BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT o0o HỒ NGỌC ANH Nghiên cứu thành phần hoá học và hoạt tí
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
o0o
HỒ NGỌC ANH
Nghiên cứu thành phần hoá học và hoạt tính sinh học
của quả cây Cọ Hạ Long (Livistona halongensis
T.H.Nguyen & Kiew)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
o0o
HỒ NGỌC ANH
Nghiên cứu thành phần hoá học và hoạt tính sinh học
của quả cây Cọ Hạ Long (Livistona halongensis
T.H.Nguyen & Kiew)
Chuyên ngành: Hóa sinh học
Mã số:60.42.30
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Thị Phương Thảo
Hà Nội – 2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng, sự cảm ơn sâu sắc tới TS Trần Thị Phương Thảo- Viện Hóa học- Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam người
đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
và hoàn thiện luận văn tốt nghiệp
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến các bạn bè, đồng nghiệp ở Phòng Tổng hợp hữu cơ – Viện Hóa học đã tạo điều kiện, giúp đỡ, chỉ bảo, quan tâm tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè, các đồng nghiệp khác trong và ngoài Viện Hóa học đã luôn ủng hộ, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua
Một lần nữa, xin chân thành cảm ơn!
Học viên
Hồ Ngọc Anh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi được thực hiện tại phòng Tổng hợp hữu cơ – Viện Hóa học – Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực
Người thực hiện luận văn
Hồ Ngọc Anh
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC HÌNH, BẢNG BIỂU VÀ SƠ ĐỒ ii
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
4.1 Các phương pháp nghiên cứu lí thuyết 2
4.2 Các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm 2
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
6 Cấu trúc của luận văn 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 4
1.1 Mô tả thực vật 4
1.1.1 Đặc điểm chung về hình thái của họ Cau (Arecaceae) 4
1.1.1.1 Thân cây 4
1.1.1.2 Lá 4
1.1.1.3 Hoa 4
1.1.1.4 Quả 5
1.1.1.5 Hạt 5
1.1.2 Đặc điểm chung của chi Cọ 5
1.1.2.1 Livistona halongensis T.H.Nguyen &Kiew-Cọ hạ long 6
1.1.2.2 Livistona chinensis (Jacq.) R.Br-Cọ xẻ, Kè tàu 7
1.1.2.3 Livistona saribus (Lour) Merr.ex A.Chev-Kè nam 8
1.1.2.4 Livistona tonkinensis - Kè bắc bộ 9
1.2 Các ứng dụng 10
1.2.1 Giá trị sử dụng của một số loài trong họ Cau 10
1.2.1.1 Trồng làm cảnh 10
Trang 61.2.1.2 Dùng làm thuốc chữa bệnh 10
1.2.1.3 Lấy sợi 10
1.2.1.4 Ăn quả, lấy đường, tinh bột 11
1.2.1.5 Cho dầu béo 11
1.2.1.6 Một số công dụng khác 11
1.2.2 Công dụng của các cây trong chi Cọ (Livistona) 12
1.2.2.1 Cọ hạ long (Livistona halongensis T.H.Nguyen &Kiew) 12
1.2.2.2 Cọ xẻ (Livistona chinensis (Jacq.) R.Br) 12
1.2.2.3 Kè nam (Livistona saribus (Lour) Merr.ex A.Chev) 13
1.2.2.4 Kè bắc bộ (Livistona tonkinensis) 13
1.3 Các nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học các cây trong chi Cọ (Livistona) 13
1.3.1 Cọ Hạ Long (Livistona halongensis T.H.Nguyen &Kiew) 13
1.3.2 Cọ xẻ (Livistona chinensis (Jacq.) R.Br) 16
CHƯƠNG 2 THỰC NGHIỆM 19
2.1 Nguyên liệu, hóa chất, thiết bị nghiên cứu 19
2.1.1 Nguyên liệu 19
2.1.2 Hóa chất, thiết bị nghiên cứu 19
2.2 Phương pháp nghiên cứu 20
2.2.1 Phương pháp chiết mẫu thực vật 20
2.2.2 Phương pháp tách và tinh chế chất 20
2.2.3 Phương pháp xác định cấu trúc hóa học của các chất .20
2.3 Các nghiên cứu thực nghiệm 20
2.3.1 Sơ đồ thực nghiệm 20
2.3.2 Chạy cột sắc kí phần cao MeOH 22
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 28
3.1 Kết quả chạy cột sắc kí phần cao MeOH 28
3.2 Số liệu phổ của các chất tách được 29
3.2.1 Chất LHQM5.3 .29
Trang 73.2.2 Chất LHQM8.2 29
3.2.3 Chất LHQM9.4.1 29
3.3 Xác định cấu trúc của các chất tách đƣợc .30
3.3.1 Chất LHQM5.3: β-sitosterol glucosid 30
3.3.2 Chất LHQM8.2: Catechin 40
3.3.3 Chất LHQM9.4.1: Butan-2,3-diol 2-O-β-D-Glucopyranosid 46
3.4 Kết quả thử hoạt tính sinh học dịch chiết 53
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 55
1 Kết luận 55
2 Kiến nghị 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
Trang 8DEPT : Distortionless enhancement by polarisation transfer
DMSO : Dimetyl sulfoxit
DMSO–d6 : DMSO đã đƣợc đơteri hoá
HMBC : Heteronuclear multiple bond correlation
HMQC : Heteronuclear multiple quantum coherence
NMR : Nuclear magnetic resonance
ppm : Parts per million
Rf : Retention factor
s : Singlet (NMR)
t : Triplet (NMR)
UV : Ultraviolet
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH, BẢNG BIỂU VÀ SƠ ĐỒ
2.1 Sơ đồ thực nghiệm phân lập và xác định thành phần hóa học
2.3 Sơ đồ phân tách và tinh chế chất từ cao MeOH 23 2.4 Sơ đồ phân tách và tinh chế chất từ LHQM5 24 2.5 Sơ đồ phân tách và tinh chế chất từ LHQM8 25 2.6 Sơ đồ phân tách và tinh chế chất từ LHQM9 26 2.7 Sơ đồ phân tách và tinh chế chất từ LHQM9.4 27 3.1 Sơ đồ tổng quát phân tách và tinh chế các chất từ cao MeOH 28
3.2 Sơ đồ phân mảnh của hợp chất LHQM8.2 bởi phản ứng
3.1 Phổ 1
H-NMR (DMSO-d6, 500 MHz) của chất LHQM5.3 32 3.2 Phổ 1H-NMR (DMSO-d6, 500 MHz) của chất LHQM5.3 33 3.3 Phổ 1H-NMR (DMSO-d6, 500 MHz) của chất LHQM5.3 34 3.4 Phổ 13
C-NMR (CDCl3, 125 MHz) của chất LHQM5.3 35 3.5 Phổ 13C-NMR (CDCl3, 125 MHz) của chất LHQM5.3 36 3.6 Phổ 13
C-NMR (CDCl3, 125 MHz) của chất LHQM5.3 37 3.7 Phổ DEPT và 13C-NMR (CDCl3, 125 MHz) của chất
Trang 103.8 Phổ DEPT và 13C-NMR (CDCl3, 125 MHz) của chất
3.10 Phổ 1H – NMR (500 MHz, CD3OD) của chất LHQM8.2 44 3.11 Phổ 1H – NMR (500 MHz, CD3OD) của chất LHQM8.2 45
3.12 Phổ 13C – NMR (125 MHz, CD3OD) và DEPT của chất
3.14 Phổ 1H-NMR ((DMSO-d6, 500 MHz) của chất LHQM9.4.1 49 3.15 Phổ 1H-NMR ((DMSO-d6, 500 MHz) của chất LHQM9.4.1 50 3.16 Phổ 13
C-NMR (CDCl3, 125 MHz) của chất LHQM9.4.1 51
3.17 Phổ 13
C-NMR (CDCl3, 125 MHz) của chất LHQM9.4.1 52
3.1 Bảng 3.1 Số liệu phổ 13
C- và 1H-NMR của LHQM8.2
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Việt Nam là một trong những nước có khí hậu rất thuận lợi cho sự phát triển
hệ thực vật, và đây là m ột trong những nguồn tài nguyên cung cấp cho chúng ta nhiều loài cây quý làm thuốc chữa bệnh có giá trị cao Những năm gần đây, xu hướng tìm kiếm một số hoạt chất trong các loài thảo mộc có tác dụng chữa bệnh ngày một tăng, thu hút các nhà khoa học trong nước và khắp nơi trên thế giới tìm tòi, nghiên cứu
Nước ta có nguồn tài nguyên sinh vật rất phong phú và đa dạng, là một trong
4 vùng có tính đa dạng sinh học lớn nhất thế giới Theo các số liệu thống kê mới nhất thảm thực vật Việt Nam có trên 12000 loài, trong số đó có trên 3200 loài thực vật được sử dụng làm thuốc trong Y học dân gian [3], [4], [9]
Từ xưa đến nay, những cây thuốc dân gian vẫn đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc chăm sóc sức khoẻ cho con người Ngày nay, những hợp chất tự nhiên được phân lập từ cây cỏ, đặc biệt là các chất có hoạt tính sinh học đã được ứng dụng trong nhiều ngành công nghiệp, nông nghiệp và y học Chúng được dùng
để trực tiếp sản xuất thuốc chữa bệnh, thuốc bảo vệ thực vật, làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp thực phẩm, mỹ phẩm v.v Chúng còn được dùng như là nguồn nguyên liệu trực tiếp, gián tiếp hoặc cung cấp những chất đầu cho công nghệ bán tổng hợp nhằm tìm kiếm những chất mới, dược phẩm mới có hoạt tính, tác dụng chữa bệnh tốt hơn, hiệu quả hơn Các số liệu gần đây cho thấy, có khoảng 60% dược phẩm được dùng chữa bệnh hiện nay, hoặc đang thử cận lâm sàng đều có nguồn gốc từ thiên nhiên
Tuy nhiên , phần lớn các cây được sử dụng làm thuốc trong dân gian chưa được nghiên cứu đầy đủ và có hệ thống về mặt hóa học cũng như hoạt tính sinh học
mà chủ yếu dựa trên kinh nghiệm dân gian Vì vậy chưa phát huy hết được hiệu quả của nguồn tài nguyên quý giá này
Trong hệ thực vật Việt Nam, có nhiều loài cây thuộc chi Livistona họ Cau
(Arecaceae) có giá trị sử dụng cao, được dùng làm thuốc chữa nhiều bệnh theo kinh
Trang 12nghiệm dân gian Nhưng các công trình nghiên cứu về thành phần hoá học và hoạt tính sinh học của các hợp chất chính trong các cây thuộc chi nói trên ở nước ta hầu như rất ít, có cây còn chưa được nghiên cứu Còn các công trình nghiên cứu của nước ngoài thì được công bố chưa nhiều Vì vậy việc tiếp tục nghiên cứu thành
phần hóa học và hoạt tính sinh học của các loài cây thuộc chi Livistona ở Việt Nam
là một hướng nghiên cứu có nhiều triển vọng Do đó, chúng tôi chọn đề tài
“Nghiên cứu thành phần hoá học và hoạt tính sinh học của quả cây cọ
Hạ Long (Livistona halongensis T.H.Nguyen & Kiew)”
2 Mục đích nghiên cứu
– Thăm dò hoạt tính sinh học của các dịch chiết từ quả của cây cọ Hạ Long.– Nghiên cứu thành phần hóa học của các dịch chiết thu được
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
– Điều tra sơ bộ , thu thập , xử lí mẫu quả cây cọ Hạ Long (Livistona
halongensis T.H.Nguyen & Kiew)
– Chiết mẫu thực vật bằng các dung môi có độ phân cực khác nhau
– Thử hoạt tính sinh học của các dịch chiết thu được
– Nghiên cứu phân lập, tinh chế các hợp chất từ các dịch chiết
– Xác định cấu trúc hóa học các hợp chất phân lập được
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Các phương pháp nghiên cứu lí thuyết
– Phương pháp nghiên cứu các hợp chất tự nhiên
– Thu thập, xử lí thông tin, tham khảo các công trình nghiên cứu trong nước
và trên thế giới đã công bố về các loài cây này
– Tổng quan các tài liệu về đặc điểm hình thái thực vật, thành phần hoá học,
hoạt tính sinh học và công dụng của một số cây thuộc chi Livistona mọc ở Việt Nam
4.2 Các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
– Xử lí mẫu: nguyên liệu là quả cọ Hạ Long được rửa sạch, sấy khô và xay nhỏ
Trang 13– Nguyên liệu đã xử lí được chiết tổng số bằng dung môi metanol
– Thử hoạt tính sinh học của các dịch chiết trên một số dòng vi khuẩn và nấm, dòng tế bào, hoạt tính chống oxi hóa bằng các phương pháp tiêu chuẩn ở các nồng độ khác nhau của dịch chiết
– Phân lập, tách và tinh c hế các chất bằng phương pháp sắc kí cột kết hợp sắc kí lớp mỏng, các phương pháp kết tinh phân đoạn, kết tinh lại
– Các phương pháp khảo sát cấu trúc : kết hợp các phương pháp đo phổ hồng ngoại (FT–IR), phổ khối (EI - MS), phổ cộng hưởng từ hạt nhân một chiều (1
D NMR): 1H–NMR, 13C–NMR, DEPT, cộng hưởng từ hạt nhân hai chiều (2D NMR): COSY, NOESY, HSQC, HMBC và các phương pháp khác để xác định cấu trúc của các chất phân lập được
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
– Những kết quả về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của cây cọ Hạ
Long Livistona halongensis sẽ đóng góp vào kho tàng các hợp chất thiên nhiên của
Việt Nam và thế giới
– Tìm hiểu những đặc trưng cấu trúc nổi bật của các hợp chất có h oạt tính và khả năng biến đổi cấu trúc để có hoạt tính tốt hơn
– Góp phần định hướng sử dụng và khai thác hợp lí cây cọ Hạ Long ở Việt Nam
– Tạo cơ sở khoa học cho việc sử dụng nguồn thực vật của Việt Nam một cách hiệu quả
6 Cấu trúc của luận văn
Chương 1 – TỔNG QUAN (15 trang)
Chương 2 – CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM (9 trang)
Chương 3 – KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN (26 trang)
Ngoài ra, luận văn còn có 4 bảng và 25 hình, và 8 sơ đồ
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
Trên thế giới, họ Cau (Arecaceae) có khoảng 236 chi, 3500 loài phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới như châu Mỹ, châu Phi, châu Á và Australia Ở Việt
Nam có 39 chi, 103 loài và 2 thứ Trong đó, chi Cọ (Livistona) là một trong những
chi có nhiều ứng dụng trong cuộc sống và trong y học
(Cyrtostachys), Chi mật cật (Rhapis) Thân cây thẳng hình cột, hoá gỗ Chiều cao và
đường kính thay đổi tuỳ theo loài Thường các cây họ Cau có thân cây không phân
nhánh, đôi khi có phân nhánh như Phướn (Korthalsia laciniosa), hoặc phình to ở gốc hay ở giữa như Cau bụng (Roystonea regia), thân ngầm bò lan như Dừa nước
(Nypa fruticans), thân leo (các loài trong chi Mây (Calamus), Mây đang (Daemonorops), Liệt công (Plectocomia), Song voi (Plectocomiopsis), … hay thân
rất ngắn, gần như không thân như Mật cật gai móc (Salacca edulis) Thân cây có lóng hay có những vòng do sẹo lá để lại như chi Cau (Areca) Bề mặt thân cây có thể bị bao bọc bởi gốc lá và sợi của bẹ lá như Móc (Caryota)
1.1.1.2 Lá
Lá của các loài họ Cau (Arecaceae) là lá đơn, khi non thường nguyên, khi trưởng thành xẻ thuỳ hình lông chim hay chân vịt, cỡ lá đa dạng, có thể dài tới 1 – 2 m Cấu tạo của lá thường gồm các bộ phận như bẹ lá, cuống lá, lưỡi gốc phiến và phiến lá
1.1.1.3 Hoa
Hoa thành nhóm 2 – 3 hoa lưỡng tính như ở chi Cọ (Livistona) hay hoa lưỡng tính xếp xoắn ở chi Cọ cảnh (Trachycarpus) Hoa đực có thể xếp 2 hàng ở chi Mây (Calamus), hoa đơn tính xếp xoắn ở loài Cau may mắn (Chamaedorea
Trang 15elegans) Hoa tạo nhóm 3 : 2 hoa đực và 1 hoa cái ở giữa, nhóm 2 hoa đực hay hay
hoa đực đơn độc, hay hoa đực xếp 2 hàng về một phía của nhánh
Hoa thường mẫu 3, hoa có thể lưỡng tính ở chi Cọ (Livistona) hay đơn tính ở chi Cau (Areca), chi Búng báng (Arenga), Hoa thường có cỡ nhỏ (< 2 cm), màu xanh, vàng nhạt, kem, trắng
1.1.1.5 Hạt
Hạt 1 – 3, hình dạng và cỡ phù hợp với quả, có vỏ cứng hoặc không, phôi nhũ đồng nhất hay bị xâm nhập
1.1.2 Đặc điểm chung của chi Cọ (Livistona)
Chi Cọ (Livistona) có nhiều loài đặc hữu của Việt Nam và nhiều loài được
trồng làm cảnh, làm các đồ thủ công mĩ nghệ Một vài loài còn được ứng dụng trong y học cổ truyền để điều trị ung thư, chữa các bệnh về máu, làm thuốc trừ giun sán
Đặc điểm chung về thực vật là cây đơn độc, ra hoa nhiều lần, hoa lưỡng tính Thân lúc đầu bị bao phủ bởi bẹ lá hay gốc cuống lá tồn tại về sau trần Lá xếp gập lên trên, xẻ thuỳ hình chân vịt cách gốc 10 – 40 cm thành những thùy đơn nếp gấp
Bẹ lá có sợi, mép cuống có gai, thuỳ có đỉnh nhọn, xẻ đôi, đôi khi rủ xuống Cụm hoa ở nách lá hay giữa các nách lá, dạng chùy, phân nhánh 5 lần Lá bắc hình ống, 2 sống, xẻ ở đỉnh Nhánh con nhẵn hay có lông, mang hoa xếp đơn độc hay thành nhóm, hoa không cuống hay mọc trên những núm ngắn Hoa có đài hình ống, xẻ 3 thuỳ, nhẵn hay có lông Tràng hình ống, xẻ 3 thuỳ xếp van Nhị 6, chỉ nhị hợp thành vòng, dính trên tràng Bầu 3 ô, rời ở dưới, hợp ở phía trên tạo vòi mảnh; núm nhụy
Trang 16hình điểm Quả thường phát triển từ một lá noãn, hình cầu, trứng hay bầu dục, màu xanh lá cây, xanh lơ, xanh đen, đen Núm nhuỵ tồn tại ở đỉnh, lá noãn bất thụ tồn tại
ở gốc Hạt hình bầu dục hay cầu, phôi nhũ đồng nhất
Ở Việt Nam, chi Cọ có 4 loài
1.1.2.1 Livistona halongensis T H Nguyen & Kiew – Cọ hạ long
Cây đơn độc, cao đến 10 m, đường kính khoảng 20 cm Lá xẻ thuỳ hình chân vịt thành nhiều thuỳ Bẹ lá có sợi, mép lá có gai, mặt dưới có sọc màu vàng; lưỡi gốc phiến xẻ 2 thùy tròn Thuỳ lá hình đường Cụm hoa thẳng, dài hơn lá Cuống cụm hoa kéo dài nên cụm hoa dài hơn lá; lá bắc hình ống Hoa nhỏ, hình trứng, màu vàng kem nhạt, vươn lên trên tán Đài nhẵn, hình ống, đỉnh xẻ 3 thuỳ Tràng dài khoảng 2 mm, xẻ 3 thuỳ Nhị 6 dài khoảng 1 mm Bầu hình bầu dục, vòi nhụy nhỏ Quả hình cầu, đường kính 1 – 1,2 cm, màu xanh đậm sáng [1]
Đây là loài mới cho khoa học, mới được tìm thấy ở Vịnh Hạ Long (các hòn: Chân Voi, Tùng Lâm, Đại Thành, Lờm Bò, Hòn Mây và Cát Lán) vào năm 1999 Cây mọc ở núi đá vôi trên đảo, thường ra hoa từ tháng 4 đến tháng 6 và có quả vào tháng 7 Đây là một trong 13 loài thực vật đặc hữu sinh trưởng trong môi trường Vịnh Hạ Long
Trang 171.1.2.2 Livistona chinensis (Jacq.) R Br – Cọ xẻ, Kè tàu
Cây mọc đơn độc có thân cao 8 – 15 m, đường kính 20 – 30 cm, hình trụ, nhẵn, có nhiều vòng do sẹo lá để lại Lá hình quạt, xẻ thuỳ hình chân vịt thành nhiều thuỳ Bẹ lá có sợi, mép lá có gai dẹp, cong Lưỡi gốc phiến lá hình bán nguyệt
có chóp Thuỳ lá hình đường, đỉnh thuỳ xẻ đôi sâu 10 – 15 (30) cm, các thuỳ rủ xuống Cụm hoa phân nhánh 2 – 3 lần, lá bắc cỡ 26 x 4 cm, 2 sống, xẻ một bên, không có lông, nhánh con mảnh, dài 10 – 15 cm Hoa thành nhóm 4 – 5 hoa đính trên mấu lồi Hoa hình cầu, có cạnh, đường kính khoảng 2 mm Đài 3, tràng hợp ở gốc, xẻ 3 thùy, hình tam giác Nhị 6, chỉ nhị ngắn, bao phấn hình bầu dục; bầu hình trứng ngược; vòi nhụy ngắn Quả hình bầu dục, cỡ 1 – 1,5 x 0,8 – 1 cm có màu xanh lục Hạt 1, hình bầu dục [1]
Cây có hoa tháng 4, có quả tháng 5 – 6 Mọc rải rác trong rừng nhiệt đới
[23]
Cây trồng khắp nơi: Yên Bái, Tuyên Quang (Chạm Chu), Bắc Kạn (Chợ Đồn), Thái Nguyên (Thần Xa), Quảng Ninh (Ba Mùn), Hà Nội, Ninh Bình (Nho Quan), Thanh Hoá (Lam Kinh), Kon Tum (Đắk Glei) và nhiều tỉnh thành khác (trồng làm cảnh) Còn có ở Ấn Độ, Trung Quốc
Trang 181.1.2.3 Livistona saribus (Lour.) Merr ex A Chev – Cọ
Còn có tên gọi khác là Lá gồi, Kè, Lá nón, Kè nam, Kè đỏ
Cây đơn độc Thân cao 20 – 25 m, đường kính 15 – 30 cm, hình trụ, khi non
có nhiều cuống lá còn tồn tại, sau nhẵn, có sẹo do lá để lại Lá hình quạt, xẻ thuỳ hình chân vịt cách gốc khoảng 20 cm thành nhiều thuỳ Bẹ lá có sợi, cuống có sọc màu vàng ở mặt dưới, mép có gai cứng màu nâu; lưỡi gốc phiến hình bán nguyệt có chóp, cỡ 0,5 x 2 cm Thuỳ lá hình đường, thuỳ to nhất cỡ 120 x 4 – 5 cm, đỉnh thuỳ
xẻ sâu 20 cm, thuỳ lá rất rủ Cụm hoa rủ, ngắn hơn hay bằng lá; lá bắc hình ống, 2 sống, xẻ một bên, cỡ 16 x 4 cm, có lông; nhánh dài đến 40 cm Hoa thành nhóm 3 –
5 hoa, đính trên mấu lồi Hoa không cuống, hình cầu Đài 3, tràng 3 Nhị 6, chỉ nhị mảnh, bao phấn hình bầu dục Bầu hình bầu dục 3 cạnh, vòi nhuỵ 3 Quả hình cầu, đường kính 1 – 1,5 cm, màu xanh lơ Hạt hình cầu [1]
a Cây
(nguồn:www.hungvuongdalat.info)
b Cụm quả
(ảnh: T.P.Anh)
Hình 1.3 Livistona saribus (Lour.) Merr ex A Chev
Đây là cây đặc sắc của rừng ven suối, đất ẩm vùng núi tới 1500m, khắp nước
ta Cây cũng được trồng làm cảnh và trồng trên đồi thấp ở miền trung du, dọc theo
Trang 19bờ ruộng ở tỉnh Thanh Hoá, nơi có nhiều ánh sáng, khô ráo Cây có hoa tháng 12 –
2, có quả vào tháng 5 – 7 [21]
Phân bố ở Hà Giang (Bắc Quang), Bắc Kạn (Na Rì), Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hải Phòng (Cát Bà), Thái Nguyên, Hà Tây (Ba Vì: Thủ Pháp), Hà Nội, Thanh Hoá, Quảng Trị, Lâm Đồng (Lang Bian), Đồng Nai (Biên Hoà), Tp Hồ Chí Minh (Thủ Đức) Còn có ở Trung Quốc (Quảng Đông), Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaxia, Inđônêxia, Philippin
1.1.2.4 Livistona tonkinensis – Kè bắc bộ
Thân thẳng, cao 25 – 30 m, đường kính khoảng 25 cm Cuống lá tồn tại, về sau nhẵn Lá xẻ thuỳ hình chân vịt cách gốc 80 – 90 cm thành 50 – 60 thuỳ Bẹ lá
có sợi Mép cuống có gai dài 2,5 cm, lưỡi gốc phiến hình bán nguyệt có chóp, cỡ 2
x 2 cm Thuỳ hình đường, thuỳ to nhất cỡ 130 – 150 x 4 cm, đỉnh thuỳ xẻ đôi sâu khoảng 2 cm, thuỳ thẳng đứng Cụm hoa dài 60 – 70 cm; lá bắc cỡ 18 x 3 cm, 2 sống, xẻ một bên, có lông rải rác Nhánh con dài khoảng 20 cm, mảnh, hoa mọc trên những mẫu lồi Quả bầu dục, cỡ 2 – 3 x 1 – 1,5 cm, xanh màu Ôliu, có cuống dài khoảng 2 mm [1]
Cây có quả tháng 8 – 10 Mọc trên đồi núi đất
Loài này mới thấy trồng nhiều ở phía Bắc Việt Nam như: Bắc Kạn (Chợ Đồn), Sơn La (Xuân Nha), Lào Cai (Bảo Thắng),Tuyên Quang (Chạm Chu), Phú Thọ (Xuân Sơn), Thanh Hoá (Bá Thước, Quan Hoa) Ngoài ra còn có ở Khánh Hoà
và được trồng làm cảnh ở nhiều tỉnh thành khác trong cả nước
Hình 1.4 Livistona tonkinensis (nguồn : https://nxjxvw.blu.livefilestore.com)
Trang 201.2 Các ứng dụng
1.2.1 Giá trị sử dụng một số loài trong họ Cau
Theo thống kê của tác giả Trần Thị Phương Anh [1] thì trong họ Cau ở Việt Nam có 35 chi, 84 loài trên tổng số 39 chi, 103 loài và 2 thứ được sử dụng vào những mục đích khác nhau
1.2.1.1 Trồng làm cảnh
Có rất nhiều loài trong họ Cau được trồng làm cảnh (có 28 chi với 41 loài)
Một số loài được trồng nhiều như Cau kiểng vàng (Chrysalidocarpus
lutescens), Chà là cảnh (Phoenix roebelenii), Cau bụng (Roystonea rengia), Cau
trắng (Veitchia merrillii), Cau kiểng cánh (Ptychosperma macarthuri), Chà là cụm
(Phoenix reclinata), Móc (Caryota mitis), Cau may mắn (Chamaedorea elegans),
Cau tre (Chamaedorea seifrizii), Cau sâm banh (Hyophorbe lagenicaulis), Mật cật
(Rhapis excelsa), Cau kiểng đỏ (Cyrtostachys renda),…[1]
1.2.1.2 Dùng làm thuốc chữa bệnh
Một số loài có tác dụng chữa ung thư, hen xuyễn: như Cọ xẻ (Livistona
chinensis), làm thuốc kích thích sinh dục như Móc (Caryota), làm thuốc tránh thai như
Cọ cảnh (Trachycarpus fortunei), Dừa (Cocos nucifera): dầu chữa bỏng, có đặc tính
như một kháng sinh tự nhiên, có tác dụng giảm béo một số bộ phận khác cũng được
dùng làm thuốc Một số loài chữa lở loét, chảy máu như Mật cật (Rhapis excelsa), Móc (Caryota uren) dùng trị giun sán như Cau (Areca catechu), Thốt nốt (Borassus
flabellifer), [1]
1.2.1.3 Lấy sợi
Có 31 loài, 8 chi Trong đó nhóm lấy thân gồm các loài thuộc các chi
Calamus, Daemonorops, Myrialepis, Plectocomia, Plectocomiopsis với tổng số
khoảng 26 loài Một số loài có chất lượng tốt, có triển vọng gieo trồng thuộc chi
mây như Calamus palustris, Mây nước (cochinchinensis), Mây nếp (Calamus
tetradactylus), Mây rút (Daemonorops jenkinsiana), Mây poilane (Daemonorops poilanei), Mây balansa (Calamus henryanus), Mây nambarien (Calamus nambariensis), Mây gai (Calamus acanthospathus)…
Trang 21Ngoài ra còn các loài cho sợi từ bẹ lá để làm quai gùi, bùi nhùi, chỉ khâu,
thảm như Móc (Caryota), Cọ cảnh (Trachycarpus fortunei), Dừa (Cocos
nucifera), [1]
1.2.1.4 Ăn quả, lấy đường và tinh bột
Tục trầu cau (quả Cau (Areca catechu)) là một nét văn hóa đặc sắc của người
Việt Nam từ xưa đến nay, việc xuất khẩu Cau khô để lấy tanin hay tách chiết một số hoạt chất khác cũng mang lại một nguồn thu nhập đáng kể Các loài khác cũng có thể
cho quả ăn được như Dừa (Cocos nucifera), Thốt nốt (Borassus flabellifer),
Một số loài cho nhựa từ cuống cụm hoa dùng làm nước giải khát hoặc lấy
đường như Thốt nốt (Borassus flabellifer), Búng báng (Arenga saccharifer) Tinh
bột có thể thu được từ lõi thân của một vài loài trong họ Cau làm bánh, làm rượu, có
thể được chế biến thành các đặc sản địa phương như Búng báng (Arenga
saccharifera) Các loài khác thuộc các chi Móc (Caryota), Lá buông (Corypha),
Cau rừng (Nenga) nhưng trữ lượng không nhiều và cũng mới chỉ ghi nhận là có thể
sử dụng được [1]
1.2.1.5 Cho dầu béo
Hiện nay, việc lấy dầu béo ở các cây họ Cau chủ yếu được ép từ quả Dừa
(Cocos nucifera) và quả Cọ dầu (Elaeis guineensis) Đây là những cây rất có triển
vọng kinh tế Dầu của các cây này được sử dụng trong ngành thực phẩm, mĩ phẩm, công nghiệp và được nghiên cứu để thay thế nguyên liệu chạy động cơ (làm nhiên liệu sinh học – Biodiesel) [26]
Trang 22(Livistona tonkinensis), Dừa nước (Nypa fructicans), Nhum (Oncosperma tigillaria)
Nhóm các loài làm cán nông cụ, gậy chống (lấy thân), làm nón, áo tơi (lá),
làm đồ mỹ nghệ (phôi nhũ của hạt) gồm các loài trong chi Cau chuột (Pinanga), lá của một số loài làm nón, áo tơi như Lá nón (Licuala), Cọ (Livistona) Một số loài có
sử dụng phôi nhũ và vỏ quả trong để làm đồ mỹ nghệ như Lá buông (Corypha), Dừa (Cocos nucifera), … Các loài của chi Corypha còn cho quả dùng duốc cá
không gây độc cho người
Một vài loài có chồi ăn được như: Búng báng (Arenga saccharifera), Mây Balansa (Calamus henryanus), Đùng đình (Caryota mitis) nhưng không phổ biến và
có giá trị thương mại [1]
1.2.2 Công dụng của các cây trong chi Cọ (Livistona)
Cọ là những cây mọc hoang phổ biến ở những vùng đồi núi, trung du nước
ta Chúng còn được trồng làm cây cảnh ở nhiều nơi Nhân dân ta vẫn dùng lá cọ để lợp nhà, làm nón, làm các dụng cụ gia đình Tuy nhiên, còn nhiều bộ phận của cây
cọ chưa được nghiên cứu, sử dụng Đặc biệt là cuống lá, hoa, quả, hạt và rễ của những cây này có thể được sử dụng làm thuốc điều trị một số bệnh, kể cả bệnh hiểm nghèo Trong bốn loài của chi Cọ có ở nước ta thì có hai loài là đặc hữu của Việt
Nam (L tonkinensis và L halongensis T.H.Nguyen & Kiew)
1.2.2.1 Cọ Hạ Long (Livistona halongensis T.H.Nguyen & Kiew)
Cọ Hạ Long hội tụ nhiều đặc điểm độc đáo về giá trị sinh học, thẩm mĩ, kinh
tế và khoa học Lá cọ có độ dai, bền là nguồn nguyên liệu để làm ra sản phẩm thủ công như túi xách, nón lá là sản phẩm độc đáo mang sắc thái riêng cho Vịnh Hạ Long Tuy nhiên, loài này đang có chiều hướng giảm sút về số lượng cá thể Vì thế ban quản lí Vịnh Hạ Long đã nhân giống loài cọ đặc hữu này nhằm bảo tồn và phát triển chúng
1.2.2.2 Cọ xẻ (Livistona chinensis R.Br)
Theo đông y, Cọ xẻ có vị ngọt và chát, tính bình, hạt làm tiêu ung thư, khối
u, rễ giảm đau Y học dân gian Trung Quốc dùng hạt cọ xẻ chữa ung thư mũi, họng,
Trang 23thực quản, ung thư rau, bệnh bạch cầu Rễ cây này được dùng để trị hen suyễn, giảm đau do tiêm Liều dùng 15 – 30 gam, dạng thuốc sắc Trong vị thuốc dân gian
hạt cây Cọ xẻ (Livistona chinensis R.Br.) có tên “Quỳ thụ tử” Sau đây giới thiệu
một số đơn thuốc ở Trung Quốc:
Chữa ác tính: Dùng hạt Cọ xẻ 30 gam, nấu với thịt lợn nạc 30 gam trong 2 giờ
Chảy máu tử cung: Dùng cuống lá Cọ xẻ đốt thành tro, hoà vào nước uống, hoặc sao lên và nấu nước uống
1.2.2.3 Kè nam (Livistona saribus)
Ngoài việc dùng để làm nhà (thân cây làm cột, lá để lợp nhà), làm nón, đan lát thì theo kinh nghiệm dân gian rễ cây này còn dùng chữa bạch đới, khí hư Thường phối hợp với những vị khác như rễ cau, rễ tre, rễ cây móc với lượng bằng nhau, sắc đặc uống làm 2 lần trong ngày Liều dùng hàng ngày 6 – 12 gam
1.3.1 Cọ Hạ Long (Livistona halongensis T.H.Nguyen & Kiew)
Cọ Hạ Long là loài thực vật đặc hữu của Vịnh Hạ Long – Việt Nam, loài này mới được nghiên cứu về thành phần hoá học và hoạt tính sinh học Trong bài báo đăng trên Tạp chí Hoá học năm 2012, nhóm tác giả Trần Văn Lộc, Phạm Đức Thắng, Đỗ Thị Thu Thảo, Trần Văn Sung đã tách và xác định được cấu trúc của 6
chất từ dịch chiết n–hexan của vỏ thân cây này Bao gồm: cyclomusalenon (1),
Cyclolaucadenon (2), 3β–Cyclomusalenol (3), Stigmast–4–en–3–on (4), Stigmasterol (5), β–Sitosterol (6)
Trang 24cho thấy, dịch chiết n-hexan và dịch chiết MeOH có hoạt tính chống ô xi hóa ức chế hoạt động của enzym peroxydaza ở mức độ trung bình Các dịch chiết này (n–
hexan, Chloroform và MeOH) đều không có hoạt tính ức chế sự phát triển của 4
Trang 25dòng tế bào ung thư thử nghiệm là KB (tế bào ung thư biểu mô), LU (tế bào ung thư phổi), MCF7 (tế bào ung thư vú) và Hep.G2 (tế bào ung thư gan) [7]
Từ vỏ và rễ cây Cọ Hạ Long, nhóm tác giả trên cũng đã phân lập được một chất mới có cấu trúc tương tự như δ-tocopherol là 6-O-acetyl-2R,8-dimethyl-2-(4R,8R,11-
trimethyltridecence-12)chroman(7) [27]
Cũng trong năm 2012, nhóm tác giả này đã công bố tách được thêm hai chất mới
có khung flavan phân lập được từ rễ cây Cọ Hạ Long là
Trang 261.3.2 Cọ xẻ (Livistona chinensis)
Tại Việt Nam, đầu năm 2011, Giang Thị Kim Liên và cộng sự thông báo trên tạp chí Hóa học đã phân lập được 4 hợp chất từ các dịch chiết của quả cọ xẻ
(Livistona chinensis), gồm: 5,7,4’-trihydroxy-3’,5’-dimetoxy-flavon (tricin) (12),
2-(hydroxy-methyl)phenyl-D-glucopyranoside (salicin) (13), O-β-D-glucopyranosid (stigmasterol glucosid) (14), saccharose (15)
stigmast-5,22-dien-3β-Về hoạt tính sinh học: Giang Thị Kim Liên và cộng sự đã báo cáo kết quả thăm dò hoạt tính sinh học các dịch chiết từ quả cọ xẻ như sau: các dịch chiết n-hexan và MeOH có hoạt tính ức chế sinh trưởng đối với vi khuẩn Gram (+)
Staphylococcus aureus với nồng độ IC50 là 46,77 và 209,71 µg/ml Dịch chiết từ
quả cọ xẻ trong MeOH có hoạt tính ức chế hoạt động của enzym peroxydaza với
IC50 61,22 µg/ml Ở hoạt tính gây độc tế bào, dịch chiết MeOH của quả cọ xẻ có hoạt tính đối với 3 dòng tế bào ung thư thử nghiệm là: KB (ung thư biểu mô), MCF-
7 (ung thư vú) và Hep.G2 với các giá trị IC50 lần lượt là 68,04; 88,30 và 101,25 µg/ml
Trên thế giới, cây Cọ xẻ là cây đã được nghiên cứu nhiều hơn về thành phần hoá học và hoạt tính sinh học Singh, R.P và Kaur G (Ấn Độ) thông báo hoạt tính chống tạo mạch (antiangiogenic) và hoạt tính chống tăng sinh tế bào
(antiproliferative) in vitro của dịch chiết quả và hạt Cọ xẻ Phân đoạn chứa các hợp
chất phenol của cây này có hoạt tính phá màu (hemolytic) [23] Trong một bài báo khác, nhóm tác giả trên cũng nghiên cứu định tính thành phần hoá học của cây Cọ
xẻ và đưa ra giả thiết là hàm lượng cao các hợp chất phenol là nguyên nhân gây chết các tế bào [17]
Nhóm nghiên cứu của Hoang W.C (Đài Loan) đã thông báo hoạt tính ức chế enzym sinh trưởng biểu bì (Epidermal Growth Factor, EGF) và enzym hoạt tính phân bào (Mitogen – activated protein kinase, MAPK) trong các dòng tế bào ung thư ở người bởi một phân đoạn protein kí hiệu là LC–X được tách và tinh chế từ hạt cây Cọ xẻ
Trang 27Zhong Z.G và cộng sự đã nghiên cứu hoạt tính ức chế sinh trưởng của dịch chiết rễ Cọ xẻ đối với 7 dòng tế bào ung thư gồm: ung thư dạ dày SGC 7901, ung thư máu L 1210, P 388D1, ung thư cuống họng Hela, ung thư gan hele 7404, ung thư hắc tố da (melanoma B16) và ung thư thần kinh chuột nhắt lai chuột cống NG
108 – 15 Tất cả các dòng tế bào ung thư thử nghiệm đều bị ức chế bởi dịch chiết etyl acetat từ rễ Cọ xẻ [25]
Maurer – Menestrina và cộng sự (Brazil) đã tách và xác định cấu trúc của một betaxylan (polysacharid) có nhiều nhóm thế từ nhựa quả Cọ xẻ [14]
Cheng S và cộng sự đã công bố kết quả nghiên cứu rất chi tiết về hoạt tính
ức chế tế bào ung thư máu HL 60 của dịch chiết cồn và dịch chiết nước hạt cây Cọ
xẻ Theo đó, dịch chiết cồn có hoạt tính tốt hơn Muneo Tsukiyama và cộng sự (Nhật Bản) đã nghiên cứu tác dụng chống tích tụ mỡ, làm căng da, chống nhăn, giảm béo của dịch chiết hạt Cọ xẻ Theo đó, có thể nghiên cứu để sử dụng dịch chiết hạt cọ xẻ trong mĩ phẩm [20]
Về thành phần hoá học của cây Cọ xẻ thì mới chỉ có một vài công bố, theo
đó đa số các chất đã được tách và xác định cấu trúc thuộc nhóm flavonoid [18], [19] Mới đây nhất trên bài báo đăng trên Fitoterapia, từ quả Cọ xẻ, nhóm tác giả Xiaobin Zeng, Qian Qiu, Chenguang Jiang, Yuntiao Jing, Guofu Qiu, Xiangjiu He
đã tách được 11 hợp chất flavonoit trong đó có 3 chất mới (16, 17 và 18) là:
2S,3S–3,5,7,3′,5′–pentahydroxyflavan 2R,3R–3,5,6,7,8,4′–hexahydroxyflavan
Trang 282R,3R–3,5,6,7,8,3′,5′–heptahydroxyflavan
Về hoạt tính sinh học, các hoạt tính gây độc tế bào (chống tăng sinh) đối với bốn dòng tế bào khối u của người (HL–60, Mata, Hep.G2 và CNE–1) đã được
nghiên cứu và đánh giá Theo đó chất 2S,3S–3,5,7,3′,5′–pentahydroxyflavan (1) có
tác dụng ức chế đáng kể đối với dòng tế bào HL–60 với IC50 là 0,2 ± 0,01 và CNE–
1 với IC50 là 1,0 ± 0,1 μM áp đảo so với các hợp chất tham khảo trong các khảo nghiệm (cisplatin) Hầu hết các hợp chất cũng cho thấy có hoạt tính kháng oxi hóa mạnh [24]
Hai loài Livistona tonkinensis và Livistona saribus cho đến nay, chúng tôi
chưa thấy công trình nghiên cứu nào về thành phần hoá học và hoạt tính sinh học được công bố
Trang 29CHƯƠNG 2 THỰC NGHIỆM 2.1 Nguyên liệu, hóa chất, thiết bị nghiên cứu
2.1.1 Nguyên liệu
Quả Cọ Hạ Long được thu hái tại Cát Bà vào tháng 9/2011 do Tiến sĩ Trần Thị Phương Anh và Thạc sĩ Nguyễn Thế Anh xác định tên khoa học là loài
Livistona halongensis T.H.Nguyen & Kiew Mẫu tiêu bản LH09–2011 được lưu giữ
tại phòng Tổng hợp Hữu cơ, Viện Hoá học – Viện KHCN Việt Nam số 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội Quả sau khi thu hái được rửa sạch, phơi, sấy khô, xay thành bột và chiết lần lượt với các dung môi n–hexan, EtOAc và MeOH
2.1.2 Hóa chất, thiết bị nghiên cứu
Sắc kí lớp mỏng sử dụng bản mỏng nhôm tráng sẵn silica-gel 60GF254, độ dày 0,2mm và bản mỏng ngược pha RP–18
Phân lập các chất bằng phương pháp sắc kí cột với chất hấp phụ là silica-gel
cỡ hạt 0,040 – 0,063mm Merck và Sephadex LH–20
Các thiết bị xác định cấu trúc chất: Phổ khối HP 5989B MS Engine, LC/MSD Agilent Phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1H–NMR, 13C–NMR đo trên máy Bruker Avance–500 MHz Phổ hồng ngoại (FT–IR) đo dưới dạng viên nén KBr trên máy quang phổ IMPACT 410 của hãng Nicolet, Hoa Kì
Đèn tử ngoại (UV BIOBLOCK) bước sóng λ = 254nm và 365nm dùng để soi bản mỏng
Ngoài ra còn dùng một số trang thiết bị khác như máy quay cất chân không, máy sấy, máy siêu âm, các dụng cụ thuỷ tinh, v.v
Thuốc thử phun lên bản mỏng chủ yếu sử dụng vanilin 1% trong dung dịch metanol – H2SO4 đặc, sau đó sấy ở nhiệt độ khoảng 1100C
Dung môi dùng chạy cột và triển khai sắc kí lớp mỏng bao gồm n–hexan,
CH2Cl2, EtOAc và MeOH loại tinh khiết đã được cất lại qua cột Vigereux trước khi
sử dụng để loại bỏ tạp chất, chất làm mềm
Trang 302.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp chiết mẫu thực vật
Mẫu được chiết lần lượt với dung môi có độ phân cực tăng dần Mỗi loại dung môi được chiết ba lần Cất loại dung môi dưới áp suất thấp bằng máy quay cất chân không sẽ thu được các cao chiết tương ứng để tiếp tục nghiên cứu
2.2.2 Phương pháp tách và tinh chế chất
Các cao chiết trong các dung môi khác nhau thu được được tách và tinh chế bằng phương pháp sắc kí cột kết hợp với sắc kí lớp mỏng với các hệ dung môi thích hợp Sắc kí cột gồm sắc kí cột thường và sắc kí cột nhanh (flash chromatography)
sử dụng silica-gel Đối với các chất phân cực có thể sử dụng Sephadex LH–20 hoặc ngược pha RP–18 Trường hợp cần thiết có thể chạy cột lặp lại nhiều lần hoặc dùng phương pháp kết tinh phân đoạn, kết tinh lại để tinh chế chất Kiểm tra độ tinh khiết của các chất cũng như theo dõi quá trình tách chất trên cột bằng sắc kí lớp mỏng với
hệ dung môi thích hợp
2.2.3 Phương pháp xác định cấu trúc hóa học của các chất
Việc xác định cấu trúc hóa học của các chất sạch được thực hiện thông qua việc kết hợp các phương pháp phổ hiện đại như phổ hồng ngoại (FT–IR), phổ khối (MS), phổ cộng hưởng từ hạt nhân một chiều và hai chiều (1D và 2D NMR) như
Trang 31Sơ đồ 2.1 Thực nghiệm phân lập và xác định thành phần hóa học quả cọ Hạ Long
Quả cọ Hạ Long được rửa sạch, sấy khô rồi đem xay thu được 2,3 kg bột Nguyên liệu được chiết lần lượt bằng 3 loại dung môi có độ phân cực tăng dần là n-hexan, EtOAC và MeOH, mỗi loại được ngâm chiết 3 lần (mỗi lần 4,5 lít), kết hợp siêu âm
và nhiệt độ 40oC trong 4 ngày, thu được dịch chiết và phần cặn Phần dịch chiết được cất quay dưới áp suất thấp để loại dung môi thu được 126g cao chiết n-hexan, 85g cao chiết EtOAc vàg69 g cao dịch chiết MeOH
NGUYÊN LIỆU (QUẢ CỌ HẠ LONG SẤY KHÔ, XAY NHỎ ĐƯỢC 2,3KG)
CHIẾT LẦN LƯỢT BẰNG CÁC DUNG MÔI CÓ ĐỘ PHÂN CỰC TĂNG DẦN
n-Hexan
(126g)
EtOAc (85g)
MeOH (69g)
Bã chiết
CHẠY SẮC KÍ CỘT KẾT HỢP SẮC KÍ BẢN MỎNG ĐỂ PHÂN LẬP CÁC CHẤT
ĐO PHỔ (IR, MS, NMR, 13C-NMR, DEPT )
1H-ĐỂ XÁC ĐỊNH CẤU TRÚC CÁC CHẤT SẠCH
THÀNH PHẦN HOÁ HỌC
Quả Cọ hạ long
1 Phơi, sấy khô (2,3 kg)
2 Xay thành bột
3 Ngâm chiết + siêu âm + nhiệt độ trong dung môi
n-hexan, EtoAc và MeOH
4 Cô đuổi dung môi
69 gam cao MeOH
Sơ đồ 2.2 Sơ đồ chiết mẫu quả Cọ hạ long
Trang 32Phân lập các chất từ cao chiết MeOH 2.3.2 Chạy cột sắc kí phần dịch chiết MeOH
Lấy 35 g dịch chiết MeOH hoà tan hoàn toàn vào dung môi MeOH trong bình cầu Chấm bản mỏng để tìm hệ dung môi thích hợp chạy cột, thêm vào khoảng
70 gam silicagel và quay cất dưới áp suất thấp đến khô hoàn toàn để chất gắn đều lên silica-gel (phương pháp nhồi mẫu khô) Làm tơi mịn phần silica-gel đã gắn mẫu bằng cối và chày sứ để nạp vào cột sắc kí
Cho bông nhỏ vào đáy cột (để tránh silica-gel lọt xuống bình hứng)
Silica-gel được cho vào cột ở dạng sệt
Tra mẫu lên cột
Mẫu được nạp vào cột theo phương pháp khô
Mẫu khô sau khi đính đều lên silica gel được cho vào cột sắc kí từ từ thông qua phễu sau khi đã khoá cột Chú ý khi cho mẫu vào cột theo phương pháp khô thì lượng dung môi phải vừa đủ, không nhiều quá; lượng mẫu phải dàn trải đều một lớp mỏng trên bề mặt silica gel trong cột; mẫu phải thấm ướt đều dung môi, không có bọt khí
Tiến hành chạy cột Silica gel ( = 8cm;l = 40cm) với hệ dung môi DCM : MeOH : H2O tăng dần độ phân cực (hệ dung môi ban đầu DCM : MeOH : H2O =
90 : 10 : 1 đến 55 : 45 : 5), thu được 12 phân đoạn kí hiệu từ LHQM1 đến
LHQM12 Sau đó, tiến hành chấm bản mỏng 12 phân đoạn trên Dựa vào bản
mỏng cho thấy ở các phân đoạn LHQM5, LHQM8 và LHQM9 có khả năng tách được chất sạch Tiếp tục cho chạy cột các phân đoạn LHQM5, LHQM8 và LHQM9
Trang 33Sơ đồ 2.3 Sơ đồ phân tách và tinh chế chất từ cao MeOH
LHQM1; m= 93 mg LHQM2; m= 123 mg
LHQM10; m = 1227,6 mg
LHQM11; m = 2914,1 mg
Cao MeOH (35 gam)
Chạy cột hệ dung môi DCM : MeOH :H2O
LHQM12; m = 3571,1 mg
(phân đoạn rửa giải cột)
Trang 34* Phân đoạn LHQM5 (m = 170 mg) được hòa tan trong dung môi MeOH
rồi tiến hành chạy cột Sephadex (LH – 20) (với dung môi MeOH) Sau khi chạy sắc
ký lớp mỏng và gộp, thu được 4 phân đoạn kí hiệu từ LHQM5.1 đến LHQM5.4
Trong đó phân đoạn LHQM 5.3 là một chất sạch Tiến hành cô quay dưới áp suất giảm phân đoạn LHQM5.3, thu được 5,2 mg
Sơ đồ 2.4 Phân tách và tinh chế chất từ phân đoạn LHQM5
Chạy sắc ký lớp mỏng LHQM5.3, so sánh với chất chuẩn β – sitosterol glucosid với hệ dung môi DCM : MeOH : H2O = 90 : 10 : 0,5 Kết quả cho thấy chất LHQM5.3 có cùng Rf (Rf = 0,4) và cùng màu sắc (màu tím) với chất chuẩn β – sitosterol glucosid khi hiện màu với thuốc thử Vanilin / H2SO4
Đo phổ 1
H – NMR (DMSO-d6, 500 MHz) và phổ 13C – NMR (DMSO-d6, 125MHz) và EI-MS của chất LHQM5.3 để xác định cấu trúc