

Trang 29

- Triển khai thực hiện các nội dung nghiên cứu vai trò của tác giả là hỗ trợ còn các đối tác là người thực hiện chính (đồng quản lý trên cơ sở tự nguyện của các đối tác

và chính họ xây dựng và thực hiện sau này)

2.5.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể

Các bước thực hiện nghiên cứu được sơ đồ hoá như sau:

Sơ đồ 2.1: Các bước tiến hành nghiên cứu

a Phương pháp kế thừa tài liệu

- Trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi sẽ kế thừa các kết quả nghiên cứu khoa học về đồng quản lý do các nhà khoa học trong và ngoài nước đã tiến hành

- Kế thừa các tài liệu có sẵn về các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội, kinh nghiệm quản lý bảo vệ rừng, những kết quả nghiên cứu về đồng quản lý của các cơ quan, ban

Thu thập các tài liệu có liên quan

Khảo sát tổng thể khu vực nghiên cứu

Phân tích cơ sở khoa học và thực tiễn của đồng quản lý tài nguyên rừng tại Khu BTTN Đồng Sơn- Kỳ Thượng

Đánh giá tiềm năng đồng quản lý tài nguyên rừng tại Khu BTTN Đồng Sơn- Kỳ Thượng

Đề xuất nguyên tắc đồng

quản lý

Đề xuất giải pháp đồng quản

Trang 30

ngành từ địa phương trong khắp cả nước Tiếp nhận các tài liệu, báo cáo, tổng kết chính sách lâm nghiệp trong nước, các văn bản qui phạm pháp luật, các kinh nghiệm, kiến thức tốt liên quan đến vấn đề đồng quản lý Rừng

- Thông qua Ban quản lý Khu BTTN Đồng Sơn- Kỳ Thượng và cán bộ địa phương để tìm hiểu các thông tin và các số liệu đã có sẵn liên quan đến vấn đề đồng quản lý

Các văn bản, tài liệu, thông tin được kế thừa đảm bảo tính cập nhật (mới nhất), chính thống (cơ quan, tổ chức có chức năng ban hành) và đảm bảo độ chính xác phù hợp với yêu cầu của chủ đề nghiên cứu

b Thu thập tài liệu, thông tin ngoại nghiệp

* Phương pháp chọn địa điểm nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu là đại diện điển hình cho cả khu vực nghiên cứu, bao gồm các thôn phân bố gần rừng, các yếu tố về địa hình và khả năng tiếp cận với rừng tương đối đồng nhất

- Trên cơ sở các tiêu chí như trên, xã Đồng Lâm được chọn làm địa điểm nghiên cứu của đề tài

* Phương pháp điều tra đánh giá các giá trị đa dạng sinh học cần phải bảo tồn

Đa dạng sinh học Khu BTTN Đồng Sơn- Kỳ Thượng mới được điều tra đánh giá, nên đề tài kế thừa các tài liệu đã có là chủ yếu, chỉ kiểm tra bổ sung cập nhật một

số thông tin ngoài thực địa và hiện trạng rừng, thực vật bậc cao và động vật có xương sống nhằm đánh giá mức độ đe dọa và nguyên nhân giảm sút

- Đối với thực vật: Sử dụng phương pháp điều tra theo tuyến kết hợp với phỏng vấn người dân

- Đối với động vật rừng: Sử dụng phương pháp phỏng vấn người dân, thợ săn, cán bộ Ban quản lí Khu BTTN

* Phương pháp điều tra tiềm năng đồng quản lý trong cộng đồng

Các phương pháp sau được sử dụng để điều tra tiềm năng đồng quản lý tại cộng

đồng:

Trang 31

- Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn RRA (Rapid Rural Appraisal): Được thực hiện để thu thập những thông tin bổ sung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, thuận lợi, khó khăn, nguy cơ, thách thức trong công tác quản lý bảo vệ rừng

- Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia PRA (Participatory Rural Appraisal): Được áp dụng để củng cố những thông tin thu thập được từ phương pháp

kế thừa và phương pháp RRA Đồng thời, xác định những phong tục, tập quán, kiến thức và thể chế bản địa liên quan đến việc BVR và tiềm năng BVR của cộng đồng cũng như vai trò của các bên liên quan đến công tác quản lý tài nguyên rừng, mâu thuẫn và khả năng hợp tác của các bên liên quan trong công tác quản lý-BVR

* Các công cụ sử dụng trong điều tra

- Bảng câu hỏi phỏng vấn bán định hướng dùng cho các cơ quan cấp huyện, cấp

xã và trưởng thôn và hộ gia đình

- Bảng câu hỏi phỏng vấn hộ gia đình

- Ma trận SWOT và sơ đồ đánh giá tiềm năng các bên liên quan

- Ma trận đánh giá mâu thuẫn trong quản lý sử dụng tài nguyên rừng

- Ma trận đánh giá khả năng tham gia của các bên liên quan trong quản lý Khu BTTN

- Công cụ mười hạt để xác định được mức độ ưu tiên giải quyết các vấn đề bức thiết trong thôn liên quan đến vấn đề bảo tồn và phát triển rừng

- Công cụ lược sử thôn bản để tìm hiểu về lịch sử thôn về những diễn biến về mặt xã hội, phương thức sản xuất, canh tác của người dân, cũng như những kiến thức và kỹ năng của người dân đã tiến hành để giải quyết các thách thức mà họ đã đối mặt

* Chọn nhóm người dân (cộng tác viên) tham gia thảo luận

- Về số lượng mỗi thôn có 10-15 người tham gia thảo luận

- Về tuổi tác bao gồm người cao tuổi, trung niên, thanh niên

- Về kinh nghiệm, trình độ bao gồm những người hiểu biết rõ về thôn, là người

có thời gian sống ổn định và lâu dài ở trong thôn, có kiến thức bản địa

- Về giới tính, nghề nghiệp bao gồm:

Trang 32

+ Nhóm nam có 6 người hay đi rừng lấy củi, măng, mật ong, gỗ làm nhà, săn bắt động vật rừng,…

+ Nhóm nữ có 6 người là những người có kinh nghiệm đi lấy củi, lấy rau và các lâm sản khác

+ Mỗi nhóm có 3 người của các đoàn thể như hội phụ nữ, hội nông dân, đoàn thanh niên, hội cựu chiến binh,…

* Chọn hộ gia đình phỏng vấn

- Căn cứ vào tiêu chí phân loại của xã, thảo luận với trưởng thôn về tiêu chí và cách phân loại hộ gia đình trong thôn để chọn ra 90 hộ gia đình phỏng vấn mang tính đại diện

- Lập danh sách với sự thống nhất thuộc trưởng thôn và chọn ngẫu nhiên 90 hộ đại diện cho 3 nhóm để phỏng vấn: 30 hộ thuộc nhóm dân tộc Kinh, 30 hộ thuộc nhóm Sán Dìu, 30 hộ thuộc nhóm dân tộc Dao

- Phương pháp chuyên gia: Nhằm tham khảo thêm những nhận xét và ý kiến góp

ý của các chuyên gia có kinh nghiệm làm cơ sở đề xuất các nguyên tắc, giải pháp thực

hiện đồng quản lý tại Khu BTTN Đồng Sơn- Kỳ Thượng

2.5.3 Phân tích số liệu và viết báo cáo

Các số liệu thứ cấp và sơ cấp qua thu thập được tiến hành xử lý và phân tích bằng phần mềm Excel 5.0, Word

- Phân tích sự tương quan giữa các nguồn thu thập liên quan đến tài nguyên rừng đối với tổng thu nhập của hộ gia đình trong cộng đồng dân cư thôn Kết quả xử lý được thể hiện theo dạng phân tích, mô tả, bảng và biểu đồ Ngoài ra, các kết quả thảo luận, các thông tin định tính như chính sách, tổ chức cộng đồng, thể chế cộng đồng, được phân tích theo phương pháp định tính

- Phân tích ảnh hưởng của các nguồn thu nhập từ tài nguyên rừng đến tổng thu nhập của các hộ gia đình trong vùng chọn nghiên cứu

- Dùng phương pháp phân tích tổng hợp, mô tả, so sánh, đánh giá tiềm năng phát triển đồng quản lý tài nguyên rừng

Trang 33

CHƯƠNG 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên

 Phía Đông giáp xã Dương Huy, thị xã Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh

 Phía Bắc giáp huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh

 Phía Tây giáp xã Sơn Dương huyện Hoành Bồ

 Phía Nam giáp xã Thống Nhất huyện Hoành Bồ

3.1.3 Địa hình

Địa hình của Khu BTTN Đồng Sơn- Kỳ Thượng là vùng đồi núi thấp và núi trung bình thuộc cánh cung Đông triều Từ Tây sang Đông ở giữa vùng lõi của Khu BTTN Đồng Sơn- Kỳ Thượng là dãy dông nối liền các đỉnh Khe Ru 826 m, đèo Kinh

694 m, Đồng Trà 889 m, Am Vap 1051 nối liền đèo Mo 974 m tạo thành đường phân thuỷ của hai lưu vực sông Đổ về phía Bắc là lưu vực sông Ba Chẽ, về phía Nam là lưu vực sông Man và các sông nhỏ khác chảy thẳng ra Vịnh Hạ Long

Mặc dù so với vùng miền núi phía Bắc Việt Nam, khu vực Đồng Sơn- Kỳ Thượng có độ cao tuyệt đối không cao nhưng độ chênh cao khá lớn (cao nhất đỉnh Thiên Sơn cao 1090m, thấp nhất là mặt nước tại đập hồ Cao Vân 31 m) và mức độ chia cắt rất phức tạp với nhiều đỉnh núi, nhiều phụ lưu đặc biệt có hồ Cao Vân ở phía Tây Nam thuộc xã Hoà Bình với diện tích mặt hồ 146 ha có nhiều ngách suối tạo nên một vùng cảnh quan hùng vĩ

3.1.4 Khí hậu thuỷ văn

Trang 34

a Khí hậu

Khu BTTN Đồng Sơn- Kỳ Thượng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, ảnh hưởng khí hậu hải dương, hàng năm có 2 mùa rõ rệt là mùa nóng ẩm từ tháng 4 đến tháng 9 hàng năm, mùa hanh khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ trung bình/năm là 230C, nhiệt độ tối cao tuyệt đối 410C vào tháng 6, nhiệt độ tối thấp tuyệt đối 00C vào tháng 1; lượng mưa trung bình/năm từ 2.000 mm đến 2.400 mm, tập trung vào các tháng 7- 8 chiến 80%, ẩm độ không khí cao nhất vào tháng 3 – 4 là 89 %, thấp nhất vào tháng 1 – 2 là 65 %; hướng gió chính mùa hè là gió Đông Nam; mùa đông là gió Đông Bắc Do đặc điểm địa hình nên tại các thung lũng thường xuất hiện sương muối xảy ra vào tháng 1, 2 ảnh hưởng tới cây trồng, đặc biệt là cây nông lâm nghiệp

b Thủy văn

Khu vực Đồng Sơn- Kỳ Thượng có 2 hệ thống suối chính:

- Hệ thống suối tụ nước đổ về sông Ba Chẽ ở phía Bắc Khu bảo tồn

- Hệ thống suối tụ nước đổ về sông Man ở phía Nam Khu Bảo tồn

Hai hệ thống suối này đều bắt nguồn từ các dãy núi và đỉnh núi trong khu BTTN Đồng Sơn- Kỳ Thượng nơi còn khá nhiều rừng tự nhiên, tuy có cạn về mùa khô nhưng các suối phần lớn có nước quanh năm, đáp ứng được yêu cầu đời sống và sản xuất trong khu vực Những năm gần đây do ảnh hưởng của nạn phá rừng tự nhiên, mở đường và san lấp đồng ruộng của các xã quanh Khu BTTN dẫn đến nước trên hai hệ thống suối thường đục hơn, nhiều cát trôi, nhiều lũ cuốn làm hại hoa màu, đời sống và cảnh quan

Hồ Cao Vân có diện tích 146 ha, dung tích 5.000.000 m3

đón nước chủ yếu từ các suối bắt nguồn phía Tây Nam núi Thiên Sơn để cung cấp nước sạch cho huyện Hoành Bồ và Thành phố Hạ Long tuy nằm ngoài Khu BTTN nhưng có ý nghĩa vô cùng lớn trong việc điều tiết khí hậu của Khu BTTN

3.1.5 Đặc điểm địa chất, thổ nhưỡng

Tài liệu địa chất miền Bắc Việt Nam cho thấy địa chất của khu vực Đồng Sơn-

Kỳ Thượng hình thành từ Kỷ Triat thuộc thời kỳ Đệ Tứ, với các loại đá mẹ thuộc nhóm

Trang 35

đá trần tích chính: Phấn sa, Sa thạch, Sỏi sạn kết, Phù sa cô, đôi chỗ có đá phiến thạch sét xen kẽ Trên các đỉnh núi, đá mẹ có nguồn gốc Macma phun trào nhờ hoạt động tạo sơn Hymalaya thuộc Kỷ Triat-Judava tạo nên

Kết quả điều tra xây dựng bản đồ dạng đất do Viện Điều tra Quy hoạch rừng xây dựng tháng 4 năm 2011 đã phát hiện trong khu vực có 22 dạng đất trong 4 nhóm đất chính sau:

- Đất Feralit có mùn trên núi (độ cao trên 700m) Đất khá nhiều mùn nên có màu nâu nhạt, phát triển trên đá Sa thạch khối, có tầng đất mỏng đến trung bình hoặc rất mỏng, có nhiều đá lộ đầu, phân bố rải rác nhưng tập trung chủ yếu trên núi cao Thiên Sơn, Am Váp, Đèo Mo

- Đất Feralit màu nâu vàng, vàng nhạt vùng đồi phát triển trên đá Phiến thạch sét,

Sa thạch, Phấn sa, Sạn kết Phân bố chủ yếu ở vùng thấp dưới 700m Tầng đất dày đến trung bình, nơi đất mỏng thường là sườn các đỉnh núi có đá Sa thạch khối phân bố, thành phần cơ giới trung bình, phân bố tập trung chủ yếu ở Đồng Sơn, Đồng Lâm, Vũ Oai, Hòa Bình Tầng đất mỏng đến trung bình, thành phần

cơ giới nhẹ, đất nghèo dinh dưỡng

- Nhóm đất thung lũng, đất đồng ruộng trên nền phù sa cổ và bồi tụ ven suối Nhóm đất này nhỏ, tầng đất dày, chủ yếu là đất cát pha, thành phần cơ giới nhẹ, phân bố chủ yếu dọc theo các sông suối, thung lũng hẹp của các xã trong và quanh Khu Bảo tồn

Nhìn chung đất đai trong khu BTTN là đất Feralit màu đỏ vàng, vàng đỏ đến vàng nhạt có thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình, đất tơi xốp dề thoát nước tầng đất trung bình, khả năng kết dính kém đất dễ bị rửa trôi xói mòn nếu mất rừng Đất đai thuận lợi cho sản xuất nông lâm nghiệp nhưng đòi hỏi phải có phân bón

3.1.6 Thảm thực vật rừng

Căn cứ nguyên tắc và tiêu chuẩn phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam của Thái Văn Trừng, qua khảo sát đã xác định khu vực Đồng Sơn - Kỳ Thượng có các kiểu thực vật sau:

Trang 36

 Kiểu thảm thực vật thường xanh mưa ẩm Á nhiệt đới núi thấp

 Kiểu thảm thực vật thường xanh mưa ẩm nhiệt đới

Bảng 3.1:Thống kê diện tích các kiểu thảm thực vật rừng hiện nay của Khu BTTN

Đồng Sơn- Kỳ Thượng

1 Rừng thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi trung bình 1.137

2 Rừng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới 14.500,7

2.1.2 Ưu hợp Thành ngạnh, Sau sau, Trâm, Dẻ, Kháu,… 7.560,15

2.1.3 Ưu hợp Thẩu tấu, Me rừng, Sim, Mua, Cỏ lào, 2.103,61

Trang 37

Bảng 3.2: Thành phần hệ động vật của Khu BTTN Đồng Sơn- Kỳ Thƣợng

khi thành lập Lớp động vật Số bộ Số họ Số loài

(Nguồn: Dự án xây dựng Khu BTTN Đồng Sơn- Kỳ Thượng)

Theo kết quả đánh giá nhanh Đa dạng sinh học trong Khu BTTN Đồng Sơn- Kỳ Thượng vào năm 2011 do nhóm chuyên gia của trường Đại học lâm nghiệp Việt Nam và trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên thực hiện trong chương trình Dự án VCF thì: Khu hệ động vật trong Khu bảo tồn Đồng Sơn - Kỳ Thượng tuy đã chịu sức ép nặng nề từ hoạt động săn bắn của người dân địa phương nhưng vẫn là nơi sinh sống cho nhiều loài động vật, đặc biệt là các loài quý hiếm như Báo hoa mai, Nai, Gấu, Từ kết quả điều tra, chúng tôi rút ra một số kết luận cụ thể sau đây:

- Qua quá trình phỏng vấn kết hợp với điều tra thực địa, nhóm điều tra đã ghi nhận sự có mặt của 57 loài thú, thuộc 5 bộ và 18 họ Trong số này có 16 loài được liệt

kê trong danh mục đỏ của IUCN (từ cấp VU trở lên)

- Từ kết quả điều tra thực địa và thông tin thu được qua phỏng vấn nhóm điều tra đã ghi nhận được 135 loài chim tại Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng, thuộc 15 bộ và 40 họ, trong số đó có 4 loài nằm trong sách đỏ của IUCN (từ cấp VU trở lên)

- 31 loài bò sát đã được ghi nhận trong cuộc điều tra, trong đó có 8 loài nằm trong sách đỏ của IUCN (từ cấp VU trở lên)

- 22 loài Ếch nhái đã được ghi nhận trong cuộc điều tra,

Trang 38

Bảng 3.3: Thành phần hệ động vật của Khu BTTN Đồng Sơn- Kỳ Thƣợng hiện

(Nguồn: Kết quả đánh giá nhanh ĐDSH tại khu BTTN Đồng Sơn-Kỳ Thượng 2011)

3.2 Điều kiện dân sinh, kinh tế - xã hội

3.2.1 Dân số, dân tộc và phân bố dân cư

a Dân tộc và tập quán

Dân cư trong vùng gồm 3 dân tộc chính: Dao, Sán Dìu, Kinh Người Dao chiếm tới 79% Do tập quán sản xuất chính là làm nương rẫy và khai thác lâm sản và do nhu cầu của đời sống, người dân vẫn vào rừng khai thác lâm sản như: Lấy gỗ sử dụng, gỗ làm củi, cây thuốc, động vật,….Do chưa có tập quán trồng rừng lấy củi, trồng cây thuốc quanh nhà và chăn thả gia súc có người giám sát cho nên những hoạt động trên

đã gây ra nhiều khó khăn và cản trở quá trình phục hồi hệ sinh thái rừng, gây ảnh hưởng trực tiếp đến tài nguyên thực vật của Khu BTTN

b Dân số, lao động và phân bố dân cư

- Dân số, lao động: Khu BTTN tiếp giáp với 29 thôn bản trong đó có 9 bản với dân số ước khoảng 2.200 người chiếm 27,7% tổng dân số 5 xã) của 350 hộ gia đình nằm trong phạm vi quản lí của Khu BTTN

Trang 39

- Mật độ dân số bình quân 25 người/Km2, cao nhất là xã Vũ Oai 39 người/Km2, thấp nhất là xã Kỳ Thượng 15 người/Km2 Tỷ lệ tăng dân số trung bình hàng năm là 1,94%

- Phân bố dân cư: trong khu vực không đồng đều, hầu hết các thôn bản đều tập trung ven đường, nơi tương đối bằng phẳng, có điều kiện canh tác lúa nước Trong phạm vi nghiên cứu có diện tích 16.878,7 ha chiếm 52% tổng diện tích 5

xã, nhưng chỉ có 9 thôn bản với 2.200 nhân khẩu, bằng 27,7% tổng dân số

3.2.2 Cơ sở hạ tầng

a Giao thông: Con đường huyết mạch đường tỉnh lộ 326 và 279 nối giữa tỉnh Bắc

Giang với Thị xã Cẩm Phả chạy qua phía ngoài Khu BTTN là đặc điểm quan trọng hàng đầu góp phần xây dựng, phát triển kinh tế ã hội địa phương Gần đây được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, mạng lưới giao thông liên thôn, liên bản đã được đầu

tư mở rộng, tu sửa làm thay đổi bộ mặt nông thôn miền núi Tuy nhiên mật độ đầu tư còn hạn chế, cùng với các yếu tố bất lợi của thiên nhiên, thời tiết nên các nhánh đường này thường ghồ ghề, nhỏ hẹp qua nhiều dốc cao, khe suối nên việc đi lại gặp nhiều khó khăn

b Giáo dục: Các xã trong địa phận Khu BTTN quản lí hầu hết đã có trường tiểu học,

trường trung học cơ sở, phòng học phổ biến là nhà cấp 4, trang thiết bị và đồ dùng học tập còn rất nhiều thiếu thốn, tại thôn bản có những lớp học ghép Tỷ lệ trẻ em đến trường đạt 97-98% Chất lượng việc dạy và học chưa cao, trình độ học sinh thấp hơn so với trung bình khu vực

c Y tế: Các xã có trạm y tế tại trung tâm, ở các bản có cán bộ y tế thôn bản, tuy nhiên

trang thiết bị của các cơ sở y tế còn thiếu, trình độ cán bộ y tế thấp nên không đáp ứng được yêu cầu khám chữa bệnh của bà con nhân dân Các bệnh sốt rét, suy dinh dưỡng vẫn chiếm tỷ lệ cao, đặc biệt ở các xã vùng sâu

d Đời sống văn hóa xã hội: Khu vực Đồng Sơn- Kỳ Thượng là vùng cao của huyện

Hoành Bồ nên đời sống văn hóa xã hội của người dân còn hạn chế, do nhiều thôn bản chưa có điện lưới quốc gia, chưa tiếp cận được với tiến bộ khoa học công nghệ

Trang 40

3.2.3 Đánh giá chung về kinh tế xã hội trong khu vực

Có 4 trong 5 xã trong khu vực thuộc diện các xã đặc biệt khó khăn, đời sống vật chất, tinh thần của người dân rất thấp Tỷ lệ đói nghèo chiếm tới 45% số hộ gia đình

Cơ sở hạ tầng giao thông, y tế, giáo dục đều kém phát triển, trình độ dân trí chưa cao

Cơ cấu kinh tế chủ yếu là nông lâm nghiệp với tập quán canh tác cũ, trình độ thâm canh không cao nên năng suất cây trồng vật nuôi thấp

Nền kinh tế còn mang tính tự cung tự cấp, sản phẩm hàng hóa chủ yếu là các sản phẩm từ rừng tự nhiên như Gỗ, nhựa, trám, động vật hoang dã,….Đời sống của người dân chủ yếu dựa vào rừng tự nhiên, đây là những sức ép lớn đối với môi trường sinh thái Để bảo vệ rừng cần có các giải pháp phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của người dân trong khu vực

- Hạ tầng cơ sở đang được quan tâm đầu tư nâng cấp, cải tạo và xây dựng, nâng cao năng lực phục vụ và ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân

- Nhân dân các dân tộc sống hoà thuận, có truyền thống lao động rất cần cù, chịu khó, lực lượng lao động dồi dào

- Có tiềm năng phát triển về lâm nghiệp và du lịch sinh thái

3.3.2 Khó khăn:

- Địa hình phức tạp, đất nông nghiệp ít, thị trường và giá cả nông sản không ổn định, ảnh hưởng đến đời sống nhân dân

Ngày đăng: 07/11/2014, 18:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường (1992), Sách đỏ Việt Nam, phần động vật, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách đỏ Việt Nam, phần động vật
Tác giả: Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường
Năm: 1992
4. Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường (1996), Sách đỏ Việt Nam, phần thực vật, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách đỏ Việt Nam, phần thực vật
Tác giả: Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường
Năm: 1996
6. Bộ NN&PTNT (2002), Các văn bản pháp luật về Lâm nghiệp, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các văn bản pháp luật về Lâm nghiệp
Tác giả: Bộ NN&PTNT
Năm: 2002
7. Chi cục Kiểm Lâm Quảng Ninh: ”Dự án đầu tư Khu BTTN Đồng Sơn- Kỳ Thượng” Sách, tạp chí
Tiêu đề: ”Dự án đầu tư Khu BTTN Đồng Sơn- Kỳ Thượng
8. Chính phủ Nước CHXHCN Việt Nam (2003), Chiến lược quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam đến năm 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam đến năm 2010
Tác giả: Chính phủ Nước CHXHCN Việt Nam
Năm: 2003
10. Cục Kiểm Lâm và WWF Chương trình Đông Dương (2002), Đề xuất chiến lược quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên tại Việt Nam, Dự án tăng cường công tác quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên tại Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề xuất chiến lược quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên tại Việt Nam
Tác giả: Cục Kiểm Lâm và WWF Chương trình Đông Dương
Năm: 2002
11. Đinh Ngọc Lân (2002), Quản lý rừng cộng đồng trong phát triển bền vững nông thôn vùng núi phía Bắc Việt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý rừng cộng đồng trong phát triển bền vững nông thôn vùng núi phía Bắc Việt Nam
Tác giả: Đinh Ngọc Lân
Năm: 2002
12. Đỗ Tước, Lê Huy Khánh (1999), Báo cáo chuyên đề hệ động vật rừng khu BTTN Sông Thanh, tỉnh Quảng Nam, Viện Điều tra Quy hoạch Rừng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chuyên đề hệ động vật rừng khu BTTN Sông Thanh, tỉnh Quảng Nam
Tác giả: Đỗ Tước, Lê Huy Khánh
Năm: 1999
14. Nguyễn Quốc Dựng và nhóm chuẩn bị dự án (1999), Dự án đầu tư khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh, Quảng Nam, Tài liệu Viện Điều tra Quy hoạch Rừng, HàNội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án đầu tư khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh, Quảng Nam
Tác giả: Nguyễn Quốc Dựng và nhóm chuẩn bị dự án
Năm: 1999
15. Nguyễn Quốc Dựng và các tác giả (1999), Báo cáo chuyên đề điều tra hệ thực vật rừng khu BTTN Sông Thanh, tỉnh Quảng Nam, Viện Điều tra Quy hoạch Rừng, HàNội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chuyên đề điều tra hệ thực vật rừng khu BTTN Sông Thanh, tỉnh Quảng Nam
Tác giả: Nguyễn Quốc Dựng và các tác giả
Năm: 1999
16. Nguyễn Quốc Dựng (2002), Quản lý tài nguyên thiên nhiên có sự tham gia - Xu hướng tiếp cận của khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh, Dự án bảo tồn khu BTTN Sông Thanh, WWF Chương trình Đông Dương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý tài nguyên thiên nhiên có sự tham gia - Xu hướng tiếp cận của khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh
Tác giả: Nguyễn Quốc Dựng
Năm: 2002
17. Phạm Nhật (2000), Phương pháp đánh giá nông thôn có người dân tham gia (PRA) trong khảo sát xây dựng các dự án bảo tồn đa dạng sinh học, Báo cáo chuyên đề tại hội thảo “Hướng dẫn xây dựng dự án GEF/SGP”, Hà Nội 30/5 - 1/6/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp đánh giá nông thôn có người dân tham gia (PRA) trong khảo sát xây dựng các dự án bảo tồn đa dạng sinh học", Báo cáo chuyên đề tại hội thảo “Hướng dẫn xây dựng dự án GEF/SGP
Tác giả: Phạm Nhật
Năm: 2000
18. Quỹ bảo tồn Việt Nam, 2009. Đánh giá nhu cầu bảo tồn: Khu bảo tồn Đồng Sơn- Kỳ Thượng, Quảng Ninh, Việt Nam. Báo cáo kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá nhu cầu bảo tồn: Khu bảo tồn Đồng Sơn- Kỳ Thượng, Quảng Ninh, Việt Nam
19. Quỹ bảo tồn Việt Nam, 2009. Tham vấn xó hội: Khu bảo tồn Đồng Sơn- Kỳ Thượng, Quảng Ninh, Việt Nam. Báo cáo kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tham vấn xó hội: Khu bảo tồn Đồng Sơn- Kỳ Thượng, Quảng Ninh, Việt Nam
20. Quỹ Quốc tế bảo vệ Thiên nhiên - WWF Chương trình Đông Dương (2002), Phát triển bền vững ở Việt Nam, In tại Cty in Công đoàn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển bền vững ở Việt Nam
Tác giả: Quỹ Quốc tế bảo vệ Thiên nhiên - WWF Chương trình Đông Dương
Năm: 2002
21. Thái Văn Trừng (1998), Những hệ sinh thái rừng Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những hệ sinh thái rừng Việt Nam
Tác giả: Thái Văn Trừng
Năm: 1998
22. UBND tỉnh Quảng Ninh (2003) 440/QĐ-UB, ngày 12 tháng 02 năm 2003 về việc phê duyệt dự án xây dựng Khu BTTN Đồng Sơn- Kỳ Thượng và Quyết định số 3890/QĐ_UBND ngày 07/12/1999 về việc thành lập BQL Khu BTTN Đồng Sơn- Kỳ Thượng Sách, tạp chí
Tiêu đề: về việc phê duyệt dự án xây dựng Khu BTTN Đồng Sơn- Kỳ Thượng" và Quyết định số 3890/QĐ_UBND ngày 07/12/1999
24. Ulrich Apel, Oliver C. Maxwell và các tác giả (2002), Phối hợp quản lý và bảo tồn, chiến lược hợp tác quản lý tài nguyên thiên nhiên cộng đồng đối với Rừng đặc dụng ở Việt Nam – Nghiên cứu chuyên đề ở khu BTTN Pù Luông, Thanh Hoá, Tài liệu WB và FFI, Hà Nội.TÀI LIỆU TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phối hợp quản lý và bảo tồn, chiến lược hợp tác quản lý tài nguyên thiên nhiên cộng đồng đối với Rừng đặc dụng ở Việt Nam – Nghiên cứu chuyên đề ở khu BTTN Pù Luông, Thanh Hoá
Tác giả: Ulrich Apel, Oliver C. Maxwell và các tác giả
Năm: 2002
25. Fisher, R.J. (1995), Collaborative Management of Forests for Conservation and Development, IUCN and WWF International, Gland Sách, tạp chí
Tiêu đề: Collaborative Management of Forests for Conservation and Development
Tác giả: Fisher, R.J
Năm: 1995
26. Oli Krishna Prasad (ed.) (1999), Collaborative Management of Protected Areas in the Asian Region, Kathmandu: IUCN Nepal, Xi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Collaborative Management of Protected Areas in the Asian Region
Tác giả: Oli Krishna Prasad (ed.)
Năm: 1999

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1: Các bước tiến hành nghiên cứu - Nghiên cứu, đề xuất một số nguyên tắc và giải pháp đồng quản lí rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn, Kỳ Thượng, Hoành Bồ, Quảng Ninh
Sơ đồ 2.1 Các bước tiến hành nghiên cứu (Trang 29)
Bảng  3.1:Thống kê diện tích các kiểu thảm thực vật rừng hiện nay của Khu BTTN  Đồng Sơn- Kỳ Thƣợng - Nghiên cứu, đề xuất một số nguyên tắc và giải pháp đồng quản lí rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn, Kỳ Thượng, Hoành Bồ, Quảng Ninh
ng 3.1:Thống kê diện tích các kiểu thảm thực vật rừng hiện nay của Khu BTTN Đồng Sơn- Kỳ Thƣợng (Trang 36)
Bảng 3.2: Thành phần hệ động vật của Khu BTTN Đồng Sơn- Kỳ Thƣợng  khi thành lập - Nghiên cứu, đề xuất một số nguyên tắc và giải pháp đồng quản lí rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn, Kỳ Thượng, Hoành Bồ, Quảng Ninh
Bảng 3.2 Thành phần hệ động vật của Khu BTTN Đồng Sơn- Kỳ Thƣợng khi thành lập (Trang 37)
Bảng 3.3: Thành phần hệ động vật của Khu BTTN Đồng Sơn- Kỳ Thƣợng hiện  nay - Nghiên cứu, đề xuất một số nguyên tắc và giải pháp đồng quản lí rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn, Kỳ Thượng, Hoành Bồ, Quảng Ninh
Bảng 3.3 Thành phần hệ động vật của Khu BTTN Đồng Sơn- Kỳ Thƣợng hiện nay (Trang 38)
Sơ đồ 4.1: Chu trình sử dụng và bảo tồn kiến thức bản địa - Nghiên cứu, đề xuất một số nguyên tắc và giải pháp đồng quản lí rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn, Kỳ Thượng, Hoành Bồ, Quảng Ninh
Sơ đồ 4.1 Chu trình sử dụng và bảo tồn kiến thức bản địa (Trang 48)
Bảng 4.1: Thống kê diện tích các loại đất đai khi mới thành lập của Khu BTTN - Nghiên cứu, đề xuất một số nguyên tắc và giải pháp đồng quản lí rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn, Kỳ Thượng, Hoành Bồ, Quảng Ninh
Bảng 4.1 Thống kê diện tích các loại đất đai khi mới thành lập của Khu BTTN (Trang 52)
Bảng 4.2: Thống kê diện tích các loại đất đai hiện nay của Khu BTTN - Nghiên cứu, đề xuất một số nguyên tắc và giải pháp đồng quản lí rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn, Kỳ Thượng, Hoành Bồ, Quảng Ninh
Bảng 4.2 Thống kê diện tích các loại đất đai hiện nay của Khu BTTN (Trang 53)
Bảng 4.3: Nguy cơ và thách thức trong công tác quản lý rừng tại Khu BTTN Đồng  Sơn-Kỳ Thƣợng - Nghiên cứu, đề xuất một số nguyên tắc và giải pháp đồng quản lí rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn, Kỳ Thượng, Hoành Bồ, Quảng Ninh
Bảng 4.3 Nguy cơ và thách thức trong công tác quản lý rừng tại Khu BTTN Đồng Sơn-Kỳ Thƣợng (Trang 55)
Bảng 4.4: Mức độ đốt nương làm rẫy của các hộ gia đình - Nghiên cứu, đề xuất một số nguyên tắc và giải pháp đồng quản lí rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn, Kỳ Thượng, Hoành Bồ, Quảng Ninh
Bảng 4.4 Mức độ đốt nương làm rẫy của các hộ gia đình (Trang 60)
Bảng 4.5: Mức độ khai thác gỗ của các hộ gia đình - Nghiên cứu, đề xuất một số nguyên tắc và giải pháp đồng quản lí rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn, Kỳ Thượng, Hoành Bồ, Quảng Ninh
Bảng 4.5 Mức độ khai thác gỗ của các hộ gia đình (Trang 63)
Bảng 4.6: Mức độ khai thác củi của các hộ gia đình  Dân tộc  Số hộ - Nghiên cứu, đề xuất một số nguyên tắc và giải pháp đồng quản lí rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn, Kỳ Thượng, Hoành Bồ, Quảng Ninh
Bảng 4.6 Mức độ khai thác củi của các hộ gia đình Dân tộc Số hộ (Trang 65)
Hình 4.3: Một số loại LSNG đƣợc khai thác trong Khu BTTN - Nghiên cứu, đề xuất một số nguyên tắc và giải pháp đồng quản lí rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn, Kỳ Thượng, Hoành Bồ, Quảng Ninh
Hình 4.3 Một số loại LSNG đƣợc khai thác trong Khu BTTN (Trang 67)
Bảng 4.7. Các loại LSNG chủ yếu đƣợc thu hái trong khu BTTN - Nghiên cứu, đề xuất một số nguyên tắc và giải pháp đồng quản lí rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn, Kỳ Thượng, Hoành Bồ, Quảng Ninh
Bảng 4.7. Các loại LSNG chủ yếu đƣợc thu hái trong khu BTTN (Trang 68)
Bảng 4.8: Mức độ khai thác LSNG của các hộ gia đình - Nghiên cứu, đề xuất một số nguyên tắc và giải pháp đồng quản lí rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn, Kỳ Thượng, Hoành Bồ, Quảng Ninh
Bảng 4.8 Mức độ khai thác LSNG của các hộ gia đình (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w