BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT --- HOÀNG VĂN HIỀN NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI GIUN TRÒN KÝ SINH Ở MỘT SỐ LOÀI ĐỘNG VẬ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
-
HOÀNG VĂN HIỀN
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI GIUN TRÒN KÝ SINH Ở
MỘT SỐ LOÀI ĐỘNG VẬT KHÔNG XƯƠNG SỐNG Ở VƯỜN
QUỐC GIA CÚC PHƯƠNG VÀ TAM ĐẢO
LUẬN VĂN THẠC SỸ SINH HỌC
HÀ NỘI - 2012
Trang 2MỞ ĐẦU
Giun tròn ký sinh là nhóm động vật có số lượng loài phong phú, chúng được phát hiện ký sinh ở hầu hết các loài động vật, trong đó có các loài động vật không xương sống Nghiên cứu giun tròn ký sinh ở động vật không xương sống
có ý nghĩa quan trọng trong việc phát hiện sử dụng như tác nhân sinh học trong việc phòng chống các loài động vật không xương sống gây hại Giun tròn ký sinh ở động vật không xương sống còn là đối tượng quan trọng trong nghiên cứu
lý luận tiến hóa và chủng loại phát sinh của nhóm động vật này Tuy nhiên, cho đến nay, nghiên cứu cơ bản về thành phần loài cũng như tác hại của giun tròn ký sinh ở động vật không xương sống chưa được chú ý nhiều ở nước ta Các nghiên cứu còn nhỏ lẻ, rời rạc Chưa có công trình nghiên cứu nào công bố hoàn chỉnh
về thành phần loài giun tròn ký sinh ở động vật không xương sống ở Việt Nam Hai vườn quốc gia Cúc Phương và Tam Đảo được đánh giá có đa dạng sinh học cao, tuy nhiên chưa có nhiều công trình nghiên cứu về thành phần loài giun tròn
ký sinh ở động vật không xương sống Nhằm điều tra toàn diện về thành phần loài giun tròn ký sinh ở động vật không xương sống chúng tôi tiến hành đề tài:
Nghiên cứu thành phần loài giun tròn ký sinh ở một số loài động vật không xương sống ở vườn quốc gia Cúc Phương và Tam Đảo
Mục tiêu của đề tài:
- Xác định thành phần loài giun tròn ký sinh ở một số loàiđộng vật không xương sống tại hai vườn quốc gia Cúc Phương và Tam Đảo Trên cơ sở đó đánh giá tính đa dạng khu hệ giun tròn ký sinh ở địa điểm nghiên cứu và loài giun tròn có vai trò sử dung trong kiểm soát sinh học ở động vật không xương sống
Nội dung nghiên cứu:
- Điều tra tình hình nhiễm giun tròn ở các loài động vật không xương sống
tại vườn quốc gia Cúc Phương và Tam Đảo
- Định loại và mô tả các loài giun tròn ký sinh thu được
Trang 3CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1.Tình hình nghiên cứu giun tròn kí sinh ở động vật không xương sống trên thế giới
Giun tròn (Nematoda) là một trong những nhóm ký sinh phong phú nhất
về thành phần loài cũng như nơi ký sinh Giun tròn có thể ký sinh cả trên động vật có xương sống và động vật không xương sống, và thường được quan tâm như là một nhóm sinh vật gây hại bởi bệnh mà chúng gây cho con người và động vật
Mặc dù vậy, cho đến nay nghiên cứu cơ bản thành phần loài giun tròn ở tất
cả các nhóm động vật không xương sống vẫn chưa được thống kê đầy đủ
Charvet & Berthold (1834)[69] và Dujardin (1842)[69] mô tả 233 loài giun tròn ký sinh ở côn trùng Ở Pháp, Bremser (1824)[69] đã công bố giun tròn ký sinh ở bọ da Năm 1851, Karl Diesing công bố hệ thống giun sán ký sinh với
175 loài giun tròn ký sinh ở côn trùng Trong cuốn ”Lợi ích và tác hại của giun tròn trong nông nghiệp”, Filipjev (1934)[69] đã viết về những loài giun tròn ký sinh ở côn trùng, sử dụng côn trùng như là một vật chủ trung gian, đó là những loài giun tròn Spiurida và Filariida
Nghiên cứu giun tròn ở côn trùng được quan tâm hơn cả bởi tiềm năng sử dụng chúng như một tác nhân sinh học tiêu diệt những loài côn trùng gây hại
Có 9 họ giun tròn ký sinh được quan tâm nghiên cứu sâu ở côn trùng và khả năng gây hại của chúng tới sinh vật gây hại này (Alloionematidae, Dilogasteridae, Heterorhabditidae, Mermithidae, Neotylenchidae, Rhabditidae, Sphaerulariidae, Steinernematidae và Tetradonematidae)
Từ năm 1914 tới năm 1938, Gilbert[69] đã công bố giun tròn ký sinh ở bộ cánh cứng Cũng nghiên cứu bộ cánh cứng, Yatsenkowsky (1924)[69] đã công
bố khả năng giết hại vật chủ của giun tròn ký sinh với số lượng lớn
Ở Hoa Kỳ, Cobb (1927)[69] đã công bố 3 loài giun tròn ký sinh ở côn
Trang 4Tiếp tục hướng nghiên cứu đó, Bovien (1933, 1937, 1944)[69] đã nghiên cứu mối quan hệ giữa vi khuẩn, giun tròn và côn trùng, khả năng giết côn trùng của giun tròn ký sinh
Năm 1974, Christie[69] đã biên soạn cuốn ”Ký sinh trùng ở động vật không xương sống”, đặc biệt mô tả những loài giun tròn mới phát hiện ký sinh ở côn trùng Đối với bộ dế, nhiều công trình nghiên cứu về loài giun tròn mới ký sinh, phân loại sinh học và vai trò của giun tròn như tác nhân sinh học của chúng (Frank et al 1988[14]; Nguyen et al 1988[30]) Cũng trên đối tượng vật chủ là
dế, Parkman và cộng sự (1993, 1994)[35,36], Nguyen et al 1990 [31 ] đã mô tả
loài giun tròn Steinernema scapterisci và khả năng tiêu diệt vật chủ của loài giun
tròn này Ngoài ra, một số loài khác ký sinh ở côn trùng cũng được công bố như
loài Neoaplectana carpocapsae ( Smart et al 1986[51]) Năm 1994, nhóm tác giả Coler & Nguyen[10] đã công bố loài giun tròn Paraiotonchium muscadomesticae ký sinh ở ruồi nhà ở Braxin và đưa ra khóa định loại của giống Paraiotonchium
Từ những năm 2000, rất nhiều công trình nghiên cứu những loài giun tròn thuộc họ Heterorhabditidae và Steinernematidae, vai trò của chúng trong việc phòng trừ côn trùng gây hại trong nông nghiệp (Nguyen et al 2008[34 ]; Malan, Nguyen, de Waal & Tiedt 2008[27]) Đặc biệt loài giun tròn thuộc giống
Steinernema spp đã được nghiên cứu sâu cả về hình thái cũng như cấu trúc phân
tử, vùng phân bố: Nam Phi, Ấn Độ, Trung Quốc, Ethiopia, Hoa Kỳ (Nguyen et
al 2005, 2006[32;33]; Qiu et al 2004, 2005[46;47;48;49]; Banu et al 2005[8])
Aaron R JEX et al 2005[5] đã phát hiện và mô tả 8 loài và 3 giống giun
tròn mới ký sinh trên 2 loài gián Panesthia cribrata và Panesthia tryoni tryoni ở Australia : Bilobostoma exerovulva n g., n sp.; Cordonicola gibsoni n sp.; Coronostoma australiae n sp.; Desmicola ornata n sp.; Hammerschmidtiella hochi n sp.; Malaspinanema goateri n g., n sp.; Travassosinema jaidenae n sp.; và Tsuganema cribratum n g., n sp Bổ sung 2 loài Blattophila sphaerolaima và Leidynemella fusiformis Ở Saudi Arabia, Martin L Adamson
Trang 5và Abdul K Nasher.1987 [28] đã tìm thấy loài Hammerschmiditiella andersoni sp.n ký sinh ở cuốn chiếu Archispirostreptus tumuliporus là loài mới cho khoa
học Martin L Adamson, 1987 [29] cũng đã ghi nhận 3 loài mới thuộc họ
Rhigonematidae ký sinh ở cuốn chiếu Orthoporus americanus gồm : Heth orthopori n.sp; Rondonema nelsonae n.sp; Rhigonema carlosi n.sp
D.J Hunt, 1982[17] Lần đầu tiên đã phát hiện và mô tả 2 loài
Hystrignathus ferox n.sp và Xyo xiphacanthus n.sp (Oxyurida:Hystrignathidae)
ký sinh ở bọ cánh cứng Verres furcilabris ở Trinidad, Đông Ấn Độ
Nhìn chung nghiên cứu về giun tròn trên thế giới cũng mới chỉ tập trung ở một số nhóm động vật không xương sống và tập trung ở một số họ như Heterorhabditidae, Rhabditidae, Sphaerulariidae, Steinernematidae, và Tetradonematidae
1.2.Tình hình nghiên cứu giun tròn ký sinh ở động vật không xương sống ở Việt Nam
Nghiên cứu về giun tròn ký sinh (Nematoda) ở động vật có xương sống của Việt Nam đã được tiến hành từ khá lâu, trên nhiều đối tượng vật chủ khác nhau như thú, chim, bò sát, ếch nhái và cá Nhiều công trình công bố của các tác giả trong và ngoài nước đã mô tả và thống kê thành phần loài giun tròn ký sinh ở hầu hết các nhóm động vật Trong khi đó nghiên cứu về giun tròn ký sinh ở động vật không xương sống (ĐVKXS) mới chỉ được quan tâm tiến hành từ khoảng hơn hai chục năm lại đây, mặc dù đây là nhóm động vật không những rất đa dạng về thành phần loài, nơi sống mà còn đóng một vai trò rất quan trọng trong các hệ sinh thái nông, lâm nghiệp
Có thể nói ở Việt Nam, những nghiên cứu đầu tiên về giun tròn ký sinh ở động vật không xương sống được tiến hành từ năm 1985 thông qua chương trình hợp tác khoa học giữa Viện Ký sinh trùng (Viện Hàn Lâm khoa học Nga) và Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) Thời gian qua, các tác giả Phạm Văn Lực, Spiridonov S.E., Ivanova E.C đã có
Trang 6của Việt Nam Một số nhà khoa học khác ở Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật như :Nguyễn Ngọc Châu, Phan Kế Long [1; 2; 37] đã nghiên cứu vai trò của giun tròn ký sinh ở động vật không xương sống như một tác nhân sinh học để kiểm soát côn trùng gây hại Đây là một hướng nghiên cứu đang được các nhà khoa học Việt Nam và Nga quan tâm phát triển, được tiến hành trên nhiều loài vật chủ khác nhau ở nhiều vùng địa lý - sinh thái khác nhau nhằm bổ sung thêm dẫn liệu về khu hệ giun tròn ký sinh ở động vật Việt Nam
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu vẫn còn rải rác Các nghiên cứu này chủ yếu mới chỉ tập trung vào nhóm giun tròn ký sinh ở côn trùng ( Spiridonov
& Luc 1986[53], 1994[55]; Luc & Spiridonov 1988[38], 1990[39]; Ivanova & Luc 1989[20], 1997[21]; Luc et al 1993[40;41], 2008[44], 2009[45]) Bước đầu
nghiên cứu thành công loài giun tròn Steinernema spp trong việc sử dụng như
tác nhân sinh học tiêu diệt côn trùng gây hại góp phần nâng cao sản xuất nông nghiệp (Luc & Chinh 1999[3]; Luc et al 2000)[42] Nghiên cứu đưa ra một số biện pháp phòng chống gián nhà (Thinh et al 1995) [4], công bố một số loài giun mới ký sinh ở giun đất, ốc núi (Luc et al 2005[43]; Spiridonov et al 2007[58;59;60;61]) Gần đây nhất Phạm Văn Lực cùng với những nhà khoa học Nga đã có ghi nhận đối với giun tròn ký sinh ở động vật không xương sống trên cạn ở một số vùng ở Việt Nam
Kết quả bước đầu điều tra về thành phần loài giun tròn ký sinh ở một số loài động vật không xương sống của các tác giả tại Việt Nam đã thống kê được 41 loài giun tròn thuộc 14 họ được thể hiện qua bảng dưới đây:
TT Tên loài giun tròn ký sinh Nơi ký sinh Vật chủ
Họ Angiostomatidae Dujardin, 1845
1 Angiostoma coloaense Pham Van Luc,
Spiridonov S.E., 2005
Xoang tuyến tiêu hoá
Ốc cạn
(Cyclophorus sp.)
2 Aulacnema monodelphis Pham Van Luc, Xoang cơ thể Ốc cạn
Trang 74 Cephalobium montanum Spiridonov
Dế mèn
(Teleogryllus derelictus)
Họ Drilonematoidea Timm, 1967
5 Unicorninema montanum Ivanova
E.C.& Pham Van Luc, 1997 Ruột Giun đất (Amynthas
robustus)
6 Siconema ovispicatum Spiridonov S.E.,
Ivanova E.S, Pham Van Luc, 2007 Xoang miệng Giun đất (Pheretima
leucocirca)
7 Siconema hatayense Ivanova E.S.&
leucocirca)
8 Siconema laticaudatum Ivanova E.S.&
10 Perodira minuta Spiridonov S.E.,
Ivanova E.S., Pham Van Luc, 2007 Ruột Giun đất (Pheretima
leucocirca)
11 Homungella sp Spiridonov et al 2007
Xoang miệng Giun đất (Pheretima
leucocirca)
Họ Hystrignathidae Kloss, 1960
12 Hystrignatus rigidus Leydy, 1850
Ruột Bọ hung họ
Trang 8Họ Ichthyocephalidae Travassos et Kloss, 1958
13 Ichithyocephaloides comatus Hunt D.J.,
(Thyropygus sp.)
14 Xystrognathus phrissus Hunt D.J., at al.,
16 Pteronemella macropapilata Rao, 1958
Ruột Dế dũi (Gryllotalpa
africana)
17 Indiana coimbatoriensis Latheef et
Họ Rhigonematoidea (Sanchez, 1947) Kloss, 1960
22 Gryllophila skrjabini (Sergiev, 1923)
africana, G.vulgaris,
Trang 9G.europeae)
23 Cameronia multiovata Leibersperger,
africana)
24 Severianoia annamensis pham Van Luc
and Srgei E Spiridonov, 1993 Ruột già Gián (Pycnoscelus
29 Chitwoodiella ovofilamenta Basir, 1948
Ruột Dế dũi (Gryllotalpa
africana)
30 Chitwoodiella thapari Travassos,1953
Ruột Dế dũi (Gryllotalpa
africana)
31 Singhiella singhi Rao,1958
Ruột Dế dũi (Gryllotalpa
africana)
32 Mirzaiella asiatica Basir,1942
Ruột Dế dũi (Gryllotalpa
africana)
33 Indiana coimbutoriensis Latheef &
africana)
34 Binema mirzaia (Basir, 1923) Basir,
africana)
Trang 10Basir,1956 africana)
36 Binema ornata Travassos, 1925
Ruột Dế dũi (Gryllotalpa
africana)
Họ Ungellidae Cobb, 1928
37 Synoecnema tuliemense Ivanova E.C.,
Pham Van Luc, 1989
Ruột, xoang
cơ thể
Giun đất (Pheretima leucocirca)
Luận văn tiến hành nghiên cứu giun tròn ký sinh ở động vật không xương sống trên cạn ở Vườn Quốc gia Cúc Phương và Tam Đảo là hướng nghiên cứu mới nhằm bổ sung thêm những dẫn liệu mới về đa dạng giun tròn kí sinh động vật không xương sống ở Việt Nam
Sở dĩ điều tra sự đa dạng về thành phần loài giun tròn ký sinh ở dộng vật không xương sống ở Vườn quốc gia Cúc Phương và Tam đảo bởi đây là 2 Vườn quốc gia có điều kiện tự nhiên rất thích hợp cho hệ động vật không xương sống phát triển Hơn nữa, đây cũng là 2 vườn có tầm quan trọng của khu vực phía bắc của Việt Nam về giá trị khoa học và bảo tồn
1.3 Đặc điểm tự nhiên của Vườn Quốc gia Cúc Phương và Tam Đảo
Trang 111.3.1 Đặc điểm tự nhiên Vườn quốc gia Cúc Phương
Vườn Quốc gia Cúc Phương (hay rừng Cúc Phương) là một khu bảo tồn thiên nhiên, khu rừng đặc dụng nằm trên địa phận ranh giới 3 khu vực Tây Bắc, đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ thuộc ba tỉnh: Ninh Bình, Hòa Bình, Thanh Hóa Vườn quốc gia này có hệ động thực vật phong phú đa dạng mang đặc trưng rừng mưa nhiệt đới Nhiều loài động thực vật có nguy cơ tuyệt chủng cao được phát hiện và bảo tồn tại đây Đây cũng là vườn quốc gia đầu tiên tại Việt Nam Vườn được thành lập năm 1966 với diện tích 22.200 ha
* Địa hình - Thủy văn
Cúc Phương nằm ở phía đông nam của dãy núi Tam Điệp, một dãy núi đá vôi chạy từ tỉnh Sơn La ở hướng tây bắc Dải núi đá vôi này với ưu thế là kiểu karst tự nhiên, hình thành trong lòng đại dương cách đây khoảng 200 triệu năm Dãy núi này nhô lên đến độ cao 636 m tạo thành một nét địa hình nổi bật giữa một vùng đồng bằng Phần dãy núi đá vôi bao quanh vườn quốc gia có chiều dài khoảng 25 km và rộng đến 10 km, ở giữa có một thung lũng chạy dọc gần hết chiều dài của dãy núi Địa hình karst ảnh hưởng rõ nét đến hệ thống thủy văn của Cúc Phương Phần lớn nước trong vườn quốc gia bị hệ thống các mạch nước ngầm hút rất nhanh, nước sau đó thường chảy ra ở những khe nhỏ ở bên hai sườn của vườn quốc gia Do vậy, không có các ao hồ tự nhiên hay các thủy vực tĩnh nằm trong vườn, mà chỉ có một dòng chảy thường xuyên là sông Bưởi Con sông này nằm ở phía tây của vườn, chảy đổ vào sông Mã Rừng Cúc Phương còn đóng vai trò bảo vệ đầu nguồn hồ chứa nước Yên Quang Hồ cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp các vùng lân cận
Trang 12số họ, 48,6% số chi và 30% số loài của miền Bắc và chiếm 68,9% số họ, 43,6%
số chi và 24,6% số loài hiện có ở Việt Nam Thảm thực vật Cúc Phương với ưu thế là rừng trên núi đá vôi Rừng có thể hình thành nên nhiều tầng tán đến 5 tầng
rõ rệt, trong đó tầng vượt tán đạt đến độ cao trên 40 m Do địa hình dốc, tầng tán thường không liên tục và đôi khi sự phân tầng không rõ ràng Nhiều cây rất phát triển hệ rễ bạnh vè để đáp ứng với tầng đất mặt thường mỏng Vườn quốc gia hiện là nơi có nhiều loài cây gỗ lớn như chò xanh, chò chỉ hay đăng Đây cũng
là nơi phong phú về các cây gỗ và cây thuốc Cúc Phương có hệ thực vật phong phú Hiện nay, các nhà khoa học đã thống kê được gần 2.000 loài thực vật có mạch thuộc 887 chi trong 221 họ thực vật Vườn quốc gia Cúc Phương cũng được xác định là 1 trong 7 trung tâm đa dạng thực vật của Việt Nam Vườn có diện tích 22.000ha, trong đó 3/4 là núi đá vôi cao từ 300 đến 600m so với mặt biển Tại đây có đỉnh Mây Bạc cao 648,2m
Khí hậu ở Cúc Phương thuộc loại khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm khoảng 24,7°C Địa hình phức tạp, rừng ở dạng nguyên sinh
- Động vật
Rừng Cúc Phương có hệ sinh thái khá phong phú và đa dạng, gồm 97 loài thú (trong đó nổi bật nhất là các loài khỉ châu Á), 137 loài chim, 76 loài bò sát, 46 loài lưỡng cư, 11 loài cá và hàng ngàn loài côn trùng Cúc Phương là nơi sinh sống của một số quần thể thú quan trọng về mặt bảo tồn, trong đó có loài linh trưởng đang bị đe dọa tuyệt chủng trên toàn cầu ở mức đe dọa cực kỳ nguy cấp Nhiều nhóm sinh vật khác cũng đã được điều tra, nghiên cứu ở Cúc Phương trong đó có ốc Khoảng 111 loài ốc đã được ghi nhận trong một chuyến điều tra gần đây trong đó có 27 loài đặc hữu
1.3.2 Đặc điểm tự nhiên Vườn quốc gia Tam Đảo
Vườn quốc gia Tam Đảo là một vườn quốc gia nằm trọn trên dãy núi Tam Đảo, một dãy núi lớn dài trên 80 km, rộng 10-15 km chạy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam Vườn trải rộng trên ba tỉnh Vĩnh Phúc (huyện Tam Đảo), Thái
Trang 13Nguyên (huyện Đại Từ) và Tuyên Quang (huyện Sơn Dương) Vườn được thành lập năm 1996 với diện tích 34.995 ha (368,83 km²)
Tọa độ địa lý của Vườn quốc gia Tam Đảo: 21°21'-21°42' vĩ Bắc và 105°44' kinh Đông
105°23'-* Địa hình
Vườn quốc gia Tam Đảo là vùng núi cao nằm trọn trong dãy núi Tam Đảo Đây là dãy núi có trên 20 đỉnh cao từ 1.000m trở lên so với mặt nước biển, cao nhất là đỉnh Tam Đảo Nord 1.592m Địa hình ở đây có đặc điểm là đỉnh nhọn, sườn rất dốc, độ chia cắt sâu, dày bởi nhiều dông phụ gần như vuông góc với dông chính
*Thổ nhưỡng
Vườn quốc gia Tam Đảo có 4 loại đất chính gồm đất Feralit mùn vàng phát triển trên đá macma axít, xuất hiện ở độ cao từ 700 m trở lên, có diện tích 8.968 ha; đất feralit mùn vàng đỏ phân bố trên núi thấp từ độ cao 400-700 m, phát triển trên đá macma kết tinh có diện tích 9.292 ha; đất feralit đỏ vàng phát triển trên nhiều loại đá khác nhau ở độ cao 100-400 m, có diện tích 1.7606 ha;
và cuối cùng là loại đất đất dốc tụ và phù sa ở độ cao từ 100 m trở xuống có diện tích 1.017 ha
*Diện tích, kiểu rừng
Vườn quốc gia Tam Đảo rộng 34.995 ha, trong đó có 26.163 ha rừng, chủ
Trang 14tích toàn vườn Ngoài ra, trong Vườn quốc gia Tam Đảo cũng tồn tại một số kiểu rừng khác như rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp, rừng lùn trên đỉnh núi, rừng tre nứa, rừng phục hồi sau khai thác, rừng trồng, trảng cây bụi, trảng cỏ
*Động, thực vật
Vườn quốc gia Tam Đảo có 1.282 loài thực vật thuộc 660 chi thuộc 179
họ thực vật bậc cao có mạch, trong đó có các loài điển hình cho vùng cận nhiệt đới Có 42 loài đặc hữu và 64 loài quý hiếm cần được bảo tồn và bảo vệ
Vườn quốc gia này cũng có 163 loài động vật thuộc 158 họ của 39 bộ,
trong 5 lớp là: thú (Mammalia); chim (Aves); bò sát (Reptilia); ếch nhái (Amphibia) và côn trùng (Insecta) Vườn có tới 239 loài chim với nhiều loài có
màu lông đẹp như vàng anh, sơn tiêu trắng, sơn tiêu hồng, sơn tiêu đỏ, có những loài quý hiếm như gà tiền, gà lôi trắng; có 64 loài thú với những loài có giá trị như sóc bay, báo gấm, hổ, gấu ngựa, cầy mực, vượn, voọc đen, v.v Có 39 loài động vật đặc hữu, trong đó có 11 loài loài đặc hữu hẹp chỉ có ở Vườn quốc gia
Tam Đảo như rắn sãi angen (Amphiesma angeli); rắn ráo thái dương (Boiga multitempolaris); cá cóc Tam Đảo (Paramerotriton deloustali) và 8 loài côn
trùng
CHƯƠNG II VẬT LIỆU - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 152.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.1.1 Thời gian nghiên cứu
- Từ 6/2011 - 12/2012: tiến hành 3 đợt thu mẫu vào tháng 6/2011; tháng
3/2012 và tháng 6/2012, mỗi đợt 10 ngày/vườn
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
- Vườn Quốc gia Cúc Phương- Tỉnh Ninh Bình
- Vườn quốc gia Tam Đảo- Tỉnh Vĩnh Phúc
2.2 Đối tượng nghiên cứu
- Giun tròn ký sinh ở một số nhóm động vật không xương sống trên cạn
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp thu thập mẫu vật chủ động vật không xương sống
Mẫu vật chủ được thu trực tiếp bằng tay, bẫy, vợt Sau đó mẫu vật chủ sẽ được chụp ảnh, đo kích thước và đánh số thứ tự, bảo quản một cách cẩn thận để tiện cho việc định loại Các mẫu động vật không xương sống sẽ được định loại theo khóa định loại của TENG-CHIEN YEN (1939) Sau khi thu bắt mẫu vật chủ ĐVKXS được chuyển về phòng thí nghiệm Ký sinh trùng, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật để mổ khám tìm giun tròn ký sinh Mẫu vật chủ sau khi mổ khám được định hình trong cồn để gửi đi định loại loài
2.3.2 Phương pháp thu thập mẫu giun tròn ký sinh
Sử dụng phương pháp mổ khám toàn diện Skrjabin mổ khám từ miệng đến lỗ huyệt sau đó soi trực tiếp dưới kính lúp tìm giun tròn ký sinh Sau khi kiểm tra dưới kính lúp, dùng phương pháp gạn lọc liên tục để tìm những mẫu giun tròn kích thước nhỏ còn sót lại
2.3.3 Phương pháp định hình giun tròn ký sinh
Mẫu giun tròn ký sinh thu được chia làm đôi, một nửa số mẫu giun tròn giết bằng dung dịch formalin 4% nóng, sau đó định hình trong dung dịch fomalin 4% để nghiên cứu hình thái theo hệ thống phân loại của Skrjabin et al
1996 [52], số mẫu còn lại định hình trong dung dịch cồn 70% để phân tích DNA sau này
Trang 16Làm tiêu bản tạm thời bằng cách làm trong giun tròn trong dung dịch hỗn hợp gồm glyxerine + axit lactic + nước theo tỉ lệ 1:1:1 Giun tròn có kích thước nhỏ thì chỉ làm trong bằng glyxerine, không dùng axit lactic Lên tiêu bản cố định bằng phương pháp Grisse (1969): mẫu giun tròn được thay dung dịch đình hình bằng dung dịch I (gồm formalin 4% + glycerine theo tỉ lệ 99:1), sau đó đặt mẫu trong tủ sấy ở nhiệt độ 40º trong 24h Sau khi định hình bằng dung dịch I trong 24h cho thêm vào khay mẫu 3 hoặc 4 giọt dung dịch II (gồm cồn 96% + glycerine theo tỉ lệ 95:5) cứ 2 tiếng thêm dung dịch một lần 24h tiếp theo sau khi cho dung dịch II thêm dung dịch III (gồm cồn 96% + glycerine theo tỉ lệ 50:50) vào khay mẫu để trong tủ sấy 1 ngày Mẫu giun tròn sau đó được đặt trên lam kính với lượng glycerine vừa đủ và gắn bằng sáp ong
2.3.5 Phương pháp đo, vẽ và mô tả giun tròn ký sinh
Các mẫu vật giun sán ký sinh được đo, vẽ và mô tả hình thái, cấu tạo dưới kính hiển vi quang học Olympus CH40 Chụp ảnh bằng máy ảnh Kỹ thuật số Canon
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Tỷ lệ nhiễm giun tròn ký sinh ở động vật không xương sống ở 2 vườn quốc gia Cúc Phương và Tam Đảo
Trang 17Tổng số 15 loài động vật không xương sống ở vườn quốc gia Cúc Phương
và 16 loài động vật không xương sống ở vườn quốc gia Tam Đảo đã được thu thập để mổ khám nghiên cứu giun tròn ký sinh Kết qủa nghiên cứu định loại giun tròn ký sinh được trình bày ở bảng 1 và bảng 2
Bảng 1: Tình hình nhiễm giun tròn ký sinh ở ĐVKXS ở vườn quốc gia Cúc Phương
TT Tên Vật chủ Số lượng
mổ (con)
Số lượng nhiễm (con)
Tỷ lệ nhiễm (%)
Cường độ nhiễm (giun/vật chủ)
Trang 18Tính chung 422 154 36,49 1-60
Kết quả bảng 1 cho thấy: Vườn quốc gia Cúc Phương có 10/15 loài động vật không xương sống nhiễm giun tròn ký sinh với cường độ nhiễm cao nhất 60 giun/vật chủ, tỷ lệ nhiễm giun tròn cao nhất gặp ở ốc cạn với 6 loài Trong đó,
có những loài nhiễm với tỷ lệ cao như ốc Aegista sp., ốc Helicarion sp đạt 100%, ốc Cyclophorus sp đạt 52% , trong 4 loài còn lại thì cuốn chiếu
nhiễm với tỷ lệ cao 95,45%, sâu đá 56,25%, giun đất 56,67%, gián 57,89% Tỷ
lệ nhiễm giun tròn chung cho một số nhóm động vật không xương sống của vườn quốc gia Cúc Phương là 36,49%
Bảng 2: Tình hình nhiễm giun tròn ký sinh ở ĐVKXS ở vườn quốc gia Tam
Đảo
TT Tên Vật chủ
Số lượng
mổ (con)
Số lượng nhiễm (con)
Tỷ lệ nhiễm (%)
Cường độ nhiễm (giun/vật chủ)
Trang 19Ở Vườn quốc gia Tam Đảo đã thu được 16 loài động vật không xương sống khác nhau, trong đó có 8/16 loài nhiễm giun tròn ký sinh Giun tròn ký sinh tìm thấy chủ yếu ở cuốn chiếu, sâu đá, gián đất và bọ ăn lá Tỷ lệ nhiễm giun tròn cao nhất ở sâu đá, bọ ăn lá (100%), cuốn chiếu (80,35%) và gián (68,35%) (bảng 2) Ngoài ra, giun tròn còn được phát hiện ký sinh ở giun đất, dế dũi, ấu trùng cánh cứng, tỷ lệ nhiễm giun tròn chung của động vật không xương sống ở Vườn quốc gia Tam Đảo là 24,32% Tỷ lệ nhiểm giun tròn chung của động vật không xương sống vườn quốc gia Tam Đảo thấp hơn tỷ lệ nhiễm chung của vườn quốc gia Cúc Phương, tuy nhiên, vườn quốc gia Tam Đảo lại có độ đa dạng về động vật không xương sống hơn Vườn quốc gia Cúc Phương với nhiều loài động vật khác nhau, ở Vườn quốc gia Cúc Phương thì chủ yếu thu được ốc núi, với 9 loài ốc khác nhau, trong đó có 6/9 loài nhiễm giun tròn, ở vườn quốc gia Tam Đảo thu được 2 loài ốc nhưng không nhiễm giun tròn, các nhóm khác thì ở Tam Đảo có sự đa dạng về thành phần nhóm động vật không xương sống (14/16 loài) hơn so với Cúc Phương (5/15 loài) Sở dĩ có sự khác biệt trên là do
Trang 20Vườn quốc gia Tam Đảo có điều kiện tự nhiên, địa hình, thổ nhưỡng và điều
kiện khí hậu thích hợp hơn cho động vật không xương sống phát triển
Biểu đồ 1: Tình hình nhiễm giun tròn ở ĐVKXS ở hai VQG
3.2 Thành phần loài giun tròn ký sinh ở động vật không xương sống
Phân tích mẫu giun tròn ký sinh thu được chúng tôi định loại được 44 loài
giun tròn ký sinh thuộc 12 họ (bảng 3)
Trong tổng số 44 loài giun tròn ký sinh đã được thu thập ở các động vật
không xương sống tại Vườn Quốc gia Cúc Phương và Tam Đảo thì có đến 21
loài thuộc 7 họ là những loài lần đầu tiên được phát hiện và mô tả tại Việt Nam,
38 loài lần đầu phát hiện và mô tả ở hai vườn quốc gia Cúc Phương và Tam
Đảo, 23 loài khác đã được các tác giả trước đó nghiên cứu và mô tả Trước đây,
mới chỉ có một số công trình mô tả giun tròn ký sinh ở giun đất ở vườn quốc gia
Cúc Phương Về thành phần loài giun tròn ký sinh giữa 2 Vườn Quốc gia thì
VQG Tam Đảo có thành phần loài đa dạng hơn với 36 loài thuộc 11 họ so với
26 loài thuộc 9 họ ở VQG Cúc Phương Sự khác biệt về số lượng thành phần
loài giun tròn là do sự khác biệt về thành phần loài vật chủ, ở VQG Tam Đảo có
Trang 21thành phần loài vật chủ đa dạng hơn VQG Cúc Phương Trong số 21 loài lần đầu tiên được nghiên cứu và mô tả ở Việt Nam, vườn Quốc gia Cúc Phương có 9 loài, vườn Quốc gia Tam Đảo có 18 loài Có thể nói Vườn quốc gia Tam Đảo có
độ đa dạng về động vật không xương sống và thành phần loài giun tròn ký sinh trên chúng hơn vườn quốc gia Cúc Phương một cách khá rõ rệt
Trong số 44 loài giun tròn ký sinh thu được thì có loài Rhabditis sp thuộc
họ Rhabditidae ký sinh ở cuốn chiếu (Trigoniulus corallines) được đánh giá là
có tiềm năng đóng vai trò sử dụng làm yếu tố kiểm soát sinh học đối với quần thể cuốn chiếu Trên thế giới, có rất nhiều công trình công bố việc sử dụng hiệu
quả loài Rhabditis necromena là tác nhân kiểm soát sinh học đối với loài cuốn chiếu Ommatoiulus moreletii ở Áo (Sudhaus & Schulte, 1989), Bồ đào nha
(Marc et al 2003) Vì số mẫu giun tròn ký sinh ở cuốn chiếu thu được còn ít nên chúng tôi chưa định loại đến loài Đây là loài giun tròn quan trọng có thể được
sử dụng để kiểm soát sinh học đối với loài cuốn chiếu Trigoniulus corallines ở
Việt Nam Vì vậy, loài giun tròn này cần nghiên cứu thêm về hình thái, sinh học, sinh thái cũng như sinh học phân tử
Trang 22Bảng 3: Thành phần loài giun tròn ký sinh ở động vật không xương sống ở hai VQG Cúc Phương và Tam Đảo
Nơi phát hiện trước kia
VQG Cúc Phương
VQG Tam Đảo
Họ Angiostomatidae Dujardin, 1845
1 Angiostoma coloaense Pham Van Luc,
2 Angiostoma sp.* Ốc núi (Megaustenia sp), ốc
3 Aulacnema monodelphis Pham Van Luc,
Họ Drilonematoidea Timm, 1967
4 Unicorninema montanum Ivanova E.C
& Pham Van Luc, 1997 (Hình 24) Giun đất (Amynthas robustus) VQG Cúc
5 Siconema ovispicatum Spiridonov S.E.,
Ivanova E.S, Pham Van Luc, 2007 (Hình 25)
Giun đất (Pheretima leucocirca)
VQG Cúc
6 S laticaudatum Ivanova E.C
& Pham Van Luc, 1997 (Hình 26)
Giun đất (Pheretima leucocirca)
VQG Cúc
Trang 238 Perodira minuta Spiridonov S.E.,
Ivanova E.S., Pham Van Luc, 2007 (Hình 27)
Giun đất (Pheretima leucocirca)
Họ Ichthyocephalidae Travassos et Kloss, 1958
10 Ichthyocephaloides comatus Hunt D.J.,at al.,
11 Xystrognathus phrissus Hunt D.J.,
at al., 2002 (Hình 29) Cuốn chiếu (Thyropygus sp.) Sơn Dương
Họ Rhigonematoidae (Sanchez, 1947) Kloss, 1960
12 Rhigonema Africana* Dollfus, 1964 ấu trùng cánh cứng
13 Rhigonema longicaudatum* Dollfus, 1952 Gián (Phân họ Panensthiinae) x x
14 Rhigonema eringtoni* Waerebeke, 1986 Cuốn chiếu (Thyropygus sp.) x
Trang 2415 Dudekemia brevicaudata* Artigas, 1930 ốc núi Cyclophorus sp; sp8; sp9 x
16 Dudekemia insularis* Ruiz et Coelho, 1955 ốc núi Cyclophorus sp, ốc
20 Severianoia annamensis Pham Van Luc and
Sergei E Spiridonov, 1993 (Hình 31) Gián (Phân họ Panensthiinae) Quảng Trị x
22 Gryllophila Skrjabini (Sergiev, 1923), Basir,
Trang 25Leibersperger, 1960
29 Leidynemella panesthiae
*
(Gabeb, 1878)
31 Travassosinema sp (Hình 38) Cuốn chiếu (Thyropygus sp.),
Họ Hystrignathidae Kloss, 1960
Trang 2636 Christiella sp.* Gián (Phân họ Panensthiinae) X
37 Mentecle parvus* Travassos et Kloss, 1958 Ấu trùng cánh cứng
Họ Hethidae Travassos et Kloss, 1960
38 Heth artigasi* Dolfus, 1952 Cuốn chiếu (Thyropygus sp.) x X
39 Heth sp (Hình 42) Cuốn chiếu (Thyropygus sp.) Việt Nam X
Họ Travassosinematidae Rao, 1958
40 Chiwoodiella ovofilamenta Basir, 1958 (H 35) Dế dũi (Gryllotalpa africana) Hà Tây X
42 Mirzaiella asiatica Basir, 1942 (Hình 37) Dế dũi (Gryllotalpa africana) Hà Tây X
43 Indiana coimbutoriensis Latheef & Seshadri,
VQG: Vườn quốc gia
X : Loài có mặt ở địa điểm nghiên cứu
*: Loài lần đầu được phát hiện và mô tả ở Việt Nam
Trang 273.3 Mô tả thành phần loài giun tròn kí sinh ở động vật không xương sống ở hai vườn quốc gia Cúc Phương và Tam Đảo:
1, Loài Angiostoma sp
Vật chủ: Ốc núi (Megaustenia sp.), Ốc (Saturnia sp.)
Nơi thu mẫu: ruột
Địa điểm thu mẫu: VQG Cúc Phương
Cơ thể có kích thước nhỏ, thon nhỏ dần về hai đầu, đỉnh đầu hơi phẳng, vỏ cutin
có nhiều nếp gấp ở dọc cơ thể Phần cuối cơ thể thon nhỏ mạnh, tạo thành đuôi mảnh và nhọn
Xoang miệng hình chén, phần miệng hơi lõm và nhỏ hơn một chút phần đáy Hầu hình trụ, ngắn, mảnh Thực quản có thành dày, chia 2 phần riêng biệt: thân và hành thực quản; phần chiều rộng lớn nhất của thực quản nằm ở phần thân Thân thực quản hình chùy ngược, phần trước phình rộng, thon nhỏ dần về phía sau, đến gần phần hành thực quản lại hơi phình rộng lại một chút Hành thực quản hình cầu, nhưng chiều ngang nhỏ hơn chiều dài và nhỏ hơn chiều rộng lớn nhất của phần thân thực quản.Vòng thần kinh ở phần eo thắt của thân thực quản
Lỗ bài tiết ở ngang mức phần phình to của hành thực quản Ruột phát triển “Phasmids” bị tiêu biến
Hình thái cơ thể không có hiện tượng dị hình sinh dục, con đực và con cái khác biệt không nhiều
Con cái (n=5):
Cơ thể mảnh, thon nhỏ hai đầu, dài 4,303-6,315 mm, chiều rộng lớn nhất 0,09 – 0,164 mm Thực quản dài 0,270 - 0,318 mm, rộng 0,054 – 0,066 mm; vòng thần kinh cách đầu 0,205 – 0,263 mm Lỗ bài tiết cách đầu 0,295 – 0,340mm
Lỗ sinh dục hình khe, không lồi lên, cách mút đuôi 2,71 mm, âm đạo có kích thước 0,042 mm, đuôi dài 0,215 – 0,293mm Trứng có số lượng nhiều, hình elip, kích thước 0,05 – 0,08 x 0,031 – 0,05 mm
Trang 28Hình 1 Loài Angiostoma sp
1 Hình thái chung con đực; 2 Hình thái chung con cái; 3 Đầu con đực; 4 Thực quản con cái; 5 Đuôi con cái; 6 Đầu con cái; 7 Buồng trứng con cái; 8, 10 Đuôi con đực, mặt bên; 9 Đầu con cái, mặt bụng; 11 Gai giao phối đực; 12 Đầu; 13 Đuôi con đực, mặt bụng; 14 Phần lỗ huyệt con đực
Con đực (n=.3.):
Cơ thể mảnh, thon nhỏ hai đầu, dài 0,46 – 0,48 mm, chiều rộng lớn nhất 0,122 -0,124 mm, Cánh bên kéo dài tới túi đuôi Thực quản dài 0,24 - 0,28
mm, hành thực quản dài 0,06 – 0,072 mm và rộng 0,018 – 0,024 mm Vòng thần kinh cách đầu 0,18 – 0,20 mm, lỗ bài tiết ách đầu 0,31 – 0,33 mm Có 9 cặp núm đuôi, phasmids nằm ở mút đuôi Hệ sinh dục đơn, có 1 ống sinh tinh hình sợi, cong, dài 0,794 mm Túi sinh dục dài 0,016 mm, rộng 0,009 mm, nón sinh dục nhỏ Gai giao phối ngắn, hình đinh, dài 0,1 – 0,108 mm, rộng nhất 0,012 – 0,015 mm, cong hình lưỡi liềm, thon nhỏ dần từ gốc đến mút gai, gốc gai không phình rộng, mút gai nhọn
Trang 292, Loài Rhigonema africana Dollfus, 1964
Vật chủ: ấu trùng cánh cứng (Tropisternus collaris)
Nơi thu mẫu: ruột
Địa điểm thu mẫu: VQG Cúc Phương, Tam Đảo
Lỗ sinh dục cách đỉnh đầu 3,05 mm, cách mút đuôi 2,15 mm, đuôi dài 0,078 mm Trứng hình elip, kích thước trứng 0,081 x 0,055 mm
Con đực Không có mẫu
Hình 2 Loài Rhigonema africana Dollfus, 1964
Hình thái chung con cái
3, Loài Rhigonema longicaudatum Dollfus, 1952
Vật chủ: Gián (Phân họ Panensthiinae)
Trang 30Nơi thu mẫu: ruột
Địa điểm thu mẫu: VQG Cúc Phương, Tam Đảo
Cơ thể màu trắng đục, kích thước hơi nhỏ, phần sau cơ thể thon nhỏ nhanh hơn phần trước cơ thể Vỏ cutin có vân ngang mờ
Xoang miệng hình chén, chiều sâu ngắn hơn chiều rộng, miệng có 2 môi Thực quản chia 2 phần thân và hành rất rõ Thân thực quản hình chùy, ngắn, mập, phình rộng về phía sau, thành thực quản dày Hành thực quản gần tròn, đường kính nhỏ hơn chiều ngang phần thân thực quản, không có van Hành thực quản phân tách với thân thực quản và ruột bởi rãnh ngang Lỗ bài tiết nằm ở ngang vùng nối giữa thực quản và hành thực quản
Hình 3: Loài Rhigonema longicaudatum Dollfus, 1952
1 Đầu con cái; 2 Xoang miệng con cái; 3 Xoang miệng con đực
4 Đuôi con cái; 5,6 Đuôi con đực
Con cái (n=7): Cơ thể dài 3,58 – 3,80 mm, chiều rộng lớn nhất 0,2 – 0,23
mm Phần sau cơ thể thon nhỏ nhanh, tạo thành đuôi mảnh, nhọn, dài 0,30 – 0,31 mm Thực quản dài 0,36 - 0,4 mm, xoang miệng dài 0,0023 – 0,0025 mm
Trang 31Lỗ sinh dục hình khe, không nhô lên khỏi cơ thể, cách đỉnh đầu 1,884 – 2,15
mm Mỗi tử cung chứa 34 – 84 trứng, kích thước trứng 0,069 – 0,089 x 0,071
mm
Con đực (n=3): Cơ thể dài 2,9 – 3,0 mm, rộng cơ thể 0,18 – 0,19 mm,
đuôi dài 0,179 – 0,196 mm Thực quản dài 0,16 – 0,18 mm Phần thân sau lỗ huyệt thon nhỏ mạnh, phần cuối đuôi hình trâm cài đầu, mảnh và nhọn Hai gai giao phối mập, cong hình quả chuối tiêu, thon nhỏ hai đầu, dài 0,185 – 0,210
mm, có một số gờ dọc trên thân gai, mút gai tương đối nhọn
4, Loài Rhigonema eringtoni Waerebeke, 1986
Vật chủ: Cuốn chiếu (Thyropygus sp.)
Nơi thu mẫu: ruột
Địa điểm thu mẫu: VQG Tam Đảo
Hình 4: Loài Rhigonema eringtoni Waerebeke, 1986
1 Cơ thể con cái; 2 Đầu con cái từ mặt bên; 3.Đỉnh đầu con cái
4 Xoang miệng; 5 Thực quản; 6 Tử cung con cái; 7 Cấu tạo chi tiết
tử cung con cái; 8 Mặt bên con đực; 9 Mặt bụng đuôi con đực; 10 Gai sinh dục; 11 Gai sinh dục con trưởng thành
Trang 32Cơ thể kích thước trung bình, hình sợi, thon nhỏ dần từ đỉnh đầu tới mút đuôi, chiều rộng lớn nhất ngay ở vùng thân trước
Thực quản to, ngắn, mập, thành cơ dày, chia 3 phần: thân, cổ, hành, các phần nối liền nhau, không có rãnh ngang phân cách Thân thực quản hình lọ lục bình, loe trên, sau đó thắt lại một chút rồi lại phình rộng, chiều ngang lớn hơn hành thực quản Cổ thực quản ngắn và khá hẹp Hành thực quản hình cầu, chiều dọc lớn hơn chiều ngang một chút, không có các van Vòng thần kinh nằm ở phần thắt của thân thực quản, lỗ bài tiết ở trước gốc thân thực quản một chút Ruột lớn, thẳng
Lỗ sinh dục dạng khe nứt, không lồi lên trên bề mặt cơ thể, cách đỉnh đầu 3,09 mm Có 2 buồng trứng, đi về hai phía trên và dưới lỗ sinh dục Trứng hình ovan tròn, số lượng ít, kích thước 0,091 – 0,099 x 0,068 – 0,074 mm
Hai gai giao phối bằng nhau, dài 0,14 mm; hình đinh, cong hình liềm, thon nhỏ từ gốc đến mút gai, giữa thân gai có gờ dọc lồi lên, mút gai nhỏ, nhọn Ống sinh tinh gấp khúc Có 2 đôi núm trước huyệt, 1 đôi ngay sát huyệt, 2 đôi sau huyệt và 8 núm sau huyệt khác, không xếp thành các đôi
Trang 335, Loài Dudekemia brevicaudata Artigas, 1930
Vật chủ: ốc núi Cyclophorus sp.; Ốc Helicarion sp.; Ốc Macrochlamys sp
Nơi thu mẫu: ruột
Địa điểm thu mẫu: VQG Cúc Phương
Thực quản to, ngắn, mập, thành cơ dày, chia 3 phần: thân, eo thắt, hành, các phần nối liền nhau, không có rãnh ngang phân cách Thân thực quản hình lọ lục bình, loe trên, sau đó thắt lại một chút rồi lại phình rộng, chiều rộng lớn nhất lớn hơn chiều ngang của hành thực quản
Hình 5: Loài Dudekemia brevicaudata Artigas, 1930
1 Thực quản; 2 Xoang miệng; 3 Cơ thể con cái; 4 Đầu con cái; 5 Mặt
Trang 34Con đực (n=4):
Cơ thể dài 2,2 - 2,36 mm, chiều rộng lớn nhất 0,86 - 0,09 mm, môi cao 0,005 mm Thực quản dài 0,22 - 0,25 mm, hành thực quản 0,072 - 0,08 x 0,11- 0,12 mm Đuôi hình nón, ngắn, mập
Cơ quan sinh dục đơn Hai gai giao phối bằng nhau, hình lưỡi liềm, cấu tạo đoen giản, dài 0,28 mm Có 4 đôi núm trước huyệt, 2 đôi giữa huyệt và 4 đôi núm sau huyệt nhưng 4 đôi sau quan sát không rõ, có 2 cánh đuôi bên
6, Loài Dudekemia insularis Ruiz et Coelho, 1955
Vật chủ: ốc núi Cyclophorus sp., ốc Aegista sp.; ốc Pterocyclos sp
Nơi thu mẫu: ruột
Địa điểm thu mẫu: VQG Cúc Phương
Cơ thể có kích thước trung bình, phần trước cơ thể hình trụ, phần sau hơi thon dần, vỏ cutin phẳng Đuôi hình nón, rất ngắn và nhọn
Thực quản ngắn, mập, chia làm 2 phần: thân và hành Thân thực quản hình lục bình, thành dày, chiều rộng lớn nhất nhỏ hơn hành thực quản Hành thực quản lớn, hình cầu, chứa cơ quan tuyến Ruột thẳng, lớn
Trang 35Lỗ sinh dục ở mặt bụng, ở khoảng giữa thân, cách lỗ hậu môn 1,6 – 2,23
mm Tử cung cơ hóa, chứa nhiều trứng, dài 0,38 – 0,84 mm tử cung Ống phóng trứng hướng về phía trước Trứng hình elip, màng mỏng, kích thước 0,078 – 0,103 x 0,065 – 0,078 mm, chứa phôi bào
Hình 6 Loài Dudekemia insularis Ruiz et Coelho, 1955
1 Hình thái chung con cái; 2 Đầu con đực; 3 Đuôi con đực, mặt bụng;
Trang 36Con đực (n=6):
Cơ thể dài 2,49 – 4,2 mm, chiều rộng lớn nhất 0,154 – 0,225 mm Đuôi hình nón, dài 0,109 – 0,141 mm, có 2 cánh bên hẹp, mút đuôi thon nhỏ tạo thành một đoạn hình trâm cài tóc
Thực quản dài 0,202 – 0,283 mm, thân thực quản dài 0,123 – 0,172 mm, rộng 0,08 – 0,104 mm Hành thực quản có kích thước 0,086 – 0,11 x 0,17 – 0,135 mm Vòng thần kinh cách đỉnh đầu 0,043 – 0,072 mm
Hệ sinh dục đơn, có 1 ống sinh tinh hơi cong dạng chữ N Hai gai giao phối dài bằng nhau, cấu tạo đơn giản, ngắn, chiều ngang ít thay đổi, phần gốc gai lớn hơn, dài 0,191 – 0,248 mm Có 9 đôi núm sinh dục gồm 4 đôi trước huyệt, 1 đôi ngay huyệt và 4 đôi sau huyệt; các núm trước huyệt phát triển, đặc biệt là đôi thứ ba và đôi thứ tư, các đôi sau huyệt phân bố theo hình chữ V
7, Loài Rhigonema truncata Artigas, 1926
Vật chủ: Cuốn chiếu (Trigoniulus corallinus)
Nơi thu mẫu: ruột
Địa điểm thu mẫu: VQG Tam Đảo
Cơ thể màu trắng đực, mập dài Cuticun có vân ngang mờ Miệng có 2 môi Thực quản ngắn mập phình rộng về phần cuối thực quản nơi tiếp giáp với hành thực quản Hành thực quản gần tròn, không có van Lỗ bài tiết nằm ở phần ngang gần chỗ nối giữa thực quản và hành thực quản
Con Cái (n=39): Chiều dài cơ thể 3,5-4,26 mm; chiều rộng lớn nhất
0,256-0,28 mm Thực quản dài: 0,272-0,29 mm Kích thước diều: 0,1-0,116 x 0,14 mm Vòng thần kinh cách mút đầu 0,128-0,192 mm Lỗ bài tiết cách mút đầu 0,28-0,328 mm Lỗ sinh dục nằm ở nửa sau cơ thể, cách đầu 2,6-3,44
0,12-mm Đuôi dài 0,148-0,16 0,12-mm Chiều rộng cơ thể tại lỗ huyệt 0,108-0,128
mm Tử cung đổ thẳng về phía sau Buồng trứng dài, chứa đầy trứng Trứng tròn có thành dầy, kích thước trứng 0,074-0,084 x 0,06-0,066 mm
Con đực (n=56): chiều dài cơ thể 3,5-4,26 mm, chiều rộng lớn nhất
0,256-0,28 mm Thực quản dài 0,272-0,292 mm, rộng nhất về phía cuối thực quản 0,12 mm Vòng thần kinh tới đầu 0,16-0,168 mm Hai gai sinh dục dài bằng
Trang 370,1-nhau, có cấu trúc đơn giản không bị kitin hóa, kích thước 0,288-0,32mm Đuôi cong về phía mặt bụng Có từ 5-6 núm đuôi
-
Hình 7a: Rhigonema truncata Artigas, 1926 (hình chụp mẫu tươi)
(1: cá thể đực, 2: cá thể cái; 3: phần đầu cơ thể; 4: vùng lỗ sinh dục; 5: đuôi cá thể đực)
Trang 38Hình 7b: Rhigonema truncata Artigas, 1926(hình vẽ)
(1: cá thể đực; 2: cá thể cá; 3: phần đầu cơ thể; 4: vùng lỗ sinh dục; 5: đuôi cá thể cái; 6: đuôi cá thể đực; 7: ống sinh dục; 8: trứng)
8, Loài Aoruroides philippinensis (Chitwood et Chitwood, 1933)
Vật chủ: Gián (Phân họ Panensthiinae)
Nơi thu mẫu: ruột
Địa điểm thu mẫu: VQG Tam Đảo
Con cái (n=32): Cơ thể thon, nhỏ Cuticun có vân ngang rõ, dài 3,28-3,6
mm, rộng nhất vùng giữa cơ thể 0.336-0.392 mm Vòng thần kinh nằm ở vùng eo thắt, cách mút đầu 0,5 mm Thực quản phình to ở phần đầu, dài 0,28-0,32 mm, rộng nhất 0,08-0,092 mm Phần eo thắt nối giữa thực quản
và hành thực quản nhỏ và dài Hành thực quản không có van, kích thước 0,152-0,168 mm x 0,128-0,16 mm Lỗ sinh dục hơi nhô ra khỏi bề mặt cơ